Tại Sao Phương Tây Vượt Trội

Lượt đọc: 135 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5 Cân bằng
Thuận lợi của sự mờ nhạt

❊ ❊ ❊

Hình 5.1 có thể là đồ thị buồn tẻ nhất. Không giống như Hình 4.2, nó không có những phân kỳ, gián đoạn hay tích hợp lớn lao – chỉ có hai đường đồ thị trôi song song trong gần 1.000 năm.

Tuy nhiên, trong khi Hình 5.1 chẳng có gì đặc biệt, những điều không hiển thị trong đó lại hết sức quan trọng cho câu chuyện của chúng ta. Như đã thấy trong Chương 4, khi vùng lõi phương Tây sụp đổ vào khoảng năm 1200 TCN, khoảng cách dẫn đầu về phát triển xã hội của nó thu hẹp đáng kể. Phải mất năm thế kỷ để sự phát triển của phương Tây quay trở lại 24 điểm, điểm số nó đạt được vào khoảng năm 1300 TCN; nếu sự phát triển của phương Tây sụp đổ một lần nữa khi nó đạt đến mức này, thì cũng đồng nghĩa với việc xóa bỏ hoàn toàn khoảng cách Đông-Tây. Mặt khác, nếu sự phát triển của phương Đông sụp đổ khi nó đạt đến 24 điểm, điều đó sẽ khôi phục vị thế dẫn đầu của phương Tây trước thời điểm năm 1200 TCN. Trên thực tế, như Hình 5.1 cho thấy, không một điều nào xảy ra. Sự phát triển của phương Đông và phương Tây vẫn tiếp tục gia tăng song song, trong một cuộc đua ngang hàng. Thời điểm giữa thiên niên kỷ thứ nhất TCN là một bước ngoặt lịch sử chính vì lịch sử không rẽ hướng.

Nhưng những gì quả thật đang xảy ra ở Hình 5.1 cũng quan trọng. Phát triển xã hội hầu như tăng gấp đôi ở cả phương Đông lẫn phương Tây trong khoảng năm 1000-100 TCN. Sự phát triển của phương Tây vượt qua 35 điểm vào thời điểm khi Julius Caesar vượt sông Rubicon, cao hơn thời điểm khi Columbus vượt Đại Tây Dương.

Hình 5.1. Biểu đồ tẻ nhạt nhất trong lịch sử? Phát triển xã hội, giai đoạn 1000-100 TCN.

Tại sao vùng lõi phương Tây không bị sụp đổ vào khoảng năm 700 TCN, hay vùng lõi phương Đông sụp đổ vào khoảng năm 500 TCN, khi mỗi vùng lõi đạt đến 24 điểm? Tại sao phát triển xã hội lại tăng quá cao vào khoảng năm 100 TCN? Tại sao vùng lõi phương Đông và phương Tây giống nhau ở thời điểm này? Đây là những câu hỏi mà tôi cố gắng trả lời trong chương này, mặc dù các câu hỏi tiếp theo hiển nhiên sẽ là – tại sao, nếu sự phát triển xã hội đạt mức cao vào thời điểm khoảng năm 100 TCN, Đế quốc La Mã hay Trung Hoa cổ đại lại không thuộc địa hóa Tân Thế giới? Hay có một cuộc cách mạng công nghiệp? – mà phải đợi đến Chương 9 và Chương 10, khi chúng ta có thể so sánh những gì xảy ra sau năm 1500 và những gì không xảy ra trong thời cổ đại. Tuy nhiên, ngay bây giờ, chúng ta cần phải thấy những gì đã xảy đến.

Vương quyền với giá rẻ

Tóm lại, các vùng lõi phương Đông và phương Tây đã tránh khỏi việc bị sụp đổ ở thiên niên kỷ thứ nhất TCN bằng cách tái cơ cấu, phát kiến những thể chế mới để giúp họ đi trước một bước những đổ vỡ do chính sự bành trướng liên tục của chúng khởi phát.

Về cơ bản, có hai cách điều hành một quốc gia, chúng ta có thể gọi là các chiến lược cấp cao và cấp thấp. Cấp cao, như tên gọi ám chỉ, nghĩa là đắt tiền. Nó liên quan đến các nhà lãnh đạo tập trung quyền lực, đến việc được trả lương trong một cơ quan hành chính hay quân đội để thuê mướn và sa thải những người phục vụ chính họ. Việc trả lương đòi hỏi phải có thu nhập lớn, nhưng công việc chính của giới quan quyền là tạo ra thu nhập đó thông qua thuế khóa, và công việc chính của quân đội là thực thi việc thu thuế. Mục tiêu là sự cân bằng: nhiều khoản doanh thu xuất ra, nhưng nhiều khoản doanh thu hơn được nhập vào, đồng thời các nhà cai trị và thuộc hạ của họ sống nhờ vào khoản chênh lệch này.

Mô hình cấp thấp thì rẻ hơn. Các nhà lãnh đạo không cần đến những khoản thu nhập từ thuế khổng lồ vì họ không chi tiêu nhiều. Họ buộc người khác phải làm việc. Thay vì trả tiền cho quân đội, các nhà cai trị dựa vào tầng lớp quý tộc địa phương – những người có thể là họ hàng của họ – để nuôi quân đội từ tài sản của những người này. Các nhà cai trị thường ban tặng các chư hầu bằng cách chia sẻ chiến lợi phẩm cho họ. Các nhà cai trị giành chiến thắng trong các cuộc chiến thiết lập một sự cân bằng cấp thấp: thu nhập không nhiều, nhưng chi tiêu lại còn ít hơn, và các nhà lãnh đạo cùng họ hàng sống nhờ vào khoản chênh lệch.

Sự kiện lớn nhất trong thiên niên kỷ thứ nhất TCN ở phương Đông lẫn phương Tây là sự chuyển đổi từ các nhà nước cấp thấp sang nhà nước cấp cao. Những nhà nước đã và đang chuyển đổi theo cách đó kể từ thời kỳ Uruk; các pharaoh Ai Cập giữa thiên niên kỷ thứ ba TCN đã có đầy đủ bộ máy quan liêu để xây dựng các kim tự tháp, và 1.000 năm sau, những người kế thừa họ tổ chức các đội quân chiến mã phức tạp. Nhưng quy mô và phạm vi của những nhà nước ở thiên niên kỷ thứ nhất TCN khiến mọi nỗ lực trước đó trở nên nhỏ bé. Vì thế, hoạt động của các nhà nước – quản lý và chiến đấu – sẽ chiếm phần lớn nội dung ở chương này.

Các nhà nước phương Đông và phương Tây tiến đến mô hình cấp cao theo những con đường khác nhau trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất TCN, nhưng cả hai con đường đều gập ghềnh. Các quốc gia phương Đông, được thành lập muộn hơn nhiều so với ở phương Tây, và vẫn nằm trong phạm vi hoạt động ở cấp thấp vào khoảng năm 1000 TCN. Vương triều nhà Thương là một tập hợp lỏng lẻo các đồng minh chỉ gửi cống phẩm là rùa và ngựa đến kinh đô An Dương và thỉnh thoảng xuất hiện trong các cuộc chiến; và khi Chu Vũ Vương lật đổ nhà Thương vào năm 1046 TCN, nhà Chu của ông ta có lẽ còn lỏng lẻo hơn. Vũ Vương không sáp nhập phần lãnh thổ của vương triều nhà Thương do ông không có người điều hành nó. Ông chỉ dừng lên một vị vua bù nhìn để cai quản nhà Thương rồi trở về quê nhà ở vùng thung lũng Vị Hà (Hình 5.2).

Đây là một phương thức kiểm soát cựu thù ít tốn kém nếu hiệu quả, nhưng trong trường hợp này, việc anh em chống lại nhau, một vấn đề muôn thuở trong các tổ chức cấp thấp, đã sớm hủy hoại nó. Vũ Vương không thể trông cậy vào gia đình để đạt được những gì ông muốn. Ông mất vào năm 1043 TCN, để lại ba anh em trai và một người con. Theo thư tịch chính thức của nhà Chu, dĩ nhiên do những người chiến thắng viết ra, con trai Chu Vũ Vương là Chu Thành Vương còn quá nhỏ nên Chu Công, em trai Vũ Vương, bằng lòng trung thành làm quan nhiếp chính (nhiều nhà sử học cho rằng Chu Công đã tiến hành một cuộc đảo chính). Hai anh trai của Chu Vũ Vương phản ứng lại bằng cách kết hợp lực lượng với tàn quân của nhà Thương để chống lại Chu Công.

Hình 5.2. Vương quyền cấp thấp ở phương Đông: các di chỉ từ nửa đầu thiên niên kỷ thứ nhất TCN được đề cập trong văn bản. Các hình tam giác đánh dấu các thuộc địa chính của nhà Chu.

Vào khoảng năm 1041 TCN, Chu Công giành chiến thắng trong cuộc nội chiến và giết những người anh trai của mình, nhưng lại nhận ra rằng ông không thể cai trị nhà Thương với mức chi phí thấp như Vũ Vương đã hy vọng và cũng không thể để họ âm mưu chống lại mình. Ông đưa ra một giải pháp cấp thấp hết sức thông minh: phái các thành viên trong hoàng tộc nhà Chu lập các thành bang hầu như độc lập dọc theo thung lũng Hoàng Hà (khoảng từ 26 đến 73 thành bang, tùy thuộc việc ta tin vào tác giả cổ đại nào). Những thành bang này không nộp thuế cho ông, nhưng ông cũng không phải chi trả tiền của cho họ.

Vương triều nhà Chu thực sự là một doanh nghiệp gia đình – có nhiều điểm chung với mô hình doanh nghiệp gia đình nổi tiếng nhất, Mafia. Nhà vua, thực sự là Capo di Tutti capi (Thủ lĩnh của mọi thủ lĩnh) của hoàng tộc nhà Chu, sống nhờ vào khối tài sản khổng lồ trên lãnh thổ nhà Chu, điều hành chúng bằng một hệ thống hành chính quan liêu thô sơ, trong khi các nhà cai trị trực thuộc của ông ta – thành viên chính thức theo cách gọi của Mafia – sống trong các thành thị có tường lũy kiên cố của mình. Khi nhà vua kêu gọi, những chư hầu này cung cấp binh lực cho ông ta, xuất hiện với các cỗ chiến mã và quân đội, vì thế nhà vua có thể trấn lột của cải kẻ thù của mình. Khi cuộc chiến kết thúc, các thành viên trong băng đảng chia nhau chiến lợi phẩm rồi trở về nhà. Mọi người đều vui vẻ (ngoại trừ kẻ thù bị cướp phá).

Giống như các ông trùm của la cosa nostra (Mafia), các vị vua nhà Chu đưa ra các ưu đãi tinh thần cũng như vật chất để giữ các thủ lĩnh trung thành với mình. Trên thực tế, họ đầu tư rất nhiều vào tính chính danh, đây là điều duy nhất để phân biệt các vị vua và trùm băng đảng. Họ thuyết phục các chư hầu phụ thuộc rằng nhà vua – người đứng đầu gia đình, chủ trì việc bói toán và thờ cúng tổ tiên, đồng thời là người trung gian tiếp xúc giữa thế giới này và thế giới thần linh – có quyền kêu gọi họ.

Tất nhiên, một vị vua càng dựa nhiều vào lòng trung thành của họ hàng, thì ông ta lại càng ít phụ thuộc vào việc chia sẻ chiến lợi phẩm. Các vị vua nhà Chu đã tích cực phổ biến một lý thuyết mới về vương quyền: Thiên Đế đã chọn các nhà cai trị trần tục và trao quyền đó cho nhà Chu đức hạnh vì ngài cảm thấy ghê tởm bởi sự suy đồi đạo đức của nhà Thương. Những câu chuyện về đức hạnh của Vũ Vương tinh vi đến mức vào thế kỷ IV TCN, triết gia Mạnh Tử quả quyết rằng thay vì đánh nhà Thương, Vũ Vương chỉ tuyên bố: “Ta đến để mang lại hòa bình, chứ không phải gây chiến tranh lên nhân dân.” Lập tức, “âm thanh của người dân dập đầu xuống đất [quy phục] nghe giống như núi lở.”❖

Rất ít chư hầu đời nhà Chu, nếu có, tin vào điều vớ vẩn đó, nhưng thuyết thiên mệnh quả đã khuyến khích họ đồng lòng với các vị vua này. Tuy nhiên, nó cũng có thể khiến người ta suy nghĩ theo cách khác: nếu nhà Chu không hành xử đúng, trời có thể thu hồi mệnh lệnh và trao cho người khác. Và ai, nếu không phải là các chư hầu, được quyền xem xét liệu hành vi của các vị vua có đáp ứng tiêu chuẩn của Thiên Đế hay không?

Tầng lớp quý tộc nhà Chu thích khắc các tước hiệu mà họ nhận được lên những vật dụng bằng đồng dùng trong tế lễ để tôn vinh tổ tiên của mình, thể hiện hòa trộn việc kết hợp các phần thưởng vật chất và tâm lý. Ví dụ, một vật dụng mô tả việc Chu Thành Vương (trị vì trong giai đoạn năm 1035-1006 TCN) ban thưởng một cận thần trong một buổi lễ long trọng, phong tước cho ông ta và ban thưởng nhiều đất đại. Bản văn khắc viết: “Vào buổi chiều, vị chư hầu được bạn nhiều thái ấp, 200 hộ, và được sử dụng đội chiến mã của nhà vua; cân đai bằng đồng, lễ phục, áo choàng, vải vóc, và giày dép.”❖

Khi cách làm này có tác dụng, mánh khóe của nhà Chu mang lại hiệu quả rất cao. Các vị vua huy động được những đội quân khá lớn (hàng trăm cỗ chiến mã vào thế kỷ IX TCN) và giành được sự đồng thuận chung rằng tổ tiên muốn họ thu tiền bảo vệ để ngăn ngừa những kẻ thù man rợ bao quanh giang sơn nhà Chu. Nông dân ở vương thổ nhà Chu ngày càng được an toàn trước các cuộc tấn công, họ trồng trọt trên các cánh đồng và cung cấp lương thực cho các thành phố ngày càng mở rộng. Thay vì đánh thuế nông dân, các chư hầu lại thu phí lao động. Trên lý thuyết, các cánh đồng được bố trí theo những ô bàn cờ 3 ngang 3 dọc, giống bàn cờ caro, với tám gia đình trồng trọt trên các ô ruộng bên ngoài và thay phiên nhau làm việc trên ô ruộng thứ chín ở chính giữa dành cho chư hầu. Thực tế chắc chắn phức tạp hơn nhiều, nhưng sự kết hợp sức lao động của người nông dân, chiến lợi phẩm, và lạm thu khiến tầng lớp quý tộc trở nên giàu có. Họ được chôn cất trong những lăng mộ nguy nga, và thay vì hiến tế con người như giới quý tộc nhà Thương, họ lại chốn nhiều cỗ chiến mã hơn. Họ đúc và khắc chạm một số lượng đáng kinh ngạc các vật dụng bằng đồng (khoảng 13.000 mẫu vật đã được khai quật và công bố), và mặc dù chữ viết vẫn là công cụ dành riêng cho thành phần ưu tú, nó cũng vượt xa các ứng dụng hạn hẹp ở thời nhà Thương.

Tuy nhiên, hệ thống này có một điểm yếu; nó phụ thuộc vào khẩu phần phân chia chiến thắng ổn định. Các nhà cai trị phân phối khẩu phần được gần một thế kỷ, nhưng vào năm 957 TCN, Chu Chiêu Vương đã thất bại. Thất bại không phải là điều mà bất cứ ai cũng muốn ghi chép lại, vì vậy tất cả những gì chúng ta biết về điều đó đều xuất phát từ một bình luận bâng quơ trong Trúc thư kỷ niên, cuốn biên niên sử viết trên thẻ tre được chôn cất trong một lăng mộ vào năm 296 TCN và được phát hiện khi ngôi mộ bị trộm gần 6 thế kỷ sau đó. Thư tịch viết rằng có hai đại chư hầu phò Chiêu Vương chống lại nước Sở, thuộc khu vực phía nam vương quốc nhà Chu. Nhà biên niên viết rằng: “Trời đất mịt mù và rung chuyển dữ dội, chim trĩ và thỏ rừng hoảng sợ. Sáu đội quân của nhà vua bỏ mạng trên sông Hán. Nhà vua qua đời.”❖

Trong cùng một lúc, nhà Chu mất quân đội, nhà vua của họ, và điều thần bí của mệnh trời. Có lẽ các chư hầu sẽ kết luận rằng rốt cuộc thì nhà Chu cũng chẳng đạo đức mấy. Các vấn đề của họ trở nên phức tạp: sau năm 950 TCN, các bản khắc trên những vại đồng tìm thấy ở cuối mạn đông Hoàng Hà không còn thể hiện lòng trung thành với nhà Chu, và khi các vị vua nỗ lực đưa các chư hầu vào khuôn phép thì họ lại mất kiểm soát những kẻ thù man rợ ở phía tây, lúc đó bắt đầu đe dọa các thành đô nhà Chu.

Với nguồn cung cấp từ vùng lãnh thổ mới chiếm được ngày càng thấp, xung đột về đất đai trong giới quý tộc tăng lên. Phải đối mặt với sự tan rã trong nhà nước cấp thấp của mình, Chu Mục Vương chuyển sang các giải pháp chi phí cao hơn bằng cách xây dựng một bộ máy quan lại sau năm 950 TCN. Sau đó, một số hoàng đế nhà Chu (chúng ta không biết chắc là ai) sử dụng giới quan lại để chuyển đổi đất đai giữa các gia tộc, có lẽ để ban thưởng cho lòng trung thành và trừng phạt sự phản bội, nhưng bị tầng lớp quý tộc phản ứng. Chắp nối câu chuyện từ những văn khắc vắn tắt trên các vại đồng, thì dường như có người đã truất phế Chu Di Vương vào năm 885 TCN, chỉ khiến nhiều chư hầu khôi phục ngai vị của ông; sau đó Di Vương gây chiến với vị chư hầu hùng mạnh nhất là Tề Ai Công, luộc sống ông ta trong vạc đồng vào năm 863 TCN. Vào năm 842 TCN, nhiều chư hầu phản kích lại, và Chu Lệ Vương, giống như một số ông trùm Mafia trải thảm cho chiến tranh khi những tay chân thân tín phản bội muốn lật đổ mình, đã phải sống lưu vong.

Ở phía đầu kia của lục địa Á-Âu, các vị vua phương Tây cũng đang xây dựng những nhà nước cấp thấp vào thế kỷ X và IX TCN. Việc vùng lõi phương Tây làm thế nào để thoát khỏi sự trì trệ sau năm 1200 TCN cũng như sự trì trệ khởi đầu như thế nào thì hầu như không được biết đến, nhưng óc sáng tạo sinh ra từ tuyệt vọng có lẽ cũng đóng vai trò quan trọng. Sự sụp đổ của thương mại đường dài buộc con người phải dựa vào các nguồn tài nguyên địa phương, nhưng một số hàng hóa quan trọng – đặc biệt là thiếc, dùng để chế biến đồng – lại thiếu hụt ở nhiều nơi.⦾ Vì vậy, người phương Tây học cách sử dụng sắt để thay thế. Trước năm 1200 TCN, những người thợ rèn ở đảo Síp, nơi từ lâu đã trở thành cái nôi của ngành luyện kim tiên tiến nhất thế giới, đã tìm ra cách trích xuất kim loại dùng được từ các quặng sắt đỏ và đen thô xuất hiện khắp vùng Địa Trung Hải, nhưng chừng nào kim loại đồng còn hiện diện, thì sắt vẫn chỉ là một mặt hàng mới. Nguồn cung cấp thiếc cạn kiệt đã thay đổi hoàn toàn điều đó, khiến kim loại sắt trở thành mặt hàng quan trọng nhất, và vào khoảng năm 1000 TCN, thứ kim loại mới và rẻ này đã được sử dụng rộng khắp từ Hy Lạp đến vùng Israel ngày nay (Hình 5.3).

Hình 5.3. Vương quyền cấp thấp ở phương Tây: các di chỉ của nửa đầu thiên niên kỷ thứ nhất TCN được đề cập trong bài viết. Các hình tam giác đánh dấu các thuộc địa Hy Lạp; vòng tròn mở, là thuộc địa của Phoenicia. Đất nước Hy Lạp được tô mờ.

Trở lại những năm 1940, Gordon Childe, một trong những người khổng lồ của ngành khảo cổ học châu Âu, cho rằng: “Sắt rẻ tiền đã dân chủ hóa nền nông nghiệp, công nghiệp cũng như chiến tranh.”❖ Sáu mươi năm khai quật tiếp theo giúp chúng ta hiểu thêm một ít về diễn tiến của quá trình này, nhưng chắc chắn Childe đã đúng một điều là nguồn kim loại sắt sẵn có và dễ tìm khiến vũ khí và dụng cụ bằng kim loại trở nên phổ biến hơn ở thiên niên kỷ thứ nhất TCN hơn là ở thiên niên kỷ thứ hai TCN; và khi các tuyến đường thương mại hồi sinh, không ai còn quay lại sử dụng đồng để làm vũ khí hoặc dụng cụ.

Phần đất đầu tiên của vùng lõi phương Tây phục hồi sau kỷ nguyên đen tối có thể là Israel, nơi mà theo Kinh Thánh Hebrew hai vị vua David và Solomon ở thế kỷ X TCN đã tạo ra một Vương triều Thống nhất (United Monarchy) trải dài từ biên giới Ai Cập đến sông Euphrates. Chúng ta nghe kể rằng kinh đô của vương quốc ở Jerusalem phát triển mạnh mẽ, ở đó vua Solomon từng tiếp đón nữ hoàng vương quốc Sheba xa xôi (có lẽ ở Yemen) và phái các phái đoàn thương mại đi khắp vùng Địa Trung Hải. Dù nhỏ và yếu hơn các vương quốc của Kỷ nguyên Quốc tế, Vương triều Thống nhất có vẻ tập quyền hơn so với doanh nghiệp gia đình nhà Chu cùng thời khi thu thuế và nhận cống phẩm từ khắp các vùng xung quanh. Đây có thể là một nhà nước mạnh mẽ nhất trên thế giới cho đến khi các phần tử của nó, dân tộc ở hai vương quốc Israel và Judah bất ngờ cắt đứt quan hệ khi vua Solomon qua đời vào năm 931 TCN.

Cũng có thể những điều này không thực sự xảy ra. Nhiều học giả nghiên cứu Kinh Thánh tin rằng không có Vương triều Thống nhất. Họ cho rằng tất cả chỉ là sự tưởng tượng do người Do Thái tạo ra trong những thế kỷ sau đó để an ủi mình về hoàn cảnh bi thảm trong thời đại của họ. Các nhà khảo cổ hẳn đã vấp phải khó khăn trong việc tìm kiếm những dự án xây dựng vĩ đại mà Kinh Thánh cho rằng vua David và Solomon đã tiến hành, và các cuộc tranh cãi trở nên dữ dội. Trong vận hành bình thường của sự vật, ngay cả những nhà khảo cổ tận tụy nhất cũng chỉ biết ngủ gà ngủ gật tại các cuộc hội thảo về niên đại của các loại bình chứa ở thời kỳ cổ đại, nhưng vào thập niên 1990, khi một nhà khảo cổ học cho rằng những chiếc bình vốn được cho là có niên đại ở thế kỷ X TCN trên thực tế lại được sản xuất ở thế kỷ IX – điều đó có nghĩa là các công trình kiến trúc vĩ đại trước đó gắn liền với vua Solomon ở thế kỷ X TCN, hiển nhiên cũng có niên đại muộn hơn 100 năm, điều này có nghĩa rằng vương quốc của Solomon vẫn là một vùng đất nghèo nàn và không có gì nổi bật đồng thời Kinh Thánh Hebrew giáo còn kể sai câu chuyện – ông ta đã khơi mào một cơn giận dữ khủng khiếp đến mức phải thuê riêng cho mình một vệ sĩ.

Đây là tình huống nan giải, chưa được sáng tỏ. Nếu là tôi thì dù không có vệ sĩ, tôi vẫn thoát khỏi nó một cách nhanh chóng. Với tôi, câu chuyện trong Kinh Thánh, cũng như các truyền thống Trung Hoa về nhà Hạ và nhà Thương đề cập ở Chương 4, có thể được phóng đại nhưng không thể là điều hoàn toàn tưởng tượng, và bằng chứng từ các khu vực khác ở vùng lõi phương Tây cũng cho thấy sự phục hồi đã diễn ra vào cuối thế kỷ X TCN. Vào năm 926, Sheshonq I, một lãnh chúa Libya, người chiếm giữ ngai vàng Ai Cập, chỉ huy một đội quân băng qua Judah (miền Nam Israel và Bờ Tây hiện nay) dường như nhằm nỗ lực khôi phục đế chế Ai Cập cổ đại trước đó. Tuy ông ta thất bại, nhưng ở phía bắc một thế lực thậm chí còn lớn hơn cũng đang trỗi dậy. Sau khoảng trống 100 năm trong thời kỳ đen tối, công việc ghi chép các sự kiện của vương triều Assyria được khởi động lại vào năm 934 TCN dưới thời vua Ashur-dan II, đem đến cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về một nhà nước kiểu gangster, mà so với nó, nhà Chu trông mới thánh thiện làm sao.

Ashur-dan ý thức rõ rằng Assyria đang hồi phục từ một thời kỳ đen tối. Ông ta viết: “Ta đã đưa về các thần dân Asyria mệt mỏi phải rời bỏ thành phố và nhà cửa do thiếu thốn, đói nghèo để đến các vùng đất khác, ta đưa họ về sống trong các thành phố và nhà cửa… và họ sống trong hòa bình.”❖ Ở mặt nào đó thì Ashur-dan là một vị vua theo kiểu cũ, xem mình là người đại diện trên trần thế của Ashur, vị thần bảo hộ đất nước Assyria, rất giống với các vị vua vùng Lưỡng Hà đã thực hành trong suốt 2.000 năm. Tuy nhiên, Ashur đã có một chỉnh sửa trong thời kỳ đen tối. Ông ta trở thành một vị thần giận dữ, đúng là một vị thần rất giận dữ, bởi vì mặc dù ông ta biết mình là vị thần tối thượng, nhưng hầu hết mọi người không hiểu được điều này. Nhiệm vụ của Ashur-dan là làm cho họ hiểu và nắm bắt được điều đó bằng cách biến thế giới trở thành bãi săn của Ashur. Và nếu việc săn bắt cho Ashur khiến Ashurdan giàu có thì đó cũng là điều tốt.

Ở vùng đất trung tâm của Assyria, nhà vua chỉ đạo một bộ máy quan liêu nhỏ gọn và bổ nhiệm các thống đốc, gọi là Những người Con của Thiên giới (Sons of Heaven), ban tặng cho họ những tài sản và lực lượng lao động khổng lồ. Đây là những tập quán cao cấp quen thuộc với bất kỳ nhà cai trị nào ở Kỷ nguyên Quốc tế, nhưng quyền lực thực sự của nhà vua Assyria lại phát sinh từ các nguồn lực cấp thấp. Thay vì đánh thuế đất nước Assyria để chi tiêu cho quân đội nhằm thực hiện công việc săn bắt của Ashur, nhà vua đã dựa vào Những người con của Thiên giới để cung cấp binh lực, ban thưởng cho họ – như các vị vua nhà Chu đã làm với các chư hầu của mình – chiến lợi phẩm, quà tặng phương xa và một vị trí trong các lễ tế hoàng gia. Những người con của Thiên giới tận dụng vị trí này để giành những nhiệm kỳ chức vụ kéo dài đến 30 năm, đồng thời biến đất đai của họ thành những thái ấp cha truyền con nối và những người lao động cho họ thành nông nô.

Cũng giống như các hoàng đế nhà Chu, những vị vua Assyria là con tin cho thiện chí của thần linh, nhưng chừng nào họ còn giành được thắng lợi trong các cuộc chiến tranh thì điều đó không phải là vấn đề. Những người con của Thiên giới cung cấp binh lực lớn hơn nhiều so với các vương hầu nhà Chu (theo thư tịch hoàng gia, lực lượng bộ binh lên đến 50.000 quân sĩ vào thập niên 870 TCN và hơn 100.000 vào năm 845 TCN, cộng thêm hàng nghìn cỗ chiến xa) và hệ thống quan lại tương đối cao cấp của nhà vua cung cấp hỗ trợ hậu cần để cấp dưỡng và di chuyển các đội quân này.

Cho nên không có gì ngạc nhiên khi những nhà cai trị các nước láng giềng nhỏ và yếu hơn Assyria thường thích mua sự bảo hộ hơn là bị xiên trên những mũi giáo nhọn khi thành quách của họ bị đốt phá. Mỗi yêu cầu từ người Assyria thường là thứ mà họ không thể từ chối, đặc biệt do Đế quốc Assyria thường để các vị vua địa phương quy phục tiếp tục nắm quyền thay vì sử dụng chiến lược của nhà Chu là thay họ bằng những người thực dân mới. Ngay cả các vị vua bại trận rồi cũng được lợi; nếu họ cho Assyria mượn binh lực cho cuộc chiến sắp tới, họ có thể nhận được một khoản phân chia chiến lợi phẩm.

Tuy nhiên, các vị vua đối tác dễ bị cám dỗ rút khỏi các thỏa thuận, vì vậy Đế quốc Assyria tập trung tâm trí vào sự khủng bố thần thánh. Những kẻ quy phục không phải tôn thờ Ashur, nhưng họ phải thừa nhận rằng Ashur cai trị thiên giới và sai bảo các vị thần của họ phải làm những gì – điều này biến sự nổi loạn thành tội phạm tôn giáo chống lại Ashur chẳng kém gì tội phạm chính trị, khiến người Asyria không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc trừng phạt càng dã man càng tốt. Các vị vua Assyria trang trí cung điện của mình với những cảnh tàn bạo khủng khiếp, và niềm vui sướng của họ trong việc ghi chép những thảm sát hàng loạt nhanh chóng trở nên nhàm chán. Ví dụ như trong tài liệu của Ashurmasirpal II mô tả những hình phạt dành cho đám người nổi dậy vào năm 870 TCN:

Ta xây một ngọn tháp đối diện với cổng thành của hắn và ta lột da tất cả đám thủ lĩnh nổi loạn, và ta che phủ ngọn tháp bằng da của chúng. Một số tên ta treo trên tường bên trong ngọn tháp, một số tên khác ta cắm trên các cây cọc trên ngọn tháp, và những tên khác thì ta trói vào những cây cọc xung quanh tháp…

Nhiều tên trong số những kẻ bị bắt bị ta thiêu đốt, và nhiều tên khác bị ta bắt làm tù binh. Một số kẻ bị ta cắt mũi, tai và ngón tay, nhiều kẻ khác bị ta móc mắt. Ta cắt đầu những kẻ còn sống và chất thành đống, và ta treo đầu của chúng trên các thân cây xung quanh thành phố. Ta đã đốt thanh niên và thiếu nữ trong đống lửa. Ta bắt sống hai chục đàn ông và xây bít chúng bên trong cung điện của chúng…Số chiến binh còn lại bị ta tiêu diệt với những cơn khát giữa sa mạc.

Số phận chính trị của vùng lõi phương Đông và phương Tây đã đi theo những hướng khác nhau trong thế kỷ IX TCN, với sự cai trị của nhà Chu bị sụp đổ trong khi Assyria lại hồi sinh sau kỷ nguyên đen tối, nhưng cả hai vùng lõi đều trải qua chiến tranh liên miên, thành phố phát triển, thương mại mở rộng, và nhiều phương thức điều hành quốc gia mới với mức chi phí thấp. Và vào thế kỷ VIII TCN, họ đều tìm thấy những điểm chung: cả hai đều phát hiện những giới hạn của vương quyền chi phí thấp.

Những ngọn gió của sự thay đổi

Thành ngữ có câu: trong cái rủi lại có cái may. Câu này chưa bao giờ đúng hơn vào thời điểm năm 800 TCN, khi các dao động nhỏ trên trục trái đất gây ra những trận gió mùa đông mạnh hơn trên khắp Bắc bán cầu (Hình 5.4). Ở phía tây vùng Âu-Á, nơi những cơn gió mùa động chủ yếu là những ngọn gió Tây thổi vào từ Đại Tây Dương, đồng nghĩa với việc có nhiều cơn mưa mùa đông hơn. Điều này có lợi cho dân cư ở vùng bình nguyên Địa Trung Hải, nơi mà nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất luôn là những virus đường ruột phát triển trong thời tiết nóng và khô, và vấn nạn chính của nông dân là những trận gió mùa đông có khả năng không đem lại nhiều mưa đủ để có được những vụ mùa bội thu. Dẫu sao thì lạnh và mưa vẫn tốt hơn bệnh tật và đói khát.

Hình 5.4. Những cơn gió lạnh mùa đông: biến đổi khí hậu vào đầu thiên niên kỷ thứ nhất TCN.

Tuy nhiên, chế độ khí hậu mới này lại có hại cho cư dân ở phía bắc dãy Alps, nơi những kẻ giết người chủ yếu là các bệnh về đường hô hấp, thường sinh sôi nảy nở vào mùa lạnh và ẩm ướt, đồng thời vấn nạn của nền nông nghiệp là chỉ trồng trọt được một vụ mùa ngắn ngủi vào mùa hè. Do thời tiết thay đổi ở giai đoạn năm 800-500 TCN, dân số vùng Bắc Âu và Tây Âu giảm xuống, nhưng lại tăng lên quanh vùng Địa Trung Hải.

Ở Trung Hoa, những trận gió mùa đông chủ yếu đến từ vùng Siberia, do đó, khi trở nên mạnh hơn sau năm 800 TCN, chúng làm cho thời tiết khô hơn và mát hơn. Có lẽ điều này khiến việc canh tác thung lũng hai con sông Dương Tử và Hoàng Hà trở nên thuận tiện hơn do giảm được nguy cơ lũ lụt và dân số tiếp tục phát triển ở cả hai vùng thung lũng này, nhưng nó lại làm cho cuộc sống của cư dân ở vùng cao nguyên khô cằn phía bắc Hoàng Hà trở nên khó khăn hơn.

Trong phạm vi các mẫu hình rõ ràng này tuy có những biến đổi cục bộ, nhưng kết quả chính vẫn giống các giai đoạn biến đổi khí hậu mà chúng ta bắt gặp ở Chương 4; những cân bằng bên trong và giữa các khu vực luân phiên biến đổi, buộc cư dân ở những khu vực này phải đối phó với chúng. Tác giả của một cuốn giáo khoa chuẩn mực về cổ khí hậu học nói về giai đoạn này như sau: “Nếu như ngày nay có xảy ra một sự đảo lộn hệ thống khí hậu, thì những hậu quả về xã hội, kinh tế và chính trị quả đúng là một thảm họa.”❖

Ở phương Đông cũng như phương Tây đều chung một tình trạng là cùng một số lượng đất đai nhất định phải nuôi thêm nhiều miệng ăn khi dân số gia tăng. Điều này tạo ra cả xung đột lẫn đổi mới. Cả hai đều có khả năng tạo thuận lợi cho các nhà cai trị; nhiều xung đột hơn đồng nghĩa với việc có nhiều cơ hội hơn để giúp đỡ thân hữu và trừng phạt kẻ thù, nhiều đổi mới hơn cũng đồng nghĩa với việc tạo ra cơ hội thịnh vượng, và động cơ đằng sau cả hai yếu tố trên – dân số gia tăng – đồng nghĩa với việc có thêm nhiều lao động, nhiều chiến binh, và cũng nhiều cướp đoạt hơn.

Tất cả những lợi ích này có thể dành cho những vị vua nắm giữ quyền lực, nhưng các vua chúa ít quyền lực ở thế kỷ VIII TCN lại gặp nhiều khó khăn. Những kẻ thắng lớn, có vị thế tốt nhất để khai thác những cơ hội mới, lại thường là những chủ nhân ở địa phương – thống đốc, chủ đất và chỉ huy các đội quân đồn trú, những người mà các vua chúa ít quyền lực dựa vào để điều hành công việc. Đây đúng là tin xấu cho các vị vua.

Vào thập niên 770 TCN, các vị vua phương Đông và phương Tây đều mất quyền kiểm soát các chư hầu. Nhà nước Ai Cập, hầu như thống nhất từ năm 945 TCN, đã chia tách thành ba lãnh địa vào năm 804 TCN, và vào năm 770 TCN lại biến thành hàng chục công quốc gần như độc lập hoàn toàn. Ở Assyria, vua Shamshi-Adad V phải chiến đấu để bảo vệ quyền kế vị ngai vàng vào năm 823 TCN, sau đó mất hết quyền lực đối với các vị vua và thống đốc nằm dưới sự bảo trợ của mình. Một số người con của Thiên giới thậm chí còn tiến hành chiến tranh dưới danh xưng riêng của mình. Những nhà Assyria học gọi những năm 783-744 TCN là khoảng thời gian ngắt quãng, khi mà các vị vua hầu như mất hết quyền lực, đảo chính xảy ra liên tục, và các viên thống đốc thì chỉ làm những gì họ thích.

Còn đối với các quý tộc địa phương, các ông hoàng cai trị những tiểu quốc, và các thành bang nhỏ thì đây lại là thời kỳ hoàng kim. Trường hợp thú vị nhất là Phoenicia, một chuỗi các thành bang nằm dọc theo bờ biển Liban hiện nay, nơi cư dân vốn giàu có nhờ nghề trung gian vận chuyển hàng hóa giữa Ai Cập và Assyria kể từ khi vùng lõi phương Tây hồi sinh vào thế kỷ X TCN. Sự giàu có của họ đã thu hút sự chú ý của người Assyria, và khoảng năm 850, người Phoenicia phải trả tiền bảo kê. Một số sử gia nghĩ rằng điều này đã khiến người Phoenicia phải liều lĩnh tiến vào vùng Địa Trung Hải tìm kiếm lợi nhuận để mua lấy hòa bình; số khác lại ngờ rằng việc gia tăng dân số và sự thu hút của các thị trường mới ở Địa Trung Hải quan trọng hơn. Dù bằng cách nào thì đến khoảng năm 800 TCN, người Phoenicia cũng đã du hành đến những vùng xa xôi, thiết lập những khu buôn bán trên đảo Síp, thậm chí còn xây dựng một ngôi đền nhỏ trên đảo Crete. Khoảng năm 750 TCN, nhà thơ Hy Lạp Homer thừa nhận rằng độc giả của ông đã biết đến (và nghi ngờ) “những người đàn ông Phoenicia, nổi tiếng với những con tàu, những kẻ gặm nhấm lợi nhuận, đem lại vô số thứ đẹp đẽ trong mỗi thân tàu tối đen.”❖

Dù sao, dân số Hy Lạp vẫn tăng trưởng nhanh nhất, nên các nhà thám hiểm và thương nhân người Phoenicia có thể đã lôi kéo những người Hy Lạp đói khổ theo họ. Khoảng năm 800 TCN, đồ gốm Hy Lạp du nhập vào miền Nam Italy, và khoảng năm 750 TCN, người Hy Lạp cũng như người Phoenicia đến định cư lâu dài ở Bờ Tây Địa Trung Hải (xem Hình 5.3). Cả hai nhóm người này đều thích các bến cảng tốt có thể thông qua những con sông để tiếp cận các thị trường nội địa, nhưng người Hy Lạp, với số lượng đông hơn người Phoenicia, cũng định cư như những nông dân và nắm giữ một số đất đai màu mỡ nhất vùng duyên hải.

Những nhóm dân cư bản địa đôi khi cũng kháng cự. Một số nhóm, như các bộ tộc vùng Etruria và Sardinia ở Italy, vốn đã có những thị trấn và giao thương với phương xa trước khi những người di dân tràn đến, giờ đây họ xây dựng thêm thành phố và đền đài, tổ chức các thành bang nhỏ và phát triển nông nghiệp. Họ cũng tạo ra các chữ cái dựa theo khuôn mẫu Hy Lạp (trong khi mẫu tự Hy Lạp lại học theo người Phoenicia từ khoảng năm 800-750 TCN). Những chữ cái này dễ học và dễ sử dụng hơn so với hầu hết những chữ viết trước đó, vốn phải cần đến hàng trăm ký hiệu, mỗi mẫu tự đều tiêu biểu cho một âm tiết gồm phụ âm đi với nguyên âm; và dễ hơn nhiều so với chữ tượng hình của người Ai Cập hay chữ viết của người Trung Hoa, phải cần hàng nghìn ký hiệu, và mỗi ký hiệu chỉ thể hiện một từ riêng biệt. Theo phỏng đoán thích hợp nhất, vào thế kỷ V TCN có 10% người dân thành Athens đọc được những bản tuyên bố đơn giản hay viết được tên của mình, vượt xa bất kỳ nơi nào ở phương Đông hay phương Tây vào bất cứ thời điểm nào trước đó.

Chúng ta biết nhiều hơn về sự lan tràn các thành phố, thành bang, thương mại và chữ viết vào châu Âu ở thiên niên kỷ thứ nhất hơn là về sự lan rộng của nông nghiệp 4.000 hay 5.000 năm trước đó (đã đề cập Chương 2), nhưng những luận cứ về những gì đã xảy ra ở môi trường hợp lại giống nhau lạ kỳ. Một số nhà khảo cổ học khẳng định rằng việc chiếm thuộc địa ở phía đông Địa Trung Hải vào thiên niên kỷ thứ nhất TCN là nguyên nhân gây ra sự gia tăng các thành phố và thành bang xa hơn về phía tây; số khác lại phản bác rằng những người bản xứ đã biến đổi xã hội của họ để chống lại chủ nghĩa thực dân. Các thành viên của nhóm sau, chủ yếu là các học giả trẻ tuổi, đôi khi còn cáo buộc nhóm trước đã phóng chiếu hoài niệm về thế giới cổ đại để biện minh cho các sứ mệnh khai hóa tự xưng của các chế độ thuộc địa hiện đại, trong khi một số học giả thuộc nhóm trước, chủ yếu là người lớn tuổi, đáp trả rằng những chỉ trích của họ chỉ quan tâm đến việc truy hỏi như những nhà đấu tranh cho lớp người bị áp bức hơn là nhằm phát hiện những gì thực sự đã diễn ra.

Phải thừa nhận việc dùng ngôn từ để bới móc nhau quả là vô vị so với sự giận dữ mà ngành khảo cổ học của Israel đã gây ra (theo tôi biết, cho đến nay chưa một ai phải cần đến một vệ sĩ), nhưng theo những chuẩn mực lịch sự của học thuật cổ điển thì nó được xem là cuộc tranh cãi gay gắt. Dẫu sao, điều này cũng đủ để kéo tôi vào cuộc, và để làm sáng tỏ các vấn đề, tôi đã dành những mùa hè từ năm 2000 đến năm 2006 để khai quật một địa điểm ở Sicily có tên là Monte Polizzo⦾. Đây là một thị trấn bản địa bị tộc người Elymi chiếm cứ trong giai đoạn năm 650-525 TCN. Thị trấn này gần với các thuộc địa của người Phoenician và Hy Lạp đến mức chúng ta có thể nhìn thấy chúng từ đỉnh đồi mà chúng tôi khai quật, khiến nó trở thành địa điểm lý tưởng để kiểm tra các lý thuyết có quan điểm đối nghịch về việc thuộc địa hóa hay sự phát triển bản địa là nguyên nhân gây ra sự cất cánh của vùng đất phía tây Địa Trung Hải. Và sau bảy mùa hè lượm lặt, đào xới, sàng lọc, đo đếm và tiêu thụ một lượng mì ống khổng lồ, chúng tôi đi đến kết luận sau: mỗi lý thuyết đều có liên quan một chút.

Dĩ nhiên, điều này cũng khá giống những kết luận mà các nhà khảo cổ học đưa ra về việc mở rộng nông nghiệp hàng nghìn năm trước đó. Trong mỗi trường hợp, phát triển xã hội tăng lên ở vùng lõi và cả ở các vùng ngoại vi. Những thương nhân và người di dân đã rời bỏ vùng lõi do bị đối thủ xua đuổi hay bị lôi kéo bởi các cơ hội hấp dẫn, đồng thời một số cư dân vùng ngoại vi cũng tích cực sao chép các thực tiễn ở vùng cốt lõi hoặc tự tạo ra các phiên bản cho riêng họ. Kết quả là mức độ phát triển xã hội cao hơn đã trải rộng ra khỏi vùng lõi, phủ lên các hệ thống trước đó và chuyển hóa trong suốt quá trình khi các cư dân ở vùng ngoại biên thêm vào những biến đổi của chính họ và khám phá những lợi thế ngay trong sự lạc hậu của họ.

Ở Monte Polizzo, các sáng kiến bản địa rõ ràng là rất quan trọng. Vi lẽ, chúng tôi ngờ rằng di chỉ của chúng tôi đã bị tàn phá bởi những anh bạn thuộc tộc Elymi ở vùng Segesta, những người đã tạo ra thành bang riêng cho mình ở thế kỷ VI TCN. Nhưng sự xuất hiện của những thực dân Hy Lạp cũng rất quan trọng, vì việc hình thành nhà nước Segesta phần nào là để phản ứng với sự tranh giành đất đai của người Hy Lạp cùng với sự tràn ngập của nền văn hóa Hy Lạp. Những quý tộc Segesta đã nỗ lực để chứng tỏ họ là những kình địch đáng gờm đối với người Hy Lạp, nhưng lại vay mượn những thực tiễn của Hy Lạp. Trên thực tế, họ đã xây dựng một ngôi đền hoàn hảo theo phong cách Hy Lạp ở thập niên 430 TCN mà nhiều nhà sử học nghệ thuật nghĩ rằng họ phải thuê mướn các kiến trúc sư thiết kế đền Parthenon ở Athens. Người dân vùng Segesta cũng lồng chủng tộc mình vào thần thoại Hy Lạp, họ tự nhận (người La Mã cũng thế) là con cháu của Aeneas, một quý tộc thành Troy đã đào thoát khi Troy thất thủ. Khoảng thế kỷ V TCN, các thành phố thuộc địa ở phía Tây Địa Trung Hải như Carthage (vùng định cư của người Phoenicia) và Syracuse (vùng định cư của người Hy Lạp) đã kình địch với mọi thành bang thuộc vùng lõi cũ. Sự phát triển xã hội của cư dân nhà nước Etruria cũng nối tiếp sau đó, và hàng chục nhóm cư dân như bộ tộc Elymi cũng theo gót.

Một quá trình tương tự về sự sụp đổ của nhà nước nằm trong vùng lõi kết hợp với sự mở rộng của vùng ngoại vi cũng xảy ra ở phương Đông khi dân số tăng lên. Khoảng năm 810 TCN, Chu Tuyên Vương mất quyền kiểm soát các chư hầu, các chư hầu ngày càng nhận thấy không còn lý do gì để hợp tác với nhà vua khi bản thân họ trở nên giàu có và mạnh mẽ hơn. Kinh đô của Tuyên Vương ở Cảo Kinh rơi vào nạn xung đột bè phái và di địch từ phía tây bắc tiến sâu vào vương quốc để cướp bóc. Khi Chu U Vương nối ngôi vua cha vào năm 781 TCN, ông cố ngăn chặn tệ nạn thối nát triều chính này, nhưng rõ ràng chỉ gây ra một cuộc đối đầu với các chư hầu không thân thiện gì và các cận thần đầy quyền lực của cha mình, những người có thể đã âm mưu với người con trưởng của ông và người mẹ của cậu ta.

Ở thời điểm sau này, câu chuyện biến thành loại truyền kỳ dân gian tràn đầy trong các nguồn tư liệu cổ xưa. Tư Mã Thiên, sử gia vĩ đại thế kỷ I TCN, kể lại một câu chuyện kỳ lạ về một vị vua trước đó của nhà Chu có lần mở một hộp chứa nước dãi rồng đã hàng nghìn năm, và từ trong hộp xuất hiện con vật đen bóng thuộc loài bò sát. Theo những lý do không rõ ràng mà Tư Mã Thiên đưa ra, phản ứng của nhà vua là bắt một số cung nữ thoát y và la thét con vật. Thay vì bỏ chạy, nó làm một cung nữ thụ thai, sau này sinh ra một nữ nhi, sau đó đem vứt bỏ. Một cặp vợ chồng chạy trốn khỏi kinh đô để tránh sự giận dữ của nhà vua về một vấn đề hoàn toàn không liên quan, đã đem theo nữ nhi này đến đất Bao, một trong những chư hầu nổi loạn chống triều Chu.

Trọng tâm của câu chuyện truyền kỳ này là vào năm 780 TCN, người dân đất Bao quyết định dàn xếp một thỏa thuận với U Vương bằng cách dâng cho ông người con của giao long – giờ đây đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp tên Bao Tự – làm thê thiếp. U Vương rất vui vẻ, và ngay năm sau Bao Tự sinh hạ một hoàng tử. Rõ ràng đây là lý do tại sao U Vương quyết định phế bỏ thế tử và chính hậu của mình.

Mọi điều đều xuôi thuận đối với U Vương cho đến năm 777 TCN, khi người con lưu vong của ông trốn sang một nước chư hầu khác của nhà Chu và tể tướng của U Vương bỏ ông để đến phò tá vị hoàng tử này. Cũng thời điểm này, một nhóm các chư hầu đã liên minh với bộ tộc Khuyển Nhung ở vùng tây bắc, bính âm là Quanrong (tên gọi có nghĩa là bọn ngoại tộc thù địch).

Chu U Vương không quan tâm đến những sự kiện này mà chỉ tập trung vào một vấn đề cấp bách hơn: làm thế nào để làm Bao Tự cười (từ xuất thân của nhân vật này thì việc nàng ta thiếu tính cách hài hước cũng không có gì đáng ngạc nhiên). Duy chỉ có một trò có vẻ đã thành công. Những vị vua nhà Chu đời trước lập các đài quan sát để khi Khuyển Nhung tấn công, những đài này sẽ nổi trống và đốt lửa để cấp báo cho chư hầu đến cứu viện. Tư Mã Thiên kể:

U Vương cho đốt lửa hiệu và đánh trống đại. Do lửa hiệu chỉ được đốt lên khi có kẻ thù xâm nhập, nên các chư hầu vội vã dẫn quân đến. Khi họ đến nơi thì ngỡ ngàng vì không thấy quân địch đâu cả, việc này khiến Bao Tự phá lên cười. Nhà vua rất hài lòng, nên ông đã cho đốt lửa hiệu nhiều lần. Về sau, do không còn tin nữa nên nhiều chư hầu chỉ miễn cưỡng mà đến.

U Vương ban đầu dùng trò kêu cứu để đánh lừa mọi người giống như câu chuyện chú bé chăn cừu, đến khi rợ Nhung và Thân hầu nổi loạn tấn công thực sự vào năm 771 TCN, thì nhiều chư hầu không đem quân đến giải cứu vì sợ bị lừa như những lần trước. Những kẻ nổi loạn sau đó đã giết U Vương, đốt cháy kinh đô, và đưa người con bị truất phế lên ngôi, lấy hiệu là Bình Vương.

Cũng khó xem câu chuyện này là đúng hay không, nhưng nhiều nhà sử học cho rằng nó đã lưu giữ những hồi ức về các sự kiện có thực. Vào thập niên 770 TCN, thập niên mà các nhà lãnh đạo Ai Cập và Assyria đều đánh mất quyền lực, dường như sự gia tăng dân số, sức mạnh địa phương hồi sinh, nền chính trị vương triều, và những áp lực đến từ bên ngoài đã cùng xuất hiện ở Trung Hoa để tạo ra một sự thoái trào thậm chí còn rõ ràng hơn đối với chế độ quân chủ.

Các chư hầu đẩy U Vương vào thảm trạng ở khoảng năm 771 TCN có lẽ chỉ muốn chứng minh sức mạnh của họ, lập Bình Vương như một vị vua bù nhìn, và tiếp tục lờ đi chế độ quân chủ. Quyết định của họ khi chôn những đồ tế tự bằng đồng quanh thung lũng Vị Hà, nơi các nhà khảo cổ học đã tìm được một số lượng lớn từ những năm 1970, cho thấy họ dự định trở lại kinh đô ngay khi rợ Nhung trở về với số tài sản cướp bóc được từ cung điện của U Vương. Nhưng nếu đúng là suy tính của họ thì đó là một sai lầm lớn. Tộc Nhung đã ở lại, và các chư hầu buộc phải tôn Bình Vương làm vua để lãnh đạo một chính phủ lưu vong ở Lạc Ấp nằm trong lưu vực Hoàng Hà.⦾ Rõ ràng vua nhà Chu, đấng Thiên Tử như danh xưng, giờ đây trở nên bất lực khi mất hết đất đai ở thung lũng Vị Hà, và các quốc chủ nước Trịnh, chư hầu hùng mạnh nhất trong các nước chư hầu, bắt đầu thách thức quyền lực những vị vua của họ trước đây. Vào năm 719 TCN, một vị vương nước Trịnh đã giành quyền chỉ định người thừa kế ngai vàng nhà Chu cho vị thế tử làm con tin ở đất Trịnh; vào năm 707 một vị vương khác thậm chí còn cho người bắn tên trúng vai Chu Hoàn Vương.

Khoảng năm 700 TCN, triều đình nhà Chu hầu như không còn liên quan gì đến những vương hầu công khanh ở các thuộc quốc trước đây (một nguồn tài liệu cổ xưa cho biết lúc đó có đến 148 thuộc quốc). Những chư hầu lãnh đạo vẫn thường tuyên bố hành động thay mặt cho vua nhà Chu, nhưng trên thực tế vẫn đánh lẫn nhau để giành quyền lực tối cao mà không cần phải bàn bạc với vị quốc chủ của họ, ký và phá vỡ các hiệp ước theo ý mình. Vào khoảng năm 667 TCN, Hoàn Công nước Tề, tạm thời chiếm ưu thế, ông thậm chí còn triệu tập các chư hầu hội minh để thừa nhận ông là bá chủ của họ (mặc dù họ vẫn tiếp tục chống lại ông và đánh phá lẫn nhau). Năm sau, Tề Hoàn Công ép vua nhà Chu phong ông tước bá, có nghĩa là bá chủ, người (trên lý thuyết) đại diện cho lợi ích của nhà Chu.

Tề Hoàn Công chiếm được vị thế này phần lớn là do bảo vệ các nước yếu hơn chống lại các cuộc tấn công của những tộc người mà họ cho là dân mọi rợ – ở phía bắc là tộc Nhung và Di, còn ở phía nam là các tộc Man. Tuy nhiên, hậu quả chính (và chắc chắn ngoài dự tính) của những cuộc chiến tranh này cũng tương tự như tình trạng thuộc địa của người Phoenicia và Hy Lạp ở phía Tây Địa Trung Hải, đó là thu hút các tộc người Nhung, Di và Man vào vùng lõi và mở rộng nó trong quá trình này.

Vào thế kỷ VII TCN, những tiểu quốc dọc theo rìa phía bắc của vùng lõi đã sử dụng tộc Nhung và Di như các đồng minh, thắt chặt mối quan hệ qua những cuộc hôn nhân dị chủng. Nhiều lãnh đạo Nhung và Di thông thạo văn học thời Chu và dần dần gắn bó với các nước vùng biên ngày càng phát triển như Tề, Tấn và Tần. Ở phía nam, một số tộc Man cũng lập ra một đất nước rộng lớn cho riêng họ, nước Sở, cùng tranh bá với Tấn và Tề ở thế kỷ VII TCN. Vào những năm 650 TCN, Sở đã là một thành viên chính thức trong cộng đồng các nước chư hầu tham gia vào các hội nghị; và, cũng giống như những người Segestan và La Mã ở phương Tây tự nhận là hậu duệ của Aeneas, vương công nước Sở cũng cho rằng họ, cũng như các tiểu quốc khác ở phía đông, vốn là một thuộc quốc của nhà Chu. Một nền văn hóa vật chất nổi bật ở đất Sở đã xuất hiện khoảng năm 600 TCN, bao gồm các yếu tố vùng lõi và phía nam.

Nước Sở trở nên hùng mạnh đến mức vào năm 183 TCN, nước Tấn phải quyết định liên minh với các tộc Man khác để tạo kẻ thù ở hậu phương đất Sở. Khoảng năm 506 TCN, một trong những đồng minh này, nước Ngô, đủ thực lực hùng hậu để phá tan quân nước Sở, đến mức, vào năm 482 TCN, Tấn Định Công phải phong tước cho Ngô Vương Phù Sai, cũng như các vị vương nước Sở, giờ cũng tuyên bố thuộc dòng họ nhà Chu. Vào thời điểm đó, một đất nước khác ở phía nam, nước Việt, cũng trở thành một cường quốc. Quốc chủ nước Việt, cố gắng lấn lướt nước Ngô về ý thức hệ bằng cách xưng là hậu duệ của vương triều đầu tiên trên đất Trung Hoa, triều đại nhà Hạ; và khoảng năm 473 TCN, Ngô Vương Phù Sai thắt cổ chết khi quân nước Việt vây hãm thủ đô của ông, Việt Vương tiếp quản luôn tước của ông. Mặc dù bị tan rã về mặt chính trị, nhưng vùng lõi phương Đông cũng kịp mở rộng đáng kể chẳng kém gì ở phương Tây.

Hướng tới đỉnh cao

Giai đoạn năm 750-500 TCN là bước ngoặt khi lịch sử không biến chuyển. Vào năm 750 TCN, phát triển xã hội ở phương Tây đã đẩy lên 24 điểm, chỉ nằm ở vị trí đã có vào thời điểm trước khi xảy ra sự sụp đổ trầm trọng vào khoảng năm 1200 TCN; khoảng năm 500 TCN, phương Đông cũng đón nhận sự sụp đổ tương tự. Cũng như những gì xảy ra khoảng năm 1200 TCN, khí hậu thay đổi, các sắc dân di cư, xung đột leo thang, những quốc gia mới hình thành tràn vào vùng lõi, trong khi các quốc gia xưa cũ lại đến chu kỳ phân tách. Những sụp đổ mới có khả năng xảy ra toàn bộ, nhưng cả hai vùng lõi này thay vì tái cơ cấu, lại phát triển các nguồn lực kinh tế, chính trị và tri thức để xử lý những thách thức chúng phải đối mặt. Đó là những gì khiến cho Hình 5.1 trở nên tẻ nhạt – nhưng đồng thời cũng rất thú vị.

Chúng ta thấy những thay đổi đầu tiên diễn ra ở Assyria. Nhân vật tiếm ngôi vua ở đó vào năm 744 TCN, Tiglath-Pileser III, đầu tiên trông giống mọi kẻ tiếm quyền khác chỉ quen phản bội kể từ những năm 780 TCN, nhưng trong vòng chưa đầy 20 năm, ông đã biến Assyria từ một đất nước tan vỡ ở dạng thứ cấp thành một quốc gia năng động ở tầm cao. Theo tiến trình thời gian, ông cũng tự biến đổi mình, giống như một số thành viên mafia chuyển sang hoạt động hợp pháp, từ một tay trùm gangster trở thành một vị vua vĩ đại (nhưng tàn bạo).

Bí mật của ông là cắt đứt mọi thỏa thuận với tầng lớp Những người con của Thiên giới quý tộc. Tiglath-Pileser thực hiện điều này bằng cách tạo ra một đội quân thường trực do ông trả lương và trung thành với mình thay vì bắt các lãnh chúa của mình phải cung ứng quân lính. Các văn bản còn lưu lại không nói ông đã tiến hành như thế nào, nhưng theo cách riêng của mình, ông đã cưỡng ép tù nhân chiến tranh để thành lập một đội quân riêng. Khi chiến thắng, Tiglath-Pileser lại dùng số của cải cướp được để trực tiếp chi trả cho quân đội của mình thay vì san sẻ nó với các lãnh chúa. Được quân đội hỗ trợ, ông lần lượt phá vỡ quyền lực của giới quý tộc, chia nhỏ các cơ quan quyền lực và đưa hoạn quan bị bắt đảm nhiệm nhiều vị trí ở các cơ quan này. Hoạn quan có hai ưu điểm sau: họ không thể có con trai để thừa kế vị trí của mình, đồng thời bị các nhà quý tộc truyền thống khinh miệt nên không thể cầm đầu các vụ nổi loạn. Trên hết, Tiglath-Pileser mở rộng bộ máy chính quyền để điều hành đất nước, vượt lên tầng lớp thượng lưu cũ để tạo ra những thư lại hoàn toàn trung thành với ông.

Tất cả những việc này đòi hỏi nhiều khoản tốn kém, vì vậy Tiglath-Pileser đã tìm cách hợp thức hóa các nguồn tài chính của mình. Thay vì moi tiền người nước ngoài bằng cách bắt họ trình diện theo định kỳ và đòi những khoản đút lót, ông chú trọng vào những khoản đóng góp thường xuyên – một hình thức đóng thuế. Nếu một chư hầu cãi lại, Tiglath-Pileser liền thay thế ông ta bằng một thống đốc người Assyria. Ví dụ, vào năm 735 TCN, vua Pekah của Israel tham gia với thành Damascus và các thành phố Syria khác trong một cuộc kháng thuế (Hình 5.5). Tiglath-Pileser đã trừng phạt họ một cách tàn bạo (like a wolf).❖ Ông phá hủy Damascus vào năm 732 TCN, dựng lên một thống đốc mới và cho sáp nhập các thung lũng phì nhiêu ở phía bắc Israel. Những thần dân khốn khổ của Pekah sau đó đã ám sát ông và đưa vua Hoshea thân-Assyria lên ngôi.

Hình 5.5. Các đế quốc cao cấp đầu tiên. Đường bị đứt đoạn đánh dấu phạm vi tối đa của Đế quốc Assyria, khoảng năm 660 TCN, và đường liền nét đánh dấu phạm vi tối đa của Đế quốc Ba Tư, khoảng năm 490 TCN.

Mọi việc diễn ra suôn sẻ cho đến khi Tiglath-Pileser qua đời vào năm 727. Hoshea cho rằng hệ thống cai trị mới của Assyria cũng sẽ tàn lụi theo ông ta nên ngừng nộp thuế, nhưng thiết chế của Tiglath-Pileser chứng tỏ đủ vững chắc để có thể vượt qua được sự thay đổi ở thượng tầng. Vào năm 722 TCN, Shalmaneser, vị vua mới của Assyria, tàn phá đất nước Israel, giết Hoshea, đưa lên một thống đốc mới và trục xuất hàng chục nghìn người Do Thái. Giai đoạn năm 934-612 TCN, Assyria thực tế đã cưỡng bức khoảng 4,5 triệu người phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Những người bị trục xuất giúp bổ sung quân đội của Assyria, xây dựng các thành phố, và phục vụ các dự án nhằm gia tăng mức sản xuất của đế chế – xây đập ngăn sông, trồng cây, chăm bón ô-liu, và đào kênh thủy lợi. Sức lao động của những người bị truất hữu đã nuôi dưỡng hai thành phố Nineveh và Babylon, dân số mỗi nơi đã tăng lên đến 100.000 người, khiến các thành phố trước đây trở nên nhỏ bé, đồng thời thu hút các nguồn lực từ khắp nơi. Phát triển xã hội tăng lên; đến năm 700 TCN, Đế quốc Assyria hùng mạnh hơn bất kỳ nhà nước nào trong lịch sử.

Phải chăng Tiglath-Pileser đã thay đổi tiến trình lịch sử bằng cách chặn đứng sự sụp đổ ở thế kỷ VIII TCN? Đã có lúc các nhà sử học không ngần ngại xác quyết điều này, nhưng ngày nay hầu hết đều tránh bàn cãi về ý chí của những nhân vật vĩ đại, độc đáo trong lịch sử. Trong trường hợp này, có lẽ họ đúng. Tiglath-Pileser Đại đế có thể là một nhân vật như thế, nếu ta gán cho ông về mặt tàn nhẫn, nhưng ông không phải là là nhân vật duy nhất. Trên khắp vùng lõi phương Tây ở cuối thế kỷ VIII TCN, các nhà lãnh đạo đều hướng đến trung ương tập quyền như là giải pháp để xử lý các vấn đề rắc rối. Tại Ai Cập, những người Nubia ở vùng đất Sudan hiện nay đã thống nhất đất nước trước cả khi Tiglath-Pileser chiếm ngôi ở Đế quốc Assyria, và trong 30 năm sau đó ông mới thừa nhận những cải cách về mặt thể chế. Ngay cả vua Hezekiah của vương quốc Judea nhỏ bé cũng đã làm điều tương tự vào thập niên 710 TCN.

Thay vì một thiên tài đơn lẻ có thể thay đổi lịch sử, điều này giống như những con người đang nỗ lực vận dụng mọi ý tưởng cải tiến, cùng những giải pháp tốt nhất có được. Đó là tập trung quyền lực hay bị diệt vong; những nhà lãnh đạo không kiểm soát được các thủ lĩnh địa phương đều bị nghiền nát bởi những kẻ kế thừa. Hezekiah, do mối lo về Đế quốc Assyria, buộc phải củng cố vương quốc Judea; vị vua mới của Assyria, Sennacherib, bận tâm về sức mạnh của Hezekiah, buộc phải ngăn chặn ông ta. Năm 701 TCN, Sennacherib tấn công Judea và xử lý người dân xứ này. Ông đã miễn xá cho Jerusalem, hoặc do (theo Kinh Thánh Hebrew) Thiên sứ của Chúa trừng phạt người Assyria hoặc do (theo tư liệu về Sennacherib) Hezekiah đồng ý cống nạp nhiều hơn.

Dù bằng cách nào, chiến thắng của Sennacherib khiến ông phải đối mặt với một thực tế khắc nghiệt: mọi cuộc chiến tranh mà Assyria giành chiến thắng đơn giản là chỉ tạo ra những kẻ thù mới. Khi Tiglath-Pileser thôn tính miền Bắc Syria vào đầu những năm 730 TCN, Damascus và Israel tổ chức chống lại ông; khi Shalmaneser chinh phục Damascus và Israel giai đoạn khoảng năm 732-722 TCN, thì vương quốc Judea lại trở thành tuyến đầu; và vào năm 701 TCN, một đất nước Judea lớn mạnh chỉ biến Ai Cập thành một mối đe dọa, vì vậy vào thập niên 670 TCN, Đế quốc Assyria đã tàn phá thung lũng sông Nile. Dầu vậy, Ai Cập vẫn là một quốc gia quá xa xôi, và vào thời điểm những người Assyria rút lui 10 năm sau đó, các vấn đề phức tạp ở vùng biên giới lại nảy sinh. Việc tiêu diệt vương quốc Urartu, kẻ thù chính của Đế quốc Assyria ở phía bắc, đã khiến họ phải trực tiếp đối mặt với những cuộc tấn công cướp bóc từ vùng Caucasus; việc chiếm cứ vương quốc Babylon, kẻ thù chính của họ ở phía nam, chỉ khiến tạo ra các cuộc chiến tranh với vương quốc Elam (Iran ngày nay) về phía đông nam; và việc hủy diệt Elam vào thập niên 640 TCN chỉ giúp giải phóng người Media (thuộc chủng Indo-Iranian/Aryan) khỏi dãy núi Zagros để trở thành một mối đe dọa và tạo cơ hội cho vương quốc Babylon giành lại quyền lực.

Trong cuốn sách có uy tín The Rise and Fall of the Great Powers (Sự thăng trầm của các cường quốc), sử gia Paul Kennedy của Đại học Yale cho rằng trong 500 năm qua, nhu cầu gây ra những cuộc chiến tranh lớn buộc các quốc gia châu Âu phải vượt qua, làm suy giảm sức mạnh đến mức chúng bị sụp đổ. Mặc dù đã có bước nhảy đạt đến một mô hình cấp cao với nguồn thu nhập khổng lồ, một đội quân chuyên nghiệp, một bộ máy quan liêu, và bất chấp việc đánh bại mọi đối thủ, Đế quốc Assyria đã kết thúc như một chuẩn mực cho sự quá tải của các đế quốc. Vào năm 630 TCN, đế quốc này phải triệt thoái ở khắp mọi thuộc địa, và năm 612 TCN, một liên minh giữa tộc người Media và vương quốc Babylon đã cướp phá thành Nineveh và chia cắt đế quốc này.

Sự sụp đổ đột ngột của Đế quốc Assyria đã lặp lại một mẫu hình chúng ta thấy trong Chương 4, ở đó các cuộc chính biến quân sự lại mở rộng một vùng lõi bằng cách cho phép các dân tộc trước đây ở vùng ngoại biên có cơ hội thâm nhập. Người Media tiếp nhận nhiều cơ chế và chính sách của Đế quốc Assyria; trong khi đó Babylon lại trở thành cường quốc một lần nữa và Ai Cập cố gắng xây dựng lại đế quốc đã mất từ lâu của mình ở vùng Levant⦾. Việc tranh giành Đế quốc Assyria đổ nát cũng giữ cho động lực bành trướng tiếp diễn. Chính sách trung ương tập quyền của người Media đã biến một tộc người khác ở vùng ngoại biên, người Ba Tư ở tây nam Iran, thành một cường quốc đáng gờm. Vào năm 550 TCN, thủ lĩnh người Ba Tư Cyrus đánh bại vương quốc của người Media, con đường tiến quân của ông ta được trơn tru do cuộc chiến bè phái của người Media (Vua Media khá điên rồ khi giao quyền chỉ huy đội quân chống Cyrus cho một viên tướng mà trước đó ông ta đã buộc người này ăn thịt chính người con trai bị sát hại của mình. Viên tướng này nhanh chóng đào thoát, quân đội sụp đổ, và Cyrus tiếp quản đất đai).

Cũng như những vị vua người Assyria trước đó, các nhà cai trị Ba Tư tin rằng họ đang thực hiện sứ mệnh từ Thiên Chúa. Dưới cái nhìn của các vị vua này, vương triều Achaemenes gia tộc của họ đại diện cho các lợi ích trần thế của Ahuramazda, thần ánh sáng và chân lý, trong cuộc đấu tranh vĩnh cửu của ông với bóng tối và cái ác. Họ cũng tự thuyết phục rằng các vị thần của các dân tộc khác công nhận tính chính đáng của họ nên muốn họ giành chiến thắng. Vì vậy, khi Cyrus chiếm Babylon vào năm 539 TCN, ông tuyên bố (có vẻ chân thành) đã phải làm vậy để giải phóng các vị thần của Babylon khỏi những kẻ cai trị tham nhũng đã bỏ rơi họ. Khi ông theo đuổi điều này bằng cách đưa những người Do Thái trở về Jerusalem, nơi người Babylon từng cưỡng bức họ dời đi để câu thúc vào năm 586 TCN, các tác giả của Kinh Thánh Hebrew thậm chí còn khẳng định quan điểm của Cyrus về chính mình. Họ viết về Cyrus như sau “mục tử của ta… người được xức dầu thánh của ta… cánh tay phải của ta để chinh phục các vương quốc phía trước và tước bỏ ngai vị các vị vua.”❖

Cyrus chỉ huy quân đội của mình tiến đến bờ biển Aegea và biên giới của các vùng đất này là Kazakhstan, Afghanistan và Pakistan. Con trai của ông là Cambyses chiếm đóng Ai Cập, rồi sau đó, trong một câu chuyện khá kỳ lạ như bất cứ điều kỳ lạ nào trong sách của Tư Mã Thiên, người họ hàng xa của ông, Darius, lại chiếm ngôi vào năm 521 TCN. Theo nhà sử học Hy Lạp Herodotus, Cambyses giải thích sai một giấc mơ rằng anh trai ông, Smerdis, đang âm mưu chống lại mình, nên ra lệnh giết Smerdis một cách bí mật. Tuy nhiên, Cambyses vô cùng kinh hoàng khi thấy một giáo sĩ – người tình cờ cũng có tên Smerdis, và tình cờ giống hệt với Smerdis đã chết – chiếm ngôi, giả vờ là Smerdis thật sự. Cambyses vội lên ngựa phi vội về nhà và tiết lộ sự lừa gạt đó (và thực tế ông ta đã giết người anh trai mình) nhưng vô tình đâm vào đùi mình và chết. Trong khi đó, Smerdis giả mạo bị vạch trần khi một trong những người vợ của ông phát hiện ra rằng ông không có tai (tai của Smerdis giả đã bị cắt đứt do một hình phạt trước đó). Bảy người quý tộc sau đó giết chết Smerdis giả mạo và tổ chức một cuộc thi để giành lấy ngai vàng: mỗi người bày mưu đưa ngựa của mình đến một địa điểm được lựa chọn, kế hoạch là bất cứ ngựa của ai cất tiếng hí đầu tiên trước khi mặt trời mọc sẽ trở thành vua, và Darius đã chiến thắng (do ông đánh lừa mọi người).

Điều đáng nói ở đây, điều này cũng là phương cách tốt để chọn một vị vua như bất kỳ cách nào,⦾ và Darius nhanh chóng chứng tỏ mình là một Tiglath-Pileser mới. Vì vậy, ông đã tối đa hóa nguồn thu từ vương quốc gần 30 triệu thần dân của mình một cách hiệu quả, Herodotus ghi chép rằng, đến mức “người Ba Tư thích nói rằng Darius là một chủ cửa hiệu… [Người] đã kiếm lời từ mọi thứ.”❖

Darius chạy theo đồng tiền, và nó đã đưa ông về phía tây, nơi phát triển xã hội đang tăng lên làm hồi sinh vùng biên giới Địa Trung Hải. Vào năm 500 TCN, các thương nhân, hoạt động cho chính họ hơn là làm việc cho các cung điện và đền đài, đã tạo nên một nền kinh tế sôi động, khiến cho chi phí vận chuyển bằng đường biển giảm xuống rất nhiều để họ có lãi khi vận chuyển hàng rời khối lượng lớn như lương thực cũng như hàng hóa xa xỉ. Vào năm 600 TCN, người dân ở Lydia miền tây Anatolia, bắt đầu đóng dấu lên các tấm kim loại để đảm bảo trọng lượng hàng hóa của họ, và dưới thời Darius, sự đổi mới này – tiền tệ – được sử dụng rộng rãi, đẩy mạnh hoạt động thương mại hơn nữa. Mức sống tăng lên: Vào năm 400 TCN, trung bình người Hy Lạp tiêu thụ hàng hóa có lẽ từ 25-50% cao hơn so với tổ tiên của họ trước đó ba thế kỷ. Nhà cửa lớn hơn, chế độ ăn uống đa dạng hơn, và người dân sống lâu hơn.

Darius nỗ lực khai thác nền kinh tế Địa Trung Hải bằng cách thuê những người Phoenicia làm việc trên đội tàu đầu tiên của Ba Tư, xẻ một con kênh Suez nối với biển Địa Trung Hải và biển Đỏ, và nắm quyền kiểm soát các thành phố Hy Lạp. Theo Herodotus, ông còn gửi gián điệp đến tìm hiểu Italy và thậm chí còn xem xét việc tấn công thành Carthage.

Khi Darius qua đời vào năm 486 TCN, phát triển xã hội phương Tây đã cao hơn 10% so với 24 điểm mà nó đạt được vào khoảng năm 1200 TCN. Hoạt động nông nghiệp tưới tiêu ở Ai Cập và Lưỡng Hà giúp sản lượng tăng lên liên tục; Babylon có thể đã có khoảng 150.000 cư dân (thành phố lớn đến mức, Herodotus nói, khi Cyrus đánh chiếm, phải mất vài ngày để tin tức lan truyền đến một số vùng phụ cận); quân đội Ba Tư cũng lớn (theo Herodotus) đến mức họ uống cạn cả các dòng sông; và, như chúng ta thấy, có lẽ cứ một trong 10 người ở Athens có thể viết được tên mình.

Phương Đông cũng đạt 24 điểm, và các quá trình tái cơ cấu và tập quyền nhà nước rất giống phương Tây được biết đến từ thế kỷ VIII TCN đã diễn ra. Sự tan vỡ quyền lực của nhà Chu kể từ năm 771 TCN là một may mắn dành cho các nhà cai trị của những nước chư hầu cũ. Nó cho phép họ tự do đánh nhau, và họ làm điều đó với cường độ dữ dội hơn, nhưng sự sụp đổ không dừng lại tại đó. Những công hầu trước đây là những chư hầu ngang bướng, tuy gắn kết với vua nhà Chu nhưng lợi dụng việc ông ta phải dựa dẫm vào họ để gầy dựng binh lực, giờ đây nhận thấy rằng giới quý tộc của họ cũng ngang bướng như họ đã từng. Giải pháp đưa ra là né tránh giới quý tộc bằng cách sử dụng người ngoài đưa vào nhà nước, như Tiglath-Pileser đã làm khi ông ghép tù nhân chiến tranh vào quân đội của ông. Bốn chư hầu lớn nằm cạnh thế giới nhà Chu (Tấn, Tề, Sở và Tần; xem Hình 5.2) bắt đầu làm điều này vào thế kỷ VII TCN và đã phát triển mạnh mẽ.

Vào đầu năm 690 TCN, nước Sở, ít bị kiềm chế theo các quy tắc quý tộc của thời Chu hơn các quốc gia ở vùng thung lũng Hoàng Hà, đã tạo ra các địa hạt hành chính mới dưới sự quản lý của quan thống đốc, người sẽ báo cáo trực tiếp lên triều đình. Các nhà nước khác sao chép mô hình này. Vào thập niên 660 TCN, Tấn Hiến Công, chủ phụ nước Tấn, đưa ra một giải pháp quyết liệt hơn, bằng cách tàn sát những người đứng đầu các dòng tộc lớn ở nước này và bổ nhiệm các chức quan khanh với hy vọng họ sẽ vâng lệnh hơn. Các chư hầu khác cũng sao chép mô hình này. Vào năm 194 TCN, Lỗ Tuyên Công tìm thấy một hướng đi khác với những chư hầu quanh ông bằng cách xóa bỏ quyền thu phí lao động của nông dân của các chư hầu địa phương, ông ban cho họ quyền sở hữu đất đai mà họ trồng trọt để đổi lấy việc quân dịch và nộp thuế trực tiếp cho ông. Các quốc gia khác cũng vội vàng sao chép chính sách này.

Các nhà cai trị cách tân xây dựng những đội quân lớn hơn, tiến hành các cuộc chiến tranh khốc liệt hơn, và tận dụng sự tăng trưởng kinh tế như ở phương Tây. Người nông dân nỗ lực làm việc hơn để cải thiện đất đai khi nó thuộc sở hữu của họ, nâng cao sản lượng bằng cách phát triển mùa vụ tốt hơn và đầu tư vào dụng cụ cày bừa bằng bò kéo. Các loại nông cụ bằng sắt bắt đầu phổ biến rộng rãi và thợ rèn từ thế kỷ V TCN đã học được cách sử dụng ống bễ để nung nóng quặng sắt đến 1.550°C, ở nhiệt độ đó sắt bắt đầu tan chảy và có thể đúc các loại vật dụng.⦾ Thợ thủ công ở nước Ngô thậm chí kiểm soát được hàm lượng carbon của sắt để sản xuất ra thép.

Các thành phố phát triển mạnh mẽ – thành phố Lâm Truy (Linzi) ở nước Lỗ có lẽ đã có tới 50.000 cư dân vào năm 500 TCN – và như ở phương Tây, nhu cầu của người dân đã khuyến khích các nhà buôn tư nhân cung cấp lương thực cho họ. Năm 625 TCN, một quan khanh ở nước Lỗ bãi bỏ các trạm kiểm soát biên giới giúp giao thương trở nên dễ dàng hơn. Thương mại đường thủy nở rộ và nước Tấn và triều đình nhà Chu tại Lạc Dương (Luo-yang) tung ra tiền đồng, độc lập với đồng tiền phát minh ở phương Tây. Một tương đồng khác với phương Tây là, tăng trưởng kinh tế nâng cao mức sống nhưng cũng gia tăng sự bất bình đẳng. Thuế suất tăng lên, từ 10% vào đầu thế kỷ VI TCN đến 20% vào 100 năm sau đó. Các chư hầu xây dựng những hầm chứa đá lạnh trong cung điện còn người nông dân thì sa vào cảnh nợ nần.

Khi quá trình mở rộng kinh tế của phương Tây phát triển mạnh ở thế kỷ VI TCN, các vị vua tái khẳng định quyền lực của họ, nhưng ở phương Đông, tăng trưởng chỉ làm trầm trọng thêm các vấn đề của các nhà cai trị, do các quan khanh thay thế giới chư hầu cứng đầu thường xuất thân từ dòng dõi thế gia. Họ thường được đặt vào các vị trí tốt hơn chủ nhân của mình để giành lấy thành quả của sự phát triển và thường trở thành đối thủ của nhau. Vào năm 162 TCN, ba thế gia nước Lỗ loại bỏ Lỗ hầu, và đến thập niên 480 TCN, một trong số các thế gia này nắm quyền điều hành đất nước. Ở nước Tấn, các quan khanh cũng tiến hành một cuộc nội chiến ba bên kéo dài 50 năm, chia tách đất nước này vào năm 453 TCN.

Tuy nhiên, vào thời điểm này, các nhà cai trị (và các quan khanh chiếm đoạt quyền lực từ họ) đã tìm ra một giải pháp. Nếu các quan khanh dòng dõi quý tộc cũng khó xử lý như giới quý tộc mà họ thay thế, vậy tại sao không tuyển dụng các nhà quản lý từ các nước khác? Những cánh tay được thuê này, gọi là shi (sĩ) – thường được hiểu là kẻ sĩ – không có các mối liên kết chính trị để trở thành đối thủ. Trên thực tế, nhiều người có nguồn gốc xuất thân khá khiêm tốn, đó là lý do tại sao họ phải tìm kiếm công ăn việc làm trước tiên. Sự gia tăng các kẻ sĩ chứng minh cho sự tập trung quyền lực và phổ biến chữ nghĩa. Hàng nghìn kẻ sĩ làm công việc ghi chép và kế toán trong các thư phòng yên lặng, trôi dạt từ nước này sang nước khác khi nhiều cơ hội việc làm mở ra.

Một số kẻ sĩ may mắn khi lọt mắt xanh của các công đầu và được cất nhắc lên những vị trí cao. Tương phản một cách thú vị với chế độ quan lại của phương Tây, chính những người này, chứ không phải là các nhà cai trị thuê họ, lại trở thành các nhân vật chính trong văn học thời kỳ đó, trong vai các quân sư có đức, giúp các nhà cai trị gặt hái thành công bằng cách giúp họ ứng xử và hành động một cách trung thực và kỹ càng. Tả truyện, một tác phẩm phê bình các tài liệu lịch sử được tập hợp vào khoảng năm 300 TCN, có rất nhiều nhân vật như vậy. Nhân vật tôi yêu thích là Triệu Thuẫn, một thượng khanh của Tấn Linh Công. Tả truyện kể, phần nào giảm nhẹ: “Linh Công không phải là một nhà cai trị thực sự. Từ thượng lâu ông ta dùng nỏ bắn vào thường dân để xem họ tránh tên.⦾ Khi người đầu bếp chuẩn bị món chân gấu chưa được chín kỹ, ông liền giết đầu bếp, nhét thi thể ông ta vào một cái rương, và cho các cung tần khiêng đi quanh điện chầu.”❖

Triệu Thuẫn can gián Linh Công nhiều lần đến nỗi ông ta phải một sát thủ hành thích viên cố vấn nhiễu sự này. Nhưng khi tay sát thủ này đến nhà của Triệu Thuẫn vào lúc bình minh đã thấy vị quân sư đáng kính triều phục chỉnh tề đang chăm chỉ làm việc. Bị giằng xé giữa nỗi kinh hoàng vì phải sát hại một người tốt và nỗi hổ thẹn vì trái lời vua, kẻ sát thủ quyết định đập đầu vào một thân cây tự sát.

Cuộc phiêu lưu vẫn tiếp tục. Linh Công bố trí một cuộc mai phục, nhưng Triệu Thuẫn thoát được khi người lính hầu của Linh Công đấm chết một con chó ngao tấn công, hóa ra người hầu này từng được Triệu Thuẫn cứu vớt trong một nạn đói những năm trước đó. Cuối cùng, như trong tất cả các câu chuyện trong Tả truyện, Linh Công bị trừng phạt đích đáng, mặc dù cũng như thường xảy ra trong bài học đạo đức này, Triệu Thuẫn bị kết tội không ngăn chặn điều đó.

Tuy nhiên, các nhà cai trị khác (có lẽ đức hạnh tốt hơn) lại trở nên thịnh vượng, và các phong cách kiến trúc mới thể hiện rõ quyền lực ngày càng tăng của họ ở thế kỷ V TCN. Trong khi các vị vua nhà Chu xây dựng cung điện trên các nền đất nện chỉ cao khoảng 1m, các chư hầu bây giờ đi theo chiều thẳng đứng, hướng đến đẳng cấp cao theo đúng nghĩa đen. Một cung điện nước Sở được kể lại là cao đến 152m, và người ta nói là (một cách thái quá) nó chạm tới mây. Một cung điện khác, ở miền Bắc Trung Hoa, được gọi là có “Nền móng cao giữa lưng chừng trời.” Các nhà cai trị củng cố cung điện của mình có lẽ do họ sợ thần dân của mình cũng ngang với sợ các nước thù địch.

Khoảng năm 450 TCN, các nhà cai trị phương Đông, giống như các nhà cai trị phương Tây, đang hướng tới các mô hình cấp cao, thu thuế, xây dựng quân đội thường trực và quản lý các giao dịch phức tạp này bằng bộ máy quan lại chỉ trung thành với chính họ, nhưng cũng đủ độc lập để giữ mạng sống cho họ. Các nền kinh tế phát triển mạnh và phát triển xã hội đã vượt qua 24 điểm. Ở phương Tây, vùng lõi được mở rộng và Đế quốc Ba Tư đã thống nhất phần lớn vùng lõi đó; phương Đông cũng đang diễn ra các quá trình tương tự. Trong số 148 chư hầu xuất hiện từ sự sụp đổ của nhà Chu vào năm 771 TCN, chỉ còn 14 nước còn đứng vững vào năm 450 TCN, và chỉ 4 nước –Tấn, Tề, Sở và Tần – chi phối cục diện.

Ở Chương 4, tôi tưởng tượng những người ngoài hành tinh của von Däniken dự đoán khoảng năm 1250 TCN, các vùng lõi sẽ tiếp tục mở rộng và một đế chế duy nhất sẽ xuất hiện tại mỗi vùng. Nếu họ trở lại vào khoảng năm 450 TCN, có thể thấy rằng họ đã đúng: xét cho cùng thì dự đoán của họ không sai. Chỉ có việc xác định thời gian là bị sai lệch.

Những tác phẩm kinh điển

Những người ngoài hành tinh có thể cũng rất hứng thú khi thấy rằng con người trên trái đất đang mất dần sở thích vờ vĩnh có đường dây nóng kết nối với đấng siêu nhiên. Trải qua hàng nghìn năm, các vị vua-như-thần-linh đã bám vào trật tự luân lý trong chuỗi các nghi lễ, kết nối người dân bình thường nhất với kẻ cai trị, người đã vươn tới Thiên Chúa bằng các lễ tế trên các đài tế hay thảm sát những kẻ bị bắt trong các lăng mộ. Nhưng lúc này, khi những vị vua-như-thần-linh tự xem mình là những nhà quản lý điều hành chủ chốt, thì bùa mê đã rời bỏ thế giới. Heliod, nhà thơ Hy Lạp ở thế kỷ VII TCN, than thở: “Liệu tôi có nên chết trước đó hay sinh ra sau này, vì giờ đây đúng là một kỷ nguyên đồ sắt… Sự chính trực và phẫn nộ, vẻ đẹp của chúng bao phủ trong những chiếc áo choàng trắng, rời bỏ trần thế trên đại lộ thênh thang. Chúng từ bỏ nhân loại để về với những vị thần bất tử trên đỉnh Olympus; chỉ còn những nỗi buồn cay đắng để lại cho loài người, và sẽ không còn sự giúp đỡ nào để chống lại cái ác.”❖

Nhưng đó chỉ là một cách nhìn nhận sự vật. Từ bờ biển Aegea đến lưu vực Hoàng Hà, những nhà tư tưởng khác bắt đầu phát triển quan điểm cấp tiến mới về sự vận hành của thế giới. Tiếng nói của họ đến từ những con người bình thường – về mặt xã hội, là do hầu hết đều đứng ở bậc thang dưới cùng của tầng lớp tinh hoa; về mặt địa lý, do hầu hết đều đến từ những nước nhỏ nằm bên lề quyền lực.⦾ Họ bảo rằng (dù ít dù nhiều) hãy đừng tuyệt vọng, chúng ta không cần các vị vua-như-thần-linh để vượt qua thế giới nhơ bẩn này. Sự cứu rỗi đến từ trong chúng ta, chứ không phải nằm trong tay những kẻ cai trị suy đồi và tàn bạo.

Cuối Thế chiến II, Karl Jaspers, nhà triết học Đức tranh đấu để làm rõ cuộc khủng hoảng đạo đức trong thời đại của mình, gọi những thế kỷ khoảng năm 500 TCN là Thời Trục, nghĩa là nó hình thành nên một trục để lịch sử xoay quanh nó. Trong Thời Trục, Jaspers tuyên bố như một điềm triệu: Chính trong Thời Trục “Con người, như chúng ta biết ngày nay, mới hình thành.”❖ Kinh sách trong Thời Trục – các văn bản Nho giáo và Đạo giáo ở phương Đông, kinh điển Phật giáo và Jaina giáo ở Nam Á, triết học Hy Lạp và Kinh Thánh Hebrew (với sự tiếp nối của Tân Ước và Kinh Koran) ở phương Tây – đã trở thành những tác phẩm kinh điển, là những kiệt tác bất hủ xác định ý nghĩa cuộc đời cho hàng triệu con người từ đó đến nay.

Đây quả là một thành tựu đối với những nhân vật như Đức Phật và Socrates vốn viết rất ít hoặc không viết gì. Chính những người kế tục họ, đôi khi là những người nơi xa, ghi chép lại, thêm thắt, hay chỉ bịa ra lời nói của họ. Thường thì không ai thực sự hiểu hết tư tưởng của các nhà sáng lập, đồng thời những kẻ kế thừa đầy hiềm khích, thù hận lại lập ra các hội đồng, ném ra những lời phỉ báng, và cũng đưa nhau vào u minh đối với vấn đề này. Thành công vĩ đại nhất của ngành nghiên cứu ngôn ngữ hiện đại chỉ là phản ánh được việc chia rẽ, chiến đấu, nguyền rủa, và bức hại lẫn nhau, những người kế tục dành thời gian để viết đi viết lại kinh sách của họ nhiều lần đến mức việc sàng lọc các văn bản để tìm ra ý nghĩa ban đầu của nó hầu như là không thể.

Thư tịch ở Thời Trục cũng rất đa dạng. Một số là sưu tập các cách ngôn khó hiểu, số khác là những cuộc đối thoại tinh tế; rồi còn cả thơ, lịch sử, hay các bài tranh luận. Một số văn bản lại kết hợp tất cả các thể loại này. Và như một thách thức cuối cùng, mọi tác gia kinh điển đều thống nhất rằng đối tượng tối hậu của họ, một thế giới siêu việt bên ngoài thế giới ở tạp của chúng ta, là không thể định nghĩa được. Đức Phật giảng rằng Niết bàn – nghĩa đen là thổi tắt, một trạng thái tinh thần mà ở đó những đam mê của thế giới này bị thổi tắt như một ngọn nến – là không thể mô tả: có cố gắng thế nào cũng không tương hợp. Đối với Khổng Tử cũng tương tự, chữ nhân [ren] cũng vượt ngoài ngôn ngữ. “Càng quán xét nó, ta thấy nó càng cao vời vợi; càng thấu hiểu nó, ta càng thấy khó hiểu; ta vừa nhìn thấy nó trước mặt, đột nhiên nó đã ở phía sau… khi nói về nó liệu người ta có thể tránh được sự ngần ngừ?”❖ Tương tự, khi buộc định nghĩa từ to kalon, điều tốt, Socrates đã vung tay lên: “Nó nằm ngoài trí óc của tôi, và nếu tôi cố gắng thêm, tôi sẽ chỉ biến mình thành một kẻ ngốc.❖ Tất cả những gì ông có thể làm là kể các dụ ngôn: điều thiện giống như đám lửa, nó tạo ra những cái bóng mà chúng ta lầm tưởng là sự thực. Chúa Jesus cũng ám chỉ tương đương về Vương quốc Thiên đàng (Nước Trời) và cũng thích các dụ ngôn.

Từ khó định nghĩa nhất là đạo – con đường mà những tín đồ Đạo giáo theo đuổi:

Đạo mà có thể nói ra được không phải là đạo thường hằng vĩnh cửu,

Tên mà có thể gọi ra được không phải là tên thường hằng bất biến…

Cả hai có thể được gọi là huyền diệu.

Huyền diệu lại thêm huyền diệu,

Đó là cửa ngõ của mọi biến hóa kỳ diệu

Điều thứ hai mà các tác gia kinh điển đồng ý là làm thế nào để đạt đến tính siêu việt. Khổng giáo, Phật giáo, Ki-tô giáo, v.v. không chỉ là những khẩu hiệu thương mại dán trên ô tô, nhưng một khẩu hiệu tôi nhìn thấy trên chiếc ô tô bên ngoài tiệm cà phê yêu thích của tôi khi tôi đang viết chương này, có kết luận rất hay: “Lòng trắc ẩn là cuộc cách mạng.” Hãy sống đạo đức, từ bỏ ham muốn, và làm cho người khác những gì bạn muốn người khác làm cho mình và bạn sẽ thay đổi thế giới. Mọi tác gia kinh điển đều thuyết phục chúng ta hãy đừng làm hại người đã làm hại mình và cung cấp kỹ thuật để rèn luyện bản ngã theo quy tắc này. Đức Phật sử dụng thiền định; Socrates ủng hộ đàm luận. Các giáo trưởng Do Thái⦾ kêu gọi học tập; Khổng Tử đồng tình, và bổ sung việc tuân thủ kỹ lưỡng lễ nghi và âm nhạc. Và ở mỗi truyền thống tôn giáo, một số tín đồ dựa vào chủ nghĩa thần bí, trong khi những người khác lại theo quan điểm thực tế và bình dân.

Quá trình này luôn là một trong những quá trình định hình bản ngã, một sự tái định hướng cái tôi nội tại và cá nhân để hướng tới tính siêu việt mà không phụ thuộc vào những vị vua-như-thần-linh hay thậm chí là các vị thần. Trên thực tế, những thế lực siêu nhiên có vẻ như không liên quan gì với Tư tưởng Trục. Khổng Tử và Đức Phật khước từ nói về thần thánh; Socrates, mặc dù tự nhận mình mộ đạo, bị cáo buộc một phần vì không tin tưởng vào các vị thần của Athens; và các giáo trưởng Do Thái cảnh báo người dân Do Thái rằng Đức Chúa Trời quá thiêng liêng đến nỗi họ không nên gọi tên hoặc ca tụng ngài quá nhiều.

Tình trạng các vị vua thậm chí còn tệ hơn các vị thần trong Tư tưởng Trục. Tín đồ Đạo giáo và Đức Phật thì hầu như không quan tâm đến họ, nhưng Khổng Tử, Socrates và Chúa Jesus công khai phê phán các nhà cai trị vì họ thiếu đạo đức. Những luận điểm phê phán Thời Trục đã gây phiền toái cho những người có đức hạnh và những người vĩ đại, đồng thời những vấn đề mới về dòng dõi, sự giàu sang, giới tính, chủng tộc, và tầng lớp được khơi dậy có thể mang tính đối lập văn hóa tích cực.

Trong quá trình chọn lọc những điểm tương đồng giữa các tác phẩm kinh điển phương Đông, phương Tây và Nam Á, tôi không cố tránh né những khác biệt thực sự giữa chúng. Không ai có thể nhầm lẫn Tam Tạng (“Ba giỏ Kinh [Kinh-Luật-Luận]” của kinh điển Phật giáo) với cuốn Republic (Cộng hòa) của Plato hoặc Luận Ngữ của Khổng Tử, nhưng cũng không ai nhầm lẫn Luận Ngữ của Khổng Tử với các tác phẩm kinh điển ngang hàng như Sách Trang Tử [còn được gọi là Nam Hoa Kinh] do Trang Tử viết của Đạo giáo hay Thương Quân thư của phái Pháp gia. Giai đoạn năm 500-300 TCN, theo truyền thống Trung Hoa, là “thời kỳ mà hàng trăm trường phái tư tưởng đua nở” và tôi muốn dành một chút thời gian để xem xét những tư tưởng khác thường trong truyền thống duy nhất của khu vực này.

Khổng Tử lấy Chu Công Đán ở thế kỷ XI TCN làm điển hình cho đức hạnh và xác định mục tiêu của ông là khôi phục lại đỉnh cao đạo đức ở thời đại của Chu Công bằng việc phục hồi hệ thống nghi lễ. Khổng Tử nói: “Ta truyền lại chứ không tạo ra. Ta là người hâm mộ đạo nghĩa ngày xưa.” Tuy nhiên, ngành khảo cổ cho thấy Khổng Tử thực sự biết khá ít về thời kỳ Chu Công xa xôi. Không phải là Chu Công mà chính cuộc cách mạng lễ nghi rộng khắp diễn ra rất lâu sau đó, khoảng năm 850 TCN, đã đem đến cho xã hội nhà Chu những lễ nghi giản dị và được phân cấp cẩn thận, nó đặt mọi thành viên của tầng lớp thượng lưu vào các vị trí trong một trật tự thứ bậc. Sau đó, vào khoảng năm 600 TCN, lễ nghi lại thay đổi một lần nữa khi một số nhân vật siêu quyền lực bắt đầu được chôn cất với khối tài sản khổng lồ, đặt họ vượt lên trên phần còn lại của tầng lớp thượng lưu.

Khổng Tử, một trong những kẻ sĩ có học thức nhưng không giàu có, có thể đã phản ứng lại sự thay đổi lần thứ hai này bằng cách lý tưởng hóa trật tự lễ nghi ổn định từng phát triển mạnh mẽ khoảng năm 850-600 TCN và phóng chiếu lui về thời Chu Công. Khổng Tử nhấn mạnh: “Sửa mình theo lễ là thực hành chữ nhân.”❖ Điều này có nghĩa là quan tâm đến những thành viên gia đình đang còn sống hơn là tổ tiên; xem trọng sự kính trọng trung thực hơn là mộ đạo phô trương; tôn trọng đức hạnh, chứ không phải dòng dõi xuất thân; hành lễ một cách đúng đắn với các đồ dùng đơn giản; và tuân theo tiền lệ. Khổng Tử nhấn mạnh rằng nếu ông có thể thuyết phục một nhà cai trị thực hành chữ nhân, thì mọi người sẽ làm theo ông và thế giới sẽ tìm được hòa bình.

Tuy nhiên, nhà tư tưởng Mặc Tử ở thế kỷ V TCN hoàn toàn không đồng ý. Theo ông thấy thì Khổng Tử đã hiểu lầm chữ nhân. Nó có nghĩa là làm điều tốt, chứ không phải trở nên tốt, và phải cho mọi người, chứ không chỉ gia đình bạn. Mặc Tử khước từ lễ, nhạc và cả Chu Công. Ông nói rằng ngay cả khi người dân đang đói khổ và chịu cảnh bạo lực, thì những người theo Nho giáo vẫn “hành động như những kẻ ăn xin, ngấu nghiến thức ăn như lũ chuột, nhìn hau háu phụ nữ như dê đực, và đi lạch bạch như lợn thiến.”❖ Ăn mặc thô sơ, ngủ vạ vật đây đó, và ăn cháo loãng, Mặc Tử hòa cùng người dân nghèo khổ và giảng giải đức kiêm ái (jian ai), một kết hợp giữa lòng bao dung phổ quát và chủ nghĩa quân bình cứng nhắc. Ông nói: “Hãy xem đất nước người khác như đất nước mình, xem gia đình người khác như gia đình mình, xem người khác như chính mình. Lý do tại sao loạn lạc, tước đoạt, oán giận, thù hận diễn ra trên thế giới chính là vì thiếu đức kiêm ái.” Mặc Tử chọn hoạt động ngoại giao để ngăn ngừa chiến tranh, và đã đi mòn gót giày cho hoạt động này. Thậm chí ông đã phái 180 chàng trai trẻ ủng hộ tư tưởng của ông chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ một quốc gia bị tấn công một cách bất công.

Tuy nhiên, các nhà tư tưởng thường được liệt vào nhóm những người theo Đạo giáo không ấn tượng lắm về Mặc Tử cũng như Khổng Tử. Họ lập luận rằng Đạo của Vũ trụ là biến dịch: đêm thành ngày, niềm vui thành nỗi buồn, sự sống thành cái chết. Không có gì là bất biến, không gì có thể định nghĩa được. Con người ăn thịt bò, hươu nai ăn cỏ, rết ăn rắn, cú ăn chuột; ai có thể nói được chế độ ăn uống nào là tốt nhất: Các tín đồ Đạo giáo cho rằng những gì Nho giáo xem là đúng, còn những người ủng hộ Mặc Tử lại cho là sai, nhưng trên thực tế, vạn vật đều liên đới nhau. Không ai biết Đạo dẫn đến đâu. Chúng ta phải trở thành một với Đạo, nhưng không thể làm như vậy thông qua hành động điên rồ.

Trang Tử, một trong những bậc thầy của Đạo giáo, kể một câu chuyện về một Đạo gia vĩ đại tên là Liệt Tử. Sau khi tìm Đạo trong nhiều năm, Liệt Tử nhận ra rằng mình không học được điều gì hết nên quay về nhà.

Trong ba năm [Trang Tử nói], ông không ra ngoài. Ông nấu cơm cho vợ và chăm sóc đàn lợn như thể con người bình thường. Ông tỏ ra không quan tâm đến việc nghiên cứu của mình. Ông gạt đi những ham muốn của mình để tìm kiếm chân lý. Thân xác ông xem như cát bụi. Giữa vạn vật, ông vẫn được bọc trong Nhất thể và đó là cách mà ông duy trì cho đến cuối đời.

Trang Tử nghĩ rằng Liệt Tử khiến chủ nghĩa tích cực của Khổng Tử và Mặc Tử trông ngớ ngẩn – và nguy hiểm. Trang Tử hình dung một nhân vật biện bác Khổng Tử như sau: “Ngài không thể chịu được nỗi thống khổ của một thế hệ này, do vậy ngài đã ra đi và gây rắc rối cho 10.000 thế hệ tương lai. Ngài ra đi để trở thành khốn khổ thế này, hay ngài không nhận ra mình đang làm gì?… Điều sai không thể chỉ gây hại không thôi và những gì tích cực vẫn không thể không sai lầm.” Ngược lại, Trang Tử có ấn tượng Mặc Tử là “một trong những người lành của thế giới này” nhưng cũng là người tự tước bỏ niềm vui khỏi cuộc sống. “Các đệ tử Mặc gia khoác da thú hoặc vải thô, mang giày gỗ hoặc dép làm từ cây gai dầu, không bao giờ dừng chân cả ngày lẫn đêm, và xem hoạt động nhiệt thành như thế là thành tựu cao nhất của họ.” Tuy nhiên, điều này chỉ tạo ra “một cuộc đời khó nhọc và một cái chết vô nghĩa…” Trang Tử đặt câu hỏi: “Ngay cả bản thân Mặc Tử cũng không thể chịu đựng nổi, vậy làm sao mong đợi phần còn lại của thế giới sống theo cách này.”

Mặc Tử phủ nhận Khổng Tử; Trang Tử phủ nhận Khổng Tử cả Mặc Tử, nhưng cái gọi là Truyền thống Pháp gia còn phủ nhận tất cả. Pháp gia là lựa chọn chống Trục, vô đạo hơn cả Machiavelli. Những người theo tư tưởng Pháp gia nghĩ rằng đức nhân, kiêm ái,đạo đều đi chệch tâm điểm. Cố gắng vượt qua thực tế là ngu xuẩn: các vị vua-như-thần-linh đã nhường lại vai trò đó cho những người có năng lực quản lý, tìm kiếm hiệu quả, và tất cả chúng ta nên làm những gì chúng ta phải làm. Đối với Thương Ưởng, thừa tướng nước Tần ở thế kỷ IV TCN và là ngọn đèn dẫn đường của tư tưởng Pháp gia, thì mục tiêu không phải là tính nhân đạo mà chính là “làm giàu đất nước và tăng cường năng lực quân sự.” Thương Ưởng nói, đừng đối xử với người khác như những gì bạn muốn người khác đối xử với mình, bởi vì “trong những kế hoạch khó khăn, nếu bạn dám thực hiện những gì mà kẻ thù ngại làm, thì bạn sẽ có lợi thế.” Đừng bao giờ trở nên tốt hay làm điều tốt, bởi vì “một nước sử dụng những kẻ quyền biến để cai trị người tốt luôn luôn được hưởng trật tự và trở nên hùng mạnh.”❖ Và đừng lãng phí thời gian vào các lễ nghi, chủ nghĩa tích cực hay thuyết định mệnh. Thay vào đó, hãy soạn ra các bộ luật phổ quát cùng với những hình phạt tàn nhẫn (chặt đầu, chôn sống, lao động khổ sai) và áp dụng chúng một cách cứng rắn đối với tất cả mọi người. Các nhà Pháp gia thường nói: Giống như thước vuông của thợ mộc, luật pháp buộc những thứ hỗn độn phải tuân thủ trật tự.

Tư tưởng Trục của Trung Hoa bao hàm từ chủ nghĩa thần bí đến chủ nghĩa độc đoán, và nó phát triển một cách liên tục. Ví dụ như Tuân Tử ở thế kỷ III TCN kết hợp Khổng giáo với tư tưởng của Mặc Tử và Đạo giáo đồng thời tìm kiếm một quan điểm trung dung với Pháp gia. Nhiều người theo Pháp gia hoan nghênh nguyên tắc xử thế của Mặc Tử và việc chấp nhận sự vật của những người theo Đạo giáo. Qua nhiều thế kỷ, các tư tưởng được kết hợp và tái kết hợp với nhau một cách vô cùng thiên biến vạn hóa.

Hầu như tư tưởng Trục ở Nam Á và phương Tây là giống nhau. Tôi sẽ không trình bày các truyền thống này một cách chi tiết, nhưng ngay cả một cái nhìn thoáng qua đất nước Hy Lạp nhỏ bé cũng thấy được ý nghĩa của cái vạc chứa các tư tưởng đang sôi sùng sục. Vương quyền gắn bó với thần linh ở Hy Lạp trước năm 1200 TCN hẳn đã suy yếu hơn so với các nước hình thành sớm hơn ở Tây Nam Á và vào năm 700 TCN, người Hy Lạp từ bỏ nó một cách dứt khoát. Có lẽ đó là lý do tại sao họ phải tiếp tục đối mặt toàn diện hơn các nước khác trong Thời Trục với vấn nạn một xã hội tốt đẹp trông sẽ ra sao nếu không có các nhà cai trị biết tận dụng một thế giới khác.

Một phản ứng của Hy Lạp là tìm kiếm điều tốt đẹp thông qua nền chính trị tập thể. Một số người Hy Lạp đặt câu hỏi nếu không một ai tiếp cận được sự khôn ngoan siêu phàm, tại sao không đóng góp kiến thức hạn hẹp mà mỗi người có được để tạo ra một nền dân chủ (dành cho nam giới): Đây là một ý tưởng khác biệt – thậm chí Mặc Tử cũng không nghĩ đến điều đó – và các nhà lý luận theo học thuyết chốt khóa dài hạn thường cho rằng việc người Hy Lạp phát kiến hình thức dân chủ nam giới đã đánh dấu một sự tách biệt mang tính quyết định giữa phương Tây và phần còn lại của thế giới.

Đến lúc này có lẽ sẽ không có gì ngạc nhiên khi thấy rằng tôi không bị thuyết phục bởi điều này. Phát triển xã hội phương Tây cao hơn phương Đông trong suốt 14.000 năm trước khi người Hy Lạp bắt đầu áp dụng hình thức bỏ phiếu, và vị trí dẫn đầu của phương Tây hầu như không thay đổi ở thế kỷ V và IV TCN, thời kỳ vàng son của nền dân chủ Hy Lạp. Chỉ vào thế kỷ I TCN, khi Đế quốc La Mã khiến chế độ dân chủ trở nên thừa thãi thì vị trí dẫn trước của phương Tây đối với phương Đông mới gia tăng mạnh mẽ. Một vấn đề thậm chí còn lớn hơn với học thuyết về sự tách biệt do Hy Lạp tạo ra (sẽ được làm rõ từ Chương 6 đến Chương 9) đó là nền dân chủ gần như hoàn toàn biến khỏi phương Tây trong suốt 2.000 năm, làm tách biệt nền văn minh Hy Lạp cổ điển khỏi các cuộc cách mạng Mỹ và Pháp. Những nhà cấp tiến ở thế kỷ XIX chắc chắn nhận thấy thành phố Athens cổ đại là một điều hữu ích trong các cuộc tranh luận của họ về các nền dân chủ hiện đại hoạt động như thế nào, nhưng cần phải đọc về lịch sử một cách có chọn lọc để nhìn thấy một tinh thần tự do dân chủ liên tục trải dài từ Hy Lạp cổ đại đến thời những Người cha Lập quốc của nước Mỹ (những người vô tình có xu hướng sử dụng từ dân chủ như là một thuật ngữ lạm dụng, chỉ cao hơn quy tắc đám đông một nấc).

Trong bất kỳ trường hợp nào, đóng góp thực sự của Hy Lạp cho tư tưởng Trục không phải từ các nhà dân chủ, mà từ các nhà phê bình dân chủ do Socrates dẫn dắt. Ông lập luận rằng Hy Lạp không cần các nền dân chủ, vốn chỉ là tập hợp sự ngu dốt của những người chuyên đánh giá sự việc theo bề ngoài; những gì nó cần là những người như chính ông, những người biết rằng khi đề cập đến một điều quan trọng – bản chất của điều thiện – thì họ không biết gì cả. Chỉ có những người như thế mới có thể hy vọng hiểu được cái tốt (quả thực, Socrates không chắc chắn một ai có thể hiểu được) thông qua suy luận được mài giũa trong cuộc tranh luận triết học.

Plato, một trong những môn đệ của Socrates, tạo ra hai phiên bản của mô hình chủ cho một xã hội tốt đẹp: Cộng hòa, đủ lý tưởng cho những người theo Khổng giáo và Pháp Kinh⦾, đủ độc đoán để làm ấm lòng Thương Ưởng. Aristotle (một trong những môn đệ của Plato) cũng bao trùm một phạm vi tương tự, từ Đạo đức học nhân bản đến Chính trị học mang tính phân tích lạnh lùng. Một số nhà tư tưởng thế kỷ V TCN, được biết là những nhà Hiền triết (Sophist), có thể phù hợp với những người theo Đạo giáo về chủ nghĩa đạo đức tương đối, trong khi những tư tưởng gia hư huyền Parmenides và Empedocles thì kết hợp với họ về chủ nghĩa thần bí; và Protagoras cũng là một người đấu tranh cho dân thường như Mặc Tử.

Trong phần giới thiệu cuốn sách này, tôi đã nói về một lý thuyết chốt khóa dài hạn khác, cho rằng ngày nay phương Tây vượt trội không phải vì người Hy Lạp cổ đại đã phát minh ra nền dân chủ mà bởi vì họ tạo ra một nền văn hóa năng động, lý tính độc đáo trong khi Trung Hoa cổ đại thực hiện chính sách ngu dân và bảo thủ.⦾ Tôi cho rằng học thuyết này cũng sai. Nó vẽ lên bức tranh biếm họa về tư tưởng phương Đông, phương Tây và Nam Á nhưng lại lờ đi sự đa dạng nội tại của chúng. Tư tưởng phương Đông cũng có thể duy lý, tự do, thực tế, và hoài nghi không kém gì phương Tây; tư tưởng phương Tây có thể cũng huyền bí, độc đoán, ủng hộ thuyết tương đối, và mơ hồ không kém gì phương Đông. Sự thống nhất thực sự của tư tưởng Trục là sự thống nhất trong đa dạng. Đối với mọi khác biệt trong tư tưởng phương Đông, phương Tây và Nam Á, phạm vi các tư tưởng, lý lẽ, và xung đột lại giống nhau đáng kể ở mỗi khu vực. Trong Thời Trục, các nhà tư tưởng đã phân chia hình thế tranh luận giống nhau bất kể họ sống ở vùng thung lũng Hoàng Hà, vùng đồng bằng sông Hằng, hay những thành phố phía đông Địa Trung Hải.

Sự cắt đứt thực sự với quá khứ là sự hình thành của hình thế tri thức như một tổng thể, chứ không có bất kỳ đặc điểm riêng lẻ nào (chẳng hạn như triết học Hy Lạp) trong nội hàm của nó. Không một ai đặt ra những tranh luận hướng Trục vào khoảng năm 1300 TCN khi điểm số phát triển xã hội của Phương Tây lần đầu tiên đạt đến 24 điểm. Ứng viên sát sườn nhất là Akhenaten, pharaoh Ai Cập giai đoạn năm 1364-1347 TCN, người đã quét sạch các vị thần truyền thống và thiết lập nên một hệ thống Ba Ngôi gồm ông ta, người vợ Nefertiti và đĩa mặt trời (biểu trưng cho thần Ra) Aten. Ông xây dựng một thành phố mới đầy rẫy những đền thờ dành cho Aten, sáng tác những bài tụng ca đầy ám ảnh và quảng bá một phong cách nghệ thuật hết sức kỳ lạ.

Trong 100 năm, các nhà Ai Cập học tranh luận về những gì Akhenaten đã làm. Một số người nghĩ rằng ông cố tạo ra độc thần giáo; một số nhân vật nổi tiếng như Sigmund Freud thì cho rằng Moses đánh cắp khái niệm này từ Akhenaten khi người Do Thái đến sống ở Ai Cập. Có những điểm tương đồng nổi bật giữa bài thánh ca Great Hymn to the Aten của Akhenaten và bài Thánh Vịnh 104, Hymn to God the Creator trong Kinh Thánh Hebrew. Tuy nhiên, cuộc cách mạng tôn giáo của Akhenaten hoàn toàn không hề hướng Trục. Nó không có chỗ cho tính siêu việt cá nhân; trên thực tế, Akhenaten chỉ cấm con người tôn thờ thần Aten, điều này thực sự biến pharaoh thành chiếc cầu nối giữa thế giới này và thần thánh hơn cả trước kia.

Nếu có chăng nữa, thì giáo thuyết Aten chỉ minh họa cho sự khó khăn trong việc thực hiện những thay đổi tri thức chính yếu ở các xã hội, nơi các vị vua-thần đã yên vị. Tôn giáo mới của ông ta không được tiếp nối, và ngay sau khi ông qua đời, những vị thần cũ xưa lại được phục hồi. Những đền thờ của Akhenaten bị phá hủy và cuộc cách mạng của ông bị lãng quên cho đến khi các nhà khảo cổ tiến hành khai quật thành phố của ông vào năm 1891.

Vậy có phải tư tưởng Trục là một thành phần bí mật làm cho Hình 5.1 trở nên mờ nhạt? Liệu có đúng là Khổng Tử, Socrates và Đức Phật đã dẫn dắt các xã hội xuyên qua một rào cản tri thức nào đó khi phát triển xã hội đạt đến 24 điểm vào giữa thiên niên kỷ thứ nhất TCN, trong khi sự vắng bóng của các bậc thiên tài như thế đã ngăn cản phát triển xã hội trong thiên niên kỷ thứ hai?

Chắc là không. Vì lẽ ngành niên đại học phản bác điều đó. Ở phương Tây, Assyria trở thành một quốc gia cấp cao và đã vượt qua 24 điểm vào thế kỷ VIII TCN, nhưng khó thấy điều gì nổi bật về tư tưởng Trục trong tư duy phương Tây trước thời kỳ Socrates 300 năm sau đó. Tình hình ở phương Đông thì khác; nơi đó, các nước Tần, Sở, Tề, và Tấn đạt đến 24 điểm vào khoảng năm 500 TCN, ngay khi Khổng Tử hoạt động tích cực nhất, nhưng làn sóng chính của tư tưởng Trục ở phương Đông diễn ra sau, vào thế kỷ IV và III TCN. Và nếu những nhà nghiên cứu Nam Á chính xác khi xác định lại thời đại của Đức Phật vào cuối thế kỷ V TCN, thì sự hình thành nhà nước cấp cao dường như cũng có trước tư tưởng Trục ở thời kỳ đó.

Vị trí địa lý cũng không ủng hộ nó. Những nhà tư tưởng Thời Trục quan trọng nhất đều đến từ các cộng đồng nhỏ và ở vùng biên như Hy Lạp, Israel, và vương quốc của Đức Phật, hoặc nước Lỗ – quê hương của Khổng Tử; thật khó nhìn thấy những đột phá siêu việt trong đời sống chính trị ở những vùng xa xôi hẻo lánh tác động đến phát triển xã hội ở các cường quốc.

Cuối cùng, logic cũng chống lại điều này. Tư tưởng Trục là một phản ứng chống lại nhà nước cấp cao, hoàn toàn lãnh đạm với các vị vua vĩ đại và giới quan lại đồng thời thường xuyên đối nghịch với quyền lực của họ. Tôi ngờ rằng đóng góp thực sự của tư duy Trục vào sự nâng cao phát triển xã hội chỉ diễn ra sau này, ở giai đoạn cuối của thiên niên kỷ thứ nhất TCN, khi mà tất cả các nước lớn học cách chế ngự nó, bắt nó phục vụ cho họ. Ở phương Đông, triều đại nhà Hán đã làm méo mó, cắt xén Khổng giáo đến mức nó trở thành một ý thức hệ chính thức, dẫn dắt một tầng lớp trung thành với giai cấp quan lại. Ở Ấn Độ, vị vua vĩ đại Ashoka, dường như kinh hoàng bởi các cuộc chinh phạt bạo lực của mình, đã cải sang đạo Phật vào khoảng năm 257 TCN, nhưng dù sao ông vẫn không thể từ bỏ chiến tranh. Trong khi đó phương Tây người La Mã trước hết đã vô hiệu hóa nền triết học Hy Lạp, sau đó biến Ki-tô giáo trở thành một trụ cột cho đế chế của họ.

Những thành phần lý tính hơn trong tư tưởng Trục đã thúc đẩy các ngành luật pháp, toán học, khoa học, lịch sử, logic học và tu từ học, tất cả đều làm gia tăng sự làm chủ thế giới của họ về mặt tri thức, nhưng động cơ thực sự đằng sau Hình 5.1 cũng tương tự như nó đã từng diễn ra kể từ khi kết thúc Thời đại Băng hà, những con người lười biếng, tham lam và nhút nhát tìm ra những cách làm việc dễ dàng hơn, sinh lợi hơn và an toàn hơn, trong quá trình xây dựng các quốc gia hùng mạnh hơn, giao thương xa hơn, và định cư ở các thành phố lớn hơn. Trong một mẫu hình sẽ được nhắc lại nhiều lần trong năm chương tiếp theo, khi phát triển xã hội tăng lên thì kỷ nguyên mới có được nền văn hóa mà nó cần đến. Tư tưởng Trục chỉ là một trong những điều xảy đến khi con người tạo ra các nhà nước cấp cao và làm thế giới thức tỉnh.

Các đế quốc vùng ngoại vi

Nếu cần thêm bằng chứng rằng tư tưởng Trục là hệ quả chứ không phải nguyên nhân của việc tái cấu trúc nhà nước, chúng ta chỉ cần nhìn vào nước Tần, một quốc gia hùng mạnh ở rìa tây vùng lõi phương Đông (Hình 5.6). Tác giả vô danh của cuốn sách Mưu thuật thời Chiến Quốc, một loại kim chỉ nam về mưu kế ngoại giao nói: “Nước Tần có phong tục và tập quán giống như các tộc [man rợ] Nhung Di. Họ có trái tim của loài hổ hay loài sói; tham lam, hám lợi, và bất tín, không biết gì về lễ nghi, bổn phận, hay đạo đức.”❖ Tuy nhiên, mặc dù mâu thuẫn với tất cả những gì được nhóm người ủng hộ Khổng giáo xem trọng, nhà Tần vẫn phát triển bùng nổ từ rìa vùng lõi phương Đông để chinh phục toàn bộ vùng này ở thế kỷ III TCN.

Hình 5.6. Thành tựu của nhà Tần: phương Đông trong thời kỳ Chiến Quốc, năm 300-221 TCN (ngày tháng trong dấu ngoặc thể hiện thời gian các nước lớn rơi vào tay nhà Tần).

Một điều khá tương tự cũng xảy ra ở đầu kia lục địa Á-Âu, nơi người La Mã – cũng thường được ví như những con sói – đến từ rìa vùng lõi phương Tây để thống lĩnh nó và nô dịch hóa các triết gia vốn thường gọi họ là những tộc người man rợ. Polybius, một quý ông người Hy Lạp bị đưa đến Rome làm con tin vào năm 167 TCN, viết cuốn Universal History (Lịch sử tổng quan) gồm 40 tập để giải thích tất cả những điều này cho đồng bào của mình. Ông đặt câu hỏi: “Kẻ nào lại thiển cận hay lười biếng đến mức không muốn biết làm thế nào… mà chỉ trong thời gian trên dưới 53 năm [220-167 TCN], người La Mã đã thống lĩnh hầu như toàn bộ thế giới con người sinh sống⦾, một điều chưa từng có trong lịch sử?”❖

Nhà Tần và La Mã có rất nhiều điểm chung. Mỗi đế chế là một điển hình độc đáo về những lợi thế của sự lạc hậu, kết hợp các phương pháp tổ chức tiên phong tại một vùng lõi cũ xưa hơn với các phương pháp quân sự được mài giũa ở một vùng biên đầy bạo lực; mỗi đế chế đã tàn sát, nô dịch, và giết hại hàng triệu người, và mỗi đế chế cũng thúc đẩy phát triển xã hội nhanh hơn bao giờ hết. Nhà Tần và La Mã cũng minh họa cho điều mà chúng ta có thể gọi là nghịch lý của bạo lực: khi các dòng sông máu khô cạn, chủ nghĩa đế quốc của họ đã giúp đời sống của hầu hết mọi người ở cả phương Đông và phương Tây trở nên tốt hơn.

Đối với nhà Tần và La Mã, bí mật của sự thành công rất đơn giản – sự lấn át về số lượng. Nhà Tần và La Mã đã đạt đến điều đó theo những con đường khác nhau, nhưng mỗi để chế đã làm tốt hơn mọi đối thủ của họ trong việc huy động, trang bị vũ khí, cung cấp thực phẩm, và thay thế quân đội.

Ở phương Đông, nhà Tần từng là một quốc gia yếu nhất trong sáu nước hùng mạnh thời Chiến Quốc.⦾ Nhà Tần tiến đến tổ chức cấp cao muộn hơn, họ chỉ bắt đầu áp dụng thuế đất đai vào năm 408 TCN. Khi đó, chiến tranh liên miên buộc các nước khác nhau cưỡng bức người dân gia nhập quân đội, bắt họ nộp thuế và áp dụng các phương pháp của Pháp gia để buộc họ phải phục tùng. Những nhà cai trị làm mọi thứ có thể để tăng nguồn thu, và những phương thức tốt nhất đều nhanh chóng phổ biến, vì lựa chọn sao chép chỉ dẫn đến suy vi. Vào khoảng năm 430 TCN, nước Ngụy bắt đầu tập trung người lao động để đào các con kênh thủy lợi lớn nhằm nâng cao sản lượng nông nghiệp; các nước khác, bao gồm nước Tần (cuối cùng), cũng bắt chước theo. Nước Triệu và nước Ngụy xây dựng các tường thành để bảo vệ các vùng đất trồng trọt tưới tiêu quan trọng; và các nước khác cũng làm như thế.

Vào thế kỷ IV TCN, nước Tần đuổi kịp. Thương Ưởng tạo dựng tên tuổi của mình ở đó vào những năm 340 TCN bằng việc tư vấn Tần vương phương cách biến đất nước của ông ta thành một cơn ác mộng về giám sát và kỷ luật:

[Thương Quân] ban lệnh rằng người dân phải được chia thành các nhóm 10 người và 5 người, và họ phải giám sát lẫn nhau và phải chịu trách nhiệm lẫn nhau. Bất cứ ai không báo cáo hoạt động tội phạm sẽ bị tội trảm ngang eo, trong khi những người báo cáo tội phạm sẽ nhận được một phần thưởng tương đương với phần thưởng khi lấy được đầu của một kẻ địch…

Đây không phải chỉ là một trò tưởng tượng độc đoán; các văn bản ghi chép trên thẻ tre được phục hồi từ các lăng mộ của các phản quan nhà Tần cho thấy luật lệ đã được thực thi một cách hết sức tàn bạo.

Nếu có sự an ủi nào đó, thì chính là việc Thương Ưởng cuối cùng cũng vướng vào chiếc bẫy do mình đặt ra, ông bị kết tội và bị xử tứ mã phanh thây. Mặc dù vậy, vào thời kỳ đó, nhà nước pháp trị cấp cao đã chiến thắng và vùng lõi miền Đông đã trở thành một doanh trại được vũ trang. Vào năm 500 TCN thì 30.000 binh sĩ được xem là một đội quân lớn, nhưng đến năm 250 TCN thì một đội quân có đến 100.000 người là điều bình thường. Đội quân 200.000 người cũng chẳng có gì đặc biệt, và những đội quân thực sự mạnh có quân số gấp đôi như thế. Vì lẽ đó, con số thương vong rất lớn. Một văn bản chép rằng một đội quân nhà Tần đã giết chết 60.000 quân Ngụy vào năm 364 TCN. Con số này có thể được phóng đại, nhưng vì quân lính nước Tần được trả lương theo đầu địch (nghĩa là, họ giao nộp những chiếc tai đã bị cắt rời để lấy tiền thưởng), nên con số đó không thể quá xa sự thật.

Những lực lượng quân đội bị đẩy ra chiến trường gây báo động đến mức vào năm 361 TCN, các nước lớn tổ chức những hội nghị định kỳ để thương thảo nhằm giải quyết các tranh chấp, và các nhà ngoại-giao-được-thuê-mướn, gọi là thuyết khách, xuất hiện trong những năm 350 TCN. Một người có thể đi lại giữa các vương quốc lớn, với vai trò như tướng quốc cho tất cả các nước đó cùng một lúc, và dệt nên những mạng lưới vận động ngầm xứng tầm với Henry Kissinger.

Winston Churchill nói: “Đàm phán luôn tốt hơn chiến tranh,”❖ thế nhưng bạo lực vẫn chiến thắng đàm phán ở thế kỷ IV TCN. Vấn đề là nước Tần. Được an toàn phía sau các vùng biên giới núi non hiểm trở, khó bị tấn công và tự do tận dụng vị trí ngoại vi của vùng lõi để tăng cường và củng cố nhân lực bằng cách thu hút người dân từ các xã hội không có nhà nước thậm chí xa hơn về phía tây, những đội quân của họ liên tục tiến vào vùng lõi. Sách Mưu thuật thời Chiến Quốc có ghi “Nước Tần là kẻ thù không đội trời chung của các nước dưới thiên hạ này,” họ muốn “nuốt trọn cả thế giới.”❖

Các nước khác nhận ra rằng họ cần kết hợp lại để chống nước Tần, nhưng bốn thế kỷ chiến tranh đã qua tạo ra sự ngờ vực lớn đến mức họ không thể cưỡng lại việc đâm nhau sau lưng. Giai đoạn năm 353-322 TCN, nước Ngụy dẫn đầu một chuỗi các liên minh, nhưng ngay sau khi các đồng minh giành được một vài chiến thắng, họ đã bất ngờ tấn công nước Ngụy, vì lo sợ rằng nước Ngụy sẽ hùng mạnh hơn các nước liên minh còn lại. Nước Ngụy phản ứng giống nhiều người tình hay người chỉ huy bị bỏ rơi bằng cách xoay chuyển tình cảm của mình sang kẻ cựu thù, nước Tần. Giai đoạn năm 310-284 TCN, nước Tề dẫn đầu một liên minh mới, và cũng bị đánh bại như nước Ngụy; sau đó nước Triệu đảm nhận vai trò lãnh đạo. Vào năm 269 TCN, nước Triệu giành được hai chiến thắng lớn với nước Tần và hy vọng lóe sáng trong tim mọi người, nhưng như thế vẫn chưa đủ và quá muộn màng. Tần Thủy Hoàng phát hiện ra một chiến lược mới khủng khiếp: chỉ cần giết thật nhiều người đến mức các nước khác không thể xây dựng lại quân đội của họ. Thế là nhà Tần phát minh ra cách đếm xác.

Tướng lĩnh nước Tần giết chết khoảng một triệu quân địch trong 30 năm sau đó. Một kỷ lục thảm sát buồn thảm tràn ngập các biên niên sử, rồi kết thúc đột ngột vào năm 234 TCN, khi sử sách ghi lại nước Tần chặt đầu 100.000 người nước Triệu. Sau đó không còn một kẻ thù nào có khả năng chống đối và việc đầu hàng của các nước được ghi nhận thay cho các cuộc thảm sát trong sử biên niên.

Vì việc đàm phán lẫn chiến tranh đều không mang lại kết quả, những kẻ thù còn lại của nước Tần chỉ còn dựa vào việc hành thích. Vào năm 227 TCN, một thích khách chuyên nghiệp khôn khéo vượt qua được lực lượng bảo vệ Tần vương, chộp lấy cánh tay ông ta, và đâm ông bằng một thanh chủy thủ tẩm thuốc độc – nhưng chỉ làm đứt ống tay áo của Tần vương. Tần vương chạy trốn sau một chiếc cột và tìm cách rút thanh trường kiếm ra khỏi vỏ rồi chém chết thích khách.

Thế là không còn cơ hội nào nữa, và nước Tề, đất nước độc lập cuối cùng, sụp đổ vào năm 221 TCN. Tần vương bấy giờ lấy hiệu là Thủy Hoàng Đế, hay Tần Thủy Hoàng. Ông ta hô vang: “Ta là Hoàng đế đầu tiên, và những người kế vị sẽ được gọi là Hoàng đế đời thứ hai (Nhị Thế), Hoàng đế đời thứ ba (Tam Thế), và cứ như vậy cho đến muôn đời sau.”❖ Dĩ nhiên không một ai dám tranh cãi.

Con đường trở thành đế quốc của La Mã hoàn toàn khác (Hình 5.7). Ba Tư đã thống nhất phần lớn khu vực mà sau đó trở thành vùng lõi của phương Tây vào thời điểm Darius nắm ngai vàng vào năm 521 TCN, nhưng ham muốn của ông ta nhằm khai thác sự giàu có của vùng biên Địa Trung Hải đã khởi phát các làn sóng hình thành nhà nước phòng thủ và tạo ra các thế lực sau này tiêu diệt Đế quốc Ba Tư.

Hình 5.7. Các đế quốc cổ đại ở phương Tây: từ Ba Tư đến La Mã, năm 500-1 TCN. Đường đứt đoạn cho thấy phạm vi tối đa của phần phía tây của Đế quốc Ba Tư, khoảng năm 490 TCN, và đường kẻ liền cho thấy phạm vi tối đa của Đế quốc La Mã vào năm 1 TCN.

Các thành bang Hy Lạp và Italy rất phát triển, đạt được điểm cao trong lĩnh vực hấp thu năng lượng và công nghệ thông tin nhưng lại ghi ít điểm hơn về tổ chức và sức mạnh quân sự. Chừng nào Darius còn đối đầu với từng thành phố riêng lẻ, ông ta có thể ép buộc họ quy phục, nhưng chính sự ức hiếp đã thúc đẩy các thành phố kết hợp lại bằng cách tăng cường sức mạnh tổ chức và quân sự của họ.

Do đó, khi Xerxes, con trai của Darius, dẫn đầu một lực lượng khổng lồ tiến vào Hy Lạp năm 480 TCN, thành Athens và Sparta bỏ qua những xung khắc để chống lại ông ta. Nhà sử học Herodotus (và, hơi khác một chút là bộ phim 300) đã làm cho chiến thắng phi thường của họ trở nên bất tử, và chiến thắng đó đã đưa Athens lên vị trí của một thế lực lớn đứng đầu liên minh các thành bang. Khá giống như những gì đã xảy ra khi các nước ở phương Đông cố gắng liên minh để chống lại nhà Tần, sức mạnh của Athens còn đe dọa Sparta hơn cả người Ba Tư, và vào năm 431 TCN, cuộc xung đột khủng khiếp giữa Athens và Sparta, còn gọi là Chiến tranh Peloponnesus diễn ra (và được lưu danh bởi Thucydides, nhưng cho đến nay vẫn chưa được dựng thành phim). Khi người Athens bị đánh bại và đói khát dâng nộp hạm đội và kéo đổ các bức tường thành của họ vào năm 404 TCN, cuộc chiến tranh đã lan đến Sicily và Carthage, và các xúc tu của nó biến các vùng đất ven Địa Trung Hải, đặc biệt là Macedonia, trở thành những quốc gia phụ thuộc vào kinh tế Hy Lạp.

Macedonia là một kiểu nước cộng hòa chuối⦾ thời cổ đại, giàu tài nguyên (đặc biệt là gỗ và bạc) nhưng lại hỗn loạn. Trong 50 năm, các thành bang Hy Lạp đã chi phối nó một cách mạnh mẽ, ủng hộ những người tranh chấp ngai vàng lên làm vua và biến nền chính trị của nó thành một vở kịch nhiều kỳ về ngoại tình, loạn luân và giết người, nhưng vào năm 359 TCN, Philip II, một phiên bản Tiglath-Pileser của Macedonia, chiếm lấy ngai vàng của vương quốc. Philip không cần các nhà khoa học xã hội giải thích cho mình về những lợi thế của sự lạc hậu: theo bản năng hiểu biết, ông áp dụng các thể chế Hy Lạp vào vương quốc rộng lớn, giàu có nhưng vô chính phủ của mình. Ông cho khai thác bạc, mướn lính đánh thuê, và đưa tầng lớp quý tộc phóng túng vào làm việc cho mình, rồi gạt các thành bang Hy Lạp sang một bên. Ông ta chắc cũng muốn làm điều tương tự với Ba Tư nếu không bị một sát thủ bí ẩn – theo lời đồn đoán, bị dồn vào thế phải hành động bởi những cơn thịnh nộ lúc say sưa của Philip và/hay mối hận tình kết thúc bằng một cuộc cưỡng hiếp đồng tính tập thể – sát hại ông vào năm 336 TCN. Không dừng lại, con của Philip là Alexander hoàn thành các kế hoạch của Philip chỉ trong bốn năm (năm 334-330 TCN), săn đuổi vua Ba Tư đến chết, thiêu hủy thành phố thiêng của ông ta và tiến quân đến tận biên giới Ấn Độ. Cuộc chinh phạt của Alexander chỉ dừng lại khi quân đội từ chối tiến xa hơn nữa.

Alexander là một đứa con của thế giới mới được thức tỉnh (Aristotle là một trong những người thầy của ông) và có lẽ không nhận ra việc đứng ngang hàng một vị vua-như-thần-linh khó khăn như thế nào.⦾ Những người Ba Tư sùng tín cho rằng các vị vua của họ là những đại diện thế tục của Ahuramazda trong cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ với bóng tối; do đó, Alexander phải là một đại diện của sự ác. Vấn đề hình tượng này chắc chắn không nằm ngoài nỗ lực khó khăn của Alexander (được đề cập ở Chương 4) để thuyết phục người Ba Tư là ông chẳng khác gì thần linh. Có lẽ nếu có thời gian, chắc hẳn ông ta sẽ thành công dù càng cố gắng gây ấn tượng với người Ba Tư về tính chất thần thánh của mình, ông càng có vẻ như một kẻ tâm thần đối với người Hy Lạp và người Macedonia. Và thời gian thì ngắn ngủi: Alexander ra đi một cách đột ngột, có lẽ do bị đầu độc vào năm 323 TCN, và các tướng lĩnh của ông chiến đấu trong các cuộc nội chiến, đã phá vỡ đế chế và dần dần trở thành các vị vua (hướng đến tính chất thần thánh) bằng chính khả năng và nỗ lực của họ.

Cuối cùng, một trong những vương quốc của họ có thể đã thôn tính các vương quốc còn lại, giống với con đường của nước Tần, nhưng những người kế nhiệm Alexander cũng không có đủ thời gian như vị vua vĩ đại này. Vào thế kỷ IV TCN, Macedonia bị lôi kéo vào các cuộc xung đột của Hy Lạp, áp dụng các thể chế Hy Lạp theo nhu cầu riêng của mình, đánh bại người Hy Lạp, và sau đó tiêu diệt đế quốc vĩ đại này ở thời kỳ đó; vào thế kỷ II TCN, La Mã gần như lặp lại kịch bản này.

Rome là một ví dụ hoàn hảo về quá trình thực dân hóa và phát triển ở vùng ngoại vi kết hợp để mở rộng vùng lõi như thế nào. Thành phố này chịu ảnh hưởng nặng nề từ Hy Lạp kể từ thế kỷ VIII TCN, nhưng phát triển mạnh mẽ trong các cuộc đấu tranh địa phương với các khu vực láng giềng và tạo ra một sự kết hợp kỳ lạ giữa tổ chức cấp cao và cấp thấp. Một viện nguyên lão quý tộc đưa ra hầu hết những quyết định quan trọng, trong khi các hội đồng với số lượng nông dân trung lưu chiếm ưu thế thì lại bỏ phiếu cho các vấn đề hòa bình và chiến tranh. Giống như nước Tần, La Mã tiến đến tổ chức cấp cao muộn; đế chế này chỉ bắt đầu trả lương cho binh lính vào khoảng năm 406 TCN, và có lẽ cũng lập ra các loại thuế vào cùng thời điểm đó. Trong nhiều thế kỷ, ngân sách của La Mã phần lớn dựa vào của cải cướp bóc, và thay vì đánh thuế những kẻ thù bị đánh bại, họ lại giao kết với các kẻ thù đó nhằm huy động quân lính để tiến hành thêm các cuộc chiến tranh.

Người La Mã cũng không thích gì các vị vua-chẳng-khác-gi-thần-linh như người Hy Lạp, nhưng họ hiểu rõ mối liên kết giữa chinh phục và uy lực thần thánh. Những vị tướng chiến thắng được ban thưởng những đoàn diễu hành rầm rộ được tung hoa tiến vào thành Rome trên những cỗ xe được kéo bằng ngựa trắng, trang trí bằng những hình ảnh có tính chất thần thánh, nhưng lại được hộ tống bởi những nô lệ đang thì thầm vào tai nhau: “Hãy nhớ rằng ngài cũng chỉ là một con người.”❖ Chiến thắng đã đặt vương quyền thần thánh vào trong hộp, làm cho nhà chinh phục hùng mạnh trở thành thần thánh chỉ trong một ngày – ngoài ra không còn gì nữa.

Mặc dù hệ thống này trông lỗi thời đối với người Hy Lạp ở thế kỷ III TCN, nhưng sự kết hợp các phương thức cấp cao và cấp thấp của nó đã tạo ra nguồn nhân lực trên một quy mô thậm chí có thể sánh với nhà Tần. Ba Tư từng huy động 200.000 quân để xâm chiếm Hy Lạp vào năm 480 TCN, nhưng sau khi để mất số quân này thì họ phải cần nhiều thập niên mới lấp đầy kho nhân lực đó. La Mã không đối mặt với những hạn chế như thế. Một thế kỷ chiến tranh đã mang lại cho nó toàn bộ nguồn nhân lực của Italy, và vào năm 264 TCN, viện nguyên lão bắt đầu một cuộc chiến đầy thảm họa với Carthage để kiểm soát vùng phía tây Địa Trung Hải.

Người Carthage dụ đội chiến thuyền đầu tiên của La Mã vào một cơn bão, thế là toàn bộ thuyền chiến cùng 100.000 thủy thủ bị nhấn chìm xuống đáy đại dương. Nhưng La Mã dễ dàng xây dựng một đội chiến thuyền lớn hơn. Đội chiến thuyền này cũng bị nhấn chìm trong một cơn bão khác hai năm sau đó, rồi La Mã lại phái đi một đội chiến thuyền thứ ba, cũng chỉ để rước lấy thất bại. Nhưng cuối cùng đội chiến thuyền thứ tư cũng giành được chiến thắng trong cuộc chiến tranh vào năm 241 TCN do Carthage không thể bù đắp được những tổn thất to lớn của mình. Carthage phải cần đến 23 năm để hồi phục, lúc đó tướng Hannibal mới chỉ huy đội tượng binh hành quân vượt dãy Alps để tấn công bọc hậu Italy. Từ năm 218 đến năm 216 TCN, ông đã tiêu diệt và bắt giữ 100.000 lính La Mã, nhưng Rome lại huy động thêm nhiều quân lính hơn để nghiền nát đội quân của ông trong một cuộc chiến tranh tiêu hao. Và cũng giống như nước Tần, La Mã đã tái lập sự tàn bạo. Polybius nói: “Tập quán của người La Mã là tận diệt mọi dạng sự sống mà họ bắt gặp, không chừa lại một cái gì… Vì vậy, khi các thành phố bị người La Mã xâm chiếm, bạn thường thấy không chỉ thi thể con người mà còn cả thi thể những con chó bị chém làm đôi cùng tứ chi bị cắt rời của các động vật khác.”❖ Cuối cùng, Carthage chịu đầu hàng vào năm 201 TCN.

Chiến tranh gây ấn tượng với viện nguyên lão tốt hơn nhiều so với đàm phán. Chỉ sau một mùa hè nghỉ ngơi, La Mã lại chuyển sang các vương quốc của những người kế vị Alexander ở vùng phía đông Địa Trung Hải và đập tan các vương quốc đó vào năm 167 TCN. Thêm một thế hệ tiến hành các cuộc chiến tranh tàn khốc chống lại các lực lượng du kích đã đưa quân đội của họ đến tận Tây Ban Nha, Bắc Phi và miền Bắc Italy. La Mã đã trở thành siêu cường độc nhất của phương Tây.

Cuộc tiếp xúc đầu tiên

Vào khoảng năm 200 TCN, phương Đông và phương Tây có nhiều điểm chung hơn bất cứ thời kỳ nào tính từ Thời đại Băng hà. Mỗi bên đều bị thống lĩnh bởi một đế quốc lớn với hàng chục triệu thần dân. Mỗi bên đều có một tầng lớp tinh hoa có học thức được đào tạo theo tư duy Trục, sống tại các thành phố lớn, được nuôi dưỡng bởi tầng lớp nông dân sản xuất và được cung ứng bởi các mạng lưới thương mại đã hoàn thiện. Và tại mỗi vùng lõi, phát triển xã hội tăng thêm 50% so với mức phát triển vào năm 1000 TCN.

Chương này đã minh họa rõ một nguyên tắc rằng con người (trong các cộng đồng lớn) hầu như đều giống nhau. Mặc dù bị phân chia bởi những vùng đất mênh mông của Trung Á và Ấn Độ Dương, phương Đông và phương Tây có lịch sử phát triển riêng nhưng có nhiều nét tương đồng mặc dù hoàn toàn ở cách xa nhau, điểm khác biệt chủ yếu nằm ở chỗ phương Tây vẫn duy trì một cách sít sao vị trí dẫn đầu trong phát triển xã hội mà sự phân bố các loài động thực vật có thể thuần dưỡng được đã dành cho nó vào cuối Thời đại Băng hà.

Tuy nhiên, chương này cũng minh họa một nguyên tắc chính thứ hai rằng trong khi địa lý quyết định tiến trình phát triển xã hội, thì phát triển xã hội cũng làm thay đổi ý nghĩa của địa lý. Sự mở rộng các vùng lõi đã rút ngắn khoảng cách giữa chúng, và điều đó đã trộn lẫn phương Đông và phương Tây thành một câu chuyện Á-Âu duy nhất. Điều này đã có những hệ quả đáng ngạc nhiên.

Vào cuối năm 326 TCN, khi Alexander xứ Macedonia đưa quân vào Punjab (Hình 5.8), ngay cả những người phương Đông và phương Tây học thức nhất cũng không hề biết có sự tồn tại của mỗi bên. Alexander đảm bảo với binh lính của ông rằng họ sẽ sớm được tắm trong vùng nước Đại dương, một con sông vĩ đại bao quanh thế giới (khi vùng đồng bằng sông Hằng lại hiện ra trước mắt họ thay vì Đại dương, với đầy rẫy những thành phố có tường thành bảo vệ, thì quân lính của ông liền nổi loạn).

Hình 5.8. Giữa Đông và Tây: Chuỗi giao thương kết nối Đông-Tây cuối thiên niên kỷ thứ nhất qua Ấn Độ Dương: Con đường Tơ lụa và Con đường thảo nguyên.

Alexander lui binh trở về quê nhà, để lại đằng sau những người lính bất mãn định cư tại đó. Ở khu vực mà ngày nay là Afghanistan, một nhóm trong số này thành lập một vương quốc gọi là Bactria, và vào khoảng năm 150 TCN, vương quốc này xâm chiếm nhiều khu vực ở vùng đồng bằng sông Hằng đồng thời bắt đầu quá trình hợp nhất đáng kể hai nền văn hóa Hy Lạp và Ấn Độ. Một văn bản Ấn Độ cho là đã ghi lại cuộc nói chuyện giữa vua Bactria nói tiếng Hy Lạp với một nhà sư Phật giáo, và sau cuộc nói chuyện đó, nhà vua, cùng với nhiều thần dân của ông, đã cải đạo.

Bactria có một điều đặc biệt đáng chú ý: sự tan rã của nó vào khoảng năm 130 TCN là sự kiện lịch sử sớm nhất được đề cập trong các nguồn tư liệu của cả phương Đông lẫn phương Tây. Một sứ thần của triều đình Trung Hoa từng lang thang trong đống đổ nát của vương quốc này chỉ vài năm sau đó đem về những câu chuyện kỳ tuyệt làm quà cho hoàng đế của mình, đặc biệt là về những con ngựa vùng Trung Á, và vào năm 101 TCN, Trung Hoa tiến hành một cuộc viễn chinh tiến vào khu vực này. Một số nhà sử học cho rằng trong số các lực lượng quân đội địa phương chống lại đội quân viễn chinh có thể có cả người La Mã, những tù binh chiến tranh bị bắt ở vùng Mesopotamia xa xôi và được bán sang tay nhiều lần cho đến khi họ nhận ra mình đang đánh nhau với binh lính Trung Hoa ở vùng núi Trung Á.

Các nhà sử học ít lãng mạn hơn lại nghĩ rằng phải đến hai thế kỷ sau người Trung Hoa và người La Mã mới thực sự gặp nhau. Theo một tài liệu lịch sử chính thức của Trung Hoa, vào năm 97, một viên tướng Trung Hoa “phái một viên phó tướng tên là Cam Anh (Gan Ying) đến tận bờ biển phía Tây rồi quay trở về.”❖ Trên bờ biển xa xôi này, dù chưa biết chính xác ở đâu, Cam Anh đã viếng thăm vương quốc Da Qin, nghĩa đen là Đại Tần, được gọi như vậy vì nó gây ấn tượng đối với người Trung Hoa như một phản chiếu huy hoàng và xa xăm về chính đế chế của họ. Việc Biển Tây là Địa Trung Hải và Da Qin là Đế quốc La Mã hay không vẫn là những vấn đề còn gây tranh cãi. Trong khi đó, những nhà sử học ít lãng mạn nhất thì cho rằng chỉ đến năm 166, khi các sứ giả của vua Andun nước Da Qin (hiển nhiên là Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius Antoninus) đến kinh đô Lạc Dương của Trung Hoa, thì cuối cùng người Trung Hoa và người La Mã mới gặp nhau.

Tuy nhiên, có thể đã có những cuộc gặp gỡ phong phú hơn, liên quan đến những hạng người dễ làm choáng váng các quý ông có học thức, những người viết ra hầu hết các bản văn còn lưu lại đến nay, do đó là tầng lớp ti tiện không đáng quan tâm – chẳng hạn như những nô lệ. Năm 2010, các nhà di truyền học đã công bố rằng DNA ty thể từ xương của một người đàn ông được chôn tại Vagnari ở miền Nam Italy vào thế kỷ II cho thấy tổ tiên bên ngoại của ông ta đến từ Đông Á; đồng thời các nhà khảo cổ học bổ sung rằng tình trạng chôn cất cho thấy ông ta là một nô lệ nông nghiệp. Đây là đề tài để người ta tha hồ phỏng đoán những thống khổ nào đã khiến người này hay tổ tiên của ông ta phải rời xa quê hương đến thế.

Một nhóm thứ hai những người lang thang bị khinh miệt là các thương nhân – trong chừng mực chúng ta biết được, chính những thương nhân đã mang một nô lệ Đông Á đến Italy. Pliny Già (để phân biệt với người cháu là Pliny Trẻ), một quý tộc La Mã, người viết một tác phẩm đồ sộ miêu tả thế giới và những điều kỳ lạ về nó (ông chết vào năm 79, do sự phun trào của núi lửa Vesuvius đã mê hoặc ông đến mức ông không thể chạy khỏi dòng dung nham), đã đề cập đến chuyện khởi hành hằng năm của một đội thương thuyền từ bờ Biển Đỏ của Ai Cập đến Sri Lanka, và vẫn còn một văn bản thương mại tồn tại, một tài liệu tiếng Hy Lạp gần như cùng thời gọi là Chuyến hải hành trên Biển Đỏ. Đây là một dạng sách hướng dẫn dành cho thương nhân, mô tả các hải cảng và những cơn gió ở Ấn Độ Dương.

Các thương nhân La Mã chắc chắn đã để lại dấu ấn của mình trên vùng đất Ấn Độ. Hầu như ngay khi những thực dân Anh và Pháp định cư ở đó vào thế kỷ XVIII, người dân đã bắt đầu mang đến cho họ những đồng tiền La Mã cổ đại, nhưng mãi đến năm 1943 thì quy mô tiếp xúc mới trở nên rõ ràng. Vào mùa hè đó, sau nhiều thập niên thờ ở với di sản văn hóa Ấn Độ – ở thời kỳ đỉnh điểm của Thế chiến II và sự kết thúc nền cai trị của người Anh đã hiển hiện – Bộ thuộc địa Anh quyết định đến lúc phải xem xét lại toàn bộ ngành khảo cổ Ấn Độ. Họ nhanh chóng bốc Chuẩn tướng Mortimer Wheeler từ ngoài khơi bãi biển Salerno, nơi một lực lượng Anh-Mỹ vừa xâm chiếm từ Italy, để thả ông ta xuống New Delhi điều hành gần 4 triệu kilomet vuông lãnh thổ giàu có về mặt khảo cổ hầu như ngang với Ai Cập.

Wheeler là một nhân vật huyền thoại. Ông chiến đấu trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới và để lại biết bao con tim tan vỡ trên khắp ba lục địa, đồng thời đã cách mạng hóa ngành khảo cổ Anh với những cuộc khai quật tỉ mỉ các di chỉ khảo cổ La Mã. Cho dù vậy, mọi người đều ngỡ ngàng với sự bổ nhiệm này. Những người Ấn theo chủ nghĩa dân tộc cật vấn rằng Đế quốc Anh rõ ràng đang đi đến sụp đổ, vậy tại sao lại bắt chúng tôi phải chịu đựng một tay bảo thủ về hưu nào đó chỉ quen sống nơi quê nhà, trên các di chỉ La Mã bùn lầy ở Anh, hơn là ở vùng đất Phật?

Wheeler có rất nhiều điều để chứng minh, và ngay khi hạ cánh tại Mumbai (người Anh gọi là Bombay), ông liền thực hiện một hành trình khảo cổ nhanh. Khi đến Chennai (thành phố Madras thời thuộc địa) đang trong thời tiết nóng bức của đợt gió mùa sắp đến, Wheeler thấy các cơ quan chính phủ đều đóng cửa nên quyết định giết thời gian tại bảo tàng địa phương. Ông viết trong hồi ký của mình:

Trên tủ trưng bày ở một xưởng thủ công, bàn tay tôi di chuyển dần lên cổ bình và cái quai dài của một chiếc bình gốm hoàn toàn xa lạ với môi trường nhiệt đới đó. Khi xem kỹ nó, tôi nhớ lại câu hỏi khiêu khích tại Hội đồng Lập pháp ở New Delhi: “Nước Anh thuộc La Mã (Roman Britain) phải làm gì với đất nước Ấn Độ?” Và đây là câu trả lời hoàn chỉnh.

Wheeler đang cầm mảnh vỡ của một bình rượu La Mã được khai quật tại Arikamedu (Pondicherry), cách bờ biển khoảng 130km. Ông đón chuyến tàu đêm và sau một bữa sáng dài có rượu tại tòa công sứ Pháp của thị trấn, ông lên đường tìm kiếm người La Mã.

Một căn phòng bên trong thư viện công cộng có ba hoặc bốn tủ trưng bày. Tôi sải bước đầy hy vọng về phía trước và phủi lớp bụi với cánh tay ướt đẫm mồ hôi, rồi nhìn sát vào chúng. Lần thứ hai trong tháng, đôi mắt tôi bắt đầu quan sát những hiện vật trong đó. Ở đây tập hợp tất cả những mảnh vỡ của hàng chục vò rượu hai quai thời La Mã, bộ phận của một chiếc đèn La Mã, một viên đá khắc chìm La Mã (ghim cài áo bằng đá), một đống hiện vật Ấn Độ – các mảnh gốm, hạt cườm, đồ sành – và một số mảnh vỡ đồ gốm tráng men đỏ mà không một ai được đào tạo trong trường học khảo cổ điển có thể nhầm lẫn.

Như là một phần thưởng nhỏ, khi Wheeler trở lại New Delhi với một trong những mảnh gốm để trong túi áo, ông tình cờ gặp thêm hai người khổng lồ về khảo cổ học Anh đang phục vụ công tác chiến tranh trong ngành không ảnh. Ông nói với họ, đề cập đến món đồ gốm tráng men đỏ ở bảo tàng Arikamedu: “Tôi tình cờ phát hiện ra một mảnh gốm Arretine, và kết quả thật đáng phấn khởi – đúng là một phần thưởng cho người hiểu biết được thỏa mãn tính tò mò!”❖

Các đợt khai quật sau đó cho thấy hàng hóa từ Địa Trung Hải đã đến Arikamedu (và một số hải cảng khác) vào khoảng năm 200 TCN. Số lượng hàng hóa gia tăng trong ba thế kỷ tiếp theo, và những cuộc khai quật gần đây dọc bờ Biển Đỏ của Ai Cập cũng đã tìm thấy những trái dừa khô, gạo và hồ tiêu vốn chỉ có thể đến từ Ấn Độ. Vào thế kỷ I, hàng hóa cũng trao đổi qua lại giữa Trung Hoa và Ấn Độ, rồi từ hai nơi đó đến Đông Nam Á.

Sẽ cường điệu khi nói rằng phương Đông và phương Tây đã kết nối với nhau qua các đại dương. Đây không phải là một mạng lưới kết nối mà chỉ là một vài sợi dây mỏng mảnh như tơ nhện được buộc vào hai đầu. Một thương nhân có thể chở rượu từ Italy đến Ai Cập; một thương nhân khác có thể mang nó đến Biển Đỏ bằng đường bộ; thương nhân thứ ba có thể tiếp tục mang nó đến Ả Rập; và một thương nhân thứ tư có thể vượt Ấn Độ Dương để đến Arikamedu. Ở đó anh ta có thể ngồi xuống cùng một thương gia địa phương để bán các loại tơ lụa được trao tay qua nhiều thương nhân trong hành trình của chúng xuất phát từ thung lũng Hoàng Hà.

Tuy nhiên, đó chính là một sự khởi đầu. Chuyến hải hành trên Biển Đỏ đề cập một địa điểm có tên là Thin, có thể là từ được phát âm lệch đi từ chữ Qin (được phát âm là Chin), mà tên China trong ngôn ngữ phương Tây bắt nguồn từ đó; và một thế hệ sau, một người Hy Lạp tên Alexander tuyên bố đã viếng thăm Sinae, có lẽ cũng là Trung Hoa. Vào khoảng năm 100 TCN, phần nào nhờ Trung Hoa tiến quân vào Bactria nên tơ lụa và gia vị được vận chuyển về phía tây, và vàng bạc chuyển về hướng đông dọc theo Con đường Tơ lụa nổi tiếng. Tất nhiên, chỉ những hàng hóa nhẹ cân và đắt tiền như tơ lụa mới có thể vẫn sinh lãi sau khi được vận chuyển suốt sáu tháng vượt qua khoảng cách hơn 8.000km, nhưng chỉ trong vòng một hoặc hai thế kỷ, không một phụ nữ quý tộc La Mã tự trọng nào khi qua đời mà lại thiếu tấm khăn choàng lụa của mình, và các thương gia ở Trung Á đã thành lập thương điếm ở tất cả các thành phố lớn của Trung Hoa.

Có nhiều điều để giới quý tộc giàu có, những người điều hành các vùng lõi phương Đông và phương Tây, ăn mừng trong những lần tiếp xúc đầu tiên này, nhưng cũng có nhiều điều đáng lo ngại do có một số tộc người luôn di chuyển khiến họ có ấn tượng thậm chí còn tồi tệ hơn cả những thương nhân. Khoảng năm 390, nhà sử học La Mã Ammianus viết về tộc người này như sau: “Họ có thân hình béo lùn, chân tay mạnh mẽ, cổ dày, quá gớm ghiếc và dị dạng đến mức trông như những con thú hai chân.” Ông tiếp tục kể:

Hình dạng của họ tuy thật khủng khiếp nhưng vẫn là con người, có điều cuộc sống của họ quá thô sơ đến mức họ không sử dụng lửa hay thức ăn nấu chín, mà sống bằng các loại rễ củ mọc hoang và bất cứ loại thịt hầu như không được nấu chín, họ chỉ hầm thịt bằng cách đặt nó vào giữa hai đùi và trên lưng ngựa.

Những người này là dân du mục, hoàn toàn xa lạ với các chủ đất như Ammianus. Chúng ta đã từng gặp gỡ tổ tiên của họ, những người chăn nuôi gia súc ở Trung Á, những người thuần hóa ngựa vào khoảng năm 3500 TCN và buộc chúng vào các cỗ xe vào khoảng năm 2000 TCN, khai sinh những cỗ xe ngựa đã đưa vùng lõi phương Tây vào hỗn loạn sau năm 1750 TCN, và vươn đến phương Đông 500 năm sau. Việc leo lên lưng ngựa và cưỡi đi đâu đó dường như dễ dàng hơn gắn chúng vào những cỗ xe, nhưng mãi đến năm 1000 TCN thì việc gây giống những con ngựa lớn hơn, những cải tiến về yên cương và phát minh ra loại cung nhỏ nhưng uy lực có thể bắn tên từ trên lưng ngựa kết hợp lại để tạo ra một lối sống hoàn toàn mới: đời sống du mục chăn nuôi gia súc trên lưng ngựa. Một lần nữa, thói quen di chuyển trên lưng ngựa đã thay đổi địa lý, dần dần biến sợi dây vững chắc của các vùng đồng bằng khô cằn trải dài từ Mông Cổ đến Hungary (cả hai địa danh này đều được gọi theo tên các tộc người du mục) thành một Tuyến đường Thảo nguyên kết nối phương Đông với phương Tây.

Ở một mức độ nào đó, những người du mục trên thảo nguyên không khác gì so với các tộc người khá lưu động, tương đối kém phát triển khác sống dọc theo các vùng rìa của những đế chế lớn, lang thang khắp mọi nẻo đường lùi về thời kỳ Jacob và các con trai trong Kinh Thánh Hebrew. Họ buôn bán gia súc và da thú để mua lại các sản phẩm của xã hội định cư. Tất cả mọi người đều hưởng lợi: tơ lụa Trung Hoa và thảm Ba Tư trang trí các lăng mộ xa hoa ở thế kỷ V TCN tại Pazyryk ở Siberia, trong khi vào thế kỷ IX TCN, người Assyria nhập khẩu ngựa và cung tên từ các vùng thảo nguyên và thay thế những cỗ xe của họ bằng lực lượng kỵ binh.

Nhưng cũng có thể nảy sinh những vấn đề quanh đó. Cùng với vải vóc tơ lụa và thảm dệt, các lăng mộ ở Pazyryk còn chứa những đống vũ khí bằng sắt và những chiếc cốc được làm từ sọ người bọc vàng của quân địch bị lột da đầu cho thấy ranh giới giữa thương mại và chiến tranh là rất mong manh. Đặc biệt sau năm 800 TCN, khi thời tiết lạnh hơn và khô hơn thu hẹp diện tích đồng cỏ trên các vùng thảo nguyên, những người chăn nuôi gia súc có thể nhanh chóng di chuyển đàn gia súc qua những khoảng cách dài và chiến đấu khi đến nơi lại có được những lợi thế to lớn. Toàn bộ các bộ lạc bắt đầu quen thuộc với đời sống trên lưng ngựa, di chuyển hàng trăm kilomet giữa các đồng cỏ vào mùa đông và mùa hè.

Các cuộc di cư của họ đã tạo ra hiệu ứng domino. Vào thế kỷ VIII TCN, một bộ tộc có tên là Massagetae di cư về phía tây xuyên qua vùng đất mà ngày nay là Kazakhstan, và đối đầu với tộc người Scythia trên đường đi của họ với cùng sự lựa chọn như những người săn bắt-hái lượm thời tiền sử buộc phải đưa ra khi những những người thực dân Hy Lạp đổ bộ lên bờ biển của họ: họ có thể đứng vững trên vùng đất của mình bằng cách tái tổ chức để chống lại, thậm chí bầu ra các vị vua, hoặc có thể chạy trốn. Những kẻ thất bại chạy sang bên kia sông Volga, điều này lại đặt ra cho tộc người Cimmeria, vốn đã sinh sống tại đó, một lựa chọn chiến đấu hay bỏ chạy tương tự.

Vào những năm 710 TCN, những nhóm người Cimmeria đào tị bắt đầu di chuyển đến vùng lõi phương Tây. Tuy đến đó không đông, nhưng họ lại gây ra nhiều thiệt hại. Tại các quốc gia nông nghiệp, nhiều nông dân phải làm việc cặm cụi trên cánh đồng chỉ để nuôi một thiểu số lính tráng. Vào thời kỳ cao điểm trong chiến tranh, Đế quốc La Mã và nhà Tần huy động quân đội cứ sáu người thì lấy một người, nhưng trong thời bình, họ chỉ chọn một trong mỗi 20 người. Ngược lại, ở những tộc người du mục, mỗi người đàn ông (và cũng có nhiều phụ nữ) đều có thể là chiến binh, sinh ra và lớn lên cùng với con ngựa và cung tên. Đây là minh họa đầu tiên về chiến tranh bất đối xứng. Các đế chế lớn có tiền bạc, lính hậu cần, và vũ khí công thành, nhưng những người du mục lại có tốc độ, gieo rắc nỗi kinh hoàng trong khi những nạn nhân cư trú cố định của họ thường lại bận rộn đánh phá lẫn nhau.

Vào những năm này biến đổi khí hậu và phát triển xã hội gia tăng một lần nữa kết hợp lại để gây hỗn loạn các vùng biên của vùng lõi phương Tây, và một lần nữa, hậu quả của nó là bạo lực và biến động. Đế quốc Assyria, vẫn là một thế lực hùng mạnh nhất ở phương Tây vào khoảng năm 700 TCN, mời người Cimmeria vào vùng lõi để giúp đỡ họ đánh lại kẻ thù của mình. Ban đầu, việc này mang lại hiệu quả tốt, nhưng vào năm 695 TCN, vua Midas của Phrygia tại miền trung Thổ Nhĩ Kỳ, quá giàu có đến mức các truyền thuyết Hy Lạp kể rằng ông chỉ cần chạm tay là có thể biến đồ vật thành vàng, phải tự sát khi người Cimmeria sắp tiến vào kinh đô của ông.

Dù sao, bằng cách loại bỏ các nước ở vùng đệm như Phrygia, người Assyria đã đặt vùng đất trung tâm của mình vào tình thế dễ bị các bộ tộc du mục tấn công cướp phá, và đến năm 650 TCN, người Scythia thực sự đã kiểm soát được miền Bắc Lưỡng Hà. Sử gia Hy Lạp Herodotus viết: “Tình trạng bạo lực và coi thường luật pháp đã dẫn tới hỗn loạn toàn diện. Họ hành động như những kẻ cướp, kéo đi khắp nơi này đến nơi khác, trộm cướp tài sản của mọi người.”❖ Những người du mục đã gây bất ổn cho Đế quốc Assyria đồng thời giúp người Medes và người Babylon đánh phá Nineveh vào năm 612 TCN, sau đó lại chuyển sang tấn công người Medes. Mãi đến khoảng năm 590 TCN, người Medes mới tìm ra cách chống lại kẻ thù nhanh nhẹn và xảo quyệt này, theo Herodotus, bằng cách cho những thủ lĩnh của họ uống say tại một bữa tiệc và thủ tiêu họ.

Các vị vua của Media, Babylon, và Ba Tư đã thử nghiệm nhiều cách trong việc xử lý những người du mục. Một lựa chọn là không làm gì cả, nhưng sau đó các cuộc cướp bóc của dân du mục lại tàn phá các tỉnh biên giới, làm giảm nguồn thu thuế. Việc mua chuộc những người du mục cũng là một khả năng khác, tuy nhiên, việc trả tiền bảo kê cũng đắt đỏ ngang với việc bị cướp phá. Chiến tranh ngăn chặn cũng là một sự đối phó thứ ba, bằng cách tấn công vào vùng thảo nguyên và chiếm lấy các đồng cỏ mà người du mục cần để tồn tại, nhưng điều đó thậm chí phải trả giá đắt và rủi ro hơn. Vì không có gì nhiều để bảo vệ, người du mục có thể rút lui vào những vùng đất hoang vu, không có cây cối và nguồn nước để dụ dỗ quân xâm chiếm vào chỗ chết khi lương thực của họ cạn kiệt.

Cyrus, người sáng lập Đế quốc Ba Tư, từng thử tiến hành cuộc chiến tranh ngăn chặn chống lại người Massagetae vào năm 530 TCN. Giống như người Medes đã làm trước đó, ông chiến đấu bằng rượu nho: ông để cho đội quân tiên phong của người Massagetae cướp doanh trại của mình, và khi họ say rượu, thì giết họ và bắt con trai của hoàng hậu. “Ngài là một kẻ khát máu,” Nữ hoàng Tomyris viết thư cho Cyrus, “hãy trả con trai lại cho ta và rút quân khỏi đất nước của ta, các đội quân của ngài sẽ được yên… Nếu ngài từ chối, ta thề với mặt trời chúa tể của ta là sẽ cho ngài nhiều máu hơn sức ngài có thể uống được.”❖ Đúng như những gì đã viết, Tomyris đánh bại người Ba Tư, cắt đầu Cyrus và nhét vào một túi máu.

Đó là một khởi đầu tồi tệ cho các cuộc tấn công để ngăn chặn, nhưng vào năm 519 TCN, vua Darius của Ba Tư chứng minh rằng nó mang lại hiệu quả bằng việc đánh bại một liên minh mà người Ba Tư gọi là Người Scythia đội mũ chóp nhọn, áp đặt việc cống nạp và một vị vua bù nhìn để cai trị họ. Năm năm sau, ông thử lại một lần nữa, bằng cách vượt sông Danube và đuổi theo những tộc người Scythia khác vào sâu lãnh thổ Ukraine. Nhưng giống như rất nhiều cuộc chiến bất đối xứng trong thời đại của chúng ta, thật khó để nói ai là người chiến thắng. Herodotus nghĩ rằng đó là một thảm họa, và vua Darius may mắn thoát chết, nhưng người Scythia không bao giờ đe dọa Ba Tư nữa, vì vậy, rõ ràng giải pháp này cũng có phần đúng.

Phải mất nhiều thời gian hơn để lực lượng kỵ binh từ các thảo nguyên trở thành một thực tế hiển nhiên ở phương Đông, cũng giống như phải mất nhiều thời gian hơn để những cỗ xe ngựa đến Trung Hoa so với phương Tây, nhưng một khi hiệu ứng domino của người dân du cư xảy đến, nó cũng tác động dữ dội như nhau. Sự mở rộng lối sống du cư về phía đông có lẽ xuất hiện sau những cuộc tấn công của người Tây Nhung vào nhà Chu ở thế kỷ VIII TCN, và các tộc người phương bắc bị nước Tần và nước Tấn hợp nhất vào thế kỷ VII và VI TCN hẳn phải chọn sự đồng hóa hơn là chống lại những người du mục đang kéo đến. Khi họ làm vậy, áp lực kết hợp giữa các cuộc tấn công của các tộc người du cư và sự mở rộng của các nhà nước ở Trung Hoa đã loại bỏ các xã hội vùng đệm, giống như những gì diễn ra ở phương Tây.

Lúc đó nước Triệu trở thành một nước vùng biên. Giống như người Assyria khi đối mặt với người Scythia, nước Triệu ngay lập tức tuyển mộ các kỵ sĩ du mục để chống lại các nước láng giềng và huấn luyện cho thần dân của mình trở thành kỵ binh. Nước Triệu cũng xây dựng một chiến lược chống lại người du mục vốn ít được sử dụng ở phương Tây, tiến hành cuộc chiến tranh tiêu hao bằng cách xây dựng tường thành để ngăn chặn các tộc người du cư (chí ít cũng gây ngăn trở ở những nơi họ thường giao thương và cướp bóc). Điều này dường như có kết quả giảm thiểu hơn là phải chiến đấu hay trả tổn phí bảo vệ, và vào thế kỷ III TCN, số lượng các tường thành đã tăng lên. Bức tường thành của Tần Thủy Hoàng kéo dài hơn 3.000km, cướp đi (dù sao thì cũng là truyền thuyết) sinh mạng của một nhân công cho mỗi mét tường thành được xây dựng.⦾

Tần Thủy Hoàng là kiểu người không bao giờ lo lắng đến mất ngủ vì vấn đề này. Trên thực tế, ông đánh giá cao việc xây dựng tường thành đến mức biến chiến lược phòng thủ này thành một vũ khí bằng cách mở rộng Vạn Lý Trường Thành để bao vây một dải đồng cỏ rộng lớn, nơi những người du mục chăn thả gia súc. Sau đó, vào năm 2015 TCN, ông tiến hành một cuộc chiến tranh ngăn chặn.

Vạn Lý Trường Thành gửi đi một tín hiệu rõ ràng: địa lý lại thay đổi ý nghĩa của nó một lần nữa. Các lực lượng thúc đẩy bước tiến đều đều của phát triển xã hội trong Hình 5.1 – hấp thu năng lượng tăng lên, tổ chức hiệu quả hơn, tri thức phổ biến rộng rãi, quân đội thiện chiến hơn bao giờ hết – đang biến đổi thế giới. Vào năm 200 TCN, mỗi vùng lõi đều được thống lĩnh bởi một đế chế lớn duy nhất, chiến binh và thương nhân của những đế chế này thậm chí đã tiến vào các vùng trung gian giữa các vùng lõi. Vùng thảo nguyên trước đó từng là một rào chắn rộng lớn ngăn cách phương Đông và phương Tây nay trở thành một tuyến đường kết nối chúng với nhau, và thay vì có lịch sử riêng biệt nhưng tương đồng, vùng lõi phương Đông và phương Tây lại bắt đầu được kết nối một cách chặt chẽ. Dù rất ít hàng hóa, tộc người, hoặc tư tưởng đi trọn con đường từ cực này đến cực kia của lục địa Á-Âu, nhưng những thực thể địa lý mới đang hình thành. Trong vài thế kỷ tiếp theo, chúng sẽ quét sạch các đế chế vĩ đại thống lĩnh những vùng lõi vào năm 200 TCN, đẩy các xu hướng phát triển xã hội đi lên theo hướng ngược lại và chấm dứt sự dẫn đầu của phương Tây. Nghịch lý của sự phát triển bước vào một giai đoạn hoàn toàn mới.

Người dịch Nguyễn Thanh Xuân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.