Truyện Lục Địa Địa Hải 5: Tập Truyện Địa Hải

Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Dân Tộc Và Ngôn Ngữ

❊ ❊ ❊

Dân tộc

Đại lục Hách Tộc

Người Hách Tộc ở Quần đảo Vương quốc sinh sống bằng nghề nông, chăn nuôi, đánh bắt cá, thương nghiệp, cùng các nghề thủ công và kỹ nghệ thường thấy trong xã hội phi công nghiệp. Dân số vô cùng ổn định, vùng đất hữu hạn thích hợp cho con người sinh sống chưa từng bị quá tải; không biết đến nạn đói là gì, rất ít người nghèo.

Các hòn đảo và làng mạc thường được quản lý bởi hội đồng nghị sự hoặc nghị viện mang tính dân chủ đại khái, người lãnh đạo hoặc đại diện giao thiệp là những đại diện đảo dân được tuyển chọn. Ở vùng biên cương, tổ chức chính trị thông thường chỉ có nghị viện đảo dân hoặc nghị viện thôn trấn. Trong Nội hoàn Vương quốc, giai cấp thống trị đã sớm được thiết lập, đa phần các hòn đảo lớn và thành phố (ít nhất là trên danh nghĩa) đều do nam nữ quý tộc đời đời truyền nhau thống trị, toàn bộ Quần đảo Vương quốc mấy trăm năm nay đều do nhà vua trị vì. Thế nhưng, kẻ thực chất thống trị các thị trấn đô thị, phần lớn lại là nghị viện, thương gia và thương hội. Mạng lưới thương hội lớn trải khắp các nơi trong Nội hoàn Vương quốc, không chịu sự quản lý của lãnh chúa hay tổ chức nào ngoài Quốc vương Hắc Phất Nặc.

Chế độ ấp phong, chế độ lãnh địa, chế độ nô lệ từng thỉnh thoảng xuất hiện ở một số khu vực, nhưng dưới sự cai trị của Quốc vương Hắc Phất Nặc thì không hề tồn tại.

Ma thuật là một thứ sức mạnh thực chất được công nhận phổ biến, do một số ít cá nhân vận dụng, chứ không phải toàn thể. Ma thuật nhào nặn, ảnh hưởng đến các chế độ của Hách Tộc, thế nên bề ngoài cuộc sống của Quần đảo Vương quốc có vẻ tương tự các xã hội phi công nghiệp khác, nhưng thực chất lại khác biệt một trời một vực. Một chỉ tiêu trong số đó có lẽ là: tôn giáo có tổ chức hoàn toàn vắng bóng. Mê tín tồn tại phổ biến ở khắp nơi, nhưng lại không có thần linh, giáo phái hay các hình thức sùng bái chính thức nào. Nghi lễ chỉ tồn tại trong các truyền thống dâng hiến ở một số thánh địa thái cổ, hoặc các đại lễ ăn mừng toàn dân mỗi năm một lần, như tiết Nhật Hồi và lễ Trường Vũ; khi tụng niệm, ca hát các bài ca truyền thống và sử thi, hoặc khi biểu diễn chú ngữ ma thuật, cũng có nghi lễ.

Người dân Quần đảo Vương quốc và vùng biên cương đều thuộc ngôn ngữ và văn hóa Hách Tộc, nhưng mang những sắc thái địa phương khác nhau. Dân tộc Bè Nổi ở vùng Tây Nam biên cương giữ lại các đại lễ ăn mừng hàng năm, nhưng hiếm khi thể hiện các văn hóa quần đảo khác, họ không có thương nghiệp, không có nông nghiệp, cũng không biết đến các tộc người khác.

Đa phần các dân tộc quần đảo đều có làn da màu nâu hoặc nâu đỏ, tóc đen thẳng, mắt sậm màu, vóc dáng phần lớn thấp lùn, mảnh khảnh, khung xương nhỏ, nhưng khá cân đối và đầy đặn. Dân tộc vùng Đông biên và Nam biên thì cao lớn hơn, khung xương nặng hơn, màu da cũng sậm hơn. Rất nhiều người phương Nam có làn da màu nâu sậm. Đa phần nam giới quần đảo rất ít râu, hoặc hoàn toàn không mọc râu.

Màu da của người Âu Ti Tố, La Thái Hách Mật và Bác Tì sáng hơn các dân tộc còn lại của Quần đảo Vương quốc, thường có tóc nâu, thậm chí tóc vàng, tròng mắt màu sáng, đàn ông phần lớn đều có râu. Ngôn ngữ và một phần tín ngưỡng của họ gần gũi với người Ca Nhĩ Cách hơn là Hách Tộc. Những người phương Bắc xa xôi này có lẽ là hậu duệ của người Ca Nhĩ Cách. Sau khi người Ca Nhĩ Cách định cư ở bốn đại lục phương Đông, khoảng hai nghìn năm trước lại vượt biển quay về phương Tây.

Đại lục Ca Nhĩ Cách

Trên bốn hòn đảo lớn ở Đông Bắc Quần đảo Vương quốc, màu da của cư dân từ nâu nhạt đến trắng, màu tóc từ đậm đến nhạt đều có, ngoài tròng mắt sậm màu ra, còn có màu xanh lam, màu xám.

Ngoại trừ đảo Âu Ti Tố, chủng loại màu da của người Ca Nhĩ Cách và Quần đảo Vương quốc hiếm khi pha tạp, bởi vì vùng Bắc biên vô cùng hoang vắng, thưa thớt bóng người, hai, ba ngàn năm nay, dân tộc Ca Nhĩ Cách đối với người dân Quần đảo Vương quốc luôn mang sự thù địch phổ biến, cố ý tránh né tiếp xúc.

Khí hậu bốn đảo lớn Ca Nhĩ Cách đa phần khô hạn, nhưng qua tưới tiêu cày cấy, liền trở nên khá trù phú. Xã hội Ca Nhĩ Cách có vẻ khép kín, hiếm khi bị ảnh hưởng, chỉ có sự ảnh hưởng tiêu cực mang lại từ những người láng giềng cường thịnh ở phương Nam và phương Tây.

Trong dân tộc Ca Nhĩ Cách, ma thuật có vẻ ít xuất hiện dưới hình thức bẩm sinh, có lẽ là vì bị xã hội và những kẻ nắm quyền chủ đạo phớt lờ hoặc chủ động áp chế. Ma thuật ngoài việc là một thứ sức mạnh tà ác, đáng phải sợ hãi né tránh ra, thì trong xã hội cũng không được công nhận. Thế nên, so với Quần đảo Vương quốc, người Ca Nhĩ Cách không thể, không muốn sử dụng ma thuật, khiến họ rơi vào thế bất lợi về mọi mặt, đây có lẽ cũng là lý do khiến họ cưỡng bức cướp bóc, xâm lược vùng Nam biên lân cận và đảo Cung Thất, chứ không có ý định tham gia thương nghiệp hay các hoạt động giao lưu khác.

Rồng

Các bài ca và câu chuyện cho thấy, sự xuất hiện của loài rồng sớm hơn tất cả các sinh vật. Trong tiếng Hách cổ, ẩn dụ hoặc uyển ngữ của từ "rồng" có "Thai đầu", "Tới thọ giả", "Trường nhi". (Chữ đại diện cho con trưởng trong nhà, trong tiếng Âu Ti Tố là "A Khắc Đức", trong tiếng Ca Nhĩ Cách là "Cát Đạt", cả hai đều phái sinh từ "Háp Tư". "Háp Tư" chính là "Rồng" trong ngôn ngữ thái cổ.)

Các tài liệu và câu chuyện rải rác ở Cung Thất và vùng biên cương, những mảnh sử thánh vụn vặt của đại lục Ca Nhĩ Cách, những mảnh câu chuyện thần bí tối nghĩa của Trí điển đảo Bàn, từ lâu đã bị các học giả Rô Khắc phớt lờ. Những bản tường thuật văn tự này, vào thời đại sớm nhất, rồng và người cùng một giống, sau đó phân liệt thành hai, thói quen sinh sống hoặc dục vọng của đối phương đều không dung hợp, có lẽ là sự chia cắt địa chất lâu dài, tạo nên sự phân kỳ và khác biệt chủng tộc ngày càng xa cách. Trí thức đảo Bàn và truyền thuyết người Ca Nhĩ Cách kiên quyết khẳng định đây là sự chia tách có chủ ý, do hiệp nghị phân liệt — hay gọi là "Phu Nhĩ Nạp Đăng", "Phu Đô Nam" — tạo thành.

Những truyền thuyết này được bảo tồn nguyên vẹn nhất tại Hồ Nhĩ Hồ nằm ở cực đông đại lục Ca Nhĩ Cách, rồng ở vùng đất này đã thoái hóa thành loài động vật không có trí tuệ bậc cao, nhưng người Hồ Nhĩ Hồ kiên quyết tin tưởng quan hệ huyết thống giữa loài người và tộc rồng; đi kèm với những truyền thuyết cổ xưa này là những câu chuyện được lưu truyền cận đại: rồng biến thành hình người, người biến thành hình rồng, và sinh vật vừa là rồng vừa là người.

Bất kể sự phân liệt xảy ra như thế nào, từ khi có lịch sử ghi chép, loài người đã sống ở trung tâm Quần đảo Vương quốc và đại lục Ca Nhĩ Cách ở phía đông của nó, còn rồng thì ở lại những hòn đảo cực tây, và phương xa càng xa hơn nữa. Loài người thường không hiểu tại sao tộc rồng lại chọn đại dương trống trải làm lãnh thổ — rồng là "sinh vật của gió và lửa", lao xuống biển sẽ chết đuối, nhưng chúng không cần phải hạ cánh trên mặt nước hay đất liền. Chúng sinh ra dựa vào đôi cánh, bay lượn trong không trung, dưới ánh mặt trời, ánh sao. Mặt đất duy nhất mà rồng cần, chính là những nơi gồ ghề nhiều đá, để đẻ trứng, nuôi dưỡng rồng con. Những hòn đảo nhỏ bé nghèo nàn ở cực viễn Tây biên, phù hợp với nhu cầu này.

《Y Á Sáng Thế Ca》 không nhắc đến rõ ràng nguồn gốc đồng nhất giữa tộc rồng và loài người, hay sau này phân liệt như thế nào, nhưng điều này có lẽ là bởi vì bản chính của bài thơ này tương truyền được viết bằng ngôn ngữ sáng sinh, niên đại còn sớm hơn cả thời điểm phân liệt. Bằng chứng tốt nhất trong bài thơ về việc người và rồng cùng nguồn gốc chính là từ "A Lạp Tư" trong tiếng Hách cổ, từ này thông thường được giải nghĩa là "nhân dân" hay "loài người", nhưng nguyên ngữ (xuất phát từ 《Chân phù văn của A Đặc và Tát A》) lại là "sinh vật văn tự", "kẻ biết nói", có lẽ chính là ngụ ý tộc rồng hoặc bao gồm cả tộc rồng. Một từ khác thỉnh thoảng được sử dụng trong các bài ca là "A Lặc Lạp Tư", ý chỉ "sinh vật chữ thật", "kẻ nói chữ thật", "kẻ nói lời thật", có lẽ ý chỉ phù thủy loài người, tộc rồng, hoặc cả hai đều phải. Trí thức đảo Bàn tối nghĩa cho rằng, từ này đồng thời ý chỉ phù thủy và rồng.

Rồng sinh ra đã thông hiểu chân ngữ, hoặc như Cát Đắc đã nói, "rồng và tiếng rồng là một thể hai mặt". Cho dù loài người ban đầu cũng sở hữu trí thức hoặc thân phận bẩm sinh này, thì nay đều đã mất sạch, cũng giống như đã đánh mất bản tính loài rồng từ lâu.

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ thái cổ, còn gọi là ngôn ngữ sáng sinh, là ngôn ngữ mà Hề Quả Ất vào lúc khởi đầu thời gian, đã dùng để sáng tạo ra các hòn đảo Địa Hải, được công nhận là hoàn toàn không có giới hạn, bởi vì nó ban cho vạn vật chân danh.

Như đã nói ở trên, rồng sinh ra đã biết ngôn ngữ này, còn loài người thì không. Thế nhưng vẫn có ngoại lệ. Những người có thiên phú ma thuật cường đại, hoặc thông qua quan hệ huyết thống cổ xưa giữa loài người và tộc rồng, cũng bẩm sinh biết được một số từ vựng ngôn ngữ thái cổ, nhưng đa phần mọi người đều bắt buộc phải học ngôn ngữ thái cổ. Người Hách Tộc nắm giữ ma thuật thông qua sư phụ mà học được, thuật sĩ và nữ vu học được một số ít, phù thủy học được rất nhiều, một số người thì gần như có thể sử dụng trôi chảy tựa như loài rồng.

Chú văn đều sử dụng ít nhất một từ ngữ thái cổ, thế nhưng, nữ vu thôn dã hay thuật sĩ chưa chắc đã biết rõ ý nghĩa của nó. Chú văn thâm uyên hoàn toàn cấu thành bởi ngôn ngữ thái cổ, chỉ khi tụng niệm mới có thể lý giải.

Tiếng Hách Quần đảo Vương quốc, tiếng Âu Ti Tố, tiếng Ca Nhĩ Cách, đều là hậu duệ xa xôi của ngôn ngữ thái cổ, những ngôn ngữ này đều không thể biên tổ chú văn ma thuật.

Người dân Quần đảo Vương quốc nói tiếng Hách, phương ngôn nhiều ngang ngửa các hòn đảo, nhưng không đến mức khác biệt khiến đối phương hoàn toàn không thể hiểu nổi.

Tiếng Âu Ti Tố được sử dụng ở hai đảo Âu Ti Tố và Tây Bắc, so với tiếng Hách, thì càng gần gũi với tiếng Ca Nhĩ Cách hơn. Trong ba loại ngôn ngữ, từ vựng và cấu trúc câu của tiếng Ca Nhĩ Cách phần lớn phái sinh từ ngôn ngữ thái cổ. Đa phần những người nói tiếng Ca Nhĩ Cách, cũng giống như đa phần những người nói tiếng Hách, không hiểu rõ việc cả hai cùng chung một nguồn gốc. Các học giả của Quần đảo Vương quốc nhận thức được chuyện này, nhưng đa phần người Ca Nhĩ Cách lại phủ nhận, họ không phân biệt được tiếng Hách và ngôn ngữ thái cổ được sử dụng trong chú ngữ, coi tất cả ngôn ngữ của Quần đảo Vương quốc thành ma thuật tà ác, cảm thấy sợ hãi, khinh bỉ.

Văn tự

Tương truyền văn tự do các sư phụ phù văn phát minh ra, họ là những phù thủy vĩ đại đầu tiên của Quần đảo Vương quốc, có lẽ vì để bảo lưu ngôn ngữ thái cổ, mà phát minh ra văn tự. Rồng không có văn tự.

Địa Hải có hai loại văn tự hoàn toàn khác biệt: chân phù văn, và phù văn văn tự.

Chân phù văn của Quần đảo Vương quốc bao gồm các từ ngữ ngôn ngữ sáng sinh. Chân phù văn không chỉ là tượng trưng, mà còn là nguyên nhân sáng tạo: có thể khiến sự vật xuất hiện, khiến một loại tình huống nào đó xảy ra, hoặc hiện thực hóa một sự kiện. Viết ra phù văn này chính là hành động, sức mạnh của hành động thì tùy theo môi trường khách quan mà định đoạt. Đa phần chân phù văn chỉ xuất hiện trong cổ tịch và trí điển, chỉ có phù thủy được huấn luyện phù văn chuyên môn mới sử dụng. Thế nhưng, trong số đó có nhiều loại thường xuyên được sử dụng, ngay cả người bình thường chưa từng học qua cũng vô cùng quen thuộc, tỷ như: phù văn viết trên khung cửa để bảo vệ ngôi nhà tránh khỏi tai họa lửa.

Rất lâu sau khi chân phù văn được phát minh, đã phát triển ra một bộ phù văn văn tự có liên quan tới nó nhưng không mang ma thuật, dùng để biên soạn tiếng Hách. Khả năng ảnh hưởng hiện thực của loại văn tự này cũng không có gì khác biệt so với bất kỳ văn tự nào, nói cách khác, sức ảnh hưởng tuy gián tiếp, nhưng cũng rất đáng kể.

Tương truyền Hề Quả Ất ban đầu dùng lửa viết chân phù văn trong gió, thế nên chân phù văn và ngôn ngữ sáng sinh xuất hiện trong cùng một thời kỳ, nhưng thuyết này có lẽ sai lầm, bởi vì rồng không sử dụng chân phù văn, cho dù có nhận biết đi nữa, cũng sẽ không thừa nhận.

Mỗi một chân phù văn đều có hàm nghĩa, ý ngoài lời, hoặc phạm vi ý nghĩa cụ thể của nó. Tiếng Hách ít nhiều có thể định nghĩa, nhưng nói thế này thì tốt hơn: những phù văn này không hoàn toàn là văn tự, mà là chú ngữ hoặc hành động. Thế nhưng, chân phù văn bắt buộc phải tồn tại trong câu ngữ thái cổ, được phù thủy nói ra hoặc viết thành, không thể trình bày bằng câu trần thuật, bắt buộc phải mang ý đồ hành động; lúc thi chú còn phải kết hợp thêm âm thanh thủ thế. Thỏa mãn những điều kiện này rồi, sức mạnh của văn tự hoặc phù văn mới được phóng thích hoàn toàn.

Khi cần viết ghi chép lại, chú văn đều được viết bằng chân phù văn, thỉnh thoảng cũng lẫn vào phù văn tiếng Hách. Viết chân phù văn, cũng giống như nói ngôn ngữ thái cổ vậy, bảo đảm những gì nói ra chắc chắn là sự thật — là con người thì bắt buộc phải tuân thủ. Con người không thể nói dối bằng ngôn ngữ thái cổ, nhưng rồng lại có thể — ít nhất rồng là nói như vậy. Nếu rồng nói dối, há chẳng phải chứng minh những gì chúng nói là thật hay sao?

Tên gọi của chân phù văn trong khẩu ngữ, có thể là từ ngữ chỉ định trong ngôn ngữ thái cổ, hoặc là một trong những ý ngoài lời khi dịch sang tiếng Hách. Tên phù văn thường dùng, người nói tiếng Hách thông thường đều tùy ý sử dụng, tỷ như: Tị Nhĩ (dùng để chống đỡ hỏa tai, phong tai, cuồng loạn), Tây Vu Phất (thuận buồm xuôi gió), Tây Mỗ (công việc thuận thế)...; kẻ thao túng ma thuật cho dù có nói những tên thường dùng ai ai cũng biết này, thì cũng vô cùng cẩn trọng, bởi vì những tên này thực ra đều là từ vựng ngôn ngữ thái cổ, có khả năng trong lúc không ngờ tới hoặc ngoài ý muốn, sẽ ảnh hưởng đến bản thân sự kiện.

"Sáu trăm phù văn tiếng Hách" cái gọi là, thực ra không phải là phù văn tiếng Hách dùng để biên soạn ngôn ngữ thông thường, mà là chân phù văn, đi kèm với "khóa xẻng", không thể khởi động trong ngôn ngữ thông thường. Chân danh của những phù văn này trong ngôn ngữ thái cổ bắt buộc phải học thuộc lòng. Học đồ ma thuật có lòng ham học hỏi sẽ tu luyện sâu hơn "phù văn tiến giai", "phù văn Y Á" và đủ loại phù văn khác. Nếu nói ngôn ngữ thái cổ không bờ không bến, thì phù văn cũng vậy.

Tiếng Hách hằng ngày vì chính vụ, thương vụ, truyền tin cá nhân, ghi chép lịch sử, câu chuyện, bài ca v.v., được viết gọn gàng bằng phù văn tiếng Hách. Đa phần người dân Quần đảo Vương quốc trong thời gian đi học mấy năm, liền học từ vài trăm đến mấy ngàn từ vựng. Bất kể là khẩu ngữ hay chữ viết, tiếng Hách hoàn toàn vô dụng trong việc thi pháp.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.