Tháng Tư diệu kỳ

Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

Bầu trời nước Ý giăng đầy mây, một điều khiến hai người không khỏi ngạc nhiên. Họ vốn đinh ninh nơi đây phải rực rỡ ánh nắng. Nhưng chẳng hề gì: dẫu sao đây cũng là nước Ý, mà ngay cả những đám mây trông cũng thật no tròn, trù phú. Cả hai đều chưa từng đặt chân đến xứ này bao giờ. Đôi mắt họ dán chặt vào cửa sổ toa tàu với vẻ mặt say mê. Khi trời còn sáng, thời gian trôi đi vun vút; rồi bóng tối ập xuống, nhường chỗ cho nỗi hồi hộp khi điểm đến cứ mỗi lúc một gần, đã rất gần, rồi sắp chạm tới nơi. Tới Genoa thì trời bắt đầu đổ mưa—Genoa kia đấy! Thật không ngờ mình lại đang ở Genoa, tận mắt nhìn thấy cái tên ấy viết trên bảng hiệu nhà ga như bao cái tên bình thường khác—sang đến Nervi thì mưa như trút nước, và khi tàu cập bến Mezzago vào khoảng nửa đêm, bởi chuyến tàu lại trễ như thường lệ, thì mưa đã giáng xuống thành từng màn dày đặc như thác đổ. Dẫu vậy, đây vẫn là nước Ý. Nơi đây làm gì cũng không thể chê trách được. Ngay cả hạt mưa cũng khác lạ—những hạt mưa rơi thẳng thớm, ngoan ngoãn đậu lên tán ô; chứ chẳng hề giống thứ mưa gió gầm rú, lùa vào khắp ngõ ngách như ở nước Anh. Rồi mưa cũng sẽ tạnh thôi; và khi dứt hạt, hãy trông kìa, khắp mặt đất hẳn sẽ rải đầy hoa hồng.

Ông Briggs, chủ nhân lâu đài San Salvatore, từng dặn: "Các bà cứ xuống ga Mezzago rồi đi xe ngựa tiếp." Nhưng ông lại quên khuấy một điều mà bản thân thừa biết: tàu bè ở Ý thỉnh thoảng vẫn trễ giờ. Ông cứ đinh ninh những vị khách thuê của mình sẽ tới Mezzago lúc tám giờ tối và tha hồ chọn lựa giữa một dãy xe ngựa đón khách đang đợi sẵn.

Thế nhưng tàu trễ mất bốn tiếng đồng hồ. Khi bà Arbuthnot và bà Wilkins lóng ngóng trèo xuống những bậc thang cao ngất như thang dây của toa tàu để bước vào màn mưa đêm mịt mùng, tà váy của họ quét qua những vũng nước đọng đen ngòm vì hai tay còn bận xách lỉnh kỉnh va li; nếu không nhờ sự chu đáo của Domenico, người làm vườn tại San Salvatore, thì họ đã chẳng tìm đâu ra xe mà đi. Mọi cỗ xe ngựa thông thường đều đã về chuồng từ lâu. Lường trước chuyện này, Domenico đã điều cỗ xe của bà dì mình đến, do chính người anh họ—tức con trai bà dì—cầm lái; bà dì cùng cỗ xe ngụ tại Castagneto, ngôi làng nép mình dưới chân San Salvatore, thành thử dù tàu có muộn đến đâu, người đánh xe cũng chẳng dám quay về tay không nếu chưa đón được khách.

Người anh họ của Domenico tên là Beppo. Anh ta thoắt cái xuất hiện từ bóng tối ngay chỗ bà Arbuthnot và bà Wilkins đang đứng lúng túng chẳng biết làm sao sau khi đoàn tàu lăn bánh rời ga; chung quanh tuyệt nhiên không thấy bóng dáng một người khuân vác nào, vả lại dưới chân họ cho cảm giác như đang đứng giữa lòng đường ray hơn là trên sân ga.

Vốn đang tìm kiếm hai bà, Beppo từ trong bóng tối lao ra như vồ lấy họ và ríu rít tuôn một tràng tiếng Ý vang dội. Beppo là một thanh niên vô cùng đứng đắn, có điều vẻ ngoài trông lại chẳng giống thế chút nào, nhất là giữa cảnh tối tăm này, lại thêm chiếc mũ sũng nước sụp xuống một bên mắt. Hai bà chẳng hề thích cái cách anh ta giằng lấy mấy chiếc va li. Trông anh ta, họ nghĩ bụng, tuyệt đối không thể là phu khuân vác. Dẫu vậy, giữa tràng ngôn từ tuôn ra như suối lũ, họ cũng kịp nhận ra hai tiếng San Salvatore, thế là từ đó trở đi họ cứ liên tục lặp lại cụm từ ấy với anh ta—bởi đó là chút tiếng Ý duy nhất họ biết—trong khi vội vã rảo bước theo sau, mắt không dám rời đống hành lý, vừa đi vừa vấp váp qua các thanh ray và bì bõm lội qua những vũng nước để ra tới nơi có cỗ xe ngựa mui trần nhỏ nhắn nhưng khá cao đang đỗ bên đường.

Mui xe đã được dựng lên, còn con ngựa thì đang đứng trong tư thế như thể mải chìm vào suy tưởng. Họ trèo lên xe, và ngay khoảnh khắc hai người vừa yên vị—nói cho đúng thì bà Wilkins còn chưa kịp ngồi hẳn vào trong—con ngựa bỗng bừng tỉnh khỏi cơn mơ màng, lập tức phi nhanh về hướng nhà mình; bỏ lại Beppo; bỏ lại cả đống va li.

Beppo lao vút theo sau, tiếng quát tháo của anh ta vang động cả đêm đen, rồi kịp thời tóm lấy dây cương đang lủng lẳng. Anh tự hào giải thích—với niềm tin tuyệt đối rằng mình nói năng vô cùng gãy gọn—rằng con ngựa này xưa nay vẫn chứng nào tật nấy, nó vốn là giống ngựa tốt, sung sức, lại được ăn no đỗ mễ, được chính tay Beppo chăm bẵm chẳng khác nào con đẻ, nên các bà cứ việc yên tâm—anh đã kịp thấy cảnh hai bà đang bấu chặt lấy nhau; thế nhưng dẫu anh có nói năng rõ ràng, sang sảng và dông dài đến mấy, đáp lại anh chỉ là những ánh nhìn ngơ ngác.

Dẫu vậy, anh vẫn tiếp tục liến thoắng trong lúc chất đống va li vây quanh họ, bụng bảo dạ sớm muộn gì hai bà cũng phải hiểu, nhất là khi anh đã cố nói thật to và minh họa từng lời bằng những cử chỉ diễn giải giản dị nhất; thế nhưng cả hai vẫn chỉ biết trố mắt nhìn anh. Anh thầm ái ngại nhận thấy hai bà đều có gương mặt nhợt nhạt, mệt mỏi, và đôi mắt to cũng trĩu nặng vẻ bơ phờ. Họ quả là những quý bà xinh đẹp, anh thầm nghĩ, và đôi mắt họ—đang dõi nhìn anh qua đỉnh những chiếc va li, chăm chú theo dõi từng cử động của anh, bởi chẳng có rương hòm lớn nào mà toàn là va li cỡ nhỏ—trông hệt như đôi mắt của Đức Mẹ Đồng Trinh. Lời duy nhất hai bà thốt ra, và cứ đều đặn lặp lại mãi ngay cả khi xe đã lăn bánh, thỉnh thoảng lại khẽ chọc vào người anh khi anh ngồi trên bệ lái để gây sự chú ý, là: "San Salvatore?"

Và lần nào anh cũng hào hứng đáp lại bằng giọng sang sảng để trấn an: "Sì, sì—San Salvatore."

"Tất nhiên mình chẳng thể biết chắc liệu anh ta có chở mình đến đó thật không," mãi sau bà Arbuthnot mới khẽ lên tiếng, khi thấy xe đã chạy được một hồi lâu, bỏ lại những con đường lát đá của thị trấn đang chìm trong giấc ngủ để ra tới một con đường quanh co; bên tay trái họ, qua làn sương mờ mờ, chỉ thấy một bờ tường thấp, bên ngoài là cõi hư không đen ngòm thăm thẳm cùng tiếng sóng biển vỗ rì rào. Bên phải là vách đá dựng đứng, sừng sững, đen kịt và sát sạt—những tảng đá, họ thì thầm với nhau; những tảng đá khổng lồ.

"Phải đấy—mình đâu có biết được," bà Wilkins đồng tình, một thoáng ớn lạnh chạy dọc sống lưng.

Họ cảm thấy vô cùng bất an. Đêm đã quá khuya. Trời lại quá tối. Con đường thì vắng vẻ khôn cùng. Lỡ như xe gãy bánh thì sao. Lỡ như đụng phải phe phát xít, hay những kẻ chống đối phát xít thì biết làm thế nào. Giờ đây họ mới thấy hối hận biết bao vì đã không ngủ lại Genoa rồi đợi sáng hôm sau hẵng đi tiếp dưới ánh mặt trời.

"Nhưng như thế thì đã sang ngày đầu tháng Tư mất rồi," bà Wilkins lý nhí.

"Bây giờ cũng đã sang rồi đấy thôi," bà Arbuthnot thì thầm đáp.

"Ừ nhỉ, đúng thế thật," bà Wilkins lẩm bẩm.

Họ lại im lặng.

Beppo ngoái đầu lại từ bệ lái—một thói quen đáng lo ngại mà họ đã sớm để ý, bởi lẽ con ngựa của anh ta rất cần được trông chừng cẩn thận—và lại cất lời với họ bằng phong thái mà anh đinh ninh là hết sức rành mạch—tuyệt nhiên không dùng tiếng địa phương, lại kèm theo những điệu bộ giải thích rõ ràng nhất trần đời.

Họ ước ao biết bao giá như ngày nhỏ mẹ mình bắt học tiếng Ý. Phải chi lúc này họ có thể nói: "Làm ơn quay người lại đằng trước mà trông chừng con ngựa hộ cái." Ngay cả từ "con ngựa" trong tiếng Ý nói thế nào họ cũng chẳng rõ. Thật đáng khinh cho cái sự dốt nát này.

Trong nỗi âu lo, khi con đường uốn lượn quanh những mỏm đá nhô ra hiểm trở, còn bên trái chỉ có bức tường thấp ngăn họ lao xuống biển nếu chẳng may xảy ra chuyện, hai bà cũng bắt đầu khoa tay múa chân, vẫy vẫy về phía Beppo rồi chỉ thẳng về phía trước. Họ chỉ muốn anh ta quay mặt lại nhìn con ngựa, có thế thôi. Ngặt nỗi anh ta lại tưởng họ giục mình đi nhanh hơn; thế là mười phút kinh hoàng diễn ra, khi anh ra sức chiều lòng khách theo cách mình nghĩ. Anh vốn tự hào về con tuấn mã của mình, và nó thì phi nhanh như gió. Anh chồm người lên bệ ngồi, roi quất vun vút, con ngựa chồm lên phi nước đại, những khối đá như lao vùn vụt về phía họ, cỗ xe nhỏ chao đảo dữ dội, đống va li nẩy lên bần bật, còn bà Arbuthnot cùng bà Wilkins thì bấu chặt lấy nhau. Cứ thế họ tiếp tục lao đi trong cảnh lắc lư, chồm giật, lọc cọc và bám víu, cho tới một khúc đường dốc gần Castagneto; vừa tới chân dốc, con ngựa—vốn thuộc từng tấc đất nơi đây—đột ngột phanh khựng lại, hất tung mọi thứ trên xe dồn thành một đống, rồi mới bắt đầu lững thững leo lên dốc với bước đi chậm chạp nhất có thể.

Beppo xoay người lại chờ đón sự thán phục từ hai người, cười rạng rỡ đầy hãnh diện về con ngựa của mình.

Chẳng có nụ cười nào đáp lại từ hai quý bà xinh đẹp. Đôi mắt họ dán chặt vào anh, trông to hơn bao giờ hết, và khuôn mặt họ nổi bật lên trắng bệch giữa màn đêm đen kịt.

Nhưng ít ra, khi đã lên tới đỉnh dốc, nhà cửa cũng bắt đầu xuất hiện. Vách đá biến mất, nhường chỗ cho những mái nhà; bức tường thấp cũng hết, thay bằng những mái nhà; biển lùi xa dần, tiếng sóng cũng tắt lịm, và nỗi cô quạnh của chặng đường hoang vu đã lùi lại phía sau. Đương nhiên chẳng có ánh đèn nào thắp sáng, cũng chẳng có bóng người nào chứng kiến họ đi qua; vậy mà Beppo, khi vừa chạm tới dãy nhà đầu tiên, sau khi ngoái đầu qua vai hét to "Castagneto" với hai bà, lại đứng phắt dậy quất roi, giục ngựa phóng vùn vụt thêm lần nữa.

"Chắc sắp tới nơi rồi," bà Arbuthnot vừa bám chặt lấy thành xe vừa tự nhủ.

"Sắp dừng lại rồi đây," bà Wilkins cũng vừa bám chặt vừa thầm nghĩ. Họ chẳng buồn nói ra miệng, bởi giữa tiếng roi quất chan chát, tiếng bánh xe nghiến lọc cọc và những âm thanh hò hét huyên náo mà Beppo thúc giục con ngựa thì có nói cũng chẳng ai nghe thấy gì.

Họ căng mắt đầy âu lo, cố tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy San Salvatore đang ở phía trước.

Họ từng mường tượng và hy vọng rằng sau khi đi qua một đoạn làng xóm vừa phải, một cổng vòm thời trung cổ sẽ hiện ra sừng sững, rồi xe sẽ đi qua cổng vào trong một khu vườn và đỗ lại trước cánh cửa rộng mở đón chào, nơi ánh sáng chan hòa hắt ra và những người hầu mà mẩu quảng cáo nhắc tới sẽ tề tựu đứng đợi.

Thế nhưng cỗ xe bỗng dưng khựng lại.

Dòm ra ngoài, họ thấy mình vẫn đang ở giữa con phố nhỏ của ngôi làng, hai bên là những ngôi nhà tối tăm thấp lè kè; và Beppo, quẳng dây cương lên lưng ngựa với vẻ tin tưởng tuyệt đối rằng lần này nó sẽ chẳng đi đâu nữa, liền nhảy tót xuống khỏi bệ lái. Cùng lúc đó, như thể từ dưới đất chui lên, một người đàn ông cùng mấy thiếu niên choai choai xuất hiện ở hai bên thành xe và bắt đầu lôi những chiếc va li xuống.

"Không, không—San Salvatore, San Salvatore cơ mà," bà Wilkins thảng thốt kêu lên, cố ôm giữ lấy những chiếc va li trong tầm tay.

"Sì, sì—San Salvatore," đám người vừa kéo đồ vừa đồng thanh hô lớn.

"Đây đâu thể là San Salvatore được," bà Wilkins quay sang bà Arbuthnot, người vẫn đang ngồi bất động nhìn đống hành lý bị tước khỏi tay mình với cùng một vẻ nhẫn nhịn như cách bà đón nhận những điều tệ hại nhỏ nhặt thường ngày. Bà biết mình chẳng thể làm gì nếu những kẻ này là phường gian ác quyết tâm cướp đoạt hành lý của bà.

"Tôi e là không phải rồi," bà thừa nhận, và không kìm được một thoáng băn khoăn về những an bài của Chúa. Chẳng lẽ Người dẫn dắt bà đến tận đây, dẫn cả bà Wilkins tội nghiệp này nữa, sau bao công phu sắp đặt, bao nỗi khó khăn và lo toan, qua biết bao ngả đường quanh co của sự lấp liếm và dối lừa, chỉ để rồi bị—

Bà nén dòng suy nghĩ lại, rồi dịu dàng bảo bà Wilkins—trong lúc đám thiếu niên rách rưới tha đống va li biến mất vào màn đêm, còn người đàn ông cầm đèn bão thì phụ giúp Beppo gỡ tấm chăn trùm chân khỏi người bà—rằng cả hai đều đang nằm trong tay Chúa; và lần đầu tiên khi nghe câu nói ấy, bà Wilkins thấy rợn người sợ hãi.

Chẳng còn cách nào khác ngoài việc bước xuống. Cứ ngồi lì trên xe mà lặp đi lặp lại hai chữ San Salvatore cũng bằng thừa. Cứ mỗi lần họ cất tiếng, mà giọng thì lần sau lại yếu ớt hơn lần trước, Beppo và người đàn ông kia chỉ đáp lại bằng một tràng hò hét thật to. Phải chi ngày nhỏ họ chịu học tiếng Ý. Phải chi họ có thể nói: "Chúng tôi muốn được chở đến tận cửa." Nhưng ngay cả từ "cái cửa" trong tiếng Ý ra sao họ cũng mù tịt. Nỗi dốt nát ấy không chỉ đáng khinh, mà giờ đây họ mới thấy, nó còn nguy hiểm khôn cùng. Dẫu vậy, than thở lúc này cũng vô ích. Cố bám víu lấy cỗ xe để trì hoãn bất cứ điều gì sắp giáng xuống đầu mình cũng chẳng giải quyết được gì. Thế là họ đành bước xuống.

Hai người đàn ông mở sẵn ô rồi trao tận tay hai bà. Hành động đó đem lại cho họ chút an ủi le lói, bởi họ không tin những kẻ thủ ác lại rỗi hơi dừng lại để mở ô cho nạn nhân. Người đàn ông cầm đèn bão sau đó ra hiệu bảo họ đi theo, miệng liến thoắng thật to và nhanh, còn Beppo thì đứng lại phía sau. Liệu có nên trả tiền cho anh ta không? Họ nghĩ là không, nếu đằng nào mình cũng sắp bị cướp và biết đâu bị sát hại. Chắc chắn trong hoàn cảnh ấy chẳng ai lại đi trả tiền xe. Hơn nữa, rốt cuộc anh ta đâu có chở họ đến tận San Salvatore. Nơi họ đang đứng rõ ràng là một chốn nào khác. Vả lại, anh ta cũng chẳng hề tỏ vẻ muốn đòi tiền; anh ta cứ thế để mặc họ bước vào màn đêm mà không hề kêu ca một tiếng. Điều này, họ không khỏi nghĩ thầm, lại là một điềm gở. Sở dĩ lúc này anh ta không đòi hỏi gì là vì lát nữa sẽ vơ vét được một món hời lớn hơn nhiều.

Họ đi tới những bậc thang. Con đường đột ngột cụt lủn trước một nhà thờ và nối tiếp bằng những bậc thang dẫn xuống dốc. Người đàn ông hạ thấp chiếc đèn bão để soi đường cho hai bà bước xuống.

"San Salvatore?" bà Wilkins lại thốt lên lần nữa, giọng yếu ớt vô cùng, trước khi dấn bước xuống những bậc thang. Dĩ nhiên nhắc đến lúc này cũng chẳng ích gì, nhưng bà không thể bước xuống trong sự im lặng tuyệt đối. Bà đinh ninh rằng chẳng có tòa lâu đài thời trung cổ nào lại được xây dưới đáy những bậc thang dốc cả.

Thế nhưng tiếng đáp lại vẫn vang rền như cũ: "Sì, sì—San Salvatore."

Họ dè dặt bước xuống, túm vén tà váy lên cẩn thận hệt như thể sau này còn cần dùng đến chúng, chứ không phải rất có thể đây là lần cuối cùng trong đời họ còn được mặc váy.

Những bậc thang dẫn tới một con đường dốc đứng, chính giữa lát những phiến đá phẳng. Họ trượt chân liên tục trên những phiến đá ướt nhẹp ấy, và người đàn ông cầm đèn bão, miệng vẫn liến thoắng thật to và nhanh, đã đưa tay đỡ lấy họ. Cử chỉ nâng đỡ của anh ta trông rất mực lịch thiệp.

"Có lẽ," bà Wilkins khẽ nói với bà Arbuthnot, "mọi chuyện rốt cuộc vẫn ổn thỏa đấy chứ."

"Chúng ta đang ở trong tay Chúa mà," bà Arbuthnot nhắc lại; và bà Wilkins lại thấy sợ.

Xuống hết con đường dốc, ánh đèn bão chập chờn rọi qua một khoảng đất trống có nhà cửa vây quanh ba phía. Phía thứ tư là biển cả, những con sóng lười nhác vỗ tới vỗ lui trên nền sỏi đá.

"San Salvatore," người đàn ông nói, giơ ngọn đèn bão chỉ về phía một khối đen ngòm uốn cong quanh mặt nước như một cánh tay ôm trọn lấy biển.

Họ căng mắt nhìn. Họ thấy khối đen ngòm ấy, và trên đỉnh cao có một đốm sáng le lói.

"San Salvatore ư?" cả hai cùng hoài nghi lặp lại, bởi va li của họ đâu rồi, và cớ sao họ lại bị buộc phải xuống xe ngựa cơ chứ?

"Sì, sì—San Salvatore."

Họ bước dọc theo một nơi trông như bến tàu, sát sạt mép nước. Ở đây thậm chí chẳng có lấy một bờ tường thấp—chẳng có gì ngăn người đàn ông cầm đèn bão hất cẳng họ xuống biển nếu anh ta muốn. Tuy nhiên, anh ta đã không làm thế. Có lẽ mọi chuyện rốt cuộc vẫn ổn, bà Wilkins lại gợi ý với bà Arbuthnot khi nhận thấy điều đó; lần này chính bà Arbuthnot cũng bắt đầu nghĩ có khi đúng là vậy thật, nên không còn nhắc gì tới chuyện "trong tay Chúa" nữa.

Ánh đèn chập chờn nhảy múa, phản chiếu trên mặt đá ướt sũng của bờ bến. Chếch về bên trái, giữa màn đêm mịt mùng và rõ ràng là ở tận cùng của một con đê chắn sóng, có một ánh đèn đỏ. Họ đi tới một cổng vòm có cánh cổng sắt nặng nề. Người đàn ông cầm đèn bão đẩy cổng ra. Lần này họ bước lên các bậc thang thay vì đi xuống, và trên đỉnh thang là một lối đi nhỏ uốn lượn ngược lên giữa bạt ngàn hoa. Họ không nhìn thấy hoa, nhưng rõ ràng khắp nơi đều ngập tràn hương sắc.

Đến lúc này bà Wilkins mới sực hiểu ra rằng có lẽ lý do xe ngựa không đưa họ lên tận cửa là vì nơi đây làm gì có đường xe chạy, chỉ toàn lối mòn dành cho người đi bộ. Điều đó cũng giải thích cho sự biến mất của những chiếc va li. Bà bắt đầu tin chắc rằng khi lên tới đỉnh, họ sẽ thấy hành lý đã nằm đợi sẵn ở đó. San Salvatore tọa lạc trên đỉnh đồi, đúng như một tòa lâu đài thời trung cổ phải có. Qua một khúc quanh của lối mòn, họ nhìn thấy phía trên cao ánh đèn từng thấy từ bến tàu, giờ đã gần hơn nhiều và tỏa sáng rực rỡ hơn. Bà thổ lộ niềm tin mới chớm ấy với bà Arbuthnot, và bà Arbuthnot cũng đồng tình rằng rất có thể đúng là như vậy.

Một lần nữa, nhưng lần này với giọng tràn trề hy vọng thực sự, bà Wilkins vừa chỉ tay lên hình bóng đen thẫm in trên nền trời chỉ hơi bớt đen hơn một chút, vừa hỏi: "San Salvatore?" Và một lần nữa, nhưng lần này đầy vẻ vỗ về, khích lệ, lời khẳng định lại vang lên: "Sì, sì—San Salvatore."

Họ băng qua một cây cầu nhỏ bắc ngang qua nơi dường như là một hẻm núi sâu, rồi tới một đoạn đường bằng phẳng, hai bên cỏ mọc tốt um cùng nhiều hoa cỏ hơn nữa. Họ cảm nhận được những ngọn cỏ ướt quẹt vào tất chân, và hương hoa vô hình lan tỏa khắp chốn. Rồi đường lại dốc lên qua những rặng cây, men theo lối mòn ngoằn ngoèo với mùi hương hoa phảng phất suốt dọc đường dù mắt chẳng thấy hoa đâu. Cơn mưa ấm áp đang đánh thức mọi làn hương ngọt ngào. Họ cứ thế bước lên cao mãi giữa bóng đêm thơm ngát, và ánh đèn đỏ nơi đê chắn sóng cứ lùi dần, lùi dần xuống sâu phía dưới chân họ.

Lối mòn vòng sang sườn bên kia của nơi trông như một bán đảo nhỏ; con đê chắn sóng cùng ánh đèn đỏ biến mất; phía bên kia khoảng không vô định bên tay trái họ là những ánh đèn xa xăm.

"Mezzago," người đàn ông nói, khua chiếc đèn bão về phía những đốm sáng ấy.

"Sì, sì," hai bà đáp, bởi đến lúc này họ cũng đã học lỏm được hai tiếng "sì, sì". Nghe vậy, người đàn ông liền tuôn ra một tràng dài những lời lẽ lịch thiệp để chúc mừng vốn tiếng Ý siêu đẳng của họ, dẫu hai bà chẳng hiểu lấy một từ; bởi người này chính là Domenico, người làm vườn mẫn cán và tài ba của San Salvatore, rường cột chống đỡ cả cơ ngơi này, một Domenico tháo vát, đa tài, hùng biện, nhã nhặn và thông minh. Chỉ có điều lúc này họ chưa hề biết điều đó; vả lại giữa đêm tối, thậm chí đôi khi ngay cả dưới ánh sáng ban ngày, với những đường nét ngăm đen sắc như dao cạo và những bước đi thoăn thoắt như báo hoa mai, trông anh ta rất dễ khiến người ta liên tưởng tới một kẻ gian tà.

Họ đi qua một đoạn đường bằng phẳng khác, bên tay phải là một khối đen sừng sững như bức tường thành cao ngất, rồi lối mòn lại dốc lên dưới những giàn mắt cáo, nơi những cành nhánh thơm ngát buông lơi quẹt vào người họ và rũ xuống những hạt mưa, ánh đèn bão chập chờn rọi qua những khóm loa kèn, rồi hiện ra một dãy bậc đá cổ kính mòn vẹt theo năm tháng, rồi lại một cánh cổng sắt nữa, và thế là họ đã vào bên trong, dẫu vẫn còn phải leo tiếp một dãy bậc đá quanh co có những bức tường cổ kính hai bên hệt như tường ngục tối, phía trên là mái vòm.

Trên đỉnh cầu thang là một cánh cửa bằng sắt rèn, và xuyên qua đó, ánh điện rực rỡ tỏa ra chan hòa.

"Ecco," Domenico thoăn thoắt chạy vượt lên vài bậc cuối cùng rồi đẩy toang cánh cửa.

Và thế là họ đã tới nơi; đây đích thị là San Salvatore; những chiếc va li đã nằm chờ sẵn; và họ chẳng hề bị sát hại.

Họ trang nghiêm nhìn nhau, bắt gặp những gương mặt nhợt nhạt và đôi mắt đang chớp chớp ngỡ ngàng.

Đó quả là một khoảnh khắc vĩ đại, tuyệt vời. Cuối cùng họ cũng đã ở đây, trong tòa lâu đài thời trung cổ của chính mình. Chân họ đã chạm vào những phiến đá nơi đây.

Bà Wilkins vòng tay qua cổ bà Arbuthnot và đặt lên má bạn một nụ hôn.

"Điều đầu tiên diễn ra trong ngôi nhà này," bà khẽ nói một cách trang trọng, "phải là một nụ hôn."

"Lotty thân yêu," bà Arbuthnot nói.

"Rose thân yêu," bà Wilkins đáp, mắt rưng rưng niềm hân hoan.

Domenico vô cùng thích thú. Anh khoái nhìn các quý bà xinh đẹp hôn nhau. Anh liền đọc một bài diễn văn chào mừng đầy vẻ tán thưởng, còn hai người phụ nữ thì đứng khoác tay nhau, nương tựa vào nhau vì đã thấm mệt, vừa chớp mắt mỉm cười với anh, vừa chẳng hiểu lấy nửa lời.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.