Tháng Tư diệu kỳ

Lượt đọc: 130 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

Mọi việc đã được thu xếp đâu vào đấy: bà Arbuthnot và bà Wilkins sẽ đi cùng nhau và tới San Salvatore vào chiều tối ngày 31 tháng Ba—người chủ lâu đài, khi hướng dẫn đường đi nước bước, rất thông cảm với sự e ngại của hai bà trước chuyện phải bắt đầu kỳ nghỉ vào ngày Cá tháng Tư—còn phu nhân Caroline và bà Fisher, do chưa hề quen biết nên trên đường đi chẳng việc gì phải chịu đựng sự tẻ nhạt của nhau (bởi chỉ đến gần cuối hành trình, qua vài phép thăm dò, họ mới biết đối phương là ai), sẽ tới nơi vào sáng ngày 2 tháng Tư. Sắp đặt như thế sẽ giúp mọi thứ được chuẩn bị chu đáo để đón hai vị kia, những người dẫu cùng chia đều chi phí nhưng trông vẫn toát lên đôi chút phong thái của khách quý.

Vào những ngày cuối tháng Ba đã xảy ra mấy chuyện chẳng mấy dễ chịu, ấy là khi bà Wilkins, tim đập thình thịch lên tận cổ họng, nét mặt vừa ngập tràn cảm giác tội lỗi, sợ hãi lại vừa đỗi quả quyết, báo cho chồng biết mình được mời đi Ý, và ông một mực không tin. Lẽ dĩ nhiên là ông không đời nào tin rồi. Từ trước tới giờ đã có ai mời vợ ông sang Ý bao giờ đâu. Chưa từng có tiền lệ. Ông đòi bằng chứng. Bằng chứng duy nhất là bà Arbuthnot, và bà Wilkins đã đưa bà ấy ra; nhưng phải sau biết bao lời van nài, bao lời thuyết phục tha thiết đến chừng nào! Bà Arbuthnot chưa từng nghĩ mình lại phải đối mặt với ông Wilkins và nói những lời chẳng trọn vẹn sự thật, điều đó càng khiến bà thấm thía nỗi hoài nghi bấy lâu nay của mình: rằng bà đang ngày một rời xa Chúa.

Quả thực, cả tháng Ba ngập tràn những khoảnh khắc bồn chồn, phiền muộn. Đó là một tháng đầy bất an. Lương tâm của bà Arbuthnot, vốn trở nên quá đỗi nhạy cảm sau nhiều năm được chiều chuộng nuông chiều, không sao dung hòa nổi việc bà đang làm với những chuẩn mực đạo đức khắt khe của chính nó. Nó chẳng để cho bà yên ổn phút giây nào. Nó khẽ lay gọi bà ngay cả trong lúc cầu nguyện. Nó ngắt quãng những lời van xin ơn trên soi sáng bằng những câu hỏi khiến người ta phải bàng hoàng, chẳng hạn như: “Ngươi há chẳng phải kẻ đạo đức giả sao? Ngươi có thực bụng muốn thế không? Chẳng phải thâm tâm ngươi sẽ thất vọng lắm nếu lời cầu nguyện ấy được chuẩn y hay sao?”

Thời tiết ẩm ướt, buốt giá kéo dài dường như cũng hùa vào cùng lương tâm bà, khiến cho bệnh tật bùng phát trong giới dân nghèo nhiều hơn hẳn lệ thường. Hết viêm phế quản lại đến sốt rét; nỗi lầm than cơ cực dường như chẳng có hồi kết. Thế mà bà lại bỏ đi, tiêu tốn những đồng tiền quý giá để trốn đi, chỉ duy nhất vì mục đích mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình. Một người phụ nữ. Chỉ một người phụ nữ được hưởng sung sướng, giữa muôn vàn kiếp người đáng thương này . . .

Bà chẳng còn mặt mũi nào nhìn thẳng vào mục sư. Ông không hay biết, chẳng một ai hay biết chuyện bà sắp làm, và ngay từ đầu bà đã không dám nhìn thẳng vào mặt bất kỳ ai. Bà cáo bận không tham gia các buổi diễn thuyết quyên tiền từ thiện. Làm sao bà có thể đứng lên kêu gọi người khác mở hầu bao, trong khi chính bà lại đang phung phí ngần ấy tiền bạc cho thú vui ích kỷ của bản thân? Ngay cả việc ông Frederick—khi nghe bà bảo muốn xin chút tiền, cốt để bù đắp lại số tiền mình đang phung phí—liền ký ngay cho bà tấm séc 100 bảng mà không hề gặng hỏi nửa lời, cũng chẳng giúp bà nhẹ lòng hay nguôi ngoai hơn chút nào. Mặt bà đỏ bừng. Ông nhìn bà một thoáng rồi quay đi chỗ khác. Việc bà chịu nhận tiền đối với Frederick quả là một sự trút gánh nặng. Bà đem toàn bộ số tiền ấy trao ngay cho hội từ thiện nơi mình làm việc, để rồi lại thấy bản thân càng lún sâu vào những nỗi hoài nghi dằn vặt hơn bao giờ hết.

Bà Wilkins thì hoàn toàn ngược lại, chẳng chút mảy may nghi ngại. Bà tin chắc rằng đi nghỉ ngơi là việc hết sức chính đáng, và đem những đồng tiền chắt bóp nhọc nhằn của chính mình ra để mưu cầu hạnh phúc là điều hoàn toàn đúng đắn và tuyệt vời.

“Chị cứ nghĩ xem, khi trở về chúng mình sẽ trở nên dễ chịu hơn biết bao nhiêu,” bà bảo với bà Arbuthnot để động viên người phụ nữ xanh xao ấy.

Không, bà Wilkins chẳng hề nghi ngại, nhưng bà lại có nỗi sợ; và tháng Ba đối với bà cũng là một tháng đầy âu lo, khi người chồng chẳng hay biết gì của bà ngày ngày vẫn về ăn tối và lặng lẽ dùng bữa cá trong sự an tâm ngỡ là vững chắc.

Vả lại, chuyện đời thường hay trớ trêu đến thế. Thật kinh ngạc xiết bao trước sự trớ trêu của tạo hóa. Suốt cả tháng đó, bà Wilkins đã hết sức cẩn thận chỉ nấu cho Mellersh những món ông thích, đích thân đi chợ rồi túc trực bên bếp lửa nấu nướng với lòng sốt sắng hơn hẳn ngày thường, và bà đã thành công đến mức Mellersh lấy làm hài lòng; rõ ràng là rất hài lòng; hài lòng đến độ ông bắt đầu nghĩ rằng có lẽ rốt cuộc mình đã lấy đúng vợ, chứ không phải vớ phải một người chẳng ra gì như ông vẫn hằng ngờ vực. Kết quả là vào ngày Chủ nhật thứ ba của tháng—bà Wilkins đã run rẩy hạ quyết tâm rằng sang Chủ nhật thứ tư, vì tháng Ba năm ấy có tới năm ngày Chủ nhật và hai bà sẽ khởi hành vào đúng ngày Chủ nhật thứ năm, bà sẽ nói cho Mellersh biết về lời mời—thì ngay trong ngày Chủ nhật thứ ba ấy, sau một bữa trưa thịnh soạn tuyệt hảo với món bánh pudding Yorkshire tan ngay trong miệng và món bánh tart mơ ngon lành đến mức ông ăn sạch không chừa một miếng, Mellersh vừa phì phèo điếu xì gà bên lò sưởi cháy rực giữa lúc từng cơn mưa đá quất thình thịch vào cửa sổ, vừa bảo: “Anh đang tính đưa em sang Ý dịp lễ Phục sinh đây.” Đoạn, ông dừng lại để chờ đợi niềm hoan hỷ kinh ngạc và lòng biết ơn khôn xiết của bà.

Nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy đâu. Căn phòng hoàn toàn im phăng phắc, chỉ trừ tiếng mưa đá đập vào khung kính và tiếng lửa reo vui tí tách trong lò. Bà Wilkins không thốt nên lời. Bà chết lặng. Tận Chủ nhật tuần sau bà mới định báo tin cho ông, và thậm chí bà còn chưa kịp nghĩ sẵn lời lẽ để thưa chuyện.

Ông Wilkins, người chưa từng ra nước ngoài kể từ trước thời chiến và đang ngày càng cảm thấy chán ngấy sự tồi tệ dai dẳng khác thường của thời tiết sau bao tuần gió mưa dầm dề, đã dần dà nhen nhóm ý muốn trốn khỏi nước Anh dịp Phục sinh. Công việc làm ăn của ông đang rất khấm khá. Ông hoàn toàn đủ sức chi trả cho một chuyến đi. Thụy Sĩ vào tháng Tư thì chẳng có gì thú vị. Lễ Phục sinh ở Ý nghe chừng quen thuộc hơn cả. Ông sẽ sang Ý; và vì nếu không đưa vợ đi cùng thì người ta sẽ dị nghị, nên ông buộc phải dắt bà theo—hơn nữa, có bà đi cũng đỡ việc; ở một đất nước bất đồng ngôn ngữ thì có thêm người thứ hai lúc nào cũng tiện, để nhờ cầm hộ đồ đạc, hay đứng trông chừng hành lý.

Ông từng mường tượng bà sẽ vỡ òa trong nỗi xúc động và lòng biết ơn. Thái độ hờ hững này quả thật không thể tin nổi. Ông đoán chắc là bà chưa nghe rõ. Có lẽ đầu óc bà lại đang mải mơ màng chuyện hão huyền nào đó rồi. Thật đáng buồn là bà cứ mãi trẻ con như thế.

Ông quay đầu lại—ghế của hai người đặt ngay trước lò sưởi—và nhìn bà. Bà đang nhìn chòng chọc vào ngọn lửa, và hẳn là sức nóng của đống lửa đã khiến mặt bà đỏ bừng lên như vậy.

“Anh đang tính,” ông lặp lại, cao giọng bằng cái chất giọng rành rọt, trí thức và có phần gắt gỏng, bởi sự lơ đễnh vào khoảnh khắc như thế này thật không thể nào chấp nhận nổi, “đưa em sang Ý dịp lễ Phục sinh. Em không nghe anh nói gì à?”

Vâng, bà có nghe chứ, và bà đang kinh ngạc trước sự trùng hợp lạ lùng này—thực sự quá đỗi lạ lùng—bà cũng vừa định thưa với ông chuyện—chuyện bà được mời—một người bạn đã mời bà—lại cũng vào dịp Phục sinh nữa—lễ Phục sinh rơi vào tháng Tư, phải không ông?—bạn bà có một—có một ngôi nhà bên ấy.

Thực tế là bà Wilkins, bị dồn nén bởi nỗi khiếp sợ, mặc cảm tội lỗi và nỗi sửng sốt, đã ăn nói lắp bắp, lộn xộn hơn cả lệ thường.

Đó quả là một buổi chiều kinh hoàng. Mellersh, vô cùng phẫn nộ trước việc món quà định ban ơn bỗng chốc biến thành gậy ông đập lưng ông, đã tra hỏi bà với thái độ nghiêm khắc tột cùng. Ông bắt bà phải từ chối lời mời. Ông đòi hỏi rằng, vì bà đã dám tự tiện nhận lời một cách trơ trẽn mà không thèm hỏi qua ý kiến ông, bà phải viết thư hủy lời đồng ý đó ngay. Đến khi vấp phải một tảng đá bướng bỉnh khó ngờ đến ngỡ ngàng nơi bà, ông liền chuyển sang không thèm tin là bà được mời sang Ý. Ông không tin có một bà Arbuthnot nào đó tồn tại, một người mà mãi đến tận lúc này ông mới nghe nhắc tên lần đầu; và chỉ đến khi người phụ nữ hiền thục kia được mời tới—sau biết bao khó nhọc, và bản thân bà Arbuthnot chỉ muốn buông xuôi tất cả cho xong còn hơn phải nói những lời giấu giếm sự thật với ông Wilkins—rồi chính miệng xác nhận những lời vợ ông nói, thì ông mới chịu tin. Ông không thể không tin bà Arbuthnot. Bà tạo cho ông đúng cái ấn tượng đầy tin cậy hệt như đối với đám nhân viên tàu điện ngầm. Bà hầu như chẳng cần phải mở miệng nói gì nhiều. Nhưng điều đó chẳng thể xoa dịu lương tâm bà, một lương tâm biết rõ mười mươi và không ngừng nhắc nhở rằng bà vừa gieo vào đầu người ta một ấn tượng sai lệch, thiếu sót. “Ngươi có thấy,” lương tâm bà lên tiếng hỏi, “ấn tượng thiếu sót thì khác gì một lời dối trá rành rành hay chăng? Trước mắt Chúa, chúng đều như nhau cả thôi.”

Những ngày còn lại của tháng Ba trôi qua như một cơn ác mộng hỗn độn. Cả bà Arbuthnot lẫn bà Wilkins đều rã rời; dù đã cố dằn lòng, cả hai vẫn thấy tội lỗi ngập tràn; và khi chuyến tàu cuối cùng cũng chuyển bánh vào sáng ngày 30, trong lòng họ chẳng hề có chút hào hứng nào của một chuyến khởi hành, tuyệt nhiên không có lấy một chút tâm trạng của người đi nghỉ mát.

“Chúng mình đã quá ngoan ngoãn—quá đỗi ngoan ngoãn rồi,” bà Wilkins cứ lẩm bắp mãi khi hai người rảo bước đi đi lại lại trên sân ga Victoria, sau khi đã đến nơi sớm hơn cần thiết cả một tiếng đồng hồ, “và chính vì thế mà chúng mình mới cảm thấy như thể đang làm điều sai trái. Chúng mình bị lấn át, đè nén—chẳng còn là những con người thực thụ nữa. Con người thực thụ chẳng bao giờ nhẫn nhịn ngoan ngoãn như chúng mình đâu. Ôi”—bà siết chặt đôi bàn tay gầy guộc—“nghĩ mà xem, đáng lẽ ra giờ này chúng mình phải sung sướng lắm chứ, đang ở ngay sân ga rồi này, thực sự sắp khởi hành rồi, thế mà lại chẳng thấy vui, tất cả chỉ bị phá hỏng chỉ vì chúng mình đã quá nuông chiều họ! Chúng mình đã làm gì cơ chứ—tôi muốn biết rốt cuộc chúng mình đã làm nên tội tình gì,” bà bất bình hỏi bà Arbuthnot, “ngoài việc muốn một lần được tự mình đi chơi và có chút thời gian nghỉ ngơi, thoát khỏi họ?”

Bà Arbuthnot nhẫn nại rảo bước bên cạnh, không buồn hỏi xem “họ” ở đây là ai, bởi bà thừa hiểu. Ý bà Wilkins là các ông chồng, bà ấy cứ đinh ninh cho rằng Frederick cũng phẫn nộ trước sự ra đi của vợ hệt như Mellersh vậy, trong khi Frederick thậm chí còn chẳng biết vợ mình đã đi rồi.

Bà Arbuthnot, vốn trước nay luôn kín tiếng về chồng, chẳng hề hé răng nửa lời về chuyện này với bà Wilkins. Frederick chiếm một góc quá sâu kín trong tim để bà có thể đem ra bàn tán. Ông đang bận bù đầu để hoàn thành một trong số những cuốn sách khủng khiếp kia, suốt mấy tuần gần đây hầu như đi vắng liên miên, và lúc bà rời nhà ông cũng không có mặt. Việc gì bà phải báo trước cho ông? Biết chắc một cách cay đắng rằng ông sẽ chẳng buồn bận tâm phản đối bất cứ điều gì bà làm, bà chỉ để lại một mẩu giấy nhắn trên chiếc bàn ngoài tiền sảnh, phòng khi ông trở về nhà. Bà viết rằng mình sẽ đi nghỉ một tháng vì cần tĩnh dưỡng sau một thời gian dài chưa được nghỉ ngơi, và Gladys, cô hầu phòng tháo vát, đã được dặn dò chu đáo để chăm lo cho sự thoải mái của ông. Bà không nói mình đi đâu; cũng chẳng có lý do gì để phải nói; ông nào có bận lòng, ông nào có quan tâm.

Hôm ấy là một ngày ảm đạm, gió rít từng cơn kèm mưa lạnh; chuyến vượt biển thì thật kinh khủng, cả hai bà đều say sóng dữ dội. Nhưng sau những cơn nôn nao hành hạ, chỉ cần đặt chân đến Calais và không còn nôn mửa nữa đã là một niềm hạnh phúc, và chính tại nơi đây, sự kỳ diệu thực sự của chuyến đi mới bắt đầu sưởi ấm tâm hồn đang tê dại của họ. Cảm giác ấy nhen nhóm nơi bà Wilkins trước tiên, rồi từ bà lan tỏa như một ngọn lửa hồng sang người bạn đồng hành xanh xao. Mellersh khi tới Calais, nơi hai bà lấy lại sức bằng món cá bơn chỉ vì bà Wilkins muốn ăn một con cá mà Mellersh không được đụng đũa—Mellersh ở Calais dường như đã bắt đầu teo tóp lại và bớt phần quan trọng. Đám phu khuân vác người Pháp chẳng ai biết ông là ai; không một viên chức nào ở Calais thèm đoái hoài nửa xu tới Mellersh. Đến Paris thì chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ tới ông nữa, vì tàu đến muộn nên họ chỉ vừa kịp bắt chuyến tàu đi Turin tại ga Gare de Lyon; và đến chiều ngày hôm sau khi đặt chân lên đất Ý, thì nước Anh, Frederick, Mellersh, ngài mục sư, những người nghèo khổ, vùng Hampstead, câu lạc bộ, cửa tiệm Shoolbred, tất cả mọi người và mọi việc, trọn vẹn nỗi buồn tẻ nhức nhối ấy, đều đã tan biến thành một giấc chiêm bao mờ ảo.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.