Kinh thành lúc nửa đêm, ánh trăng mờ ảo, tiếng vó ngựa từ xa càng lúc càng rõ ràng. Trên lưng ngựa là một người khoác áo choàng đen tuyền, khí khái bức người, gương mặt lạnh lùng hiện rõ vẻ sốt ruột. Người này dừng lại trước cổng một ngôi nhà tứ hợp viện bình thường, xoay người nhảy xuống ngựa. Người bên trong dường như đã nghe thấy động tĩnh ngoài sân, một lão bộc lập tức mở cửa, vừa thấy người này liền vội vàng giúp buộc ngựa, cất giọng run rẩy: "Nhậm gia, lão gia ở trong phòng đợi ngài lâu lắm rồi."
Vị Nhậm gia này tên là Nhậm Bằng Phong, chàng sải bước vào nội trạch, đến gian phòng trong, đẩy cửa ra thì thấy Lý Lân Thanh đang yếu ớt dựa nửa người vào đầu giường, sắc mặt tái nhợt, trong lòng bất giác dâng lên một nỗi chua xót. Lý Lân Thanh nhìn thấy Nhậm Bằng Phong liền vội vàng gượng dậy, Nhậm Bằng Phong bước tới nắm chặt lấy tay y.
"Bằng Phong, cuối cùng đệ cũng tới, ta chẳng còn sống được bao lâu nữa, hôm nay gọi đệ qua đây, chủ yếu là muốn phó thác cho đệ một chuyện hệ trọng."
"Lý huynh, huynh cứ nói! Chỉ cần việc Nhậm Bằng Phong đệ có thể làm được, dù phải lên núi đao xuống biển lửa cũng tuyệt không từ nan!"
Lý Lân Thanh khó nhọc vươn tay ấn vào một chỗ nào đó bên mép giường, mép giường lập tức bật ra một ngăn kéo ngầm. Y lấy từ trong ngăn ngầm ra một chiếc hộp, đang định mở ra thì thấy trước cửa sổ có bóng đen lướt qua, Nhậm Bằng Phong vội vàng ấn tay y lại, nói: "Khoan đã, coi chừng bên ngoài có người!" Chàng vội bước đến bên cửa sổ, cẩn thận đóng chặt then cửa, rồi mới quay lại trước mặt Lý Lân Thanh.
Chỉ thấy Lý Lân Thanh khẽ mở chiếc hộp ra, một đôi chén sứ tinh xảo tuyệt luân hiện ra trước mắt.
"Thanh hoa Nhật Nguyệt chung!" Nhậm Bằng Phong không kìm được khẽ thốt lên. Chàng chỉ từng nghe về lai lịch của chiếc chén này trong mấy câu chuyện truyền miệng dân gian, nghe nói đây là quốc bảo của Đại Thanh, là bảo vật liên quan đến vận mệnh đất nước, chén Nhật và chén Nguyệt khi gõ vào nhau có thể phát ra một thứ âm thanh tuyệt diệu. Hôm nay được tận mắt nhìn thấy bảo vật này khiến lòng chàng vô cùng kích động, nhưng ngay sau đó là một nỗi lo âu trỗi dậy, bởi vì chàng biết, kẻ thèm muốn món quốc bảo này không chỉ có một hai người.
Mặt Lý Lân Thanh bỗng đỏ bừng lên, y dùng giọng yếu ớt ghé vào tai Nhậm Bằng Phong thì thầm mấy câu, y còn muốn gượng nói thêm điều gì nhưng lại hộc ra một ngụm máu tươi, gục xuống lòng Nhậm Bằng Phong.
"Lý huynh!" Nhậm Bằng Phong ôm chặt lấy Lý Lân Thanh gọi lớn, nhưng không hề nghe thấy lời hồi đáp nào nữa.
Lúc này Nhậm Bằng Phong đau đớn tột cùng, nhưng chàng kìm nén nước mắt, từ từ đặt Lý Lân Thanh nằm ngay ngắn lên giường. Chàng biết, hiện tại chưa phải lúc đau thương rơi lệ, điều quan trọng là phải hoàn thành tâm nguyện của Lân Thanh huynh. Chàng bước ra ngoài phòng, dùng ánh mắt kiên nghị nhìn về phía xa, lúc này chàng đã biết nơi mình cần phải đến.
Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây là một nơi tươi đẹp được bao bọc bởi non xanh nước biếc, núi non trùng điệp, đường đèo uốn lượn. Đồ gốm sứ Trung Hoa bác đại tinh thâm, chủng loại rất nhiều, chia theo độ cứng thì có sứ cứng, sứ mềm; chia theo màu sắc thì có thanh sứ, bạch sứ, thải sứ, hắc sứ, mỗi một loại màu chia nhỏ ra lại có muôn vàn loại khác nhau, cách thức nung chế cũng chẳng hề giống nhau. Sứ của Cảnh Đức Trấn thuộc dòng sứ hoa lam, là một trong những loại có phẩm cấp cực cao trong đồ sứ Trung Hoa. Loại sứ hoa lam này từ thời Đường đã có kỹ thuật nung chế thành thục, đương thời nổi tiếng nhất là lò Việt Châu; đến thời Tống, trứ danh có các lò Nhữ, lò Quan, lò Long Tuyền, lò Ca, lò Quân, sử sách đều có ghi chép; sau thời Minh, Cửu Giang trở thành trung tâm nghề gốm, thanh sứ Cảnh Đức là một nhánh của sứ Cảnh Đức. Có lẽ chỉ ở một nơi phong cảnh hữu tình nhường này mới có thể nung ra những món đồ sứ tuyệt mỹ đến vậy, từ xa dường như có thể thấy vài đoàn ngựa đang len lỏi giữa rừng núi. Mà lúc này Nhậm Bằng Phong lại chẳng có tâm trí ngắm nhìn cảnh đẹp, lòng chàng nóng như lửa đốt, chỉ mải vung roi thúc ngựa chạy về phía trước, chốc chốc lại quay đầu giục lão bộc Cửu thúc đi cùng phải nhanh chân lên, bởi chàng phải tranh thủ đến Cảnh Đức Trấn trước khi trời tối.
Sau mấy ngày mấy đêm bôn ba, Nhậm Bằng Phong và Cửu thúc cuối cùng cũng tới Cảnh Đức Trấn trước khi trời tối. Bước vào Cảnh Đức Trấn, chỉ thấy phố xá ngang dọc, hàng quán san sát, trăm nghề đua nở, một cảnh tượng phồn hoa đô hội. Trong vô số hàng quán, nhiều nhất chính là các tiệm đồ sứ. Khách buôn tấp nập trên phố, chốc chốc lại có đoàn ngựa, đoàn lạc đà đi qua. Nhậm Bằng Phong đi thẳng đến trà lâu Tam Xuân, hy vọng có thể tìm được người mình muốn gặp. Người này chính là bà chủ trà lâu Tam Xuân — muội muội của Lý Lân Thanh, Lý Phượng Bạch.
Còn chưa tới trà lâu đã thấy bên ngoài vây kín người xem, Nhậm Bằng Phong vô cùng kinh ngạc, chen lên trước định nhìn cho rõ thực hư, thì nghe thấy một thiếu phụ đang lớn tiếng chửi rủa hướng vào trà lâu: "Lý Phượng Bạch, đồ đàn bà không biết xấu hổ, ngươi cút ra đây cho ta!"
Phượng Bạch? Chẳng lẽ người này đang mắng Phượng Bạch sao? Chàng ngẩng đầu nhìn lên, một phụ nhân diễm lệ đang đứng trên lầu, cười lạnh đầy khinh miệt, nhìn kỹ lại thì quả thực là Phượng Bạch. Phượng Bạch sao lại biến thành bộ dạng này, nàng rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì? Nhậm Bằng Phong ngơ ngác, vội hỏi một người qua đường đang đứng xem náo nhiệt bên cạnh, người qua đường này cười nói với chàng: "Huynh từ nơi khác tới phải không? E là huynh chưa biết, bà chủ Lý Phượng Bạch của trà lâu Tam Xuân có thể coi là người đàn bà lẳng lơ nhất xứ này đấy, nhà họ Bạc là một trong hai đại gia tộc làm đồ sứ ở Cảnh Đức Trấn, Bạc Nhị gia bị ả Lý Phượng Bạch này mê hoặc đến mất hết hồn vía, đang yên đang lành tự nhiên nhảy xuống vực tự tử, vợ Bạc Nhị gia đang đòi liều mạng với Lý Phượng Bạch, năm lần bảy lượt đòi đuổi ả ra khỏi Cảnh Đức Trấn kia kìa! Cứ chờ xem, phen này có kịch hay rồi."
Nhậm Bằng Phong cau mày thật chặt, ngước nhìn lên trên, đồng thời không ngừng chen vào trong. Chỉ thấy thiếu phụ kia càng cãi càng dữ, cuối cùng còn cầm lấy chiếc bát ném thẳng lên trên, may mà Lý Phượng Bạch phản ứng kịp thời, nghiêng đầu sang một bên mới tránh được đòn này. Lý Phượng Bạch thong thả chỉnh lại y phục, khinh khỉnh nói vọng xuống lầu: "Bạc Nhị thái thái, cứ từ từ mà đập, tôi vốn đã chê mấy thứ đồ đạc này cũ rồi, đập hết đi vừa hay dùng đồ sứ của nhà họ Bạc các người đền."
Nghe Lý Phượng Bạch nói vậy, Bạc Nhị thái thái Mỹ Quyên càng thêm tức giận, cầm một chiếc bát sứ định ném tiếp. Nhậm Bằng Phong thấy vậy liền chộp lấy tay Mỹ Quyên, đoạt lấy chiếc bát trong tay nàng ta, nói: "Vị thái thái này, có chuyện gì không thể nói năng tử tế được sao? Làm chết người không phải chuyện đùa đâu!"
Lý Phượng Bạch trên lầu nhìn thấy Nhậm Bằng Phong, ánh mắt bỗng sáng lên, vẻ lả lơi lúc nãy biến đâu mất sạch, khóe mắt thoáng chốc ngân ngấn lệ, nàng lẩm bẩm: Bằng Phong, cuối cùng chàng cũng tới rồi.
Mỹ Quyên thấy nửa đường lại nhảy ra kẻ cản mũi, càng thêm phẫn nộ bất bình, quay sang Nhậm Bằng Phong chửi xối xả: "Hừ, giọng điệu cứ như ông chủ trà lâu Tam Xuân ấy nhỉ, Lý Phượng Bạch, mày giỏi quyến rũ đàn ông thật đấy. Tôi khuyên vị tiên sinh này tránh càng xa con hồ ly tinh này càng tốt, cẩn thận bị ả ăn thịt không chừa lại khúc xương nào!" Nhậm Bằng Phong đang định đáp lại thì nghe thấy trong đám đông có người quát lớn: "Mỹ Quyên, không được vô lễ!" Lần theo tiếng nói nhìn lại, chỉ thấy một mỹ phụ bước ra, phía sau còn có mấy gia đinh đi cùng. Đám đông xung quanh hơi xôn xao, có người bàn tán: Hạ Ngư Nhi tới rồi, là Hạ Ngư Nhi, quả nhiên danh bất hư truyền, đúng là đại mỹ nhân! Mỹ Quyên vừa thấy Hạ Ngư Nhi cũng ngoan ngoãn hơn hẳn, Hạ Ngư Nhi nói với Mỹ Quyên: "Về nhà rồi nói!" Mỹ Quyên còn muốn đôi co thêm vài câu, nhưng nhìn thấy ánh mắt của chị dâu đành ngậm miệng lại.
Lý Phượng Bạch thấy cảnh đó liền không chịu để yên, nói: "Đập phá trà lâu của tôi rồi cứ thế phủi mông đi sao? Nhà họ Bạc các người dù có lớn đến đâu, giữa thanh thiên bạch nhật này cũng phải nói lý lẽ chứ, Bạc thái thái, bà cho một câu thỏa đáng đi!"
Hạ Ngư Nhi quay đầu lại, liếc nhìn Lý Phượng Bạch: "Bà chủ, thiệt hại của trà lâu phiền bà kê một bản danh sách gửi cho tôi, tôi sẽ bồi thường theo đúng giá. Mỹ Quyên, chúng ta đi."
Nhậm Bằng Phong bỗng cất tiếng gọi: "Bạc thái thái, xin dừng bước. Vị thái thái này mở miệng là nói bà chủ quyến rũ đàn ông, vị tiên sinh kia lại bảo nơi này không phải chốn đàng hoàng, bôi nhọ thanh danh người khác như vậy, lẽ nào không nên xin lỗi nàng một tiếng sao?"
Hạ Ngư Nhi xoay người lại, đưa mắt nhìn về phía Nhậm Bằng Phong. Ánh mắt hai người chạm nhau, thân mình đều bất giác khẽ rung lên.
Phải một hồi lâu sau Hạ Ngư Nhi mới hoàn hồn, nói với Nhậm Bằng Phong: "Vị tiên sinh này, xin hỏi ngài là..."
"Người đi đường xen vào chuyện bất bình trên đường, chỉ có vậy thôi."
Hạ Ngư Nhi thong thả đáp: "Ân oán giữa nhà họ Bạc và trà lâu Tam Xuân đâu phải một hai câu là nói cho rõ được. Miệng đời tự có cái lý của miệng đời, muội muội này của tôi không phải kẻ vô cớ gây sự. Nếu bà chủ đây tự thấy hổ thẹn với lương tâm, cái lễ này, chúng tôi bồi thường được, nhưng ả cũng không gánh nổi đâu. Tấm lòng hiệp nghĩa của tiên sinh e là đặt nhầm chỗ rồi."
Nói xong, nàng rảo bước ra khỏi trà lâu, người nhà họ Bạc cũng nối đuôi nhau rời đi.
Nhậm Bằng Phong dường như bị những lời lẽ của Hạ Ngư Nhi làm cho chấn động, chàng không ngờ ở cái trấn Cảnh Đức nhỏ bé này lại có một kỳ nữ bậc này, những lời vừa rồi rõ ràng không phải người phụ nữ tầm thường có thể thốt ra, chẳng hổ danh là đương gia phu nhân của nhà họ Bạc. Chàng ngẩn ngơ nhìn theo bóng lưng khuất dần của Hạ Ngư Nhi, trong lòng dấy lên một cảm xúc khó tả, đây là lần đầu tiên chàng có cảm giác này.
Trên đường về nhà, Hạ Ngư Nhi có phần lơ đễnh, trong đầu cứ chốc chốc lại hiện lên khoảnh khắc ánh mắt chạm nhau với Nhậm Bằng Phong, đến mức mấy lần Hà Gia Mặc nói chuyện với nàng, nàng đều không nghe rõ. Hà Gia Mặc đành rảo bước theo kịp, nói nhỏ với Hạ Ngư Nhi: "Ngư Nhi, chuyện ta nói với nàng, chuyện của hai chúng ta..." Lúc này, trước mắt Hạ Ngư Nhi bỗng hiện lên những lời Hà Gia Mặc vừa nói với nàng ở nhà. Phải rồi, những năm qua, Hà Gia Mặc với thân phận hội trưởng đại hội bình xét gốm sứ đối với nàng cũng coi như có tình có nghĩa, chăm sóc chu đáo, nhưng thật sự bảo nàng gả cho ông ta thì trong lòng vẫn có chút đắn đo. Nàng ngẩng đầu lên, đang định trả lời Hà Gia Mặc thì Nhậm Bằng Phong bỗng cưỡi ngựa lướt qua bên cạnh, chàng ngoái đầu lại, ánh mắt hai người một lần nữa chạm nhau, Nhậm Bằng Phong mỉm cười nhẹ rồi phi ngựa rời đi. Lòng Hạ Ngư Nhi thoáng hoảng loạn, vội vàng đáp: "Chuyện đó... để sau hẵng nói." Hà Gia Mặc nhìn Hạ Ngư Nhi, bất giác nhíu mày.
Về đến nhà, Hạ Ngư Nhi vội vàng gọi lão bộc Giang bá tới, bảo ông tập hợp tất cả người nhà họ Bạc ra phòng khách. Chẳng mấy chốc phòng khách đã đứng chật người, người cuối cùng bước vào là một thiếu niên khôi ngô tuấn tú, chừng mười tám, mười chín tuổi, đang cau mày với vẻ mặt đầy bất mãn. Đó chính là con trai lớn của Hạ Ngư Nhi, Bạc Kiếm Lan, một thiếu niên vô cùng say mê kiếm thuật. Lúc bị Giang bá gọi tới, hắn đang hào hứng luyện kiếm ngoài hoa viên, đối với chuyện trong nhà xưa nay vốn chẳng bận tâm, nên lần này bị ngắt quãng liền tỏ ra không vui.
Hạ Ngư Nhi liếc nhìn con trai một cái, nói: "Gọi mọi người tới đây là để tuyên bố một việc, từ hôm nay trở đi, người nhà họ Bạc không một ai được bén mảng đến trà lâu Tam Xuân." Kiếm Lan lập tức lộ vẻ bất mãn ra mặt, Hạ Ngư Nhi giải thích: "Bởi vì nơi đó không sạch sẽ! Hôm nay ai đã tới trà lâu Tam Xuân, mỗi người bị phạt trừ nửa tháng tiền công. Ngoài ra, sắp tới ngày bình chọn Sứ Vương rồi, không được ra ngoài gây chuyện thị phi, nghe rõ chưa, nhất là Kiếm Lan, muốn múa kiếm múa đao thì ở nhà mà múa, mấy ngày này bớt cùng đám bạn bè lêu lổng kia lượn lờ ngoài phố đi."
Thấy giọng điệu Hạ Ngư Nhi nghiêm khắc, mọi người đều sợ hãi cúi gằm mặt. Chỉ có một mình Bạc Kiếm Lan là tức tối trừng mắt nhìn mẹ.
"Được rồi, điều ta muốn nói chỉ có vậy, các người lui xuống trước đi!" Hạ Ngư Nhi ngồi dựa vào ghế, lộ rõ vẻ mệt mỏi.
Kẻ ăn người ở lần lượt giải tán, Bạc Kiếm Lan cũng hậm hực bước ra ngoài.
Xuân Nhi vội rót một chén trà. Hạ Ngư Nhi bưng lên, nhấp một ngụm rồi đặt xuống, ngày mai đã là ngày bình chọn Thanh Hoa Sứ Vương rồi, tuy Giang bá bảo nàng cứ yên tâm, nhưng Tư Mã Cung cũng đang quyết tâm giành lấy bằng được. Lão ta đã bị nhà họ Bạc đè đầu cưỡi cổ suốt sáu năm liền, đang nín thở dồn sức để đoạt danh hiệu Thanh Hoa Sứ Vương. Huống hồ năm nay lại khác, chú Hai vừa mới mất chưa lâu, về mặt khí thế thì nhà họ Bạc đã thua một nước rồi. Lần này số lượng thương nhân buôn sứ lớn đến đây lại không nhiều, có thể giật được mấy hợp đồng đặt hàng thì bản thân nàng chẳng có chút nắm chắc nào. Nếu thực sự không ai đặt hàng, mấy trăm miệng ăn trên dưới nhà họ Bạc sang năm biết lấy gì bỏ vào mồm? Nghĩ đến đây, chân mày Hạ Ngư Nhi càng nhíu chặt hơn.
Đúng lúc này, một thiếu nữ chừng mười lăm, mười sáu tuổi hấp ta hấp tấp xông vào, lớn tiếng gọi: "Mẹ, con đói bụng rồi!" Đó chính là con gái thứ hai của Hạ Ngư Nhi, Bạc Tiểu Văn. Vì em dâu không sinh nở được nên từ nhỏ nàng đã được cho làm con nuôi của em dâu Mỹ Quyên, Mỹ Quyên lại nuông chiều Tiểu Văn hết mực, thành thử rèn nên tính khí ngang bướng, nuông chiều quá hóa hư của nàng.
Hạ Ngư Nhi sa sầm nét mặt: "Hò hét cái gì đấy? Đói thì tự xuống bếp, đừng có tìm mẹ."
Đến cả nha hoàn Xuân Nhi đứng bên cạnh cũng không nhịn được mà mím môi cười trộm.
Tiểu Văn thè lưỡi bước đi, vừa ra đến cửa lại ngoái đầu lại: "Mẹ, con ăn chút gì rồi đi nghe kịch đây, phải đi sớm kẻo không còn chỗ ngồi đẹp!" Nói xong liền chạy biến đi như một cơn gió.
Nhìn theo bóng lưng khuất dần của Tiểu Văn, Hạ Ngư Nhi không khỏi thở dài một tiếng. Nàng không hiểu sao mình lại sinh ra hai đứa con vô tâm vô tính đến thế, chuyện trong nhà chẳng thèm đoái hoài, chỉ biết mải chơi. Xem ra chỉ có đứa con gái út Tiểu Đào là hiểu chuyện một chút, tiếc rằng ông trời bất công, khiến đôi chân con bé bị tàn phế. Nghĩ đến đây, Hạ Ngư Nhi lại thở dài một tiếng não nề.
Rời khỏi phòng khách, Hạ Ngư Nhi đến phòng của em dâu Mỹ Quyên. Lúc này Mỹ Quyên đang tựa bên mép giường quẹt nước mắt, thấy Hạ Ngư Nhi bước vào, Mỹ Quyên liền quay ngoắt mặt vào trong.
Hạ Ngư Nhi bước tới, đặt tay lên vai Mỹ Quyên, nói: "Thím nó à, nhà họ Bạc chúng ta là gia đình danh gia vọng tộc, đứng giữa đường đôi co chửi bới với hạng người như Lý Phượng Bạch chỉ làm mất đi thân phận của nhà mình, tự dưng chuốc lấy tiếng cười chê cho thiên hạ."
Mỹ Quyên quay đầu lại, nói lớn: "Em chính là không phục, ả hại chết chú Hai, em không lột da ả là đã nể tình lắm rồi, chị còn khép nép đi xin lỗi ả làm gì."
"Chị nào có khép nép, tên thương nhân ngoại tỉnh kia đòi chị xin lỗi ả, chẳng phải đã bị chị chặn họng rồi sao? Em đập phá trà lâu của ả, cơn giận cũng trút rồi, bồi thường đồ đạc cho ả là để nhà mình đứng về phía có lý."
"Cái tên đó chẳng biết từ xó xỉnh nào chui ra, chưa rõ đầu đuôi sự tình đã chỉ tay năm ngón, lần sau gặp lại xem em có tát cho hắn mấy cái bạt tai nổ đom đóm mắt không."
Nhắc đến Nhậm Bằng Phong, tâm trí Hạ Ngư Nhi bỗng có chút xao động: "Người đó... đúng là có hơi kỳ lạ, nhưng nhìn bộ dạng chàng ta thì có vẻ là người rất đàng hoàng."
"Người đàng hoàng thì đã chẳng nói đỡ cho Lý Phượng Bạch."
"Đó là do chàng ta chưa hiểu rõ tình hình mà thôi."
"Chị dâu, hôm nay chị lạ thật đấy, sao toàn nói đỡ cho người ngoài thế?"
Hạ Ngư Nhi nhất thời nghẹn lời: "Làm gì có, chị... chị chỉ thuận miệng nói bừa thôi."
Đúng lúc này, người làm gõ cửa bước vào, bưng cơm tối lên.
Hạ Ngư Nhi nói với Mỹ Quyên: "Vật lộn cả ngày rồi, mau ăn cơm đi, chị đặc biệt dặn nhà bếp nấu món cá kho niêu đấy."
Mỹ Quyên bất giác đỏ hoe khóe mắt: "Cũng chỉ có chị là còn nhớ em thích ăn món này, cái đồ bạc bẽo chú Hai kia..."
Thấy khóe mắt Mỹ Quyên đỏ lên, khóe mắt Hạ Ngư Nhi cũng đỏ hoe theo.
"Mỹ Quyên, chú Hai cũng đã mất rồi, chúng ta đừng oán trách chú ấy nữa. Đây là số mệnh của hai chị em mình, dẫu khổ thế nào cũng phải cắn răng mà chịu thôi." Nói đến đây, nước mắt của hai người phụ nữ đều lã chã rơi xuống.
Tiểu Văn ăn no uống say xong liền bước vào phòng mình định thay quần áo đi nghe kịch, đẩy cửa ra thì thấy Bạc Tiểu Đào với đôi chân tàn phế đang ngồi trên ghế vẽ tranh, nha hoàn Thu Nhi đứng bên cạnh hầu hạ. Trên sàn nhà trải đầy bản vẽ. Trên bàn bày la liệt các phôi sứ thô. Tiểu Văn bỗng bốc hỏa, quát lớn: "Lần nào về phòng cũng bừa bộn thế này, chẳng khác gì cái ổ chó!" Nói xong liền đá văng bản vẽ trên mặt đất.
Tiểu Đào vội cười làm lành: "Tỷ tỷ, muội xin lỗi. Thu tỷ, mau dọn dẹp đi thôi." Tiểu Văn bước vào phòng ngủ sập mạnh cửa lại, Tiểu Đào lộ rõ vẻ lúng túng và bối rối.
Tiểu Văn vào phòng vội vã thay một bộ y phục rồi bước ra ngoài. Tiểu Đào đón lấy nàng, khẽ khàng hỏi: "Tỷ tỷ, chúng ta cùng ăn cơm tối nhé?" Tiểu Văn lạnh lùng đáp: "Muội tự ăn đi, ta phải đi nghe kịch, hẹn với người ta rồi." Tiểu Đào nài nỉ: "Tỷ tỷ, tỷ có thể dẫn muội đi cùng không?" Tiểu Văn mất kiên nhẫn gắt lên: "Muội đi làm sao được! Hai cái chân không đi đứng được. Đến lúc đông người chen lấn xô đẩy, người ta giẫm chết muội đấy!" Nói rồi nàng phóng vụt ra ngoài như một cơn gió. Tiểu Đào cắn chặt môi, hai hàng nước mắt không kìm được lăn dài trên má. Nàng không biết đây đã là lần thứ bao nhiêu bị tỷ tỷ từ chối, từ nhỏ đến lớn nàng đã quen với việc bị cự tuyệt, nhưng mỗi khi rơi vào hoàn cảnh này, nàng vẫn không kìm được nỗi tủi thân và đau đớn.
Khi đèn hoa mới thắp lên, rạp kịch trên quảng trường đã được dựng xong, Nhậm Bằng Phong đứng bên cửa sổ tầng hai của khách điếm Hoa Dương nhìn xuống đám đông dưới quảng trường, còn Cửu thúc thì đứng ngay sau lưng Nhậm Bằng Phong. Một lát sau, Cửu thúc bỗng lên tiếng: "Không ngờ một Cảnh Đức Trấn nhỏ bé thế này mà cũng náo nhiệt đến vậy."
Nhậm Bằng Phong lại đầy ẩn ý nói: "Hơn nữa còn tàng long ngọa hổ, chẳng hề đơn giản đâu."
Cửu thúc lập tức hiểu ra điều gì đó, nói: "Thiếu gia, ý ngài là người đàn bà kia sao?"
"Nàng ấy tên là Hạ Ngư Nhi, chuyến này ta đến đây chính là vì nàng."
Cửu thúc giật mình: "Vậy mà ngài vừa chạm mặt đã đắc tội với người ta rồi ư?"
Nhậm Bằng Phong cười khổ: "Hết cách rồi, thấy Phượng Bạch bị ức hiếp, ta không thể khoanh tay đứng nhìn."
"Lý cô nương cũng đã thay đổi rồi, đổi thay đến mức tôi chẳng còn nhận ra nữa."
"Dù thế nào đi nữa, ta cũng không tin những lời gièm pha kia của bọn họ, Lân Thanh cũng sẽ không vì một đôi đồ sứ mà đẩy muội muội ruột thịt vào chỗ bất nghĩa."
"Thiếu gia, ngài vẫn nên cẩn trọng, đề phòng một chút thì hơn."
"Ừ, ta biết rồi. Cửu thúc, thúc đi xem kịch đi, tối nay ắt sẽ có khách tới thăm."
"Vâng, vậy tôi ra ngoài trước." Nói xong, Cửu thúc liền bước ra khỏi phòng.
Nhậm Bằng Phong vẫn chắp tay sau lưng đứng bên cửa sổ, vở kịch dưới quảng trường đã bắt đầu gióng trống mở màn, tiếng hò reo khen ngợi của người xem kịch vang lên từng hồi.
Lý Phượng Bạch đột nhiên xuất hiện nơi cửa sau lưng chàng.
Nhậm Bằng Phong nghe thấy động tĩnh, quay đầu lại thấy Lý Phượng Bạch: "Nàng tới rồi sao? Ta biết nàng sẽ tới mà."
Lý Phượng Bạch nghẹn ngào gọi một tiếng: "Bằng Phong!" rồi nhào vào lòng chàng, nước mắt rơi lã chã thấm ướt ngực áo chàng. Nàng ra sức đấm thùm thụp vào ngực chàng, Nhậm Bằng Phong ôm lấy nàng, đứng im bất động, mặc cho nàng trút hết nỗi lòng.
Lý Phượng Bạch khóc gào lên: "Tại sao chàng lại tới, tại sao chứ! Đã năm xưa chàng dứt áo ra đi, hôm nay tại sao lại xuất hiện trước mặt ta nữa! Đã muốn tới, tại sao chàng lại tới muộn màng như thế này!"
"Phượng Bạch, ta xin lỗi."
Nhậm Bằng Phong rút chiếc khăn tay ra, lau nước mắt cho Lý Phượng Bạch, vừa nhỏ giọng an ủi nàng.
"Chẳng phải ta đã tới rồi sao, sau này, ta tuyệt đối không để nàng phải chịu khổ nữa."
Lý Phượng Bạch ngước nhìn chàng, hỏi: "Lời chàng nói là thật sao?"
"Đương nhiên là thật."
"Được, vậy chàng dẫn ta đi đi, đi ngay bây giờ, ngay trong tối nay, rời khỏi cái chốn quỷ quái này."
Nhậm Bằng Phong sững sờ, nhìn nàng mà không biết phải nói gì.
Lý Phượng Bạch cười thảm: "Thấy chưa, chàng không làm được. Nhậm đại hiệp lúc nào cũng vậy, chuyện hứa với đàn bà chẳng bao giờ thực hiện, giống như năm xưa lúc chàng rời đi, cũng từng nói có một ngày sẽ quay lại tìm ta, cưới ta làm vợ. Chờ đợi đến tận hôm nay, cuối cùng ta cũng hiểu ra lời hứa đó chỉ là giả dối."
"Phượng Bạch, năm xưa ta không hề có ý lừa gạt nàng, chỉ là, một khi đã dấn thân vào chốn giang hồ thì thân bất do kỷ."
"Hay cho một câu 'thân tại giang hồ, thân bất do kỷ', thế còn bây giờ thì sao, bây giờ chẳng phải chàng đã thoái ẩn giang hồ rồi hay sao?"
Nhậm Bằng Phong khó xử nói: "Phượng Bạch, nàng nên hiểu rõ mục đích ta tới đây, ta đã hứa với Lân Thanh huynh, nhất định phải ghép đôi chén Nhật Nguyệt cho thành một cặp. Đợi ta hoàn thành di nguyện của Lân Thanh huynh, ta sẽ dẫn nàng và Tiểu Thanh rời khỏi nơi này."
"Di nguyện? Chẳng lẽ ca ca đã..."
"Nàng vẫn chưa biết sao?"
"Thực ra chàng không nói ta cũng đoán được, trước khi ta trở lại Cảnh Đức, sức khỏe của huynh ấy đã không xong rồi."
Nhậm Bằng Phong an ủi: "Phượng Bạch, nàng đừng quá đau lòng."
"Hừ, đau lòng, tại sao ta phải đau lòng? Ta hận huynh ấy, hận huynh ấy vì cái chén Thanh hoa Nhật Nguyệt mà đày đọa ta đến cái chốn thâm sơn cùng cốc này, còn bắt ta phải đánh đổi cả tấm thân này." Lý Phượng Bạch gặng hỏi ngược lại.
Nhậm Bằng Phong vô cùng kinh ngạc, bỗng chốc cảm thấy Lý Phượng Bạch trở nên thật xa lạ, chàng không biết những năm qua rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì khiến Lý Phượng Bạch biến thành nông nỗi này.
"Kinh ngạc lắm phải không? Ban ngày chàng nghe người ta chửi ta là hồ ly tinh, còn đứng ra bênh vực ta, chàng không ngờ người ta chửi chẳng sai một chút nào đâu. Ta chính là một con hồ ly tinh đấy, nếu ta không lên giường với Bạc lão nhị, làm sao hắn chịu nung chén Nguyệt cho ta?"
Nhậm Bằng Phong đau đớn nhìn nàng, dường như không thể tin nổi những lời này lại thốt ra từ miệng Lý Phượng Bạch.
Lý Phượng Bạch tiếp tục nói: "Cái thứ phế vật đó, nung ra đồ đạc cũng chỉ là thứ phế vật."
Nhậm Bằng Phong bước đến bên cửa sổ, mở bọc hành lý ở đầu giường, lấy ra một chiếc hộp, chiếc hộp này chính là vật mà Lý Lân Thanh giao cho chàng trước lúc lâm chung. Chàng mở hộp ra, lấy đôi chén Thanh hoa Nhật Nguyệt ra ngoài.
Nhậm Bằng Phong rầu rĩ nói: "Không ngờ chỉ vì một chiếc chén Nguyệt mà nàng lại phải hy sinh lớn đến thế."
Lý Phượng Bạch cầm chén Nguyệt lên khẽ búng một cái, chén Nguyệt phát ra một tiếng kêu thanh giòn, nhưng chén Nhật lại chẳng hề có tiếng vang vọng đáp lại.
"Ca ca nói đôi chén Nhật Nguyệt thực sự, gõ chén Nhật thì chén Nguyệt vang, gõ chén Nguyệt thì chén Nhật ứng. Ta mang chiếc chén Nguyệt này về cho ca ca, huynh ấy vừa nhìn thấy không thể ghép đôi với chén cũ liền tức đến thổ huyết tại chỗ. Ha, ba năm trước huynh ấy bảo ta đến Cảnh Đức, chắc chắn không ngờ rằng đền cả tấm thân muội muội ruột thịt vào mà chỉ đổi lại một thứ phế phẩm, tên Bạc lão nhị kia lại càng ngu ngốc hơn, nghe ta quay về mắng cho hai câu, thế mà luẩn quẩn trong lòng rồi nhảy xuống vực tự vẫn. Hừ, đồ ngu thì muôn đời vẫn là đồ ngu."
Nhậm Bằng Phong nhìn nàng nói: "Phượng Bạch, nàng thay đổi rồi."
"Mười mấy năm trôi qua, bao nhiêu biến cố xảy ra, làm sao có thể không thay đổi? Chàng nói không sai, một khi đã bước chân vào giang hồ thì thân bất do kỷ. Nha đầu ngây thơ thuần khiết ngày xưa, kẻ suốt ngày chỉ biết bám đuôi xoay quanh chàng tên là Lý Phượng Bạch đó, đã chết từ lâu rồi."
Lý Phượng Bạch bỗng nhìn chăm chú vào Nhậm Bằng Phong, hỏi: "Bằng Phong, chàng còn bằng lòng dẫn ta đi nữa không?"
"Chỉ cần ta hoàn thành chuyện đã hứa với Lân Thanh huynh, ta nhất định sẽ dẫn nàng đi."
"Được, vậy ta đợi chàng, chỉ mong rằng chàng đừng để ta phải đợi quá lâu."
Nói xong, nàng xoay người bước ra ngoài. Nhậm Bằng Phong ngơ ngẩn nhìn đôi chén Thanh hoa Nhật Nguyệt trên bàn, tâm trạng trĩu nặng vô cùng.
Bên ngoài, đám đông xem kịch chốc chốc lại bùng lên những tràng vỗ tay hò reo vang dội, thế nhưng lúc này Nhậm Bằng Phong lại chẳng có tâm trí đâu mà thưởng thức màn kịch hay này. Chàng phóng mắt nhìn về phía xa xăm, chìm sâu vào dòng suy tư miên man.
Sáng sớm hôm sau, quảng trường Cảnh Đức Trấn đã chật ních người vây xem, chỉ một lát nữa thôi, đại hội tranh tài Thanh Hoa Sứ Vương thường niên của Cảnh Đức Trấn sẽ được tổ chức tại nơi này. Chỉ thấy trên sân khấu kịch treo một bức hoành phi: "Đại hội chung kết bình xét Thanh Hoa Sứ Vương Cảnh Đức Trấn năm Quý Sửu", hai bên treo hai dải câu đối:
Trung Hoa đào sứ danh dương thiên hạ, hữu đức giả hữu chi
Cảnh Đức thanh hoa dự mãn nhân gian, vô hạnh giả vô duyên
Hàng ghế đầu dưới sân khấu lần lượt là sáu bên tham gia bình xét: Nhiễm Phi, Lưu Kỳ Trung, Tư Mã Cung, Hạ Ngư Nhi, Sử Vi Pháp, Lý Động Thiên. Trước mặt mỗi người đều đặt một tấm biển tên. Vẻ mặt của những người tham gia đều lộ vẻ nghiêm nghị, bọn họ đều hiểu rõ trong số này, kẻ thực sự có thực lực đoạt ngôi đầu e rằng chỉ có hai đại gia tộc làm đồ sứ là nhà họ Bạc và nhà họ Tư Mã, những người khác có lẽ chỉ tới làm nền mà thôi. Trên hàng ghế khách quý phía sau những người dự thi là mấy hàng thương nhân buôn sứ ngồi kín. Lùi xa hơn nữa là đông đảo bách tính đứng xem náo nhiệt. Bên cạnh sân khấu kịch, tiếng chiêng trống rộn rã, không khí vô cùng sôi động. Thường Dã và Đại Đầu là đồ đệ của đương gia chủ sự nhà họ Tư Mã - Tư Mã Cung, cùng với lão quản gia Giang bá và nha hoàn Xuân Nhi của Hạ Ngư Nhi đều chen chúc ở phía trước đám đông. Bạc Kiếm Lan cũng đứng lẫn trong đó, vẻ mặt có phần lơ đễnh. Hai bên rìa trước sân khấu kịch đặt hai dãy bàn dài kê chéo, lần lượt bày các mẫu sứ dự thi đã được niêm phong trong hòm gỗ của sáu bên, bên trên dán giấy đỏ niêm phong, kèm theo dải lụa đỏ rực rỡ.
Phía sâu trong sân khấu kịch, mười ba chiếc ghế được xếp thành hình bán nguyệt, hội trưởng Hà Gia Mặc ngồi ở vị trí chính giữa, các vị giám khảo khác lần lượt ngồi ngay ngắn hai bên.
Tư Mã Cung hiểu rõ đại hội lần này có ý nghĩa vô cùng phi phàm đối với mình, nhà họ Tư Mã đã thua nhà họ Bạc mấy lần liền rồi, lần này tuyệt đối không thể để thua cuộc nữa, bằng không thì các đơn đặt hàng năm nay sẽ gặp rắc rối lớn. Nghĩ đến đây, Tư Mã Cung quay sang nở nụ cười với đối thủ truyền kiếp Hạ Ngư Nhi đang ngồi bên cạnh, nói: "Bạc thái thái, vị trí này ngồi có dễ chịu không? Nếu bà thấy cứng quá, tôi bảo người mang tới cho bà hai cái đệm lót nhé."
Hạ Ngư Nhi dường như chẳng thèm nhận ý tốt đó: "Tư Mã tiên sinh hình như lời nói có hàm ý khác."
Tư Mã Cung nói: "Cái vị trí chủ gia đình này chẳng dễ ngồi đâu, lúc đầu ngồi cạnh tôi là Bạc lão đại, sau đó là Bạc lão nhị, hôm nay lại đổi thành Bạc thái thái bà, cảnh còn người mất, khó tránh khỏi khiến người ta sinh lòng cảm thán."
Hạ Ngư Nhi ngạo nghễ đáp: "Đúng vậy, vật đổi sao dời, dẫu người có đổi thay nhưng danh tiếng đồ sứ nhà họ Bạc vĩnh viễn không bao giờ sụp đổ."
Tư Mã Cung nói: "Xem ra nhà họ Bạc đối với kỳ bình chọn Thanh Hoa Sứ Vương lần này là quyết tâm phải đoạt được rồi, thế nhưng Bạc thái thái đừng quên, Tư Mã Cung tôi đây cũng từng đoạt tám kỳ Sứ Vương đấy."
Hạ Ngư Nhi cười nhạt: "Tính ra thì vẫn ít hơn nhà họ Bạc chúng tôi. Tư Mã tiên sinh, ngài và tôi ở đây đấu võ mồm thì có ý nghĩa gì chứ, điều quan trọng vẫn là đồ sứ, đúng không?"
Tư Mã Cung cười gượng một tiếng, nhất thời nghẹn họng không nói được gì. Trong lòng lại âm thầm nghiến răng: Hạ Ngư Nhi, chúng ta cứ chờ xem.
Lúc này Hạ Ngư Nhi bỗng cảm nhận được điều gì đó, nàng ngoảnh đầu lại, ở một nơi cách đó không xa, Nhậm Bằng Phong đang chắp tay đứng thẳng, đúng lúc này Nhậm Bằng Phong cũng đưa mắt nhìn về phía nàng, ánh mắt hai người lại một lần nữa chạm nhau. Hạ Ngư Nhi bỗng giật thót, mặt đỏ bừng, vội vàng quay đầu trở lại.
Đúng lúc này, người chủ trì bước lên phía trước sân khấu, cất cao giọng: "Hỡi bà con lối xóm, trận chung kết Thanh Hoa Sứ Vương hai năm một lần của Cảnh Đức Trấn sắp sửa bắt đầu, bây giờ xin trân trọng kính mời vị chủ sự bình xét của kỳ đại hội lần này, Hội trưởng Thương hội Cảnh Đức Trấn - tiên sinh Hà Gia Mặc lên phát biểu, xin nhiệt liệt hoan nghênh!"
Dưới khán đài vang lên một tràng pháo tay rầm rộ.
Hà Gia Mặc từ từ đứng dậy, đợi tiếng pháo tay dứt hẳn mới cất giọng chậm rãi: "Kính thưa các vị giám khảo, các vị dự thi, các vị quý khách, cùng toàn thể bà con lối xóm, đại hội Thanh Hoa Sứ Vương năm nay sau những ngày sơ khảo vừa qua, nay đã bước vào giai đoạn quyết định. Lọt vào vòng chung kết năm nay có sáu đơn vị, mẫu sứ dự thi của sáu đơn vị này đã được bày biện tại đây, lát nữa sẽ tiến hành mở niêm phong. Năm nay ngôi vị quán quân sẽ thuộc về tay ai, hoàn toàn trông cậy vào đôi mắt tinh tường của các vị giám khảo..."
Hà Gia Mặc bỗng nhiên lấy tay ôm ngực, lộ vẻ đau đớn khó thở. Mọi người đều dồn ánh mắt kinh ngạc về phía ông ta. Người chủ trì vội vàng đỡ lấy ông ta, Hà Gia Mặc xua tay: "Không sao... không sao."
Vừa dứt lời, Hà Gia Mặc bỗng ngã nhào xuống sàn diễn! Trên đài dưới đài lập tức vang lên những tiếng thét kinh hãi, trật tự rối loạn thành một mớ bòng bong. Một đám người luống cuống tay chân khiêng Hà Gia Mặc xuống dưới, người chủ trì đành phải quay người thông báo với khán đài hoãn cuộc thi lại.
Tư Mã Cung đứng dậy, thở dài một tiếng, vẻ mặt đầy bất lực bước ra ngoài.
Hạ Ngư Nhi không nói một lời, cũng đứng dậy rời đi. Trước khi đi, nàng không kìm được ngoái nhìn về nơi Nhậm Bằng Phong vừa đứng, nhưng lại phát hiện Nhậm Bằng Phong đã biến mất từ lâu. Trong lòng nàng bất giác lại dấy lên một nỗi thất vọng khó tả thành lời.
Trở về nhà, Hạ Ngư Nhi ngồi ngay ngắn trong phòng ngủ chìm vào trầm tư, đúng lúc này Mỹ Quyên hấp ta hấp tấp chạy xộc vào.
Hạ Ngư Nhi vội vàng hỏi: "Mỹ Quyên, có tin tức gì không?"
Mỹ Quyên lắc đầu đáp: "Cổng lớn nhà họ Hà đóng kín mít, chẳng dò la được chút tin tức nào cả."
"Không biết Gia Mặc mắc phải bệnh gì, bệnh tình có nặng không, đã mời đại phu chưa. Than ôi, để tránh lời ra tiếng vào, chị lại không thể đích thân tới cửa thăm bệnh, chỉ biết ngồi không ở đây mà sốt cả ruột."
"Cái bệnh này của Hà hội trưởng tới thật chẳng đúng lúc chút nào, mắt thấy kết quả chung kết Thanh Hoa Sứ Vương sắp sửa ngã ngũ rồi, ông ấy vừa ngã bệnh thế này, chẳng biết lại phải kéo dài đến bao giờ. Chị dâu, chị nói xem, trong cái bệnh này của ông ấy liệu có uẩn khúc gì không?"
"Không đâu, Gia Mặc xưa nay luôn thanh cao liêm khiết, giữ mình trong sạch, ngay cả chức Hội trưởng Thương hội này cũng phải từ chối mấy lần không xong ông ấy mới chịu nhậm chức, ông ấy là người quân tử, càng không thể... làm chuyện tổn hại đến nhà họ Bạc chúng ta." Hạ Ngư Nhi quả quyết nói.
"Đấy là trước kia, hôm qua chị từ chối lời cầu hôn của ông ấy, biết đâu chừng ông ấy ôm hận trong lòng."
"Nếu ông ấy vì thế mà trả thù nhà họ Bạc thì chỉ chứng minh quyết định của chị là không sai, hạng người như vậy sao có thể phó thác cả đời? Nhưng chị nghĩ, ông ấy không phải loại người như thế."
"Chị dâu, có một câu này có lẽ em không nên hỏi, giữa chị và Hà hội trưởng xưa nay vẫn luôn có tình có ý với nhau, ông ấy chăm sóc cho nhà họ Bạc chúng ta đâu phải ngày một ngày hai, ngay cả Lan nhi cũng không phản đối hai người qua lại, tại sao chị lại đột ngột từ chối lời cầu hôn của ông ấy chứ? Huống hồ, em nghe nói ngày hôm qua ở nhà, vốn dĩ chị đã có ý ngầm đồng ý rồi mà."
Hạ Ngư Nhi nhất thời không biết nên trả lời ra sao: "Chị... ai bảo chị đã nhận lời ông ấy chứ? Chị vẫn chưa nghĩ kỹ mà thôi, đúng là chị đối với Gia Mặc có một phần cảm kích, nhưng bảo chị gả cho ông ấy, chị luôn cảm thấy hình như còn thiếu một điều gì đó."
"Hôm nay ở hội trường, em thấy chị cứ bồn chồn không yên, cứ nhìn chằm chằm vào cái tên người ngoài xứ kia, chẳng lẽ chị..."
Hạ Ngư Nhi vội vàng ngắt lời: "Chị nhìn ai chứ? Em nhỏ tiếng chút đi, để người làm nghe thấy truyền ra ngoài thì khó nghe lắm." Hạ Ngư Nhi thở dài: "Em ra ngoài đi, chị muốn nghỉ ngơi rồi."
Mỹ Quyên nói: "Lời này ngoài em ra cũng chẳng ai dám nói với chị đâu. Chị dâu, trên dưới mấy trăm con người trong cái nhà này, chuyện lớn chuyện nhỏ đều đang trông chờ vào một mình chị đấy."
Mỹ Quyên bước ra ngoài, Hạ Ngư Nhi ngồi bên mép giường lại ngẩn ngơ xuất thần. Nàng cũng chẳng hiểu rốt cuộc bản thân mình bị làm sao nữa, cớ sao lại có thứ cảm giác kỳ lạ ấy đối với một người khách qua đường xa lạ như Nhậm Bằng Phong, nàng bỗng cảm thấy một nỗi tội lỗi khôn tả, tự thấy mình không nên có thứ tình cảm như vậy, nhưng mà, than ôi, rốt cuộc mình bị làm sao thế này! Thôi không nghĩ ngợi lung tung nữa, chi bằng phái Kiếm Lan đến thăm Gia Mặc xem sao.
Lúc này Hà Gia Mặc đang ngồi ở đầu giường, ông ta đẩy cửa sổ ra, hất bát thuốc người hầu vừa bưng tới ra ngoài cửa sổ, rồi lại ngồi về đầu giường. Nghe Toàn Phúc vừa bẩm báo Tư Mã Cung muốn tới thăm mình, khóe miệng ông ta bất giác lộ ra một nụ cười nhạt, phải rồi, người ông ta muốn đợi chính là Tư Mã Cung, ông ta nhắm mắt lại cũng đoán được bảy phần mục đích chuyến đi của Tư Mã Cung. Ông ta không thể nào quên được câu trả lời của Hạ Ngư Nhi dành cho mình, cái gì mà để sau hẵng nói, lẽ nào những năm qua tất cả những gì ta làm cho nàng vẫn chưa đủ hay sao? Nàng còn muốn ta phải làm thế nào nữa! Đúng lúc này, chỉ thấy Tư Mã Cung được gia nhân dẫn vào phòng, vừa vào đã ân cần thăm hỏi bệnh tình của Hà Gia Mặc, lộ vẻ vô cùng quan tâm lo lắng, sau một hồi hàn huyên liền cẩn thận lấy từ trong túi ra một hộp nhân sâm, nói là để bồi bổ thân thể cho Hà Gia Mặc. Hà Gia Mặc cũng ngầm hiểu ý tứ, ban đầu khách sáo vài câu rồi mới nhận lấy chiếc hộp, vừa nhìn thấy dưới đáy hộp có ba thỏi vàng ròng nằm ngay ngắn, mắt Hà Gia Mặc sáng rực lên, vội vàng xua tay chối từ. Tư Mã Cung thấy vậy liền nói thêm vài câu khéo léo, cứng rắn nhét mấy thỏi vàng vào lòng Hà Gia Mặc, Hà Gia Mặc vốn đã rõ mười mươi ý đồ của Tư Mã Cung, chỉ qua loa đùn đẩy vài lượt rồi nhận lấy mấy thỏi vàng. Tư Mã Cung thấy Hà Gia Mặc đã nhận vàng, trên mặt nở một nụ cười đắc ý, thở phào nhẹ nhõm một hơi dài.
Tiễn Tư Mã Cung về xong, Hà Gia Mặc vội vàng gọi Toàn Phúc tới, bảo hắn đem sính lễ mấy hôm trước mang đến nhà họ Bạc chia hết cho đám người hầu, cứ mỗi lần nhìn thấy đống sính lễ này là trong lòng ông ta lại dâng lên một nỗi bực bội khôn nguôi.