Chủ nhân của tòa lâu đài thời trung cổ là một người đàn ông Anh tên Briggs. Hiện ông đang ở London và viết thư cho biết tòa nhà có đủ giường cho tám người, chưa kể người hầu, cùng ba phòng khách, các tường thành có lỗ châu mai, ngục tối và cả đèn điện. Giá thuê là sáu mươi bảng một tháng, tiền công cho người hầu tính riêng, và ông yêu cầu phải có người bảo lãnh—ông muốn được đảm bảo sẽ nhận đủ nửa tiền thuê còn lại sau khi đã thu trước nửa đầu, đồng thời muốn có sự bảo đảm về tư cách đứng đắn từ một luật sư, một bác sĩ hoặc một giáo sĩ. Lời lẽ trong thư của ông rất đỗi lịch thiệp; ông giải thích rằng việc đòi hỏi người bảo lãnh là thông lệ bình thường và chỉ nên coi như một thủ tục đơn thuần.
Bà Arbuthnot và bà Wilkins chưa từng nghĩ đến chuyện người bảo lãnh, và họ cũng chẳng dám mơ rằng tiền thuê lại đắt đỏ đến thế. Trong tâm trí họ trước đó chỉ phấp phỏng những con số cỡ ba guinea một tuần; hoặc thậm chí ít hơn, bởi nơi ấy vừa nhỏ vừa cổ kính.
Sáu mươi bảng cho vỏn vẹn một tháng trời.
Cái giá khiến họ choáng váng.
Trước mắt bà Arbuthnot hiện lên cơ man nào là ủng: cả một khoảng trời ngút ngát toàn những đôi ủng bền chắc có thể mua được bằng sáu mươi bảng; huống hồ ngoài tiền thuê nhà còn có tiền công người hầu, tiền ăn uống, cùng vé tàu hỏa cả đi lẫn về. Còn về chuyện người bảo lãnh, đây quả thực là một hòn đá ngáng đường; dường như họ không thể đưa ra bất kỳ ai mà lại không làm kế hoạch này bại lộ nhiều hơn dự tính.
Cả hai người—ngay cả bà Arbuthnot, người hiếm hoi một lần bị cám dỗ rời xa đức tính bộc bạch trọn vẹn khi nhận ra một lời giải thích lấp liếm sẽ giúp tránh được bao phiền toái cùng những lời chỉ trích—đều cho rằng cách tốt nhất là đánh tiếng với các mối quan hệ riêng của mình (may sao giới quen biết của hai người lại hoàn toàn tách biệt) rằng mỗi người sẽ đến chơi nhà một cô bạn có cơ ngơi ở Ý. Dù sao thì nói vậy cũng đúng được phần nào—bà Wilkins đoan chắc là hoàn toàn đúng sự thật, nhưng bà Arbuthnot lại nghĩ chưa hẳn đã là vậy—và theo lời bà Wilkins, đó là cách duy nhất để giữ cho Mellersh chịu ngồi yên phần nào. Chỉ riêng việc bà đem tiền túi ra tiêu cho chuyến đi sang Ý thôi cũng đủ khiến ông nổi cơn thịnh nộ; còn nếu biết bà tự ý đứng ra thuê một phần tòa lâu đài thời trung cổ, ông sẽ nói những gì thì bà Wilkins chẳng dám nghĩ tới. Chắc ông phải mất mấy ngày trời mới xả hết cơn giận; dẫu cho đó là tiền riêng của bà, và chưa từng có lấy một xu nào của ông trong đó.
“Nhưng tôi đồ rằng,” bà nói, “chồng bà cũng thế cả thôi. Chung quy đàn ông làm chồng ai chẳng giống nhau.”
Bà Arbuthnot không đáp lời, bởi lý do bà không muốn Frederick biết chuyện lại hoàn toàn trái ngược—Frederick sẽ chỉ mừng rỡ khôn xiết khi bà đi khỏi, ông sẽ chẳng bận tâm mảy may; thậm chí, ông còn đón nhận biểu hiện buông tuồng và phù phiếm ấy bằng một sự thích thú đến nhói lòng, rồi giục bà cứ đi chơi cho thỏa thích và chớ vội về nhà với một vẻ dửng dưng lạnh lùng tột độ. Bà thầm nghĩ, thà được Mellersh nhung nhớ còn hơn bị Frederick tiễn đi cho khuất mắt. Được người khác nhớ nhung, cần đến mình, dẫu xuất phát từ bất kỳ động cơ nào, vẫn tốt hơn vạn lần nỗi cô độc tận cùng khi chẳng được ai đoái hoài hay mong ngóng.
Vì thế bà chọn cách im lặng, để mặc bà Wilkins tha hồ vội vã đưa ra những kết luận của riêng mình. Thế nhưng suốt một ngày ròng rã, cả hai đều cảm thấy điều duy nhất có thể làm lúc này là từ bỏ tòa lâu đài trung cổ; và chính trong giây phút đi đến quyết định cay đắng ấy, họ mới thực sự thấm thía nỗi khát khao nơi ấy mãnh liệt đến nhường nào.
Thế rồi bà Arbuthnot, người vốn quen tìm lối thoát trước những cảnh ngộ khó khăn, đã nghĩ ra cách giải quyết chuyện người bảo lãnh; cùng lúc đó, trong đầu bà Wilkins cũng lóe lên một linh cảm mách bảo cho bà cách giảm bớt tiền thuê.
Kế hoạch của bà Arbuthnot thật đơn giản mà lại thành công mỹ mãn. Bà đích thân mang toàn bộ tiền thuê đến trao tận tay người chủ, sau khi đã rút tiền từ Quỹ Tiết kiệm—một lần nữa bà lại mang vẻ lấm lét và áy náy, như thể người nhân viên giao dịch ắt biết rõ số tiền này được dùng cho những mục đích hưởng lạc bản thân—và với sáu tờ mười bảng trong túi xách, bà tìm đến địa chỉ của người chủ gần Nhà nguyện Brompton Oratory để trao tiền cho ông, khước từ quyền chỉ trả trước một nửa. Nhìn thấy bà với mái tóc rẽ ngôi, đôi mắt đen dịu dàng cùng y phục trang nhã, lại nghe chất giọng trầm ấm nghiêm cẩn của bà, người chủ liền bảo bà không cần phải nhọc công viết thư hỏi xin người bảo lãnh làm chi nữa.
“Sẽ ổn cả thôi,” ông vừa nói vừa hí hoáy viết biên nhận tiền thuê. “Mời bà ngồi. Thời tiết khó chịu quá nhỉ? Bà sẽ thấy tòa lâu đài cổ đó chan hòa ánh nắng, dẫu cho nó có thiếu thốn thứ gì đi nữa. Chồng bà có đi cùng không?”
Bà Arbuthnot, vốn chẳng quen nói dối bao giờ, thoáng bối rối trước câu hỏi ấy rồi bắt đầu ấp úng chẳng rõ lời, khiến người chủ lập tức kết luận bà là một góa phụ—chắc hẳn là góa phụ chiến tranh, vì các góa phụ khác đều đã già cả—và tự trách mình ngốc nghếch sao không đoán ra sớm hơn.
“Ôi, tôi vô cùng xin lỗi,” ông đỏ bừng mặt đến tận chân tóc mai sáng màu. “Tôi không có ý... hừm, hừm, hừm...”
Ông lướt mắt qua tờ biên nhận vừa viết. “Vâng, tôi nghĩ thế này là ổn rồi,” ông đứng dậy đưa nó cho bà. “Giờ thì,” ông nói thêm, nhận lấy sáu tờ giấy bạc bà đưa và mỉm cười, bởi diện mạo bà Arbuthnot rất đỗi ưa nhìn, “tôi giàu hơn, còn bà thì hạnh phúc hơn. Tôi có tiền, còn bà có San Salvatore. Chẳng biết đằng nào hơn đằng nào đây.”
“Tôi nghĩ ông biết rõ câu trả lời rồi đấy chứ,” bà Arbuthnot đáp lại bằng một nụ cười ngọt ngào.
Ông bật cười rồi mở cửa cho bà. Cuộc gặp gỡ kết thúc thật đáng tiếc. Giá như ông có thể mời bà dùng bữa trưa thì hay biết mấy. Bà khiến ông nhớ về người mẹ, về cô bảo mẫu, về tất cả những điều tử tế và vỗ về dịu dàng nhất trần đời, lại thêm sức quyến rũ khó cưỡng từ việc bà chẳng phải mẹ hay bảo mẫu của ông.
“Tôi hy vọng bà sẽ thích chốn xưa cũ ấy,” ông nói, nắm tay bà thêm một lát ngoài ngưỡng cửa. Cảm giác khi chạm vào bàn tay bà, dẫu qua lớp găng, vẫn mang lại một niềm an tâm kỳ lạ; ông nghĩ đó là thứ bàn tay mà lũ trẻ con muốn được nắm lấy trong bóng đêm tăm tối. “Vào tháng Tư, bà biết đấy, nơi đó ngập tràn trong muôn sắc hoa. Lại còn có biển nữa. Bà nhất định phải mặc đồ trắng đấy nhé. Bà sẽ hợp với nơi ấy lắm. Ở đó có mấy bức chân dung vẽ bà đấy.”
“Chân dung tôi ư?”
“Tranh Đức Mẹ Maria ấy mà. Có một bức ở cầu thang trông giống hệt bà luôn.”
Bà Arbuthnot mỉm cười chào từ biệt và nói lời cảm ơn. Chẳng tốn chút công sức nào, bà đã xếp ngay được ông vào đúng nhóm người của mình: một nghệ sĩ với tính khí bồng bột xốc nổi.
Bà bắt tay rồi rời đi, để lại trong lòng ông nỗi tiếc nuối khôn nguôi. Sau khi bóng bà đã khuất, ông thầm nghĩ lẽ ra mình vẫn nên đòi giấy bảo lãnh, dẫu chỉ để bà không nghĩ mình là kẻ thiếu chuyên nghiệp trong chuyện làm ăn, nhưng bắt một quý bà đoan trang, dịu hiền dường ấy chìa giấy bảo lãnh thì chẳng khác nào đòi hỏi điều đó ở một vị thánh đang tỏa hào quang.
Rose Arbuthnot.
Lá thư hẹn gặp của bà vẫn nằm trên bàn.
Một cái tên thật đẹp.
Thế là trở ngại đó đã được tháo gỡ. Song vẫn còn lại một vấn đề khác, đó là sự hao tổn đến mức triệt tiêu đối với số tiền dành dụm của họ, đặc biệt là phần của bà Wilkins, vốn nhỏ nhoi so với của bà Arbuthnot hệt như trứng chim te te đem so với trứng vịt; và đến lượt vấn đề này cũng được hóa giải nhờ viễn cảnh lóe lên trong đầu bà Wilkins, chỉ lối cho bà từng bước đi để vượt qua nó. Giờ đây khi đã có được San Salvatore—cái tên tôn nghiêm tuyệt mỹ ấy đã hớp hồn họ—họ sẽ lần lượt đăng tin lên Mục Nhắn tin của tờ Báo Thời Đại để tìm thêm hai quý bà khác có cùng ước nguyện tham gia chia sẻ chi phí.
Ngay lập tức, gánh nặng lên khoản tiền dành dụm sẽ giảm từ một nửa xuống chỉ còn một phần tư. Bà Wilkins đã sẵn sàng trút cạn cả khoản tiền ki cóm của mình vào chuyến phiêu lưu này, nhưng bà hiểu rằng nếu chi phí chỉ cần vượt quá chín mươi bảng dẫu chỉ sáu xu thôi, tình cảnh của bà sẽ vô cùng tồi tệ. Hãy thử tưởng tượng cảnh phải đến trước mặt Mellersh mà nói: “Em đang nợ.” Thật khủng khiếp nếu một ngày nào đó hoàn cảnh buộc bà phải thú nhận: “Em chẳng còn đồng tiền dành dụm nào,” nhưng ít ra trong trường hợp ấy bà vẫn vững lòng vì biết đó là tiền của riêng mình. Do đó, dẫu sẵn lòng dốc đến đồng xu cuối cùng cho chuyến đi, bà quyết không bỏ ra dẫu một phần tư xu nếu không thể chứng minh rõ ràng đó là tiền của bản thân; và bà cảm thấy nếu phần tiền thuê nhà của mình giảm xuống chỉ còn mười lăm bảng, bà sẽ có một khoản dự phòng an toàn cho các chi phí khác. Họ cũng có thể tiết kiệm rất nhiều tiền ăn uống—chẳng hạn như hái quả ô liu từ cây trong vườn để ăn, rồi biết đâu lại câu được cá nữa.
Dĩ nhiên, như họ đã bàn bạc với nhau, họ có thể giảm tiền thuê nhà xuống mức gần như không đáng kể bằng cách tăng số người ở chung; họ có thể tìm thêm sáu bà nữa thay vì hai nếu muốn, bởi nơi đó có tới tám chiếc giường. Nhưng ngộ nhỡ tám chiếc giường được xếp thành từng đôi trong bốn căn phòng, thì việc đêm hôm phải chung đụng với một người xa lạ lại chẳng phải điều họ mong muốn chút nào. Hơn nữa, họ nghĩ đông người quá có lẽ sẽ bớt đi phần thanh tịnh. Suy cho cùng, họ tìm đến San Salvatore là để mưu cầu sự bình yên, thư thái và niềm hân hoan, mà có thêm sáu người đàn bà nữa, nhất là khi họ chen chân vào phòng ngủ của mình, thì e rằng sẽ làm xáo trộn điều đó đôi phần.
Tuy nhiên, dường như khắp nước Anh lúc bấy giờ chỉ có đúng hai quý bà mang ước muốn đồng hành cùng họ, bởi họ chỉ nhận được vỏn vẹn hai lá thư hồi âm cho mẩu quảng cáo.
“Chà, đằng nào chúng ta cũng chỉ cần hai người thôi mà,” bà Wilkins vội trấn tĩnh, bởi trước đó bà đã mường tượng ra một làn sóng hưởng ứng ồ ạt.
“Tôi nghĩ có nhiều lựa chọn hơn thì vẫn tốt hơn chứ,” bà Arbuthnot nói.
“Ý bà là như vậy thì chúng ta khỏi phải nhận Tiểu thư Caroline Dester chứ gì.”
“Tôi đâu có nói thế,” bà Arbuthnot dịu giọng phân trần.
“Chúng ta đâu nhất thiết phải nhận cô ta,” bà Wilkins nói. “Chỉ cần thêm một người thôi cũng đỡ đần cho chúng ta rất nhiều tiền thuê rồi. Mình đâu có bị ép phải nhận đủ hai người.”
“Nhưng cớ sao lại không nhận cô ấy chứ? Xem ra cô ấy hoàn toàn đúng như những gì chúng ta mong muốn mà.”
“Phải rồi—đọc thư thì thấy thế thật,” bà Wilkins ngập ngừng đáp.
Bà cảm thấy mình sẽ rụt rè e ngại ghê gớm trước Tiểu thư Caroline. Dẫu nghe có vẻ khó tin, bởi tầng lớp ấy có mặt ở khắp mọi nơi, nhưng bà Wilkins chưa từng tiếp xúc với bất kỳ nhân vật quý tộc nào.
Họ hẹn gặp Tiểu thư Caroline, rồi tiếp tục gặp người nộp đơn còn lại, một người tên là bà Fisher.
Tiểu thư Caroline tìm đến câu lạc bộ trên Đại lộ Shaftesbury, và dường như cả tâm trí nàng bị choán ngợp bởi một niềm khao khát duy nhất: khao khát trốn chạy khỏi tất cả những ai nàng từng quen biết. Khi nhìn thấy câu lạc bộ, cùng bà Arbuthnot và bà Wilkins, nàng tin chắc đây chính xác là những gì mình đang kiếm tìm. Nàng sẽ được ở nước Ý—nơi nàng tha thiết yêu; nàng sẽ không phải ở khách sạn—chốn nàng vô cùng ghê tởm; nàng sẽ không phải ở chung với bạn bè—những kẻ nàng chán ghét; và nàng sẽ ở bên cạnh những người xa lạ, những người sẽ chẳng bao giờ nhắc đến một ai nàng quen, vì một lẽ đơn giản là họ chưa từng, không thể và sẽ chẳng đời nào chạm mặt những người đó. Nàng hỏi vài câu về người phụ nữ thứ tư, và tỏ ra hài lòng với những câu trả lời nhận được. Bà Fisher, ở Dãy Prince of Wales. Một góa phụ. Bà ấy chắc chắn cũng chẳng quen biết người bạn nào của nàng. Tiểu thư Caroline thậm chí còn không biết Dãy Prince of Wales nằm ở đâu.
“Nó ở London đấy,” bà Arbuthnot nói.
“Thế cơ à?” Tiểu thư Caroline buông lời.
Mọi chuyện nghe chừng đều hết sức thanh thản.
Bà Fisher không thể đến câu lạc bộ được vì, theo lời bà giải thích trong thư, bà không thể đi lại nếu thiếu gậy; vì thế bà Arbuthnot và bà Wilkins đành phải đích thân tìm đến chỗ bà.
“Nhưng nếu bà ấy không đến nổi câu lạc bộ thì làm sao đi sang Ý được cơ chứ?” bà Wilkins buột miệng thắc mắc.
“Chúng ta sẽ được nghe chính miệng bà ấy giải thích,” bà Arbuthnot đáp.
Từ miệng bà Fisher, trước những câu thăm dò tế nhị, họ chỉ nghe được lời đáp rằng ngồi trên tàu hỏa thì đâu phải là đi bộ; và điều đó thì họ đã biết tỏng rồi. Dẫu vậy, ngoại trừ chiếc gậy chống ra, bà có vẻ là một mảnh ghép thứ tư rất đáng mong đợi—trầm tĩnh, có học thức và đã đứng tuổi. Bà nhiều tuổi hơn họ và Tiểu thư Caroline rất nhiều—Tiểu thư Caroline đã cho biết mình hai mươi tám tuổi—nhưng bà chưa già đến mức đầu óc trở nên lú lẫn. Bà thuộc mẫu người vô cùng đứng đắn, và vẫn vận nguyên một bộ đồ đen tuyền dẫu chồng bà, như lời bà kể, đã qua đời từ mười một năm trước. Ngôi nhà của bà treo đầy những bức ảnh có chữ ký của những bậc tiền bối lừng danh thời Victoria đã khuất, tất cả những người mà bà bảo rằng mình đều quen biết từ thuở ấu thơ. Cha bà từng là một nhà phê bình lỗi lạc, và dưới mái nhà của ông, bà đã gặp gỡ hầu hết những gương mặt có tên tuổi trong giới văn chương và nghệ thuật. Carlyle từng quắc mắt nhìn bà; Matthew Arnold từng bế bà trên đầu gối; Tennyson từng dùng chất giọng trầm vang trêu chọc dải bím tóc dài của bà. Bà hào hứng chỉ cho họ xem những bức ảnh treo khắp các bức tường, dùng gậy trỏ vào từng chữ ký, và bà chẳng hề đả động gì đến người chồng quá cố của mình cũng như chẳng buồn gặng hỏi về chồng của hai vị khách; đó quả là một sự giải thoát nhẹ nhõm vô cùng. Thậm chí bà dường như còn nghĩ cả hai người họ cũng là góa phụ, bởi khi dò hỏi xem quý bà thứ tư là ai và được biết đó là Tiểu thư Caroline Dester, bà liền hỏi: “Cô ấy cũng là góa phụ à?” Và khi họ giải thích rằng không phải, vì cô ấy chưa từng kết hôn, bà liền nhận xét với vẻ lơ đãng nhã nhặn: “Rồi cũng đến lúc thôi.”
Thế nhưng chính sự lơ đãng của bà Fisher—bà dường như chỉ mải chìm đắm vào những con người thú vị mình từng quen cùng những bức ảnh kỷ niệm của họ, và phần lớn buổi trò chuyện đã bị choán hết bởi những giai thoại hoài niệm về Carlyle, Meredith, Matthew Arnold, Tennyson cùng vô số danh nhân khác—chính vẻ đãng trí ấy lại là một điểm cộng. Bà nói bà chỉ mong sao được ngồi yên ắng dưới ánh mặt trời và hoài niệm. Đó cũng là tất cả những gì bà Arbuthnot và bà Wilkins đòi hỏi ở những người bạn đồng hành. Trong mắt họ, một người bạn đồng hành hoàn hảo chỉ cần ngồi yên lặng dưới nắng ấm mà hồi tưởng, rồi đến tối thứ Bảy thì bừng tỉnh vừa đủ để thanh toán phần tiền của mình. Bà Fisher còn cho biết bà rất thích hoa, và có lần khi bà cùng cha đi nghỉ cuối tuần ở Box Hill—
“Ai từng sống ở Box Hill cơ ạ?” bà Wilkins ngắt lời; bà chăm chú lắng nghe từng mẩu hồi ức của bà Fisher, lòng sướng rơn vì được diện kiến một người từng thực sự thân thiết với những bậc vĩ nhân đích thực, không thể bàn cãi—từng tận mắt thấy họ, nghe họ trò chuyện và chạm vào họ.
Bà Fisher nhìn bà qua gọng kính với vẻ đôi phần ngạc nhiên. Trong sự nôn nóng muốn moi cho bằng hết ruột gan những mẩu chuyện xưa của bà Fisher, lại sợ bà Arbuthnot có thể giục về bất cứ lúc nào khi mình chưa kịp nghe lấy một nửa, bà Wilkins đã mấy lần ngắt lời bằng những câu hỏi mà đối với bà Fisher là vô cùng dốt nát.
“Meredith chứ ai nữa,” bà Fisher đáp cộc lốc. “Tôi còn nhớ một dịp cuối tuần nọ”—bà tiếp tục. “Cha tôi thường dẫn tôi đi theo, nhưng tôi luôn nhớ như in dịp cuối tuần ấy—”
“Bà có biết Keats không ạ?” bà Wilkins sốt sắng ngắt lời.
Bà Fisher khựng lại một lát, rồi bảo với giọng cay nghiệt kín đáo rằng bà chưa từng có vinh hạnh quen biết cả Keats lẫn Shakespeare.
“Ôi dĩ nhiên rồi—tôi ngớ ngẩn quá!” bà Wilkins kêu lên, mặt đỏ bừng như gấc. “Chỉ tại vì”—bà lúng búng—“tại vì những bậc bất tử ấy bằng cách nào đó dường như vẫn còn sống, đúng không ạ—cứ như thể họ vẫn đang ở đây, chỉ chớp mắt nữa thôi là sẽ bước vào phòng—và người ta quên mất rằng họ đã qua đời. Thực ra ai nấy đều biết tỏng là họ chưa hề chết—chẳng thể nào chết như bà và tôi lúc này được,” bà quả quyết với bà Fisher, người vẫn đang dán mắt nhìn bà qua gọng kính.
“Hôm nọ tôi cứ ngỡ mình vừa nhìn thấy Keats,” bà Wilkins lắp bắp tiếp tục, bị thôi thúc bởi cái nhìn trừng trừng qua mép kính của bà Fisher. “Ở Hampstead ấy—ông ấy đang băng qua đường ngay trước ngôi nhà đó—bà biết đấy—ngôi nhà nơi ông từng sống—”
Bà Arbuthnot vội lên tiếng bảo họ phải đi thôi.
Bà Fisher chẳng hề có ý giữ họ lại.
“Tôi thật sự ngỡ là đã thấy ông ấy mà,” bà Wilkins thanh minh, hết nhìn người này lại quay sang nhìn người kia để cầu mong sự tin tưởng, trong khi mặt bà hết đỏ lại tái, và bà hoàn toàn không thể dừng miệng lại trước cặp kính của bà Fisher cùng đôi mắt đang nhìn chòng chọc qua đó. “Tôi tin là mình đã thấy ông ấy thật—ông ấy mặc một chiếc áo—”
Đến lúc này thì ngay cả bà Arbuthnot cũng phải ngoái nhìn bà, rồi dùng chất giọng dịu dàng nhất nhắc rằng họ sắp muộn bữa trưa rồi.
Chính vào lúc này, bà Fisher cất lời đòi hỏi người bảo lãnh. Bà chẳng hề muốn thấy mình bị nhốt chung suốt bốn tuần ròng với một kẻ chuyên nhìn thấy những chuyện hoang đường. Đúng là ở San Salvatore có tới ba phòng khách, chưa kể khu vườn và tường thành, nên sẽ chẳng thiếu cơ hội để tránh mặt bà Wilkins; nhưng bà Fisher sẽ thấy khó chịu vô cùng nếu bà Wilkins đột nhiên đoan chắc rằng mình vừa nhìn thấy ông Fisher. Ông Fisher đã mồ yên mả đẹp; cứ để ông yên nghỉ dưới suối vàng đi. Bà chẳng hề muốn bị người ta bảo rằng ông đang đi dạo ngoài vườn. Lời bảo đảm duy nhất mà bà thực sự cần—bởi bà đã quá già và có một vị thế quá vững vàng trong xã hội để bận tâm đến việc bị tai tiếng vì những kẻ giao du mờ ám—là một lời bảo chứng về tình trạng sức khỏe của bà Wilkins. Liệu đầu óc cô ta có bình thường không? Liệu cô ta có phải là một phụ nữ biết điều, bình dị như bao người khác không? Bà Fisher cảm thấy chỉ cần có trong tay dù chỉ một địa chỉ thôi, bà cũng sẽ tìm ra điều mình cần biết. Vì thế bà yêu cầu người bảo lãnh, và hai vị khách dường như sững sờ đến mức—bà Wilkins thậm chí còn tỉnh cả người ra ngay tắp lự—khiến bà phải bồi thêm: “Đó là thông lệ rồi.”
Bà Wilkins là người hoàn hồn trước tiên. “Nhưng,” bà nói, “chẳng phải chúng tôi mới là những người có quyền đòi giấy bảo lãnh từ bà sao?”
Và đối với bà Arbuthnot, thái độ ấy cũng hoàn toàn hữu lý. Rõ ràng là họ đang đón nhận bà Fisher vào nhóm của mình, chứ đâu phải bà Fisher thu nhận họ?
Thay cho câu trả lời, bà Fisher chống gậy bước đến bàn viết, dùng nét chữ cứng cỏi ghi lại ba cái tên rồi chìa ra cho bà Wilkins; những cái tên ấy danh giá đến mức, hơn thế nữa, còn lẫy lừng và uy nghi đến nỗi chỉ cần đọc lên thôi cũng đủ choáng ngợp. Chủ tịch Viện Hàn lâm Hoàng gia, Tổng Giám mục xứ Canterbury, và Thống đốc Ngân hàng Anh—ai mà dám to gan quấy rầy sự tĩnh tâm của những nhân vật tầm cỡ ấy chỉ để dò hỏi xem một người bạn nữ của họ có đủ tư cách đoan chính hay chăng?
“Họ đều biết tôi từ thuở tôi còn bé xíu,” bà Fisher nói—dường như ai nấy cũng đều biết bà Fisher từ khi hoặc vào cái thời bà còn thơ bé.
“Tôi không nghĩ người bảo lãnh lại là thứ hay ho gì giữa... giữa những người phụ nữ đàng hoàng đứng đắn với nhau,” bà Wilkins bỗng bộc phát, sự đường cùng đã tiếp thêm cho bà chút bạo dạn; bởi bà thừa biết người duy nhất bà có thể nêu tên làm bảo lãnh mà không rước họa vào thân là tiệm Shoolbred, mà chỗ đó thì bà chẳng mấy tin tưởng, vì uy tín của bà ở đấy hoàn toàn dựa trên việc mua cá cho Mellersh. “Chúng ta đâu phải dân làm ăn buôn bán. Việc gì chúng ta phải ngờ vực lẫn nhau—”
Bà Arbuthnot tiếp lời, bằng một vẻ tôn nghiêm nhưng vẫn đượm nét dịu dàng: “Tôi e rằng chuyện người bảo lãnh sẽ mang lại bầu không khí không mấy phù hợp cho chuyến nghỉ dưỡng của chúng tôi, và tôi nghĩ chúng tôi sẽ không cần kiểm tra danh sách của bà, cũng như sẽ không đưa ra người bảo lãnh nào từ phía chúng tôi cả. Vậy nên tôi đồ rằng bà sẽ không muốn tham gia cùng chúng tôi nữa.”
Và bà chìa tay ra nói lời từ biệt.
Thế rồi bà Fisher, sau khi chuyển ánh nhìn sang bà Arbuthnot—người luôn gợi lên niềm tin cậy và thiện cảm ngay cả với các nhân viên tàu điện ngầm—chợt cảm thấy mình sẽ thật ngu xuẩn nếu bỏ lỡ cơ hội sang Ý trong những điều kiện thuận lợi đến thế, và tin rằng bà cùng người phụ nữ có vầng trán điềm đạm này dư sức ghìm cương người kia mỗi khi cô ta lên cơn. Thế là bà nắm lấy bàn tay bà Arbuthnot đang chìa ra và nói: “Được rồi. Tôi bỏ qua chuyện người bảo lãnh.”
Bà ấy bỏ qua chuyện người bảo lãnh.
Trên đường rảo bước ra ga ở Phố Kensington High, hai người họ không khỏi cảm thấy cách nói ấy nghe thật trịch thượng. Ngay cả bà Arbuthnot, người vốn chẳng tiếc lời bào chữa cho những thiếu sót của người khác, cũng nghĩ lẽ ra bà Fisher có thể chọn những từ ngữ khác; còn bà Wilkins, khi đến được nhà ga sau một hồi đi bộ và chen lấn toát mồ hôi trên vỉa hè đông đúc đầy những ô dù, đã thực sự đề xuất chuyện bỏ qua luôn bà Fisher.
“Nếu có ai phải bỏ qua ai, thì người bỏ qua nhất định phải là chúng ta mới đúng,” bà hăng hái nói.
Nhưng bà Arbuthnot, như thường lệ, vẫn giữ chặt lấy bà Wilkins; và chẳng bao lâu sau, khi đã hạ hỏa trên chuyến tàu, bà Wilkins liền tuyên bố rằng khi đến San Salvatore, bà Fisher rồi sẽ biết thân biết phận mình ở đâu. “Tôi thấy rõ cảnh bà ta biết thân biết phận ở đó rồi,” bà nói, đôi mắt sáng rực lên.
Nghe vậy, bà Arbuthnot ngồi với đôi bàn tay lặng lẽ đan vào nhau, bụng thầm nghĩ xem làm cách nào tốt nhất để giúp bà Wilkins bớt nhìn thấy quá nhiều điều đến thế; hoặc ít ra, nếu cứ nhất thiết phải nhìn thấy, thì hãy nhìn thấy trong câm lặng.