Ước chừng sáu trăm năm trước, cuốn "Hắc Am Chi Thư" được soạn tại Bối Lý Lạp thuộc đảo Anh Lạp Đức, trang đầu tiên viết rằng:
Đảo Tố Lợi Á chìm lại xuống đáy biển, Diệp Phù Nguyễn cùng Mạc Thụy Đức đôi bên cùng tử nạn, về sau, Hội Nghị Trí Giả tạm thời nhiếp chính cho con trai ông là Sắc Lợi Nhĩ, cho đến khi y tự mình kế thừa vương vị. Vương triều của y tuy rằng quang huy, lại rất ngắn ngủi. Nối tiếp y, có tổng cộng bảy vị vua Anh Lạp Đức, vương thổ cũng dần mở rộng. Về sau, bầy rồng kéo đến các đảo phương Tây cướp phá, các vu sư tụ họp chống địch nhưng vô ích. Vua A Khắc Ba chuyển đình đài từ Bối Lý Lạp thuộc đảo Anh Lạp Đức đến thành Hắc Phất Nặc, sau đó phái chiến thuyền chống lại kẻ xâm lược đến từ đại lục Tạp Nhĩ Cách, đuổi chúng trở về phương Đông, đội thuyền đột kích tiếp tục viễn hành cho đến Nội Cực Hải. Trong số mười bốn vị vua Hắc Phất Nặc, vị quân vương đời cuối là Mã Cáp Nhân An đã ký kết hòa ước với long tộc và Tạp Nhĩ Cách, nhưng cái giá phải trả rất đắt. Phù Văn Chi Hoàn sụp đổ, Ách Thụy Á Bái cùng cự long đôi bên cùng chết, dũng sĩ Mã Cáp Nhân An vì phản biến mà mất mạng, Quần Đảo Vương Quốc tưởng như muôn sự bất thành.
Sau khi Mã Cáp Nhân An băng hà, người tranh đoạt vương vị rất đông, nhưng không ai có thể ngồi yên trên đó, vương sở tương tranh, phân hóa lòng trung thành của triều thần. Phúc lợi của nhân dân tan thành mây khói, chính nghĩa không thể giương cao, chỉ còn kẻ giàu nắm quyền. Quý tộc, thương nhân, hải tặc, bất kỳ ai có năng lực thuê mướn binh sĩ và vu sư đều chiếm đất tự phong xưng lãnh chúa, đất đai, thành thị đều biến thành tư sản. Bách tính trong lãnh địa đều là nô lệ của phiên vương, kẻ thụ hưởng bổng lộc của phiên vương lại càng giam mình làm nô lệ thực sự, chỉ biết dựa vào chủ nhân che chở để tránh bị phiên vương địch đối xâm chiếm đất đai, hải tặc cướp phá cảng khẩu, cùng lưu dân ngoài vòng pháp luật vì đói khát bần cùng mà tụ tập tấn công cướp giật.
Cuốn "Hắc Am Chi Thư" hoàn thành vào thời kỳ sau của những năm tháng được miêu tả đó, tập hợp nhiều bản ghi chép lịch sử mâu thuẫn, những thiên liệt truyện nhân vật khuyết thiếu không toàn vẹn, cùng những truyền thuyết thuật lại không rõ ràng, nhưng vẫn là bản ghi chép tốt nhất còn sót lại của thời đại tăm tối. Phiên vương thà nghe lời nịnh hót còn hơn sử thực, do đó đã đốt hủy nhiều thư tịch, nhằm tránh cho kẻ bần cùng vô quyền từ trong đó hiểu ra bản chất của quyền lực.
Tuy nhiên, khi phiên vương có được một cuốn trí điển của vu sư, thông thường sẽ cẩn thận cất giữ để phòng ngừa nó gây hại, hoặc giao sách cho vu sư được chiêu mộ tùy ý xử lý. Vu sư hoặc học đồ của họ có thể ở phần chú văn, trang ghi chép chân nam hoặc trang trống cuối cùng trong sách mà ghi lại các sự kiện như ôn dịch, mất mùa, cướp phá, thay đổi chủ nhân, cùng với các pháp chú đã thi triển và kết quả thành bại trong các sự kiện đó. Những ghi chép tiện tay để lại này thỉnh thoảng hé lộ những đoạn lịch sử rõ ràng, giống như trong đêm tối, giữa mưa mù, những đốm lửa chài trên biển xa.
Ngoài ra, những tiểu đảo còn lại cùng vùng cao nguyên Hắc Phất Nặc tương đối bình yên cũng truyền lại những bài ca, những bài thơ tự sự cổ xưa cùng ca dao, kể lại câu chuyện của những thời đại này.
Đại cảng Hắc Phất Nặc nằm ở trung tâm thế giới, Tuyết Bạch Kiếm Tháp sừng sững phía trên đại cảng. Trên đỉnh tháp cao nhất, thanh kiếm của Ách Thụy Á Bái phản chiếu ánh sáng đầu tiên và cuối cùng trong ngày. Các loại hành thương, các sắc hàng hóa, các hạng tri thức kỹ nghệ của Địa Hải chư đảo qua lại nườm nượp trong thành, có thể nói là một phần tài sản không thể cất giấu. Sau khi ngân hoàn lành lại, vua trở về trấn giữ thành trì, tượng trưng cho thời đại được chữa lành. Mà tại thành này, trong những ngày gần đây, nam nữ quần đảo giao lưu cùng long tộc, tượng trưng cho biến thiên đang đến.
Hắc Phất Nặc cũng là một hòn đảo lớn, đất đai bao la trù phú. Trong những thôn trấn nội địa xa rời bến cảng, tại các nông trang trên sườn núi Âu Ân, thế sự hiếm khi biến động. Nơi đó, những bài ca xứng đáng được xướng ca cứ lặp đi lặp lại, trong tửu quán những ông lão bàn luận về Mạc Thụy Đức như thể bản thân thời niên thiếu anh hùng từng quen biết ông. Cô gái dắt bò về nhà kể câu chuyện về Kết Thủ Chi Nữ, chủ nhân của câu chuyện đã bị cả thế giới cùng Nhu Khắc lãng quên, nhưng lại lưu truyền trên những con đường đồng quê tĩnh lặng chan hòa ánh nắng này, cùng nơi bếp lửa nhà bếp người nội trợ vừa làm việc vừa chuyện trò.
Vào thời đại vua trị vì, pháp sư tụ hội tại cung đình Anh Lạp Đức hoặc hoàng cung Hắc Phất Nặc, hiến kế bày mưu, cùng nhau thương nghị, vận dụng kỹ nghệ của bản thân nhằm đạt được mục tiêu tốt đẹp được mọi người đồng thuận. Nhưng trong thời đại tăm tối, vu sư bán rẻ kỹ nghệ cho kẻ trả giá cao nhất, trong các cuộc quyết đấu cùng thuật pháp chiến tranh, dùng pháp lực tương hỗ công kích, không màng đến những ác hành do chính mình gây ra, thậm chí có thể xuất phát từ sự cố ý. Ôn dịch hạn hán, nguồn suối cạn kiệt, mùa hè không mưa, bốn mùa không có mùa hè, bầy cừu đàn bò sinh ra thú con yếu ớt dị dạng, đảo dân sinh ra hài nhi yếu ớt dị dạng, nhân dân đem những hiện tượng này quy tội cho vu sư cùng nữ vu, thực tế cũng đúng là như vậy.
Thế là, thi triển thuật pháp ngày càng nguy hiểm, trừ phi nhận được sự bảo hộ của phiên vương mạnh mẽ. Vu sư nếu gặp người có vu lực vượt xa mình, rất có khả năng bị tiêu diệt; dẫu cho ở giữa phàm nhân, một khi thả lỏng cảnh giác, cũng có thể mất mạng, bởi nhân dân xem vu sư là căn nguyên của mọi đau khổ nhân gian, là nơi tồn tại của tà ác. Thời đó, đại đa số mọi người đều xem ma pháp là hắc ma pháp.
Thôn dại vu thuật từ đó tiếng xấu đồn xa, vu thuật của phụ nữ lại càng như thế, và cho đến nay vẫn vậy. Nữ vu ứng dụng kỹ nghệ độc hữu của bản thân mà phải trả giá thâm trầm. Chăm sóc gia súc mang thai cùng phụ nữ, đỡ đẻ, truyền dạy bài ca nghi thức, duy trì độ phì nhiêu của đất nông nghiệp, làm cho vườn rau ruộng đồng sản xuất có trật tự, xây dựng nhà cửa, chăm sóc đồ đạc, khai thác khoáng vật cùng kim loại, những đại sự này vốn do phụ nữ phụ trách. Nữ vu chia sẻ cho nhau chú văn phong phú cùng tri thức tụng chú, với kỳ vọng đạt hiệu quả tốt đẹp. Tuy nhiên, một khi sản xuất hoặc nông sự không thuận, liền trở thành lỗi của nữ vu. Mà vạn sự đều sai, chỉ vì các vu sư tương hỗ tranh chiến, hoặc vì cầu hiệu quả nhanh chóng mà lạm dụng kịch độc, lời nguyền, tơ hào không cố đến hậu quả. Họ chuốc lấy hạn hán, bão rực, dẫn sâu bệnh, hỏa hoạn cùng tật bệnh về cho đất đai, nữ vu trong thôn do đó chịu phạt. Nữ vu không hiểu vì sao càng chú thuật lại khiến vết thương mưng mủ, đứa trẻ đỡ đẻ ra bị thiểu năng, cầu phúc hình như thiêu rụi hạt giống trên nông địa, sâu bệnh làm hại táo trên cây. Sau khi ách vận xảy ra, luôn phải có người trở thành kẻ thế tội, mà nữ vu thuật sĩ lại ở ngay gần đó, họ ở trong thôn trang thành trấn, chứ không phải trong thành trì yếu tắc của phiên vương, không có binh sĩ vũ trang hay chú ngữ phòng ngự bảo hộ. Thuật sĩ nữ vu nối tiếp nhau bị dìm chết trong giếng độc, bị thiêu sống hoặc chôn sống trong nông điền héo hắt, với kỳ vọng làm cho đất cằn cỗi lại trở nên phì nhiêu.
Do đó, ứng dụng hoặc truyền thụ tri thức trở nên càng thêm nguy hiểm, những người tiếp tục tục làm việc này, thông thường đã là kẻ bên lề, tàn tật, tinh thần không bình thường, không người nương tựa, già nuôi sức kệt, không còn gì để bị tước đoạt. Các trí giả rộng đường tôn kính dần biến thành những thuật sĩ vô năng bước đi khập khiễng, chỉ biết diễn trò trong thôn; những trí phụ được tin cậy biến thành mụ phù thủy già, đem linh dược dùng để tăng cường dục vọng, đố kỵ cùng địch ý; thiên phú ma pháp của trẻ nhỏ biến thành thứ đáng sợ, bắt buộc phải giấu giếm.
Câu chuyện này xảy ra vào thời đại như thế, một phần trích từ "Hắc Am Chi Thư", một phần đến từ Hắc Phất Nặc, cao nguyên Âu Ân hoặc lâm địa Pháp Lực Ân. Câu chuyện tuy dùng vài ba từ ngữ ghép thành, giá khung trống rỗng, nửa là tin đồn nửa là đoán chừng, nhưng cũng chứa đựng một phần chân tướng. Đây là câu chuyện về sự ra đời của Nhu Khắc. Nếu các sư phụ Nhu Khắc cho rằng sự thực không phải như vậy, xin mời ra mặt thuật lại Nhu Khắc ra đời như thế nào, bởi mây mù đã bao phủ thời đại Nhu Khắc mới thành hòn đảo của trí giả, mà mây mù này rất có thể do chính trí giả an trí.