Tại Sao Phương Tây Vượt Trội

Lượt đọc: 129 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8 Trở thành toàn cầu
Ba điều lớn lao

❊ ❊ ❊

Mọi thứ về Trung Hoa đều làm Marco Polo kinh ngạc. Cung điện đẹp nhất thế giới, và các nhà cai trị là những người giàu nhất. Những con sông chứa nhiều thuyền bè hơn tất cả các vùng biển các nước theo Ki-tô giáo hợp lại, vận chuyển lương thực đến các thành phố nhiều hơn một người châu Âu có thể tưởng tượng. Và thực phẩm đó là gì, tinh tế đến mức người châu Âu khó mà tin được. Những thiếu nữ Trung Hoa nổi trội về đức tính khiêm cung và đoan trang, những người vợ Trung Hoa như những thiên thần; và người ngoại quốc nếu đã từng được những kỹ nữ hạng sang ở Hàng Châu tiếp đãi thì hẳn sẽ không bao giờ quên họ được. Tuy nhiên, điều ngạc nhiên nhất là nền thương mại của Trung Hoa. Marco kể lại: “Với tất cả sự trung thực, tôi có thể nói với bạn rằng việc kinh doanh… ở quy mô to lớn đến mức không ai nghe kể về nó mà chưa tận mắt nhìn thấy có thể tin được.”❖

Chính điều đó lại trở thành vấn đề. Khi Marco quay trở lại Venice vào năm 1295, những người xúm đến để nghe kể lại những mẩu chuyện của ông quả thực không tin chúng chút nào.⦾ Mặc dù đôi khi cũng có những điều kỳ quặc, chẳng hạn như quả lê nặng đến 4,5kg, miêu tả của Marco khá phù hợp với những gì chúng ta thấy ở Hình 8.1. Khi ông sang Trung Hoa, phát triển xã hội ở đó đã bỏ xa phương Tây.

Hình 8.1. Khoảng cách thu hẹp trong một thế giới đang co hẹp: thương mại, du lịch, và những thời kỳ hỗn loạn giúp Đông và Tây xích lại gần nhau một lần nữa.

Tuy nhiên, có ba điều lớn lao mà Marco Polo không biết khi ông lấy làm ngạc nhiên về phương Đông. Thứ nhất, sự dẫn đầu của nó đã thu hẹp lại, từ gần 12 điểm về chỉ số phát triển xã hội trong năm 1100 xuống còn dưới 6 điểm vào năm 1500. Thứ hai, kịch bản dự kiến ở cuối Chương 7 – rằng việc các nhà sản xuất đồ sắt và chủ nhà máy sẽ bắt đầu một cuộc cách mạng công nghiệp và giải phóng sức mạnh của nhiên liệu hóa thạch – đã không xảy ra. Nếu Marco thán phục hòn đá đen cháy trong đáy lò ở Trung Hoa như thế nào thì ông cũng ngưỡng mộ những con cá béo ngậy và đồ sành sứ Trung Hoa nhiều như thế. Vùng đất mà ông mô tả, với tất cả những điều kỳ diệu của nó, vẫn còn giữ một nền kinh tế truyền thống. Và thứ ba, sự việc Marco Polo có mặt đó chính là một dấu hiệu cho những điều sắp xảy tới. Người châu Âu đang trên đường di chuyển. Vào năm 1492, một người Italy khác, Christopher Columbus, khi đặt chân lên bờ biển châu Mỹ vẫn cứ tin rằng mình đã đến Trung Hoa cho đến lúc nhắm mắt, mãi đến năm 1513, người anh em họ của Columbus, Rafael Perestrello, mới chỉnh lại sự hiểu lầm của gia đình bằng cách trở thành người châu Âu đầu tiên dong thuyền đến Trung Hoa.

Ba thế kỷ qua đi từ cuộc đổ bộ của Columbus và phương Tây giành lại vị trí dẫn đầu về chỉ số phát triển xã hội từ phương Đông. Giai đoạn dài được đề cập ở chương này không phải là sự kết thúc của thời kỳ phương Đông. Nó cũng không phải là sự khởi đầu của một kết thúc. Nhưng không nghi ngờ gì nữa, nó chính là kết thúc của một khởi đầu.

Dòng giống quỷ dữ

Khai Phong, ngày 9 tháng 1 năm 1127.

Các bức tường thành chao đảo dưới tiếng kêu răng rắc của những súc gỗ công thành và tiếng nổ của hỏa pháo. Không ai nhìn thấy những gì đang diễn ra trên tuyết dày ngoại trừ những binh lính Trung Hoa trên tường thành đang bắn tên sắt từ những chiếc nỏ khổng lồ và phun chất cháy nổ vào bóng tối với hy vọng đánh sập những tháp công thành đang tiến đến gần họ. Ba nghìn người từ Đế chế Nữ Chân (Jurchen), mối đe dọa mới nhất ở vùng biên giới phía bắc Trung Hoa, đã rơi rụng trong cuộc công thành đầu tiên – một số bị đốt cháy, số khác do bị ném đá, bị tên bắn – nhưng những kẻ tấn công vẫn thu gom xác chết và tập trung lại. Họ đã quá quen với những điều còn tồi tệ hơn nữa.

Bên trong tường thành chỉ có khoảng 100 người lính ngã xuống, và những xác chết rải rác này cũng không làm giảm nhuệ khí của binh lính phòng thủ. Nhưng các quan lại tự động tan hàng cùng những tin đồn lây lan, và sự việc xảy ra quá nhanh, tiếng ầm ào của tháp công thành quay trở lại và tiếng rít rợn người của vô số mũi tên bắn vào thành. Chúng ta không biết chính xác cơn hoảng loạn bắt đầu như thế nào, nhưng đột nhiên hàng chục ngàn người lính tràn khỏi những lỗ châu mai trên tường thành, tuyệt vọng tìm đường thoát. Kẻ thù đã vào trong thành, cướp bóc, đốt phá, hãm hiếp và giết chóc. Nhiều phi tần trong cung tự trầm để khỏi nhận những tai ương trước mắt, nhưng vị hoàng đế chỉ chờ đợi để bị giam vào ngục tối.

Sự sụp đổ của kinh đô Khai Phong là một vết thương tự tạo. Dù có sự bùng nổ kinh tế ở thế kỷ XI, nhưng cuộc chiến tranh bất tận của triều Tống chống lại người Khiết Đan ở vùng biên giới phía bắc làm nền tài chính liên tục cạn kiệt và khiến các hoàng đế luôn phải tìm kế sách giải quyết những chi phí. Do đó, vào năm 1115, dân man Nữ Chân ở vùng Mãn Châu đề nghị giúp đánh người Khiết Đan, Hoàng đế Huy Tông liền chấp nhận (Hình 8.2). Lẽ ra ông phải lo rằng bộ tộc Nữ Chân vốn xuất thân từ nông dân ở vùng hoang mạc rồi sẽ trở thành những kỵ binh đáng sợ chỉ trong vòng 20 năm, nhưng ở đây thì không. Tống Huy Tông là người sành sỏi âm nhạc, một họa sĩ khá nổi tiếng, và là một nhà thư pháp thiên tài, nhưng không phải một nhà chính trị, đồng thời những cố vấn của ông chủ yếu chỉ ưa kiểu chính trị bàn giấy hơn đối mặt với những vấn đề nan giải. Với việc ủng hộ người Nữ Chân, Tống Huy Tông đã tạo ra một con quái vật, đầu tiên nuốt chửng người Khiết Đan và sau đó là chính ông. Đúng ra nó cũng nuốt luôn những tàn dư tuyệt vọng của triều đình nhà Tống, nếu những người này không lên thuyền chạy trốn. Chỉ trong năm 1141, một ranh giới đã được dựng lên giữa người Nữ Chân, bấy giờ đang thống lĩnh miền Bắc Trung Hoa, và một nước Tống-bị-thu-hẹp đặt kinh đô mới ở Hàng Châu.⦾

Sự sụp đổ của thành Khai Phong và tiếp đó là việc gián đoạn thương mại Bắc-Nam đồng nghĩa với sự phát triển xã hội hầu như không tăng trưởng ở thế kỷ XII. Tuy nhiên, dù trì trệ, sự phát triển vẫn không sụp đổ hẳn; Khai Phong nhanh chóng phục hồi từ nạn cướp phá, thậm chí còn trở thành kinh đô Nữ Chân trong một giai đoạn, và Hàng Châu thì phát triển thành một đô thị gây ấn tượng mạnh với Marco Polo.

Hình 8.2. Hậu quả của việc tạo ra những con quái vật: Đế chế Nữ Chân và nhà Tống vào năm 1141. Các khu vực được chấm hiển thị các bãi than chính của Trung Hoa.

Các mỏ than ở miền Nam Trung Hoa không phong phú như ở miền Bắc, nhưng chúng rất nhiều, và những nhà công nghiệp thế kỷ XII đã học được cách sử dụng than tạp rẻ hơn để sản xuất sắt và cả phương pháp chiết xuất đồng từ phó phẩm khi chế biến sắt. Giao thương, tiền giấy, nhiên liệu hóa thạch, và sản xuất công nghiệp vẫn tăng trưởng, và vào năm 1200 một sự cất cánh của nền công nghiệp Trung Hoa vẫn có khả năng xảy ra như một thế kỷ trước đó.

Điều đã làm đảo lộn tất cả chính là một nhân vật tàn bạo ở vùng thảo nguyên tên Thiết Mộc Chân (Temujin). Sinh ra ở vùng Mông Cổ giá lạnh vào năm 1162, Thiết Mộc Chân xuất thân từ một gia đình cực kỳ bất hạnh. Cha của ông, Dã Tốc Cai (Yesugei), bắt cóc mẹ của ông, Ha Nguyệt Luân (Hoelun), vợ mới cưới của một người khác, làm bà có thai, và lấy tên người chồng bị giết đặt cho cậu bé này. Cha mẹ của Thiết Mộc Chân xa cách nhau đến nỗi có lần họ quên luôn ông khi chuyển trại, bẵng đi một năm mới trở lại tìm. Sau khi hứa hôn cho Thiết Mộc Chân lúc mới tám tuổi, Dã Tốc Cai bị mưu sát (có lẽ không phải trước thời gian đó) và những người cùng bộ tộc với ông ta đuổi bà Ha Nguyệt Luân ra khỏi bộ tộc, cướp súc vật của bà, để bà phải đói khát. Thiết Mộc Chân phải vội về nhà săn bắt giúp mẹ. Ông cũng giết người anh cùng cha khác mẹ, người có quyền kết hôn với mẹ ông theo luật bộ tộc. Sau đó, Thiết Mộc Chân bị bán làm nô lệ, và khi ông bỏ trốn thì hôn thê của ông lại bị bắt cóc, khi đó có lẽ đã mang thai với một người đàn ông khác. Thiết Mộc Chân đuổi theo giết hết những kẻ bắt cóc để cướp lại nàng.

Thiết Mộc Chân là một con người cứng rắn, vì nếu không thì người Mông Cổ hẳn sẽ không đặt cho ông danh hiệu Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan⦾ – Vị Vua Dũng Cảm – và hẳn ông đã không trở thành người chinh phục vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Không phải nhờ đến một nhà trị liệu ta mới biết rằng con đường dẫn đến quyền lực của ông (qua việc săn đuổi và giết người anh em kết nghĩa Trát Mộc Hợp (Jamuka),⦾ làm chuyển biến những xung đột giữa các bộ tộc Mông Cổ bằng cách lờ đi quan hệ họ hàng, và chống lại những người tranh cãi, luôn gạt bỏ ý kiến của những người con nghiện rượu, hay cãi cọ trong mọi cuộc tranh luận) dính dáng đến những trải nghiệm trong gia đình thuở thiếu thời.

Về mặt nào đó, trên vùng thảo nguyên không có biến chuyển gì trong suốt 2.000 năm. Giống như những thủ lĩnh bộ tộc trước đây, động lực thúc đẩy Thành Cát Tư Hãn một phần đến từ sự sợ hãi (của Trung Hoa) và một phần là do thèm muốn (sự giàu có của nó). Những động lực này thúc đẩy ông cướp bóc đế chế của người Nữ Chân ở miền Bắc Trung Hoa và dùng của cải cướp được để hối lộ các thủ lĩnh Mông Cổ khác theo ông. Tuy nhiên, theo những cách khác, đã có một thay đổi vĩ đại, ngay cả khi một hãn vương cũng không thể vượt lên quy luật lịch sử rằng, bạn không thể “tắm hai lần trên cùng một dòng sông.” Trong một phần hai thiên niên kỷ, những người định cư Trung Hoa, Islam giáo và Ki-tô giáo đã đẩy các thị trấn, thủy lợi, và cày bừa đến tận vùng thảo nguyên. Nông dân lấy đất của dân du mục, nhưng dân du mục lại học được từ nông dân những kiến thức về vũ khí và phương pháp trồng trọt.

Việc trao đổi này có lợi hơn cho dân du mục. Một lần nữa, những thuận lợi của sự lạc hậu lại xuất hiện, và Thành Cát Tư Hãn – người sáng chói nhất trong số những thủ lĩnh du mục – đã học hỏi cách kết hợp những kỹ sư đô thị vào các đội quân kỵ của ông ta xuất sắc đến mức ông có thể đột chiếm bất kỳ thành lũy nào hay đánh bại bất kỳ đội quân nào một cách dễ dàng. Ông ta cướp bóc suốt một dải từ Thái Bình Dương đến tận sông Volga trước khi chết vào năm 1227 (Hình 8.3), quét sạch mọi chướng ngại trên đường “như những dòng chữ bị xóa đi trên giấy,” theo một nhân chứng người Ba Tư. Sau khi người Mông Cổ đi qua, “những ngôi nhà thành nơi ẩn náu của cú và quạ; nơi những con cú than khóc gọi bầy, và tiếng gió rên rỉ bên trong.”❖

Thành Cát Tư Hãn không cần đến chỉ số phát triển xã hội cũng biết Trung Hoa là mạch nguồn cướp bóc. Đến nay có thể nói rằng ông ta dự định cướp hết mọi thứ, đẩy những người nông dân ra khỏi đất đai và chuyển đổi toàn bộ miền Bắc Trung Hoa thành những đồng cỏ dự trữ mùa đông cho những con ngựa chiến của mình. Năm 1215, ông đã phá hủy hơn 90 thành phố và thiêu rụi Bắc Kinh suốt một tháng. Tuy nhiên, sau cái chết của ông vào năm 1227, những khuyên bảo sáng suốt hơn (của người Trung Hoa) đã thắng thế, cho rằng cứ để người nông dân ở trên đất của mình thì họ sẽ đóng thuế tốt hơn.

Một cơ hội để thử nghiệm chính sách mới nhanh chóng xuất hiện. Không nao núng vì mối liên minh giữa Tống Huệ Tông với người Nữ Chân để chống lại người Khiết Đan kết thúc với việc người Nữ Chân cướp phá Khai Phong và giam giữ hoàng đế, năm 1234 vị vua mới của Tống triều đề xuất một liên minh tương tự với Mông Cổ chống lại người Nữ Chân. Kết quả thậm chí còn tồi tệ hơn: người Mông Cổ nuốt trọn vương quốc Nữ Chân và đẩy quân đội Trung Hoa đến bờ vực sụp đổ.

Chỉ những nét đặc trưng của nền chính trị Mông Cổ mới giữ cho nhà Tống khỏi bị sụp đổ vào những năm 1930. Khi Thành Cát Tư Hãn băng hà vào năm 1927, người con thứ ba Oa Khoát Đài (Ögödei) thay ông làm Đại hãn, nhưng các cháu nội của Thành Cát Tư Hãn lập tức bắt đầu vận động để giành quyền kế thừa ngôi Đại hãn của Oa Khoát Đài. Một số lo lắng rằng nếu để Oa Khoát Đài chinh phục Trung Hoa, quyền lực của ông sẽ mạnh thêm và ông sẽ ủng hộ con mình trong cuộc chiến giành quyền thừa kế, nên gây áp lực để các thủ lĩnh Mông Cổ ủng hộ một chiến dịch hành quân về phía tây xa xôi thay vì tấn công Trung Hoa. Vào năm 1237, họ theo kế hoạch này, đoàn quân Mông Cổ đột ngột chuyển hướng về phía tây.

Rõ ràng người châu Âu không biết kẻ nào đã tấn công mình. Theo Matthew Paris, nhà chép sử người Anh, đội quân xâm lược này hoàn toàn bí ẩn. Ông viết: “Chưa từng có bất kỳ phương thức nào để tiếp cận họ, và họ cũng không tự phô bày để cho phép bất kỳ ai hiểu được về phong tục hay con người của họ qua mối quan hệ thông thường với những người khác.” Qua việc diễn giải không chính xác tên gọi Tatar (Thát Đát, một trong những thuật ngữ chỉ người Mông Cổ) như một ám chỉ đến Tartarus, tên Hy Lạp cổ đại để chỉ Địa ngục, và Matthew tự hỏi phải chăng họ là “một đám đông những kẻ thuộc chủng loài đáng ghê tởm của Satan.”

Hình 8.3. Nơi những người du cư đi lang thang: ranh giới của Đế quốc Mông Cổ khi Thành Cát Tư Hãn qua đời năm 1227 và (những đường đứt đoạn) những cuộc chiến mà các con trai và cháu của ông tiến hành từ lúc đó đến năm 1294.

Rồi ông suy đoán có lẽ họ là những Bộ Tộc Lưu Lạc của người Do Thái sau cùng đã về lại quê nhà. Mặc dù thừa nhận rằng người Mông Cổ không nói được tiếng Hebrew và dường như không biết gì về Luật của Moses, Matthew cho rằng suy đoán này hẳn phải đúng: lạc lối trước khi Moses tiếp nhận Mười điều răn của Chúa (Ten Commandments), đó là những người Do Thái

thừa nhận các vị thần và phong tục xa lạ, do đó giờ đây ở một khía cạnh đáng kinh ngạc, do sự trả thù của Chúa, họ không được mọi quốc gia khác biết đến, đồng thời trái tim và ngôn ngữ của họ đều bị lẫn lộn, và cuộc sống của họ cũng biến thành cuộc sống của loài vật tàn ác và vô tri.

Một số người Ki-tô giáo đi đến kết luận rằng sự bảo vệ hợp lý chống lại những Bộ Tộc Lưu Lạc của người Do Thái là phải thảm sát người Do Thái địa phương, nhưng điều này lại nảy sinh những kết quả có thể lường trước. Người Mông Cổ đánh tan các hiệp sĩ Đức và Hungary tập trung lại và cho kỵ binh trinh sát tận Vienna. Nhưng rồi – cũng bất ngờ như khi bỏ lại Trung Hoa ở đằng sau, họ quay ngựa lại, dồn tất cả tù nhân về tận vùng Nội Á. Lý do chính cho cuộc công kích vào châu Âu là nhằm tác động đến việc thừa kế ngôi Hãn, và khi Oa Khoát Đài qua đời vào ngày 11 tháng 12 năm 1241, châu Âu đột nhiên mất đi tầm quan trọng.

Khi người Mông Cổ nhắm vào phương Tây một lần nữa, điều hợp lý là họ đã chọn một mục tiêu giàu có hơn, vùng lõi Islam giáo. Họ phải mất hai tuần mới chọc thủng được tường thành kinh đô Baghdad, vào năm 1258. Họ bỏ đói vị caliph cuối cùng trong ba ngày, sau đó ném ông ta vào một đống vàng và bắt phải ăn chúng. Dĩ nhiên ông ta không làm được và ông cùng những người thừa kế của mình bị người Mông Cổ cuốn vào tấm thảm rồi giẫm đạp cho đến chết.⦾

Cuối cùng một đội quân Ai Cập cũng chặn được người Mông Cổ trên bờ biển của Biển hồ Galilee (Sea of Galilee) vào năm 1260, nhưng vào lúc đó, cơn thịnh nộ của họ đã đặt dấu ấn lên hai thế kỷ suy thoái kinh tế ở các vùng trung tâm Islam giáo cổ xưa gồm Iran, Iraq và Syria. Tuy nhiên, tác động lớn nhất của Mông Cổ đối với phương Tây lại chính là những điều họ không thực hiện. Do họ không cướp phá Cairo nên nó vẫn là thành phố giàu nhất và lớn nhất của châu Âu, và vì họ không xâm chiếm Tây Âu nên Venice và Genoa vẫn là những trung tâm thương mại lớn nhất ở phương Tây. Sự phát triển ở vùng lõi cũ của Islam giáo bị sụp đổ nhưng vẫn tiếp tục tăng ở Ai Cập và Italy, và vào những năm 1270, khi Marco Polo lên đường sang Trung Hoa, thì vùng lõi phương Tây đã chuyển hướng một cách dứt khoát vào các vùng đất Địa Trung Hải mà Mông Cổ đã chừa lại.

Người Mông Cổ hoàn toàn từ bỏ cuộc chiến tranh với phương Tây khi một Đại hãn nữa qua đời, và Hốt Tất Liệt (Khubilai), người kế nhiệm, được nhà thơ người Anh Coleridge biến thành bất tử qua những vần thơ cuồng loạn mô tả cung điện của ông ở Thượng Kinh (Xanadu)⦾ (“Ồ, mái vòm rực nắng! Ồ, những hang bằng!”❖) cuối cùng cũng quyết định dứt điểm ở Trung Hoa. Đó là cuộc chiến khó khăn nhất của người Mông Cổ, và sự tàn phá cũng lớn nhất. Phải mất đến năm năm vây hãm thành Tương Dương kiên cố mới phá được thành này và làm tan rã sức kháng cự của Trung Hoa, và vào lúc Hốt Tất Liệt đuổi theo vị hoàng đế thiếu niên cuối cùng của nhà Tống ra biển vào năm 1279, thì cơ sở hạ tầng phức tạp suýt đưa Trung Hoa đến một cuộc cách mạng công nghiệp cũng bị tan rã. Phát triển xã hội ở phương Đông ở vào tình trạng rơi tự do.

Chắc hẳn các thảm họa tự nhiên cũng góp phần vào điều này. Sau khi phục hồi từ cuộc cướp phá của người Nữ Chân, sự suy trầm thực sự của thành Khai Phong bắt đầu khi đê Hoàng Hà bị vỡ vào năm 1194, phá hủy những kênh rạch nuôi sống thành phố, đưa than vào và xuất sản phẩm đi. Trước đây Hoàng Hà cũng đã nhiều lần gây lụt lội; nhưng giờ đây có sự khác biệt lớn lao là sự tàn phá của người Mông Cổ đã khuếch đại sự tàn bạo của thiên nhiên. Trong thập niên 1230, nạn đói và dịch bệnh nối tiếp quân đội Mông Cổ cướp đi sinh mạng một triệu người quanh thành Khai Phong và thậm chí ở Tứ Xuyên còn nhiều hơn, và trong những năm 1270 thiệt hại về người thậm chí còn cao hơn nữa. Nhìn chung, bốn kỵ sĩ trong Sách Khải huyện đã rình rập Trung Hoa vào thế kỷ XIII – nạn di dân, nhà nước sụp đổ, đói kém và bệnh tật – có thể làm giảm đi khoảng ¼ dân số. Mặc cho sự kinh ngạc của Marco Polo, Trung Hoa không còn đạt được kỳ vọng cất cánh công nghiệp vào năm 1290. Trên thực tế, khoảng cách giữa Đông và Tây đã đóng lại.

Súng, vi trùng và gang

Khi phát triển xã hội phương Đông suy giảm trước đó, từ thế kỷ I đến thế kỷ IV, nó từng là một phần của nghịch lý Âu-Á. Việc phát triển xã hội gia tăng mạnh mẽ ở thiên niên kỷ thứ nhất TCN đã làm khoảng cách giữa các vùng lõi rút ngắn lại, và chỉ một nhúm lữ khách, thương nhân và những kẻ cướp bóc cũng đủ tạo ra các vùng tiếp xúc chồng lấn giữa vùng thảo nguyên và Ấn Độ Dương. Cựu Thế Giới này không chỉ là kết quả của sự phát triển ngày càng gia tăng mà còn khởi phát những thế lực có thể làm suy yếu sự phát triển, và khi vùng lõi phương Tây không vượt được trần chỉ số cứng quanh 43 điểm, thì những kỵ sĩ trong Sách Khải huyền đã kéo cả hai vùng lõi đi xuống.

Vào thế kỷ IX, sự phát triển của phương Đông đã hồi phục đủ để khởi đầu một sự Trao đổi lần hai của Cựu Thế giới. Những thương nhân, nhà truyền giáo, và người nhập cư băng qua các vùng thảo nguyên và Ấn Độ Dương để một lần nữa xây dựng các vùng tiếp xúc chồng lấn (Hình 8.4). Trong những năm ấu thơ của Thành Cát Tư Hãn, các thương nhân không chỉ đem theo những mặt hàng xa xỉ như gia vị và lụa mà còn cả một khối lượng thực phẩm vượt Ấn Độ Dương, lớn đến mức thậm chí cả người La Mã cũng phải ganh tị, và từ eo biển Hormuz ở Vịnh Ba Tư đến Majapahit ở Java nở rộ các thành phố buôn bán quốc tế.

Cuộc chinh phục các vùng thảo nguyên của người Mông Cổ đã đem lại sự ổn định cho con đường huyết mạch Đông-Tây thứ hai, và theo ghi chép thì Đại hãn Oa Khoát Đài, háo hức muốn biến kinh đô mới xây dựng tại Karakorum thành một đô thị hoàng gia xứng đáng, đã lôi kéo các thương nhân bằng cách trả thêm 10% giá trị hàng hóa của họ. Học giả Ba Tư Rashid al-Din viết như sau: “Hằng ngày sau khi dùng bữa, Đại hãn ngự trên một chiếc ngai ngoài triều, nơi đủ loại hàng hóa từ khắp nơi trên thế giới chất thành từng đống.”❖

Đến theo giới thương nhân là các giáo sĩ được thu hút bởi thái độ thoải mái của người Mông Cổ về tôn giáo. Vị Hãn vương kế vị Oa Khoát Đài nói với một người Ki-tô giáo như sau: “Do Đức Chúa Trời ban tặng con người nhiều ngón khác nhau trên một bàn tay, nên Ngài cũng ban tặng cho họ nhiều tôn giáo khác nhau.”❖ Do hiếu kỳ về những tôn giáo này, vào năm 1254, vị Hãn này quyết định tổ chức một cuộc tranh luận công khai giữa các tín đồ Phật giáo, Islam giáo, và Ki-tô giáo. Chỉ có ở Karakorum mới có thể diễn ra điều này.

Một đám đông hùng hậu đã tụ tập để theo dõi các học giả tranh luận, nhưng thử nghiệm này không đem lại kết quả gì. Theo truyền thống Mông Cổ, những luận gia được phục vụ sữa ngựa lên men giữa các vòng tranh luận, và ngày qua ngày, những tranh cãi của họ bị mất tập trung. Các kỹ năng biện chứng của họ bị cùn nhụt bởi men rượu, người theo Ki-tô giáo thì sa đà với những bài tụng ca. Người Islam giáo đáp lại bằng cách ngân nga những vần thơ trong Kinh Koran, và người theo đạo Phật thì lui vào thiền định. Cuối cùng, do quá chén, những người theo Ki-tô giáo và Islam giáo cũng theo gương của họ.

Hình 8.4. Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới Thứ hai: tám khu vực thương mại và đi lại chồng lấn đem lại tiến bộ và thảm họa từ đầu này sang đầu kia lục địa Á-Âu.

Bất chấp sự thất bại của cuộc đối thoại liên tôn giáo, người phương Tây vẫn tiếp tục đến. Các thương nhân Islam giáo vận chuyển hàng hóa phương Đông đến Caffa ở bán đảo Crimea bán cho người Italy, rồi người Italy chẳng những bán chúng cho người châu Âu ở phía bắc (lụa Trung Hoa xuất hiện đầu tiên ở thị trường Pháp năm 1257) mà còn đi cùng hàng hóa của họ đến tận nguồn. Những người chú của Marco Polo rời Caffa năm 1260 và tiếp tục di chuyển cho đến khi họ đến Bắc Kinh, sau đó thực hiện chuyến hành trình thứ hai vào năm 1274 với chàng trai trẻ Marco Polo đi cùng. Những nhà truyền giáo theo sau, và năm 1305, một thầy dòng Ki-tô giáo vừa mới đến Bắc Kinh có thể khoe rằng Tuyến đường Thảo nguyên nhanh hơn và an toàn hơn tuyến đường biển.

Cuộc Trao đổi lần đầu của Cựu Thế Giới đã căng một sợi chỉ mỏng manh như tơ nhện từ đầu này sang đầu kia lục địa Âu-Á, nhưng Cuộc Trao đổi lần hai mới tạo ra một mạng lưới thực sự, với đủ hạng người di chuyển qua hai đầu lục địa, biến những thế kỷ sau năm 1100 thành thời kỳ thực sự đầu tiên của việc chuyển giao kỹ thuật. Điều này vận hành hầu như với lợi thế hoàn toàn thuộc về phương Tây lạc hậu. Hiển nhiên có một điều khá lạ lùng là xe cút kít được phát minh ở Trung Hoa vào khoảng thế kỷ I nhưng mãi đến năm 1250 nó mới đến được châu Âu, trong khi những chiếc đai ngựa, được sử dụng ở Trung Hoa từ thế kỷ V lại đến đó cùng lúc.

Tuy vậy, chuyển giao kỹ thuật quan trọng nhất vẫn là những công cụ bằng sắt rẻ tiền. Chúng xuất hiện ở Trung Hoa vào thế kỷ VI TCN và trở nên phổ biến vào thế kỷ I. Người Ả Rập biết đến gang vào thế kỷ XI, nhưng người châu Âu thì phải đến năm 1380. Nếu bạn từng cố xúc đất mà không có cuốc và xẻng thì mới thấy được sự khác biệt do điều này tạo ra. Một lần khi tôi còn là sinh viên mới tốt nghiệp tham gia một cuộc khai quật ở Hy Lạp, chìa khóa kho để dụng cụ bị mất và chúng tôi phải đào bới mà không có dụng cụ bằng sắt. Đất mới rắn và nặng làm sao khi đào bới theo kiểu người châu Âu trước năm 1380. Tôi có thể bảo đảm rằng Cuộc Trao đổi lần hai của Cựu Thế giới đã cách mạng hóa việc nắm bắt năng lượng ở phương Tây.

Công nghệ thông tin cũng thế. Những người thợ thủ công Trung Hoa đầu tiên chế ra giấy từ vỏ cây dâu năm 105, và bột giấy đã phổ biến khoảng năm 700. Người Ả Rập học nghề làm giấy khoảng năm 750 (nghe đâu là từ những thợ làm giấy Trung Hoa bị bắt giữ ở Trung Á) nhưng người Italy chỉ bắt đầu mua giấy từ họ sau năm 1150 và tự làm ra vào năm 1276. Đến lúc đó, những nhà in Trung Hoa đã dùng mộc bản để in sách giấy được năm thế kỷ và sử dụng hệ thống sắp chữ động (movable type) được hai thế kỷ; người châu Âu chỉ vay mượn hoặc sửa đổi lại bản khắc gỗ khoảng năm 1375 và hệ thống sắp chữ động khoảng năm 1430. Những sáng tạo của người Trung Hoa và Ấn Độ trong việc sử dụng đòn bẩy và thiết bị lái cũng chuyển sang phía tây, qua tay người Ả Rập vào Địa Trung Hải vào cuối thế kỷ XII.

Cùng với các kỹ thuật cổ xưa như xe cút kít, người phương Tây cũng tiếp thu được những tiến bộ mới nhất. La bàn nam châm, lần đầu tiên được đề cập trong một văn bản Trung Hoa năm 1119, đã đến với người Ả Rập và châu Âu vào năm 1180, và vũ khí còn đi nhanh hơn. Trong suốt cuộc xâm lăng Trung Hoa của người Mông Cổ vào thế kỷ XIII, những thợ thủ công phương Đông đã học được cách làm cho thuốc súng bị oxy hóa nhanh đến mức nó sẽ nổ chứ không chỉ đốt cháy và bắt đầu sử dụng thủ thuật mới này để phóng tên từ ống tre. Khẩu súng cổ xưa nhất, một ống đồng dài ⅓m, được phát hiện ở vùng Mãn Châu có thể bắn đạn chì – có thể có niên đại khoảng năm 1288. Vào năm 1326, chỉ khoảng một thế hệ sau, một bản thảo ở Florence mô tả một khẩu súng chế từ đồng thau, và những bản vẽ trong một bản thảo Oxford xuất hiện một năm sau đó minh họa hai khẩu thần công, tuy còn thô sơ nhưng không thể lẫn vào đâu được. Liền ngay sau đó, người Ả Rập đầu tiên sử dụng súng trong cuộc chiến ở Tây Ban Nha vào năm 1331. Có khả năng người châu Âu trực tiếp biết về súng ống từ những người Mông Cổ vùng thảo nguyên và sau đó truyền lại cho người Islam giáo Tây Ban Nha. Phải mất thêm một thế hệ nữa, đến năm 1360, để những loại vũ khí mới gây tiếng nổ lớn này tìm đường trở về Ai Cập.

Trong vài thế kỷ kế tiếp, súng đạn đã thay đổi nhiều ở phương Tây, nhưng nếu có thể đi nữa thì món hàng quan trọng nhất đang được luân chuyển ở Cuộc Trao đổi lần hai của Cựu Thế Giới, cũng như ở lần đầu vẫn là vi trùng. Sử gia người Ả Rập Ibn Khaldun đã viết như sau: “Nền văn minh của cả phương Đông và phương Tây đã bị một trận đại dịch ghé qua, tàn phá các quốc gia và làm cho nhiều cộng đồng người biến mất. Nó nuốt chửng nhiều điều tốt đẹp của nền văn minh và xóa sạch chúng.”❖ Đó là sự xuất hiện của Cái Chết Đen (Black Death).⦾

Bệnh dịch hạch có lẽ đã phát triển ở khu vực Đông Á và Bắc Á rồi lây lan dọc theo Con đường Tơ lụa. Một học giả Ả Rập (chính ông cũng chết vì căn bệnh này) nói rằng nó khởi phát ở vùng thảo nguyên vào khoảng năm 1331, và trong cùng năm đó, một dịch bệnh đã hoành hành ở vùng trung tâm đồng bằng sông Dương Tử, được kể lại là đã làm cho cứ mười người thì chết đến chín người. Chúng ta không biết liệu đây có phải là loại khuẩn hình que đã tàn phá lục địa Âu-Á trong hai thập niên tiếp theo hay không, nhưng hầu như chắc chắn là có một bệnh dịch được nhắc đến trên những bia mộ của người Mông Cổ vào năm 1338 và 1339. Kể từ năm 1340, chúng ta mất dấu vết của nó trong một vài thập niên; sau đó đột ngột xuất hiện ở khắp mọi nơi trong cùng một thời điểm. Bệnh tật lan tràn ở bờ đông Trung Hoa vào năm 1345, và năm sau một đội quân Mông Cổ mang bệnh dịch đến Caffa ở bán đảo Crimea,⦾ thành phố mà từ đó những người chú của Marco Polo đã rời đến Bắc Kinh gần một thế kỷ trước. Sự Trao đổi lần hai của Cựu Thế giới đã vận hành đủ một chu kỳ.

Năm 1347, các thương nhân truyền bệnh dịch hạch đến tất cả các bến cảng ở vùng Địa Trung Hải. Từ Anh đến Iraq, các triệu chứng kinh điển của bệnh dịch hạch thể hiện rõ – một nhà chép sử người Pháp ghi nhận vào năm 1348: “Những vết sưng tấy xuất hiện đột ngột ở nách hoặc háng, và trong nhiều trường hợp xuất hiện ở cả hai chỗ và là những dấu hiệu báo tử không sai chút nào.”❖ Một chứng viêm phổi cấp, lây lan qua đường ho, thậm chí còn gây chết chóc hơn nữa. Một nhà thơ ở Damascus nhận xét thẳng thừng: “Thiên hạ khạc ra máu, người đầy vết sưng tấy rồi chết.”❖ Ông ta cũng chết vì bệnh dịch vào năm 1363.

Từ tác giả này đến tác giả khác mô tả các nghĩa địa quá chật chội để chôn thêm xác người, các linh mục đột ngột lăn ra chết khi đang cầu kinh, và mọi làng mạc đều bỏ hoang. Một nhà thơ khác ở Damascus nhận xét: “Mạng người trở nên rẻ rúng, mỗi sinh mạng không đáng giá hơn một hạt thóc.”❖ – lối chơi chữ dựa trên từ habbah, vừa có nghĩa hạt ngũ cốc, vừa có nghĩa mụn mủ, là triệu chứng đầu tiên của bệnh dịch hạch.

Vào năm 1351, căn bệnh này đã giết chết một phần ba, thậm chí một nửa dân số phương Tây, nó lan ra từ vùng Địa Trung Hải đến những vùng rìa Đại công quốc Moskva, rồi từ đó ngược về Trung Hoa. Năm đó, “người Ki-tô giáo mắt xanh”❖ mà hoàng đế tuyển mộ từ vùng Đông và Bắc Á để chống lại quân nổi loạn đã đem theo mầm bệnh cùng với họ. Nó làm chết một nửa quân đội và hằng năm đều tàn phá Trung Hoa mãi cho đến năm 1360. Số người chết không thể tính được, nhưng rõ ràng là rất khủng khiếp.

Không có thời điểm nào tốt hơn cho một thứ đại loại như Cái Chết Đen đáo qua nhân loại, nhưng cũng khó nghĩ ra thời điểm nào còn tồi tệ hơn những năm 1340. Thời kỳ Ấm Trung cổ dễ chịu đã đến gần điểm kết thúc, mở ra thời kỳ mà các nhà khí hậu học gọi là Thời đại Băng hà Nhỏ. Từ Na Uy đến Trung Hoa, những sông băng dày lên. Sau năm 1350, eo biển Đan Mạch, tách Greenland và Iceland, thường xuyên đóng băng. Người Norse phải rời bỏ khu định cư trên đảo Greenland và gấu trắng Bắc cực đi lang thang băng qua cầu băng đến Iceland, vùng đất bấy giờ đủ lạnh cho chúng. Biển Baltic đóng băng vào năm 1303 và một lần nữa trong những năm 1306-1307; rồi năm 1309-1310 sông Thames ở nước Anh thuộc vùng ôn đới cũng đóng băng. Trong khoảng thời gian từ 1315 đến 1317, mưa nhiều ở vùng tây bắc châu Âu đến nỗi cây trồng bị ung thối trên mặt đất và – có một chi tiết đúng là gây ngạc nhiên – quá lầy lội khiến các hiệp sĩ không thể chiến đấu được.

Khi mùa màng thất bát và những người thân yêu qua đời thì khó mà không suy nghĩ rằng Chúa Trời đang gửi đi một thông điệp. Ở Trung Hoa, nghề cướp bóc ở địa phương biến thành cuộc nổi dậy mang tính tôn giáo, chủ yếu nhắm vào những kẻ chiếm đóng Mông Cổ. Khi vị hoàng đế ngoại tộc vui thú với những con thuyền dục lạc và những cuộc truy hoan, thì các nhà lãnh đạo tín ngưỡng thiên sai tuyên bố rằng Đức Phật đang quay trở lại để dẫn dắt những sai trái của thế giới về nẻo chính và đưa mọi người vào thế giới Cực Lạc. Đến năm 1350 thì đế quốc này tan rã.

Chúng ta biết khá ít về những sự kiện xảy ra ở vùng lõi cũ của phương Tây tại Iraq, nơi những nhà cai trị Mông Cổ cũng kém cỏi không kém gì các vị hoàng đế ở Trung Hoa, nhưng ở Ai Cập và Syria, bệnh dịch lại có khả năng làm Islam giáo thêm vững chắc. Rõ ràng không phải tất cả mọi tín đồ thuộc dòng chính thống đều tin rằng bệnh dịch hạch chỉ nhằm trừng phạt những kẻ ngoại đạo (đối với tín đồ Islam giáo, cái chết từ đó là điều hạnh phúc và là một sự tuẫn đạo) – chẳng hạn như nhà viết sử biên niên al-Wardi đã viết: “Cầu xin Chúa tha thứ cho thiên hướng xấu xa của linh hồn chúng ta; dịch bệnh chắc hẳn là một phần sự trừng phạt của Ngài,”❖ và những người bán dạo những bùa chú bảo vệ cũng đã có một ngày đáng ghi nhớ – nhưng những phản ứng phổ biến nhất lúc đó là các buổi cầu nguyện tập thể, các đám rước đến những ngôi mộ thánh, và những luật tắc nghiêm khắc hơn chống lại rượu và sự xao lãng đạo đức.

Nhưng với nhiều người Ki-tô giáo thì mọi thứ trông còn tồi tệ hơn nhiều. Có vẻ như không chỉ có Thiên Chúa trừng phạt họ – một người Italy than khóc: “Tâm trí tôi quay cuồng khi sửa soạn viết rằng công lý thánh thần, với lòng thương xót vô biên, đã ban phát nó cho con người.”❖ – nhưng bản thân giáo hội thì có vẻ phân rã. Năm 1303, một vị vua Pháp đã cho người đánh đập Giáo hoàng và tống ông ta vào tù, rồi ngay sau đó, giáo đình được chuyển đến Avignon ở Pháp, nơi điển hình cho trụy lạc và suy đồi. Một vị Giáo hoàng thậm chí còn phát ngôn trái luật, ông cho rằng Chúa Jesus là người bần cùng đáng thương. Cuối cùng, một số Hồng y quyết định trở lại Rome và bầu ra một Giáo hoàng đối lập, người luôn cãi vã với Giáo hoàng ở Avignon trong mọi vấn đề nhận thức; và chỉ trong vài năm suy yếu sau năm 1409, có đến ba vị giáo hoàng đối lập, tất cả đều tuyên bố là đại diện của Thiên Chúa trên trần thế.

Do bị giáo hội bỏ rơi, người dân phải tự thân giải quyết các vấn đề. Sáng tạo nhất là những buổi lễ Hành xác (Flagellant):

Để trần đến thắt lưng, họ tụ tập thành những đoàn người đông đảo và diễu hành qua các ngã tư và quảng trường thành phố và thị trấn lớn. Ở đó, họ tạo thành những vòng tròn và quất roi lên lưng mình, hân hoan khi làm thế trong âm thanh vang dội và cất lên những bài tụng ca… Phải nói thêm rằng nhiều phụ nữ danh giá và mệnh phụ phu nhân sùng đạo cũng thể hiện sự ăn năn này bằng roi, diễu hành và hát thánh ca qua các thành phố và nhà thờ như nam giới.

Những người khác lại thích các biện pháp trị liệu truyền thống hơn như thảm sát người Do Thái, mặc dù (như một trong các giáo hoàng đã chỉ ra vào năm 1348) người Do Thái cũng chết nhanh chóng như người Ki-tô giáo. Nhưng không phương pháp nào có hiệu quả, và phát triển xã hội ở vùng lõi phương Tây xung quanh Địa Trung Hải đã giảm đi nhanh chóng trong đại dịch do Cuộc Trao đổi lần hai ở Cựu Thế Giới đem lại, cũng nhanh như nó đã từng xảy ra trong các trận dịch Cuộc Trao đổi lần một của Cựu Thế giới. Không ngạc nhiên chút nào khi sự kết thúc dường như sắp xảy đến.

Những con sông khác nhau

Lịch sử xem ra cứ lặp đi lặp lại. Trong thế kỷ I, phát triển xã hội ở phương Tây đã tăng đến ngưỡng quanh 43 điểm, làm nó bị kéo căng, và khởi đầu cho một sự sụp đổ trên toàn thế giới kéo dài nhiều thế kỷ. Một ngàn một trăm năm sau, phát triển xã hội ở phương Đông cũng tăng lên cùng một mức độ và lại khởi phát những thảm họa tương tự. Nếu những người ngoài hành tinh của von Däniken bay trở lại trái đất vào năm 1350, họ có thể kết luận rằng lịch sử con người đã bị khóa chặt theo một loạt chu kỳ bùng-nổ-và-đổ-vỡ, rồi bung đến một ngưỡng không phá vỡ được.

Nhưng cũng giống như những người không gian mà tôi tưởng tượng cho đến nay, họ cũng có thể sai lầm, bởi cũng có một quy luật lịch sử khác đang vận hành. Trước đó, tôi đã nói rằng thậm chí Thành Cát Tư Hãn cũng không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông, kể cả những kỵ sĩ trong Sách Khải huyền. Những vùng lõi mà những kỵ sĩ băng qua trong Cuộc Trao đổi lần hai của Cựu Thế giới rất khác biệt so với những gì mà họ tàn phá trong Cuộc Trao đổi lần một, điều này có nghĩa là Cuộc Trao đổi lần hai đã có những hệ quả rất khác với Cuộc Trao đổi lần đầu.

Điều rõ ràng nhất là khi Cuộc Trao đổi lần hai gia tăng vào khoảng năm 1200 thì cả hai vùng lõi đều đã rộng lớn hơn về mặt địa lý so với lần đầu (Hình 8.5) và kích thước lại có tầm quan trọng. Một mặt, các vùng lõi lớn hơn tạo ra những đổ vỡ lớn hơn: rất khó để lượng định được tai ương, nhưng dịch bệnh, nạn đói và sự di dân khởi đầu ở thế kỷ XIII thậm chí còn tồi tệ hơn những gì khởi phát ở thế kỷ II. Mặt khác, dù sao thì những vùng lõi rộng lớn hơn đồng nghĩa với việc mức độ hấp thụ các cú sốc và trữ lượng cũng lớn hơn để đẩy nhanh sự hồi phục. Nhật Bản, vùng Đông Nam Á, lưu vực Địa Trung Hải và phần lớn châu Âu đều tránh được sự tàn phá của người Mông Cổ vào thế kỷ XIII; Nhật Bản và Đông Nam Á cũng tránh được Cái Chết Đen ở thế kỷ XIV; và ngay ở trung tâm của Trung Hoa, vùng đồng bằng sông Dương Tử dường như cũng vượt qua những thảm họa khá tốt.

Địa lý kinh tế cũng đã thay đổi. Khoảng năm 100, vùng lõi phương Tây giàu có và phát triển hơn phương Đông, nhưng đến năm 1200 thì ngược lại. Chính vùng lõi phương Đông, chứ không phải phương Tây, lúc đó đang kéo căng đến ngưỡng, và các mạng lưới thương mại phương Đông (đặc biệt là các tuyến đường kết nối miền Nam Trung Hoa, Đông Nam Á và Ấn Độ Dương) đã khiến những gì ở phương Tây cũng đều trở nên nhỏ bé.

Hình 8.5. Những vấn đề về kích thước: các đường ngang đánh dấu những khu vực ở hai vùng lõi Đông và Tây do các quốc gia cai trị, khoảng năm 100, vào đêm trước của cuộc khủng hoảng Cựu Thế giới lần thứ nhất, và các đường dứt đoạn thể hiện sự bành trướng của các nưỚc này vào năm 1200, ngay trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng thứ hai.

Những thay đổi về mặt địa chính trị đã củng cố nền kinh tế. Trở lại năm 100, hầu hết nền giao thương ở mỗi vùng lõi chỉ nằm trong phạm vi của một đế chế lớn duy nhất, nhưng khoảng năm 1200 thì điều này không còn đúng nữa. Cả hai vùng lõi đều xảy ra rối loạn chính trị hơn thời cổ đại, và ngay cả khi các đế chế lớn củng cố lại những vùng đất trung tâm cũ sau Cái Chết Đen, thì các mối quan hệ chính trị cũng rất khác nhau. Bất kỳ đế chế vĩ đại nào giờ đây đều cũng phải đối phó với một vành đai bao quanh gồm các tiểu quốc nhỏ hơn. Ở phương Đông các mối quan hệ chủ yếu là thương mại và ngoại giao; còn ở phương Tây thì chủ yếu là bạo lực.

Kết hợp những sự kiện, chúng ta thấy những thay đổi này cũng đồng nghĩa với việc các vùng lõi không chỉ hồi phục từ Cuộc Trao đổi lần hai của Cựu Thế giới nhanh hơn lần đầu, mà còn hồi phục theo những cách khác nhau.

Ở phương Tây, người Turk Ottoman nhanh chóng dựng lại một đế quốc ở vùng đất trung tâm cũ vào thế kỷ XIV. Người Ottoman chỉ là một trong hàng tá tộc người Turk đến định cư ở vùng Anatolia khoảng năm 1300 sau khi quân Mông Cổ tàn phá các vương quốc Islam giáo xưa hơn (Hình 8.6), nhưng chỉ trong vòng vài năm xảy ra Cái Chết Đen, họ đã vượt lên các đối thủ và thành lập một vùng đầu cầu của châu Âu. Vào thập niên 1380, họ ức hiếp những tàn dư tội nghiệp của Đế quốc Byzantine, và đến năm 1396, họ làm các vương quốc Ki-tô giáo sợ hãi đến mức các giáo hoàng luôn cãi vã ở Rome và Avignon phải nhanh chóng thỏa thuận kết hợp quân đội để tung ra một cuộc thập tự chinh chống lại họ.

Dù đúng là một thảm họa, nhưng người Ki-tô giáo lại hy vọng nhờ đó sẽ hồi phục trong một thời gian ngắn khi Thiết Mộc Nhi, một thủ lĩnh Mông Cổ – khuôn mẫu cải biến của Thành Cát Tư Hãn – dẫn dắt những cuộc tấn công mới của người thảo nguyên vào thế giới Islam giáo. Năm 1400, người Mông Cổ hủy diệt Damascus và năm 1401, họ cướp phá Baghdad; theo sử liệu, họ đã chất sọ của 90.000 cư dân thành phố này thành hàng loạt tháp quanh tàn tích của nó. Năm 1402, Thiết Mộc Nhi đánh bại người Ottoman và ném vua của họ vào lồng, để ông ta trút hơi thở sau cùng trong tủi nhục, thân xác bị phơi bày. Nhưng rồi hy vọng của người Ki-tô giáo cũng tan biến. Thay vì ở lại để hủy diệt các vùng đất Islam giáo còn lại, Thiết Mộc Nhi cho rằng vị hoàng đế của đất nước Trung Hoa xa xôi đã lăng nhục mình nên chuyển hướng đội quân kỵ về lại phía đông. Ông qua đời vào năm 1405 khi đang tiến về phía đông để trả thù cho việc mình bị xem thường.

Hình 8.6. Sự hồi sinh của phương Tây, năm 1350-1500. Khu vực có gạch chéo thể hiện quy mô của Đế quốc Ottoman vào năm 1500 – vào thời điểm đó, vùng lõi phương Tây di chuyển mạnh mẽ về phía bắc và phía tây.

Được giải nguy đúng lúc, người Ottoman nhanh chóng hồi phục chỉ trong vòng 20 năm, nhưng khi tiến đến vùng Balkans, họ lại phải học một số bài học khó nhằn. Khi người Mông Cổ đánh bại họ vào năm 1402, hai bên vẫn đánh nhau theo kiểu những chiến binh vùng thảo nguyên đã làm trong suốt 2.000 năm, với những đám cung thủ ngồi trên yên ngựa bao vây và bắn hạ những kẻ thù di chuyển chậm chạp hơn. Quân đội châu Âu không thể đối đầu với những đoàn kỵ binh cơ động này, nhưng họ đã cải tiến những khẩu pháo mới lạ của mình đến mức năm 1444, một đội quân Hungary đã gây cho người Ottoman một cú sốc khủng khiếp. Với những khẩu đại bác nhỏ đặt trên các cỗ xe buộc vào nhau thành những pháo đài di động, hỏa lực của người Hung đã ngăn chặn đà tiến của kỵ binh người Thổ. Nếu vua Hung không phóng ngựa lên trước quân đội để bị tử thương thì có thể ông ta đã giành được chiến thắng ngày hôm đó.

Người Turk, những kẻ tiếp thu nhanh, đã tìm ra đáp án tốt nhất: mua vũ khí của người châu Âu. Công nghệ mới này tuy tốn kém, nhưng ngay cả những tiểu quốc giàu có nhất ở châu Âu, như Venice và Genoa, đều là những kẻ nghèo túng nếu so với các sultan (vua Đế quốc Ottoman). Với việc thuê mướn người Italy làm đô đốc hải quân hay công binh vây hãm thành, huấn luyện các nam thanh niên trẻ người Ki-tô giáo bị bắt làm nô lệ thành những đội bộ binh tinh nhuệ, và tuyển dụng các pháo thủ người Âu, chẳng mấy chốc người Ottoman nhanh chóng phát triển. Năm 1453, khi người Thổ khởi sự tấn công vào Constantinople, khi đó vẫn là pháo đài lớn nhất thế giới và là rào cản chính đối với sức mạnh của họ, người Thổ đã thuê lại một pháo thủ hàng đầu của Đế quốc Byzantine, một người Hungary. Viên pháo thủ này đã chế tạo cho người Ottoman một khẩu pháo bằng kim loại lớn đến mức có thể phóng đi một viên đá nặng đến nghìn cân, với tiếng nổ cực lớn (theo lời những nhà viết sử biên niên) đủ để khiến những phụ nữ đang mang thai bị sảy thai. Trên thực tế, khẩu súng này đã bị nứt rạn vào ngày thứ hai và đến ngày thứ tư hay thứ năm thì hỏng hẳn, nhưng viên pháo thủ người Hungary cũng chế ra những khẩu pháo nhỏ có tính thực tiễn hơn và đạt được thành quả thay cho khẩu pháo to lớn kia.

Đó là lần đầu tiên và duy nhất trong lịch sử, các tường thành của Constantinople sụp đổ. Hàng nghìn người dân Byzantine hoảng loạn chen chúc vào nhà thờ Hagia Sophia – nơi mà Gibbon gọi là “thiên đường trần thế, bầu trời thứ hai, cỗ xe của các thiên sứ, chiếc ngai vinh hiển của Thiên Chúa”❖ – tin tưởng vào một lời tiên tri mơ hồ rằng khi những kẻ ngoại đạo tấn công nhà thờ, một thiên thần sẽ giáng hạ với thanh kiếm trong tay để khôi phục Đế quốc La Mã. Nhưng chẳng thiên thần nào xuất hiện; Constantinople sụp đổ; và cùng với nó, cũng theo Gibbon, Đế quốc La Mã cuối cùng cũng tiêu vong.⦾

Khi người Turk tiến lên phía trước, thì các vị vua châu Âu lại đánh phá lẫn nhau khốc liệt hơn, đồng thời cũng đánh cả những người ngoại đạo, và một cuộc chạy đua vũ trang thực sự nổ ra. Pháp và tiểu quốc Burgundy tiên phong vào những năm 1970, các pháo thủ của họ đúc những khẩu đại bác có nòng dày hơn, chế thuốc súng gọn bằng hạt ngô giúp khai hỏa nhanh hơn, và sử dụng đạn sắt thay vì dùng đá. Kết quả là súng nhỏ hơn, mạnh hơn, và dễ mang vác hơn so với những loại vũ khí cũ đã lỗi thời. Các khẩu súng mới đủ nhẹ để trang bị cho những chiếc tàu chiến mới đắt tiền chạy bằng buồm chứ không còn bằng mái chèo, với những khẩu súng được đặt thấp ở các lỗ thông trong thân tàu, giúp những quả đạn sắt đục thủng tàu địch ngay trên mớn nước.

Ngoại trừ một vị vua, khó có ai đủ sức chi tiêu cho thứ công nghệ mới này, và từ từ nhưng chắc chắn, các vương triều Tây Âu đã mua sắm đầy đủ những vũ khí mới để hăm dọa các lãnh chúa, những thành bang độc lập và các giám mục lắm chuyện có quyền lực chồng chéo khiến cho những quốc gia Tây Âu trước đó bị suy yếu. Dọc vùng duyên hải Đại Tây Dương, các vị vua đã tạo dựng những đất nước lớn hơn, mạnh hơn như Pháp, Tây Ban Nha và Anh quốc, trong đó mệnh lệnh hoàng gia được truyền đi mọi nơi và lần đầu tiên, chính quốc gia chứ không phải các dòng họ quý tộc hay giáo hoàng ở Rome, khẳng định được lòng trung thành của người dân. Và một khi đã gạt được các lãnh chúa sang một bên, những vị vua này có thể xây dựng các hệ thống quan liêu, đánh thuế trực tiếp và mua thêm vũ khí – điều này hẳn nhiên cũng buộc các quốc gia lân cận phải mua thêm vũ khí và thúc ép người dân để kiếm thêm tiền.

Một lần nữa, có những lợi thế về tình trạng chậm tiến, và sự đấu tranh dần dần kéo trung tâm thu hút của phương Tây về phía Đại Tây Dương. Những thành phố vùng Bắc Italy từ lâu vốn là phần phát triển nhất của châu Âu, nhưng giờ đây mới nhận ra điều bất lợi của sự tiến bộ: các thành bang đặc biệt như Milan và Venice quá giàu có và mạnh mẽ đủ sức ức hiếp bất kỳ nhà nước nào ở Italy, nhưng lại không đủ giàu hay mạnh mẽ để một mình chống lại những quốc gia chính thống như Pháp và Tây Ban Nha. Những nhân vật như Machiavelli thì vui mừng về sự tự do này, nhưng cái giá của nó trở nên rõ ràng khi một đội quân Pháp xâm chiếm nước Italy vào năm 1494. Chính Machiavelli cũng thừa nhận việc gây chiến với Italy đã “đẩy một đất nước vốn đã phân ly đến tình trạng suy tàn đến nỗi các cuộc chiến được khởi đầu không chút e sợ, tiếp tục không chút nguy hiểm, và kết thúc không mất mát gì?”❖ Chỉ vài chục khẩu đại bác hiện đại của Pháp cũng đủ thổi bay tất cả mọi thứ trên đường tiến quân. Chỉ mất tám tiếng đồng hồ để đánh sập tòa lâu đài đá hùng vĩ Monte San Giovanni, giết chết 700 người Italy trong khi Pháp chỉ tổn thất 10 binh sĩ. Các thành phố ở Italy cũng không thể cạnh tranh nổi với doanh thu từ thuế của các quốc gia lớn như Pháp. Đến năm 1500 thì vùng lõi phương Tây đã được sắp xếp lại từ vùng rìa Đại Tây Dương, và chiến tranh dẫn dắt tất cả.

Ngược lại, vùng lõi phương Đông lại được tái sắp xếp từ trung tâm cổ xưa của nó ở Trung Hoa, đồng thời nền thương mại và ngoại giao cuối cùng đã dẫn đạo tất cả cho dù sự trỗi dậy của các đế quốc mới cũng khởi đầu bằng những cuộc tắm máu khốc liệt như ở phương Tây. Chu Nguyên Chương, người khai sáng triều đại nhà Minh thống nhất Trung Hoa, sinh ra trong một gia đình nghèo khổ vào năm 1328 khi quyền lực Mông Cổ bị phân rã. Cha mẹ ông – những lao động di cư phải lưu lạc để trốn tránh những người thu thuế – phải bán đi bốn người anh chị em của ông do không thể nuôi nổi, và để lại Chu Nguyên Chương, người con nhỏ nhất, cho người ông theo Phật giáo nuôi. Người ông này luôn nhét vào đầu cậu bé những hình ảnh cứu khốn phò nguy của các chiến binh Khăn Đỏ (Hồng Cân), một trong những phong trào kháng chiến chống lại sự cai trị của Mông Cổ. Người này luôn cho rằng sự kết thúc đã cận kề và Đức Phật sẽ sớm trở lại từ cõi Cực Lạc để trừng phạt kẻ ác. Thay vì thế, vào mùa hè năm 1344 khô hạn và nạn châu chấu tàn phá mùa màng, và bệnh tật – khá giống Cái Chết Đen – đã cướp đi sinh mạng toàn bộ gia đình Chu Nguyên Chương.

Chàng trai trẻ buộc phải vào một tu viện Phật giáo làm đầy tớ, nhưng các nhà sư chỉ có thể lo việc ăn uống cho bản thân họ nên để ông ra ngoài ăn xin hay đánh cắp để nuôi thân. Sau khi lang thang trên khắp nẻo đường miền Nam Trung Hoa trong khoảng ba hay bốn năm, ông trở lại tu viện đúng lúc để thấy nó bị đốt cháy trụi trong những cuộc nội chiến đang lan rộng đi kèm với sự sụp đổ của nền cai trị Mông Cổ. Không còn nơi nào để đi, ông đành gia nhập với các nhà sư khác đi lang thang đói khát trên những tàn tích đổ nát còn bốc khói.

Chu Nguyên Chương lúc đó là một chàng trai trông đáng sợ, cao, xấu xí, cằm nhô, mặt rỗ hoa. Bù lại, ông rất lanh lẹ, cứng rắn, và (nhờ các nhà sư) biết chữ; nói ngắn gọn là loại người mà bất cứ kẻ cướp nào cũng muốn có trong băng đảng của mình. Được một đội quân Hồng Cân thu nhận khi họ đi qua vùng này, ông đã gây ấn tượng với đám thảo khấu và cả những kẻ nhìn xa trông rộng, kết hôn với con gái của viên chỉ huy, rồi cuối cùng tiếp quản luôn đội quân này.

Trong hàng chục năm miệt mài chiến trận, Chu Nguyên Chương đã biến đám thảo khấu dưới quyền thành một đội quân có kỷ luật và đánh đuổi những kẻ nổi loạn khác từ thung lũng sông Dương Tử. Cũng quan trọng không kém, ông không tán thành những lời tiên tri ngông cuồng của nghĩa quân Hồng Cân và tổ chức một bộ máy quan liêu để có thể điều hành đế chế. Tháng 1 năm 1368, lúc chưa tới tuổi 40, ông đặt niên hiệu của mình là Hồng Vũ và tuyên bố thành lập triều đại nhà Minh.

Những tuyên bố chính thức của Hồng Vũ Đế biến cả cuộc đời trưởng thành của ông trông như thể một phản ứng chống lại tuổi trẻ khủng khiếp, không gốc rễ, và đầy bạo lực của mình. Ông thúc đẩy một hình ảnh Trung Hoa như một thiên đường nông thôn với các làng xã ổn định, yên bình, nơi những bô lão đạo đức giám sát các nông dân tự túc, thương nhân chỉ lo cung cấp những hàng hóa mà địa phương không sản xuất được – và không giống như gia đình của ông – không ai được di chuyển. Hồng Vũ Đế tuyên bố rằng rất ít người có nhu cầu đi lại xa hơn 13km khỏi nhà, và nếu vượt quá khoảng 56km mà không xin phép sẽ bị phạt roi. Do lo sợ thương mại và tiền tệ có thể xói mòn những mối quan hệ ổn định, ông đã ba lần ban chỉ dụ hạn chế thương mại với người nước ngoài dành cho các thương nhân được chính phủ cho phép, thậm chí cấm cả các loại nước hoa bên ngoài vì sợ rằng chúng sẽ cám dỗ người Trung Hoa buôn lậu. Vào năm 1452, những người thừa tự còn sửa đổi luật lệ của ông thêm ba lần nữa và có đến bốn lần cấm lưu hành đồng tiền bằng bạc do sợ chúng sẽ dễ dàng làm cho nền thương mại trở nên thừa thãi.

Trong di chúc của mình, ông tuyên bố: “Suốt 31 năm ta đã cố gắng hoàn thành sứ mệnh của Thiên Đế giao phó, dằn vặt bởi những lo toan và sợ hãi, không một ngày ngơi nghỉ.”❖ Dầu vậy, chúng ta phải tự hỏi có bao nhiêu cuộc tranh đấu trong tâm trí Hồng Vũ Đế. Ông muốn xuất hiện – trái ngược với những vị hoàng đế người Mông Cổ trước ông – như một nhà cai trị Nho giáo lý tưởng, nhưng chưa bao giờ chính thức cấm giao dịch ngoại thương. Minh Thành Tổ (Vĩnh Lạc Đế), con trai ông, thậm chí còn mở rộng nó, chủ yếu là mua về trinh nữ Triều Tiên phục vụ cho vấn đề tình dục (vì ông tuyên bố điều này có lợi cho sức khỏe của ông). Tuy nhiên, các vị vua triều Minh vẫn kiên trì nắm quyền kiểm soát việc giao thương. Họ nhiều lần ban chỉ dụ cho rằng điều này nhằm bảo vệ (về mặt lý thuyết) một trật tự xã hội ổn định và cho phép người nước ngoài thể hiện sự tôn trọng tương ứng. Một hoàng để giải thích: “Ta không quan tâm đến hàng hóa nước ngoài, ta chỉ chấp nhận chúng vì chúng đến từ phương xa đồng thời chúng thể hiện sự chân thành của các dân tộc xa xôi.”❖ Thực tế là lễ vật triều cống (như triều đình thường gọi hàng hóa bên ngoài biên giới) đã lấp đầy kho bạc của đế chế thì không đáng để nhắc đến.

Dù thế nào đi nữa, nền thương mại vẫn phát triển. Năm 1488, một thuyền nhân Triều Tiên bị đắm tàu nhận xét rằng “tàu nước ngoài dày đặc như răng lược”❖ ở bến cảng Hàng Châu. Các nhà khảo cổ học dưới nước phát hiện rằng những tàu buôn thì to lớn hơn, và có một thực tế là các hoàng đế cảm thấy buộc phải sửa đổi luật buôn bán trái phép thường xuyên vì họ cứ cho rằng thiên hạ đã phớt lờ họ.

Những tác động của việc bùng nổ thương mại là sâu rộng. Thu nhập của nông dân một lần nữa lại gia tăng, số hộ gia đình cũng tăng theo, nông dân ở các làng mạc tràn đến những vùng đất mới hay đến làm việc ở các thành phố lớn. Chức sắc địa phương sửa chữa cầu đường, kênh rạch sau những biến động bạo lực ở các thế kỷ trước, thương nhân thì tận dụng chúng để vận chuyển lương thực, và mọi người ở khắp nơi đổ xô tới chợ, bán những sản phẩm làm ra với giá rẻ và mua vật phẩm khác. Vào năm 1487, một quan chức cho việc người dân “đổi ngũ cốc lấy tiền mặt, sau đó đổi tiền mặt lấy quần áo, thực phẩm và nhu yếu phẩm hằng ngày… không một người nào trong lĩnh vực của mình mà không làm điều này”❖ là điều hiển nhiên.

Thương mại đã liên kết vùng lõi mở rộng ở phương Đông cũng như chiến tranh liên kết các quốc gia ở phương Tây. Dân số, nông nghiệp và tài chính cũng phát triển nhanh chóng ở Nhật Bản vào thế kỷ XIV, và bất chấp những hạn chế của nhà Minh, việc giao thương với Trung Hoa ngày càng gia tăng. Giao thương với vùng Đông Nam Á thậm chí còn quan trọng hơn: thu nhập từ thương mại đã tài trợ cho sự trỗi dậy của các tiểu quốc, như Majapahit ở đảo Java, vốn chiếm ưu thế trong kinh doanh gia vị. Nhiều nhà cai trị địa phương phụ thuộc vào sự hỗ trợ của Trung Hoa để bảo vệ ngai vàng của mình.

Điều này không đòi hỏi kiểu bạo lực thường xuyên vốn là lời nguyền với phương Tây, và ngoài một nỗ lực thất bại trong việc yểm trợ một chế độ thân thiện ở Việt Nam, những hoàng đế đầu tiên của nhà Minh hạn chế việc gây chiến với vùng biên giới thảo nguyên. Người Mông Cổ vẫn là mối đe dọa duy nhất hiện hữu đối với vương triều. Nếu Thiết Mộc Nhi không chết vào năm 1405, có khả năng ông đã lật đổ nhà Minh, và năm 1449 các thị tộc Mông Cổ khác đã bắt giữ được một vị hoàng đế. Dù sao, để theo đuổi cuộc chiến tranh ở vùng thảo nguyên, nhà Minh thấy không cần đến các loại súng ống đã cải tiến mà chỉ cần các đội quân theo lối truyền thống với quân nhu đầy đủ. Chẳng hạn, khi Minh Thành Tổ tiến đánh vùng thảo nguyên vào năm 1422, ông dùng đến 340.000 lừa ngựa, 117.000 xe ngựa và 235.000 xe đẩy để vận chuyển 20.000 tấn ngũ cốc phục vụ quân đội của ông.

Minh Thành Tổ thực hiện chính sách bàn tay sắt bọc nhung. Năm 1405, ông ra sắc chỉ cử sứ giả “đến các nước vùng biển phương Tây [Ấn Độ Dương] để ban bố mệnh lệnh của hoàng đế và ban tặng phẩm vật,”❖ lồng ghép thương mại vào một mớ vấn đề lắt léo về ngoại giao, đồng thời ông gửi đi một hạm đội lớn nhất thế giới thời đó. Để xây dựng hạm đội này, ông trưng tập 25.000 thợ thủ công thêm vào những xưởng đóng tàu quy mô mới thiết lập ở kinh đô Nam Kinh. Các thợ rừng ở Tứ Xuyên chọn những cây gỗ linh sam tốt nhất để làm cột buồm, gỗ cây du và tuyết tùng làm thân tàu, và gỗ sồi làm bánh lái, sau đó đốn sạch toàn bộ các khu rừng và thả gỗ xuôi dòng sông Dương Tử, đưa tới các xưởng đóng tàu. Công nhân xây những bến cảng khổng lồ trên cạn dài hàng trăm bộ để làm việc trên những con tàu lớn. Không một chi tiết nào bị bỏ qua; ngay cả loại đinh sắt phủ một lớp chống thấm nước đặc biệt.

Dù không phải là hạm đội chiến đấu, nhưng nó được thiết kế để gây cảm giác choáng ngợp và kính sợ. Điểm trọng tâm của nó là những chiếc tàu gỗ lớn nhất mọi thời đại, có thể dài đến 76m và có trọng tải đến 2.000 tấn; chỉ huy hạm đội này là vị đô đốc to lớn nhất trong lịch sử, thái giám Trịnh Hòa theo Islam giáo, ông cao khoảng 2m và có vòng bụng 150cm (theo một số tư liệu, ông cao 2,7m và vòng bụng gần 300cm).⦾

Hơn 300 con tàu ra khơi, chở theo 27.870 người. Kế hoạch là xuống các thành phố giàu có xung quanh Ấn Độ Dương, nơi những hoàng thân, một sáng thức giấc nhìn ra bờ biển bên ngoài cửa lâu đài chỉ thấy đây những cánh buồm của tàu thuyền Trung Hoa, ắt sẽ vội đưa ra những khoản thanh toán cống nạp theo kiểu trao đổi thông qua các nguồn chính thức. Nhưng đây cũng là một chuyến phiêu lưu vĩ đại: những thủy thủ cảm thấy như đang lao mình vào một vùng xa xôi mông muội, nơi điều gì cũng có thể xảy đến. Ở Sri Lanka (Hình 8.7), những người Islam giáo địa phương cho họ xem dấu chân của Adam trong Kinh Thánh, trong khi ở Việt Nam, thủy thủ nghĩ rằng họ phải né tránh ma lai rút ruột, một loại nữ yêu

vốn là một phụ nữ thuộc gia đình con người, đặc điểm duy nhất là mắt cô gái này không có con ngươi; vào ban đêm, khi ngủ, đầu cô gái bay lang thang tìm ăn phân trẻ nhỏ; đứa bé chắc chắn sẽ chết do tác động của ma tà xâm nhập vào bụng, và cái đầu bay về gắn lại vào cơ thể như cũ. Nếu ai biết điều này, đợi đến khi đầu cô gái bay khỏi rồi chuyển cơ thể đi nơi khác để chiếc đầu quay lại không thể kết hợp với cơ thể thì người phụ nữ đó sẽ chết.

Tuy nhiên, ngoài những mối đe dọa trong trí tưởng tượng của thủy thủ, họ gặp rất ít nguy hiểm. Hạm đội Châu báu gồm 7 loại thuyền được cử đi từ năm 1405 đến năm 1433 là những phóng chiếu lớn nhất về quyền lực nhà nước mà thế giới từng chứng kiến. Họ chỉ phải chiến đấu ba lần để bảo vệ eo biển Malacca, lúc đó cũng như bây giờ, là thủy lộ nhộn nhịp nhất thế giới và lúc đó đến nay vẫn thường xuyên bị hải tặc cướp bóc, ngoài ra họ chỉ sử dụng vũ lực khi bị lừa phải đứng về một phe trong cuộc nội chiến ở Sri Lanka. Những thủy thủ Trung Hoa còn dạo chơi trên đường phố Mogadishu, vốn không gây ấn tượng gì lắm đối với họ (một thuộc hạ của Trịnh Hòa viết: “Nếu một người thả mắt nhìn vẩn vơ, họ chỉ bắt gặp những tiếng rì rào và những ánh nhìn ảm đạm, khung cảnh tiêu điều, toàn bộ đất nước này không có gì cả ngoài những ngọn đồi!”❖) và kể cả Mecca (dù không hiểu sao một viên chỉ huy khác lại nghĩ rằng ngôi đền thiêng liêng nhất của Islam giáo trông như một ngôi chùa).

Hạm đội Châu báu thực hiện chuyến hải hành đến gần 15.000km về phía nam và phía tây, nhưng một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là chỉ là bước khởi đầu. Với la bàn và hải đồ, những chiếc tàu chở đầy nước uống và lượng thực phẩm dự trữ khổng lồ, hạm đội của Trịnh Hòa có thể đi bất cứ nơi nào họ muốn; và theo khẳng định của thuyền trưởng tàu ngầm hồi hưu Gavin Menzies trong cuốn sách bán chạy của mình 1421: The Year China Discovered America (1421: Năm Trung Hoa phát hiện châu Mỹ), thì chính xác đó là những gì họ đã làm. Menzies viết rằng Chu Mãn (Zhou Man), một thuộc hạ của Trịnh Hòa lao vào vùng biển Thái Bình Dương chưa được thăm dò và đổ bộ lên bờ biển Oregon vào mùa hè 1423, sau đó giương buồm xuống dọc bờ Tây nước Mỹ. Menzies cho rằng mặc dù mất một con tàu ở Vịnh San Francisco, Chu Mãn vẫn kiên trì, dừng lại ở bờ biển Mexico rồi đến Peru trước khi đón những ngọn gió để quay đầu vượt Thái Bình Dương. Tháng 10 năm 1423, sau một quãng đường vòng dài bốn tháng, Chu Mãn trở về Nam Kinh an toàn.

Hình 8.7. Thế giới ở thế kỷ XV nhìn từ phía Trung Hoa, thể hiện cuộc tiến công ngoại giao của nhà Minh vào Ấn Độ Dương (vạch liền) và tuyến hàng hải mà tàu thuyền Trung Hoa có khả năng đi đến Tân Thế giới (vạch đứt đoạn).

Menzies cho rằng các nhà sử học truyền thống đã lờ đi những kỳ tích của Chu Mãn (cũng như những chuyến hải trình gây ngạc nhiên hơn đã đưa thuộc hạ của Trịnh Hòa đến Đại Tây Dương, Bắc Cực, Nam Cực, Australia và Italy) vì những tài liệu chính thức của Trịnh Hòa bị biến mất vào thế kỷ XV; và vì ít sử gia có kiến thức thực tiễn về hàng hải như Menzies, nên họ không thể hiểu được những manh mối ẩn chứa trong các bản đồ thế kỷ XV và XVI.

Tuy nhiên, các nhà sử học vẫn không để tâm. Họ thừa nhận rằng Menzies nói đúng một điều là những nhật ký hàng hải của Trịnh Hòa bị thất lạc; nhưng lại đặt vấn đề: tại sao một khối lượng khổng lồ các tài liệu về triều đại nhà Minh còn lưu giữ – bao gồm không chỉ một mà có đến hai tài liệu thực chứng cho chuyến đi của Trịnh Hòa – lại chưa bao giờ nhắc đến bất kỳ khám phá nào? Họ tự hỏi làm thế nào để những chiếc tàu ở thế kỷ XV vẫn duy trì được những tốc độ mà lý thuyết của Menzies đòi hỏi? Làm thế nào để thủy thủ của Trịnh Hòa có thể vẽ bản đồ các bờ biển trên thế giới theo cách mà Menzies khẳng định? Và tại sao những bằng chứng thực tế mà Menzies tập hợp về chuyến hải trình xa xôi này của người Trung Hoa vẫn còn nghèo nàn so với những khảo sát mang tính học thuật?

Phải thừa nhận rằng tôi đứng ở phía những người hoài nghi, trong tâm trí tôi, cuốn 1421: Năm Trung Hoa phát hiện châu Mỹ của Menzies có tầm vóc ngang cuốn Những cỗ xe của các vị thần của von Däniken, nhưng cũng như những suy đoán của von Däniken – hay, thêm vào đó, giống như kịch bản Albert-ở-Bắc-Kinh trong phần giới thiệu cuốn sách này – cuốn 1421: Năm Trung Hoa phát hiện châu Mỹ có giá trị buộc chúng ta phải hỏi tại sao mọi điều lại không xảy ra theo cách này. Đó là một câu hỏi quan trọng, bởi vì nếu chúng đã xảy ra như Menzies nói, thì phương Tây giờ đây có thể đã không thống lĩnh thế giới.

Trịnh Hòa ở Tenochtitlán

Tenochtitlán, ngày 13 tháng 8 năm 1931.

Đầu của Trịnh Hòa đau buốt. Ông đã quá già để làm việc này. Và quá béo. Suốt ngày ông gửi những người đưa tin vào thành phố đang bốc cháy để yêu cầu những đồng minh của mình ngừng thảm sát người Aztec, nhưng khi hoàng hôn buông xuống thì ông bỏ cuộc. Ông tự nhủ dù sao thì mình vẫn không thể bị đổ lỗi cho vụ thảm sát này. Đây là những con người man rợ, khiếm nhã, không biết gì về Đạo hay Thiên Đế. Họ thậm chí còn không biết đồng là gì. Tất cả những gì họ quan tâm đến là rạch ngực kẻ thù bằng những viên đá đen và xé toang những trái tim còn đang đập.

Tất nhiên Trịnh Hòa và người của ông đều biết những mẩu chuyện về triều nhà Thương ở Trung Hoa cổ đại khi những nhà cai trị bất chính nhiều nghìn năm trước đã hiến tế con người, và trò chơi đó đã lan rộng đến nỗi ngay ở chốn này ngoài Đông Hải xa xôi là một thế giới tương tự – còn kỳ lạ hơn vùng đất của đám man di ma lai rút ruột – nơi thời gian như ngừng lại và nhà Thương vẫn cai trị. Bộ thuộc của Trịnh Hòa biện luận rằng Thiên Đế hẳn đã đặt định chuyến hải hành của họ để một lần nữa đóng vai trò của triều đại nhà Chu đức hạnh thời cổ đại; còn Trịnh Hòa là một Chu Vũ Vương kiểu mới, đến đó theo ý nguyện của Thiên Đế để giành quyền cai trị từ các vị vua độc ác và để khai sáng một thời đại hoàng kim.

Trịnh Hòa không lường trước được bất kỳ điều gì khi hoàng đế ban lệnh cho ông tiến vào Đông Hải. Đấng Thiên tử đã dặn

đi thuyền vượt Đông Hải đến Đảo Bồng Lai. Kể từ thời Tần Thủy Hoàng, con người đã đi tìm những hòn đảo này, nơi những người bất tử sống trong các cung điện bằng bạc và vàng, chim và thú có màu trắng tinh khiết, và mọc đầy loại cỏ diệu kỳ. Mười năm trước, viên chỉ huy Chu Mãn của chúng ta đã đặt chân vào chốn kỳ diệu này, và giờ đây ta ra lệnh cho người đem về loại cỏ bất tử đó.

Trịnh Hòa đã nhìn thấy thế giới nhiều hơn so với bất kỳ ai. Không gì có thể làm ông ngạc nhiên nữa, và nếu ông có gặp rồng hay cá mập khổng lồ như trong truyện cổ tích, ông sẵn sàng đối mặt với chúng. Nhưng điều đáng mong đợi nhất lại chính là những gì ông thấy lúc ban đầu – không có gì cả. Sau khi đến bờ biển Nhật Bản, ban tặng tước vị cho các lãnh chúa bất kham và nhận cống vật của họ, hạm đội của ông đã chạy đua với sức gió trong hai tháng, đuổi theo một đường chân trời màu xanh bất tận, nơi biển và trời giao nhau. Và sau cùng thì những thuộc hạ gần muốn nổi loạn của ông cũng nhìn thấy đất liền với đầy đủ cây cỏ, mưa và những ngọn núi, theo cách còn tệ hại hơn cả châu Phi.

Phải mất nhiều tuần phiêu dạt dọc theo bờ biển, họ mới tìm thấy những người bản địa không bỏ chạy – những người bản địa dám đi thuyền đến gặp họ, mang theo những thức ăn tuyệt vời trước đó họ chưa bao giờ được thưởng thức. Những kẻ man rợ trần trụi hiếu khách không có loại cỏ bất tử, dù đúng là họ cũng có loại cỏ say gây sảng khoái khi hút. Họ cũng không có cung vàng điện bạc dù dường như họ có nói những thứ này đều nằm trong đất liền. Và rồi, cùng với chỉ vài trăm bộ thuộc, vài chục kỵ binh, và một vài từ địa phương lõm bõm, Trịnh Hòa khởi sự đi tìm những điều bất tử.

Đôi khi ông phải chiến đấu, nhưng những quả bom cháy thường có tác dụng tốt và những con người hoang dã ít khi trụ lại. Ngay cả sau khi cạn kiệt thuốc súng, thì ngựa và kiếm thép hầu như cũng đạt kết quả tương tự. Tuy nhiên vũ khí lợi hại nhất của ông vẫn là những người bản địa. Họ đối xử với người của ông như thần linh, mang vác vật dụng và lũ lượt kéo đến chiến đấu cho ông. Trịnh Hòa có thể theo truyền thống khôn ngoan là sử dụng những người man chống lại người man, đơn giản là giúp những người man của ông, những kẻ tự xưng là người Purépecha, nuôi dưỡng sự đố kỵ xa xưa với những kẻ láng giềng, người Aztec. Trịnh Hòa có thể không hiểu được sự đố kỵ đó là gì, nhưng cũng không sao; dần dần rồi cuộc nội chiến giữa những người man cũng đưa ông đến gần những người bất tử hơn.

Chỉ khi Trịnh Hòa nhập cùng các đồng minh của mình bên ngoài thủ phủ Tenochtitlán của người Aztec thì ông mới thừa nhận rằng không có những con người bất tử. Tenochtitlán đủ sự vĩ đại theo cách riêng của nó, với đường phố rộng rãi, thẳng tắp và kim tự tháp nhiều bậc, nhưng không có những con vật trắng tinh, không cung vàng điện bạc, và chắc chắn không có loại cỏ cho cuộc sống vĩnh hằng. Trên thực tế, cái chết hiện diện khắp mọi nơi. Ung nhọt và mụn mủ bắt đầu cướp đi sinh mạng hàng nghìn con người man rợ, thân xác của họ bốc mùi hôi thối trước khi chết. Trịnh Hòa đã chứng kiến nhiều dịch bệnh, nhưng không ở đâu như thế này. Chỉ có một trong số hàng trăm bộ thuộc của ông bị nhiễm bệnh, chắc chắn đây là dấu hiệu hài lòng của Thiên Đế đối với nhiệm vụ của họ Trịnh.

Ngay đến khoảnh khắc cuối cùng, chính hoàn cảnh nguy hiểm của những gì bệnh dịch hạch gây ra đầu tiên – đã khiến những người man của họ Trịnh trở nên yếu ớt không thể chiếm được Tenochtitlán hay những người man thù địch yếu ớt đến nỗi không thể bảo vệ được nó. Nhưng một lần nữa, Thiên Đế quyết định đứng về phía Trịnh Hòa, và cuối cùng, dưới sự che chắn của đạn pháo và cung nỏ, những kỵ binh của ông đã dẫn đầu cuộc tấn công qua các bờ tường để vào Tenochtitlán. Sau một cuộc chiến đấu dữ dội nhưng chỉ ở một phía trên các đường phố – những lưỡi dao bằng đá và đệm bông Aztec chống lại kiếm thép và giáp trụ Trung Hoa – sức kháng cự bị bẻ gãy và người Purépecha bắt đầu tra tấn, hãm hiếp và cướp bóc. Itzcoatl, vị vua Aztec cuối cùng, vốn đã bị đâm nhiều mũi lao khi ông chiến đấu trước cổng cung điện của mình, bị ném vào lửa đỏ, tim bị khoét bỏ trước khi chết, và – còn kinh khiếp hơn – xác ông bị cắt ra thành từng mảnh để ăn.

Những vấn nạn của họ Trịnh đã được giải đáp. Những người này không phải là đấng bất tử. Ông cũng không phải là Vũ Vương để khởi đầu một thời kỳ đức hạnh mới. Câu hỏi duy nhất còn lại là làm thế nào để ông có thể vận chuyển mọi tài sản cướp bóc được về Nam Kinh.

Những con người vĩ đại và những kẻ ngốc vụng về

Tất nhiên, trên thực tế mọi thứ đã không diễn ra theo cách này, cũng như những gì xảy ra vào năm 1848 theo cách tôi mô tả trong phần giới thiệu. Tenochtitlán quả đúng là có bị cướp bóc, những người láng giềng vùng Trung bộ châu Mỹ Cổ đại (Mesoamerica) đã thực hiện điều này đồng thời cũng du nhập những căn bệnh làm chết hầu hết cư dân Tân Thế giới. Nhưng sự cướp phá bắt đầu từ năm 1521 chứ không phải năm 1431; và người dẫn đầu cuộc cướp bóc này là Hernán Cortés chứ không phải Trịnh Hòa; đồng thời các mầm bệnh giết người lại đến từ châu Âu chứ không phải châu Á. Nếu Chu Mãn thực sự phát hiện ra châu Mỹ, như Menzies đã mạnh miệng tuyên bố, và nếu câu chuyện thực sự mở ra theo cách tôi vừa trình bày, với Mexico trở thành một phần của triều đại nhà Minh chứ không phải của người Tây Ban Nha, thì thế giới hiện đại hẳn đã đổi khác. Các nước châu Mỹ ắt sẽ bị ràng buộc với nền kinh tế Thái Bình Dương chứ không phải là nền kinh tế Đại Tây Dương; những tài nguyên của họ có thể đã cung cấp nhiên liệu cho một cuộc cách mạng công nghiệp ở phương Đông chứ không phải phương Tây; Albert có thể kết thúc cuộc đời ở Bắc Kinh thay vì chú chó Looty ở Balmoral; và phương Tây hẳn sẽ không dẫn đầu thế giới.

Vậy tại sao mọi thứ lại diễn ra theo chiều ngược lại?

Những con tàu của vương triều nhà Minh chắc hẳn có thể dong thuyền sang châu Mỹ nếu thuyền trưởng của chúng muốn. Trong thực tế, một bản sao của loại thuyền mành thời kỳ Trịnh Hòa đã thực hiện một chuyến hải trình theo tuyến Trung Hoa-California vào năm 1955 (mặc dù nó không thể trở về) và một chiếc khác, tàu Thái Bình công chúa (Princess Taiping), chỉ thiếu khoảng 32km nữa để hoàn tất hành trình khứ hồi Đài Loan-San Francisco năm 2009 do bị một chiếc tàu hàng đâm phải.⦾ Nếu chúng có thể thực hiện điều này, thì hà cớ gì Trịnh Hòa lại không làm được?

Câu trả lời phổ biến nhất là mọi thứ diễn ra theo cách thức riêng của nó, vì ở thế kỷ XV, các hoàng đế Trung Hoa không còn hứng thú với việc gửi tàu ra nước ngoài, trong khi các vị vua châu Âu (tất nhiên chỉ một số) lại rất quan tâm đến điều này. Và đến một thời điểm, điều này rõ ràng là đúng đắn. Khi Minh Thành Tổ qua đời năm 1424, đạo luật mà người kế nhiệm ông ban hành đầu tiên là cấm đoán các chuyến hải hành xa xôi. Việc vị hoàng đế đời sau ra lệnh cho Trịnh Hòa trở lại Vịnh Ba Tư vào năm 1431 có thể hiểu là do các hoàng thân vùng Ấn Độ Dương không chịu triều cống, và chỉ đến khi Minh Anh Tông lên nối ngôi mới đảo ngược chính sách một lần nữa. Năm 1436, triều đình bác bỏ những kiến nghị liên tục gửi đến từ các xưởng đóng tàu tại Nam Kinh yêu cầu cấp thêm thợ thủ công, và chỉ trong vòng một, hai thập niên tiếp đó, hạm đội vĩ đại này bị mục nát hoàn toàn. Đến năm 1500 thì không một vị hoàng đế nào có thể lặp lại chuyến hành trình của Minh Thành Tổ cho dù họ có muốn thực hiện đi chăng nữa.

Ở đầu kia của đại lục Á-Âu, hoàng gia lại hành xử theo cách trái ngược. Hoàng thân Henry Nhà Hàng hải của Bồ Đào Nha đổ mọi nguồn lực vào việc thám hiểm. Một số động cơ của ông là có tính toán (thèm muốn vàng ở châu Phi) và một số mang tính trần tục (như việc tin rằng ở một nơi nào đó tại châu Phi có một vị vua Ki-tô giáo bất tử tên Prester John, người canh giữ Cổng Thiên Đường và cứu vớt châu Âu khỏi Islam giáo). Nhưng dù gì chăng nữa thì Henry đã tài trợ cho các cuộc thám hiểm, thuê lập bản đồ, và giúp thiết kế các con tàu mới đáp ứng được việc khám phá bờ biển phía tây châu Phi.

Việc thám hiểm của người Bồ Đào Nha hẳn nhiên không hoàn toàn suôn sẻ. Khi phát hiện vùng đảo hoang Madeira (Hình 8.8) năm 1420, người thuyền trưởng (cha vợ tương lai của Christopher Columbus) đã thả một thỏ mẹ và bầy thỏ con lên đảo Porto Santo, mảnh đất hứa hẹn nhất. Những con thỏ này sau đó sinh sôi phát triển và ăn tất cả mọi thứ, buộc con người phải di chuyển đến hòn đảo chính Madeira (gỗ trong tiếng Bồ Đào Nha) rừng già dày đặc. Ở hòn đảo này những người thực dân buộc phải đốt rừng, một nhà chép sử cho chúng ta biết như sau: “Để trốn chạy cơn cuồng nộ [của lửa], tất cả đàn ông, phụ nữ, và trẻ em, phải dầm mình đến tận cổ dưới biển, nhịn đói khát trong suốt hai ngày hai đêm.”❖

Tuy nhiên, khi phá hủy hệ sinh thái bản địa, người châu Âu lại phát hiện rằng mía lại phát triển mạnh ở vùng đất mới đây tro than này, và Hoàng thân Henry xuất tiền cho họ xây dựng một nhà máy. Chỉ trong vòng một thế hệ họ đã nhập nô lệ châu Phi để làm việc trong các đồn điền, và đến cuối thế kỷ XV, những người định cư xuất khẩu hơn 600 tấn đường mỗi năm.

Lao mình vào Đại Tây Dương sóng gió, các thủy thủ Bồ Đào Nha phát hiện quần đảo Azores, đi dần xuống bờ biển châu Phi, họ đến con sông Senegal vào năm 1444. Năm 1473, con tàu đầu tiên của họ vượt qua đường xích đạo, và đến năm 1482, họ đến sông Congo. Ở đây, có lúc những đợt gió nghịch khiến việc hải hành về hướng Nam là điều không thể, nhưng năm 1987, Bartolomeu Dias đã nảy ra ý tưởng volta do mar – quay về bằng đường biển. Vượt xa hơn vào vùng biển Đại Tây Dương, ông đón những cơn gió đưa ông đến nơi mà ông đặt tên là Mũi Bão Tố (ngày nay là Mũi Hảo Vọng, cho có vẻ lạc quan hơn) ở mũi phía nam châu Phi, tại đó những thủy thủ kinh hoàng của ông nổi loạn và buộc ông phải quay về. Dias không tìm thấy được vị vua truyền thuyết Prester John, nhưng ông đã mở ra khả năng cho một tuyến đường biển đến phương Đông.

Theo tiêu chuẩn của Minh Thành Tổ thì các cuộc thám hiểm của Bồ Đào Nha nhỏ bé đến nực cười (chỉ có mấy chục người, so với hàng chục nghìn người) và cũng không vinh quang gì (chỉ có thỏ, đường và nô lệ chứ không phải quà tặng của các hoàng thân cao quý), nhưng so với lợi ích từ nhận thức muộn màng thì rất dễ xem những năm 1430 là một thời điểm quyết định trong lịch sử thế giới, thời điểm mà sự thống lĩnh của phương Tây trở thành khả thi.

Hình 8.8. Thế giới nhìn từ châu Âu, và các tuyến hàng hải được những nhà thám hiểm châu Âu thế kỷ XV chọn.

Vào thời điểm mà công nghệ hàng hải bắt đầu biến những đại dương thành các xa lộ liên kết toàn bộ hành tinh, Hoàng thân Henry đã nắm bắt được các khả năng trong khi Hoàng đế Minh Anh Tông lại khước từ chúng. Ở đây, trong trường hợp này, lý thuyết về con người vĩ đại/kẻ ngố vụng về có vẻ thu đạt được nhiều: số phận của trái đất lại tùy thuộc vào quyết định của hai nhân vật này.

Hay có đúng vậy không? Viễn kiến của Henry thật ấn tượng, nhưng chắc chắn không phải là duy nhất. Những vị vua châu Âu khác cũng theo sát ông, và trên thực tế, các công ty tư nhân với vô số thủy thủ người Italy đã thúc đẩy quá trình này cũng nhiều như ý tưởng của các nhà cai trị. Nếu Henry chọn việc sưu tập tiền đồng thay vì hàng hải, thì những nhà cai trị khác cũng sẽ đảm đương vai trò của ông. Khi vua John của Bồ Đào Nha từ chối kế hoạch nghe có vẻ điên rồ của nhà thám hiểm thành Genoa Christopher Columbus về việc đi thuyền theo hướng tây đến Ấn Độ thì Nữ hoàng Isabella xứ Castile nhảy vào (dù ông phải trình bày ý tưởng của mình cho Nữ hoàng đến ba lần mới đạt được mục đích). Trong vòng một năm, Columbus trở lại, tuyên bố – sai lầm đến hai lần – rằng ông đã đến được vùng đất của vị Đại hãn (sai lầm đầu tiên, vùng đất đó chính là Cuba, và sai lầm thứ hai là các Hãn Mông Cổ đã bị đẩy khỏi Trung Hoa hơn một thế kỷ trước đó). Lo sợ bởi các báo cáo về tuyến đường mới của người Castilian đến châu Á, vua Anh Henry VII cử nhà buôn người Florence, Giovanni Caboto,⦾ đi tìm một tuyến đường thay thế ở vùng Bắc Đại Tây Dương vào năm 1497. Caboto đến miền đất Newfoundland lạnh giá, và cũng nhầm lẫn như Columbus khi cho đây là vùng đất của Đại hãn.

Điều thú vị là sai lầm của Minh Anh Tông lúc đó cũng tương tự như vậy, chúng ta nên nhớ rằng khi quyết định không gửi những thợ đóng tàu đến Nam Kinh năm 1936, ông mới chỉ chín tuổi. Những cố vấn của ông đã lựa chọn thay cho ông, và những người kế nhiệm của họ cũng đã lặp lại điều này trong suốt thế kỷ XV. Theo một câu chuyện, khi triều thần muốn phục hồi ý tưởng về Hạm đội Châu báu vào năm 1477, một phe đảng trong triều đã tiêu hủy toàn bộ hồ sơ tài liệu về những chuyến hải trình của Trịnh Hòa. Chúng ta được kể lại nhân vật cầm đầu, Lưu Đại Hạ, giải thích với viên Binh bộ thượng thư như sau:

Những chuyến đi của [Trịnh] đến Tây Dương đã làm lãng phí hàng triệu tiền của và lương thực, và ngoài ra, những người đối mặt với cái chết có thể tính đến hàng chục nghìn… Đây chỉ là hành động của một nhà nước tồi tệ, do đó các thượng thư đầu triều nên cực lực bác bỏ. Ngay cả khi những tài liệu lưu trữ xưa vẫn được lưu giữ thì chúng cũng phải bị hủy đi.

Hiểu rằng Lưu đã cố tình đánh mất tài liệu, viên Thượng thư vùng đứng dậy khỏi chỗ ngồi, thốt lên: “Đức hạnh của ông quả không nhỏ chút nào. Chắc chắn chỗ ngồi này sẽ sớm thuộc về ông!”❖

Dù Henry và Minh Anh Tông là những con người khác nhau và đưa ra những quyết định khác nhau thì lịch sử vẫn sẽ giống nhau. Lẽ ra, thay vì hỏi tại sao các hoàng thân và hoàng để lại chọn điều này thay vì điều khác, chúng ta nên hỏi tại sao người Tây Âu lại chấp nhận rủi ro trong khi chủ nghĩa bảo thủ hướng nội lại nhằm vào Trung Hoa. Có thể chỉ do văn hóa, chứ không phải con người vĩ đại hay kẻ ngốc vụng về, đã gửi Cortés chứ không phải Trịnh Hòa đến Tenochtitlán.

Phục hưng

“Vào thời điểm hiện tại tôi hầu như muốn được trở lại,” học giả Hà Lan Erasmus viết thư cho một người bạn vào năm 1517,⦾ “không vì lý do nào khác mà chỉ vì điều này – tôi dự đoán thời kỳ hoàng kim đã đến gần.”❖ Ngày nay, chúng ta hiểu thời kỳ hoàng kim theo tên gọi của người Pháp, la renaissance, phục hưng: và như một số người đã thấy, sự phục hưng này chính xác là thế lực văn hóa bất ngờ và không thể đảo ngược được, đặt người châu Âu ra khỏi phần còn lại của thế giới, khiến cho những người như Columbus và Caboto thực hiện được những điều họ muốn. Ảnh hưởng sáng tạo của một tầng lớp tinh hoa văn hóa Italy – một nhà sử học thế kỷ XIX gọi họ là – “những đứa con đầu tiên của châu Âu thời hiện đại”❖ – đã tạo ra một Cortés trên con đường đến Tenochtitlán.

Các sử gia thường lần theo gốc rễ của sự phục hưng đến tận thế kỷ XII, khi những thành phố vùng bắc Italy rũ bỏ được sự thống lĩnh của người German và quyền lực của Giáo hoàng để trỗi dậy với các gia đình có quyền lực về kinh tế. Chối bỏ lịch sử lệ thuộc vào các nhà cai trị ngoại bang, các nhà lãnh đạo mới nổi bắt đầu tự hỏi làm thế nào để tự cai trị với tư cách những nước cộng hòa độc lập, rồi đi đến kết luận rằng câu trả lời đã sẵn có trong văn học cổ điển thời kỳ La Mã. Vào thế kỷ XIV, khi biến đổi khí hậu, nạn đói và bệnh tật làm xói mòn những niềm tin cũ xưa tưởng chừng bất biến, một số trí thức đã mở rộng việc diễn giải những tác phẩm kinh điển thời cổ đại sang một tầm nhìn bao quát về sự phục hưng xã hội.

Những học giả này khẳng định rằng thời kỳ cổ đại chỉ là một vùng đất bên ngoài, còn La Mã cổ đại từng là một vùng đất của sự khôn ngoan và đức hạnh khác thường, nhưng Thời kỳ Trung cổ man rợ đã chen vào giữa thời kỳ đó và thời kỳ hiện đại này, làm hư hỏng mọi thứ. Các nhà trí thức đề xuất rằng phương cách duy nhất cho những thành bang mới được tự do của Italy là phải soi xét lại: họ phải xây dựng một cầu nối về quá khứ để trí tuệ của người xưa được tái sinh và con người được hoàn thiện.

Sự uyên bác và nghệ thuật phải là cây cầu đó. Bằng cách lùng sục các tu viện để tìm lại những bản thảo bị thất lạc và học tiếng Latin thông thạo như người La Mã, các học giả có thể tư duy như người La Mã và nói thứ ngôn ngữ như họ đã từng nói thì khi đó các nhà nghiên cứu nền văn minh Hy-La chân chính (như các nhà Phục hưng tự nhận) mới lấy lại được sự khôn ngoan của người xưa. Tương tự như thế, bằng cách sục sạo những di tích La Mã cổ đại, các kiến trúc sư mới có thể học được cách tái tạo thế giới vật chất của thời kỳ cổ đại để xây dựng nhà thờ và cung điện định hình được đời sống đức hạnh cao nhất. Còn những họa sĩ và nhạc sĩ, vốn không có di tích La Mã nào để nghiên cứu, phải có những suy đoán tốt nhất về các mô hình cổ đại, và các nhà cái trị, nếu muốn được hoàn thiện thế giới thì phải thuê các nhà nghiên cứu văn minh Hy-La làm cố vấn, giao các nghệ sĩ biến chúng thành bất tử, đồng thời thu thập những cổ vật La Mã.

Một điều kỳ lạ về thời kỳ Phục hưng này là nhìn bên ngoài trông có vẻ một cuộc đấu tranh phản động nhằm để tái tạo những gì cổ xưa nhưng thực ra nó đã tạo ra một thứ văn hóa phi truyền thống mãnh liệt dành cho phát minh và tìm tòi vô hạn định. Chắc chắn cũng có những tiếng nói bảo thủ, bác bỏ một số nhà tư tưởng cấp tiến hơn (như Machiavelli) bắt họ phải uống cạn chén đắng của sự lưu đày và đe dọa những người khác (như Galileo) khiến họ phải rơi vào im lặng, nhưng họ hầu như không làm cùn nhụt được sức mạnh của những ý tưởng mới.

Tác động của nó thật là phi thường. Bằng cách liên kết mọi ngành học thuật, nghệ thuật và kỹ thuật với đủ mọi thứ, đồng thời đánh giá chúng dưới ánh sáng của thời kỳ cổ đại, những người Phục hưng⦾ như Michelangelo chẳng hạn, đã cùng lúc cách mạng hóa tất cả mọi thứ. Một số những nhân vật đáng kinh ngạc này, ví dụ như Leon Batista Alberti, đã sáng tạo những lý thuyết rực rỡ, và những con người vĩ đại nhất, chẳng hạn như Leonardo da Vinci, lại xuất sắc về mọi mặt, từ nghệ thuật vẽ chân dung đến toán học. Những đầu óc sáng tạo này di chuyển dễ dàng từ các xưởng vẽ đến cấp lãnh đạo chóp bu, tạm ngừng công việc lý thuyết để lãnh đạo quân đội, nắm giữ chức vụ và tư vấn cho các nhà cai trị. (Ngoài việc viết cuốn The Prince [Quân Vương] nổi tiếng, Machiavelli còn soạn những hài kịch xuất sắc ở thời kỳ đó). Du khách và những di dân lại đem truyền bá những ý tưởng mới từ cái nôi của nền Phục hưng ở Florence đến Bồ Đào Nha, Ba Lan và Anh, những nơi rồi sẽ nở rộ các nền Phục hưng địa phương riêng biệt.

Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là một trong những giai đoạn gây kinh ngạc nhất trong lịch sử. Nhưng những người Italy thời kỳ Phục hưng không tái dựng được một La Mã cổ đại – ngay cả vào năm 1500, phát triển xã hội phương Tây vẫn còn thấp hơn 10 điểm so với thời kỳ đỉnh cao của Đế quốc La Mã cách đó một thiên niên kỷ rưỡi. Tuy thời đó số người Italy biết đọc nhiều hơn ở thời kỳ hoàng kim của Đế quốc La Mã, nhưng thành phố lớn nhất châu Âu chỉ bằng một phần mười kích thước của thành Rome thời cổ đại; những người lính châu Âu, mặc dù được trang bị súng ống, nhưng cũng phải phấn đấu nhiều mới vượt được những quân đoàn của Caesar; và những nước giàu nhất châu Âu vẫn không đạt năng suất bằng các tỉnh giàu nhất của Rome. Nhưng những khác biệt mang tính lượng định này chẳng có ý nghĩa quan trọng gì so với việc người Italy thời kỳ Phục hưng thực sự đã cách mạng hóa nền văn hóa phương Tây một cách triệt để đến mức khiến châu Âu khác biệt hẳn với phần còn lại của thế giới, tạo cảm hứng cho các nhà thám hiểm phương Tây chinh phục châu Mỹ trong khi những người phương Đông bảo thủ còn ru rú ở quê nhà.

Tôi cho rằng giới trí thức Trung Hoa sẽ ngạc nhiên khi nghe đến ý tưởng này. Tôi có thể hình dung họ sẽ gác bút nghiên sang một bên để kiên nhẫn giải thích cho các sử gia châu Âu thế kỷ XIX, những người tưởng tượng ra lý thuyết này rằng những người Italy ở thế kỷ XIX không phải là những người đầu tiên cảm thấy thất vọng với lịch sử mới đây của họ và nhìn về quá khứ xa xưa để hoàn thiện thời kỳ hiện đại. Những nhà tư tưởng Trung Hoa – như chúng ta đã thấy ở Chương 7 – đã làm điều tương tự trước đó 400 năm soi chiếu lại Phật giáo trong quá khứ để tìm sự thông thái ưu việt trong văn chương và hội họa thời nhà Hán. Người Italy đã biến thời cổ đại thành một chương trình phục hưng xã hội vào thế kỷ XV, nhưng người Trung Hoa đã làm thế vào thế kỷ XI. Florence năm 1500 đầy rẫy thiên tài, chuyển đổi thoải mái giữa nghệ thuật, văn học và chính trị, nhưng Khai Phong vào năm 1100 cũng chẳng kém cạnh gì. Liệu tư tưởng khoáng đạt của Leonardo có đáng kinh ngạc hơn của Thẩm Quát (Shen Kuo), người viết về nông nghiệp, khảo cổ học, bản đồ học, thay đổi khí hậu, tác phẩm kinh điển, dân tộc học, địa chất, toán học, y học, luyện kim, khí tượng học, âm nhạc, hội họa và động vật học hay không? Cũng sành sỏi về các ngành cơ học như bất kỳ nhà phát minh Florence nào, Thẩm Quát giải thích những vận hành của các hệ thống và kỹ thuật sắp chữ động trong in ấn, thiết kế một kiểu đồng hồ nước mới và chế tạo máy bơm hút cạn đến 100.000 mẫu đất đầm lầy. Cũng đa năng như Machiavelli, ông làm quan trong triều đến chức Thái sử lệnh phụ trách quan sát thiên văn và đàm phán các hiệp ước với dân du mục. Leonardo chắc chắn sẽ rất ấn tượng về những gì Thẩm Quát đã làm.

Lý thuyết thế kỷ XIX cho rằng thời kỳ Phục hưng đã dẫn dắt châu Âu theo một hướng đi độc đáo dường như ít thuyết phục hơn nếu Trung Hoa cũng có một cuộc Phục hưng gây ấn tượng trước đó bốn thế kỷ. Có lẽ việc kết luận rằng Trung Hoa và châu Âu đều có thời kỳ Phục hưng thì hợp lý hơn do cùng lý do cả hai đều có làn sóng đầu tiên và thứ hai của tư duy Trục: bởi vì mỗi thời đại đều có tư duy mà nó cần đến. Những người tài trí và có kiến thức đều suy ngẫm về những vấn đề họ phải đối mặt, và nếu phải đối mặt với những vấn đề giống nhau, họ sẽ đưa ra những đối phó giống nhau, bất kể họ sống ở đâu và vào thời nào.⦾

Người Trung Hoa ở thế kỷ XI và người châu Âu ở thế kỷ XV đúng là phải đối mặt với những vấn đề khá giống nhau. Cả hai nhóm người đều sống trong thời kỳ phát triển xã hội gia tăng. Cả hai đều có cảm nhận rằng làn sóng thứ hai của tư duy Trục đã chấm dứt một cách tệ hại (sự sụp đổ của triều đại nhà Đường và chống đối Phật giáo phương Đông, biến đổi khí hậu, Cái Chết Đen và khủng hoảng của giáo hội ở phương Tây). Cả hai đều có tầm nhìn vượt khỏi quá khứ man rợ gần đây để đến với những thời kỳ huy hoàng xa xưa của làn sóng đầu tiên của tư duy Trục (Khổng Tử và Đế chế nhà Hán ở phương Đông, Cicero và Đế quốc La Mã ở phương Tây). Và cả hai nhóm này đều đối phó giống nhau, áp dụng kiến thức tiến bộ nhất về văn học và nghệ thuật cổ xưa đồng thời sử dụng các kết quả để diễn giải thế giới theo những phương cách mới.

Việc đặt câu hỏi tại sao nền văn hóa thời Phục hưng ở châu Âu lại thúc đẩy những kẻ lao mình đến Tenochtitlán trong khi những người bảo thủ ở Trung Hoa lại ru rú ở quê nhà xem ra cũng không thấu đáo, chẳng khác gì câu hỏi tại sao các nhà cai trị phương Tây lại là những con người vĩ đại trong khi ở phương Đông thì chỉ toàn là những kẻ ngốc nghếch vụng về. Rõ ràng chúng ta cần đặt lại câu hỏi theo cách khác. Nếu thời kỳ Phục hưng của châu Âu thế kỷ XV thực sự đã truyền cảm hứng cho việc thám hiểm táo bạo, thì chúng ta nên hỏi tại sao thời kỳ Phục hưng của Trung Hoa ở thế kỷ XI lại không xảy ra điều tương tự: Tại sao các nhà thám hiểm Trung Hoa lại không khám phá ra châu Mỹ ở thời kỳ triều đại nhà Tống, trước cả thời gian Menzies tưởng tượng họ đến đó?

Câu trả lời nhanh chóng là không một tinh thần Phục hưng nào có thể đưa các nhà thám hiểm đời Tống đến được châu Mỹ trừ phi tàu thuyền của họ có thể đi được, và tàu thuyền Trung Hoa ở thế kỷ XI thì dường như không thể. Nhưng một số sử gia không đồng ý; họ cho rằng những người Viking đã đến châu Mỹ khoảng năm 1000 trong những chiếc thuyền dài đơn giản hơn nhiều so với loại thuyền mành của Trung Hoa. Nhưng nếu lướt nhanh trên một quả địa cầu (hay Hình 8.10), ta sẽ thấy một sự khác biệt lớn. Với việc đi thuyền qua quần đảo Faeroes, Iceland và Greenland, những người Viking không phải vượt hơn 800km biển khơi để đến châu Mỹ. Điều đáng sợ là những nhà thám hiểm Trung Hoa phải vượt 8.000km bằng thuyền ngược dòng hải lưu Kuro Siwo chảy qua Nhật Bản, vượt qua quần đảo Aleutian, để cập bờ ở phía bắc California (nếu theo dòng chảy nghịch xích đạo để đi từ Philippines tới Nicaragua thì đoạn đường vượt biển dài gấp đôi).

Vị trí địa lý tự nhiên – và như chúng ta thấy ở phần sau của chương này, các loại địa lý khác nữa – giúp người Tây Âu vượt qua Đại Tây Dương dễ hơn người phương Đông vượt qua Thái Bình Dương. Và nếu như trong khi các cơn bão có thể tình cờ thổi bay con tàu Trung Hoa đến tận châu Mỹ⦾ – và thử hình dung dòng hải lưu Bắc chí tuyến có thể đưa họ về lại quê nhà – thì các nhà thám hiểm thế kỷ XI, dù được thúc đẩy bởi tinh thần Phục hưng, vẫn không bao giờ có thể tìm thấy châu Mỹ và trở về để kể lại câu chuyện này.

Chỉ trong thế kỷ XII việc đóng tàu và ngành hàng hải mới được cải tiến để có thể tin được những con tàu Trung Hoa có thể thực hiện chuyến hải hành khứ hồi khoảng 10.000km từ Nam Kinh đến California, và dĩ nhiên nó vẫn đi trước Columbus và Cortés gần 400 năm. Vậy tại sao không có những nhà chinh phục Trung Hoa ở thế kỷ XII?

Có lẽ vì tinh thần Phục hưng ở Trung Hoa, dù chúng ta dùng thuật ngữ này ở ý nghĩa nào, đã thoái trào ở thế kỷ XII. Phát triển xã hội bị trì đọng rồi sụp đổ ở những thế kỷ XIII và XIV, và khi những điều kiện tiên quyết cho nền văn hóa thời kỳ Phục hưng biến mất, thì giới tinh hoa lại trở nên bảo thủ hơn. Một số sử gia cho rằng thất bại của Biến Pháp do Vương An Thạch đề xướng ở những năm 1070 đã khiến các trí thức Tân Nho học chống lại việc tham gia vào thế giới rộng lớn hơn; một số thì quy cho sự sụp đổ của kinh đô Khai Phong năm 1127; còn số khác lại nhìn thấy nguyên nhân ở những chỗ hoàn toàn khác nhau. Nhưng hầu như tất cả đều đồng ý rằng mặc dù các nhà trí thức vẫn tiếp tục có những tư duy mang tính toàn cầu, hành động của họ vẫn mang tính cục bộ. Thay vì dấn thân vào chính trị để đấu tranh ở kinh đô, hầu hết đều chọn ở lại quê nhà. Một số tổ chức các trường học địa phương, soạn bài và dạy học trò ê a nhưng lại giảm đào tạo các học giả tiến thân bằng con đường thi cử. Những người khác thì lập ra luật tắc để giữ kỷ cương làng mạc và các lễ nghi trong gia đình; số khác lại tập trung vào bản thân nhằm xây dựng sự hoàn thiện cho một cuộc sống riêng rẽ thông qua an tọa và chiêm nghiệm. Theo nhà lý luận Chu Hy ở thế kỷ XII:

Nếu chúng ta cố gắng kiến lập trí óc của mình ở một trạng thái bất nghi, sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển theo kiểu khai thông của một dòng sông lớn… Vì vậy, giờ đây chúng ta hãy đặt hết tâm trí vào việc tán dương những bản chất đạo đức của mình và theo đuổi các vấn đề nghiên cứu. Hằng ngày chúng ta hãy tự tìm tòi xem mình có chểnh mảng điều gì trong việc nghiên cứu và có buông thả điều gì trong bản chất đạo đức của mình hay không… Nếu chúng ta luôn thúc đẩy bản thân theo cách này trong một năm, thì làm sao chúng ta lại không thể phát triển được chứ?

Chu Hy chính là mẫu người của thời đại đó. Ông khước từ các chức vị trong triều và sống một đời sống giản dị, tạo dựng tiếng tăm ngay từ đầu khi giảng dạy tại một ngôi trường địa phương, viết sách và gửi thư giải thích tư tưởng của mình. Sự dấn thân duy nhất của ông vào nền chính trị đất nước đã kết thúc bằng lưu đày và chỉ trích, và công trình một đời của ông bị cho là kiến thức giả tạo. Tuy nhiên, do những hiểm dọa gia tăng từ bên ngoài ở thế kỷ XIII, quan lại thời Tống phải tìm cách ràng buộc giai tầng của mình với cứu cánh của bản thân, đồng thời triết lý an nhiên của Chu Hy, vốn không đe dọa gì về mặt chính trị đối với những kiến giải của Khổng Tử, lại bắt đầu có vẻ khá hữu dụng. Những học thuyết của ông đầu tiên được khôi phục, sau đó được đưa vào thi cử, và cuối cùng là nền tảng duy nhất cho việc thăng quan tiến chức. Tư tưởng của Chu Hy trở thành chính thống. Khoảng năm 1400, một sĩ phu hồ hởi tuyên bố: “Kể từ thời Chu Hy, thiên hạ mới hiểu rõ về Đạo. Không cần viết thêm gì nữa; điều còn lại chỉ là thực hành nó.”❖

Chu Hy thường được xem là nhà tư tưởng có ảnh hưởng thứ hai trong lịch sử Trung Hoa (sau Khổng Tử nhưng đứng trước Mao Trạch Đông), và tùy thuộc vào quan điểm của người phán xét, là người đứng mũi chịu sào trong việc hoàn thiện những gì thuộc về kinh điển hoặc buộc Trung Hoa phải rơi vào tình trạng trì trệ, tự mãn, và bị áp bức. Nhưng cả hai điều này đều ca ngợi hoặc đổ lỗi cho Chu Hy thái quá. Cũng như mọi nhà lý luận giỏi giang nhất, đơn giản ông chỉ cung cấp cho thời đại đó những ý tưởng mà nó cần, và người ta chỉ sử dụng chúng khi thấy phù hợp.

Điều này rõ ràng nhất trong tư tưởng của Chu Hy về các giá trị gia đình. Vào thế kỷ XII, Phật giáo, chủ thuyết nam nữ bình quyền sơ khai, và tăng trưởng kinh tế đã chuyển đổi các vai trò giới tính trước đó. Những gia đình giàu có giờ đây thường giáo dục con gái mình và cho của hồi môn nhiều hơn khi họ kết hôn, điều này đã khiến những người vợ có nhiều ảnh hưởng hơn, và do vị thế tài chính của phụ nữ được cải thiện, họ liền tạo dựng nguyên tắc con gái cũng phải được thừa kế tài sản như con trai. Ngay cả trong các gia đình nghèo hơn, việc sản xuất hàng dệt may thương mại cũng đem lại nhiều quyền lợi hơn cho phụ nữ, điều này lại một lần nữa khiến quyền sở hữu tài sản của họ mạnh hơn.

Số nam giới thuộc tầng lớp giàu có ở thế kỷ XII bắt đầu phản ứng mạnh mẽ, lúc đó Chu Hy vẫn còn trẻ. Phản ứng này nhằm khuyến khích lòng tiết trinh của nữ giới, đức tính phụ thuộc của người vợ, và yêu cầu phụ nữ phải giam mình trong khuôn viên của gia đình (nếu họ có nhu cầu phải ra ngoài thì phải che mạng hoặc đi kiệu có rèm che). Những kẻ phê phán đặc biệt chỉ trích những góa phụ tái hôn, đồng nghĩa với việc đem tài sản của họ cho những gia đình khác. Đến thời kỳ tư tưởng của Chu Hy được phục hồi, vào thế kỷ XIII, tiêu chuẩn về đức hạnh của ông về việc tái dựng những gia đình Nho giáo hoàn hảo xem ra là một phương tiện hữu ích để đưa ra định hướng có tính triết học cho những ý tưởng này và khi giới quan lại loại bỏ được các luật lệ về sở hữu tài sản có lợi cho phụ nữ vào thế kỷ XIV, họ hồ hởi tuyên bố rằng tất cả đều căn cứ vào tư tưởng của Chu Hy.

Những luận thuyết của họ Chu không phải là nguyên nhân gây ra những thay đổi này trong đời sống của phụ nữ. Chúng đơn thuần chỉ là một phần của một tâm thế phản động rộng lớn hơn không chỉ bám rễ trong giới quan lại học thức mà còn cả những người chưa từng đọc luận thuyết của Chu Hy. Ví dụ như những thể hiện của nghệ nhân về vẻ đẹp của phụ nữ thay đổi đáng kể trong những năm này. Quay trở lại thế kỷ VIII, trong thời kỳ đỉnh cao của Phật giáo và chủ thuyết nam nữ bình quyền sơ khai, một trong những phong cách tượng gốm sứ nhỏ phổ biến nhất là những gì mà các nhà lịch sử nghệ thuật thường gọi một cách thiếu tế nhị là những quý bà phì nộn. Theo truyền thuyết thì chúng được lấy cảm hứng từ vẻ đẹp của Dương Quý Phi, nhân vật đã khiến An Lộc Sơn nổi loạn năm 755, loại tượng gốm này thể hiện những phụ nữ rắn rỏi đủ cho Rubens thoải mái sáng tác các kiểu dáng, từ khiêu vũ đến chơi mã cầu. Tuy nhiên, khi các họa sĩ thế kỷ XII khắc họa phụ nữ thì ngược lại, họ thường nhợt nhạt, xanh xao, hầu hạ nam giới hoặc uể oải ngồi chờ chồng trở về.

Những người đẹp mảnh mai này có lẽ luôn phải ngồi xuống vì bàn chân của họ bị tổn thương. Tục bó chân nổi tiếng – làm biến dạng bàn chân các bé gái bằng cách quấn chặt chúng bằng băng vải, làm méo mó và vỡ các ngón chân để giữ vẻ thanh nhã – có thể bắt đầu khoảng năm 1100, 30 năm trước khi Chu Hy sinh ra. Đã có một vài bài thơ đề cập đến tục lệ này lúc đó, nhưng ngay sau năm 1148 một sĩ phu có nhận xét rằng “tục bó chân của phụ nữ bắt đầu trong thời kỳ gần đây chứ nó không được nói đến trong bất kỳ cuốn sách nào ở những thời kỳ trước đó.”❖

Các bằng chứng khảo cổ học sớm nhất về tục bó chân hiển lộ từ các ngôi mộ của Hoàng Thăng (Huang Sheng) và Phu nhân Chu, những phụ nữ này chết vào các năm tương ứng 1243 và 1274. Mỗi người đều được chôn cất với bàn chân bị bó bởi những dải băng vải dài 1,8m với ủng lụa mũi cong nhọn kèm theo vớ (Hình 8.9). Bộ xương của Phu nhân Chu được bảo quản đủ tốt cho thấy đôi chân bị biến dạng của bà khớp với vớ và ủng: tám ngón chân nhỏ của bà quặp xuống lòng bàn chân còn hai ngón cái lại cong lên, tạo ra một đôi chân đủ mảnh dẻ cho vừa với đôi hài hẹp và nhọn của bà.

Trung Hoa ở thế kỷ XII không phát kiến ra sự biến cải đôi chân nữ giới. Việc hoàn thiện lối đi đứng của phụ nữ có vẻ là một nỗi ám ảnh hầu như phổ quát đối với nam giới. Tuy nhiên, nỗi đau khổ áp đặt lên Hoàng Thăng và Phu nhân Chu là những luật tục có tầm quan trọng lớn hơn những luật tục được cung cấp ở các nền văn hóa khác. Việc đi giày cao gót sẽ gây viêm tấy ở kẽ chân cái, còn việc bó chân sẽ làm bạn ngồi xe lăn. Sự đau đớn mà tục lệ này gây ra – kéo dài ngày này sang ngày khác, từ lúc nằm nôi đến khi nhắm mắt qua đời – thật khó tưởng tượng. Ngay trong năm Phu nhân Chu được chôn cất, một sĩ phu đã đưa ra lời chỉ trích đầu tiên về tục bó chân: “Những cô bé còn nhỏ chưa đầy bốn, năm tuổi, chưa làm điều gì sai trái, nhưng lại phải chịu cảnh bó đôi chân nhỏ bé đau đớn vô cùng. Tôi chẳng biết người ta bày ra làm gì.”❖ Vậy công dụng của nó là gì? Dù sao thì tục bó chân vẫn phát triển ngày càng phổ biến và khủng khiếp. Tục bó chân ở thế kỷ XIII làm chân thon hơn; nhưng ở thế kỷ XVII lại làm kiểu chân ngắn hơn, các ngón chân bị quặp xuống dưới gót tạo thành một búi tròn tê bại do dây chằng bị đứt và gân bị xoắn lại, được gọi là kiểu bông sen vàng. Những bức ảnh chụp các bàn chân bị biến dạng của những nạn nhân cuối cùng ở thế kỷ XX quả là khó nhìn.⦾

Hình 8.9. Bàn chân nhỏ bé: dép lụa và vớ từ ngôi mộ của Hoàng Thăng, một cô gái 17 tuổi bị chôn năm 1243, người bó chân đầu tiên có chứng cứ thuyết phục trong lịch sử.

Việc quy trách nhiệm cho Chu Hy về tất cả mọi điều là thái quá. Triết lý của ông không phải là nguyên nhân khiến cho nền văn hóa tinh hoa Trung Hoa ngày càng bảo thủ, nhưng nói đúng hơn, chính chủ nghĩa bảo thủ văn hóa đã khiến ý tưởng của ông thành công. Tư tưởng của Chu Hy chỉ là yếu tố dễ nhận ra nhất của một phản ứng rộng rãi hơn đối với sự thất bại của quân đội, sự suy trầm, và phát triển xã hội giảm sút. Khi thế giới trở nên tồi tệ ở thế kỷ XII thì thời kỳ cổ đại không còn là một nguồn gốc của sự đổi mới mà chỉ là một nguồn trú ẩn, và vào thời điểm Phu nhân Chu qua đời, năm 1274, một kiểu tinh thần thời Phục hưng để có thể thúc đẩy việc thám hiểm thế giới lại thiếu hụt trầm trọng.

Vậy thì phải chăng sự trì trệ, rồi suy giảm phát triển xã hội sau năm 1100 đã giải thích lý do tại sao Cortés, chứ không phải Trịnh Hòa, đến Tenochtitlán: Vâng, nhưng chỉ một phần. Có thể nó đã giải thích cho lý do tại sao không có những hành trình khám phá vĩ đại ở thế kỷ XII và XIII. Nhưng đến năm 1405, khi Hạm đội Châu báu đầu tiên của Trịnh Hòa xuất phát từ Nam Kinh, thì phát triển xã hội phương Đông lại một lần nữa gia tăng nhanh chóng. Chính việc Minh Thành Tổ tiếp tục gửi Trịnh Hòa đến vùng Ấn Độ Dương đã cho thấy một tầm nhìn rộng lớn hơn. Khi phát triển xã hội gia tăng trở lại, những trí thức thế kỷ XV bắt đầu tìm kiếm các phương án để thay thế tư tưởng của Chu Hy.

Chẳng hạn như nhân vật Vương Dương Minh khác thường, một người từng theo đuổi những phép tắc của Chu Hy. Vào thập niên 1490, Vương đã từng ngồi suy ngẫm dưới một bụi trúc đến một tuần theo đúng những gì Chu Hy đề xuất, nhưng thay vì đạt được sự thấu hiểu, ông lại đổ bệnh. Thời đó, Vương Dương Minh là hiện thân của một dạng thấu hiểu thích hợp cho một xã hội thành công và mở rộng: ông nhận ra rằng mọi người đều nhận biết chân lý qua trực giác chứ không cần phải mất nhiều năm an tọa và nghiên cứu những chú giải về Khổng Tử. Mọi người chúng ta vẫn có thể đạt được sự minh triết nếu thực hành việc nhập thế. Vương Dương Minh, con người của thuyết tri hành hợp nhất, đã trở thành một con người thời kỳ Tân Phục hưng, được xem là một trong số các tướng lĩnh, nhà kỹ trị, người hiệu chỉnh văn bản cổ, và nhà thơ hàng đầu ở thời kỳ đó. Những môn đệ của ông, thậm chí còn chống đối tư tưởng của Chu Hy hơn nữa, khẳng định rằng đường phố thì đầy rẫy những bậc hiền nhân, mọi người ai cũng có thể đánh giá đúng sai, và làm giàu là một điều tốt. Thậm chí họ còn tán thành sự bình đẳng của phụ nữ.

Quyết định chấm dứt các chuyến hành trình của Trịnh Hòa thực ra không phải do hoàn cảnh cắt giảm chi tiêu của giới bảo thủ mà là để phản ứng lại những khai triển, đổi mới và thách thức phải đối mặt và vượt qua. Có rất ít ý kiến cho rằng nếp suy nghĩ hướng nội cứng nhắc đã kết liễu sự thám hiểm của người Trung Hoa ở thế kỷ XV trong khi một nền văn hóa Phục hưng năng động lại thúc đẩy người châu Âu vượt biển. Vậy thì do những gì?

Lợi thế của sự cách biệt

Chúng ta đã thấy câu trả lời: một lần nữa chính bản đồ địa lý, chứ không phải những đứt gãy, đã dẫn dắt phương Đông và phương Tây theo những con đường khác nhau. Vị trí địa lý tạo điều kiện cho người phương Tây dễ dàng dạt vào châu Mỹ hơn người phương Đông (Hình 8.10).

Lợi thế về địa lý rõ ràng nhất của châu Âu là về tự nhiên: gió thường thổi trong khu vực, vị trí các quần đảo, và kích thước rộng lớn của Đại Tây Dương và Thái Bình Dương giúp mọi thứ trở nên dễ dàng hơn. Đã có lúc các nhà thám hiểm Đông Á rồi cũng sẽ vượt qua Thái Bình Dương, nhưng khi mọi điều kiện khác đều như nhau, thì những thủy thủ người Viking hay Bồ Đào Nha lại dễ đến được Tân Thế giới hơn là người Trung Hoa hay Nhật Bản.

Hình 8.10. Cách nhìn thế giới thứ ba: cách địa lý tự nhiên xếp chồng lên nhau sao cho có lợi của Tây Âu bằng cách đặt nó chỉ 3.000 dặm từ Mỹ, trong khi Trung Hoa tiếc thay lại nằm cách Tân Thế giới xa gấp hai lần.

Dĩ nhiên trên thực tế, những điều khác hiếm khi tương đồng, và thế kỷ XV, địa lý kinh tế và địa lý chính trị hợp lại đã giúp nhân rộng những lợi thế về địa vật lý của Tây Âu. Phát triển xã hội phương Đông cao hơn nhiều so với phương Tây, và nhờ vào những người như Marco Polo mà người phương Tây biết được điều đó. Điều này giúp khích lệ nền kinh tế phương Tây tiếp cận phương Đông và khai thác những thị trường giàu có nhất trên thế giới. Ngược lại, người phương Đông lại có ít động lực để hướng về phía tây vì họ tin rằng những người khác phải đến với họ.

Người Ả Rập, do nằm ở vị trí thuận tiện, đã thống lĩnh các tuyến huyết mạch phía Tây của Con đường Tơ lụa và mọi con đường giao thương ở vùng Ấn Độ Dương, và trong nhiều thế kỷ, người châu Âu do nằm ở vị trí xa nhất của cả hai tuyến huyết mạch Đông-Tây, nên chủ yếu nằm nhà chấp nhận những mẩu thức ăn thừa mà người Venice chọn lấy từ các mâm cỗ của người Ả Rập. Tuy nhiên, chính những cuộc Thập tự chinh và chinh phục của người Mông Cổ đã làm thay đổi bản đồ chính trị, tạo điều kiện dễ dàng cho sự tiếp cận của người châu Âu với phương Đông. Lòng tham lấn át sự lười biếng và sợ hãi, lôi kéo các thương nhân (đặc biệt là thương nhân thành Venice) xuống Hồng Hải để vào Ấn Độ Dương hay, như gia đình Marco Polo, vượt qua vùng thảo nguyên.

Khi những quốc gia Tây Âu bắt đầu hướng đến nhà nước cấp cao và gia tăng các cuộc chiến tranh sau thời kỳ Cái Chết Đen, thì địa lý chính trị góp thêm động lực cho việc thúc đẩy kinh tế. Các nhà cai trị dọc rìa Đại Tây Dương cũng cần mua sắm thêm vũ khí và đã mệt mỏi với những cách làm giàu thông thường (thúc đẩy bộ máy quan liêu để đánh thuế thần dân của mình, bóc lột người Do Thái, cướp bóc các nước láng giềng, v.v.) nên họ sẵn sàng thỏa hiệp với bất kỳ ai có thể cung cấp cho họ nguồn doanh thu mới, thậm chí cả những con người tham lam, mờ ám bu quanh các bến cảng.

Các vương quốc ở vùng Đại Tây Dương nằm cách Hồng Hải và Con đường Tơ lụa một khoảng cách đủ để đi tới, nhưng đủ các loại thuyền trưởng, vốn tin tưởng vào những con tàu mới kỳ diệu của họ, hứa hẹn sẽ biến vùng đất trước đây từng bị cô lập về mặt địa lý thành một lợi thế, đổi lại họ nhận được các khoản quà tặng, cho vay và độc quyền thương mại. Họ hứa sẽ tìm thấy một tuyến đường Đại Tây Dương đến phương Đông. Một số thì hứa sẽ đi vòng quanh mũi phía nam châu Phi vào Ấn Độ Dương để tránh việc phải đối phó trong làm ăn với thương nhân Venice và người Islam giáo. Những kẻ khác thì cho rằng chỉ cần thẳng tiến về hướng tây vòng quanh thế giới rồi xuất hiện phương Đông⦾ (còn có cách tiếp cận thứ ba là đi thuyền qua Bắc Cực, nhưng với những lý do cụ thể, rõ ràng ít hấp dẫn hơn).

Hầu hết người châu Âu đều chọn đi về hướng nam thay vì hướng tây vì họ tính toán chính xác rằng họ sẽ phải đi một khoảng đường rất dài từ hướng tây để đến được phương Đông. Nếu có chỗ nào cho những kẻ ngốc nghếch vụng về trong câu chuyện này, chắc chắn nó phải thuộc về Columbus, người đã mở đường đến Tenochtitlán qua việc lượng định sai lầm nghiêm trọng khoảng cách vòng quanh thế giới và không chịu tin rằng mình đã đưa ra những con số sai trật. Ngược lại, nếu có chỗ dành cho những con người vĩ đại thì phải dành cho những cố vấn có đầu óc cứng rắn của các Hoàng đế triều Minh về việc, sau khi tính toán chi phí và lợi ích, đã cho ngừng những chuyến đi không thực tế của Trịnh Hòa vào thập niên 1430 và làm thất lạc hồ sơ giấy tờ của Trịnh Hòa vào thập niên 1470.

Đôi khi một chút vụng về nho nhỏ lại là một điều tốt, nhưng trên thực tế tư duy vụng về hay tốt đẹp vẫn không khác biệt gì lắm, vì bản đồ ít để lại ít cơ hội cho người ta làm điều gì ngoại trừ những việc họ đã thực hiện. Khi Minh Thành Tổ lên ngôi vào năm 1403, ông cần phải hàn gắn vị thế của đất nước mình ở Nam Á. Việc cử các Hạm đội Châu báu của Trịnh Hòa đến Calicut và eo Hormuz là một phương sách tốn kém, nhưng có hiệu quả; nhưng để gửi họ Trịnh đến một đại dương mênh mông thì không thể chấp nhận được cho dù có biết bao nhiêu loại cây cả trường sinh nằm ở đó. Luôn luôn có khả năng các nhà kỹ trị Trung Hoa ở thế kỷ XV sẽ cho dừng các chuyến đi tốn kém vào Ấn Độ Dương và cũng không bao giờ có khả năng họ sẽ gửi các hạm đội vào Thái Bình Dương. Vấn đề địa kinh tế đã khiến công việc thám hiểm trở nên bất hợp lý.

Thật khó hiểu tại sao các thủy thủ châu Âu tràn vào châu Mỹ nhanh đến thế một khi họ chỉ nhăm nhăm vượt Đại Tây Dương tìm kiếm con đường dẫn tới sự giàu có ở phương Đông. Columbus và người của ông phải là những kẻ gan dạ và sắt đá mới lao mình vào nơi chưa hề biết đến, chịu gió táp mưa sa mà không có gì chắc chắn sẽ có luồng gió khác đưa họ về lại quê nhà, nhưng nếu họ có chần chừ thì đã có hàng vạn con người dũng cảm nằm đây ở các cảng châu Âu sẵn sàng thay thế. Và nếu Nữ hoàng Isabella từ chối kiến nghị lần thứ ba của Columbus vào năm 1492, thì người châu Âu ắt hẳn cũng không ngừng xuất phát theo hướng tây. Hoặc Columbus cũng sẽ tìm được người bảo trợ khác hoặc chúng ta chỉ nhớ tới một nhà đi biển khác – có thể là Caboto hay Pedro Alvares Cabral người Bồ Đào Nha, nhân vật đã phát hiện Brazil ngăn đường ông đến Ấn Độ vào năm 1500 – là người khám phá vĩ đại.

Bản đồ khiến phát sinh những điều không thể tránh được – nói là không thể tránh được cũng như khi nông dân thay thế người săn bắt-hái lượm hay các quốc gia thay thế làng mạc – khiến những thủy thủ gan dạ ở vùng rìa bờ biển Đại Tây Dương sớm hay muộn cũng tìm ra châu Mỹ, và chắc chắn là sớm hơn những thủy thủ gan dạ ở Biển Đông.

Và một khi điều đó xảy ra, hậu quả phần lớn cũng được định trước. Vi trùng, vũ khí và thể chế châu Âu mạnh hơn nhiều so với những người châu Mỹ bản địa nên quần thể cư dân và nhà nước bản địa đương nhiên phải sụp đổ. Nếu quốc vương Montezuma hay Cortés có những lựa chọn khác, thì những kẻ chinh phục đầu tiên có thể đã nằm chết trên những bệ thờ thấm máu của thành phố Tenochtitlán, trái tim của họ đã bị moi ra từ những cơ thể đang gào thét để dâng lên các vị thần, nhưng rồi cũng sẽ có nhiều kẻ chinh phục khác lũ lượt tiếp bước họ, đem thêm bệnh đậu mùa, đại bác và đồn điền. Người châu Mỹ bản địa không còn cách gì kháng cự lại các đế quốc châu Âu hơn những người săn bắt-hái lượm bản địa ở châu Âu kháng cự lại những nông dân bảy hoặc tám thiên niên kỷ trước đó.

Địa lý cũng quan trọng không kém khi người châu Âu đi vòng qua Nam Phi để tiến vào Ấn Độ Dương, nhưng theo những cách khác nhau. Ở đây người châu Âu bước vào một thế giới phát triển xã hội cao hơn, với các đế chế cổ đại, các nhà kinh doanh lâu đời và các căn bệnh do vi rút gây ra. Khoảng cách và phí tổn – địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế – khiến những cơ hội xâm nhập của người châu Âu cũng ít ỏi như ở châu Mỹ. Sứ mệnh đầu tiên của người Bồ Đào Nha là đi thuyền vòng quanh châu Phi để đến Ấn Độ vào năm 1498 với chỉ có bốn con tàu đảm nhận. Chỉ huy của đoàn tàu, Vasco da Gama, một nhân vật không ai biết đến, được chọn mà không kỳ vọng sẽ thành công.

da Gama là một thuyền trưởng tuyệt vời, ông đi hết khoảng 9.500km ngoài biển khơi để đón những cơn gió đưa ông đến phía nam châu Phi, nhưng ông không phải là một nhà chính trị. Ông thực hiện gần như tất cả mọi thứ có thể để chứng tỏ với những người thiếu niềm tin vào ông. Thói quen bắt cóc và phạt những người dẫn đường địa phương, chút nữa thì dẫn đến thảm họa trước khi ông rời châu Phi, và khi những người hướng dẫn bị đối xử tàn tệ đưa ông đến Ấn Độ, ông đã xúc phạm những lãnh đạo theo Ấn giáo của thành phố Calicut khi làm ra vẻ họ là người Ki-tô giáo. Ông còn lăng nhục họ bằng cách tặng những món quà nhỏ mọn, và cuối cùng khi bòn rút được một tàu gia vị và đá quý, ông bỏ qua mọi lời khuyên khi trở về bằng cách cho tàu chạy vào vùng gió nghịch. Gần một nửa thủy thủ đoàn của ông đã chết trên Ấn Độ Dương còn những kẻ sống sót đều bị tê bại do chứng thiếu vitamin C.

Nhưng vì lợi nhuận gia vị châu Á vượt quá 100% nên bất kể những sai lầm của mình, da Gama vẫn kiếm được tiền cho riêng ông và nhà vua. Hàng chục tàu Bồ Đào Nha sau đó đi theo tuyến đường của Gama, khai thác được lợi thế mà họ có: sức mạnh của đại bác. Chọn lựa giữa các giải pháp giao thương, ức hiếp và súng đạn, người Bồ thấy không giao dịch nào tốt hơn súng đạn. Họ chiếm giữ các bến cảng dọc theo bờ Ấn Độ Dương, biến chúng thành những vùng giao thương biệt lập (hay hang ổ của hải tặc, tùy theo cách nghĩ của mỗi người) và vận chuyển hạt tiêu về Bồ Đào Nha.

Với số lượng ít ỏi, các con tàu Bồ Đào Nha trông giống những con muỗi vo ve quanh những vương quốc lớn ở Ấn Độ Dương hơn là những kẻ chinh phục, nhưng sau gần một thập niên bị chúng bu lại cắn xé, các sultan và vua chúa của Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Gujarat và Calicut – được Venice khuyến khích – quyết định thế là quá đủ. Năm 1509, họ tập trung hơn 100 tàu phong tỏa 18 tàu chiến Bồ Đào Nha dọc bờ Ấn Độ Dương rồi lao vào tấn công. Nhưng những tàu chiến Bồ Đào Nha đã thổi tung chúng thành mảnh vụn.

Cũng như những người Ottoman khi tiến vào bán đảo Balkan một thế kỷ trước đó, những nhà cai trị quanh vùng Ấn Độ Dương hối hả sao chép khuôn mẫu súng ống châu Âu do biết rằng chỉ có đại bác mới khống chế được người Bồ Đào Nha. Họ cần du nhập toàn bộ hệ thống quân sự và thay đổi trật tự xã hội để đáp ứng khả năng của các loại chiến binh mới mẻ này, một điều nan giải cho vùng Nam Á thế kỷ XVI, như đã từng xảy ra 3.000 năm trước đó, khi các vị vua ở vùng lõi phương Tây nỗ lực để quân đội của họ thích ứng với xe ngựa. Nhà cai trị nào vận động quá chậm phải mở hết cảng này đến cảng khác cho những kẻ xâm lấn tàn bạo, và năm 1510, người Bồ Đào Nha dọa dẫm quốc vương Malacca, người kiểm soát những eo biển dẫn đến Quần đảo Gia vị, để buộc ông phải cho họ đặc quyền buôn bán. Khi vị quốc vương này khôi phục vị thế của mình và ra lệnh tống khứ họ, người Bồ Đào Nha liền chiếm giữ toàn bộ thành phố của ông. Tomé Pires, viên thống đốc Bồ Đào Nha đầu tiên ở Malacca, nhận xét: “Dù lãnh chúa Malacca là ai chăng nữa, ông ta vẫn nắm được yết hầu của Venice.”❖

Và không chỉ Venice “mà cả Trung Hoa,” Pires viết:

Đó là một đất nước quan trọng, màu mỡ và rất giàu có, và không cần nhiều đến sức mạnh, viên Thống đốc Malacca vẫn giao nó cho chúng ta cai trị bởi vì người dân rất yếu ớt và dễ dàng bị khuất phục. Và những người chủ yếu từng sống ở đó khẳng định rằng chỉ cần 10 con tàu, Thống đốc Ấn Độ, người nắm giữ Malacca, có thể chiếm giữ toàn bộ vùng duyên hải đất nước Trung Hoa.

Vào những năm đảo điên sau năm 1500, hầu như mọi thứ đều khả thi với những kẻ phiêu lưu từng vượt Đại Tây Dương và vòng qua châu Phi. Vậy thì tại sao lúc này họ lại không tiếp quản luôn phương Đông khi đã đến đó: Do suy nghĩ như thế, vào năm 1517, vua Bồ Đào Nha quyết định thử nghiệm lý thuyết của Pires, cử ông đến Quảng Châu để đề xuất hiệp ước hòa bình và thương mại với Thiên triều Trung Hoa. Không may thay, Pires lại có phong cách ngoại giao như da Gama, và gây ra một cuộc đối đầu kéo dài ba năm do yêu cầu của Pires xin được diện kiến hoàng đế và tiếp xúc các quan chức địa phương bị trì hoãn. Nhưng sau cùng Pires cũng đạt được ý nguyện vào năm 1521, năm Cortés tiến vào Tenochtitlán.

Dù sao, câu chuyện của Pires lại có kết thúc rất khác với của Cortés. Khi đến Bắc Kinh, việc Pires phải chờ đợi nhiều tuần để được yết kiến hoàng đế là một thất bại thảm hại. Trong khi Pires đang thương thảo, một bức thư từ quốc vương Malacca gửi đến tố cáo viên đặc sứ Bồ Đào Nha cướp ngai vàng của ông ta. Ngoài ra, thư từ của các quan lại địa phương gửi về triều như bươm bướm, hài tội Pires đã vi phạm nhiều điều ở Quảng Châu, cáo buộc ông tội ăn thịt đồng loại và làm gián điệp. Và trong thời điểm tồi tệ nhất lúc đó, vị hoàng đế Trung Hoa lại lăn ra chết. Nằm trong dòng xoáy các cáo buộc và phản bác, phái bộ của Pires bị tống hết vào tù.

Số phận của Pires sau đó vẫn không rõ ràng. Trong lá thư của một thủy thủ bị cầm tù cùng với ông viết rằng ông đã chết trong ngục, nhưng một nguồn tin khác thì nói rằng ông bị lưu đày đến một ngôi làng, nơi mà 20 năm sau, một linh mục Bồ Đào Nha đã gặp con gái của ông. Vị giáo sĩ khẳng định rằng cô gái đã chứng minh danh tính của cô bằng cách đọc Kinh Cầu Nguyện bằng tiếng Bồ Đào Nha và nói với ông rằng Pires sống đến già với một người vợ giàu có người Trung Hoa và mới qua đời gần đây. Nhưng nhìn chung, rất có thể Pires đã gánh chịu số phận như những người còn lại trong phái đoàn thương thuyết. Sau khi bị đeo gông và bêu riếu công khai, họ bị hành quyết và thân thể bị cắt rời. Dương vật của mỗi người bị chặt đứt đem nhét vào miệng trước khi các bộ phận của cơ thể bị cắm vào cọc diễu quanh Quảng Châu.

Dù số phận của ông ra sao chăng nữa, Pires đã học được một kinh nghiệm xương máu là mặc dù với đầy đủ súng ống, thì ngay tại trung tâm thực sự của thế giới, người châu Âu vẫn chưa có giá trị gì nhiều. Họ đã hủy diệt những người Aztec và bắn phá suốt dọc con đường tiến vào các thị trường ở vùng Ấn Độ Dương, nhưng còn phải làm nhiều hơn thế nữa để gây ấn tượng với những người canh cổng mọi bầu trời dưới chân Thiên Tử. Phát triển xã hội phương Đông vẫn còn trước xa phương Tây, và bất kể thời kỳ Phục hưng, thủy thủ và súng ống của châu Âu, năm 1521 vẫn còn quá ít điều để cho thấy phương Tây sẽ thu hẹp đáng kể khoảng cách giữa họ với phương Đông. Phải thêm 3 thế kỷ nữa qua đi trước khi làm sáng tỏ được điều khác biệt khiến Cortés, chứ không phải Trịnh Hòa, đã thiêu rụi Tenochtitlán.

Người dịch Nguyễn Thanh Xuân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.