Tại Sao Phương Tây Vượt Trội

Lượt đọc: 142 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần II - 4 Phương Đông đuổi kịp
Con voi trong căn phòng

❊ ❊ ❊

Có một câu chuyện cổ ở Nam Á kể về sáu người mù gặp một con voi. Một người nắm vòi voi và nói đó là một con rắn; một người khác sờ đuôi voi, và nghĩ rằng đó là một sợi dây thừng; người thứ ba tựa vào chân voi và kết luận đó là một cái cây v.v. Thật khó để không suy nghĩ về câu chuyện ngụ ngôn này khi đọc các học thuyết chốt khóa dài hạn hay ngẫu nhiên ngắn hạn về sự dẫn đầu của phương Tây: như những người đàn ông mù, những người theo học thuyết dài hạn lẫn ngắn hạn đều có xu hướng nắm lấy một bộ phận của con thú và nhầm lẫn đó là toàn bộ con thú. Ngược lại, chỉ số phát triển xã hội sẽ giúp chúng ta hiểu được sự thật và có thể sẽ không còn thêm những điều vô lý về con rắn, về sợi dây thừng, và cái cây. Mọi người phải ý thức được rằng họ chỉ đang bám vào một bộ phận cơ thể của con voi.

Hình 4.1 tóm tắt những gì chúng ta chứng kiến một cách ấn tượng ở Chương 2. Khi kết thúc Thời đại Băng hà cuối cùng, khí hậu và hệ sinh thái hợp lại làm gia tăng sự phát triển xã hội ở phương Tây sớm hơn phương Đông, và bất chấp thảm họa khí hậu của thời kỳ Dryas Trẻ, phương Tây vẫn duy trì vị thế dẫn đầu thấy rõ. Phải thừa nhận rằng, trở lại những thời kỳ đầu tiên này trước năm 10000 TCN, nghệ thuật cưa xẻ của chúng ta tuy thô sơ nhưng tiện ích thực sự. Ở phương Đông, khó nhận ra bất kỳ sự thay đổi có thể đo đếm được nào về phát triển xã hội suốt hơn 1.000 năm qua, và ngay cả ở phương Tây, nơi có sự phát triển cao hơn rõ rệt ở giai đoạn năm 11000 TCN so với mức phát triển ở năm 14000 TCN, chúng ta cũng không tiếp cận được các chi tiết của những thay đổi đó. Mặc dù thứ ánh sáng do chỉ số tạo ra là rất yếu ớt và mờ nhạt, tuy nhiên, có một chút ánh sáng vẫn tốt hơn là không có gì, và nó tiết lộ một thực tế vô cùng quan trọng: giống như các học thuyết chốt khóa dài hạn dự đoán, phương Tây có bước xuất phát thuận lợi và luôn duy trì vị thế đó.

Hình 4.1. Dạng hình thế giới: Sự dẫn đầu sớm về phát triển xã hội của phương Tây giai đoạn năm 14000-5000 TCN, như đã mô tả ở Chương 2.

Tuy nhiên, tiếp tục câu chuyện ở giai đoạn năm 5000-1000 TCN, ta thấy đồ thị ở Hình 4.2 ít đi theo đường thẳng hơn. Nó khác nhiều với Hình 4.1 cũng giống như nói sợi dây thừng khác với con rắn vậy. Giống như sợi dây thừng và con rắn, cả hai đồ thị đều có những điểm tương đồng: trên cả hai đô thị, các điểm số phương Đông và phương Tây kết thúc cao hơn so với điểm xuất phát, và trên cả hai đô thị, các điểm số phương Tây luôn cao hơn các điểm số phương Đông. Tuy nhiên, sự khác biệt cũng rất nổi bật. Thứ nhất, các đường đồ thị ở Hình 4.2 tăng nhanh hơn nhiều so với các đường đồ thị ở Hình 4.1. Trong 9.000 năm giai đoạn năm 14000-5000 TCN, điểm số phương Tây tăng gấp đôi và điểm số phương Đông tăng hai phần ba, nhưng trong 4.000 năm tiếp theo – chưa đầy một nửa thời gian được đề cập ở Hình 4.1 – điểm số phương Tây tăng gấp ba lần và phương Đông tăng gấp hai lần rưỡi. Sự khác biệt thứ hai đó là, lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta thực sự chứng kiến phát triển xã hội sụt giảm ở phương Tây sau năm 1300 TCN.

Trong chương này, tôi sẽ cố gắng giải thích những thực tế đó. Tôi cho rằng sự phát triển và suy thoái của phương Tây khoảng sau năm 1300 TCN, trên thực tế, là hai mặt của cùng một quá trình, mà tôi gọi là nghịch lý phát triển. Trong các chương tiếp theo, chúng ta sẽ thấy rằng nghịch lý này đóng một vai trò quan trọng trong việc giải thích lý do tại sao phương Tây vượt trội và cho chúng ta biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Nhưng trước khi đi đến đó, chúng ta cần nghiên cứu chính xác những gì đã xảy ra ở giai đoạn năm 5000-1000 TCN.

Hình 4.2. Hướng tới, đi lên, tách xa và gần lại: sự tăng tốc, phân kỳ và hội tụ của phát triển xã hội phương Đông và phương Tây, năm 5000-1000 TCN.

Đường dây nóng kết nối với thần linh

Trong giai đoạn năm 14000-5000 TCN, điểm số phát triển xã hội phương Tây tăng lên gấp đôi, và các làng xóm nông nghiệp trải rộng từ điểm xuất phát của họ ở vùng Hilly Flanks đến sâu bên trong khu vực Trung Á và tới bờ Đại Tây Dương. Tuy nhiên, vào thời điểm khoảng năm 5000 TCN, nông nghiệp hầu như chưa chạm tới vùng Lưỡng Hà, vùng đất giữa các dòng sông mà ngày nay chúng ta gọi là Iraq, mặc dù nó chỉ cách vùng Hilly Flanks vài ngày đi bộ (Hình 4.3).

Theo một cách nào đó, điều này không làm chúng ta ngạc nhiên. Kể từ năm 2003, các bản tin vắn thời sự khiến thế giới quá quen thuộc với môi trường khắc nghiệt của Iraq. Nhiệt độ mùa hè tăng cao hơn 48°C, trời hầu như không mưa và sa mạc vây quanh bốn phía. Khó có thể tưởng tượng được những cư dân nông nghiệp có thể lựa chọn nơi đó để sinh sống, và trở lại khoảng năm 5000 TCN, vùng Lưỡng Hà thậm chí còn nóng hơn. Tuy nhiên, vùng đất này cũng ẩm hơn, và vấn đề chính đối với người nông dân không phải là làm thế nào để tìm được nguồn nước mà là làm thế nào để quản lý nguồn nước. Những đợt gió mùa ngoài khơi Ấn Độ Dương cũng mang lại một ít mưa, mặc dù chỉ đủ để hỗ trợ cho hoạt động nông nghiệp; nhưng nếu người nông dân có thể kiểm soát được các đợt lụt mùa hè của sông Tigris và sông Euphrates rộng lớn và đưa nước vào cánh đồng của họ vào đúng thời điểm để tưới tiêu và cung cấp phù sa cho cây trồng, thì tiềm năng là vô tận.

Những cư dân duy trì lối sống nông nghiệp trên khắp lãnh thổ châu Âu, hoặc những người tiếp nhận nền nông nghiệp từ những người nông dân láng giềng, đã không ngừng sửa đổi truyền thống canh tác để giúp cho nông nghiệp tồn tại và phát triển ở những vùng đất mới. Tuy nhiên, việc ứng dụng các kỹ thuật phát triển cho nền nông nghiệp được tưới tiêu bằng nước mưa ở vùng Hilly Flanks vào nền nông nghiệp được tưới tiêu bằng hệ thống thủy lợi ở Lưỡng Hà đòi hỏi nhiều thứ khác thay vì chỉ là những sửa đổi đơn giản.

Hình 4.3. Sự bành trướng của vùng lõi phương Tây năm 5000-1000 TCN: Các di chỉ và khu vực được đề cập ở chương này.

Người nông dân phải bắt đầu hầu như ngay từ vạch xuất phát. Trải qua 20 thế hệ, họ đã cải tiến hệ thống kênh rạch và các hồ chứa nước; và dần dần họ biến mảnh đất khô cằn vùng Lưỡng Hà không chỉ thành một nơi có thể sinh sống mà còn trở thành một vùng đất thực sự màu mỡ hơn cả vùng Hilly Flanks đã từng. Họ đã làm thay đổi ý nghĩa của địa lý.

Đôi khi các nhà kinh tế gọi quá trình này là sự khám phá ra những lợi thế của tình trạng lạc hậu. Khi con người đưa các kỹ thuật được ứng dụng tại một vùng lõi tiên tiến để hoạt động tại một vùng ngoại vi ít phát triển hơn, đôi khi những thay đổi mà họ áp dụng làm cho các kỹ thuật này hoạt động tốt đến mức chính vùng ngoại vi biến thành một vùng lõi mới. Vào khoảng năm 5000 TCN, điều này đã diễn ra ở miền Nam Lưỡng Hà, nơi hệ thống kênh rạch công phu đã hỗ trợ một số đô thị lớn nhất thế giới thời đó, với khoảng 4.000 cư dân. Số dân cư đó có thể xây dựng nhiều đền thờ phức tạp và lộng lẫy hơn, và tại một đô thị, Eridu, chúng ta có thể tìm thấy dấu vết của những ngôi đền có niên đại năm 5000-3000 TCN, được xây dựng chồng lên nhau trên các nền gạch và luôn có lối kiến trúc cơ bản giống nhau, nhưng ngày càng lớn hơn và được trang trí lộng lẫy hơn.

Có quá nhiều thuận lợi tập trung về vùng Lưỡng Hà đến mức người dân tại vùng lõi trước đây ở Hilly Flanks phải cạnh tranh để sánh kịp với các xã hội mới năng động tại các vùng đồng bằng ngập lụt. Vào khoảng năm 4000 TCN, cư dân Susa, một đồng bằng nằm trong vùng Hilly Flanks ở tây nam Iran, thậm chí đã vượt qua Eridu với việc xây dựng một nền gạch có chiều dài 76m và cao 9m. Có lẽ đó là nền móng của một ngôi đền đồ sộ, mặc dù các nhà khai quật ở thế kỷ XIX, do không nắm vững các chi tiết tinh vi của kỹ thuật khảo cổ, đã xới tung di chỉ này, khiến các vết tích không còn nữa. Cho dù như vậy thì họ cũng không thể bỏ qua mọi dấu tích của một mô hình tổ chức ngày càng phức tạp, bao gồm một số đồ trang trí bằng đồng đỏ sớm nhất trên thế giới cũng như các con dấu bằng đất sét, điều này cho thấy có sự kiểm soát hành chính đối với các loại hàng hóa và những hình ảnh mà một số học giả diễn giải là các nhà vua-giáo sĩ. Những nhà khảo cổ thường cho rằng có một thủ lĩnh của vùng đất này sống tại Susa, một thành phố rộng lớn so với các ngôi làng xung quanh nó. Người dân từ các ngôi làng ở xa có thể đến Susa để thờ cúng các vị thần linh, bày tỏ lòng biết ơn đối với thủ lĩnh của mình và trao đổi thực phẩm để lấy đồ trang sức và vũ khí.

Hay dĩ nhiên có thể cũng không phải thế – rất khó để nói lên điều gì từ một di chỉ khảo cổ được khai quật sơ sài như vậy. Nhưng các nhà khảo cổ buộc phải dựa vào Susa để tìm hiểu thời kỳ này vì các thành phố cùng thời ở Lưỡng Hà đã bị chôn vùi sâu dưới lớp phù sa từ các trận lũ lụt của sông Euphrates và Tigris trong suốt 6.000 năm qua, khiến việc nghiên cứu của họ trở nên khó khăn (thêm vào đó, vì những lý do dễ thấy, có ít công trình nghiên cứu mới ở Iran kể từ cuộc Cách mạng Islam giáo năm 1979 hay ở Iraq kể từ cuộc xâm lược Kuwait của Saddam Hussein năm 1990). Những thay đổi tương tự có thể đã diễn ra dọc theo hai con sông Euphrates và Tigris ở thời điểm sau năm 4500 TCN, nhưng chỉ đến khoảng sau năm 3800 TCN, các nhà khảo cổ mới thực sự nhìn thấy rõ.

Nhưng lý do tại sao các thành phố trở nên lớn hơn và phức tạp hơn vẫn còn gây tranh cãi. Thiên niên kỷ thứ sáu TCN, khi lần đầu di chuyển đến vùng Lưỡng Hà, những người nông dân đã chứng kiến trái đất đạt đến điểm ấm nhất và ẩm ướt nhất trong quỹ đạo biến đổi không ngừng nghỉ của nó quanh mặt trời và sự quay lắc quanh trục của nó, nhưng vào khoảng năm 3800 TCN, thế giới đã mát dịu trở lại. Bạn có thể nghĩ đó là tin vui dành cho người nông dân vùng Lưỡng Hà; nhưng bạn đã nhầm. Mùa hè mát hơn có nghĩa là những đợt gió mùa mang theo mưa thổi từ ngoài khơi Ấn Độ Dương trở nên yếu hơn. Các cơn mưa xuất hiện ít thường xuyên hơn và khó dự đoán hơn, và vùng Lưỡng Hà bắt đầu trông giống với vùng đất khô nóng mà chúng ta nhìn thấy trên kênh truyền hình CNN. Các vấn đề kết hợp lại với nhau: số lượng các cơn mưa mùa xuân giảm xuống có nghĩa là các vụ mùa sẽ ngắn hơn, điều đó có nghĩa là vụ mùa đã chín trước khi hai con sông Euphrates và Tigris gây ngập lụt vào mỗi mùa hè. Các hệ thống tưới tiêu mà người nông dân vùng Lưỡng Hà vất vả xây dựng suốt 2.000 năm qua không còn hiệu quả nữa.

Biến đổi khí hậu buộc người dân Lưỡng Hà có những lựa chọn khó khăn. Họ có thể lờ đi thực tế khi cát bắt đầu xâm lấn đồng ruộng của họ và tiếp tục cuộc sống bình thường, nhưng cái giá phải trả cho việc không làm gì sẽ là đói, nghèo và có thể là chết đói. Hoặc họ có thể di chuyển đến các vùng ít phụ thuộc vào gió mùa hơn; nhưng việc người nông dân phải từ bỏ ruộng vườn được chăm sóc tốt của mình không phải là chuyện nhỏ. Trong bất kỳ trường hợp nào, vùng Hilly Flanks – hiển nhiên là nơi để đến – đã chật kín những làng mạc. Vào năm 2006, các nhà khảo cổ tại Tell Brak, vùng Đông Bắc Syria đã phát hiện ra hai ngôi mộ tập thể chôn những người trẻ tuổi có niên đại khoảng năm 3800 TCN, rõ ràng đây là những nạn nhân của một vụ thảm sát. Việc trở lại vùng Hilly Flanks đông đúc và bạo lực có thể không phải là một lựa chọn quá hấp dẫn.

Nếu cư dân vùng Lưỡng Hà không làm gì cả hoặc bỏ đi nơi khác, vùng lõi mới này sẽ sụp đổ. Tuy nhiên, tồn tại một khả năng thứ ba. Người dân có thể từ bỏ làng mạc của mình nhưng vẫn ở lại vùng Lưỡng Hà, tập trung tại một vài khu vực rộng lớn. Điều đó có vẻ bất thường: nếu sản lượng mùa vụ đang giảm sút, việc nhồi nhét thêm nhiều người vào những khu vực nhỏ hơn sẽ khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Nhưng một số cư dân Lưỡng Hà dường như đã tính toán ra rằng nếu nhiều người làm việc cùng nhau, họ có thể vận hành được các hệ thống thủy lợi lớn hơn và dự trữ được nguồn nước lụt cho đến lúc bắt đầu mùa vụ. Họ có thể nuôi nhiều thợ mỏ hơn để khai thác kim loại đồng trong lòng đất; nhiều thợ rèn hơn để làm đồ trang sức, vũ khí và công cụ; và nhiều thương nhân hơn để đưa những hàng hóa này đến với các vùng xung quanh. Họ thành công đến mức vào khoảng năm 3000 TCN, đồng thau (hợp kim của đồng và một ít thiếc) đã thay thế phần lớn vật liệu đá để làm vũ khí và hầu hết các loại công cụ, nhanh chóng nâng cao hiệu quả chiến đấu và làm việc của các chiến binh và người lao động.

Tuy nhiên, đạt đến kết quả đó đòi hỏi có sự tổ chức hợp lý. Quản lý tập trung là câu trả lời. Vào thời điểm khoảng năm 3300 TCN, người ta đã vạch lên các tấm đất sét nhỏ để ghi lại các hoạt động của họ một cách tinh vi mà hầu hết các nhà khảo cổ gọi là chữ tượng hình (thậm chí cho đến nay một chuyên gia giỏi có thể đọc được chúng). Những ngôi làng nhỏ không đủ khả năng hỗ trợ các hoạt động phức tạp như vậy đều đi đến chỗ diệt vong, trong khi đó vùng Uruk lại biến thành một thành phố thật sự với khoảng 20.000 cư dân.

Người dân Lưỡng Hà phát minh ra quản lý, hội họp và biên bản ghi nhớ – những lời nguyền của đời sống dành cho rất nhiều người trong chúng ta ngày nay, và hầu như đó không phải là những câu chuyện kể về những thành tựu của con người. Tuy nhiên, như vấn đề sẽ sáng tỏ trong vài chương tiếp theo, đây thường là những động lực phát triển xã hội quan trọng nhất. Sự tổ chức đã biến những ngôi làng vùng Hilly Flanks và dọc hai bên bờ Hoàng Hà thành các thành phố, quốc gia và đế chế; thất bại trong tổ chức khiến chúng sụp đổ. Các nhà quản lý là những anh hùng, đồng thời là những tội đồ trong câu chuyện của chúng ta.

Sự ra đời của hoạt động quản lý khi những đợt gió mùa không còn xuất hiện nữa hẳn sẽ mang lại nhiều đau đớn. Chúng ta có thể hình dung những dòng người đói rách rũ rượi kéo về Uruk dưới bầu trời đầy khói bụi, giống như những Okie (người Mỹ sinh sống tại bang Oklahoma) nhưng không có cả những chiếc xe hơi cà tàng, nói gì đến Chính sách Kinh tế mới (New Deal). Chúng ta cũng nên thử hình dung những người dân làng giận dữ từ chối giao quyền lực cho giới quan liêu tự cao tự đại trưng thu ruộng đồng hay nông sản của họ. Và kết quả chắc chắn sẽ là tình trạng bạo lực thường xuyên. Uruk có thể dễ dàng bị đập tan thành từng mảnh; có lẽ cũng do nhiều thành phố đối thủ của nó đã làm điều này.

Chúng ta sẽ không bao giờ biết được các câu chuyện về những nhà quản lý cổ đại giúp Uruk vượt qua hoàn cảnh khó khăn như thế nào, nhưng các nhà khảo cổ cho rằng họ có quan hệ chặt chẽ với các đền thờ. Nhiều dấu tích cho thấy điều này, và chúng hỗ trợ lẫn nhau giống như những chiếc cọc chống đỡ căn lều của người da đỏ. Chẳng hạn, các cuộc khai quật tại một số đền thờ đã phát hiện một số lượng lớn chén bát có kích thước đều nhau được gọi là bát vát cạnh (bevel-rimmed bowls), có thể chúng được dùng để phân phát thực phẩm. Những tấm đất sét sớm nhất có khắc họa các biểu tượng thô mộc phần lớn được tìm thấy tại các đền thờ, và biểu tượng thể hiện khẩu phần ăn trên các tấm đất sét đó là phác họa một cái bát vát cạnh. Và khi hệ thống chữ viết đã phát triển tới mức nó có thể ghi lại những thông tin loại này, nó cho chúng ta biết rằng các đền thờ đã kiểm soát nhiều vùng đất rộng lớn với đầy đủ hệ thống tưới tiêu và một lực lượng lao động làm việc trên các vùng đất đó.

Bản thân các đền thờ phát triển nhanh thành những công trình khổng lồ, khiến các cộng đồng xây dựng chúng trở nên nhỏ bé. Những dãy cầu thang dài dẫn tới các khu vực khép kín cao hàng chục mét, nơi các chuyên gia hội ý và trao đổi với thần linh. Nếu các đền thờ thiên niên kỷ thứ mười mà chúng ta đã thấy ở Chương 2 là những bộ khuếch đại âm thanh dành cho các thông điệp gửi đến thần linh, thì các đền thờ đồ sộ của Uruk thiên niên kỷ thứ tư là một hệ thống âm thanh công cộng xứng tầm với ban nhạc rock Led Zeppelin. Chắc các vị thần hẳn phải điếc mới không nghe thấy.

Đầu tiên, chính những tiếng kêu gọi hướng đến các thần linh này đã thu hút tôi đến với ngành khảo cổ học. Năm 1970, ba mẹ tôi đã đưa em gái tôi và tôi đi xem một bộ phim chuyển thể từ tác phẩm văn học kinh điển dưới thời vua Edward của tác giả Edith Nesbit là The Railway Children (Lũ trẻ đường tàu). Tôi nghĩ rằng tôi thích nó, nhưng bộ phim ngắn chiếu trước đó đã thổi bùng tâm trí tôi (cách người ta thường nói vào thời đó). Mãi đến tận tối hôm đó tôi vẫn còn bị ám ảnh với hình ảnh phi thuyền Apollo 11 và muốn trở thành một phi hành gia, nhưng chính bộ phim hạng B – một dạng phim tài liệu (đại loại như vậy) dựa trên cuốn sách Chariots of the Gods (Những cỗ xe của các vị thần) của Erich von Däniken… khiến tôi nhận ra rằng khảo cổ học là con đường mà tôi sẽ đi.

Cũng như Arthur C. Clarke trong cuốn 2001: Chuyến du hành không gian (được xuất bản năm 1968, tương tự như cuốn Những cỗ xe của các vị thần), von Däniken khẳng định rằng người ngoài hành tinh đã viếng thăm trái đất vào thời Cổ đại và dạy cho con người những bí mật tuyệt vời. Tuy nhiên, von Däniken khác với Clarke khi nhấn mạnh rằng (a) ông không bịa đặt điều này và (b) người ngoài hành tinh vẫn tiếp tục trở lại. Họ đã đưa ra ý tưởng xây dựng Stonehenge và các kim tự tháp Ai Cập; Kinh Thánh Hebrew và sử thi Ấn Độ đã miêu tả con tàu vũ trụ và vũ khí hạt nhân của họ. Von Däniken cho rằng, lý do rất nhiều nền văn minh trước đây có những vị vua khẳng định mình từng giao tiếp với các sinh vật siêu phàm trên trời là vì các vị vua đầu tiên đó thực sự đã giao tiếp với các sinh vật siêu phàm bên ngoài bầu trời.

Trong khi chứng cứ còn thưa thớt (nói một cách nhẹ nhàng), thì lập luận đó rõ ràng là rất hữu hiệu. Rất nhiều người tin vào điều đó, và von Däniken đã bán được 60 triệu bản sách. Và ông ấy vẫn còn rất nhiều người hâm mộ. Chỉ cách đây vài năm, khi đang chú tâm vào công việc riêng bên cạnh chiếc lò nướng, tôi còn bị gán tội – với tất cả sự nghiêm túc – là nằm trong một nhóm các nhà khảo cổ bí mật tìm cách ngăn chặn những thực tế này.

Các nhà khoa học thường bị chỉ trích là lấy đi sự kỳ diệu ra khỏi thế giới, nhưng họ thường làm vậy với hy vọng đưa sự thật vào đúng vị trí của nó. Trong trường hợp này, sự thật của vấn đề là chúng ta không cần những người ngoài hành tinh để giải thích thêm về các vị vua-như-thần-linh của Lưỡng Hà mà chúng ta cần thời điểm 2001 để giải thích sự tiến hóa của loài Homo sapiens. Những người chuyên trách thực hành tôn giáo đóng vai trò quan trọng kể từ lúc nền nông nghiệp bắt đầu xuất hiện, và toàn bộ dấu vết còn lại ngày nay cho thấy, khi những sinh vật siêu phàm dường như đã bỏ rơi nhân loại bằng cách lấy đi các cơn mưa, theo bản năng, người dân Lưỡng Hà phải nhờ cậy các thầy tu tự cho mình có thể giao tiếp đặc biệt với các vị thần để chỉ dẫn cho họ phải làm những gì. Sự tổ chức là chìa khóa để sinh tồn trong những thời điểm khó khăn đó, thế là, người dân làm càng nhiều những gì các thầy tu nói, họ sẽ càng nhận được nhiều kết quả tốt đẹp hơn (miễn là các giáo sĩ đưa ra lời khuyên hợp lý).

Hai tiến trình chắc chắn phải có tác động lẫn nhau, lối tư duy của họ cũng theo đường tròn giống von Däniken nhưng thậm chí thuyết phục hơn. Những con người tham vọng khẳng định mình có khả năng tiếp cận các vị thần một cách đặc biệt nói rằng họ cần những đền thờ tráng lệ, những nghi lễ phức tạp, và nhiều của cải để khiến các vị thần lắng nghe họ. Một khi họ đã có được những thứ này, họ có thể quay lại và chỉ vào những ngôi đền tráng lệ, các nghi lễ phức tạp, và của cải của họ để chứng minh rằng họ đã thực sự gắn bó với các vị thần – rốt cuộc, ai có được những thứ này ngoài những người được các vị thần yêu thương? Khi các thư lại đang ghi chép những câu chuyện này, vào khoảng năm 2000 TCN, các vị vua vùng Lưỡng Hà thậm chí còn khẳng định các vị thần là tổ tiên của họ. Đôi khi, như (tôi nghi ngờ) Uruk, việc trao quyền lực cho những người đàn ông có đường dây nóng kết nối với các vị thần đã có những kết quả rất tốt, và khi điều đó thất bại – tất nhiên vẫn thường xảy ra – nó để lại vài thứ cho các nhà khảo cổ khai quật.

Uruk không chỉ trở thành một thành phố mà còn là một quốc gia, với các thiết chế tập quyền ban hành các loại thuế, đưa ra các quyết định ràng buộc toàn thể cộng đồng và ủng hộ họ bằng vũ lực. Một số ít đàn ông (nhưng rõ ràng là không có phụ nữ) nắm giữ những vị trí cao nhất, và một lực lượng lớn các chiến binh, chủ đất, thương nhân và các quan chức hành chính ủng hộ họ. Đối với hầu hết mọi người, sự xuất hiện nhà nước có nghĩa là từ bỏ các quyền tự do, nhưng đó là cái giá của thành công trong những thời kỳ khó khăn. Những cộng đồng trả cái giá đó có thể tập hợp nhiều cư dân, nhiều của cải hơn và quyền lực hơn các xã hội tiền-nhà nước.

Các thành phố và quốc gia đã thúc đẩy phát triển xã hội đi lên tại Lưỡng Hà khoảng sau năm 3500 TCN rồi sau đó tỏa rộng ra bên ngoài, giống như các ngôi làng nông nghiệp đã từng làm tại vùng Hilly Flanks. Nền văn hóa vật thể phong cách Uruk (bát vát cạnh, bảng viết, đền thờ lộng lẫy) lan truyền sang Syria và Iran. Các tranh luận về quá trình này diễn ra như thế nào rất giống với những tranh luận về sự mở rộng nền nông nghiệp thời kỳ đầu. Có thể đã có một quá trình thuộc địa hóa từ miền Nam Lưỡng Hà có dân cư đông đúc và trình độ tổ chức cao đến miền Bắc với dân cư thưa thớt và ít tập trung hơn: ví dụ như thành phố Habuba Kabira ở miền Trung Syria trông như thể có ai đó đã nhận bản thành phố Uruk láng giềng và thả nó xuống một địa điểm cách đó hơn 1.500km. Tell Brak, ngược lại, là một thành phố lớn và xuất hiện rất lâu trước khi những cái bát vát cạnh được nghĩ ra, trông có vẻ như có một tộc người địa phương đã tiếp nhận và lựa chọn một số phong tục và tập quán được tạo ra tại Uruk. Những người dân làng trong lúc phải vật lộn với cuộc sống vất vả khó khăn, và khi chứng kiến sự thành công của các thành phố ở Lưỡng Hà có thể đã cho phép các thầy tu địa phương trở thành vua; và các thầy tu tham vọng, nhìn thấy các thủ lĩnh tôn giáo của Uruk có nhiều của cải và quyền lực, có lẽ đã thuyết phục, lừa gạt, hay hăm dọa người dân phải trao cho họ những quyền lực tương tự. Dù bằng cách nào, những người yêu thích cuộc sống làng quê chắc chắn nhận thấy khó có thể chống lại sự hình thành nhà nước, giống như những người sinh sống bằng hình thức hái lượm nhận thấy khó có thể chống lại nền nông nghiệp hàng nghìn năm trước đó.

Thần linh tạo ra người trần mắt thịt

Trong lúc những người nông dân đầu tiên đang vất vả với công việc đồng áng tại các vùng đồng bằng Lưỡng Hà vào khoảng năm 2000 TCN, những người dân dũng cảm hơn bắt đầu cuộc hành trình từ thung lũng Jordan băng qua sa mạc Sinai để thử vận may của họ dọc theo sông Nile. Ai Cập không có nhiều loại cây trồng bản địa có thể thuần dưỡng và tụt hậu so với vùng Hilly Flanks trong việc ứng dụng nông nghiệp, nhưng một khi các loại hạt giống và động vật thích hợp được du nhập, lối sống mới đã phát triển mạnh mẽ. Dòng sông Nile ngập lụt đúng vào thời điểm gieo trồng hằng năm, và các ốc đảo rộng lớn, có mưa nhiều đã hỗ trợ hoạt động nông nghiệp tiến sâu vào các vùng đất mà ngày nay là sa mạc.

Tuy nhiên, những lợi thế này cũng đồng nghĩa với sự biến mất của những trận gió mùa vào khoảng năm 3800 TCN, gây tác động đến Ai Cập thậm chí còn nặng nề hơn cả vùng Lưỡng Hà. Nhiều người Ai Cập phải rời bỏ các ốc đảo của mình để chen nhau đến vùng thung lũng sông Nile, nơi có nguồn nước dồi dào nhưng lại khan hiếm đất đai, đặc biệt đó là nơi thung lũng thu hẹp lại tại vùng Thượng Ai Cập.⦾ Giống như ở Lưỡng Hà, việc quản lý vẫn là giải pháp. Những ngôi mộ được khai quật cho thấy các trưởng làng ở Thượng Ai Cập giữ cả hai vai trò quân sự và tôn giáo. Các thủ lĩnh thành công trở nên giàu có khi ngôi làng của họ chiếm giữ thêm nhiều đất đai; những thủ lĩnh thất bại thì biến mất; và vào khoảng năm 3300 TCN, đã hình thành ba vương quốc nhỏ. Ở mỗi vương quốc đều có một nghĩa trang giàu có, nơi những vị vua đầu tiên của các quốc gia – nếu đó không phải là một danh hiệu quá lớn dành cho họ – an nghỉ trong những lăng mộ bắt chước kiến trúc vùng Lưỡng Hà cùng với vàng, vũ khí và các sản phẩm nhập khẩu từ Lưỡng Hà.

Các vương quốc đánh đấu lẫn nhau cho đến khi chỉ còn lại một vương quốc tồn tại vào khoảng năm 3100 TCN. Vào thời điểm đó, quy mô các công trình hoàng gia bùng nổ và chữ viết tượng hình đặc trưng Ai Cập bất ngờ xuất hiện. Công việc ghi chép có lẽ chỉ giới hạn một nhóm nhỏ các thư lại, giống như ở Lưỡng Hà, nhưng ngay từ đầu, các văn bản viết của Ai Cập đã bao gồm các bài tường thuật cũng như báo cáo hành chính. Một văn bản khắc đáng chú ý ghi rằng một vị vua vùng Thượng Ai Cập có tên Narmer đã chinh phục Hạ Ai Cập vào khoảng năm 3100 TCN, trong khi đó một văn bản khác cho rằng đã có sự tham gia của một người nào đó có tên là Vua Scorpion.⦾ Các văn bản sau này cũng đề cập tới một kẻ chinh phục tên là Menes (có lẽ chính là người có tên Narmer). Mặc dù các chi tiết khá rối, nhưng câu chuyện cơ bản rất rõ ràng: vào khoảng năm 3100 TCN, thung lũng sông Nile thống nhất thành một vương quốc rộng lớn nhất thời đó, với khoảng một triệu thần dân.

Nền văn hóa vật thể Thượng Ai Cập nhanh chóng lan rộng xuống thung lũng sông Nile sau năm 3100 TCN. Cùng với sự mở rộng nền nông nghiệp hàng nghìn năm trước đó và sự lan rộng của nền văn hóa Uruk ở Lưỡng Hà đương thời, người dân Hạ Ai Cập có thể (tự nguyện hoặc không cần cạnh tranh) đã bắt chước lối sống của người dân Thượng Ai Cập. Tuy nhiên, lần này cũng có bằng chứng rõ ràng rằng dân số Thượng Ai Cập, được tổ chức thành một quốc gia, đã tăng nhanh hơn so với các tộc người sống thành làng ở vùng Hạ Ai Cập, và sự thống nhất chính trị đã bao gồm phần nào quá trình thực dân hóa từ Nam xuống Bắc.

Mặc dù có quá nhiều điểm tương đồng, sự mở rộng của Uruk ở Lưỡng Hà vào khoảng sau năm 3500 TCN và sự mở rộng của Thượng Ai Cập vào khoảng sau năm 3300 TCN đã có những hệ quả khác nhau. Trước tiên, ngay khi Narmer/Menes/Vua Scorpion đang chinh phục Hạ Ai Cập vào khoảng năm 3100 TCN, thì sự bành trướng của Uruk bỗng kết thúc một cách đột ngột. Uruk bị tàn lụi và hầu hết các vùng đất mới có nền văn hóa vật thể phong cách Uruk trở nên hoang phế. Lý do điều này xảy ra vẫn còn là một bí ẩn. Khi các văn bản bắt đầu ghi chép thêm nhiều thông tin, vào khoảng năm 2000 TCN, cư dân miền Nam Lưỡng Hà, ngày nay họ gọi mình là người Sumer, được chia thành 35 thành bang, mỗi thành bang có riêng một vị vua-như-thần-linh cai trị. Sự tan rã của Uruk đã để lại một Ai Cập thống nhất có vai trò như một vùng lõi phương Tây chính yếu.

Đến nay vẫn chưa giải thích được tại sao Ai Cập và vùng Lưỡng Hà lại khác nhau. Có lẽ Ai Cập, với vùng châu thổ và thung lũng của một con sông duy nhất, một vài ốc đảo, và sa mạc bốn bề, dễ bị chinh phục và chiếm đóng hơn Lưỡng Hà, với hai con sông và nhiều phụ lưu, nơi sự kháng cự có thể quyết liệt hơn và các ngọn đồi xung quanh đây rẫy những đối thủ có tiềm lực. Hoặc có lẽ Narmer và những người khác đưa ra những quyết định tốt hơn những vị vua hiện chưa biết tên tuổi của Uruk. Hoặc có lẽ một vài yếu tố hoàn toàn khác nào đó đã đóng vai trò quyết định. (Tôi sẽ trở lại vấn đề này ở phần sau.)

Có một sự khác biệt lớn nữa giữa vùng Lưỡng Hà và Ai Cập. Trong lúc các vị vua Sumer tuyên bố mình giống các vị thần, thì các vua Ai Cập tuyên bố mình là những vị thần. Bộ phim truyền hình nhiều tập Stargate (Cánh cổng vũ trụ) dựa trên các cuốn sách của von Däniken, đưa ra lời giải thích đơn giản: Narmer và những người tùy tùng của ông thực sự là những người ngoài hành tinh, trong khi các vị vua Uruk chỉ là bạn bè của những người ngoài hành tinh. Nhưng cũng dễ hiểu không kém đó là không có bằng chứng nào để chứng minh điều này, và khá nhiều ý kiến cho rằng các pharaoh (tên gọi các vị vua Ai Cập) thực tế rất nỗ lực quảng bá hình ảnh thần thánh của riêng mình.

Hiện tượng tự phong thần khiến chúng ta có ấn tượng như một chứng loạn thần, và cũng không phải là điều thông thường ở 5.000 năm trước đây. Vậy nó đã diễn ra như thế nào? Narmer và những người ủng hộ ông không để lại một văn bản nào (các vị thần không cần phải giải thích bản thân họ), và manh mối tốt nhất của chúng ta xuất phát từ những câu chuyện rất lâu sau này về Alexander Đại đế của vương quốc Macedonia. Alexander xâm chiếm Ai Cập vào khoảng năm 332 TCN đồng thời ông cũng tự xưng là pharaoh. Bị vướng vào cuộc đấu tranh quyền lực với các viên tướng của mình, ông nhận thấy việc lan truyền tin đồn rằng mình, giống như các pharaoh trước đó, đúng là một vị thần là điều rất hữu ích. Rất ít người Macedonia cho rằng đó là vấn đề quan trọng, vì vậy Alexander đã tăng phần đặt cược của mình. Khi quân đội của ông tiến đến vùng đất mà ngày nay là Pakistan, ông cho triệu tập 10 vị hiền triết địa phương và ra lệnh cho họ – sẽ bị xử chết nếu không vâng lệnh – trả lời những câu hỏi thâm thúy nhất của ông. Khi tiến gần đến vị hiền triết thứ bảy, Alexander hỏi: “Làm thế nào để một người có thể trở thành một vị thần?” Vị hiền triết trả lời một cách giản đơn: “Bằng cách làm điều gì đó mà một con người không thể làm được.”❖ Thật dễ để chúng ta có thể tưởng tượng hình ảnh Alexander gãi đầu và tự hỏi: “Liệu ta có biết gần đây có người nào đã làm điều gì mà không ai có thể làm được?” Câu trả lời, có thể ông ta nói với chính mình, là rất rõ ràng: “Có. Chính ta. Ta vừa lật đổ Đế quốc Ba Tư. Không một người nào có thể làm điều đó. Ta là một vị thần và ta nên loại bỏ mặc cảm tội lỗi về việc giết chết bạn bè khi bọ có mâu thuẫn với ta.”

Bằng nhiều cách, Alexander hay những người ủng hộ ông ta có thể đã dựng lên toàn bộ câu chuyện, nhưng theo cách mà tính xác thực của câu chuyện ít quan trọng hơn thực tế rằng vào những năm 320 TCN, cách tốt nhất để một vị vua thuyết phục ý tưởng ông ta là thần thánh chính là thông qua kỹ năng quân sự siêu phàm. Chúng ta chỉ có thể đoán liệu đây có phải là cách tốt nhất ở thời điểm cách đây 3.000 năm hay không, nhưng khi thống nhất vùng thung lũng sông Nile, Vua Scorpion, Narmer và hoặc Menes chắc chắn đã làm được những điều mà không một con người nào có thể làm được. Có lẽ sự hợp nhất một vị vua-thần linh và một nhà chinh phục vĩ đại đã giúp cho việc tự phong thần trở nên hợp lý và đáng tin.

Và đây không phải là hành động táo bạo duy nhất mà các pharaoh đã nỗ lực thành công. Chắn hẳn các vị vua đầu tiên của Thượng Ai Cập đã phát triển kỹ năng quản lý giống như các vị vua của thành Uruk, thuyết phục người dân cung cấp các nguồn lực và chấp nhận sự quản lý trung ương, nhưng các pharaoh bấy giờ đã kết nạp các thành phần ưu tú khắp vùng thung lũng sông Nile vào các vị trí quản lý của họ. Các pharaoh cho xây dựng một kinh đô mới ở Memphis, một vị trí chiến lược nằm giữa Thượng Ai Cập và Hạ Ai Cập, và mời những người có địa vị xã hội cao đến với họ. Tại Memphis, các pharaoh tiến hành bảo trợ các nhà quý tộc nhỏ tin tưởng vào các ưu đãi của hệ thống nhằm duy trì hệ thống hoạt động. Các lãnh chúa địa phương thu lợi tức từ những người nông dân, cố gắng thu nhiều hết mức có thể mà không làm cho cuộc sống của người nông dân trở nên kiệt quệ, rồi chuyển nguồn thu đó lên cấp cao hơn, và đổi lại, họ nhận được các đặc ân của hoàng gia.

Sự thành công của các pharaoh một phần dựa vào sự vận động chính trị và nguyên tắc có qua có lại, và một phần dựa vào vẻ lộng lẫy bên ngoài, và vì lý do đó, việc trở thành những vị thần, chứ không phải chỉ là bằng hữu của họ chắc chắn sẽ khiến cho mọi thứ trở nên dễ dàng hơn. Liệu một nhân vật có quyền thế nào ở địa phương lại không muốn làm việc cho một vị thần: Tuy nhiên, để chọn sự an toàn, các pharaoh cũng đã tạo ra một loại ngôn ngữ tượng hình có ảnh hưởng mạnh mẽ. Không lâu sau năm 2700 TCN, các họa sĩ của Pharaoh Djoser thiết kế các phong cách khắc chữ tượng hình và tượng trưng cho các vị vua-thần và nó đã tồn tại suốt 500 năm. Pharaoh Djoser hiểu được sự tinh tế mang tính thần học của một người bất tử được cho là cũng phải chết, nên đã tạo ra một biểu tượng tối cao của vương quyền Ai Cập – kim tự tháp – để lưu giữ thi thể linh thiêng. Đại Kim tự tháp cao 137m của vua Khufu, được xây dựng vào khoảng năm 2550 TCN, vẫn là công trình cao nhất thế giới cho đến khi Giáo đường Cologne ở Đức xô đổ kỷ lục này vào năm 1880. Tuy nhiên, nó vẫn là một công trình nặng nhất, với trọng lượng khoảng một triệu tấn. Hàng nghìn lao động đã tham gia xây dựng kim tự tháp đó trong nhiều thập niên, họ khai thác đá, dùng bè chở đá xuôi theo sông Nile, và kéo từng khối đá vào vị trí của nó. Nơi được gọi là ngôi làng của người lao động nằm dưới chân các kim tự tháp trở thành một trong những thành phố lớn nhất thế giới vào thời kỳ đó. Việc nuôi sống người lao động và điều chuyển họ giữa các khu vực đòi hỏi một bước đột phá về quy mô và tầm vóc của bộ máy hành chính, và việc tham gia vào các kíp thợ chắc chắn là một trải nghiệm hoàn toàn mới đối với những người dân làng quê có lẽ chưa bao giờ rời khỏi ngôi nhà của mình trước đây. Nếu còn ai đó nghi ngờ tính thần thánh của các pharaoh trước khi các kim tự tháp xuất hiện, chắc chắn họ sẽ không còn dám nghĩ thế nữa sau khi nhìn thấy các kim tự tháp.

Các thành bang của người Sumeria ở vùng Lưỡng Hà chuyển động theo các hướng tương tự nhưng chậm hơn và thận trọng hơn. Các văn bản miêu tả, mỗi thành phố được chia thành các hộ gia đình bao gồm nhiều gia đình một vợ một chồng. Mỗi hộ gia đình có một gia đình đứng đầu có trách nhiệm tổ chức đất đai và lao động của hộ. Các gia đình khác được phân công thực hiện các công việc khác nhau, một số làm việc trên cánh đồng, và một số khác làm những nghề thủ công, họ phải hoàn thành phần việc được giao để đổi lấy các khẩu phần ăn. Các hộ gia đình lớn nhất và giàu có nhất, về mặt lý thuyết, do các vị thần cai quản, và họ có thể kiểm soát hàng nghìn hecta đất đai và hàng trăm lao động. Những người đàn ông quản lý các hộ gia đình thay cho các vị thần thường là những người cai quản thành phố, với nhà vua cai quản hộ gia đình của vị thần bảo trợ thành phố. Công việc của nhà vua là nâng cao quyền lợi của vị thần bảo trợ. Nếu nhà vua làm tốt, vị thần bảo trợ của ông chắc chắn cũng hưng thịnh; nếu nhà vua không làm tốt, kho tài sản của vị thần bảo trợ cũng hao hụt theo.

Khoảng sau năm 2500 TCN, điều này bắt đầu trở thành vấn đề. Nền nông nghiệp cải tiến cho phép người dân nuôi sống gia đình có đông người hơn, và sự gia tăng dân số thúc đẩy cạnh tranh để sở hữu đất đai màu mỡ hơn và có phương pháp chiến đấu hiệu quả hơn để giành chiến thắng. Một số thành phố đánh bại và tiếp quản các thành phố khác. Những ý nghĩa mang tính thần học cũng gai góc không kém gì cái chết của các vị vua-thần Ai Cập: nếu một vị vua chăm lo quyền lợi của vị thần bảo trợ mình, thì sẽ như thế nào nếu một vị vua khác, đại diện cho một vị thần khác, kiểm soát các quyền lợi đó? Một số giáo sĩ để xuất học thuyết thành phố – đền thờ, tạo ra một hệ thống thứ bậc tôn giáo và để các quyền lợi của các vị thần không phụ thuộc vào các vị vua nữa. Các vị vua thành công phản ứng lại bằng cách tuyên bố mình còn là người đại diện cho nhiều thứ khác chứ không chỉ các vị thần mà thôi. Vào khoảng năm 2440 TCN, một vị vua đã tuyên bố mình là con trai của vị thần bảo trợ mình, và các bài thơ bắt đầu lưu truyền câu chuyện về chuyến hành trình ra khỏi thế giới này của vua Gilgamesh, người cai trị thành Uruk, để tìm kiếm sự bất tử. Những bài thơ này hợp lại thành Epic of Gilgamesh (Thiên sử thi Gilgamesh), một kiệt tác văn học cổ xưa nhất trên thế giới còn sót lại.

Các nhà cai trị tìm kiếm các địa điểm mới để thể hiện quyền uy của mình, và Nghĩa trang Hoàng gia của thành Ur, một di tích khảo cổ lớn nhất từng được phát hiện tại Lưỡng Hà có lẽ là một trong những địa điểm đó. Các hiện vật bằng vàng và bạc độc đáo chôn theo người chết, giống như các kim tự tháp của các pharaoh, gợi ý một tầm vóc lớn hơn cái chết dành cho người quá cố; và việc 74 người bị đầu độc để đi theo Nữ hoàng Puabi sang thế giới bên kia cho thấy các cuộc đấu tranh về mối quan hệ của những người cai trị với các vị thần có thể là tin xấu cho những thường dân Sumeria.

Xung đột lên đến đỉnh điểm vào khoảng năm 2350 TCN. Nhiều cuộc đảo chính đầy bạo lực, nhiều cuộc chinh phạt vũ trang, và phân chia lại tài sản và các quyền thiêng liêng đã diễn ra rộng khắp. Vào khoảng năm 2334 TCN, một nhân vật tên Sargon (có nghĩa là nhà cai trị hợp pháp, có lẽ ông ta lấy tên này sau khi nắm giữ quyền lực) cho xây dựng một thành phố mới có tên là Akkad. Có thể nó nằm bên dưới thành phố Baghdad, và – không có gì đáng ngạc nhiên – hiện vẫn chưa được khai quật, nhưng những phiến đất sét từ các di chỉ khảo cổ khác nói rằng thay vì chiến đấu chống lại các vị vua Sumeria khác, Sargon tiến hành các hoạt động cướp phá Syria và Lebanon cho đến khi ông có đủ của cải để nuôi sống một đội quân thường trực 5.000 người. Sau đó ông bất ngờ chuyển sang tấn công các tộc người Sumeria khác, kiểm soát các thành phố của họ thông qua ngoại giao và bạo lực.

Sách giáo khoa thường cho Sargon là người xây dựng đế chế đầu tiên trên thế giới, nhưng những gì ông và những người kế vị Đế chế Akkad thực hiện không khác gì so với những người thống nhất Ai Cập đã làm trước đó tám thế kỷ. Bản thân Sargon không trở thành một vị thần, nhưng sau khi đánh bại một cuộc nổi dậy vào khoảng năm 2240 TCN, người cháu trai Naram-Sin của ông tuyên bố rằng tám vị thần của Sumer muốn ông đứng vào hàng ngũ của họ. Các nghệ sĩ Sumer mô tả Naram-Sin là một người có sừng và có vóc dáng to lớn hơn người thật, những thuộc tính truyền thống của thần linh.

Vào khoảng năm 2230 TCN, hai vùng lõi phương Tây ở Sumeria và Ai Cập đã phủ khuất vùng lõi nguyên thủy Hilly Flanks. Để đối phó với các vấn đề sinh thái, người dân tạo ra các thành phố; để đối phó lại sự cạnh tranh giữa các thành phố, họ tạo ra các quốc gia hùng mạnh với dân số hàng triệu người được trị vì bởi các vị thần hay các vị vua-thần và được quản lý bằng các bộ máy hành chính quan liêu. Khi các cuộc đấu tranh tại vùng lõi thúc đẩy sự phát triển xã hội đi lên, một mạng lưới các thành phố trải dài khắp các làng mạc nông nghiệp thô sơ hơn ở Syria và vùng Levant đồng thời xuyên qua Iran đến biên giới Turkmenistan hiện tại. Trên đảo Crete, người dân cũng sớm bắt đầu xây dựng các cung điện; những đền thờ bằng đá uy nghi vươn cao lên bầu trời ở Malta; và các thành phố có thành lũy bảo vệ mọc lên rải rác khắp vùng ven biển phía đông nam Tây Ban Nha. Xa hơn về phía bắc và phía tây, người nông dân đã định cư ở toàn bộ các khu vực có thể trồng trọt được, và ở rìa xa nhất của thế giới phương Tây, nơi Đại Tây Dương đưa những con sóng vào bờ biển lạnh giá của nước Anh, người dân đầu tư khoảng 30 triệu giờ công cho một công trình bí ẩn nhất, Stonehenge. Nếu một người ngoài hành tinh của von Däniken viếng thăm trái đất vào khoảng năm 2230 TCN có lẽ sẽ kết luận rằng không còn nhu cầu can thiệp từ người ngoài hành tinh nữa: những con tinh tinh thông minh này đang thúc đẩy sự phát triển xã hội đi lên một cách vững chắc.

Phương Tây hoang dã

Nếu thực hiện một chuyến hành trình trở lại trái đất 50 năm sau đó, người ngoài hành tinh lại sẽ bị sốc. Từ đầu này cho đến đầu kia của vùng lõi phương Tây, các quốc gia đang dần tan rã và người dân thì chiến đấu và rời bỏ nhà cửa của họ. Trong 1.000 năm tiếp theo, một loạt những trì trệ (một từ trung tính đề cập đến hàng loạt các vụ thảm sát kinh hoàng, nỗi thống khổ, sự tháo chạy, và tình trạng thiếu thốn) đã đẩy phương Tây đến với một hành trình hoang dã. Và khi chúng ta hỏi rằng ai và điều gì đã cản trở phát triển xã hội, chúng ta sẽ nhận được câu trả lời đáng kinh ngạc: chính sự phát triển xã hội chịu trách nhiệm về điều này.

Một trong những phương thức chính mà người ta cố gắng cải thiện số phận của mình là lưu chuyển thông tin, hàng hóa và bản thân họ. Những gì dư thừa ở nơi này có thể đang khan hiếm – và quý giá – ở nơi khác. Hệ quả là các mạng lưới ngày càng trở nên phức tạp, trói buộc các cộng đồng lại với nhau, và vận hành ở mọi tầng lớp xã hội. Bốn nghìn năm trước, các đền thờ và cung điện sở hữu những vùng đất tốt nhất, và thay vì chia số đất đai cho các gia đình nông dân, để mỗi gia đình trồng trọt mọi thứ họ cần, các bộ máy hành chính tập quyền bám chặt vào số đất đai này và buộc người dân trồng trọt theo những gì họ yêu cầu. Một ngôi làng có đất đai màu mỡ có thể chỉ trồng lúa mì, trong khi một ngôi làng ở sườn đồi thì trồng nho, và ngôi làng thứ ba thì chuyên làm đồ kim loại; và các quan chức quản lý tái phân phối các sản phẩm đó, họ chọn những sản phẩm tốt nhất dành riêng cho mình, dự trữ một phần để đối phó với các trường hợp khẩn cấp và chia số còn lại thành từng khẩu phần. Điều này diễn ra tại Uruk vào khoảng năm 3500 TCN; 1.000 năm sau, nó đã trở thành một chuẩn mực.

Những vị vua cũng tặng nhau những món quà mang tính tư lợi. Các pharaoh Ai Cập, vốn có nhiều vàng và ngũ cốc, tặng các sản phẩm này cho những tiểu vương ở các thành phố vùng Lebanon, và những người này đáp lễ bằng việc tặng lại các loại gỗ tuyết tùng thơm, do Ai Cập thiếu gỗ tốt. Việc không tặng một món quà thích hợp là sự vi phạm nghiêm trọng quy ước xã hội. Việc trao đổi quà tặng xuất phát từ tâm lý và mối bận tâm về địa vị cũng như về kinh tế, nhưng nó đã lưu chuyển hàng hóa, con người và các ý tưởng ra khắp nơi một cách hiệu quả. Những vị vua đứng đầu các chuỗi giao dịch này cũng như rất nhiều thương nhân trung gian đều trở nên giàu có.

Ngày nay chúng ta có khuynh hướng cho rằng các nền kinh tế chỉ huy với một vị vua, nhà độc tài, hoặc bộ chính trị ban lệnh cho mọi người phải làm những gì là không hiệu quả, nhưng hầu hết các nền văn minh đầu tiên đều phụ thuộc vào chúng. Có lẽ trong một thế giới thiếu vắng lòng tin và luật pháp để giúp thị trường hoạt động tốt, các nền kinh tế chỉ huy có thể là lựa chọn tốt nhất sẵn có. Nhưng nó chưa bao giờ là lựa chọn duy nhất, và các thương nhân độc lập khiêm tốn hơn luôn phát triển hưng thịnh cùng với các cơ sở kinh doanh của hoàng gia và giới giáo sĩ. Những người láng giềng trao đổi pho mát để lấy bánh mì hoặc giúp đào hố xí để đổi lấy việc giữ trẻ. Người dân thành thị và nông thôn tiến hành các hoạt động giao thương tại các điểm hội chợ. Thợ thiếc chất các loại xoong chảo trên lưng lừa và rong ruổi trên các con đường. Và tại các vùng biên ải của một vương quốc, nơi các cánh đồng gieo hạt chìm dần vào sa mạc hoặc đồi núi, người dân làng trao đổi bánh mì và vũ khí bằng đồng để lấy đàn gia súc hoặc các sản phẩm sữa, pho mát, len và động vật.

Văn bản được biết đến nhiều nhất mô tả các hoạt động này là Kinh Thánh Hebrew. Jacob là một người chăn cừu thành công trên các sườn đồi gần Hebron, khu Bờ Tây ngày nay. Ông có 12 người con trai, nhưng vì thiên vị, ông đã tặng người con trai thứ 11 – Joseph – một chiếc áo khoác màu sắc sặc sỡ. Trong cơn giận dữ vì ghen tị, 10 người anh trai của Joseph đã bán đứa con trai yêu dấu ăn mặc lòe loẹt của cha chúng cho những người buôn nô lệ đang trên đường đến Ai Cập đi ngang qua nhà. Vài năm sau, khi Hebron khan hiếm lương thực, Jacob đem theo 10 người con đến Ai Cập để trao đổi ngũ cốc. Họ không biết rằng viên thống đốc mà họ gặp chính là người em trai Joseph của họ, dù chỉ là một nô lệ, nhưng người em đã thăng tiến trong quá trình phục vụ cho pharaoh (sau thời gian bị tống giam vì tội cố ý hãm hiếp, nhưng rõ ràng ông bị người ta vu khống). Trong câu chuyện minh họa hoàn hảo sự khó khăn của việc biết khi nào thì nên tin tưởng các thương nhân, những người anh không tỏ ra ngạc nhiên khi người em Joseph đã cải trang và cho rằng họ là những gián điệp và ném họ vào ngục. Tuy nhiên, câu chuyện kết thúc có hậu đối với Jacob, các con trai của ông và tất cả những người đến Ai Cập. Kinh Thánh kể rằng “ở đó họ tạo dựng được nhiều của cải, thành đạt và có nhiều con cái.”❖

Câu chuyện về Joseph có lẽ được đặt trong bối cảnh của thế kỷ XVI TCN, vào thời kỳ đó, những người mà ngày nay không ai còn biết đến tên tuổi của họ đã theo một kịch bản chung suốt 2.000 năm. Người Amorite từ vùng ven sa mạc Syria và người Gutian từ các vùng núi của Iran, đến hành nghề buôn bán và lao động, là những khuôn mặt quen thuộc ở các thành phố của vùng Lưỡng Hà; tương tự như Asiatics (các tộc người châu Á), thuật ngữ chung có tính khinh miệt được người Ai Cập sử dụng, ở thung lũng sông Nile. Phát triển xã hội ngày càng tăng đã gắn kết các nền kinh tế, xã hội và văn hóa ở những vùng lõi với các nền kinh tế, xã hội và văn hóa của các khu vực láng giềng, dẫn đến việc mở rộng thêm các vùng lõi, nâng cao việc làm chủ môi trường sống và thúc đẩy phát triển xã hội. Nhưng cái giá của sự phức tạp ngày càng tăng là sự mỏng manh cũng ngày càng tăng. Đây là, và vẫn là, tâm điểm của nghịch lý phát triển xã hội.

Vào khoảng năm 2200 TCN, khi vị vua thần thánh Sharkalisharri, con của vua-thần Naram-Sin, cai trị một phần lớn đất đai vùng Lưỡng Hà từ cung điện của mình ở Akkad, đã phát sinh điều bất ổn, và Harvey Weiss, chuyên gia khảo cổ của Đại học Yale tham gia khai quật di chỉ Tell Leilan ở Syria, nghĩ rằng ông biết điều bất ổn đó là gì. Tell Leilan là một thành phố có 20.000 cư dân vào thời vua Sargon, khoảng năm 2300 TCN, nhưng đã trở thành một thành phố ma một thế kỷ sau đó. Trong quá trình tìm kiếm lời giải thích, các nhà địa chất trong nhóm của Weiss phát hiện từ các nghiên cứu trầm tích dưới kính hiển vi rằng, lượng bụi trong đất tại Tell Leilan và các khu vực lân cận tăng mạnh ngay trước năm 2200 TCN. Các hệ thống kênh tưới tiêu bị bồi lấp, có lẽ là do lượng mưa giảm khiến người dân bỏ đi nơi khác.

Cách đó hơn 1.500km, tại thung lũng sông Nile, cũng xuất hiện điều gì đó bất ổn. Trong câu chuyện về Joseph, pharaoh dựa vào người giải thích giấc mơ để tiên đoán sản lượng nông nghiệp, nhưng các pharaoh có một dụng cụ có tên gọi là Lũ kế sông Nile (Nilometer), để đo mực nước lũ của dòng sông và đưa ra cảnh báo sớm về các vụ mùa bội thu hay thất thu. Các bản khắc chữ ghi lại một vài chỉ số cho thấy số lượng các đợt lũ giảm mạnh vào khoảng năm 2200 TCN. Đồng thời Ai Cập cũng trở nên khô hạn hơn.

Trở lại vào thời điểm khoảng năm 3800 TCN, thời tiết khô ráo hơn đã dẫn dắt Uruk đến sự vĩ đại và bắt đầu tiến hành các cuộc chiến tranh thống nhất Ai Cập, nhưng trong một thế giới phức tạp hơn và liên kết nhiều hơn vào cuối thiên niên kỷ thứ ba TCN, việc bỏ hoang các khu vực như Tell Leilan cũng có nghĩa là lấy đi công việc kinh doanh mà người Amorite và người châu Á phụ thuộc vào. Sự việc diễn ra như thể những người anh em của Joseph đến Ai Cập để mua ngũ cốc nhưng không tìm thấy ai. Có thể họ quay lại Hebron và nói với cha mình rằng người em đã bị chết đói, hoặc có thể họ tiến xa hơn vào vùng đất của pharaoh để buôn bán hay làm việc để kiếm lương thực nếu có thể được, đồng thời cũng có thể họ đã chiến đấu hoặc ăn cắp lương thực khi không thể kiếm ra.

Trong những trường hợp khác, các nhóm dân quân Akkad và Ai Cập có thể đã sát hại những kẻ phiền toái đó (những người di cư kinh tế hoặc những kẻ phạm tội, tùy thuộc quan điểm của bạn), nhưng vào khoảng năm 2200 TCN, các lực lượng vũ trang này đã tự tan rã. Một số người dân Lưỡng Hà đã xem các vị vua Akkad của họ là những kẻ chinh phục tàn nhẫn, và khi Sharkalisharri thần thánh không thể giải quyết tốt những vấn đề mà ông đối mặt trong thập niên 2190 TCN, nhiều gia đình giáo sĩ đã ngừng hợp tác với ông. Quân đội của ông tan rã; các tướng lĩnh tự xưng vương và các nhóm người Amorite chiếm lĩnh toàn bộ các thành phố. Trong chưa đầy một thập niên, đế chế tan rã. Chính mỗi thành phố phải tự lo cho mình – như lời một nhà biên niên sử người Sumeria: “Rồi thì ai là vua? Ai không phải là vua?”❖

Tại Ai Cập, căng thẳng giữa triều đình và tầng lớp quý tộc cũng đã tăng lên, và vua Pepy II, người đã nắm giữ ngai vàng trong suốt 60 năm, tỏ ra không có khả năng đương đầu với các thách thức. Trong khi các triều thần của ông âm mưu chống lại ông và chống đối lẫn nhau, giới tinh hoa địa phương đã tự mình giải quyết các vấn đề. Vào thời điểm một cuộc chính biến nổ ra và dẫn đến sự ra đời một triều đại mới tại vùng Hạ Ai Cập khoảng năm 2160 TCN, đã có hàng chục lãnh chúa độc lập và các nhóm người châu Á bất trị hoành hành khắp vùng nông thôn. Tệ hơn nữa, các giáo sĩ tối cao của đại đền thờ Amen tại Thebes ở Thượng Ai Cập dần dần đảm nhận các quyền hạn lớn và quan trọng hơn, và cuối cùng đã sa vào cuộc nội chiến với pharaoh của Hạ Ai Cập.

Vào khoảng năm 2150 TCN, Ai Cập và Akkad chia thành các tiểu quốc, những tiểu quốc này chiến đấu chống lại những kẻ sống ngoài vòng pháp luật và đánh phá lẫn nhau để tranh giành sản lượng lương thực ngày càng ít ỏi của người nông dân. Một số thủ lĩnh quân sự trở nên giàu có, nhưng giọng điệu chung của một số văn bản còn lưu lại là tuyệt vọng. Cũng có những dấu hiệu cho thấy cuộc khủng hoảng đã có những tác động vượt ra khỏi vùng lõi. Các nhà khảo cổ khó biết được khi nào các sự kiện tại một khu vực lại có liên quan đến các sự kiện một khu vực khác, và chúng ta cũng đừng bao giờ đánh giá thấp sự trùng hợp ngẫu nhiên giản đơn, nhưng thật khó để không phát hiện ra một khuôn mẫu tổng quát hơn trong sự tàn phá khủng khiếp các công trình lớn nhất ở Hy Lạp, sự kết thúc của các ngôi đền ở Malta, và sự bỏ hoang các pháo đài ven biển ở Tây Ban Nha, tất cả đều diễn ra trong giai đoạn năm 2200-2150 TCN.

Các hệ thống lớn hơn và phức tạp hơn của vùng lõi phương Tây phụ thuộc vào dòng chảy liên tục của con người, hàng hóa và thông tin, và những biến đổi đột ngột – giống như thời tiết khô hạn hơn ở Tell Leilan hoặc tình trạng lão suy của vua Pepy – đã cắt ngang những dòng chảy đó. Những cản trở như hạn hán và các cuộc di cư sau năm 2200 TCN không bắt buộc phải gây ra tình trạng hỗn loạn, nhưng chúng đã thay đổi số phận lịch sử một cách hiệu quả. Chí ít trong ngắn hạn bất kỳ điều gì cũng có thể đã xảy ra. Nếu như Pepy có một cố vấn như Joseph, ông ta có thể biến những thời điểm khó khăn thành lợi thế cho mình; nếu Sharkalisharri cắt giảm những ưu đãi tốt hơn với các tướng lĩnh và các giáo sĩ của ông, đế chế của ông có thể sẽ còn kéo dài. Thay vào đó, kết quả chính ở Lưỡng Hà là thành phố Ur đã lợi dụng sự sụp đổ của thành phố Akkad để lập ra một đế chế mới, nhỏ hơn Đế chế Akkad nhưng được biết đến nhiều hơn do các viên chức hành chính cao hứng lập ra quá nhiều biên lai thuế. Có đến 4.000 biên lai được công bố, và hàng nghìn biên lai nữa đang chờ đợi nghiên cứu.

Shulgi, người giành ngai vàng thành Ur vào khoảng năm 2094 TCN, tự xưng là một vị thần và tạo ra sự sùng bái cá nhân. Thậm chí ông còn đưa ra một loại hình âm nhạc mới cho Ur, gọi là Tụng ca Shulgi, để ca ngợi tài năng của mình trong mọi lĩnh vực, từ việc ca hát cho đến khả năng tiên tri và khiến ông có vẻ giống hệt chân dung nhà lãnh đạo kiêm đạo diễn điện ảnh Bắc Triều Tiên Kim Jong Il. Tuy nhiên, bất chấp tài năng của Shulgi, chỉ vài năm sau khi ông qua đời năm 2047 TCN, đế chế của ông cũng bị sụp đổ. Vào thập niên 2030 TCN, những cuộc cướp bóc trở thành vấn đề nghiêm trọng đến mức Ur buộc phải xây dựng một bức tường thành dài hàng trăm kilomet để ngăn chặn người Amorite, nhưng vào khoảng năm 2028 TCN, các thành phố bắt đầu rút khỏi hệ thống thuế khóa của Ur và nền tài chính quốc gia sụp đổ vào năm 2020 TCN. Lặp lại sự sụp đổ của Akkad, nạn đói bắt đầu hoành hành khi một số tướng lĩnh nỗ lực trưng thu ngũ cốC cho thành Ur, trong khi một số khác lại tuyên bố độc lập. “Nạn đói tràn ngập thành phố như nước lũ,” một bài thơ Sumeria có tựa đề The Lamentation over Ur (Thương khóc thành Ur) mô tả, “người dân thành phố như đang bị nước lũ vây quanh, họ sống ngắc ngoải. Vị vua cô độc nặng nề thở dốc trong cung điện, mọi thần dân đều buông vũ khí…”❖ Đến khoảng năm 2004 TCN, những kẻ cướp bóc tàn phá thành Ur và đẩy vị vua cuối cùng của thành phố vào kiếp nô lệ.

Tuy nhiên, trong lúc Lưỡng Hà tan rã từng mảnh thì Ai Cập lại tái hợp. Các giáo sĩ tối cao của thành Thebes ở vùng Thượng Ai Cập, lúc bấy giờ giữ vai trò như những vị vua, đánh bại các đối thủ chính của họ vào khoảng năm 2056 TCN và làm chủ toàn bộ vùng thung lũng sông Nile vào năm 2040 TCN. Vào khoảng năm 2000 TCN, vùng lõi phương Tây trông giống như hình ảnh của chính nó 1.000 năm trước, với Ai Cập được thống nhất dưới sự trị vì của một vị vua-thần và vùng Lưỡng Hà bị chia tách thành các thành bang nằm dưới sự cai trị của các vị vua mà cùng lắm thì cũng chỉ giống thần linh mà thôi.

Đến thời điểm này, hơn 4.000 năm trước, hành trình gây choáng váng và hoang dại của vùng lõi phương Tây đã hiển lộ một số lực lượng cơ bản thúc đẩy phát triển xã hội. Phát triển xã hội không phải là một món quà hay lời nguyền áp đặt lên nhân loại bởi khối đá linh thiêng của Clarke hay bởi những người ngoài hành tinh của von Däniken; nó là cái gì đó tự chúng ta tạo ra, nhưng không theo cách chọn lựa riêng của chúng ta mà thôi. Như tôi đã đưa ra trong phần giới thiệu, điểm mấu chốt đó là chúng ta lười biếng, tham lam và sợ hãi, luôn tìm kiếm những phương cách dễ dàng hơn, có lợi hơn, hay an toàn hơn để làm mọi thứ. Từ sự trỗi dậy của Uruk cho đến sự thống nhất Thebes của Ai Cập, tính lười biếng, tham lam, và/hoặc sợ hãi đã tạo mọi cú huých đi lên cho sự phát triển xã hội. Nhưng con người không thể thúc đẩy mọi thứ theo cách họ muốn; mỗi cú huých đều phụ thuộc tất cả những gì trước đó. Phát triển xã hội là quá trình tích lũy, là vấn đề của các bước gia tăng được thực hiện theo trình tự hợp lý. Có thể các thủ lĩnh của Uruk vào khoảng năm 3100 TCN không thể tổ chức được kiểu bộ máy hành chính mà Ur tự hào dưới thời vua Shulgi 1.000 năm sau đó, chẳng khác gì việc William Nhà Chinh Phục không thể chế tạo được máy tính ở nước Anh thời Trung cổ. Người Mỹ có câu châm ngôn rằng: Bạn không thể đến một nơi nếu cứ đi lòng vòng. Mẫu hình tích lũy này cũng giải thích lý do tại sao tăng trưởng trong phát triển xã hội tiếp tục tăng tốc: mỗi cải tiến đều dựa trên những cải tiến trước đó và đóng góp cho những cải tiến sau này, có nghĩa là phát triển xã hội càng cao, thì nó càng tiếp tục tăng nhanh.

Tuy nhiên, quá trình đổi mới không bao giờ diễn ra suôn sẻ. Đổi mới có nghĩa là thay đổi, nó mang lại niềm vui và nỗi đau ngang bằng nhau. Phát triển xã hội tạo ra kẻ thắng và người thua, các giai cấp giàu nghèo mới, các mối quan hệ mới giữa nam và nữ, giữa già và trẻ. Thậm chí phát triển xã hội còn tạo ra những vùng lõi hoàn toàn mới khi mà những lợi thế của sự lạc hậu mang lại quyền lực cho những người trước đây có địa vị thấp bé. Sự phát triển đó phụ thuộc vào các xã hội ngày càng mở rộng hơn, phức tạp hơn và khó quản lý hơn; xã hội phát triển càng cao, thì nó càng tạo ra nhiều mối đe dọa hơn cho chính nó. Do đó dẫn đến nghịch lý: phát triển xã hội tạo ra chính những lực lượng hủy hoại nó. Khi những lực lượng này trượt khỏi tầm kiểm soát – và đặc biệt khi một môi trường thay đổi nhân rộng tình trạng bất ổn – sự hỗn loạn, hủy hoại và sụp đổ có thể tiếp nối sau đó, như đã từng xảy ra vào khoảng năm 2200 TCN. Và như chúng ta sẽ thấy trong các chương tiếp theo, nghịch lý của phát triển xã hội giải thích phần lớn lý do tại sao các học thuyết chốt khóa dài hạn không thể chính xác.

Nhóm những người anh em

Bất chấp tình trạng hỗn loạn quét qua vùng lõi phương Tây sau năm 2200 TCN, đó vẫn không phải là thời khắc Hoàng hôn (Nightfall). Những sụp đổ sau năm 2200 TCN thậm chí không thể hiện trên đồ thị ở Hình 4.2.⦾ Điều đó có thể giảm bớt quy mô của sự trì trệ, nhưng dù có như thế, vẫn có một điều hết sức rõ ràng: vào khoảng năm 2000 TCN, phát triển xã hội ở phương Tây đã tăng gần 50% so với thời điểm năm 3000 TCN. Phát triển xã hội vẫn tiếp tục gia tăng và các xã hội phương Tây ngày càng bành trướng và phức tạp hơn.

Các vùng lõi cũng thay đổi theo những cách khác. Sau năm 2000 TCN, không một nhà cai trị Lưỡng Hà nào tự phong là thần linh nữa, và ngay cả tại Ai Cập, phần nào ánh hào quang cũng đã rời xa các pharaoh. Nghệ thuật điêu khắc và thi ca ở thiên niên kỷ thứ hai TCN khắc họa chân dung các pharaoh như những kẻ hiếu chiến, mệt mỏi và thất vọng hơn những pharaoh ở thiên niên kỷ thứ ba. Và trong tiến trình liên quan đó, quyền lực nhà nước đã bị thu hẹp: giờ đây mặc dù cung điện và đền thờ vẫn còn quan trọng, nhưng đất đai và các hoạt động thương mại đã nằm trong tay tư nhân nhiều hơn.

Tuy nhiên, lý do quan trọng nhất lý giải tại sao tình trạng trì trệ không quay trở lại thời kỳ đã qua chính là do vùng lõi vẫn tiếp tục mở rộng qua các cuộc khủng hoảng, thu hút những vùng ngoại vi tìm thấy những lợi thế mới trong sự lạc hậu đồng thời mở đường tiến vào vùng lõi. Từ Iran tới Crete, người ta bắt đầu áp dụng phong cách kiến trúc cung điện và nền kinh tế tái phân phối của Ai Cập và vùng Lưỡng Hà vào các vùng biên bất ổn và bạo lực thường xuyên với nền nông nghiệp được tưới tiêu bằng nước mưa. Nhìn chung, các vị vua ở vùng biên dựa nhiều hơn vào sức mạnh quân sự so các nhà cai trị ở các vùng lõi có nền nông nghiệp được tưới tiêu bằng hệ thống thủy lợi và ít vị vua tự xưng là thần linh hơn; có lẽ họ khó có thể giống thần linh khi các nhà cai trị của Ai Cập và Sumer trông vĩ đại hơn rất nhiều.

Một lần nữa, phát triển xã hội đã thay đổi ý nghĩa của địa lý. Việc tiếp cận một lưu vực sông rộng lớn là yếu tố then chốt cho sự phát triển thiên niên kỷ thứ ba TCN, nhưng ở thiên niên kỷ thứ hai, việc dựa vào vùng rìa phía bắc vùng lõi cũ thậm chí trở thành một lợi thế lớn hơn. Những người chăn nuôi gia súc ở Ukraine ngày nay đã thuần hóa ngựa vào khoảng năm 4000 TCN, và 2.000 năm sau, những người thuần hóa ngựa trên các thảo nguyên của Kazakhstan hiện đại bắt đầu thắng những con thú mạnh mẽ này vào những cỗ xe hai bánh gọn nhẹ. Một số ít người chăn nuôi gia súc rong ruổi khắp các thảo nguyên trên những cỗ xe ngựa này không quan tâm đến vùng lõi, nhưng nếu ai đó có đủ nguồn lực để mua và sở hữu hàng nghìn cỗ xe ngựa như thế, đó có thể là một câu chuyện khác. Những cỗ xe ngựa này không phải là những chiếc thiết giáp có thể xuyên thủng phòng tuyến của quân thù (theo cách các đạo diễn phim cổ trang thích khắc họa), nhưng những đội quân có nhiều cung thủ di chuyển trên những cỗ xe ngựa tốc độ cao lại có thể khiến các trận chiến xung sát lạc hậu giữa những lực lượng bộ binh trở nên lỗi thời.

Lợi thế của những cỗ xe ngựa dường như đã rõ ràng, nhưng các đội quân một khi đã quen với một hệ thống chiến thuật thường không thể nhanh chóng thích nghi với một hệ thống chiến thuật khác. Việc xây dựng một quân đoàn kỵ binh được huấn luyện tốt có thể khiến mọi lực lượng lục quân có kỷ luật cao rơi vào trạng thái hỗn loạn, nó tăng cường sức mạnh và quyền lực cho cả tầng lớp cai trị mới, và, mặc dù các bằng chứng còn chắp vá, theo đó cũng thấy người Ai Cập và vùng Lưỡng Hà, với hệ thống thứ bậc vững chắc, có thể đã ứng dụng các hệ thống chiến đấu mới, có điều là hơi chậm. Những nước miền Bắc mới xuất hiện, như tộc người Hurrian bí ẩn di cư đến miền Bắc Lưỡng Hà và Syria từ vùng Caucasus sau năm 2200 TCN, thường tỏ ra linh hoạt hơn. Việc người Hurrian gắn liền với thảo nguyên đã giúp họ tiếp cận dễ dàng với vũ khí mới, và có lẽ cơ cấu xã hội lỏng lẻo của họ ít cản trở sự tiếp nhận này. Cả họ lẫn các tộc người Kassite ở miền Tây Iran, người Hittite ở Anatolia⦾, người Hyksos ở Israel và Jordan hiện nay, và người Mycenaean ở Hy Lạp không được tổ chức tốt như Ai Cập hay thành Babylon ở Lưỡng Hà, nhưng sau một thời gian, điều đó không còn ý nghĩa nữa, vì những cỗ xe ngựa đã mang lại cho các tộc người định cư các vùng ngoại vi trước đây một lợi thế vượt trội trong chiến tranh đến mức họ có thể đánh phá hay thậm chí kiểm soát các tộc người láng giềng lâu đời và giàu có hơn. Tộc người Hyksos dần dần tiến vào Ai Cập, xây dựng thành bang riêng của mình vào khoảng năm 1720 TCN và chiếm đoạt ngai vàng vào khoảng năm 1674 TCN. Vào khoảng năm 1595 TCN, người Hittite đánh phá Babylon, và không lâu sau, người Kassite đã đánh chiếm các thành phố ở vùng Lưỡng Hà. Vào khoảng năm 1500 TCN, người Hurrian lập ra một một vương quốc có tên là Mittani và người Mycenaean thôn tính Crete (Hình 4.4).

Đây là những thời kỳ bất ổn, nhưng về lâu dài, những biến động này chỉ giúp mở rộng thêm vùng lõi chứ không hề kéo lùi sự phát triển. Tại Lưỡng Hà, hệ quả chính của sự nô dịch hóa, trục xuất, thảm sát và tước đoạt đó là những tộc người nhập cư từ phương bắc đã thay thế các nhà cai trị địa phương. Tại Ai Cập, nơi phe nổi dậy do người Thebes lãnh đạo đã đánh đuổi tộc người Hyksos ra khỏi vùng đất này vào khoảng năm 1552 TCN, thậm chí mọi thứ vẫn không thay đổi nhiều. Nhưng đến khoảng năm 1500 TCN, nhiều vương quốc mới đã thành hình trên khắp khu vực rìa phía bắc của vùng lõi cũ. Các vương quốc đó phát triển nhanh đến mức họ đã biến vùng đất này trở thành một phiên bản mở rộng của vùng lõi. Bấy giờ các cường quốc đã liên kết chặt chẽ đến mức các nhà sử học gọi khoảng thời gian 300 năm tiếp theo là Kỷ nguyên Quốc tế.

Hình 4.4. Nhóm những người anh em: các vương quốc ở Kỷ nguyên Quốc tế của vùng lõi phương Tây tồn tại vào khoảng năm 1350 TCN, sau khi người Hittite và Assyria nuốt chửng Kizzuwatna tộc người Mittani, nhưng trước khi người Hittite và Assyria tiêu diệt Mittani. Các khu vực màu xám ở Sicily, Sardinia, và Italy chỉ nơi đồ gốm Hy Lạp Mycenae được tìm thấy.

Thương mại bùng nổ. Các tài liệu ghi chép của hoàng gia cung cấp đầy đủ thông tin về điều đó, và các thư tịch ở thế kỷ XIV phát hiện ở Amarna, Ai Cập cho thấy các vị vua của Babylon, Ai Cập, và các cường quốc mới như Assyria, Mittani, và Hittite đã dùng mánh khóe để giành ưu thế cho mình, yêu cầu quà tặng, cưới gả các công chúa. Họ đã tạo ra một thứ ngôn ngữ ngoại giao chung, và xưng hô với nhau bằng anh em. Họ xem những nhà cai trị bậc hai, không nằm trong nhóm các cường quốc lớn, là kẻ hầu, tuy nhiên, thứ bậc đó có thể được thương lượng lại. Ví dụ như Ahhiyawa (có thể là Hy Lạp), một cường quốc ở vùng biên. Trong bộ sưu tập của di chỉ Amarna không có thư tịch nào của Ahhiyawa, nhưng khi một vị vua của Hittite liệt kê “những vị vua có địa vị ngang hàng với ta” trong một hiệp ước ở thế kỷ XIII TCN, ông có nêu tên “vua Ai Cập, vua Babylonia, vua Assyria, và vua Ahhiyawa”❖ – nhưng sau khi cân nhắc, ông xóa tên Ahhiyawa ra khỏi danh sách.

Khi các người anh em ngày càng liên quan mật thiết với nhau thì sự cạnh tranh giữa họ càng trở nên gay gắt hơn. Cuộc xâm lược của người Hyksos vào thế kỷ XVIII TCN đã làm tổn thương tầng lớp quý tộc Ai Cập, làm tiêu tan niềm tin của họ rằng các sa mạc rộng lớn không thể vượt qua sẽ bảo vệ họ khỏi các cuộc tấn công; quyết tâm ngăn chặn sự việc tương tự tái diễn, họ đã nâng cấp các lực lượng dân quân rệu rã của mình thành một đội quân thường trực với các tướng lĩnh chỉ huy chuyên nghiệp và một quân đoàn chiến xa hiện đại. Vào khoảng năm 1500 TCN, họ đã mở rộng chiến tranh từ bờ biển Địa Trung Hải đến tận Syria, và xây dựng các pháo đài dọc theo đường tiến quân của họ.

Một cuộc chạy đua vũ trang thời cổ đại đã diễn ra vào năm 1400 TCN, và mọi quốc gia phải đặt quyền lợi của mình lên trên hết. Giai đoạn năm 1350-1320 TCN, người Hittite và Assyria nuốt chửng tộc người Mittani. Assyria can thiệp vào cuộc nội chiến ở Babylon, và vào khoảng năm 1300 người Hittite tiêu diệt Arzawa, một tộc người láng giềng khác. Các vị vua của Hittite và Ai Cập đã tiến hành một cuộc chiến tranh lạnh khốc liệt, với đầy rẫy gián điệp và các hoạt động ngầm để kiểm soát các thành bang của Syria. Vào năm 1274 TCN, cuộc chiến tranh lạnh đó đã biến thành một cuộc chiến tranh nóng, và các đội quân đông đúc nhất chưa từng thấy trên thế giới – có thể mỗi bên có khoảng 30.000 lính bộ binh và 5.000 chiến xa – đụng độ nhau tại Kadesh. Ramses II, một pharaoh Ai Cập, có thể đã bị sa bẫy. Nhưng vì ông là một vị thần, nên điều này chẳng hề hấn gì, và trong một bản cáo thị đặt tại không dưới 7 ngôi đền thờ, Ramses cho chúng ta thấy rằng cơn thịnh nộ của ông ta cũng chẳng kém gì Rambo:

Bệ hạ [Ramses] đã tiêu diệt toàn bộ lực lượng của Kẻ thù Hatti [một tên gọi khác dành cho người Hittite], cùng những thủ lĩnh vĩ đại và tất cả những người anh em của hắn, và toàn bộ thủ lĩnh của các quốc gia liên minh với hắn, quân lính và chiến xa của chúng đã thất bại đau đớn hết đợt này đến đợt khác. Bệ hạ đã tiêu diệt kẻ thù tại chính sào huyệt của chúng; quân giặc nằm ngổn ngang dưới vó ngựa của ngài; và bệ hạ chỉ có một mình mà thôi, không có ai khác chiến đấu bên cạnh ngài.

Theo lời Ramses, “Tên thủ lĩnh Hatti hèn hạ” sau đó đã xin cầu hòa (có thể ông ấy cũng vậy).

Việc trích dẫn lịch sử quân sự từ một lời nói khoa trương của một vị vua thần linh đòi hỏi phải tinh tế và thận trọng, nhưng mọi bằng chứng khác cho thấy, trái với sự kiêu hãnh của mình, Ramses hầu như không thoát được cuộc phục kích của người Hittite vào ngày đó. Người Hittite tiếp tục tiến về phía bờ biển mãi cho đến năm 1258 TCN, và chỉ dừng lại khi họ phát động các cuộc chiến tranh mới, một với Assyria ở vùng núi phía đông nam Anatolia và một với những người viễn chinh Hy Lạp trên bờ biển phía tây Anatolia. Một số nhà sử học cho rằng tác phẩm Iliad của Homer, một bộ sử thi Hy Lạp được sáng tác năm thế kỷ sau đó, phản ánh mơ hồ một cuộc chiến tranh ở thập niên 1220 TCN, trong cuộc chiến tranh đó, một liên minh của Hy Lạp bao vây thành Troy chư hầu của Hittite; và xa hơn về phía đông nam, một cuộc vây hãm thậm chí khủng khiếp hơn cũng đang diễn ra, và kết thúc với việc Assyria đánh chiếm Babylon vào khoảng năm 1225 TCN.

Đây là những cuộc chiến tranh khốc liệt. Thất bại nghĩa là hủy diệt – đàn ông bị tàn sát, phụ nữ và trẻ em bị bắt làm nô lệ, các thành phố biến thành những đống đổ nát và rơi vào quên lãng. Vì thế, tất cả buộc phải hy sinh cho chiến thắng. Các thành phần ưu tú về quân sự xuất hiện và trở nên giàu có hơn những người đi trước, và các cuộc xung đột nội bộ giữa họ đã có cường độ và tính chất mới. Các vị vua tăng cường củng cố cung điện hoặc tự xây dựng toàn bộ thành phố mới cho riêng họ, ở đó các tầng lớp thấp hơn sẽ không quấy rầy sự yên tĩnh của họ. Thuế khóa và nhu cầu lao động cưỡng bức tăng mạnh, nợ nần chồng chất và tầng lớp quý tộc vay mượn để chi tiêu cho lối sống xa hoa của họ, và người nông dân thì cầm cố nông sản thu hoạch được để duy trì sự sống. Các vua chúa tự coi mình là những kẻ chăn dắt thần dân, nhưng lại dành nhiều thời gian hơn để lừa gạt họ thay vì bảo vệ họ, và các vua chúa đó lại đánh nhau để kiểm soát nguồn lao động và bắt toàn bộ dân chúng làm việc tại các công trình xây dựng của họ. Người Hebrew (Do Thái cổ) – vất vả làm việc trên các công trường xây dựng thành phố của các pharaoh, là các lớp hậu duệ của Jacob di cư đến Ai Cập với những niềm hy vọng to lớn – là tộc người được biết đến nhiều nhất trong số những người nô lệ này.

Chính vì vậy, quyền lực nhà nước đã phát triển sau năm 1500 TCN, và vùng lõi phương Tây đã mở rộng song song với sự phát triển quyền lực nhà nước. Đồ gốm sản xuất tại Hy Lạp được tìm thấy quanh khu vực bờ biển Sicily, Sardinia và miền Bắc Italy, điều này chứng minh rằng nhiều loại hàng hóa khác có giá trị hơn (nhưng ít được phát hiện về phương diện khảo cổ) cũng đã vượt qua những đoạn đường dài. Các nhà khảo cổ đã tiến hành nghiên cứu một khu vực đáy biển ngoài khơi bờ biển Anatoly và đã khôi phục được những lát cắt đáng ngạc nhiên về cơ chế thương mại. Chẳng hạn, một con tàu đắm tại Uluburun vào khoảng năm 1316 TCN chuyên chở một khối lượng đồng và thiếc đủ để sản xuất 10 tấn đồng thau, cùng với gỗ mun và ngà voi từ châu Phi nhiệt đới, gỗ tuyết tùng từ Lebanon, thủy tinh từ Syria, và vũ khí từ Hy Lạp và vùng đất ngày nay là Israel; nói tóm lại, có thể các mặt hàng sinh lời, mỗi thứ một ít, mỗi lần một vài thứ, được đám thủy thủ cũng ô hợp như hàng hóa gom lại từ mọi cảng biển dọc theo hành trình của con tàu.

Các khu vực bờ biển Địa Trung Hải bị thu hút vào vùng lõi. Những ngôi mộ sung túc chứa vũ khí bằng đồng thau gợi ra rằng những người đứng đầu các khu vực làng quê đã trở thành những vị vua Sardinia và Sicily, và các văn bản ghi chép cho thấy thanh niên trai tráng đã rời bỏ quê hương của họ trên những hòn đảo này để tìm kiếm vận may bằng cách trở thành lính đánh thuê trong các cuộc chiến tranh tại vùng lõi. Người Sardinia dừng chân tại Babylon và cả vùng đất ngày nay là Sudan, nơi các đội quân Ai Cập tiến về phía nam để tìm kiếm vàng, tiêu diệt các quốc gia bản địa và xây dựng đền thờ ở những nơi họ đến. Xa hơn nữa, các thủ lĩnh ở Thụy Điển đang mải mê với những cỗ chiến mã, những biểu tượng địa vị tối thượng từ vùng lõi, và đang đưa các loại thiết bị quân sự nhập khẩu khác, đặc biệt là những thanh kiếm đồng sắc nhọn – vào sử dụng cho mục đích giết chóc.

Khi Địa Trung Hải biến thành một vùng biên giới mới, một lần nữa, phát triển xã hội gia tăng lại thay đổi ý nghĩa của địa lý. Trong thiên niên kỷ thứ tư TCN, phát triển thủy lợi và đô thị biến các thung lũng lớn ven sông ở Ai Cập và Lưỡng Hà thành một vùng đất có giá trị hơn so với vùng lõi cũ ở vùng Hilly Flanks, và trong thiên niên kỷ thứ hai, sự bùng nổ thương mại đường dài khiến việc tiếp cận các tuyến đường thủy rộng lớn của Địa Trung Hải càng trở nên quan trọng hơn. Sau năm 1500 TCN, vùng lõi phương Tây hỗn loạn lại bước vào một kỷ nguyên bành trướng hoàn toàn mới.

Một vạn nước (guo) trong thiên hạ

Các nhà khảo cổ thường trải qua cảm giác ưu phiền mà tôi thích gọi là sự ghen tị với Ai Cập. Bất kể nơi nào chúng ta khai quật hay bất kể mẫu vật nào được phát hiện, chúng ta luôn ngờ rằng có thể tìm được các mẫu vật tốt hơn khi khai quật tại Ai Cập. Vì thế, thật nhẹ nhõm khi biết rằng sự ghen tị với Ai Cập cũng tác động đến con người ở mọi tầng lớp. Năm 1995, Ủy viên Quốc vụ Tống Kiện (Song Jian), một trong những nhà quản lý khoa học hàng đầu Trung Hoa, có chuyến viếng thăm chính thức đến Ai Cập. Ông ta cảm thấy không vui khi nghe các nhà khảo cổ nói rằng cổ vật của Ai Cập có niên đại xưa hơn cổ vật của Trung Hoa. Khi trở về Bắc Kinh, ông đã khởi động Dự án Nghiên cứu Niên đại Ba triều đại (Hạ-Thương-Chu) để xem xét vấn đề này. Sau 4 năm tiêu tốn hai triệu đô-la, dự án công bố kết quả nghiên cứu: những cổ vật của Ai Cập thực sự có niên đại cổ xưa hơn cổ vật của Trung Hoa. Và chí ít thì bây giờ chúng ta cũng biết được chính xác cổ vật Ai Cập có niên đại xưa hơn bao nhiêu.

Như chúng ta đã thấy ở Chương 2, lối sống nông nghiệp bắt đầu phát triển ở phương Tây vào khoảng năm 9500 TCN, sớm hơn Trung Hoa khoảng 2.000 năm. Vào khoảng năm 4000 TCN, hoạt động nông nghiệp đã lan rộng đến các vùng đất khó canh tác như Ai Cập và Lưỡng Hà, và khi những đợt gió mùa dịch chuyển về hướng nam sau năm 3800 TCN, những người nông dân mới này lập nên các thành bang để tự bảo vệ mình. Phương Đông cũng có nhiều khu vực khô hạn và khó canh tác, nhưng hoạt động nông nghiệp chỉ mới vươn đến các khu vực đó vào khoảng năm 3800 TCN, cho nên thời tiết mát mẻ và khô hơn xuất hiện không làm gia tăng số lượng các thành bang. Thay vào đó, nó chỉ giúp cho cuộc sống của người nông dân trở nên dễ dàng hơn bằng cách biến các vùng châu thổ sông Dương Tử và Hoàng Hà vốn ấm áp và ẩm ướt trở nên khô ráo hơn và dễ quản lý hơn. Ngày nay, chúng ta khó có thể hình dung rằng, vào khoảng năm 4000 TCN, vùng châu thổ Hoàng Hà chủ yếu là những cánh rừng cận nhiệt đới; tiếng voi rống vang xa đến tận những khu vực mà hiện nay là những đường phố đông nghẹt xe cộ ở Bắc Kinh.

Thay vì chuyển tiếp thành những thành bang như Ai Cập và Lưỡng Hà, Trung Hoa ở thiên niên kỷ thứ tư TCN lại chứng kiến sự tăng trưởng dân số ổn định và không có gì đặc biệt. Người dân bắt đầu khai khẩn các cánh rừng và xây dựng những làng quê mới; còn các ngôi làng cũ lại phát triển thành những thị trấn.

Hình 4.5. Sự mở rộng vùng lõi phương Đông, năm 3500-1000 TCN: các di chỉ được đề cập ở chương này.

Khi con người nắm giữ nguồn năng lượng tốt hơn, họ lại càng nhân rộng và tạo thêm áp lực cho mình, thế nên, giống như người dân ở phương Tây, họ tiến hành cải tiến, thử nghiệm nhằm tìm ra các phương thức mới để vắt kiệt đất đai, tổ chức cuộc sống hiệu quả hơn và tước đoạt những gì họ muốn từ người khác. Nhiều tường thành dày cộm bằng đất nện mọc lên quanh các khu dân cư rộng lớn, cho thấy rằng xung đột đã diễn ra, và một số khu định cư được bố trí có tổ chức hơn, điều này cho thấy rằng đã có quy hoạch ở tầm vóc cộng đồng. Nhà cửa được xây dựng lớn hơn và trong nhà có nhiều vật dụng hơn, điều này chứng tỏ mức sống ngày càng được cải thiện; tuy nhiên, sự khác biệt giữa các ngôi nhà cũng dần tăng lên, có thể những người nông dân giàu có muốn phân biệt mình với những người hàng xóm. Một số nhà khảo cổ cho rằng việc phân bố các công cụ bên trong các ngôi nhà cũng cho thấy sự có sự phân biệt về giới tính. Ở một số nơi, đặc biệt là Sơn Đông (Hình 4.5), một số người – chủ yếu là đàn ông – được chôn cất trong những ngôi mộ lớn với nhiều lễ vật hơn so với những người khác, thậm chí một số ngôi mộ còn có cả những đồ trang sức bằng ngọc quý được chạm khắc tinh xảo.

Cho dù những viên ngọc bích này có thể là rất đẹp, nhưng các nhà khảo cổ khai quật di chỉ Trung Hoa có niên đại khoảng năm 2500 TCN khó tránh được nỗi dằn vặt kỳ lạ về sự ghen tị với Ai Cập. Họ không phát hiện được các Đại Kim tự tháp hay văn khắc hoàng gia. Những phát hiện của họ, trên thực tế, gần giống với những gì các nhà khảo cổ tìm thấy tại các di chỉ ở vùng lõi phương Tây có niên đại khoảng năm 4000 TCN, không lâu trước khi những thành bang đầu tiên xuất hiện. Phương Đông đang đi trên con đường giống với phương Tây, nhưng muộn hơn ít nhất là 1500 năm; và, trong khi vẫn duy trì đúng tiến độ, thì trong giai đoạn năm 2500-2000 TCN, phương Đông đã trải qua những biến đổi tương đối giống những gì phương Tây đã chứng kiến trong khoảng năm 4000-3500 TCN.

Dọc theo các lưu vực sông lớn, tốc độ thay đổi diễn ra nhanh hơn, nhưng một mẫu hình thú vị đã xuất hiện. Những thay đổi nhanh nhất không diễn ra ở những vùng đồng bằng rộng lớn nhất, có đất đai màu mỡ nhất mà lại ở những không gian chật hẹp, nơi con người khó có thể chạy trốn và tìm thấy nơi ở mới nếu họ bị thất bại trong các cuộc đấu tranh giành lấy các nguồn tài nguyên hay trong các cuộc chiến tranh giữa các ngôi làng. Ví dụ, trên một trong những vùng đồng bằng nhỏ Sơn Đông, các nhà khảo cổ đã phát hiện một mẫu hình định cư mới được hình thành vào khoảng năm 2500-2000 TCN. Một thị trấn lớn duy nhất mọc lên với khoảng 5.000 cư dân, xung quanh nó là các thị trấn vệ tinh nhỏ hơn, và các thị trấn vệ tinh này lại có các ngôi làng vệ tinh riêng. Các cuộc khảo sát quanh vùng Susa ở tây nam Iran đã phát hiện một mẫu hình tương tự xuất hiện trước đó khoảng 1500 năm; có lẽ, đây là cách mà sự việc luôn diễn ra khi một cộng đồng giành được quyền kiểm soát chính trị.

Theo phán đoán từ những cuộc tiễn đưa xa hoa mà một số người chết nhận được trong tang lễ của họ, những vị vua thực thụ có lẽ phải nỗ lực rất lớn để đạt đến đỉnh cao quyền lực ở Sơn Đông ở khoảng sau năm 2500 TCN. Một số ngôi mộ có những viên ngọc bích thực sự ấn tượng, và một ngôi mộ còn chứa một chiếc mũ đội đầu bằng ngọc lam trông rất giống với một vương miện. Tuy nhiên, phát hiện đáng chú ý nhất chính là một mảnh gốm khiêm tốn từ di chỉ Đinh Công (Dinggong) ở huyện Châu Bình, Sơn Đông. Khi mảnh gốm vỡ màu xám chẳng có gì nổi bật vừa phát lộ, các nhà khai quật ném nó vào một cái xô cùng với các hiện vật khác, nhưng khi làm sạch nó trong phòng thí nghiệm, họ đã phát hiện 11 ký hiệu có liên quan nhưng không giống với chữ viết Trung Hoa sau này, rạch trên bề mặt mảnh gốm. Các nhà khai quật đặt ra câu hỏi, có phải đây là phần nổi của một tảng băng trôi về chữ viết được phổ biến rộng rãi trên loại vật liệu dễ hỏng? Liệu các vị vua ở Sơn Đông có những viên quan hành chính quản lý mọi công việc cho họ, giống những vị vua của Uruk ở Lưỡng Hà 1.000 năm trước đây? Có thể; nhưng các nhà khảo cổ khác, khi nêu ra cách chữ viết được nhận dạng một cách lạ thường, đã tự hỏi liệu nó có thể bị xác định sai niên đại hay không, hay thậm chí đó là một vật giả mạo. Cần có những phát hiện thêm nữa mới giải quyết được vấn đề này. Tuy nhiên, dù có chữ viết hay không thì những ai cai trị các cộng đồng cư dân ở Sơn Đông chắc chắn là rất hùng mạnh. Vào khoảng năm 2200 TCN, tục hiến tế con người đã trở nên phổ biến và một số ngôi mộ tiếp nhận luôn việc thờ cúng tổ tiên.

Ai là những người đứng đầu này? Đào Tự (Taosi)⦾, một di chỉ cách xa hơn 600km trên lưu vực sông Phần, tỉnh Sơn Tây có thể cung cấp một số manh mối. Đây là khu định cư lớn nhất được biết đến từ những thời kỳ này, với khoảng 10.000 cư dân. Một nền đất nện khổng lồ có thể là nền móng của một trong những cung điện đầu tiên của Trung Hoa, mặc dù bằng chứng trực tiếp duy nhất chỉ là một mảng tường trang trí bị phá hủy tìm thấy tại một hố khai quật. (Tôi sẽ trở lại vấn đề này trong giây lát.)

Hàng nghìn ngôi mộ đã được khai quật tại Đào Tự, và những ngôi mộ này gợi ý một thứ bậc xã hội cao. Gần như 9 trong 10 ngôi mộ là những ngôi mộ nhỏ, chỉ chứa một ít đồ tế lễ. Cứ khoảng 10 ngôi mộ thì có một ngôi mộ lớn hơn, nhưng trung bình trong 100 ngôi mộ (luôn là nam giới) thì có một ngôi mộ rất lớn. Một số ngôi mộ khổng lồ có tới 200 vật tế lễ, gồm những bình lọ có họa tiết hình rồng, đồ trang trí bằng ngọc bích và những con lợn nguyên con, chỉ dùng để hiến tế chứ không được ăn. Tương tự như Giả Hồ, một nghĩa trang thời tiền sử đề cập ở Chương 2, những ngôi mộ giàu có nhất chứa nhiều loại nhạc cụ khác nhau: trống làm từ đất sét hoặc gỗ với da cá sấu, những chuông đá lớn và một chiếc chuông đồng có hình dáng kỳ lạ.

Khi nói đến Giả Hồ ở Chương 2, tôi đã đề cập đến học thuyết của nhà khảo cổ học Trương Quang Trực cho rằng các vị vua phương Đông có nguồn gốc từ các pháp sư thời tiền sử. Những pháp sư này đã dùng rượu, âm nhạc và các nghi lễ lặp đi lặp lại để thuyết phục bản thân (và người khác) rằng họ đã đi đến các thế giới tâm linh và tiếp xúc với tổ tiên và các vị thần. Di chỉ Giả Hồ chưa được khai quật khi Trương Quang Trực đưa ra lý thuyết này, và ông ấy chỉ có thể truy nguyên bằng chứng đến khoảng năm 3500 TCN mà thôi, nhưng khi nói đến Đào Tự và các di chỉ tương tự, thì ông cho rằng chính trong khoảng năm 2500-2000 TCN, các biểu tượng tôn giáo và hoàng gia của Trung Hoa Cổ đại đã được kết tinh. Khoảng 2.000 năm sau, cuốn Chu lễ, một cẩm nang của Khổng giáo về các nghi lễ, có liệt kê toàn bộ các loại công cụ tìm thấy trong các lăng mộ ở Đào Tự được dùng trong nghi lễ của tầng lớp quý tộc.

Trương Quang Trực tin rằng các tài liệu khác được phát hành cùng thời với cuốn Chu lễ cũng đề cập đến các sự kiện ở thời kỳ trước năm 2000 TCN. Một trong những đoạn văn quan trọng nhất, và cũng khó hiểu nhất, nằm trong tác phẩm Lã thị Xuân Thu, một chuyên khảo về kiến thức hữu dụng do Lã Bất Vi, thừa tướng nước Tần, biên soạn vào năm 239 TCN. Lã Bất Vi cho rằng: “Trời tròn; đất vuông. Các vị vua hiền triết lấy đó làm hình mẫu cho mình.”❖ Họ được coi là hậu duệ của Đế (Di), và vị vua cuối cùng trong số các vị vua hiền triết là Hạ Vũ, người được cho là đã cứu nhân loại bằng cách đào các con kênh thoát nước khi Hoàng Hà ngập lụt. Một văn bản khác nói: “Nếu không có Hạ Vũ, chúng ta sẽ biến thành những con cá.”❖ Câu chuyện tiếp tục rằng, dân chúng biết ơn đã tôn Hạ Vũ làm vua, và ông lập nên một triều đại thị tộc đầu tiên của Trung Hoa, đó là nhà Hạ.

Lã Bất Vi rất tin tưởng vào tính chính xác của bộ sách ông biên soạn. Người ta kể rằng ông cho treo 1.000 lạng vàng bên trên bộ sách được đặt bên ngoài ngôi chợ chính của kinh thành, và tuyên bố ban thưởng cho bất kỳ ai có thể chỉ ra rằng ông cần phải thêm hay bớt một chữ nào đó trong bộ sách. (May thay, những nhà xuất bản ngày nay không còn yêu cầu các tác giả làm điều này nữa). Tuy nhiên, cho dù có niềm tin mạnh mẽ của Lã Bất Vi, thì câu chuyện về vua Hạ Vũ nghe giống như câu chuyện về Noah, một phiên bản của phương Tây về một người đàn ông công chính đã cứu nhân loại thoát khỏi cơn đại hồng thủy. Hầu hết các nhà sử học đều cho rằng các vị vua hiền triết chỉ là những nhân vật hư cấu. Tuy nhiên, Trương Quang Trực cho rằng bộ sách của Lã Bất Vi giữ nguyên thông tin xác thực, mặc dù bị bóp méo, về thời kỳ cuối thiên niên kỷ thứ ba TCN, khi một kiểu tương tự như vương quyền đang thành hình ở phương Đông.

Trương Quang Trực đã nhìn thấy mối liên hệ giữa câu chuyện của Lã Bất Vi kể rằng các vị vua hiền triết đã lấy hình tròn của trời và hình vuông của đất làm khuôn mẫu cho mình và đưa vào những chiếc tông (cong), một vật chứa chất lỏng bằng ngọc bích xuất hiện trong các ngôi mộ giàu có ở vùng đồng bằng sông Dương Tử vào khoảng năm 2500 TCN, sau đó lan rộng đến Đào Tự và các khu vực khác. Tông là một khối vuông bằng ngọc bích, có miệng hình trụ được khoan xuyên qua tâm khối vuông. Hình tròn và hình vuông thể hiện sự hợp nhất giữa trời và đất, là một biểu tượng quyền uy của vương quyền mãi cho đến khi triều đại cuối cùng của Trung Hoa sụp đổ vào năm 1912. Nếu bạn không ngại các đám đông chen lấn ở Tử Cấm Thành tại Bắc Kinh để quan sát kỹ phần nội thất tối tăm ở các cung điện, bạn sẽ phát hiện những biểu tượng giống nhau – bệ ngai vàng hình vuông, trần nhà hình tròn – được lặp đi lặp lại.

Trương Quang Trực cho rằng, có thể những ký ức về các vị vua-tu sĩ cổ đại, những người cho rằng họ có khả năng đi lại giữa thế giới hiện thực và thế giới tâm linh và sử dụng những chiếc tông làm biểu tượng cho quyền lực của họ, vẫn tồn tại đến thời kỳ của Lã Bất Vi. Ông gọi giai đoạn năm 2500-2000 TCN là “Kỷ nguyên của tông ngọc bích, thời kỳ mà Shaman giáo và chính trị hợp nhất lực lượng và một giai cấp ưu tú dựa trên độc quyền Shaman giáo ra đời.”❖ Tông thực sự là một bảo vật hoàng gia; mẫu vật lớn nhất có khắc họa hình ảnh các linh hồn và muông thú được các nhà khảo cổ (mà sự hài hước của họ chắc chắc có thể đoán ra) gán cho cái tên là Vương Tông.

Nếu Trương Quang Trực đúng, thì những người chuyên trách việc thực hành tôn giáo đã biến thành tầng lớp cai trị trong giai đoạn năm 2500-2000 TCN, giống như những gì xảy ra ở vùng Lưỡng Hà hơn 1.000 năm trước, với ngọc bích, âm nhạc và đền thờ trên nền đất nện là những bộ khuếch đại âm thanh cho các thông điệp của họ gửi đến thần linh. Thậm chí, một di chỉ có cả một ngôi đền (phải thừa nhận là nhỏ, chỉ rộng chừng 6m trên một nền đất thấp) có hình dáng giống như một chiếc tông.

Vào khoảng năm 2300 TCN, Đào Tự có quá trình hình thành giống như Uruk, với đầy đủ cung điện, đàn tế và các thủ lĩnh ngày càng giống thần linh. Rồi thì, mọi thứ bỗng chốc thay đổi. Thành phần ưu tú bị tiêu diệt, đó là lý do tại sao dấu tích duy nhất của cung điện là mảnh vỡ của một bức tường trang trí được tìm thấy tại một hố khai quật mà tôi đã đề cập trước đó. Bốn mươi bộ xương, một số bị cắt rời chân tay, hoặc còn dính binh khí, bị ném xuống một cái hào, nơi từng là cung điện, và một số ngôi mộ lớn nhất trong nghĩa trang bị trộm đột nhập. Đào Tự thu nhỏ lại chỉ còn một nửa so với diện tích ban đầu của nó, và cách đó chỉ vài kilomet, một thị trấn mới và rộng lớn hơn đã mọc lên.

Một trong những điều gây thất vọng về ngành khảo cổ học là chúng ta thường chỉ nhìn thấy được hậu quả của những gì con người đã làm nhưng lại không thấy được nguyên nhân của những việc làm đó. Chúng ta có thể thêu dệt (Các tộc người man rợ đã thiêu hủy Đào Tự! Nội chiến đã tàn phá Đào Tự! Các cuộc xung đột nội bộ đã chia đôi Đào Tự! Một tộc người láng giềng mới đến đã đánh phá Đào Tự! v.v.) nhưng hiếm khi có thể khẳng định được đâu là câu chuyện thật. Trong trường hợp này, điều khả dĩ nhất là thừa nhận rằng sự sụp đổ của Đào Tự chỉ là một phần của một quá trình lớn hơn. Vào khoảng năm 2000 TCN, các khu vực dân cư lớn nhất ở Sơn Đông cũng bị bỏ hoang và dân số giảm xuống khắp miền Bắc Trung Hoa – tất nhiên, cũng vào thời điểm đó, hạn hán, nạn đói và sự sụp đổ chính trị hoành hành Ai Cập và Lưỡng Hà. Phải chăng biến đổi khí hậu đã tạo ra một cuộc khủng hoảng rộng khắp Cựu Thế giới?

Chúng ta có thể nói như vậy nếu Đào Tự ghi chép lại các mục nước lũ bằng lũ kế Hoàng Hà giống như lũ kế sông Nile của Ai Cập, hoặc nếu các nhà khảo cổ học Trung Hoa tiến hành các nghiên cứu vi hình thái học giống như đã làm tại Tell Leilan, Syria, nhưng những bằng chứng kiểu này không tồn tại. Chúng ta có thể lục tìm các nguồn tư liệu được viết vào khoảng 2.000 năm sau những sự kiện này để tìm kiếm thông tin, tuy nhiên, cũng giống như những câu chuyện về các vị vua hiền triết, chúng ta không thể biết được tác giả của các nguồn tài liệu đó thực sự biết được bao nhiêu về những thời kỳ đầu này.

“Trong suốt thời gian trị vì của vua Hạ Vũ,” bộ sách Lã thị Xuân Thu viết, “có một vạn nước trong thiên hạ.”❖ Khi dịch từ guonước, một đơn vị chính trị nhỏ trên cơ sở một đô thị có tường thành bao quanh, nhiều nhà khảo cổ cho rằng đây là sự mô tả khá rõ về thung lũng Hoàng Hà giai đoạn năm 2500-2000 TCN. Một số học giả tiếp tục lập luận rằng vua Hạ Vũ có thật. Đó là người đã chấm dứt kỷ nguyên của một vạn nước và áp đặt luật lệ của nhà Hạ lên các nước đó. Thậm chí, các nguồn thư tịch còn đưa ra nguyên nhân khí hậu, tuy nhiên, thay vì hạn hán và sa mạc hóa theo phong cách Lưỡng Hà, họ lại nói đến trận mưa xối xả kéo dài vô tận, cứ 10 năm thì lại có 9 năm trời mưa. Đó là lý do tại sao Hạ Vũ cần phải tiêu nước cho vùng thung lũng Hoàng Hà. Có thể một điều gì đó tương tự đã diễn ra; cho đến hai thập niên trước đây, khi Hoàng Hà bắt đầu khô cạn tại một số nơi, người ta thường gọi đó là nỗi buồn Trung Hoa vì dòng sông ngập lụt hầu hết các năm và đổi hướng dòng chảy trung bình mỗi thế kỷ một lần, khiến làng mạc bị tàn phá hoặc hàng nghìn nông dân bị thiệt mạng.

Có thể câu chuyện về Hạ Vũ được dựa trên một thảm họa có thật vào khoảng năm 2000 TCN. Hoặc có thể đó chỉ là một câu chuyện dân gian. Đơn giản vì chúng ta không biết. Thế nhưng, một lần nữa, khi nguyên nhân của sự thay đổi là hết sức mơ hồ, thì hậu quả của nó lại quá rõ ràng. Khi các thị trấn ở Sơn Đông và thung lũng sông Phần phục hồi vào khoảng năm 2000 TCN (thậm chí Đào Tự còn có cả một nền móng đồ sộ cao 6m và rộng 60m), thì những lợi thế của sự lạc hậu – rất quan trọng trong lịch sử phương Tây – lúc bấy giờ bắt đầu phát huy tác dụng, và những công trình thậm chí hùng vĩ và ấn tượng hơn bắt đầu xuất hiện khắp vùng sông nước yên tĩnh trước đây ở thung lũng sông Y-Lạc (Yiluo)⦾.

Chúng ta không có đủ chứng cứ để hiểu lý do tại sao, nhưng người dân Y-Lạc không chỉ sao chép Đào Tự. Thay vào đó, họ còn tạo ra một phong cách kiến trúc hoàn toàn mới, thay thế những công trình to lớn dễ nhận thấy và dễ tiếp cận từ mọi phía, vốn là tập quán hàng nghìn năm ở miền Bắc Trung Hoa bằng những cung điện khép kín với sân trong được bao bọc bởi những hành lang có mái che và chỉ có một số ít cửa ra vào. Rồi thì họ giấu kín các cung điện của mình sau những bức tường thành cao làm bằng đất nện. Dẫu biết rằng, diễn giải kiến trúc là một công việc đòi hỏi sự tinh tế, nhưng phong cách kiến trúc Y-Lạc có thể hàm ý rằng, mối quan hệ giữa những người cai trị và bị cai trị đã thay đổi theo những hướng mới và có lẽ phân cấp hơn khi sự lãnh đạo của giới tăng lữ đã lan rộng đến vùng biên nhiều biến động ở vùng châu thổ sông Y-Lạc.

Chúng ta có thể xem đây là khoảnh khắc Uruk của phương Đông, khi một cộng đồng đã bỏ xa mọi đối thủ sau lưng và biến mình thành một quốc gia được cai trị bởi những con người có thể sử dụng vũ lực để áp đặt ý chí và thu thuế từ thần dân của mình. Đó là cộng đồng Nhị Lý Đầu (Erlitou). Cộng đồng này đã phát triển thành một thành bang thật sự với 25.000 cư dân trong giai đoạn năm 1900-1700 TCN. Nhiều nhà khảo cổ học Trung Hoa tin rằng Nhị Lý Đầu là kinh đô của triều đại nhà Hạ do vị vua hiền triết Hạ Vũ lập nên. Các học giả không phải người Trung Hoa nhìn chung không đồng tình với quan điểm này khi cho rằng các nguồn thư tịch đề cập đến nhà Hạ chỉ bắt đầu xuất hiện khoảng 1.000 năm sau khi Nhị Lý Đầu bị bỏ hoang. Có lẽ, họ cho rằng, nhà Hạ – và vua Hạ Vũ – chỉ là hư cấu. Những người chỉ trích này buộc tội các học giả Trung Hoa, nhẹ nhất là, cả tin vào thần thoại, hoặc, nặng nhất là, tuyên truyền, bênh vực bản sắc dân tộc Trung Hoa hiện đại bằng cách đẩy lùi nguồn gốc của mình vào quá khứ càng xa càng tốt. Không có gì đáng ngạc nhiên, đây hoàn toàn là những lập luận ác ý.

Cuộc tranh luận chủ yếu nằm ngoài tâm điểm của những vấn đề chúng ta đang thảo luận ở đây, nhưng chúng ta không thể né tránh nó hoàn toàn. Về phần mình, tôi có xu hướng hoài nghi rằng thực sự là có triều đại nhà Hạ, và Nhị Lý Đầu là kinh đô của triều đại này, ngay cả khi những câu chuyện về vua Hạ Vũ phần nhiều là những câu chuyện dân gian. Như chúng ta sẽ thấy trong phần tiếp theo, bất cứ khi nào chúng ta có thể kiểm tra điều đó, chúng ta đều thấy rõ rằng các nhà sử học Trung Hoa sau này đã làm khá tốt việc quảng bá tên tuổi; riêng tôi không thể hình dung được việc vua Hạ Vũ và nhà Hạ được bịa đặt hoàn toàn từ đầu đến cuối.

Tuy nhiên, cho dù sự thật là gì, thì vua Hạ Vũ, nhà Hạ, hay bất cứ ai cai trị Nhị Lý Đầu đã có khả năng chỉ huy lao động trên một quy mô hoàn toàn mới khi xây dựng hàng loạt cung điện và có thể một đền thờ tổ tiên trên nền đất nện theo phong cách mới và khép kín. Một nền móng của Cung điện I chắc chắn phải cần đến khoảng 100.000 ngày công lao động để hoàn thành. Cách đó khoảng 400m các nhà khảo cổ phát hiện ra nhiều xỉ kim loại, nồi nấu kim loại và khuôn đúc đồng nằm rải rác trên một diện tích rộng khoảng 0,8 ha. Người ta đã biết đến kim loại đồng vào khoảng năm 3000 TCN, nhưng suốt một thời gian dài, kim loại đồng vẫn là một mặt hàng mới, chủ yếu được sử dụng để chế tác đồ trang sức. Khi Nhị Lý Đầu được xây dựng vào khoảng năm 1900 TCN, vũ khí bằng đồng vẫn còn rất hiếm. Đá, xương động vật và vỏ sò vẫn được sử dụng phổ biến để làm các loại nông cụ cho đến thiên niên kỷ thứ nhất TCN. Do đó, xưởng đúc đồng ở Nhị Lý Đầu là một bước đột phá trong ngành thủ công thời kỳ đầu. Xưởng đúc này sản xuất các loại vũ khí và dụng cụ cho thợ thủ công, điều này chắc chắn đã góp một phần quan trọng cho sự thành công của thành bang. Xưởng đúc đồng này cũng sản xuất các đồ tế lễ đặc sắc như chuông đồng, giống như ví dụ trước đây từ Đào Tự; các tấm kim loại có khảm hình các con mắt, động vật và sừng bằng ngọc lam; và các bình đựng đồ tế lễ có đường kính từ ⅓m trở lên. Các hình dáng thiết kế được phát minh tại Nhị Lý Đầu (ly rượu ba chân [giả], vạc đồng [đỉnh], tách rót [giác], bình hâm rượu [hòa]) trở thành những bộ khuếch đại âm thanh tối thượng của phương Đông dành cho các thông điệp tôn giáo, chúng thay thế tông ngọc bích và ngự trị tại các lễ tế suốt 1.000 năm tiếp theo.

Những vật dụng đựng đồ tế lễ độc đáo này chỉ được tìm thấy tại Nhị Lý Đầu, và nếu quan điểm của Trương Quang Trực cho rằng vương quyền xuất phát từ tuyên bố của nhà vua khẳng định nhà vua là cầu nối giữa thế giới này và thế giới siêu nhiên, thì những vật dụng đựng đồ tế lễ bằng đồng có lẽ cũng quan trọng đối với quyền lực của Nhị Lý Đầu không kém gì những thanh kiếm đồng. Vị vua ở Nhị Lý Đầu có bộ khuếch đại âm thanh lớn nhất; chư hầu của các lãnh địa nhỏ hơn có lẽ hiểu ra rằng sẽ rất có lợi nếu hợp tác với một người mà tiếng nói của người đó được thần linh nghe thấy rõ nhất.

Tuy nhiên, đối với nhà vua, việc sản xuất các vật dụng đựng đồ tế lễ bằng đồng thau chắc chắn cũng khó khăn không kém so với việc sản xuất các loại công cụ. Công việc này quá tốn kém, đòi hỏi nhiều thợ thủ công và hàng tấn kim loại đồng, thiếc và nhiên liệu – mà tất cả những thứ này đều không có đủ tại vùng thung lũng sông Y-Lạc. Ngoài việc thành lập một tiểu vương quốc (khi phỏng đoán từ mẫu hình các khu định cư, một số nhà khảo cổ ước tính diện tích của nó khoảng 5.000km2), Nhị Lý Đầu có thể đã đưa người dân sinh sống tại các vùng đất mới đi khai thác các loại nguyên liệu thô. Ví dụ, di chỉ Đông Hạ Phùng (Dongxiafeng), nằm trong vùng đồi núi giàu kim loại đồng cách Nhị Lý Đầu khoảng 160km về phía tây, có đồ gốm kiểu Nhị Lý Đầu và nhiều đống phế thải từ hoạt động nấu đồng, nhưng lại không có cung điện, lăng mộ xa hoa, hay khuôn đúc vật dụng đựng đồ tế lễ, huống hồ các vật dụng đựng đồ tế lễ. Có thể các nhà khảo cổ đã khai quật không đúng vị trí, nhưng họ đã tìm kiếm ở đó trong một thời gian dài, rất có thể kim loại đồng đã được khai thác và tinh luyện tại Đông Hạ Phùng, sau đó đưa đến Nhị Lý Đầu – chế độ thực dân đầu tiên của phương Đông.

Tổ tiên cao nhất

Tình trạng lạc hậu có thể có nhiều lợi thế, nhưng nó cũng có những bất lợi, đặc biệt khi một vùng ngoại vi mở đường tiến vào một vùng lõi cũ, đồng thời nó cũng đối mặt với các vùng ngoại vi mới đang nỗ lực tương tự. Nhị Lý Đầu là thành phố phát triển rực rỡ nhất ở phương Đông vào khoảng năm 1650 TCN, các đền đài trong thành phố sáng lấp lánh với những chiếc vạc đồng và tiếng chuông đồng ngân vang khắp nơi, nhưng nếu người dân ở đây vượt qua bờ bên kia Hoàng Hà và đi bộ chỉ một ngày đường, họ có thể bước vào một thế giới đầy bạo lực của những pháo đài và lãnh chúa thù địch. Hai bộ xương người được tìm thấy tại một hố khai quật cách thành phố lớn chỉ khoảng 60km cho thấy các dấu hiệu không thể nhầm lẫn của nạn nhân bị lột da đầu.

Có lẽ mối quan hệ giữa Nhị Lý Đầu và vùng biên hoang dã này tương đối giống với mối quan hệ giữa Đế chế Akkad ở Lưỡng Hà và tộc người Amorite, với các hoạt động thương mại và cướp phá mang lại lợi ích cho cả hai bên – cho đến khi xảy ra điều gì đó làm đảo lộn sự cân bằng. Tình trạng hỗn loạn ở phương Đông xuất hiện dưới dạng một pháo đài có tên là Yển Sư (Yanshi), được xây dựng vào khoảng năm 1600 TCN, cách Nhị Lý Đầu chừng 8km. Các nguồn tư liệu sau này nói rằng trong khoảng thời gian đó, một tộc người mới – nhà Thương – đã lật đổ nhà Hạ. Những hiện vật khảo cổ phát hiện sớm nhất từ Yển Sư cho thấy có sự kết hợp giữa các phong cách vật liệu Nhị Lý Đầu với các truyền thống từ khu vực phía bắc Hoàng Hà, và hầu hết các nhà khảo cổ Trung Hoa (và lần này có cả các nhà khảo cổ không phải người Trung Hoa) cho rằng nhà Thương đã vượt Hoàng Hà vào khoảng năm 1600 TCN, đánh bại Nhị Lý Đầu và xây dựng Yển Sư để thống lĩnh các kẻ thù nhỏ bé nhưng tinh khôn hơn. Yển Sư phát triển thành một đô thị lớn khi Nhị Lý Đầu suy tàn, mãi đến năm 1500 TCN, các vua nhà Thương, có lẽ đã cho rằng họ không cần giám sát các cựu thù một cách quá chặt chẽ nữa nên đã di chuyển về hướng đông khoảng 80km để đến một thành phố mới tại Trịnh Châu.

Bất cứ những gì Nhị Lý Đầu có thể làm được, dường như Trịnh Châu có thể làm tốt hơn, hay chí ít là lớn hơn. Trịnh Châu có một khu nội thị với diện tích tương đương Nhị Lý Đầu, cộng thêm các khu vực ngoại ô rộng khoảng 2,5km2 được bao bọc bởi các tường thành lớn bằng đất nện. Theo một ước tính, có thể phải cần đến 10.000 lao động và tám năm để hoàn thành bức tường thành này. Một bài thơ miêu tả công việc xây dựng một bức tường thành:

Người ta nện búa bồm bộp xuống nền đất

Tiếng nện thịch thịch đều đều vang lên

Người ta lại gõ vào tường rầm rầm

Tiếng đục khắc đẽo gọt thoáng vọng ra.

Trịnh Châu chắc đã rung chuyển với vô vàn âm tiếng thịch thịch, bồm bộp, rầm rầm và đục đẽo như thế. Và thành phố cũng cần đến không chỉ một mà nhiều xưởng đúc đồng, mà chỉ một trong số đó đã để lại một bãi rác thải rộng 3,24ha. Các vật dụng đựng đồ tế lễ của Trịnh Châu vẫn nối tiếp truyền thống của Nhị Lý Đầu nhưng, tất nhiên, có kích thước lớn hơn. Một chiếc vạc đồng được chôn vội vàng vào khoảng năm 1300 TCN (có lẽ do một cuộc tấn công) cao tới gần 1m và nặng 90kg.

Trịnh Châu cũng mở rộng chế độ thuộc địa của Nhị Lý Đầu. Bên kia sông Dương Tử khoảng 640km, những người thợ mỏ đã xới tung các thung lũng ở Đồng Lăng, tỉnh An Huy để tìm kiếm kim loại đồng. Họ đào một đường hầm xuyên qua đất đá có chiều dài tương đương với chiều dài của hàng trăm thanh ván sàn nối lại, làm biến dạng cảnh quan với khoảng 300.000 tấn xỉ. Những đồ vật họ bỏ lại (được bảo quản tốt đến mức các nhà khảo cổ có thể tìm thấy các dụng cụ bằng tre gỗ và những tấm chiếu ngủ bằng cỏ sậy) hoàn toàn giống với các đồ vật đến từ kinh đô nhà Thương. Khi nền văn hóa vật thể mang phong cách Uruk lan tỏa đến vùng Lưỡng Hà sau năm 3500 TCN, một số đô thị tưởng chừng như được nhân bản từ Uruk, ngay từ trong quy hoạch các đường phố; tương tự như thế, những người định cư tại vùng đất mới của nhà Thương đã xây dựng một Trịnh Châu thu nhỏ với đầy đủ cung điện, lăng mộ nguy nga và các vật dụng đựng đồ tế lễ bằng đồng thau theo phong cách nhà Thương đã được phát triển hoàn thiện tại Bàn Long Thành (Panlongcheng), nằm hai bên tuyến đường giao thông thuận tiện nhất từ Đồng Lăng đến vùng đất trung tâm của nhà Thương.

Tuy nhiên, vào khoảng năm 1250 TCN, nhà Thương mới thực sự được biết đến. Theo truyền thuyết, vào năm 1899, một người họ hàng của Vương Ý Vinh (Wang Qirong), Tế tửu Quốc Tử Giám ở Bắc Kinh, mắc bệnh sốt rét và sai một người hầu đi tìm mua cao quy bản, một phương thuốc dân gian Trung Hoa.⦾ Người bà con của Vương Ý Vinh là một người am hiểu, và khi ông nhìn thấy một dòng biểu tượng được cạo trên mai rùa do người hầu mang về, ông đoán rằng đó là một phiên bản chữ viết Trung Hoa cổ đại. Ông gửi chiếc mai rùa đó cho Vương Ý Vinh để tham khảo thêm ý kiến, và Vương Ý Vinh phỏng đoán rằng dòng chữ khắc đó có niên đại thời nhà Thương.

Mua thêm mai rùa, Vương Ý Vinh tiến triển nhanh trong việc giải mã, nhưng vẫn chưa đủ. Mùa hè năm 1900, một làn sóng giận dữ chống lại người phương Tây nổ ra qua phong trào Nghĩa Hòa Đoàn. Thái hậu Từ Hy hậu thuẫn cho phe nổi dậy và giao các quan lại triều đình, kể cả Vương Ý Vinh, phụ trách các nhóm nghĩa quân. Nghĩa quân Nghĩa Hòa Đoàn bao vây khu vực tập trung các đại sứ quán nước ngoài, nhưng 20.000 quân nước ngoài – gồm Nhật Bản, Nga, Anh, Mỹ và Pháp – liền tiến về Bắc Kinh. Bị liên lụy trong thảm họa, cuộc đời của ông hoàn toàn sụp đổ. Vương Ý Vinh cùng vợ và con dâu tự đầu độc và nhảy xuống giếng tự vẫn.

Những mẫu xương khắc chữ của Vương Ý Vinh được trao lại cho một người bạn cũ, nhưng chỉ trong vòng một thập niên, người bạn ấy cũng qua đời sau khi bị giáng chức và lưu đày đến miền tây hoang vu của Trung Hoa, nhưng vào năm 1903, ông đã nỗ lực công bố các văn bản chữ khắc đó trong một cuốn sách. Và cuốn sách đã tạo ra hiện tượng cuồng xương. Các học giả nước ngoài lẫn người bản xứ tranh nhau tìm mua mai rùa; có người đã trả 85g bạc cho mỗi chữ khắc trên mai rùa, ở thời điểm mà người lao động ở Bắc Kinh chỉ kiếm được 4,5g mỗi ngày. Tin xấu là hiện tượng này đã gây ra tình trạng đào bới bất hợp pháp tràn lan, với những băng nhóm có vũ trang thanh toán lẫn nhau trên các cánh đồng khoai tây vì các mảnh vỡ của những chiếc mai rùa cổ. Tuy nhiên, tin tốt lại vô cùng quan trọng. Không chỉ Vương Ý Vinh đã đúng khi những chiếc mai rùa và những mẫu xương mục này là những văn tự cổ nhất của Trung Hoa; mà các văn tự đó còn nêu tên các vị vua trùng khớp với các vị vua được nhà sử học Tư Mã Thiên liệt kê là những bậc quân chủ cuối cùng của nhà Thương.

Những người kinh doanh đồ cổ đã cố gắng giữ bí mật nguồn gốc của các mẫu xương, nhưng không bao lâu sau, mọi người đều biết nó đến từ làng An Dương, và vào năm 1928, Chính phủ Trung Hoa đã tiến hành đợt khai quật khảo cổ chính thức đầu tiên tại đó. Thật không may, đợt khảo cổ đó cũng vấp phải những vấn đề tương tự như các đợt khai quật Người Vượn Bắc Kinh ở Chu Khẩu Điếm. Các thủ lĩnh quân sự và các băng cướp đụng độ nhau khắp các vùng lân cận; những tên cướp mộ bắn nhau với cảnh sát bằng những khẩu súng ngắn tự chế; còn quân đội Nhật Bản thì ngày càng tiến gần hơn. Một số lượng mẫu chữ khắc lớn chưa từng thấy, gồm 17.000 mẫu xương, được phát hiện tại một hố khai quật chỉ một giờ trước khi mùa khai quật năm 1936 kết thúc. Các nhà khảo cổ phải đánh vật thêm bốn ngày đêm nữa để đưa các hiện vật lên khỏi mặt đất khi biết rằng họ sẽ không bao giờ có thể trở lại. Hầu hết những phát hiện của họ đã biến mất trong suốt một thập niên chiến tranh diễn ra sau đó, nhưng những vật dụng đựng đồ tế lễ bằng đồng thau và các mẫu chữ khắc buộc phải đưa sang Đài Loan sau năm 1949. Và đó là một việc đáng làm; các cuộc khai quật tại An Dương đã thay đổi lịch sử Trung Hoa thời kỳ đầu.

Các cuộc khai quật cho thấy rằng An Dương là kinh đô cuối cùng của nhà Thương, được xây dựng vào khoảng năm 1300 TCN. Một khu định cư của An Dương có tường thành bao bọc, vừa mới được xác định vị trí vào năm 1997, có diện tích gần 8km,” nhưng cũng giống như Trịnh Châu, các khu vực ngoại ô khiến nó trở nên nhỏ bé. Những đến thờ, nghĩa trang, và xưởng đúc đồng trải rộng thêm trên một diện tích khoảng 26km” nữa, tương đương một phần ba diện tích Manhattan. Một xưởng đúc kim loại được khai quật vào năm 2004 có diện tích 4,05 ha, nhưng tại trung tâm của cảnh quan tế lễ này, phần lớn những gì được ghi chép trên các văn bản khắc, lại là một hoạt động khác: các vị vua cố gắng thuyết phục tổ tiên giúp đỡ họ.

Các văn bản khắc khai quật được bắt đầu xuất hiện từ triều đại vua Vũ Đinh (Vuding) (1250-1192 TCN), và từ những thông tin trong các văn tự đó chúng ta có thể chắp nối lại các trình tự nghi lễ tạo ra chúng. Nhà vua sẽ trình các câu hỏi lên tổ tiên của mình, triệu linh hồn họ từ lăng mộ của họ bên kia bờ con sông chảy qua An Dương. Ấn mạnh que củi nung nóng lên mai rùa hoặc mẫu xương, nhà vua sẽ giải nghĩa các vết nứt do que củi nóng tạo ra, và những người chuyên môn sẽ khắc kết quả trên các mẫu xương sấm ngữ.

Các lễ tế biến vua Vũ Đinh thành tổ tiên tối cao, đứng ra tổ chức các lễ tiệc cho linh hồn của các vị vua vừa qua đời và tập hợp họ để tiếp đãi tổ tiên của chính họ, rồi đến lượt tổ tiên – trong những vấn đề thực sự hệ trọng – sẽ tiếp đãi mọi linh hồn lên đến Thiên Đế, bậc Thiên tôn vĩ đại. Ý tưởng cho rằng con rùa im lặng có thể giúp cho tiếng nói của tổ tiên được nghe rõ có thể lùi lại 6.000 năm tới các di chỉ như Giả Hồ, được đề cập trong Chương 2, nhưng tất nhiên, các vị vua triều đại nhà Thương biến ý tưởng đó trở nên lớn hơn và tốt hơn. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy hơn 200.000 mẫu xương sấm ngữ ở An Dương, và David Keightley, một học giả phương Tây hàng đầu về văn khắc, ước tính có khoảng 2 triệu đến 4 triệu chữ khắc được tạo ra lúc ban đầu, tiêu tốn hàng trăm nghìn con rùa và bò. Các lễ tế đó cũng liên quan đến việc chè chén say sưa, có lẽ để đưa nhà vua và các thầy đồng vào trạng thái tinh thần thích hợp để nói chuyện với các linh hồn.

Những vị vua nhà Thương đã cố gắng làm hài lòng các linh hồn bằng tang lễ ấn tượng để đánh dấu sự chuyển tiếp của người tiền nhiệm trở thành tổ tiên. Tám ngôi mộ hoàng gia được tìm thấy, mỗi ngôi mộ dành cho một vị vua trong giai đoạn năm 1300-1076 TCN, với ngôi mộ thứ chín chưa hoàn thành dành cho Đế Tân, vẫn còn trên ngai vàng khi triều đại sụp đổ vào năm 1046. Tất cả lăng mộ đều bị trộm, nhưng những nơi chôn cất này vẫn tạo cảm giác choáng ngợp, không phải vì nhiều nghìn tấn đất đá được di dời cho mỗi lăng mộ, một con số quá nhỏ bé so với Ai Cập, mà là thứ đặc sản tang lễ thực thụ của nhà Thương bạo lực.

Văn học cổ đại Trung Hoa nói về những người tuẫn táng trong các lễ tang của tầng lớp quý tộc, nhưng những nhà khai quật di chỉ An Dương hầu như bất ngờ với những gì họ phát hiện. Lăng mộ 1001, có lẽ là nơi yên nghỉ vua Vũ Đinh, chứa khoảng hai trăm thi hài – 9 thi hài ở đáy hâm mộ, mỗi thi hài nằm trong một hố riêng cùng với một con chó đã chết và một lưỡi dao bằng đồng bị gãy; 11 thi hài khác nằm rìa hầm mộ; khoảng từ 73 đến 136 thi hài (khó nói chính xác khi các bộ phận cơ thể bị cắt rời) nằm rải rác dọc theo đoạn đường dốc dẫn vào lăng mộ; và 80 thi hài nữa nằm trên mặt đất cạnh ngôi mộ. Khoảng 5.000 hố hiến tế được phát hiện xung quanh lăng mộ, tất cả các hố đều chứa thi hài của những người bị sát hại (chủ yếu là đàn ông, một số thi hài có các khớp xương bị mòn do lao động nặng nhọc) và động vật (từ chim muông cho đến voi). Những người xấu số không ra đi một cách êm ả. Một số bị chặt đầu; những người khác bị cắt rời chân tay hoặc bị chặt ngang lưng, những người khác vẫn bị trói và thân thể thì co quắp, chắc chắn họ đã bị chôn sống.

Những con số đáng kinh ngạc. Các mẫu xương sấm ngữ đề cập 13.052 trường hợp giết người hiến tế, và nếu Keightley nói đúng khi cho rằng chúng ta chỉ phát hiện được từ 5 đến 10% số lượng văn khắc, thì tổng cộng đã có khoảng 250.000 người đã chết. Trung bình khoảng bốn hoặc năm người có thể bị giết mỗi ngày trong suốt 150 năm. Tuy nhiên, trên thực tế, họ bị tập hợp tại các lễ tang trong cuộc chém giết, la hét, và chết chóc điên cuồng, khiến các nghĩa trang đúng là ngập trong bể máu. Gần 3.000 năm sau, các vị vua Aztec ở Mexico cũng tiến hành các cuộc chiến tranh nhằm bắt tù binh làm vật hiến tế lên thần Quetzalcoatl khát máu của họ; nhà Thương có thể đã làm điều tương tự dành cho tổ tiên của họ, đặc biệt nhằm vào tộc người mà họ gọi là rợ Khương (Qiang), hơn 7.000 người Khương được liệt kê là nạn nhân trong giáp cốt văn.

Vua Vũ Đinh và các vị vua nhà Thương khác, giống như những vị vua vĩ đại ở phương Tây, vừa nói chuyện với các linh hồn ở một thế giới khác trong khi vẫn phải đối phó với cái chết ở thế giới này. Chính sự kết hợp giữa việc thờ cúng và chiến tranh đã biến họ thành vua, và các tang lễ, nơi biến các vị vua thành tổ tiên, đầy rẫy các biểu tượng chiến tranh. Ngay cả sau khi bị trộm, ngôi mộ ký hiệu 1004 (có lẽ của Lẫm Tân [Lin Xin], băng hà vào khoảng năm 1160 TCN) vẫn còn 731 mũi giáo, 69 cái rìu, và 141 mũ mãng; và khi vua Vũ Đinh trực tiếp nói chuyện với Thiên Đế, câu chuyện vẫn thường là về chiến tranh. Một mẫu giáp cốt văn viết: “Trịnh tiên đoán vết nứt được tạo ra vào ngày 41, nếu chúng ta tấn công Mã Phương (Mafang), Thiên Đế sẽ phù hộ chúng ta.”❖

Theo các tiêu chuẩn phương Tây thì quân nhà Thương có quy mô nhỏ. Đội quân lớn nhất được ghi chép trong giáp cốt văn có 10.000 người, chỉ bằng ⅓ số quân của Ramses ở Kadesh. Tên địa danh trong các văn bản khác cũng cho thấy rằng vua Vũ Đinh chỉ trực tiếp quản lý một dải đất nhỏ ven Hoàng Hà, cộng với một số thuộc địa xa xôi như Bàn Long Thành. Tuy nhiên, ông ta không điều hành một quốc gia được quản lý theo hình thức quan liêu, nộp thuế và hợp nhất như một nhà nước có tinh thần quản lý theo kiểu Ai Cập, mà là một nhóm các đồng minh lỏng lẻo hơn. Những đồng minh này gửi cống phẩm đến An Dương – gia súc, ngựa bạch, xương và mai rùa để bói toán, và cả con người để hiến tế.

Tư Mã Thiên, nhà sử học ở thế kỷ I TCN, người đã liệt kê tên tuổi các vị vua nhà Thương, làm cho lịch sử Trung Hoa thời kỳ đầu nghe có vẻ đơn giản. Tiếp sau những vị vua hiền triết, mà đỉnh cao là vua Hạ Vũ – người xây dựng hệ thống kênh rạch, là nhà Hạ, rồi đến nhà Thương, và sau đó là nhà Chu (ba vương triều trong Dự án Nghiên cứu Niên đại Ba triều đại). Từ đó Trung Hoa phát triển, và không có gì khác đáng để nhắc đến. Tuy nhiên, trong khi khảo cổ học cho thấy rằng Nhị Lý Đầu và An Dương thực sự không gì sánh bằng trong thời đại của nó, ta cũng thấy rằng các ghi chép của Tư Mã Thiên đã quá đơn giản hóa mọi thứ. Giống như người Ai Cập và Babylon, nhà Hạ và nhà Thương cũng phải đương đầu với hàng chục lân bang.

Các nhà khảo cổ mới chỉ bắt đầu phát hiện những vết tích ấn tượng của các nhà nước khác, đặc biệt là ở miền Nam và miền Đông Trung Hoa. Và mới đây, vào năm 1986, chúng tôi có đề xuất một ý kiến nhỏ cho rằng có một vương quốc giàu có phát triển vào khoảng năm 1200 TCN tại vùng thượng lưu sông Dương Tử thuộc Tứ Xuyên; nhưng rồi các nhà khảo cổ đã tìm thấy hai hố chôn chứa đầy báu vật tại di chỉ Tam Tinh Đôi (Sanxingdui). Có hàng chục chiếc chuông đồng, hai bức tượng đàn ông cao 1,8m, đầu đội vương miện, có đôi mắt to đang nhìn chằm chằm, và những cây linh hồn bằng đồng lộng lẫy, cao gấp đôi chiều cao bức tượng. Trên các nhánh cây có nhiều hoa trái và chim làm bằng kim loại một cách tinh tế. Các nhà khai quật tình cờ phát hiện một vương quốc đã mất, và vào năm 2001, một thành phố lớn phát lộ gần Kim Sa (Jinsha). Theo một số ước tính, một nửa trong số tất cả các công trình xây dựng đường cao tốc và nhà ở trên thế giới trong những năm 2010 và 2020 sẽ được thực hiện ở Trung Hoa, và không thể đoán được rằng các nhà khảo cổ cứu hộ, đang cố gắng chạy trước một bước những chiếc máy xúc đất, sẽ phát hiện được những gì tiếp theo.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy người Hittite, Assyria, và Ai Cập là những dân tộc khác nhau do các thư tịch cổ đã bảo tồn những ngôn ngữ khác nhau của họ và chúng ta quen với việc phương Tây được chia thành nhiều quốc gia. Tuy nhiên, ở phương Đông, những miêu tả của Tư Mã Thiên rằng đặc tính Trung Hoa bắt đầu với nhà Hạ và lan tỏa ra bên ngoài, khiến việc hình dung những quốc gia đầu tiên này, mà ngày nay chúng nằm gọn trong một quốc gia hiện đại, luôn là của người Trung Hoa. Trên thực tế, phương Đông và phương Tây cổ đại có mạng lưới gồm những quốc gia cạnh tranh tương tự nhau. Các quốc gia đó có chung tín ngưỡng, tập quán và các hình thức văn hóa nhưng lại khác nhau ở những vấn đề khác. Họ giao thương, đấu tranh, cạnh tranh, và mở rộng lãnh thổ. Theo những bằng chứng được chúng tôi tích lũy, những tiến trình mà thông qua đó phát triển xã hội gia tăng ở phương Đông và phương Tây cổ đại càng lúc càng trở nên giống nhau. Có lẽ ở An Dương cũng đã từng có một căn phòng gỗ lưu giữ các chiếu thư trên vải lụa và thanh tre giống như các bảng văn khắc bằng đất sét ở Amarna, Ai Cập, ghi chép lại thư từ ngoại giao với các nhà cai trị ngoại bang nói những ngôn ngữ kỳ lạ. Vua xứ Kim Sa có thể từng gọi vua Vũ Đinh là anh trai khi họ trao đổi ý kiến về việc liệu có nên đối xử với các nhà cai trị vùng Sơn Đông như những người ngang hàng, và thậm chí vua Vũ Đinh có thể đã sắp xếp để cho một công chúa nhà Thương ngây thơ làm cô dâu của một triều đình nhỏ dọc sông Dương Tử để chịu đựng cái nóng ngột ngạt và sinh những đứa con tại một nơi cách xa gia đình và người thân của mình. Chúng ta sẽ không bao giờ biết hết được.

Mọi thứ tan rã

Tôi muốn đưa những người ngoài hành tinh của von Däniken trở lại câu chuyện một lần nữa. Ngay cả khi sự sụp đổ của Ai Cập và Lưỡng Hà khoảng sau năm 2200 TCN khiến người ngoài hành tinh ngạc nhiên, như tôi đã đặt vấn đề trước đó, họ sẽ không cảm thấy gì ngoài sự hài lòng khi đưa đĩa bay trở lại quỹ đạo thế giới của Vũ Đinh và Ramses II vào khoảng năm 1250 TCN. Lần này công việc của họ dường như đã được thực hiện thực sự. Phát triển xã hội phương Tây đã đạt đến 24 điểm trên chỉ số so sánh, gần gấp ba lần so với điểm số của năm 5000 TCN.

Trung bình một người Ai Cập hoặc Lưỡng Hà sử dụng 20.000 kcal mỗi ngày, so với 8.000 kcal vào khoảng năm 2000 TCN, và các thành phố lớn nhất, như Thebes ở Ai Cập hoặc Babylon, có thể có tới tám vạn cư dân. Có hàng nghìn người thợ sao chép bản thảo có học thức và những thư viện đồ sộ. Các đội quân vĩ đại nhất có thể huy động 5.000 cỗ xe ngựa, và chúng ta có thể phỏng đoán một cách khách quan rằng một quốc gia (có thể là Ai Cập, hoặc có lẽ là Hittite) sẽ sớm tạo ra một đế chế rộng khắp vùng lõi. Các quốc gia mới, với cung điện, đền thờ, và các vị vua-như-thần-linh, sẽ phát triển tại Italy, Tây Ban Nha và các quốc gia khác, rồi sau đó, đế chế ở vùng lõi cũng sẽ nuốt chửng các tiểu quốc này cho đến khi một vương quốc vĩ đại lấp đầy tấm bản đồ trong Hình 4.3. Phương Đông sẽ tiếp tục đuổi theo sự phát triển của phương Tây sau một hay hai thiên niên kỷ. Nó có thể sẽ trải qua những sự bất ổn và đổ vỡ giống như phương Tây, và phương Tây có thể cũng sẽ đối mặt với thêm nhiều rối ren; nhưng cũng giống như các giai đoạn trước, những bất ổn đó chỉ làm chậm trào lưu phát triển xã hội. Phương Tây vẫn duy trì vị thế dẫn đầu, chỉ trong 2.000 năm đã tìm ra các loại nhiên liệu hóa thạch và tiếp tục thống lĩnh toàn cầu.

Vì vậy, khi gần như mọi thành phố chính ở vùng lõi phương Tây, từ Hy Lạp đến khu vực mà ngày nay gọi là Dải Gaza, đều bị thiêu hủy vào khoảng năm 1200 TCN, thì những người ngoài hành tinh này có thể cho rằng đó cũng là một sự đổ vỡ khác giống như thời điểm năm 2200 hoặc 1750 TCN – một sự đổ vỡ lớn, nhưng về lâu về dài thì không có gì phải lo ngại. Thậm chí ngay cả khi thảm họa ập xuống các cung điện đột ngột đến nỗi các nhà chép sử không đủ thời gian để ghi chép lại những gì xảy ra, những người ngoài hành tinh cũng sẽ chẳng mất ngủ chút nào.

Một bảng khắc chữ đất sét bất thường có niên đại khoảng năm 1200 TCN được tìm thấy trong một cung điện đổ nát tại Pylos ở Hy Lạp mở đầu với dòng chữ đáng ngại “những người theo dõi đang canh gác bờ biển;”❖ một bảng khắc khác, phát hiện tại cùng một địa điểm, được viết một cách vội vã, có lẽ như đang mô tả những hy sinh của con người để ngăn chặn một sự cố khẩn cấp, nhưng sau đó ngừng lại, chưa hoàn tất. Ở Ugarit, một thành phố thương mại sầm uất trên bờ biển Syria, các nhà khảo cổ phát hiện một mẻ các chữ viết bằng đất sét nằm trong một lò nung, nơi những người ghi chép bản thảo dự định sấy khô trước khi đưa vào kho lưu trữ. Ugarit đã bị cướp phá trước khi có người trở lại để đưa các tài liệu này đi. Những bảng khắc chữ này từ những ngày tàn của thành phố chứa đựng những nội dung tuyệt vọng. Có một bảng nói về việc vua Hittite mong cầu lương thực: “Đây là vấn đề sinh tử!” Trong một bảng khắc khác, vua Ugarit viết rằng trong khi quân đội và thuyền chiến của ông đi giúp đỡ người Hittite, “thì các thuyền giặc đã đến đây, thành trì của ta bị đốt phá, và bọn chúng đã gây ra những điều tồi tệ ở vương quốc của ta.”❖

Bóng tối bao trùm mọi nơi, nhưng chừng nào Ai Cập còn đứng vững, thì hy vọng vẫn còn. Tại một ngôi đền được xây dựng để tôn vinh bản thân, Pharaoh Ramses III cho dựng một bảng khắc về câu chuyện có vẻ như được lấy từ thành phố Ugarit, bản khắc viết: “Các ngoại bang dựng lên một âm mưu trên các hòn đảo của chúng, không một xứ sở nào có thể đứng vững trước vũ khí của chúng.”❖ Những người ngoại bang này – mà Pharaoh Ramses gọi là Hải Nhân – đã áp đảo người Hittite, Síp và Syri. Giờ đây, vào khoảng năm 1176 TCN, họ bắt đầu đánh phá Ai Cập. Nhưng họ chưa bao đối mặt với vị vua thần linh:

Những ai tiến đến biên giới của ta, hậu duệ của chúng sẽ không còn, trái tim và linh hồn của chúng sẽ ra đi mãi mãi… Chúng bị kéo lê, bị giam giữ, bao vây, và quỳ lạy trên bãi biển, chúng bị giết, và chất thành đống từ đầu đến chân… Ta đã lấy lại đất đai từ [thậm chí] Ai Cập; vì khi chúng xướng tên của ta tại xứ sở của chúng, thì chúng cũng đang bị thiêu cháy.

Hải Nhân của Ramses III có thể cũng là những kẻ hung đồ trong các câu chuyện kể về Pylos và Ugarit. Ramses nói rằng, chúng bao gồm Shrdn, Shkrsh, Dnyn, và Prst. Các chữ tượng hình Ai Cập không ghi lại nguyên âm, và việc xác định những tộc người mang danh xưng này là công việc của các nhà sử học. Hầu hết mọi người nghĩ rằng Shrdn, phát âm là Sherden, một tên cổ của người đảo Sardinia, và Shkrsh là Sheklesh, tiếng Ai Cập nghĩa là Sikels (người đảo Sicily). Dnyn thì không rõ ràng, nhưng có thể có nghĩa là Danaans, một cái tên mà Homer sử dụng sau này để chỉ người Hy Lạp. Với Prst thì chúng ta có cơ sở vững chắc hơn: nó có nghĩa là Peleset, là một cái tên Ai Cập để chỉ người Philistine nổi tiếng trong Kinh Thánh.

Đây là một sự pha trộn của các dân tộc Địa Trung Hải, và các nhà sử học tranh luận không ngừng về điều gì đã khiến họ đến vùng châu thổ sông Nile. Chứng cứ thì chắp vá, nhưng một số nhà khảo cổ học chỉ ra các dấu hiệu cho thấy nhiệt độ tăng cao hơn và lượng mưa thấp hơn trên khắp vùng lõi phương Tây sau năm 1300 TCN. Họ cho rằng, hạn hán đã tái hiện kịch bản của năm 228900 TCN, dẫn đến tình trạng di cư và sự sụp đổ của các quốc gia. Những người khác lại nghĩ rằng động đất đã đẩy vùng lõi vào tình trạng hỗn loạn, tạo cơ hội cho nạn cướp bóc và thu hút những kẻ cướp phá từ vùng biên. Phương thức chiến đấu của con người cũng có những thay đổi, những loại kiếm mới bén ngót và những ngọn lao đáng sợ có thể đã mang lại cho các lực lượng bộ binh không chính quy, trang bị vũ khí gọn nhẹ ở các vùng ngoại vi đúng thứ vũ khí mà họ cần để đánh bại các đội quân chiến xa hào nhoáng nhưng không cơ động. Và bệnh tật cũng có thể đóng góp một phần. Một bệnh dịch kinh hoàng đã lan rộng từ Ai Cập đến tộc người Hittite vào những năm 1320 TCN. Nguyên văn trong một lời cầu nguyện: “Toàn thể người dân của vùng đất Hatti đang chết dần,”❖ và mặc dù các thư tịch còn sót lại không đề cập đến bệnh dịch nữa, nhưng nếu giống như loại bệnh dịch ở các thời kỳ vốn được ghi chép tốt hơn, thì hẳn là nó đã trở lại. Vào khoảng năm 1200 TCN dân số giảm xuống thấy rõ tại vùng lõi.

Một thực tế khó khăn là chúng ta không biết nguyên nhân cụ thể của cuộc khủng hoảng, mặc dù động lực cơ bản dường như đã rõ: một sự thay đổi đột ngột trong các mối quan hệ giữa vùng lõi và các vùng biên giới ngày càng mở rộng của nó. Như đã từng xảy ra trước đây, sự bành trướng là một con dao hai lưỡi. Một mặt, vùng biên mới Địa Trung Hải thúc đẩy phát triển xã hội, song mặt khác, nó cho thấy những ưu điểm mới của sự lạc hậu và bắt đầu xuất hiện những bất ổn – tình trạng di cư, lính đánh thuê, những chiến thuật mới không thể kiểm soát – thách thức trật tự đã được thiết lập. Và ở thế kỷ XIII TCN, dường như các cường quốc ở vùng lõi bắt đầu mất quyền kiểm soát vùng biên mà họ đã tạo ra.

Cho dù họ bị đẩy tới hoặc kéo lùi, và cho dù động cơ có là biến đổi khí hậu, động đất, những thay đổi trên chiến trường, hoặc bệnh dịch, người ta bắt đầu di chuyển vào vùng lõi với số lượng áp đảo. Vào những năm 1220 TCN, Ramses II đã củng cố các vùng biên giới của Ai Cập, ổn định cuộc sống cho người nhập cư tại các thị trấn được kiểm soát chặt chẽ hoặc tuyển họ vào lực lượng quân đội của ông, nhưng điều đó vẫn chưa đủ. Vào khoảng năm 1209 TCN, Pharaoh Merneptah phải giao chiến không chỉ với người Sherden và Sheklesh, những người Ramses III sẽ đối mặt vào những năm 1170 TCN, mà còn cả với người Libya và tộc người có tên là Akaiwasha – có lẽ là người Ahhiyawa từ Hy Lạp? – những kẻ gia nhập các lực lượng cướp phá Ai Cập từ phía tây.

Pharaoh Merneptah chiến thắng vui mừng chép lại rằng ông đã cắt 6.239 dương vật chưa lột bao quy đầu để đếm số quân địch đã chết, nhưng ngay trong lúc ông đang đếm, thì bão tố lại ập đến phương bắc. Các thành phố của Hy Lạp, Hittite và Syria bị thiêu hủy. Những câu chuyện huyền thoại sau này kể về các cuộc di cư đến Hy Lạp trong khoảng thời gian này, và ngành khảo cổ học cũng đề cập đến các cuộc di cư ra khỏi vùng đất đó. Đồ gốm tìm thấy ở Gaza, nơi người Philistine định cư vào thế kỷ XII TCN, gần như giống hệt với các loại bình gốm từ Hy Lạp, điều này cho thấy người Philistine ban đầu là những người tị nạn Hy Lạp; và nhiều người Hy Lạp đã đến định cư trên đảo Síp.

Tình trạng di cư có thể phát triển nhanh chóng khi những người tị nạn từ những khu vực bị tàn phá cũng tham gia vào. Nó giống như một phong trào vô định hình, cùng với tình trạng cướp bóc và xung đột rời rạc diễn ra khắp nơi cùng một lúc. Rõ ràng, sự sụp đổ của Syria đã đẩy tộc người có tên là Aramean đến vùng Lưỡng Hà, và mặc dù Ramses tuyên bố chiến thắng, các Hải Nhân trước đây vẫn định cư tại Ai Cập. Giống như Hy Lạp, Ai Cập đã trải qua cả quá trình di cư đến và đi. Câu chuyện Kinh Thánh về Moses và người Do Thái chạy trốn khỏi Ai Cập và cuối cùng định cư tại vùng đất mà ngày nay là Bờ Tây xem ra đã phản ánh những năm tháng hỗn loạn đó. Có thể không phải ngẫu nhiên khi tài liệu đầu tiên ngoài Kinh Thánh nhắc đến vùng đất Israel là tuyên bố của Merneptah trong bảng văn khắc ở thời điểm khoảng năm 1209 TCN rằng ông để vùng đất đó “hoang hóa, trơ trụi không một hạt giống.”❖

Quy mô của các cuộc di cư bắt đầu vào những năm 1220 TCN đã làm cho tình trạng trì trệ trước đó trở nên nhỏ bé, nhưng đến những năm 1170 TCN, nếu người ngoài hành tinh quan sát từ đĩa bay vẫn có thể hy vọng rằng tình tiết này sẽ diễn ra giống như những lần trước. Cuối cùng, Ai Cập không bị cướp phá, và ở vùng Lưỡng Hà người Assyria thực sự mở rộng vương quốc của họ do các quốc gia đối địch có cụm lại. Nhưng khi thế kỷ XII TCN từ từ trôi qua và các biến động vẫn tiếp tục, thì sự việc dần trở nên rõ ràng rằng sự đổ vỡ này là một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ.

Ở Hy Lạp, những cung điện bị phá hủy sau thời điểm năm 1200 TCN không được tái dựng lại và bộ máy quan liêu cũ biến mất. Những quý tộc tương đối giàu có hầu như vẫn duy trì lối sống cũ, thường xuyên chuyển đổi nơi ở đến những khu vực dễ bảo vệ ở vùng núi hay những hòn đảo nhỏ, nhưng một làn sóng phá hủy mới lại ập đến vào khoảng năm 1125 TCN. Khi còn là một thực tập sinh, tôi có được may mắn gấp bội (không chỉ với môn khảo cổ học hấp dẫn, mà còn gặp được người vợ tương lai của tôi ở đó) khi tham gia khai quật các di chỉ này, một ngọn đồi có thành lũy bảo vệ ở Koukounaries, trên đảo Paros.⦾ Thủ lĩnh của vùng đất này tận hưởng một lối sống hoàn mỹ với phong cảnh nên thơ, bãi biển tuyệt vời, và một ngai vàng được trang trí bằng khảm ngà voi, nhưng vào khoảng năm 1100 TCN, thảm họa đã khiến ông sụp đổ. Dân làng của ông thu nhặt những viên đá để ném vào những kẻ tấn công và đưa gia súc của họ ra phía sau tường thành (chúng tôi tìm thấy những bộ xương lừa giữa những tàn tích), nhưng phải bỏ chạy khỏi những đám cháy khi những kẻ tàn phá – đến nay chúng ta chưa biết rõ – đột chiếm kinh thành. Những cảnh tương tự diễn ra trên khắp Hy Lạp, và vào thế kỷ XI TCN, những người sống sót chỉ xây dựng những ngôi nhà nhỏ đơn giản bằng bùn đất. Dân số, thợ thủ công và tuổi thọ đều giảm đồng loạt; một kỷ nguyên tăm tối bắt đầu.

Hy Lạp là trường hợp cực đoan, nhưng Đế chế Hittite cũng sụp đổ, Ai Cập và Babylon cố gắng kiểm soát người di cư và những kẻ cướp phá. Nạn đói lan rộng khi người dân bỏ hoang ruộng vườn. Vì nông dân không thể đóng thuế, nên các quốc gia cũng không thể huy động được quân đội; và vì không có quân đội, các cuộc tấn công, cướp phá không được kiểm soát và các thủ lĩnh địa phương lập ra các công quốc riêng. Vào khoảng năm 1140 TCN, đế chế của Ai Cập tại vùng đất ngày nay là Israel suy tàn và biến mất. Bị bỏ rơi bởi các thủ lĩnh thuê mướn, lực lượng quân đội đồn trú trở thành nông dân hay thảo khấu. “Vào những ngày đó, ở Israel không có vua,” trích trong Sách Thủ lĩnh (Book of Judges), thư tịch của người Do Thái kể về họ trong sự sụp đổ này; “mọi người tự ý làm những gì họ cho là đúng.”❖

Vào khoảng năm 1100 TCN, bản thân Ai Cập cũng bị phân chia thành nhiều mảnh. Thebes ly khai, những người nhập cư lập ra các công quốc ở vùng châu thổ sông Nile và không lâu sau đó, Ramses XI, vị vua-thần chính thức, để quan tể tướng tư vấn, và viên quan này đã chiếm ngôi vào năm 1069 TCN. Trong vài thế kỷ, một số pharaoh ít được biết đến của Ai Cập lập nên các đội quân lớn, xây dựng nhiều công trình, hoặc để lại nhiều ghi chép.

Đế quốc Assyria, thoạt đầu trông giống như một vương quốc thành công, dần dà mất quyền kiểm soát khu vực nông thôn khi phong trào của những tộc người Aramean nổ ra ngày càng nhiều. Vào khoảng năm 1100 TCN, những cánh đồng bị bỏ hoang, kho bạc trống rỗng, và nạn đói lan tràn các vùng đất. Tình hình càng trở nên khó đoán hơn khi giới quan liệu ít ghi chép lại các sự kiện, đúng hơn là đột ngột ngừng ghi chép sau thời điểm năm 1050 TCN. Vào thời kỳ đó, các thành phố của Assyria không còn một bóng người và đế chế của họ chỉ còn là một ký ức.

Vùng lõi phương Tây đã thu hẹp lại vào thời điểm năm 1000 TCN. Các lãnh địa Sardinia, Sicily và Hy Lạp hầu như mất liên lạc với thế giới rộng lớn, và các thủ lĩnh quân sự thì chia phần những xác chết của đế quốc người Hittite và Assyria. Ở Syria và Babylonia, các thành phố vẫn tồn tại, nhưng trở nên sa sút thảm hại so với các trung tâm đô thị lớn như Ugarit vào khoảng thiên niên kỷ thứ hai TCN. Một số các quốc gia nhỏ vẫn còn tồn tại ở Ai Cập, nhưng yếu hơn và nghèo hơn đế chế vinh quang của Ramses II. Và lần đầu tiên, phát triển xã hội thực sự đi xuống. Các số liệu cho mỗi lĩnh vực tiêu biểu đều giảm: vào khoảng năm 1000 TCN, người ta ít khai thác năng lượng hơn, sống ở các thành phố nhỏ hơn, có quân đội yếu hơn và sử dụng ít văn bản ghi chép hơn những người đi trước đã làm vào khoảng năm 1250 TCN. Các chỉ số đã giảm xuống mức của 600 năm trước.

Các cỗ chiến mã, không phải của thần linh

Khoảng năm 1200 TCN, trong lúc vua Vũ Đinh còn ngự trị trên ngai vàng, tầng lớp tinh hoa nhà Thương tìm thấy những thứ mới mẻ để hủy hoại trong các lễ tang của mình: những cỗ chiến mã. Những thứ này xuất hiện trong vài chục ngôi mộ ở thế kỷ XII và XI TCN tại An Dương (chắc hẳn, những cỗ xe có đầy đủ ngựa và đội kỵ binh đã bị giết). Các cỗ chiến mã của nhà Thương trông giống những cỗ xe xuất hiện ở vùng lõi phương Tây 500 năm trước⦾ đến mức hầu hết các nhà khảo cổ học đều đồng ý rằng cả hai loại xe có chung nguồn gốc từ cỗ xe được phát minh ở Kazakhstan vào năm 2000 TCN. Phải mất hai đến ba thế kỷ thì những cỗ chiến mã này mới tiếp cận tộc người Hurrian và làm thay đổi cán cân quyền lực ở phương Tây; cũng mất đến tám thế kỷ chúng mới vượt qua một khoảng cách xa hơn để đến vùng châu thổ Hoàng Hà.

Giống như người Ai Cập và người Babylon, nhà Thương cũng chậm chạp trong việc tiếp nhận loại vũ khí mới. Chắc họ đã học hỏi về các cỗ chiến mã từ các dân tộc mà họ gọi là Bắc Địch và Tây Nhung (rợ Khương), những mảnh giáp cốt văn từng mô tả những người láng giềng này sử dụng các cỗ chiến mã trong chiến trận. Dưới triều đại vua Vũ Đinh, người ta chỉ sử dụng các cỗ chiến mã để săn bắt, thậm chí họ cũng không giỏi sử dụng lắm. Một văn bản đầy đủ mô tả việc vua Vũ Đinh bị tai nạn trong lúc đuổi theo bầy tê giác. Ông nhảy ra được, nhưng một hoàng tử tên Dương (Yang) bị thương rất nặng đến mức có cả một bản giáp cốt văn ghi lại những nỗ lực nhằm xua đuổi các linh hồn khiến vị hoàng tử này đau đớn. Một trăm năm sau, nhà Thương đã sử dụng một số cỗ xe trong chiến đấu, nhưng thay vì tập hợp các cỗ xe lại thành một khối như người Hittite và người Ai Cập đã làm, họ lại phân tán chúng trong các lực lượng bộ binh, có lẽ chỉ dành cho các viên tướng chỉ huy cưỡi chạy quanh.

Mối quan hệ giữa nhà Thương với các dân tộc láng giềng ở tây bắc có lẽ tương đối giống với mối quan hệ giữa Lưỡng Hà với người Hurrian và Hittite trước đó 500 năm. Giống như người dân vùng Lưỡng Hà, nhà Thương giao thương và chiến đấu với các dân tộc láng giềng, kích động các dân tộc đánh nhau. Một trong những tộc người này là nhà Chu, lần đầu tiên được đề cập trong giáp cốt văn như là một kẻ thù vào khoảng năm 1200 TCN. Sau đó họ hiện diện như những đồng minh, nhưng vào năm 1150 TCN, họ lại trở thành kẻ thù một lần nữa, ngày nay họ định cư tại vùng thung lũng Vị Hà. Trong thời gian bang giao và cắt đứt bang giao với nhà Thương, nhà Chu dường như cũng đã thích nghi và du nhập các yếu tố văn hóa của nhà Thương cho phù hợp với họ. Vào khoảng năm 1100 TCN, họ thành lập một quốc gia riêng, với đầy đủ cung điện, vật dụng bằng đồng dùng trong tế lễ, bói toán và lăng mộ hào nhoáng. Một quý tộc nhà Chu cũng cho giết một đội chiến mã, đúng theo phong cách nhà Thương, tại lễ tang của mình, và thậm chí các vua nhà Chu còn cưới những công chúa nhà Thương. Nhưng rồi – cũng giống như người dân Lưỡng Hà đối phó với các dân tộc láng giềng Hurrian và Hittite sử dụng những cỗ chiến mã, nhà Thương mất khả năng kiểm soát tình hình. Hình như nhà Chu đã tập hợp được một liên minh các dân tộc tây bắc, và vào khoảng năm 1050 TCN đe dọa trực tiếp kinh đô An Dương của nhà Thương.

Giống như các quốc gia phương Tây cổ đại, nhà Thương cũng sụp đổ khá nhanh khi xảy ra bất ổn. Giáp cốt văn cho thấy động lực nội tại của tầng lớp quý tộc nhà Thương rơi vào tình trạng hỗn loạn từ khoảng năm 1150 TCN, điều này khiến nhà vua hùng mạnh hơn nhưng lại ít được sự trợ giúp của tầng lớp quý tộc hơn. Đến năm 1100 TCN, các thuộc địa của nhà Thương ở phía nam có thể đã bị phá vỡ, và nhiều đồng minh gần hơn (như nhà Chu) ly khai.

Vào năm 1048 TCN, vua nhà Thương là Đế Tân (Di Xin) vẫn có thể tập hợp được 800 chư hầu để ngăn chặn một cuộc tấn công của nhà Chu, nhưng hai năm sau, đó lại là một câu chuyện khác. Vua nhà Chu là Chu Vũ Vương huy động 300 cỗ chiến mã và bọc hậu để chiếm An Dương từ hậu phương. Một bài thơ đương thời mô tả những cỗ chiến mã của nhà Chu đóng vai trò quyết định:

Những cỗ chiến mã sáng lòa,

Một đội bụng trắng dáng dấp thật mạnh mẽ…

Ồ, kia là Vũ Vương

Tấn công hoàng đế Đại Thương như vũ bão,

Khiến ngài phải cầu xin ngừng chiến trước lúc bình minh.

Đế Tân phải tự sát. Chu Vũ Vương lôi kéo được một số thủ lĩnh của nhà Thương, và hành quyết một số khác, đồng thời cho con trai Đế Tân làm vua một nước chư hầu. Chẳng bao lâu sau, những dàn xếp chính trị của Chu Vũ Vương gặp phải rắc rối, như chúng ta sẽ thấy ở Chương 5, nhưng vào thời kỳ đó khoảng cách phát triển xã hội giữa phương Đông và phương Tây đã nhanh chóng thu hẹp. Phương Tây đã có bước xuất phát thuận lợi trước 2.000 năm so với phương Đông trong nông nghiệp, tổ chức làng mạc, thành phố và quốc gia, nhưng suốt thiên niên kỷ thứ hai và thứ ba TCN, vị trí dẫn đầu của phương Tây liên tục thu hẹp lại chỉ còn 1.000 năm.

Vào những năm 1920, hầu hết các nhà khảo cổ phương Tây cho rằng họ biết tại sao Trung Hoa bắt đầu bắt kịp: đó là vì người Trung Hoa đã sao chép hầu hết mọi thứ – nông nghiệp, đồ sứ, xây dựng, luyện kim, chiến xa – từ phương Tây. Grafton Elliot Smith, một nhà giải phẫu học người Anh ở Cairo, quá nhiệt tình đến nỗi ông còn tìm cách gán cho sự ghen tị với Ai Cập bằng một tên gọi xấu. Bất cứ nơi nào trên thế giới mà ông nhìn và bất cứ cái gì mà ông nghiên cứu – kim tự tháp, nghệ thuật xăm, những câu chuyện về người lùn và người khổng lồ – Elliot Smith đều thấy sự sao chép các nguyên mẫu của Ai Cập, do ông bị thuyết phục rằng người Ai Cập Những đứa con của Mặt Trời❖ đã phổ biến nền văn hóa heliolithic (mặt trời và đá) khắp thế giới. Elliot Smith kết luận rằng nếu suy nghĩ về điều đó một cách nghiêm túc, tất cả chúng ta đều là người Ai Cập.

Điều này phần nào nghe quái gở ngay cả vào thời điểm đó, và kể từ những năm 1950, ngành khảo cổ đã kiên định bác bỏ mọi tuyên bố của Elliot Smith. Nền nông nghiệp phương Đông phát triển một cách độc lập; người phương Đông sử dụng đồ gốm trước người phương Tây hàng nghìn năm; phương Đông có truyền thống xây dựng các công trình vĩ đại, ngay cả sự hiến tế con người cũng là một phát minh độc lập của phương Đông. Tuy nhiên, ngoài tất cả những điều này, một số ý tưởng quan trọng rõ ràng đã chuyển từ phương Tây sang phương Đông, trên hết là kỹ thuật chế tác đồ đồng. Thứ kim loại đó, rất quan trọng tại Nhị Lý Đầu, lần đầu tiên được nhìn thấy ở Trung Hoa không phải ở vùng châu thổ sông Y-Lạc phát triển mà là ở vùng đất Tân Cương khô cằn, gió bụi xa về phía tây bắc, có lẽ là sau khi được đưa qua các vùng thảo nguyên bởi tộc người giống phương Tây mà tôi đã đề cập trước đó về nơi an táng của họ ở lòng chảo Tarim. Những cỗ chiến mã, như chúng ta đã thấy, có thể đã đến đó theo cùng một cách, chỉ 500 năm sau khi chúng tiếp cận vùng lõi phương Tây từ các vùng thảo nguyên.

Tuy nhiên, trong khi sự khuếch tán từ Tây sang Đông có thể giải thích phần nào sự bắt kịp của Trung Hoa, thì cho đến nay yếu tố quan trọng nhất không phải là sự sao chép của phương Đông mà là sự sụp đổ của phương Tây. Tính đến năm 1200 TCN, phát triển xã hội ở phương Đông vẫn đi sau phương Tây 1.000 năm, nhưng sự sụp đổ hoàn toàn của vùng lõi phương Tây đã thực sự xóa sạch toàn bộ thành tựu trong 6 thế kỷ. Vào khoảng năm 1000 TCN, chỉ số phát triển của phương Đông chỉ đứng sau chỉ số phát triển phương Tây vài trăm năm. Sự sụp đổ lớn lao của phương Tây ở giai đoạn năm 1200-1000 TCN đã khởi sự cho bước ngoặt đầu tiên trong câu chuyện của chúng ta.

Những kỵ sĩ khải huyền

Tuy nhiên, nguyên nhân tại sao vùng lõi phương Tây sụp đổ vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất của lịch sử. Nếu có được câu trả lời chắc chắn, tôi sẽ nêu ra ngay bây giờ, nhưng thực tế đáng buồn là trừ phi một sự may mắn nào đó đem đến một bằng chứng hoàn toàn mới, có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết thêm được gì.

Dù sao, việc nghiên cứu một cách hệ thống những rào cản đối với phát triển xã hội được mô tả trong chương này khá rõ ràng. Bảng 4.1 tóm tắt những gì theo tôi là những đặc điểm quan trọng nhất.

Chúng ta biết quá ít về những xâu xé đã cản trở sự bành trướng của thành Uruk ở phương Tây vào khoảng năm 3100 TCN và Đào Tự ở phương Đông vào khoảng năm 2300 TCN đến mức chúng tôi không thể đưa ra để thảo luận, ngoại trừ bốn trường hợp trong số các biến động vẫn còn phân chia thành hai cặp. Cặp đầu tiên – cuộc khủng hoảng phương Tây sau năm 1750 TCN và cuộc khủng hoảng phương Đông vào khoảng năm 1050 TCN – có thể nói là do con người tạo ra. Chiến tranh với những cỗ chiến mã đã thay đổi cán cân quyền lực; các dân tộc mới đến đây tham vọng thì lấn vào các vùng lõi; rồi bạo lực, di cư, và thay đổi chế độ xảy ra sau đó. Hậu quả chính, trong cả hai trường hợp, là sự chuyển đổi quyền lực sang các nhóm người ở vùng ngoại vi trước đây, với sự phát triển tiếp tục gia tăng.

Cặp thứ hai – các cuộc khủng hoảng phương Tây ở giai đoạn năm 2200-2000 TCN và 1200-1000 TCN – thì hoàn toàn khác, rõ ràng nhất là vì tự nhiên đã khuếch đại sự điên rồ của con người.

Thời điểm (TCN) Di dân Sự thất bại của nhà nước Nạn đói Bệnh tật Biến đổi khí hậu
Phương Tây
3100
2200
1750
1200 ✔?
Phương Đông
2300
1050

Bảng 4.1. Những kỵ sĩ Khải huyền: quy mô thảm họa được ghi chép, năm 3100-1050 TCN.

Biến đổi khí hậu phần lớn nằm ngoài sự kiểm soát của con người, và ít nhất cũng chịu một phần trách nhiệm đối với nạn đói trong những thời kỳ này (tuy nhiên, nếu câu chuyện Kinh Thánh về Joseph là người dẫn đường, sự yếu kém trong quy hoạch cũng có phần đóng góp). Cặp thứ hai của sự đổ vỡ này khốc liệt hơn cặp thứ nhất, và chúng ta có thể rút ra một kết luận tạm thời từ điều này: khi bốn kỵ sĩ Khải huyền – biến đổi khí hậu, nạn đói, sự thất bại của nhà nước, và di dân – cùng đồng hành, và đặc biệt khi kỵ sĩ thứ năm là dịch bệnh cùng tham gia, những gián đoạn và trì trệ có thể biến thành sự sụp đổ, thậm chí đôi khi đẩy phát triển xã hội đi xuống.

Tuy nhiên, chúng ta không thể kết luận rằng độ nghiêng và lắc của quỹ đạo trái đất đứng sau biến đổi khí hậu gây ra sự sụp đổ một cách trực tiếp. Đợt hạn hán tác động tiêu cực đến vùng lõi phương Tây vào khoảng năm 2200 TCN giờ dường như khốc liệt hơn đợt hạn hán diễn ra vào khoảng năm 1200 TCN, thế nhưng vùng lõi đã vượt qua được trong khoảng thời gian 2200-2000 TCN, trong khi nó lại sụp đổ vào giai đoạn năm 1200-1000 TCN. Đợt hạn hán bắt đầu vào khoảng năm 3800 TCN có thể tồi tệ hơn đợt hạn hán xảy ra vào khoảng năm 2200 hay năm 1200 TCN, nhưng nó có tác động tương đối ít ở phương Đông và thực sự thúc đẩy sự phát triển xã hội đi lên ở phương Tây.

Điều này đưa ra khả năng thứ hai: sự sụp đổ xuất phát từ sự tương tác giữa thế lực tự nhiên và thế lực con người. Tôi nghĩ chúng ta có thể xác định cụ thể hơn về vấn đề này: vùng lõi lớn hơn, phức tạp hơn sẽ tạo ra các biến động lớn hơn, nguy hiểm hơn, làm tăng nguy cơ các thế lực cản trở như biến đổi khí hậu và di cư sẽ mang lại sự sụp đổ hoàn toàn. Vào khoảng năm 2200 TCN, vùng lõi phương Tây đã lớn rộng với nhiều cung điện, các vị vua-thần, và các nền kinh tế tái phân phối bao phủ toàn bộ khu vực từ Ai Cập đến Lưỡng Hà. Khi những đợt hạn hán và di cư xuất phát từ sa mạc Syria và vùng núi Zagros làm chao đảo các mối quan hệ bên trong và bên ngoài khu vực này, hậu quả của nó thật là khủng khiếp, nhưng do hai vùng lõi Ai Cập và Lưỡng Hà không có mối liên kết chặt chẽ nên mỗi quốc gia tồn tại hay sụp đổ một cách độc lập. Vào khoảng năm 2100 TCN, Ai Cập phần nào đã bị sụp đổ, trong khi Lưỡng Hà lại phục hồi; và khi Lưỡng Hà bị sụp đổ một phần vào khoảng năm 2000 TCN, thì Ai Cập lại hồi sinh.

Ngược lại, vào năm 1200 TCN, vùng lõi đã mở rộng đến Anatolia và Hy Lạp, đồng thời vươn tới các ốc đảo ở Trung Á, thậm chí đã chạm đến Sudan. Dường như các cuộc di cư đã bắt đầu tại vùng biên giới mới đầy bất ổn ở Địa Trung Hải, nhưng trong thế kỷ XII TCN, người dân liên tục di chuyển khắp mọi nơi từ Iran đến Italy. Nắm tuyết mà họ tạo ra lớn hơn rất nhiều so với những gì đã từng nhìn thấy trước đây và nó lăn khắp vùng lõi có nhiều mối gắn kết hơn đồng thời cũng nhiều bất ổn hơn. Những kẻ cướp bóc đột phá ruộng vườn tại Ugarit do nhà vua đưa quân đội đi giúp người Hittite; những thảm họa ở nơi này kết hợp với các thảm họa ở nơi khác theo những cách chưa từng xảy ra một ngàn năm trước đó. Khi một vương quốc sụp đổ, nó ảnh hưởng đến các vương quốc khác. Sự hỗn loạn kéo dài suốt thế kỷ XI TCN, và cuối cùng nó kéo mọi người xuống vực thẳm.

Nghịch lý của phát triển xã hội – xu hướng khiến sự phát triển lại là nguyên nhân gây ra những thế lực làm nó suy yếu – nghĩa là các lõi lớn hơn tạo ra những vấn đề lớn hơn cho chính nó. Điều này đã quá quen thuộc với thời đại của chúng ta. Tăng trưởng tài chính quốc tế ở thế kỷ XIX đã gắn kết các quốc gia tư bản ở châu Âu và Mỹ và giúp thúc đẩy phát triển xã hội gia tăng nhanh hơn bao giờ hết, nhưng điều này cũng làm cho bong bóng thị trường chứng khoán Mỹ năm 1929 kéo tất cả các quốc gia này đi xuống, và sự gia tăng đáng kinh ngạc về tính phức tạp trong tài chính giúp thúc đẩy phát triển xã hội đi lên trong 50 năm qua, nhưng đồng thời cũng tạo ra một bong bóng mới ở Mỹ vào năm 2008 làm rung chuyển hầu như toàn bộ thế giới đến tận nền móng.

Đây là một kết luận đáng báo động, nhưng chúng ta cũng có thể rút ra được một luận điểm thứ ba, lạc quan hơn từ lịch sử hỗn loạn của những quốc gia sơ khai này. Các vùng lõi lớn hơn, phức tạp hơn tạo ra những cản trở lớn hơn, nguy hiểm hơn nhưng cũng đưa ra nhiều cách ứng phó tinh vi hơn. Các nhà lãnh đạo tài chính trên thế giới đã nhanh chóng ứng phó với sự cố năm 2008 theo những phương cách mà người ta không thể hình dung được vào năm 1929, và tại thời điểm tôi viết cuốn sách này (vào đầu năm 2010), xem ra họ đã ngăn chặn được thảm họa tương tự cuộc khủng hoảng ở thập niên 1930.

Khi phát triển xã hội đi lên, nó cũng tạo ra một cuộc đua giữa sự đổ vỡ ngày càng đe dọa hơn và những chống đỡ ngày càng tinh vi hơn. Đôi khi, như đã xảy ra ở phương Tây vào khoảng năm 2200 và 1200 TCN, những thách thức luôn áp đảo các phương thức ứng phó sẵn có. Cho dù do những nhà lãnh đạo mắc sai lầm, thể chế bị sụp đổ hay do không có tổ chức và công nghệ, thì các vấn nạn vẫn gia tăng vượt tầm kiểm soát, sự trì trệ chuyển sang sụp đổ, và phát triển xã hội thụt lùi.

Trước sự sụp đổ ở giai đoạn năm 1200-1000 TCN, phát triển xã hội phương Tây vẫn đang vận hành tốt, dẫn trước phát triển xã hội phương Đông trong suốt 13.000 năm. Có đủ lý do để nghĩ rằng vị trí dẫn đầu của phương Tây là vĩnh viễn. Nhưng sau khi sụp đổ, vị trí dẫn đầu của phương Tây là hết sức mong manh; một bước thoái trào khác có thể xóa sạch tất cả. Nghịch lý của sự phát triển xã hội, diễn ra hết sức tàn nhẫn và thường xuyên ở khoảng năm 5000-1000 TCN, cho thấy không có gì tồn tại mãi mãi. Không một lý thuyết chốt khóa dài hạn đơn giản nào có thể cho chúng ta biết lý do tại sao phương Tây lại thống lĩnh thế giới.

Người dịch Nguyễn Thanh Xuân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.