Tháng Tư diệu kỳ

Lượt đọc: 72 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8

❊ ❊ ❊

Một lát sau, khi bà Wilkins và bà Arbuthnot, chẳng vướng bận chút bổn phận nào, thong thả tản bộ ra ngoài, bước xuống những bậc đá mòn rồi đi dưới giàn dây leo dẫn vào khu vườn tầng dưới, bà Wilkins bèn cất lời với bà Arbuthnot dường như đang đăm chiêu: "Chị không thấy sao, nếu có ai khác đứng ra quán xuyến thì bọn mình chẳng phải được tự do rồi đó ư?"

Bà Arbuthnot đáp rằng mình hiểu chứ, nhưng dẫu vậy bà vẫn thấy việc bị tước quyền làm mọi thứ khỏi tay nghe chừng có phần ngớ ngẩn.

"Tôi thì lại thích người ta lấy phăng mọi việc khỏi tay mình đi cơ," bà Wilkins nói.

"Nhưng chính bọn mình mới là người tìm ra San Salvatore," bà Arbuthnot nói, "và thật là lố bịch khi bà Fisher cứ xử sự như thể nơi này chỉ thuộc về riêng mình bà ấy."

"Điều ngớ ngẩn hơn kia," bà Wilkins nói với vẻ thanh thản vô ngần, "chính là để tâm đến chuyện đó. Tôi chẳng thấy có chút giá trị nào trong việc nắm quyền cai quản mà lại phải trả giá bằng chính sự tự do của mình."

Bà Arbuthnot không đáp lại lời ấy vì hai lẽ—thứ nhất, bà kinh ngạc trước vẻ bình thản phi thường và ngày một lớn dần của nàng Lotty vốn dĩ xưa nay vẫn nói năng lộn xộn và dễ bị kích động; và thứ hai, bởi cảnh tượng trước mắt bà quả thực quá đỗi yêu kiều.

Suốt dọc hai bên bậc thang đá, những dải dừa cạn đang nở rộ hoa, và giờ đây bà đã nhìn rõ thứ gì đêm qua từng níu lấy bà, sượt qua gương mặt bằng sự ươn ướt và ngát hương. Đó là tử đằng. Tử đằng và ánh nắng rực rỡ... bà sực nhớ lại mẩu quảng cáo. Quả thực ở đây cả hai thứ đều ngập tràn ngút mắt. Hoa tử đằng xô đẩy, chen chúc nhau trong nguồn sinh lực thừa mứa, trong sự phung phí hoa tàn khốc của chính nó; và nơi giàn cây kết thúc, ánh mặt trời chói chang chiếu rọi lên những bụi phong lữ đỏ thắm, những vạt sen cạn chất đống ngổn ngang, những đóa cúc vạn thọ rực rỡ đến mức như thể đang bốc cháy, cùng hoa mõm sói hồng đỏ thi nhau đua sắc bằng những gam màu tươi sáng, dữ dội. Khoảng đất phía sau những rực rỡ bừng bừng ấy thoải dần thành từng bậc thang xuống tận mặt biển, mỗi bậc thang là một vườn cây ăn trái nhỏ, nơi giữa những rặng ô liu mọc xen những giàn nho, cây vả, cây đào và anh đào. Anh đào cùng đào đang trổ hoa—từng cơn mưa hoa trắng muốt và hồng thẫm yêu kiều nổi bật giữa sắc mỏng manh run rẩy của những tán ô liu; lá vả vừa đủ lớn để tỏa ra mùi thơm ngai ngái, còn nụ nho mới chớm nhú. Phía dưới những tàng cây ấy là từng cụm diên vĩ xanh biếc và tím sẫm, những bụi oải hương cùng những cây xương rồng xám xịt, sắc nhọn, mặt cỏ thì rậm rạp hoa bồ công anh và cúc dại, và tít tắp tận đáy sâu là biển cả. Sắc màu dường như được vung vãi vô tội vạ, khắp cùng mọi chốn; đủ mọi sắc thái chất thành từng đống, tuôn chảy như những dòng sông—hoa dừa cạn trông hệt như đang đổ tràn xuống hai bên bờ bậc thang—còn những loài hoa ở Anh chỉ dám mọc nép mình nơi viền luống, những loài hoa kiêu kỳ bên ấy vốn chỉ biết khép nép giữ khoảng cách, như loài diên vĩ xanh cao sang hay oải hương, nay lại bị chen lấn bởi những tạo vật tầm thường, sáng bừng như bồ công anh, cúc dại và những chiếc chuông trắng của loài hành dại, thế nhưng trông chúng lại càng thêm rạng rỡ và trần trề sức sống hơn bội phần.

Họ lặng lẽ đứng ngắm nhìn đám đông kiều diễm ấy, mớ hỗn độn đầy hân hoan ấy. Không, bà Fisher làm gì đâu còn hệ trọng; không phải ở nơi đây, không phải giữa vẻ đẹp nhường này. Nỗi bực dọc trong lòng bà Arbuthnot tan biến sạch. Dưới sự ấm áp và chan hòa ánh sáng của những gì đang hiện hữu trước mắt, một điều đối với bà là sự hiển linh, một khía cạnh hoàn toàn mới mẻ của Thiên Chúa, thì làm sao người ta có thể phiền muộn cho được? Giá như Frederick có mặt ở đây cùng bà, cùng ngắm nhìn cảnh này, chiêm ngưỡng như cái thuở ban đầu họ mới yêu nhau, vào những ngày chàng trông thấy những gì bà thấy và yêu những gì bà yêu...

Bà thở dài.

"Ở chốn thiên đường thì không được thở dài đâu," bà Wilkins nói. "Chẳng ai làm thế cả."

"Tôi chỉ đang nghĩ xem người ta khao khát được chia sẻ điều này với những người mình yêu thương biết bao," bà Arbuthnot phân trần.

"Ở thiên đường thì cũng không được khát khao," bà Wilkins đáp. "Nơi này người ta vốn dĩ phải vẹn tròn viên mãn rồi. Và đây đúng là thiên đường mà, phải không Rose? Chị xem mọi thứ đều được dung nạp cùng nhau kìa—bồ công anh lẫn diên vĩ, thứ tầm thường và kẻ thượng lưu, tôi và bà Fisher—tất cả đều được chào đón, hòa lẫn vào nhau chẳng theo trật tự nào, và ai nấy đều lộ rõ vẻ hạnh phúc và đang tận hưởng chính mình."

"Bà Fisher trông chẳng có vẻ gì là hạnh phúc cả—ít nhất là bề ngoài không thấy," bà Arbuthnot mỉm cười nói.

"Bà ấy sẽ bắt đầu sớm thôi, chị cứ đợi xem."

Bà Arbuthnot bảo rằng bà không tin sau một độ tuổi nhất định người ta lại có thể bắt đầu bất cứ điều gì.

Bà Wilkins quả quyết rằng bà tin chắc không một ai, dẫu có già cỗi và cứng nhắc đến đâu, lại có thể cưỡng lại được tác động của vẻ đẹp hoàn mỹ. Chẳng mấy ngày nữa đâu, có khi chỉ vài giờ thôi, họ sẽ thấy bà Fisher bộc phát ra đủ mọi niềm hân hoan rực rỡ. "Tôi dám chắc," bà Wilkins nói, "rằng chúng ta đã lên thiên đường rồi, và một khi bà Fisher nhận ra đây chính là nơi bà ấy đang ở, bà ấy ắt hẳn sẽ đổi khác. Chị xem. Bà ấy sẽ thôi hóa đá, sẽ trở nên mềm mại và có thể mở rộng lòng mình, và chúng ta sẽ trở nên khá—kìa, khéo tôi cũng chẳng ngạc nhiên nếu chúng ta đâm ra quý mến bà ấy đâu."

Ý nghĩ về việc bà Fisher bộc phát ra bất cứ điều gì, người đàn bà trông cứ như thể bị đóng đinh một cách kiên cố sau những hàng khuy áo kín mít, khiến bà Arbuthnot bật cười. Bà tha thứ cho lối ăn nói bạt mạng về thiên đường của Lotty, bởi ở một nơi thế này, trong một buổi sáng như thế này, sự vị tha dường như đã thấm đẫm vào từng làn không khí. Vả chăng, có một cái cớ quá đỗi tuyệt vời đến thế cơ mà.

Còn Tiểu thư Caroline, vẫn ngồi trên bức tường thấp nơi họ để nàng lại trước bữa sáng, hé mắt nhìn xuống khi nghe thấy tiếng cười; thấy họ đứng dưới lối đi bên dưới, nàng thầm nghĩ thật may phước làm sao khi họ lại cười đùa tít dưới ấy chứ không leo lên đây mà khúc khích quanh nàng. Nàng vốn dĩ ghét cay ghét đắng những trò đùa giỡn, nhưng vào buổi sáng thì nàng lại càng căm ghét; đặc biệt là ở cự ly gần; đặc biệt là cứ dồn dập đập vào tai. Nàng hy vọng hai người lập dị đó đang trên đường đi dạo ra ngoài, chứ không phải đang quay trở về. Họ lại càng cười to hơn nữa. Rốt cuộc họ có thể tìm thấy cái gì để mà cười cợt đến thế cơ chứ?

Nàng đăm đăm nhìn xuống đỉnh đầu họ với vẻ mặt hết sức nghiêm nghị, bởi ý nghĩ phải trải qua trọn một tháng với những kẻ thích cười đùa quả là một nỗi kinh hoàng, và hai người kia, như thể cảm nhận được ánh mắt của nàng, chợt ngoảnh đầu nhìn lên.

Cái vẻ niềm nở đáng sợ của mấy người phụ nữ ấy...

Nàng co mình lại lùi xa khỏi những nụ cười và những cái vẫy tay của họ, nhưng nàng không thể lùi khuất tầm mắt mà không ngã nhào vào đám hoa huệ. Nàng chẳng mỉm cười cũng không vẫy tay đáp lại, chỉ hướng mắt về phía những rặng núi xa xăm, chăm chú ngắm nhìn chúng cho đến khi hai người kia, mỏi mệt vì vẫy chào vô ích, bèn rảo bước dọc theo con đường, rẽ qua góc ngoặt rồi khuất dạng.

Lần này cả hai đều nhận thấy rõ ràng rằng họ đã vấp phải, chí ít là, một sự thờ ơ lạnh nhạt.

“Nếu chúng ta không ở trên thiên đường,” bà Wilkins bình thản nói, “thì tôi sẽ bảo là chúng ta vừa bị hắt hủi, nhưng vì ở chốn này chẳng ai hắt hủi ai cả nên lẽ dĩ nhiên là không phải rồi.”

“Có lẽ cô ấy đang có chuyện muộn phiền,” bà Arbuthnot nói.

“Dù cô ấy có bị làm sao đi nữa thì đến đây cũng sẽ khỏi thôi,” bà Wilkins quả quyết.

“Chúng ta phải tìm cách giúp cô ấy mới được,” bà Arbuthnot tiếp lời.

“Ôi dào, nhưng ở thiên đường thì chẳng ai phải giúp ai cả. Chuyện đó chấm dứt rồi. Người ta chẳng cần cố gắng để trở thành ai, hay phải làm việc gì. Người ta chỉ đơn giản là tồn tại thôi.”

Chà, bà Arbuthnot chẳng buồn tranh luận sâu hơn về điều đó—không phải ở nơi này, không phải trong ngày hôm nay. Mục sư xứ, bà biết rõ, hẳn sẽ gọi những lời của Lotty là nông nổi cợt nhả, nếu không muốn nói là báng bổ. Từ nơi này nhìn lại, trông ông già nua làm sao; một ông mục sư già nua, cổ lỗ.

Họ rời khỏi lối mòn, lần mò leo xuống những tầng bậc trồng ô liu, cứ đi xuống mãi cho tới tận nơi đáy sâu, chỗ biển nước ấm áp, ngái ngủ đang dập dềnh vỗ nhẹ giữa những mỏm đá. Ở đó có một cây thông mọc sát mép nước, họ ngồi xuống dưới bóng cây, cách đó vài thước là một chiếc thuyền đánh cá nằm bất động, để lộ cái bụng thuyền xanh ngắt trên mặt nước. Sóng biển lăn tăn tạo nên những tiếng ọc ạch nhỏ bé dưới chân họ. Cả hai phải nheo mắt lại mới có thể nhìn vào khoảng sáng chói chang rực rỡ ngoài bóng râm của tàng cây. Mùi hương ngùn ngụt bốc lên từ lá thông khô và từ những đệm cỏ xạ hương hoang dại chèn giữa khe đá, thỉnh thoảng lại có mùi mật ong thuần khiết từ bụi diên vĩ ấm sực phía sau lưng họ dưới ánh mặt trời, thoảng từng đợt phả vào mặt. Chẳng mấy chốc, bà Wilkins đã cởi bỏ giày và tất, buông thõng hai chân đung đưa trong làn nước. Ngắm nhìn nàng một lúc, bà Arbuthnot cũng làm theo. Hạnh phúc của họ giờ đây đã trọn vẹn. Những người chồng của họ có thấy cũng chẳng tài nào nhận ra nổi. Họ thôi nói chuyện. Họ thôi nhắc tới thiên đường. Họ chỉ đơn thuần là những chiếc chén đón nhận mọi ân huệ trần gian.

Trong khi đó, Tiểu thư Caroline, ngồi trên bức tường của mình, đang cân nhắc lại vị thế bản thân. Khu vườn trên đỉnh tường thành quả là một chốn tuyệt diệu, song vị trí của nó lại thiếu an toàn và dễ bị quấy rầy. Bất cứ lúc nào những người khác cũng có thể kéo đến và đòi sử dụng, bởi cả đại sảnh lẫn phòng ăn đều có cửa mở thẳng ra đây. Có lẽ, Tiểu thư Caroline nghĩ, nàng có thể thu xếp để nơi này thuộc về riêng một mình nàng. Bà Fisher đã có những bờ tường lũy rực rỡ hoa tươi và cả một tháp canh cho riêng mình, chưa kể còn nhanh tay chộp lấy căn phòng duy nhất thực sự đẹp đẽ trong nhà. Còn khối chỗ cho hai người lập dị kia tìm đến—chính mắt nàng đã thấy ít nhất hai khu vườn nhỏ khác, trong khi cả ngọn đồi nơi tòa lâu đài tọa lạc tự thân nó đã là một khu vườn thênh thang, đầy những lối dạo mát và ghế ngồi. Cớ sao góc nhỏ này lại không thể dành riêng tuyệt đối cho nàng? Nàng thích nơi này; nàng ưng nó nhất trần đời. Ở đây có cây mộc tê và một tán thông dù, có hoa lan nam phi và loa kèn, có cây thánh liễu đang bắt đầu ửng hồng, có bức tường thấp tiện lợi để ngồi, và từ ba phía của nó mở ra những tầm nhìn kỳ vĩ nhất—về hướng đông là vịnh biển và những rặng núi, về hướng bắc là ngôi làng bên kia làn nước xanh trong tĩnh lặng của bến cảng nhỏ cùng những sườn đồi điểm xuyết nhà trắng và vườn cam, còn về hướng tây là dải đất mỏng manh nối liền San Salvatore với đất liền, rồi đến biển khơi bao la cùng đường bờ biển vượt qua Genoa trải dài tới tận vùng mờ xanh mịt mùng của nước Pháp. Phải rồi, nàng sẽ nói rằng nàng muốn giữ trọn nơi này cho riêng mình. Rõ ràng là vô cùng hữu lý nếu mỗi người bọn họ đều có một góc riêng biệt để ngồi. Nàng tối cần sự biệt lập để cảm thấy thoải mái, được để mặc một mình, không bị ai bắt chuyện. Những người khác hẳn cũng nên thích điều đó nhất chứ. Cớ sao cứ phải bầy đàn với nhau? Người ta đã nếm đủ mùi đàn đúm ấy ở Anh rồi, với họ hàng và bè bạn—ôi, đông đúc biết chừng nào!—cứ bám riết lấy người ta không ngớt. Đã đào thoát thành công khỏi họ trong bốn tuần, cớ gì lại phải tiếp tục bầy đàn, mà lại còn với những kẻ chẳng có chút quan hệ máu mủ ruột rà nào trên cõi đời này?

Nàng châm một điếu thuốc. Nàng bắt đầu cảm thấy yên ổn. Hai người kia đã đi dạo rồi. Chẳng thấy bóng dáng bà Fisher đâu. Nơi này mới dễ chịu làm sao.

Đúng lúc nàng đang hít một hơi dài đầy cảm giác an tâm thì có ai đó bước qua cánh cửa kính đi ra ngoài. Chắc chắn không thể là bà Fisher muốn ra ngồi cùng nàng đấy chứ? Bà Fisher đã có những bờ tường lũy của bà ta rồi. Bà ta nên ở yên trên đó, sau khi đã nhanh tay cướp lấy chúng. Thật quá ư phiền toái nếu bà ta không chịu ở yên, mà không những muốn chiếm cả bờ tường lẫn phòng khách riêng, lại còn muốn chiếm cứ luôn cả khu vườn này nữa.

Không; chẳng phải bà Fisher, mà là người đầu bếp.

Nàng cau mày. Chẳng lẽ nàng lại phải tiếp tục đứng ra đặt món ăn ư? Hẳn là một trong hai người phụ nữ vẫy tay ban nãy sẽ làm việc đó ngay bây giờ chứ.

Người đầu bếp, vốn đã sốt ruột chờ đợi trong bếp với tâm trạng ngày càng bồn chồn, nhìn đồng hồ điểm dần tới giờ ăn trưa mà vẫn chưa biết bữa trưa sẽ gồm những món gì, cuối cùng đã tìm đến bà Fisher, nhưng lập tức bị bà ta xua tay đuổi đi. Sau đó chị ta lùng sục khắp nhà để tìm một bà chủ, bất kỳ bà chủ nào có thể bảo cho chị biết phải nấu cái gì, nhưng chẳng thấy ai; và cuối cùng, dưới sự chỉ dẫn của Francesca, người luôn biết tường tận mọi người đang ở đâu, chị ta đã tìm ra chỗ Tiểu thư Caroline.

Domenico đã thuê người đầu bếp này. Chị tên là Costanza, em gái của một người anh họ mở quán ăn dưới quảng trường. Chị thường phụ bếp cho anh trai mỗi khi không có việc làm khác, và nắm rõ đủ mọi món ăn Ý béo ngậy, bí truyền mà đám thợ thuyền vùng Castagneto nườm nượp kéo đến quán vào giữa trưa, cũng như dân cư Mezzago sang chơi vào Chủ nhật, đều mê tít thò lò. Chị là một bà cô năm mươi tuổi gầy gò, tóc hoa râm, nhanh nhẹn, ăn nói liến thoắng, và cho rằng Tiểu thư Caroline đẹp hơn bất cứ ai chị từng thấy trên đời; Domenico cũng nghĩ thế; thằng bé Giuseppe phụ việc cho Domenico và cũng là cháu trai ông cũng nghĩ thế; con bé Angela phụ việc cho Francesca và cũng là cháu gái Domenico cũng nghĩ thế; và cả chính Francesca cũng vậy. Domenico và Francesca, hai người duy nhất đã trông thấy họ, đều cho rằng hai quý bà đến sau rất đỗi ưa nhìn, nhưng so với cô tiểu thư tóc vàng đến đầu tiên thì họ chỉ như những ngọn nến le lói trước ánh đèn điện vừa mới được lắp đặt, và như những chậu tắm thiếc trong phòng ngủ so với căn phòng tắm mới toanh, tuyệt vời mà ông chủ đã cho sửa sang trong chuyến ghé thăm gần nhất.

Tiểu thư Caroline trừng mắt nhìn người đầu bếp. Cái nhìn cau có ấy, như thường lệ, trên đường phóng ra lại biến thành một vẻ trang nghiêm, chăm chú và tuyệt mỹ, khiến Costanza phải giơ hai tay lên và lớn tiếng gọi các thánh chứng giám rằng đây đích thị là hình bóng của Mẹ Thiên Chúa.

Tiểu thư Caroline gắt gỏng hỏi chị ta muốn gì, và Costanza nghiêng đầu sang một bên đầy thích thú trước thứ âm thanh du dương thuần khiết từ giọng nói của nàng. Chị chờ một lát phòng khi khúc nhạc ấy còn tiếp tục, bởi chị chẳng muốn bỏ lỡ chút nào, rồi mới thưa rằng chị cần xin thực đơn; chị đã đến gặp mẹ của Signorina, nhưng hoài công.

“Bà ấy không phải mẹ tôi,” Tiểu thư Caroline bực bội gạt đi; và nỗi giận dữ của nàng nghe qua lại chẳng khác nào tiếng than thở đầy hối tiếc của một đứa trẻ mồ côi có giọng hát êm tai.

Costanza tuôn ra một tràng xót thương. Chị giải thích rằng bản thân mình cũng không còn mẹ—

Tiểu thư Caroline ngắt lời bằng lời thông báo cộc lốc rằng mẹ nàng vẫn còn sống và đang ở London.

Costanza bèn tạ ơn Chúa và các thánh vì cô tiểu thư vẫn chưa phải nếm trải cảm giác mồ côi mẹ. Bất hạnh thường ập đến nhanh lắm; hẳn là cô tiểu thư đây đã có chồng rồi.

“Chưa,” Tiểu thư Caroline lạnh lùng đáp. Nàng ghét cay ghét đắng ý nghĩ về những ông chồng còn hơn cả những trò đùa buổi sáng. Thế mà mọi người cứ luôn tìm cách ép uổng nàng lấy chồng—tất cả họ hàng, tất cả bạn bè, tất cả các tờ báo buổi tối. Dẫu sao thì nàng cũng chỉ có thể cưới một người thôi chứ; nhưng nghe cái cách thiên hạ bàn tán, nhất là những kẻ nhăm nhe muốn làm chồng, người ta sẽ tưởng như nàng có thể cưới ít nhất cả tá đàn ông vậy.

Tiếng “Chưa” mềm mại, ai oán của nàng khiến Costanza, người đang đứng sát bên, trào dâng niềm trắc ẩn.

“Tội nghiệp con bé,” Costanza nói, xúc động đến mức vỗ về động viên lên vai nàng, “hãy hy vọng đi. Vẫn còn kịp mà.”

“Về bữa trưa,” Tiểu thư Caroline cất giọng lạnh như băng, vừa nói vừa kinh ngạc tột độ khi thấy mình bị vỗ vai, chính nàng, người đã cất bao công sức để tìm đến một nơi hẻo lánh và khuất nẻo này, nơi nàng dám chắc rằng cùng với những thứ ngột ngạt tương tự, những cái vỗ vai cũng sẽ không tồn tại, “chúng ta sẽ ăn—”

Costanza liền đổi sang giọng điệu thực tế. Chị ngắt lời bằng hàng loạt gợi ý, và những gợi ý của chị đều tuyệt hảo song cũng vô cùng đắt đỏ.

Tiểu thư Caroline không hề biết chúng đắt đỏ, nên gật đầu đồng ý ngay tắp lự. Nghe qua thì có vẻ rất ngon lành. Đủ các loại rau củ non và trái cây tươi đều có mặt, cùng rất nhiều bơ, hàng đống kem tươi và số lượng trứng nhiều đến khó tin. Cuối cùng, Costanza hào hứng tán dương như một lời tri ân cho sự ưng thuận này, rằng trong số rất nhiều quý ông quý bà mà chị từng phục vụ trong các công việc thời vụ thế này, chị vẫn thích các quý ông quý bà người Anh nhất. Chị không chỉ đơn thuần là thích họ—họ khơi dậy lòng tận tụy trong chị. Bởi lẽ họ biết cách gọi món; họ không bủn xỉn; họ không nỡ bóp nặn chèn ép những kẻ cơ hàn.

Từ lời lẽ ấy, Tiểu thư Caroline nhận ra mình đã quá hoang phí, và lập tức hủy bỏ món kem tươi.

Mặt Costanza xìu xuống, bởi chị có một người anh họ nuôi bò, và kem tươi vốn dĩ sẽ được lấy từ cả hai người họ.

“Và có lẽ chúng ta cũng không nên ăn thịt gà,” Tiểu thư Caroline nói thêm.

Mặt Costanza càng xìu xuống dữ nữa, bởi anh trai chị ở quán ăn có nuôi gà sau sân, và rất nhiều con đã đến độ thịt được.

“Cũng đừng gọi dâu tây cho đến khi tôi bàn bạc lại với các bà kia đã,” Tiểu thư Caroline dặn, sực nhớ ra hôm nay mới chỉ là ngày đầu tháng Tư, và có lẽ những người sống ở Hampstead có thể nghèo túng; quả thực, hẳn là phải nghèo rồi, chứ nếu không sao lại sống ở Hampstead? “Tôi không phải bà chủ ở đây đâu.”

“Thế là bà già đằng kia sao?” Costanza hỏi, mặt dài thượt ra.

“Không,” Tiểu thư Caroline đáp.

“Vậy là ai trong hai bà còn lại?”

“Chẳng phải ai cả,” Tiểu thư Caroline nói.

Thế là nụ cười của Costanza lại nở rộ, bởi cô tiểu thư đang trêu đùa chị đấy thôi. Chị nói với nàng điều đó bằng cái vẻ thân thiện đậm chất Ý, lòng ngập tràn hân hoan thực sự.

“Tôi không bao giờ đùa cợt,” Tiểu thư Caroline đáp cộc lốc. “Chị nên đi đi thôi, kẻo bữa trưa chắc chắn sẽ chẳng kịp dọn ra lúc mười hai giờ rưỡi đâu.”

Và những lời cộc cằn ấy thốt ra nghe vẫn ngọt ngào đến nỗi Costanza cảm thấy như thể mình vừa được nhận những lời khen ngợi tử tế, quên bẵng cả nỗi thất vọng về kem tươi và lũ gà, rồi hớn hở lui gót với đầy vẻ biết ơn và nụ cười rạng rỡ.

“Thế này,” Tiểu thư Caroline thầm nghĩ, “thì không xong rồi. Mình đến đây đâu phải để quản việc nhà, và mình dứt khoát không làm.”

Nàng gọi Costanza quay lại. Costanza chạy vội tới. Âm thanh tên mình được thốt ra bằng chất giọng ấy khiến chị mê mẩn.

“Tôi đã đặt bữa trưa cho ngày hôm nay,” Tiểu thư Caroline nói, với gương mặt thiên thần nghiêm nghị vốn chỉ xuất hiện mỗi khi nàng bực mình, “và tôi cũng đã đặt cả bữa tối rồi, nhưng từ giờ trở đi chị hãy đến gặp một trong các bà kia mà nhận thực đơn. Tôi sẽ không ra lệnh thêm lần nào nữa.”

Ý nghĩ rằng nàng sẽ tiếp tục đứng ra cắt đặt mọi việc quả là quá đỗi phi lý. Ở nhà nàng chẳng bao giờ phải ra lệnh cho ai. Ở đó chẳng ai dám mơ đến chuyện bảo nàng làm bất cứ việc gì. Việc một hoạt động phiền toái nhường này lại bị trút lên đầu nàng ở chốn này, chỉ đơn thuần vì nàng tình cờ biết nói tiếng Ý, thật là nực cười. Cứ để hai người lập dị kia cắt đặt nếu bà Fisher từ chối. Lẽ dĩ nhiên, bà Fisher mới chính là người được Tạo hóa sinh ra cho mục đích ấy. Bà ta toát ra đúng cái phong thái của một quản gia thạo việc. Quần áo bà ta mặc là trang phục của một quản gia, và cái cách bà ta bới tóc cũng y hệt như thế.

Sau khi đã buông lời tối hậu thư với sự gay gắt vốn dĩ lại hóa ngọt ngào trên đường phát ra, kèm theo một cử chỉ xua tay dứt khoát đầy vẻ ân cần và từ ái như một lời chúc phúc, thật bực mình làm sao khi Costanza chỉ biết đứng chết trân, đầu nghiêng sang một bên nhìn nàng với niềm thích thú lộ rõ.

“Ôi, đi giùm tôi cái!” Tiểu thư Caroline thốt lên bằng tiếng Anh, cơn bực bội bất chợt bùng phát.

Sáng nay trong phòng ngủ của nàng có một con ruồi cứ bám riết lấy nàng y như Costanza lúc này; chỉ một con thôi, nhưng cảm giác phiền toái từ lúc rạng đông khiến nó chẳng khác nào cả một bầy. Nó nhất quyết đòi đậu lên mặt nàng, còn nàng thì kiên quyết không cho. Sự dai dẳng của nó thật quái đản. Nó đánh thức nàng dậy, và nhất định không để nàng chợp mắt lại. Nàng xua tay đập nó, nó liền lách tránh chẳng chút nhọc nhằn hay tốn sức với một vẻ ung dung gần như thấy rõ bằng mắt, còn nàng thì chỉ tự đánh vào chính mình. Nó lập tức bay vòng lại ngay, vo ve một tiếng thật lớn rồi đậu phịch lên má nàng. Nàng lại đập cái nữa và tự làm mình đau, trong khi nó nhẹ nhàng lướt đi đầy duyên dáng. Nàng mất hết kiên nhẫn, ngồi bật dậy trên giường rình rập, chực chờ đập chết tươi nó. Rốt cuộc nàng liên tục vung tay đập với cơn thịnh nộ và toàn bộ sức lực, như thể nó là một kẻ thù thực sự đang cố tình chọc cho nàng phát điên; thế nhưng nó cứ tao nhã lượn lờ ra vào giữa những cú đòn của nàng, chẳng mảy may giận dữ, để rồi ngay khoảnh khắc tiếp theo lại quay trở lại. Lần nào nó cũng thành công sà vào mặt nàng, và hoàn toàn dửng dưng trước việc bị xua đuổi bao nhiêu lần đi chăng nữa. Đó chính là lý do vì sao nàng phải mặc quần áo rồi bước ra ngoài từ sớm như vậy. Nàng đã dặn Francesca phải giăng màn lên giường mình, bởi nàng không đời nào chịu để bản thân bị quấy rầy lần thứ hai như thế. Con người ta cũng y hệt như lũ ruồi. Nàng ước gì cũng có những chiếc màn để ngăn chặn cả bọn họ nữa. Nàng giáng đòn vào họ bằng lời lẽ và những cái cau mày, vậy mà cũng như con ruồi kia, họ luồn lách qua những cú đánh của nàng mà chẳng hề hấn gì. Tệ hơn cả con ruồi, họ dường như chẳng hề hay biết rằng nàng vừa cố xua đuổi họ. Ít ra con ruồi còn biết bay đi trong chốc lát. Còn với con người, cách duy nhất để tống khứ họ là chính bản thân nàng phải bỏ đi. Đó chính là điều nàng đã làm trong tháng Tư này, khi đã quá đỗi mệt mỏi; thế nhưng khi đã tới được đây, khi đã cận kề với những chi tiết vụn vặt của cuộc sống ở San Salvatore, xem ra nàng vẫn không được để yên.

Nhìn từ London, nơi này dường như chẳng hề có những vụn vặt đời thường. San Salvatore nhìn từ đằng ấy tựa như một khoảng trống vắng, một khoảng không tuyệt diệu. Vậy mà, chỉ sau hai mươi tư giờ ở đây, nàng nhận ra nó hoàn toàn chẳng phải một khoảng trống, và nàng vẫn phải chủ động né tránh người khác một cách ráo riết như mọi khi. Nàng đã bị bám riết lấy quá nhiều rồi. Bà Fisher đã bám dính lấy nàng gần như suốt cả ngày hôm qua, còn sáng nay thì chẳng có lấy một giây bình yên, không nổi mười phút được ở một mình mà không bị ngắt quãng.

Lẽ dĩ nhiên Costanza cuối cùng cũng phải rời đi vì chị ta còn phải nấu nướng, nhưng chị vừa mới đi khỏi thì Domenico lại bước tới. Ông đến để tưới nước và buộc lại cành cây. Điều đó âu cũng tự nhiên, vì ông là người làm vườn, nhưng ông lại cứ nhè đúng những thứ ở gần nàng nhất mà tưới và buộc; ông lượn lờ mỗi lúc một gần hơn; ông tưới đẫm quá mức cần thiết; ông đi buộc những cái cây vốn đã thẳng đứng và vững chãi như những mũi tên. Chà, dẫu sao ông cũng là đàn ông, nên đỡ gây bực mình hơn đôi chút, và nụ cười chào buổi sáng của ông đã được đáp lại bằng một nụ cười tương tự; thế là Domenico quên sạch gia đình, vợ con, mẹ già, bầy con đã khôn lớn cùng mọi bổn phận của mình, trong lòng chỉ muốn quỳ xuống hôn lên bàn chân cô tiểu thư.

Tiếc thay ông chẳng thể làm thế, nhưng ông có thể vừa làm vừa nói, và ông nói thật; liến thoắng không ngừng; tuôn ra đủ mọi thông tin, minh họa cho lời nói bằng những cử chỉ sống động đến mức phải đặt cả thùng tưới nước xuống, và vì thế càng làm chậm trễ việc tưới tắm.

Tiểu thư Caroline cố nén nhịn một lúc nhưng rồi rốt cuộc cũng không chịu nổi, và vì ông không chịu đi, mà nàng thì chẳng thể bảo ông đi được khi thấy ông đang làm đúng phận sự của mình, nên một lần nữa, chính nàng lại là người phải rời bước.

Nàng rời khỏi bờ tường và đi sang phía bên kia khu vườn, nơi có một nhà kho bằng gỗ để mấy chiếc ghế mây thấp rất êm ái. Tất cả những gì nàng muốn chỉ là xoay một chiếc ghế quay lưng lại với Domenico và hướng mặt ra biển về phía Genoa. Một mong muốn nhỏ nhoi biết bao. Người ta cứ ngỡ nàng phải được phép làm điều đó mà không bị ai quấy rầy chứ. Thế nhưng ông ta, kẻ dõi theo từng cử động của nàng, vừa thấy nàng tiến lại gần những chiếc ghế đã vội lao tới chụp lấy một cái và hỏi nàng muốn đặt nó ở đâu.

Chẳng lẽ nàng sẽ không bao giờ thoát khỏi cái cảnh được cung phụng, được chăm chút cho thoải mái, bị hỏi muốn đặt đồ đạc ở đâu, rồi lại phải nói lời cảm ơn hay sao? Nàng tỏ vẻ cộc lốc với Domenico, khiến ông lập tức kết luận rằng ánh nắng đã làm nàng đau đầu, thế là ông vội chạy vào trong mang ra cho nàng một chiếc dù che nắng, một chiếc gối tựa cùng một cái ghế kê chân, hết sức khéo léo, hết sức tuyệt vời, đúng mực một quý ông bẩm sinh của chốn thôn dã.

Nàng nhắm nghiền mắt lại trong nỗi cam chịu nặng nề. Nàng không thể đối xử tàn nhẫn với Domenico được. Nàng không thể đứng dậy bỏ vào nhà như nàng sẽ làm nếu đó là một trong những người phụ nữ kia. Domenico rất thông minh và thạo việc. Nàng nhận ra ngay rằng chính ông mới là người thực sự quán xuyến cả ngôi nhà, người thực sự gánh vác mọi chuyện. Và cung cách của ông rõ ràng là rất mực nhã nhặn, bản thân ông không nghi ngờ gì nữa là một con người đầy quyến rũ. Chỉ có điều nàng tha thiết muốn được để yên một mình đến thế cơ mà. Giá như, giá như nàng được để yên tĩnh hoàn toàn trong trọn một tháng này, nàng cảm thấy biết đâu rốt cuộc mình lại có thể làm nên trò trống gì đó cho bản thân.

Nàng cứ nhắm nghiền mắt lại, vì như thế ông sẽ tưởng nàng muốn ngủ và sẽ rời đi.

Tâm hồn Ý lãng mạn của Domenico như tan chảy trước cảnh tượng ấy, bởi việc nhắm mắt lại càng tôn lên vẻ đẹp kiều diễm lạ lùng của nàng. Ông đứng chết lặng, ngây ngất ngắm nhìn, và nàng ngỡ ông đã rón rén bước đi, nên bèn mở mắt ra.

Không; ông vẫn đứng đó, trố mắt nhìn nàng. Ngay cả ông ta cũng thế. Chẳng có cách nào thoát khỏi cảnh bị người khác nhìn chằm chằm.

“Tôi bị đau đầu,” nàng nói, lại nhắm mắt lại.

“Tại nắng đấy ạ,” Domenico nói, “và tại ngồi trên bờ tường mà không đội mũ nữa.”

“Tôi muốn ngủ.”

“Sì signorina,” ông ái ngại đáp; rồi nhẹ nhàng rảo bước rời đi.

Nàng mở mắt ra với một tiếng thở phào nhẹ nhõm. Tiếng khép khẽ của cánh cửa kính cho thấy ông không những đã đi hẳn mà còn đóng cửa lại để nhốt nàng ngoài vườn, giúp nàng không bị ai quấy rầy. Giờ đây có lẽ nàng sẽ được ở một mình cho đến giờ ăn trưa.

Thật là kỳ lạ, và chẳng ai trên đời này lại ngạc nhiên hơn chính bản thân nàng, nhưng nàng đang muốn suy nghĩ. Trước đây nàng chưa từng muốn làm điều đó bao giờ. Mọi thứ khác có thể làm được mà không quá bất tiện thì nàng hoặc đã muốn làm, hoặc đã từng làm vào giai đoạn này hay giai đoạn khác của cuộc đời, nhưng chưa bao giờ nàng lại muốn suy ngẫm. Nàng đến San Salvatore chỉ với một ý định duy nhất là nằm thừ ra suốt bốn tuần dưới ánh mặt trời, ở một nơi nào đó không có cha mẹ và bạn bè, đắm chìm trong sự quên lãng, chỉ cựa mình mỗi khi cần ăn uống, vậy mà nàng mới ở đây chưa đầy vài tiếng đồng hồ thì nỗi khao khát mới mẻ kỳ lạ này đã xâm chiếm lấy nàng.

Tối hôm trước trời đầy sao tuyệt đẹp, và nàng đã ra khu vườn trên đỉnh tường sau bữa tối, để mặc bà Fisher một mình bên đĩa hạt và ly rượu vang, rồi ngồi lên bờ tường tại nơi những bông hoa huệ chen chúc những chiếc đầu ma quái, nàng nhìn ra hố sâu thăm thẳm của màn đêm, và bất chợt cảm thấy dường như cả cuộc đời mình từ trước đến nay chỉ là một chuỗi ồn ào vô nghĩa lý.

Nàng đã vô cùng kinh ngạc. Nàng biết những vì sao và bóng tối có thể khơi gợi những cảm xúc bất thường bởi nàng từng thấy chúng nảy sinh ở người khác, nhưng trước đây chúng chưa từng làm thế với chính nàng. Một chuỗi ồn ào vô nghĩa lý. Liệu nàng có khỏe không nhỉ? Nàng từng tự hỏi. Suốt một thời gian dài vừa qua nàng đã nhận thức được cuộc đời mình là một chuỗi huyên náo, nhưng dường như nó luôn xoay quanh một điều gì đó rất hệ trọng; một sự ồn ào, quả thực, về quá nhiều thứ đến mức nàng cảm thấy mình phải đi khỏi tầm nghe một thời gian kẻo sẽ bị điếc hoàn toàn, và có lẽ là vĩnh viễn. Nhưng ngộ nhỡ nó chỉ là một chuỗi ồn ào chẳng vì điều gì cả thì sao?

Trước đây trong tâm trí nàng chưa từng xuất hiện một câu hỏi như thế. Nó khiến nàng cảm thấy cô đơn. Nàng muốn được ở một mình, nhưng không phải là cô đơn. Hai điều đó khác xa nhau lắm; cô đơn là một thứ gì đó nhức nhối và đau đớn khủng khiếp tận sâu thẳm bên trong con người ta. Đó là điều người ta sợ hãi nhất. Đó là thứ thúc đẩy người ta lao vào biết bao bữa tiệc tùng; và dạo gần đây, ngay cả những bữa tiệc dường như cũng có đôi lần không còn là một lá chắn bảo vệ hoàn toàn chắc chắn nữa. Phải chăng sự cô đơn chẳng liên quan gì đến hoàn cảnh, mà chỉ nằm ở cái cách người ta đối diện với chúng? Có lẽ, nàng thầm nghĩ, tốt hơn hết là mình nên đi ngủ. Chắc là nàng không được khỏe cho lắm.

Nàng đi ngủ; và vào buổi sáng, sau khi đã thoát khỏi con ruồi, ăn xong bữa điểm tâm và ra lại ngoài vườn, cái cảm giác ấy lại ùa về, ngay giữa ban ngày ban mặt. Một lần nữa nàng lại có cái mối hoài nghi thực sự đáng ghê tởm rằng cuộc đời mình cho đến nay không chỉ ồn ào mà còn rỗng tuếch. Chà, nếu đúng là như thế, và nếu hai mươi tám năm đầu đời—những năm tháng tươi đẹp nhất—đã trôi qua chỉ trong những tiếng ồn vô nghĩa, thì tốt hơn hết nàng nên dừng lại một lát mà nhìn quanh; tạm dừng lại, như người ta vẫn nói trong những cuốn tiểu thuyết tẻ ngắt, và suy ngẫm. Nàng đâu có nhiều những chặng hai mươi tám năm như thế. Thêm một chặng nữa thôi là sẽ thấy nàng trở nên rất giống bà Fisher. Thêm hai chặng nữa— Nàng vội ngoảnh mặt đi.

Mẹ nàng hẳn sẽ vô cùng lo lắng nếu bà biết chuyện. Mẹ nàng mê đắm nàng. Cha nàng cũng sẽ lo lắng, vì ông cũng mê đắm nàng. Mọi người ai nấy đều mê đắm nàng. Và khi nàng, bằng sự bướng bỉnh đầy êm ái, khăng khăng đòi đi chôn vùi bản thân ở Ý trọn một tháng trời với những kẻ lập dị mà nàng tìm thấy qua một mẩu quảng cáo, thậm chí từ chối mang theo cả cô hầu gái, thì lời giải thích duy nhất mà bạn bè nàng có thể hình dung ra là Scrap tội nghiệp—đó là cái tên họ thường gọi nàng—đã vui chơi quá đà và đang có chút vấn đề về thần kinh.

Mẹ nàng đã rất đau lòng trước sự ra đi của nàng. Đó là một hành động quá đỗi kỳ quặc, một dấu hiệu của sự thất vọng. Bà hùa theo cái suy nghĩ chung của mọi người rằng nàng đang trên bờ vực suy nhược thần kinh. Nếu bà có thể nhìn thấy Scrap yêu dấu của mình, đứa con gái kiều diễm hơn bất kỳ người con gái của bà mẹ nào khác từng có trên đời, niềm tự hào tột bậc của bà, nguồn cội của mọi niềm hy vọng tha thiết nhất của bà, đang ngồi đăm đăm nhìn ra vùng Địa Trung Hải hoang vắng lúc giữa trưa mà ngẫm nghĩ về ba chặng hai mươi tám năm có thể có của đời mình, hẳn bà sẽ đau khổ khôn cùng. Bỏ đi một mình đã là tệ; suy nghĩ lại càng tệ hơn. Chẳng có điều gì tốt đẹp có thể nảy sinh từ việc suy nghĩ của một phụ nữ trẻ đẹp cả. Rắc rối thì có thể nảy sinh vô khối, chứ điều tốt lành thì không. Sự suy nghĩ của những trang tuyệt sắc giai nhân ắt sẽ dẫn đến những ngập ngừng, những e ngại, và nỗi bất hạnh cho khắp thảy xung quanh. Thế mà nơi đây, giá như bà có thể nhìn thấy, Scrap của bà đang ngồi trầm ngâm suy nghĩ hết sức lung khởi. Và toàn những chuyện như thế. Những chuyện già cỗi nhường ấy. Những điều mà chẳng ai bắt đầu nghĩ đến cho tới khi họ chạm tuổi ít nhất là bốn mươi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.