Tại Sao Phương Tây Vượt Trội

Lượt đọc: 133 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
9 Phương Tây đuổi kịp
Thủy triều lên

❊ ❊ ❊

Tổng thống John F. Kennedy từng nói: “Thủy triều lên có thể nâng mọi con tàu.”❖ Câu nói này chưa bao giờ đúng hơn vào khoảng giữa năm 1500 và năm 1800, khi chỉ trong ba thế kỷ, phát triển xã hội phương Đông và phương Tây đã trỗi dậy (Hình 9.1). Đến năm 1700, cả hai đã đẩy đến ngưỡng quanh 43 điểm; và đến năm 1750 thì cả hai đều vượt ngưỡng.

Kennedy phát ngôn câu nói nổi tiếng này ở Heber Springs, Arkansas, trong một bài phát biểu khánh thành một đập nước mới. Dự án bị những người chỉ trích ông đánh giá là loại chi tiêu vào phát triển địa phương tồi tệ nhất: chắc chắn họ cũng thấy rằng thủy triều lên sẽ nâng thuyền như trong câu phát biểu, nhưng nó lại nâng một số chiếc nhanh hơn những chiếc khác. Điều đó cũng chưa bao giờ đúng hơn từ năm 1500 đến năm 1800. Phát triển xã hội phương Đông tăng lên một phần tư, nhưng phương Tây lại tăng gấp đôi. Vào năm 1773 (hay chấp nhận có sai số hợp lý, khoảng giữa năm 1750 đến năm 1800), sự phát triển ở phương Tây đã qua mặt phương Đông, chấm dứt thời kỳ phương Đông kéo dài 1.200 năm.

Các sử gia tranh luận sôi nổi về lý do tại sao thủy triều toàn cầu tăng lên nhiều sau năm 1500 và lý do tại sao con tàu phương Tây lại tỏ ra đặc biệt nổi bật. Trong chương này tôi cho rằng hai câu hỏi này liên quan với nhau và một khi chúng ta đưa chúng vào bối cảnh phù hợp, về chuỗi sự kiện dài hạn của phát triển xã hội, thì câu trả lời không còn gì là bí ẩn nữa.

Hình 9.1. Một số con tàu nổi lên tốt hơn các tàu khác: trong thế kỷ XVIII, trào lưu phát triển xã hội đã thúc đẩy Đông và Tây vượt ngưỡng vốn luôn hạn chế các nền kinh tế hữu cơ, nhưng nó thúc đẩy phương Tây tiến lên vững chắc hơn, vượt xa hơn và nhanh hơn. Năm 1773, theo chỉ số, phương Tây giành lại vị trí dẫn đầu.

Chuột sa chĩnh gạo

Phải mất một thời gian để vượt qua Tomé Pires. Mãi đến năm 1557, quan lại Trung Hoa vẫn vờ như không thấy những thương nhân Bồ Đào Nha đang định cư ở Ma Cao (Hình 9.2), và mặc dù vào năm 1570, các thương nhân Bồ khác đã bắt đầu công việc kinh doanh dọc theo bờ biển châu Á, như Nagasaki ở Nhật Bản, tuy số lượng vẫn còn nhỏ bé vô cùng. Đối với hầu hết người phương Tây, những vùng đất phương Đông vẫn chỉ là những tên gọi huyền bí, nhưng đối với hầu hết người phương Đông thì Bồ Đào Nha thậm chí không được như vậy.

Tác động chính mà các nhà thám hiểm châu Âu gây ra cho đời sống thường dân phương Đông ở thế kỷ XVI là qua các loại thực phẩm kỳ lạ như bắp, khoai tây, khoai lang, đậu phộng, được đem đến từ Tân Thế giới. Chúng phát triển ở những nơi không cây gì mọc được, tồn tại trong thời tiết xấu, và làm lợi cho những người nông dân cũng như vỗ béo đàn gia súc của họ. Suốt trong thế kỷ XVI, hàng trăm hecta các giống hoa màu này được trồng từ Ireland đến Hoàng Hà.

Hình 9.2. Một thế giới đông đúc: phương Đông ở một thời kỳ triều dâng, năm 1500-1700.

Có lẽ chúng xuất hiện đúng lúc. Thế kỷ XVI là thời kỳ vàng son của nền văn hóa phương Đông lẫn phương Tây. Vào thập niên 1590 (được xem là thập niên đặc biệt vượt trội) người dân thành phố London có thể xem những vở kịch mới của Shakespeare như Henry V, Julius CaesarHamlet hoặc đọc những tiểu luận tôn giáo không đắt tiền như cuốn Book of Martyrs (Sách về Những Kẻ Tuẫn Đạo) đầy máu me của John Foxe, được in đại trà hàng nghìn bản từ những nhà in mới mọc lên, đây ắp các mộc bản về những tín đồ chân chính bị cắm trên cọc nhọn. Ở đầu kia của đại lục Âu-Á, người dân Bắc Kinh có thể theo dõi vở Mẫu đơn đình dài 20 tiếng của Thang Hiển Tổ, hiện vẫn là vở kịch truyền thống được xem nhiều nhất của Trung Hoa, hoặc đọc Tây Du ký (của Ngô Thừa Ân).

Nhưng không phải phía sau vẻ ngoài hào nhoáng mọi thứ đều tốt đẹp. Cái Chết Đen đã cướp đi hơn ⅓ dân số ở các vùng lõi phương Tây và phương Đông, và khoảng một thế kỷ sau năm 1350 những dịch bệnh bùng phát trở lại khiến dân số vẫn duy trì ở mức thấp. Thế nhưng, từ năm 1450 đến năm 1600, những cái miệng háu ăn ở mỗi vùng vẫn tăng gấp đôi. Một học giả Trung Hoa ghi nhận vào năm 1608: “Dân số đã phát triển đến mức hoàn toàn không có thời kỳ nào tương đương trong lịch sử.”❖ Những nhà quan sát ở nước Pháp xa xôi cũng đồng ý như thế; con người đang nhân lên “như chuột sa chĩnh gạo”❖, một câu thành ngữ đã nói.

Sự sợ hãi luôn là một động cơ của phát triển xã hội. Thêm nhiều trẻ em có nghĩa là nhiều lĩnh vực phải bao cấp hoặc nhiều người thừa tự phải chịu cảnh giá rét ngoài trời, và luôn đồng nghĩa với sự lo toan. Nông dân phải gieo trồng và chăm bón thường xuyên hơn, ngăn đập, đào giếng, hay dệt vải để bán được nhiều áo quần. Một số định cư trên những vùng đất khó canh tác, kiếm sống chật vật từ những sườn đồi, đá, và cát mà cha mẹ họ vốn chưa bao giờ cảm thấy phiền toái. Những người khác lại từ bỏ những vùng lõi định cư đông đúc để đến những vùng biên giới hoang dã, dân cư thưa thớt. Ngay cả khi trồng được những loại hoa màu kỳ diệu từ Tân Thế giới, với họ dường như vẫn chưa đủ.

Thế kỷ XV, thế kỷ mà lao động khan hiếm và đất đai thừa mứa ngày càng trở thành ký ức nhạt nhòa: những tháng ngày hạnh phúc, với thịt bò và bia, thịt lợn và rượu. Về sau, huyện quan ở một huyện gần Nam Kinh năm 1609 nói rằng mọi thứ đã từng tốt đẹp hơn: “Mọi gia đình đều sống tự túc, có một ngôi nhà để ở, đất để canh tác, những ngọn đồi để lấy củi, vườn để trồng rau. Vậy mà giờ đây cứ 10 người thì đến chín người phải sống trong cảnh nghèo túng… Lòng tham thì vô hạn, điều này quá rõ… Than ôi!”❖

Hình 9.3. Để giàu hơn, để nghèo hơn: mức tiền công thực của lao động đô thị không có kỹ năng ở sáu thành phố phương Tây cộng với Bắc Kinh, 1350-1800. Mỗi thành phố và mỗi ngành công nghiệp đều có câu chuyện riêng, nhưng hầu như ở mọi nơi chúng ta đều có thể tính toán được, sức mua của công nhân sau khi tăng gấp đôi giữa những năm 1350-1450 đã giảm trở lại xuống mức trước năm 1350 vào những năm 1550 hay 1600. Vì những lý do mà sau này sẽ rõ ràng hơn ở chương này, sau năm 1600 các thành phố ở phía tây bắc châu Âu ngày càng bứt khỏi những nơi còn lại. (Dữ liệu khởi đầu ở Paris và Valencia chỉ khoảng năm 1450 và ở Bắc Kinh vào khoảng năm 1750 và – không lấy gì làm ngạc nhiên – có khoảng trống trong số liệu từ Constantinople khoảng năm 1453, do Đế quốc Ottoman cướp phá thành phố). Dữ liệu từ Allen 2006, Hình 2.

Một nhà du hành người Đức khoảng năm 1550 đã thẳng thừng: “Trong quá khứ nhà nông dùng đủ loại thức ăn. Hồi đó, thịt và thức ăn thừa mứa.” Tuy nhiên, ngày nay “mọi thứ đều thực sự thay đổi… thức ăn của những người nông dân đầy đủ nhất hầu như còn tồi tệ hơn những lao động công nhật và người phục dịch vào những ngày xa xưa.”❖

Trong truyện cổ tích Anh kể về Dick Whittington (có nguồn gốc từ thế kỷ XVI như nhiều câu chuyện cổ tích khác), một cậu bé nghèo và con mèo của mình phiêu dạt từ nông thôn đến London rồi thành đạt; nhưng trong thế giới thực, số phận hàng triệu người đói khổ từ vùng quê chạy lên thành phố chẳng khác gì nhảy từ chảo rang sang lửa đỏ. Hình 9.3 cho thấy tiền công thực tế ở các đô thị (nghĩa là khả năng mua sắm vật dụng thiết yếu của người tiêu dùng, được điều chỉnh để tính cả lạm phát) thay đổi sau năm 1350. Biểu đồ này dựa trên nhiều năm làm công việc điều tra tỉ mỉ của các sử gia kinh tế, giải mã các ghi chép vụn vặt, ghi chép đủ loại ngôn ngữ và lượng định tính chính xác của những con số. Đến thế kỷ XIV các tài liệu lưu trữ châu Âu mới bắt đầu cung cấp đủ dữ liệu để tính toán thu nhập chính xác, trong khi ở Trung Hoa, chúng ta phải chờ đến sau năm 1700.

Nhưng dù có những khoảng trống trong dữ liệu và một đống những ngóc ngách rối rắm, ít nhất xu hướng ở phương Tây cũng rõ ràng. Về cơ bản, tiền lương tăng gấp đôi ở bất kỳ nơi nào chúng ta có chứng cứ ở thế kỷ sau Cái Chết Đen, rồi do dân số phục hồi, hầu hết đã giảm trở lại mức trước thời kỳ Cái Chết Đen. Người Florence, vốn từng vận chuyển các khối đá và nâng cao vòm nhà thờ Brunelleschi trong thập niên 1420, thì tiệc tùng liên miên với đầy đủ thịt thà, pho mát và ô-liu; những người đặt tượng David của Michelangelo vào vị trí thích hợp năm 1504 cũng có đầy đủ bánh mì. Một thế kỷ sau, cháu chắt của họ sẽ vui mừng thậm chí khi chỉ có được bánh mì.

Vào lúc đó, tình trạng thiếu đói theo đuổi lục địa Á-Âu từ đầu này đến đầu kia. Một vụ thu hoạch đáng thất vọng, một quyết định thiếu thận trọng, hay chỉ do vận rủi có thể thúc đẩy những gia đình nghèo khổ phải bới tìm thức ăn (ở Trung Hoa là rơm rạ, hạt đậu, vỏ cây và rêu, châu Âu là gốc bắp cải, rêu và cỏ). Một loạt các thiên tai có thể đẩy hàng nghìn người lang thang trên đường để tìm kiếm đồ ăn còn những người yếu nhất lâm vào nạn đói. Có lẽ không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà trong các phiên bản gốc của những câu chuyện cổ tích lâu đời nhất ở châu Âu (như truyện Dick Whittington), những người kể chuyện nông dân không mơ ước đến những quả trứng vàng và các hạt đậu ma thuật mà chỉ là những quả trứng và đậu thực sự. Tất cả những gì họ cầu xin từ các bà tiên đỡ đầu đều là một cái bụng no đủ.

Ở cả phương Đông và phương Tây, giới trung lưu chai lì cảm xúc với những người lang thang và ăn xin, dồn họ vào các nhà tế bần hay nhà tù, tống lên vùng biên địa, hoặc bán họ làm nô lệ. Điều này có vẻ nhẫn tâm, nhưng những người có đời sống khá hơn một chút thì thấy rằng việc lo toan cho bản thân cũng đã quá đủ, hơi sức đâu mà lo cho kẻ khác. Năm 1545, một nhà quyền quý ở đồng bằng sông Dương Tử nhận xét rằng vào thời điểm khó khăn “những người chịu tác động (những người nghèo khổ nhất) được miễn thuế,” nhưng “những người giàu lại bị chèn ép đến mức cũng trở nên bần cùng hóa.”❖ Việc chuyển biến xã hội đi xuống hiện hữu rõ ràng trên những đứa con của lớp người một thời đáng kính trọng.

Con cái của tầng lớp có địa vị tìm kiếm những phương kế mới để đấu tranh giành của cải và quyền lực trong thế giới khắc nghiệt này, gây kinh hoàng cho giới bảo thủ về sự coi thường phép tắc truyền thống của chúng. Một quan lại Trung Hoa nhận xét với lời lẽ cảnh báo: “Dần dần người ta ăn mặc theo những kiểu cách quý phái, ngay cả giới thương nhân cũng thế!”❖ Một trong những đồng nghiệp của ông còn tồi tệ viết:

Thậm chí những gia đình có thanh vọng trước đây cũng đua nhau tìm kiếm sự giàu có và danh vọng… Vui sướng vu hãm người khác, họ sử dụng quyền lực để gây áp lực trong những trường hợp kiện tụng đến nỗi bạn không thể phân biệt được kẻ gian người ngay. Chuộng thói hào nhoáng và kiểu cách, họ kéo lê những bộ cánh trắng tinh khi đi đó đi đây đến nỗi bạn không thể phân biệt được ai là người đáng kính và ai là người có đạo đức kém cỏi.

Ở Trung Hoa, việc làm quan đã trở thành một điểm nóng đặc biệt. Tầng lớp quý tộc tăng lên nhưng số lượng quan chức thì không, nên khi những cánh cổng gai góc của học vấn thu hẹp lại thì những người giàu có tìm đủ cách để khiến sự giàu sang quan trọng hơn tri thức. Một huyện quan giải thích rằng “những nho sinh nghèo khó mong mỏi có được một chức vụ [ở các kỳ thi] đều bị các quan lại loại bỏ như thể họ là những người lánh nạn đói nghèo”.❖

Ngay cả đối với các vị vua, những người có quyền lực cao nhất, cũng có những thời điểm căng thẳng. Về mặt lý thuyết, việc dân số tăng lên rất tốt cho các nhà cai trị – có nhiều người đóng thuế hơn và có thêm binh lính – nhưng trong thực tế mọi việc không đơn giản như vậy. Bị dồn vào chân tường, những nông dân bụng đói dễ nổi loạn hơn là phải nộp thuế, và giới quý tộc cứng đầu thường ủng hộ họ. (Những kẻ sĩ thi rớt ở Trung Hoa thường có một thói quen đặc biệt là tự biến mình thành kẻ nổi loạn).

Vấn đề cũ rích như chính triều đại của nó, và hầu hết các vị vua ở thế kỷ XVI đã chọn những giải pháp cũ xưa: trung ương tập quyền và bành trướng lãnh thổ. Nhật Bản có lẽ là trường hợp cực đoan. Ở đó, thể chế chính trị đã sụp đổ hoàn toàn vào thế kỷ XV do làng mạc, chùa chiền, và thậm chí các khu phố riêng lẻ cũng thành lập những cơ quan điều hành riêng và tuyển dụng những kẻ dữ dằn để bảo vệ họ hoặc cướp phá láng giềng.⦾ Ở thế kỷ XVI, việc gia tăng dân số đã gây ra sự cạnh tranh gay gắt về nguồn lực, và từ những lãnh chúa nhỏ dần dần nổi lên một số lãnh chúa hùng mạnh. Những khẩu súng đầu tiên của người Bồ Đào Nha đến Nhật Bản vào năm 1543 (sớm hơn một thế hệ trước khi người Bồ Đào Nha đặt chân đến đó) và vào những năm 1560, thợ thủ công Nhật Bản đã tự chế tạo những khẩu hỏa mai nổi tiếng, vừa đúng lúc để giúp các lãnh chúa hùng mạnh đủ khả năng trang bị cho bộ thuộc trở nên mạnh thêm. Năm 1582, một lãnh chúa duy nhất, Toyotomi Hideyoshi, tự mình trở thành tướng quân (Shogun) thống lĩnh hầu như toàn bộ quần đảo này.

Hideyoshi thuyết phục những người nông dân hay gây gổ giao nộp vũ khí, hứa sẽ nấu chảy chúng để làm móng tay chân và y áo cho tượng Phật lớn nhất thế giới, cao gấp hai lần Tượng Nữ thần Tự Do. Ông giải thích: “Điều này sẽ đem lại lợi lạc cho con người không chỉ trong cuộc đời này mà còn cho cả kiếp sau.”❖ (Một nhà truyền giáo nghi ngờ những lời này, ông ta kể lại Hideyoshi rằng là một người “mánh khóe và xảo quyệt chứ chẳng có đức tin gì, chỉ tước đoạt vũ khí của họ dựa trên danh nghĩa đức tin Tôn giáo”❖).

Dù ý định về tinh thần của Hideyoshi là gì, việc giải trừ vũ khí người dân chắc chắn là một bước tiến lớn trong việc tiến tới trung ương tập quyền đất nước, giảm bớt đáng kể công việc kiểm tra dân số, đo đạc đất đai và chỉ định nghĩa vụ quân sự và đóng thuế. Đến năm 1587, theo một lá thư gửi cho người vợ, Hideyoshi đã xem việc bành trướng là giải pháp cho mọi vấn đề và quyết định chinh phục Trung Hoa. Năm năm sau, quân đội của ông – khoảng 250.000 người, được trang bị những khẩu hỏa mai mới nhất – đổ bộ vào Triều Tiên và quét sạch mọi chướng ngại trước mặt họ.

Ông đối mặt với một Đế chế Trung Hoa chia rẽ sâu sắc về những giá trị của sự bành trướng. Một số hoàng đế triều Minh, cũng giống như Hideyoshi ở Nhật Bản, đã đẩy mạnh việc cải tổ tình hình tài chính vốn ọp ẹp đồng thời bành trướng lãnh thổ. Họ ban hành những sắc chỉ mới để kiểm kê dân số và thuế má, nỗ lực truy thu thuế và chuyển đổi các khoản thuế lao động phức tạp và những khoản đóng góp lương thực sang thanh toán bằng bạc ròng. Tuy nhiên, phần đông các quan lại đều phản đối. Họ lý luận rằng trải qua truyền thống hàng thế kỷ, những bậc quân vương lý tưởng chỉ ngự trị một chỗ (không gây tốn kém) ở trung tâm, chỉ đạo bằng tấm gương đạo đức. Họ không gây chiến và chắc chắn không bóp nặn tiền bạc của giới địa chủ, cũng chính là những gia đình mà các quan lại này xuất thân. Các cuộc điều tra dân số và đăng ký thuế, niềm tự hào và vui sướng của Hideyoshi, vì thế bị lờ đi. Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu một huyện ở vùng đồng bằng sông Dương Tử báo cáo chính xác cùng số lượng cư dân vào năm 1492 như đã làm 80 năm trước đó? Các học giả khẳng định vương triều sẽ kéo dài một vạn năm cho dù nó có kiểm kê dân số hay không.

Các vị hoàng đế năng động cứ lúng túng trong một vũng lầy quan liêu. Đôi khi những kết quả này trở nên khôi hài, như khi Hoàng đế Minh Vũ Tông muốn đích thân chỉ huy quân đội đánh Mông Cổ vào năm 1517, một viên quan trấn giữ Vạn Lý Trường Thành từ chối mở cổng thành để ông ta đi qua, lấy lý do các hoàng đế phải trị vì ở Bắc Kinh. Đôi khi mọi thứ lại không vui chút nào, như khi Minh Vũ Tông cho phạt trượng các cố vấn lão thành của mình do sự ương bướng của họ, làm chết đi một số.

Ít vị hoàng đế nào có được sự mạnh mẽ như Minh Vũ Tông, và thay vì thách đố bộ máy quan liêu và địa chủ, hầu hết đều khiến các khoản thuế bị thâm hụt. Do thiếu tiền, triều đình ngừng trả lương cho quân đội (năm 1569, vị Bộ binh Thị lang thú nhận rằng ông chỉ tìm được một phần tư binh lính trong hồ sơ tài liệu của mình). Hối lộ cho Mông Cổ rẻ hơn chiến đấu với họ.

Hoàng đế cũng ngừng trả lương cho hải quân, mặc dù nó được cho là đã ngăn chặn được thị trường chợ đen to lớn trỗi dậy kể từ khi Minh Thành Tổ cấm tư nhân giao thương trên đường biển trở lại vào thế kỷ XIV. Những tay buôn lậu người Trung Hoa, Nhật Bản và Bồ Đào Nha đã điều hành các hoạt động sinh lợi dọc theo bờ biển, mua những khẩu hỏa mai tiên tiến nhất, rồi trở thành cướp biển, và dễ dàng đánh bại các đội tuần duyên thiếu hỗ trợ. Tuy nhiên, cũng do những đội tuần duyên không nỗ lực bảo vệ bờ biển vì những khoản lót tay của đám buôn lậu là một trong những nguồn thu nhập chính của họ.

Bờ biển Trung Hoa càng lúc trông càng giống những bộ phim cảnh sát trên truyền hình Mỹ, như phim The Wire (Đường dây tội phạm) chẳng hạn, với tiền bẩn làm lu mờ sự khác biệt giữa những tên tội phạm bạo lực, những nhân vật quyền thế ở địa phương và các chính trị gia mờ ám. Một viên trấn thủ trung thực nhưng ngây thơ đã học được một bài học cay đắng khi ông tuân thủ luật lệ xử tử một băng nhóm buôn lậu trong đó có người chú của viên quan tòa. Đường dây mờ ám vận hành. Viên trấn thủ bị bãi chức và phải tự sát khi hoàng đế ban chiếu chỉ bắt giữ ông.

Triều đình chính thức mất quyền kiểm soát bờ biển vào thập niên 1550. Những kẻ buôn lậu trở thành vua cướp biển, kiểm soát 20 thành phố, thậm chí đe dọa cướp phá lăng mộ hoàng gia ở Nam Kinh. Cuối cùng, phải cần đến một nhóm quan lại hiểu biết về chính trị cũng như không thể hối lộ được mới đánh bại được họ. Với một lực lượng bí mật (gọi là Đội quân của tướng Thích lấy theo họ Thích Kế Quang (Qi Jiguang), nhân vật nổi tiếng nhất trong số các quan lại chính trực) gồm 3.000 lính hỏa mai, các nhà cải cách đã âm thầm chiến đấu, có khi được sự hậu thuẫn của các quan lại, có khi không, và được tuần phủ Dương Châu tài trợ, ông ta ngầm chuyển khoản thuế đánh vào giới tinh hoa địa phương cho họ. Đội quân của Thích Kế Quang cho thấy rằng nếu có ý chí thì đế chế vẫn có thể nghiền nát những kẻ đối đầu, và thành quả của nó đã gợi hứng cho một thời kỳ cải cách (ngắn ngủi). Chuyển sang phía bắc, họ Thích đã cách mạng hóa việc bảo vệ Vạn Lý Trường Thành, cho xây những pháo đài bằng đá,⦾ lấy lính hỏa mai đã qua rèn luyện làm quân trú phòng và gắn đại bác lên xe ngựa như người Hungary đã làm trong chiến tranh chống người Ottoman một thế kỷ trước đó.

Trong thập niên 1570, phụ chính đại thần Trương Cư Chính, được cho là nhà kỹ trị có năng lực nhất trong lịch sử Trung Hoa, tiến hành sửa sang thuế má, truy thu nợ thuế tồn đọng và hiện đại hóa quân đội. Ông đề bạt lớp trẻ thông minh tài trí như Thích Kế Quang đồng thời giám sát việc dạy dỗ vị vua trẻ Minh Thần Tông (Vạn Lịch Đế). Ngân khố quốc gia lại đầy ắp và quân đội cũng hồi sinh, nhưng khi họ Trương qua đời vào năm 1582, giới quan liêu liền phản đòn. Sau khi mất, thanh danh họ Trương bị bôi bẩn và những thân tín của ông bị thải hồi; riêng Thích Kế Quang chết trong cảnh cô độc, nghèo túng, thậm chí còn bị vợ bỏ rơi.

Minh Thần Tông, nản lòng vì mọi sự đều biến chuyển sau khi vị đại thần vĩ đại của ông qua đời, mất hết kiên nhẫn và đến năm 1589 thì bỏ bê công việc triều chính. Lui về một cuộc sống buông thả, ông lãng phí tài sản vào y phục và phát phì đến nỗi mỗi lần đứng lên phải có hầu cận giúp đỡ. Ông không dự việc triều chính trong suốt 25 năm, để quan lại và sứ thần các nước triều bái một ngai vàng trống. Không còn công việc gì được thực thi. Không một quan lại nào được bổ nhiệm hay thăng chức. Đến năm 1612 thì một nửa các chức vụ trong đế chế bị bỏ trống và các vụ xử ở công đường bị tồn đọng trong nhiều năm dài.

Bởi vậy không có gì ngạc nhiên khi Hideyoshi mong đợi một chiến thắng dễ dàng vào năm 1592. Tuy nhiên, do Hideyoshi mắc sai lầm, vì những cách tân của hải quân Triều Tiên, hay do quân đội Trung Hoa (đặc biệt là lực lượng pháo binh mà Thích Kế Quang đã tạo dựng) đã phản ứng hiệu quả đến ngạc nhiên, nên cuộc tấn công của Nhật Bản bị sa lầy. Một số sử gia cho rằng Hideyoshi vẫn có thể chinh phục được Trung Hoa nếu ông không qua đời vào năm 1598, nhưng như trước đó, các tướng tá của Hideyoshi liền cân nhắc lại chính sách bành trướng. Từ bỏ Triều Tiên, họ trở về nước để tiếp tục đấu đá lẫn nhau, và Minh Thần Tông cùng triều thần lại quay về công việc nghiêm túc của họ. Đó là hầu như không làm gì cả.

Sau năm 1600, các cường quốc ở vùng lõi phương Đông đều ngấm ngầm chấp nhận rằng giới quan lại đã đúng: trung ương tập quyền và chính sách bành trướng không phải là lời giải cho các vấn đề của họ. Biên giới vùng thảo nguyên vẫn là một thách thức đối với Trung Hoa, và cướp biển/thương nhân châu Âu vẫn yêu sách ở Đông Nam Á, riêng Nhật Bản, do ít phải đối mặt với các mối đe dọa – trường hợp duy nhất trong lịch sử thế giới – ngừng sử dụng loại vũ khí gây nổ và những thợ chế tạo súng ống lành nghề quay trở lại đúc kiếm (tiếc thay, họ lại không đúc lưỡi cày). Trong khi đó phương Tây lại không có được sự xa xỉ này.

Đế chế vương miện

Một mặt nào đó, các vùng lõi phương Tây và phương Đông trông bề ngoài có vẻ giống nhau ở thế kỷ XVI. Trong mỗi vùng lõi, một đế chế lớn thống lĩnh trung tâm truyền thống (với nhà Minh ở Trung Hoa là bình nguyên Hoàng Hà và Dương Tử ở phương Đông, Đế quốc Ottoman ở phía đông Địa Trung Hải thuộc phương Tây) trong khi các nước nhỏ chuyên hoạt động thương mại phát triển mạnh quanh các vùng rìa của chúng (Nhật Bản và vùng Đông Nam Á thuộc phương Đông, và vùng Tây Âu ở phương Tây). Nhưng chính ở đó, những điểm tương đồng đã kết thúc. Trái ngược với những tranh cãi mạnh mẽ ở Trung Hoa, các sultan và giới quan lại Đế quốc Ottoman đều thống nhất phải áp dụng chính sách bành trướng để giải bài toán nan giải của mình. Dân số Constantinople đã giảm xuống còn 50.000 người sau cuộc cướp phá của người Ottoman vào năm 1453, rồi hồi phục do một lần nữa trở thành thủ phủ của một đế chế lớn. Có đến 400.000 cư dân đô thị sống ở đó vào năm 1600, và – cũng như thành Rome nhiều thế kỷ trước đó – họ cần đến lợi tức của toàn bộ vùng Địa Trung Hải để nuôi sống mình. Và cũng như những nghị viên thời La Mã cổ đại, các sultan người Turk quyết định rằng chinh phục là cách tốt nhất để đảm bảo các bữa tiệc thịnh soạn của mình.

Các sultan thực hiện một điệu nhảy phức tạp, giữ một chân ở vùng lõi phương Tây và chân kia ở vùng thảo nguyên. Đây là bí quyết thành công của họ. Năm 1527 sultan Suleiman khoe rằng quân đội của ông có đến 75.000 kỵ binh, hầu hết đều là cung thủ quý tộc của dân du mục truyền thống, và 28.000 vệ binh Thổ, nô lệ người Ki-tô giáo được đào tạo thành lính hỏa mai và được pháo binh yểm trợ. Để tạo ổn định cho những kỵ binh này, các sultan chia đất đai chinh phục được thành những thái ấp; và để thỏa mãn đạo vệ binh Thổ – nghĩa là trả lương đầy đủ và đúng thời hạn – họ tiến hành khảo sát đất đai, điều có thể gây ấn tượng với Hideyoshi, để quản lý dòng tiền đến từng xu một.

Việc tất cả những điều trên đều được quản lý tốt, và một bộ máy quan liêu đang phát triển vững chắc đã hình thành một đế chế hoàn thiện và rực rỡ nhất trong khi các sultan khéo léo bày trò cạnh tranh giữa các nhóm lợi ích với nhau. Vào thế kỷ XV, họ chuộng các vệ binh Thổ, thực hiện chính sách trung ương tập quyền và bảo trợ nền văn hóa thế giới; vào thế kỷ XVI, họ lại dựa vào tầng lớp quý tộc, chuyển giao bớt quyền lực và khuyến khích Islam giáo. Dù vậy, điều thậm chí còn quan trọng hơn những điều chỉnh khéo léo này chính là cướp bóc để cung cấp nhiên liệu cho mọi thứ. Người Ottoman cần chiến tranh, và thường giành chiến thắng.

Những bài kiểm tra khó khăn nhất của họ đến từ vùng bình phong phía đông. Trong nhiều năm, họ phải đối phó với tình trạng nổi loạn không đáng kể ở vùng Anatolia (Hình 9.4), nơi những chiến binh Shiite quấn khăn đỏ⦾ lên án họ là đám chuyên chế Sunni suy đồi, nhưng vết loét này dần dần gây ung nhọt khi vào năm 1501 vị vua người Ba Tư tuyên bố mình là hậu duệ của ‘Ali. Thách thức của người Shiite nhằm vào những kẻ đói khổ, bị truất hữu, và những người bị áp bức của đế chế, sự tàn bạo của họ khiến những người lính dày dạn cũng phải rùng mình. Một đội trưởng ghi nhận về những kẻ nổi loạn này như sau: “Họ tận diệt mọi thứ – đàn ông, phụ nữ và trẻ em, thậm chỉ cả chó mèo, gà vịt.”❖ Sultan Thổ phải dùng áp lực để buộc các học giả tôn giáo của mình tuyên bố người Shiite là dị giáo, và những cuộc thánh chiến Islam giáo (Jihad) hầu như chỉ chấm dứt ở thế kỷ XVI.

Hình 9.4. Các đế quốc phương Tây: Dòng họ Habsburg, Thánh chế La Mã, Đế quốc Ottoman, và Đế quốc Nga khoảng năm 1550.

Những khẩu súng ưu việt tạo lợi thế cho người Ottoman, và mặc dù họ chưa bao giờ đánh bại Ba Tư hoàn toàn, họ cũng đủ sức chống lại cho đến khi cuộc chiến dừng lại rồi họ chuyển hướng sang phía tây nam để giành được giải thưởng lớn nhất, đất nước Ai Cập, năm 1517. Lần đầu tiên kể từ khi có các cuộc chinh phục của người Ả Rập chín thế kỷ trước đó, những cư dân đô thị Constantinople thiếu đói giờ đây đã đảm bảo được con đường tiến vào vùng sông Nile trồng đầy ngũ cốc.

Nhưng cũng giống như mọi thế lực bành trướng kể từ thời kỳ người Assyria, người Ottoman nhận thấy rằng chiến thắng trong một cuộc chiến tranh chỉ tạo ra một cuộc chiến khác. Để phục hồi nền thương mại ngũ cốc giữa Ai Cập và Constantinople, họ phải xây dựng một hạm đội để bảo vệ các tàu buôn của mình, nhưng các chiến thắng của họ đối với những tên cướp biển hung ác vùng Địa Trung Hải (Islam giáo cũng như Ki-tô giáo) lại đẩy hạm tàu của họ xa hơn về phía tây. Bởi vậy vào thập niên 1560, Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát toàn bộ bờ biển Bắc Phi và đụng độ với hải quân Tây Âu. Quân đội Thổ cũng tiến sâu vào châu Âu, áp đảo những người Hungary hung tợn vào năm 1526, giết nhà vua và phần lớn tầng lớp quý tộc của họ.

Năm 1529, sultan Suleiman đã dựng lều bên ngoài Vienna. Tuy ông ta không chiếm được thành phố này, nhưng cuộc bao vây này khiến những người Ki-tô giáo kinh hoàng, nghĩ rằng người Ottoman sắp nuốt trọn tất cả châu Âu. Trong một bức thư gửi về nhà, một sứ giả Constantinople viết rằng: “Tôi rùng mình khi nghĩ đến những hậu quả [của một cuộc chiến tranh lớn] như thế nào.”

Về phía họ là sự giàu có vô hạn của một đế quốc, các nguồn lực không bị suy suyển, có kinh nghiệm và thực tiễn chiến đấu, quân lính thì từng trải, chuỗi chiến thắng chưa từng gián đoạn… Về phía chúng ta chỉ thấy quốc khố trống rỗng, những thói xa hoa, nguồn lực cạn kiệt, tinh thần bạc nhược… và điều tồi tệ nhất, kẻ thù đã quen với chiến thắng, còn chúng ta chỉ quen bị đánh bại. Vậy kết quả thế nào đã rõ, chúng ta còn nghi ngờ làm gì nữa.

Nhưng một số người châu Âu vẫn nghi ngờ, đặc biệt là Charles V. Ông là người đứng đầu dòng họ Habsburg, một trong vài tộc họ siêu giàu từng giành quyền thống lĩnh châu Âu kể từ thời Cái Chết Đen. Nhờ những cuộc hôn nhân khôn ngoan và sự chọn đúng thời điểm gần như chính xác cái chết bất thường của những nhân vật kết hôn với người trong gia tộc này, dòng họ Habsburg nắm lấy cơ hội để tiếp quản ngôi vương từ sông Danube đến Đại Tây Dương, và vào năm 1516 toàn bộ di sản thừa kế – nước Áo, Đức và vùng đất bây giờ là Cộng hòa Séc, miền Nam Italy, Tây Ban Nha, Bỉ và Hà Lan hiện tại – đều rơi vào tay vua Charles. Việc có nhiều vương miện trên đầu giúp ông có được những chiến binh giỏi nhất, những thành phố giàu nhất và các nhà tài trợ hàng đầu của châu Âu, và năm 1518, các hoàng thân ở Đức bầu ông làm hoàng đế của Thánh chế La Mã. Vương miện đặc biệt này, thứ tàn tích kỳ quái của thời kỳ Trung cổ hỗn độn ở châu Âu, là một kiểu sùng bái hỗn tạp; như lời nhận xét của Voltaire trong những năm 1750, Thánh chế La Mã “không phải thần thánh, không phải thuộc về La Mã, và cũng chẳng phải là đế chế.”❖ Việc chăn dắt những vị hoàng thân hay cãi cọ này còn tốn kém hơn giá trị của ngai vàng, nhưng về nguyên tắc, người thừa kế ngai vàng của Charlemagne không gặp vấn đề gì khi tập hợp cả châu Âu chống lại người Thổ.

Nhiều nhà quan sát đoán trước rằng chỉ có hai phương án cho Tây Âu: bị Islam giáo chinh phục hay chịu thần phục dòng họ Habsburg, những người duy nhất đủ mạnh để ngăn chặn người Thổ. Viên thủ tướng đầu triều của vua Charles tóm tắt điều này trong một bức thư gửi hoàng đế năm 1519: “Chúa rất nhân từ với ngài. Ngài ấy đã nâng ngại lên trên mọi vua chúa của các vương quốc Ki-tô giáo với một quyền lực mà không bậc vương giả nào có được kể từ thời Charlemagne, tổ tiên của ngài. Chúa đã đặt ngài trên con đường hướng tới một chế độ quân chủ trên thế giới, hướng tới việc thống nhất các vương quốc Ki-tô giáo dưới bàn tay của một chủ chăn duy nhất.”❖

Nếu những lời lẽ trong thư của viên sứ giả hoặc ngài thủ tướng đều đúng, thì số phận của Tây Âu hẳn cũng sẽ giống như phần còn lại của các vùng lõi trên thế giới, bị thống lĩnh bởi một đế chế có đất đai rộng lớn. Nhưng ý tưởng về việc bị chăn dắt làm các vua chúa của các vương quốc Ki-tô giáo hoảng sợ đến nỗi một số đã phát động chiến tranh trước chống lại vua Charles để ngăn chặn. Nước Pháp thậm chí đã ký một hiệp ước với người Ottoman chống lại dòng họ Habsburg, và một hạm đội hỗn hợp Pháp-Thổ đã bắn phá vùng Riviera thuộc Pháp (lúc đó còn dưới sự cai trị của vua Charles) vào năm 1542 – tất nhiên, tất cả những điều này buộc vua Charles phải nỗ lực hơn nữa để chăn dắt các nước theo Ki-tô giáo.

Charles và con trai ông, Philip II, phải dành phần lớn thời gian trị vì dai dẳng⦾ của mình để chống lại những người theo Ki-tô giáo khác, chứ không phải người Islam giáo, và thay vì chuyển đổi Tây Âu thành một đế chế thần thánh, cuộc đấu tranh của họ đã làm châu Âu chia tách thành từng mảnh, gia tăng những phân chia từ hồi xa xưa đồng thời tạo ra những phân chia mới. Chẳng hạn như khi tu sĩ người Đức Martin Luther treo 95 luận đề phản bác những thực hành giáo lý Ki-tô giáo trước cửa nhà thờ lâu đài Wittenberg vào năm 1517, ông chỉ thực hiện một điều bình thường, đây là một phương cách truyền thống trong các cuộc tranh luận về thần học (và so với nhiều người chỉ trích Giáo hội kể từ Cái Chết Đen, thì Luther rõ ràng còn ôn hòa). Tuy nhiên, không khí căng thẳng đã biến kháng nghị về mặt tôn giáo của ông thành một trận động đất về chính trị và xã hội đến nỗi người đương thời thường so sánh nó với sự chia rẽ giữa hai phái Shiite và Sunni của Thổ Nhĩ Kỳ.

Luther hy vọng vua Charles sẽ ủng hộ ông, nhưng Charles lại tin rằng việc chăn dắt những nước theo Ki-tô giáo cần một giáo hội duy nhất, không bị phân chia. Ông nói với Luther: “Một tu sĩ đơn thuần hẳn phải lầm lỗi nếu chống lại ý kiến của các quốc gia theo Ki-tô giáo. Ta kiên quyết tạo dựng các công quốc và thuộc địa của ta, bằng hữu, máu thịt, cuộc sống và linh hồn của ta dựa trên đó.”❖ Và quả thực ông ta đã làm đúng như thế; nhưng với tất cả châu Âu vũ trang để ủng hộ hay chống lại dòng họ Habsburg thì việc phủ nhận những khác biệt trong những nước theo Ki-tô giáo đã chứng minh là một thảm họa. Có khi vì những lý do nguyên tắc đạo đức, có khi vì lợi ích hẹp hòi và cũng có khi chỉ do hồ nghi đã khiến hàng triệu người Ki-tô giáo khước từ Giáo hội La Mã. Những người theo đạo Tin Lành và người Công giáo giết nhau; rồi người theo đạo Tin Lành giết hại những người Tin Lành khác, những diễn giải của sự phản kháng lại được nhân bội. Một số người Tin Lành tuyên ngôn Sự Tái sinh lần hai của Chúa Jesus và bình đẳng bác ái. Nhiều người lại hướng đến các mục đích gây máu lửa. Nhưng nhìn chung, cho dù những phản kháng của họ có bạo lực hay cao cả, thì cũng đều gây khó khăn và tốn kém hơn cho dòng họ Habsburg.

Những người tin rằng kẻ thù của họ là đại diện cho những kẻ chống Chúa Jesus thường không muốn thỏa hiệp, vì vậy những mâu thuẫn nhỏ lại trở thành những xung đột lớn không biết khi nào kết thúc, khiến tổn phí tăng vọt. Cuối cùng, lợi nhuận của dòng họ Habsburg lại chính là điểm cốt tử: họ không còn đủ tài chính để có thể thống nhất được Tây Âu.

Kiệt quệ vì những nỗ lực đấu tranh của mình, vua Charles từ bỏ các vương hiệu và thoái ẩn vào những năm 1555-1556, phân chia lãnh thổ cho người em trai, người nắm giữ nước Áo và Thánh chế La Mã, còn Philip, con trai ông, tiếp quản Tây Ban Nha và các vùng đất phương Tây khác. Đây là một bước đi thông minh: với sự thống lĩnh của dòng họ Habsburg cũng đồng nghĩa với sự thống lĩnh của người Tây Ban Nha, Philip có thể quản lý hành chính và tập trung vào vấn đề cốt lõi, tiền bạc.

Trong 40 năm, vua Philip đã làm việc cật lực như Hercules để cải thiện của cải của dòng họ Habsburg. Ông là một người kỳ lạ, sử dụng những giờ giấc đáng ngạc nhiên ở những văn phòng xây dựng riêng bên ngoài kinh đô Madrid đồng thời cũng luôn bận rộn đến nỗi không có thời gian để thăm viếng các thuộc địa của mình. Nhưng dù ông có nhiệt tình tính toán và đánh thuế thần dân của mình như Hideyoshi để tăng thu nhập đồng thời đánh bại Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ, thì chiến thắng cuối cùng để thống nhất Tây Âu cũng không bao giờ đến gần. Nhân viên thu thuế của ông càng bóp nghẹt bao nhiêu thì càng nảy sinh nhiều vấn đề bấy nhiêu. Thần dân của Philip – giờ đây sinh sản như chuột sa chĩnh gạo, bị vướng giữa đói kém và nhà nước, nhìn thấy những đóng góp của họ chỉ đổ vào việc tranh chấp ở các đất nước xa xôi với những dân tộc xa lạ – càng lúc càng phản kháng.

Vào thập niên 1560, Philip thậm chí còn có thể đẩy Chúa Trời và Mammon (con quỷ biểu trưng cho tiền tài và tham lam) vào cùng một rọ. Những thường dân Hà Lan bình thường dửng dưng với mọi chuyện bị dòng họ Habsburg ngược đãi vì theo đạo Tin Lành đồng thời còn bị gánh nặng thuế má, đã giận dữ báng bổ giáo hội và đập phá nhà thờ. Việc để mất đất nước Hà Lan giàu có vào tay những người ủng hộ học thuyết Calvin là điều không thể tưởng tượng được, do đó Philip gửi quân đội đến đó, việc này chỉ khiến người Hà Lan vùng lên để giành quyền tự chủ. Philip thắng liên tiếp nhiều trận chiến nhưng không thể giành chiến thắng trọn vẹn. Tuy người Hà Lan có thể không bằng lòng trả các khoản thuế mới cho dòng họ Habsburg, nhưng một khi đức tin của họ bị đe dọa, họ sẽ chi tiêu bất kỳ khoản tiền nào và hy sinh cả mạng sống để bảo vệ đất nước này. Vào thập niên 1580, chiến tranh đã gây tốn kém cho Philip còn hơn cả toàn bộ thu nhập của đế chế, và do không thể cáng đáng nổi, dù chiến thắng hay thất bại, ông phải vay mượn nhiều hơn từ các nhà tư bản tài chính người Italy. Khi đến mức hết tiền trả cho quân đội và các chủ nợ, ông ta tuyên bố phá sản; sau đó ông cứ lặp đi lặp lại phương sách này. Những đội quân không lương lại gây bạo loạn, cướp bóc để lo thân, và uy tín về mặt tài chính của ông bị sụp đổ. Tuy Tây Ban Nha chưa phải gánh chịu những thất bại quyết định cho tới năm 1639 (trên biển) và năm 1643 (trên đất liền), nhưng khi Philip qua đời vào năm 1598, đế chế đã bị tàn phá nặng nề, món nợ của nó nhiều gấp 15 lần thu nhập hằng năm của đế chế.

Hai thế kỷ nữa qua đi trước khi một đế quốc trên đất liền ở Tây Âu lại có khả năng xuất hiện trở lại, và đến lúc đó thì những nước Tây Âu khác cũng đã tạo ra một cuộc cách mạng công nghiệp làm chuyển đổi thế giới. Nếu dòng họ Habsburg hay người Thổ thống nhất châu Âu vào thế kỷ XVI, thì có thể cuộc cách mạng công nghiệp đã không xảy ra; có thể ở trường hợp của Charles và Philip, những người không thể thống nhất Tây Âu, hay Suleiman của Đế quốc Ottoman, người không thể chinh phục Tây Âu, cuối cùng chúng ta cũng tìm thấy những kẻ ngốc nghếch vụng về đã làm thay đổi tiến trình lịch sử.

Dù vậy, một lần nữa việc đổ lỗi cho bất kỳ một người nào cũng quá đáng. Viên sứ thần châu Âu, người lo ngại về việc người Thổ thôn tính châu Âu, ghi nhận rằng: “Chướng ngại duy nhất là Ba Tư, vị trí hậu phương của nó buộc quân đội xâm lược [Thổ] phải cảnh giác.”❖ Việc đánh bại cả Ba Tư, người Shiite cả châu Âu rõ ràng vượt quá khả năng của người Thổ. Tương tự như vậy, việc Charles và Philip không trở thành những chủ chăn của các nước theo Ki-tô giáo không phải vì họ thua một số trận chiến quyết định (trên thực tế, cho đến thập niên 1580 họ luôn chiến thắng) hay thiếu một số tài nguyên quyết định (trên thực tế họ còn được phân chia nhiều hơn về sự may mắn, năng lực và uy tín), nhưng chỉ do việc đánh bại người Thổ, người Ki-tô giáo ly khai, các nước khác ở Tây Âu vượt quá khả năng tổ chức và tài sản của họ. Và nếu dòng họ Habsburg, với tất cả ưu điểm của họ, vẫn không thể thống nhất được Tây Âu, thì không một ai có thể làm được điều này. Tây Âu chắc chắn vẫn còn khác biệt với nhóm các đế quốc trải dài từ Thổ Nhĩ Kỳ đến Trung Hoa.

Ngưỡng cứng

Dù có khác biệt về những trải nghiệm đế chế, nhưng phát triển xã hội vẫn tiếp tục gia tăng ở cả hai vùng lõi, và nhiều thập niên sau khi Hideyoshi và Philip cùng qua đời vào năm 1598, có mọi dấu hiệu cho thấy nghịch lý của sự phát triển bắt đầu có tác dụng trở lại. Và cũng như lệ thường trong quá khứ, thời tiết đóng góp vào sự khủng hoảng ngày càng gia tăng. Khí hậu mát lạnh kể từ năm 1300 giờ trở nên lạnh hơn. Một số nhà khí hậu học quy kết hiện tượng này cho một vụ núi lửa phun ở Peru vào năm 1600; những người khác lại quy cho hoạt động của vết đen mặt trời suy yếu. Nhưng hầu hết đều đồng ý rằng những năm 1645-1715 thời tiết lạnh giá một cách khắc nghiệt trên khắp Cựu Thế giới. Từ London tới Quảng Đông, những người viết nhật ký và các quan chức đều than phiền về tuyết, băng và những mùa hè trở lạnh.

Thường dân ở những đô thị lạnh giá và những nhà nông khát đất đã chung tay đóng góp vào việc biến thế kỷ XVII thành một thảm họa cho mọi thứ không có khả năng tự vệ, dù đó là rừng, vùng đầm lầy, động vật hoang dã hay các tộc người bị thực dân hóa. Đôi khi do lương tâm cắn rứt, một số chính phủ xây dựng luật pháp để bảo vệ những nạn nhân này, nhưng những thực dân đẩy biên giới của các vùng lõi ra xa bên ngoài ít khi bận tâm. Ở Trung Hoa, những người được mệnh danh là dân lán trại chiếm cứ núi rừng, tàn phá các hệ sinh thái mỏng manh để trồng khoai lang và ngô. Họ đẩy những nhóm cư dân bản địa như người Miêu đến bờ vực đói khát, nhưng khi người Miêu nổi dậy, triều đình lại đưa quân đội đến đàn áp họ. Người Ainu của phía bắc Nhật Bản, người Ailen thuộc địa cổ xưa nhất của Anh và người bản địa ở miền đông Bắc Mỹ đều có thể kể chung một câu chuyện ảm đạm như vậy.

Những người thực dân đến vì các vùng lõi đã cạn kiệt tài nguyên. Một quan lại Trung Hoa nhận xét rằng: “Mỗi tấc đất đều cho một ít thu nhập,”❖ và ở cả hai đầu lục địa Á-Âu, các chính phủ đã kết hợp với những kẻ khai phá để biến những vùng rậm rạp và đầm lầy thành đồng cỏ và đất canh tác. Một viên quan Trung Hoa khác đưa ra những lý lẽ vào thập niên 1620:

Hãy chấm dứt lợi nhuận nhỏ bé của cư dân vùng lau lách và đồng cỏ!… một số người lười biếng không quan tâm đến tương lai lâu dài chạy theo những lợi ích nhỏ nhoi từ lau sậy mà từ chối kho báu vĩ đại từ việc canh tác mùa màng. Họ không chỉ không theo đuổi việc cải tạo đất đai, mà còn ghét những người khác làm thế… nơi chợ búa ngày càng hoang vắng, lợi tức của chính phủ không đạt được chỉ tiêu đề ra. Làm sao chúng ta có thể cho phép điều này xảy ra trong những hoàn cảnh như thế được chứ[]{.ref}

Các doanh nghiệp Hà Lan và Anh quốc tấn công vào những vùng đầm lầy cùng với sự thống khoái như nhau. Những chương trình tiêu nước khổng lồ mà nhà nước tài trợ đã giải phóng một lượng lớn đất đai màu mỡ, nhưng những người từng sống ở đó đã phản đối ở cả triều đình và trên đường phố. Các bài hát phản kháng của họ (chủ yếu là vô danh) cực kỳ đau buồn:

Hãy nhìn xem thiết kế to lớn, mà [những thiết bị] giờ đang đào

Sẽ làm thân xác chúng ta héo hon, làm mồi cho diều tha quạ rỉa

Vì chúng sẽ khiến mọi vùng đầm lầy cạn nước không còn gì

Tất cả phải khô và chúng ta phải chết, vì những con bê vùng Essex cần đồng cỏ.

Những loài lông vũ còn có cánh để bay sang nước khác,

Nhưng chúng ta không có phương tiện đó để ra đi

Chúng ta phải giao lại chốn này (Ôi. Buồn thay) cho loài cá sừng và gia súc.

Trừ phi đồng lòng tống cổ chúng bằng đấu tranh.

Con người xâm lấn, đem đến các loài thực vật và động vật xâm lấn tương đương thay thế các loài bản địa hay săn bắt chúng đến tuyệt chủng, cày xới môi trường sống và đốn trụi các khu rừng. Vào thập niên 1660, một học giả đã than phiền rằng ⅘ số núi non ở Nhật Bản đã mất hết rừng. Ở Anh và Scotland khoảng năm 1550 chỉ còn 10% đất rừng, và vào thập niên 1750 hơn một nửa số rừng này cũng biến mất. Ngược lại, Ireland vẫn còn 12% diện tích rừng vào năm 1600, nhưng những người thực dân đã đốn hết ⅚ cây rừng vào năm 1700.

Quanh các thành phố lớn, giá gỗ tăng mạnh và người ta quay sang các phương án khác. Gần Edo, những nhà sản xuất muối và đường của Nhật Bản, thợ làm gốm, và sau cùng các gia đình cũng bắt đầu dùng than, và những người châu Âu, thay vì làm như thế, lại dùng than bùn và than đá thay cho than củi. Giống như những cư dân ở thành Khai Phong 500 năm trước, người London chấp nhận nhiên liệu hóa thạch, dù ngoài thị trường chúng được hét giá cao, thay vì dùng củi. Hầu hết các hộ gia đình ở Anh bên ngoài thủ đô vẫn có thể tìm ra củi, nhưng đến năm 1550, bình quân một người dân London tiêu thụ gần ¼ tấn than đá mỗi năm. Đến năm 1610 đã tăng lên gấp ba, và đến năm 1650 thì hơn một nửa năng lượng nhiên liệu của Anh đến từ than đá. Vào năm 1659, một cư dân đã than thở: “Nếu có điều gì tương tự như địa ngục trần gian, thì chính là ở ngọn núi lửa này vào một ngày sương mù.”❖

Đáng buồn thay, ông ta cũng nhầm lẫn, vì những con người khác lục địa Á-Âu cũng đang tạo ra những địa ngục còn tồi tệ hơn thế nữa. Biến đổi khí hậu chỉ là kỵ sĩ đầu tiên trong Sách Khải huyền sổng chuồng; áp lực về tài nguyên ngày càng gia tăng cũng thể hiện rõ thất bại của nhà nước khi các chế độ bị tan rã dưới những áp lực. Khi những nền quân chủ cắt giảm chi phí, họ bị giới quan lại và binh lính xa lánh; còn khi họ bóp nặn người đóng thuế nhiều hơn thì giới thương nhân và nông dân lại xa lánh họ. Các cuộc phản kháng mang tính bạo lực của người nghèo là một thực tế của cuộc sống kể từ khi hình thành quốc gia, nhưng bây giờ chúng lại gia tăng do giới có địa vị xã hội bị truất hữu, giới thương nhân bị phá sản, giới quân đội không được trả lương và các quan lại thất sủng đều tham gia cùng họ.

Vào những thời kỳ khắc nghiệt, các nhà cai trị phương Tây cố gắng nêu bật những thiệt hại của sự phản kháng bằng cách khẳng quyết rằng họ đại diện cho ý chí của Thiên Chúa dưới trần thế. Các sultan Đế quốc Ottoman thì tích cực ve vãn những học giả tôn giáo, Còn giới trí thức Tây Âu phát triển các thuyết tuyệt đối. Họ khẳng định vương quyền chỉ do ân sủng của Thiên Chúa mà có nên nghị viện, thành viên giáo hội, hay ý chí của người dân không thể tước bỏ nó. Theo câu nói nổi tiếng của Pháp, đó là un roi, une foi, un loi: một vị vua, một đức tin, một luật lệ. Việc thách thức bất kỳ một thành phần nào trong khẩu hiệu này cũng đồng nghĩa với việc thách thức những gì tốt đẹp và thuần khiết.

Nhưng nhiều thần dân bất mãn vẫn sẵn lòng thể hiện sự thách thức. Vào năm 1622, Osman II, người vừa là sultan vừa là caliph của Đế quốc Ottoman, người kế thừa của Muhammad đồng thời là đại diện của Thiên Chúa trên trần thế, cắt giảm lực lượng bộ binh (Janissaries) do quá tốn kém; họ đáp lại bằng cách kéo lê ông ta ra khỏi cung điện, siết cổ và cắt bỏ thân xác thiêng liêng của ông. Em trai của Osman II cố gắng cứu vãn tình hình bằng cách liên minh với các giáo sĩ cứng rắn, thậm chí cấm đoán cà phê và đưa ra án tử hình đối với việc hút thuốc để làm hài lòng họ, nhưng trong những năm 1640, tính chính danh của các sultan đã thất bại hoàn toàn. Năm 1648, các vệ binh Thổ, lúc đó lại liên minh với các giáo sĩ, hành quyết sultan Ibrahim Điên Khùng (có lẽ không quá vội, vì ông ta xứng đáng với biệt danh này) và những cuộc nội chiến kéo dài 50 năm bắt đầu.

Thập niên 1640 là một cơn ác mộng của hoàng gia ở hầu như khắp mọi nơi. Các cuộc nổi loạn chống lại thuyết tuyệt đối đã làm tê liệt nước Pháp, và ở Anh, Nghị viện tuyên chiến với vị vua tự cao tự đại của mình và chặt đầu ông ta. Điều đó diễn ra như nước vỡ bờ không gì ngăn lại được; nếu một vị vua được xem như thần linh còn bị xét xử và chặt đầu thì còn điều gì là không thể? Có lẽ đây là lần đầu tiên kể từ thời Athens cổ đại, các ý tưởng dân chủ bùng nổ. Một đại tá trong quân đội của nghị viện khẳng định: “Những người nghèo nhất ở Anh cũng có một cuộc sống để sống như những con người cao cả nhất, mọi người sống dưới một chính quyền trước tiên phải chính họ đồng ý đặt mình dưới sự lãnh đạo của chính quyền đó.”❖

Đây là chất xúc tác mạnh mẽ đối với thế kỷ XVII, nhưng những nhóm nhỏ của giới cấp tiến Anh thậm chí còn dữ dội hơn. Những Nhà Chủ trương Bình đẳng, như một phái cấp tiến tự xưng, không chấp nhận mọi phân biệt xã hội. Họ nêu rõ: “Không một ai sinh ra ở thế giới này phải chịu mang gông vào cổ, không một ai có quyền đè đầu cưỡi cổ họ.”❖ Và nếu sự phân chia giai tầng là trái với quy luật tự nhiên, thì chắc chắn tài sản cũng vậy. Chỉ trong vòng một năm sau khi nhà vua bị hành hình, một nhóm tự cho mình là Những Nhà Chủ trương Bình đẳng chân chính đã tách ra và thành lập 10 cộng đồng riêng. Một nhóm khác, Những Diễn giả huênh hoang, gán cho Thượng Đế là Nhà Chủ trương Bình đẳng Vĩ đại và rao giảng cách mạng triệt để – “Hãy lật đổ, lật đổ và lật đổ… Hãy biến mọi thứ thành của chung, nếu không tai ương từ Thượng Đế giáng xuống sẽ làm thối rữa và tiêu tán tất cả những gì các bạn có.”❖

Bình đẳng là một ý tưởng xuất hiện đúng thời điểm. Chẳng hạn, chúng ta hãy xem một tường trình năm 1644 về Những Nhà Chủ trương Bình đẳng như sau:

họ mài lưỡi cuốc làm kiếm và tự phong cho mình danh hiệu những Vị Vua Bình Đẳng, tuyên bố rằng họ đang san lấp sự phân biệt giữa chủ đất và nông nô, giữa quyền quý và thứ dân, giữa giàu và nghèo. Những tá điền thì túm lấy y phục sang trọng của chủ nhân… họ bắt những chủ nhân của mình quỳ xuống để rót rượu cho họ. Họ tát tai những người này rồi nói: “Bọn ta đều là những con người bình đẳng. Các ông có quyền gì để xem bọn ta như những kẻ nông nô?”

Tuy nhiên, những lãnh chúa bình đẳng này không phải là người Anh; thực ra họ đã dấy lên sự cuồng nộ quanh bờ đông Trung Hoa. Ở phương Đông và phương Tây cũng thế, những thách thức triệt để đối với việc thiết lập hệ thống phân tầng xã hội sớm gây tranh cãi trước đó – chẳng hạn như học thuyết của Vương Dương Minh đến tư tưởng của Chu Hy ở Trung Hoa vào thập niên 1490 và học thuyết của Martin Luther đối với Ki-tô giáo ở châu Âu vào thập niên 1510 – kết hợp với sự thất bại của nhà nước trong việc tạo ra những ý tưởng mới về tính bình đẳng của con người. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy, những ý tưởng này có những số phận rất khác nhau vào thế kỷ XVIII.

Ở Trung Hoa, triều đại nhà Minh bị tê liệt do phá sản và chủ nghĩa bè phái, và khi nạn đói – kỵ sĩ thứ ba trong Sách Khải huyền – lan tràn khắp nước vào năm 1628, các hoàng đế xem như đã mất đi thiên mệnh. Quân nổi loạn ngày càng cảm thấy không có hành động nào là thái quá. Đất nước tan rã bởi nạn cát cứ vào thập niên 1630; rồi năm 1644 Bắc Kinh sụp đổ. Vị hoàng đế nhà Minh cuối cùng (Sùng Trinh) treo cổ tự vẫn trên một cành cây đơn độc phía sau cung điện. Ông viết di ngôn lên hoàng bào: “Ta vốn tài hèn sức mạn, phạm tội tày đình, chết đi còn hổ thẹn với tổ tiên. Hãy gỡ bỏ vương miện của ta và xõa tóc ta lên mặt. Ta lưu thân xác này lại để quân phản loạn đoạn lìa chân tay. Đừng để họ làm hại thần dân của ta!”❖

Ông ta đang lãng phí những lời cuối cùng. Các chư hầu không còn tiền để trả cho đội quân ngày càng tăng chẳng khác gì những vị vua châu Âu, các sultan Thổ, hay chính vị hoàng đế Minh triều, vì vậy họ buông thả cho người của họ bòn rút tài sản từ dân thường. Các đội quân cướp bóc những người vô tội kể từ khi chiến tranh bắt đầu, và có lẽ đã khai thác mọi biến thể của sự tàn bạo khá sớm, nên đơn giản chỉ lặp lại chúng ở tầm mức gây tiếng vang qua những thời kỳ kinh hoàng nối tiếp sau đó. Tuy nhiên, trên khắp lục địa Á-Âu những người lính giận dữ, tham lam và sợ hãi dường như đã đạt đến tận cùng của sự tàn bạo ở thế kỷ XVII khắc nghiệt. Tra tấn, hành quyết tập thể, và cưỡng đoạt theo băng nhóm xuất hiện đầy rẫy trong những nguồn tư liệu của chúng tôi. Khi Bắc Kinh sụp đổ, thường dân

bị đánh đập tàn nhẫn để moi móc tiền của. Một số bị tra tấn ở ngón tay hoặc tứ chi đến hơn ba, bốn lần. Và người này lại liên can đến người khác, do đó có đến hàng nghìn hộ gia đình bị ảnh hưởng… mọi người bắt đầu mất đi lòng ham sống.

Nếu quả đúng như thế, thì tình trạng bạo lực được tháo khoán ở phương Tây còn tồi tệ hơn thế nữa. Các cuộc chiến tranh tôn giáo châu Âu đã đạt đến tột đỉnh khủng khiếp ở Đức giữa những năm 1618 và 1648. Ở mọi ngõ ngách của các nước Ki-tô giáo đều có những đội quân khổng lồ không có lương, nếu có thì cũng không thường xuyên, họ chỉ sống nhờ đất, moi móc bất kỳ thứ gì có thể. Những nguồn tư liệu còn lưu giữ đầy những sự tổn thương và tàn bạo. Như thị trấn nhỏ Beelitz, không may thay là nằm trên con đường của quân đội Hoàng đế Thánh chế La Mã đi qua vào năm 1637, là một dẫn chứng. Một viên chức thuế quan đã viết rằng sau khi vây bắt người dân địa phương,

những kẻ cướp bóc và giết người lấy một miếng gỗ nhét vào cổ họng những người bất hạnh nghèo khổ, thọc mạnh rồi tọng nước, cát hay thậm chí phân người vào đó, tra tấn họ một cách đáng thương để moi của cải, sự việc này cũng xảy ra với một công dân của Beelitz tên David Örtel, người đã chết ngay sau đó.

Một nhóm binh lính treo một người dân Beelitzer lên ngọn lửa và nướng cho đến khi ông ta chịu dẫn họ đến chỗ mình cất giấu tài sản; nhóm khác nghe đồng đội của họ đã lột sạch tiền bạc của ông, liền trở lại bắt ông, dí mặt ông vào lửa đỏ “cho đến khi ông chết, da bị lột như da ngỗng bị mổ thịt.”

Từ lâu các nhà sử học cho rằng những câu chuyện như thế là dạng tuyên truyền tôn giáo, quá khủng khiếp nên khó trở thành sự thật, nhưng các nghiên cứu gần đây lại cho thấy một sự thật hoàn toàn khác. Hơn hai triệu người đã chết vì nạn bạo lực (con số không gì sánh nổi trừ những cuộc chiến thế giới ở thế kỷ XX) và có thể gấp 10 lần số người chết vì nạn đói và bệnh tật – những kỵ sĩ Khải huyền thứ ba và thứ tư – nối tiếp theo sau các đội quân. Cả Trung Hoa và vùng Trung Âu đều chứng kiến dân số giảm đến ⅓, như một Cái Chết Đen do con người tạo ra.

Bản thân bệnh dịch, nay trở lại ở những dạng mới tàn khốc, cũng đóng vai trò riêng của nó. Cuốn sách dạng tiểu thuyết hóa Journal of The Plague Year (Nhật ký năm dịch bệnh) của Daniel Defoe, được viết 50 năm sau khi những sự kiện này xảy ra, mô tả sinh động những tin đồn, sự hoảng loạn và đau khổ quét qua London vào năm 1665, và những tường thuật của các y sĩ Trung Hoa đã mô tả một cách sinh động những dịch bệnh này. Một người ghi nhận dịch bệnh ở châu thổ sông Dương Tử rằng, “có khi mọi người sưng hạch ở cổ và cũng có khi mặt và đầu sưng lên” hay “có khi mọi người đều bị tiêu chảy và sốt liên tục. Có thể do gân bị co rút, hay mụn mủ, hay phát ban, hay nốt ghẻ, hay bị nhọt đinh.”❖

Bốn trong số năm kỵ sĩ Khải huyền đang phi nước đại, nhưng như Hình 9.1 cho thấy, không có sự sụp đổ ở thế kỷ XVII. Phát triển xã hội tiếp tục tăng lên, vượt mức 43 điểm, mức điểm ở thời kỳ Đế quốc La Mã và nhà Tống đạt đỉnh, ở phương Đông vào năm 1710 (cộng trừ 25 năm, tùy vào mức độ chính xác của chỉ số) và ở phương Tây năm 1723 (hay khoảng đó). Đến năm 1800, cả phương Đông và phương Tây đều tiến gần đến 50 điểm. Chúng ta phải đặt câu hỏi lý do vì sao sự phát triển lại không tương thích với xu hướng lịch sử?

Đóng lại vùng thảo nguyên

Nerchinsk, ngày 22 tháng 8 năm 1689.

Những mùa hè ngắn ngủi ở Siberia có cái đẹp lạ kỳ. Hằng năm, khi mặt đất tan băng, những mầm cỏ sẫm màu phủ mượt một màu xanh mát lên những ngọn đồi, điểm xuyết những bông hoa dại đủ màu đỏ, vàng, xanh cùng từng đàn bươm bướm. Nhưng mùa hè này lại khác: bên bờ sông Shilla (Hình 9.5) một thị trấn gồm hàng trăm lều mới mọc lên và hàng trăm nhà thương thuyết Trung Hoa sử dụng các giáo sĩ Ki-tô giáo để diễn giải ngôn ngữ của họ sang tiếng Latin cho những người Nga tóc xám đang ngồi cùng họ để vạch ra một biên giới chung.⦾

Những người Nga này đang ở xa nhà. Mới đây, vào năm 1500, thành phố Moscow chỉ là một trong nhiều công quốc ở phía đông hoang dã của châu Âu, cố gắng tìm kiếm không gian sinh tồn giữa người Mông Cổ đang quần thảo các vùng thảo nguyên và các hiệp sĩ ở Ba Lan, Đức và Lithuania đang tràn lấn.

Hình 9.5. Kết thúc cho vùng thảo nguyên: các đế quốc phản công lại. Vào năm 1750, Nga và Trung Hoa đóng lại Tuyến đường Thảo nguyên.

Tuy nhiên, những ông hoàng bạo lực ít học này lại tự xưng là tsar (từ caesar, danh hiệu của các hoàng đế La Mã), kỳ vọng trở thành những hoàng đế Byzantine, thậm chí hoàng đế La Mã, dù vậy không chắc họ muốn trở thành vua theo phong cách châu Âu hay muốn trở thành hãn theo kiểu Mông Cổ. Mãi đến thời kỳ trị vì của Ivan Hung Đế – người được xem là tàn bạo ngay cả đối với các chuẩn mực đáng lo ngại của các nhà cai trị Nga – vào thập niên 1550, Moscow mới được để ý đến, và Ivan nhanh chóng bù lại khoảng thời gian đã mất. Những tay phiêu lưu mang súng hỏa mai thường vượt qua rặng Ural và năm 1598 đánh bại vị hãn Mông Cổ ở vùng đó, mở ra con đường đến Siberia.

Bây giờ nó chỉ được biết đến nhiều nhất qua bối cảnh nền lạnh giá trong những câu chuyện của Solzhenitsyn viết về nơi cải tạo chính trị của Liên Xô cũ, nhưng Siberia thời đó đã gây ấn tượng cho người Nga như một nơi để làm giàu. Cơn sốt da lông thú lôi cuốn họ: do lâu nay săn bắt các loại chồn mactet, zibelin và ecmin ở địa phương nhiều đến mức chúng bị tuyệt chủng, người châu Âu giờ đây phải trả giá cao để mua áo khoác lông chồn. Trong vòng 40 năm, những người săn lùng lông thú ở Nga đua nhau băng qua vùng lãnh nguyên để cung cấp cho thị trường béo bở nằm trên bờ Thái Bình Dương. Họ đã tạo ra một hàng rào mỏng manh dọc rìa những khu rừng lạnh giá của vùng Siberia, và từ đó liều lĩnh bung ra ngoài để bẫy chồn vizon hoặc cướp da chồn từ những thợ săn Thời kỳ Đồ đá ở vùng đó; và mặc dù những vùng hoang vu trống rỗng này hầu như không phải là một đế chế theo các chuẩn mực của sultan Suleiman hay Hideyoshi, nhưng thuế đánh vào lông thú cũng đã cứu hơn một tzar khỏi thảm họa.

Những kẻ bẫy chồn người Nga và các đội quân Trung Hoa sớm đụng độ dọc theo sông Amur, nhưng vào thập niên 1680, hai bên đều sẵn sàng thương thuyết. Mỗi bên đều sợ rằng bên kia, cũng như các vương triều sai lầm trước đó, sẽ kết đồng minh với người Mông Cổ và giải phóng kỵ sĩ Khải huyền thứ năm, sự di dân đến vùng thảo nguyên; nên họ đã đến Nerchinsk.

Hiệp ước của họ vào mùa hè năm đó ở Siberia đã chính thức hóa một trong những chuyển đổi lớn nhất trong lịch sử thế giới. Trong 2.000 năm, vùng thảo nguyên từng là một tuyến đường Đông-Tây nằm ngoài tầm kiểm soát của các đế chế nông nghiệp vĩ đại. Di dân, vi khuẩn, tư tưởng và phát minh cùng hối hả đuổi theo nó, gắn kết Đông và Tây vào những nhịp điệu phát triển và sụp đổ. Cũng có những trường hợp hiếm hoi, và với tổn phí rất lớn, những nhà chinh phục như Darius xứ Ba Tư, Vũ Đế triều Hán, hay Thái Tông đời Đường nỗ lực áp đặt ý chí của họ lên vùng thảo nguyên, nhưng đó chỉ là những ngoại lệ. Nguyên tắc là các đế chế nông nghiệp đáp ứng những gì người du mục đòi hỏi và hy vọng thu hồi những điều tốt đẹp nhất.

Súng đã làm thay đổi tất cả. Dân du mục thường sử dụng vũ khí gây nổ (khẩu súng cũ nhất, có xuất xứ từ năm 1288, được tìm thấy ở vùng đất Mãn Châu của người du mục) và có lẽ người Mông Cổ đã du nhập súng từ Trung Hoa sang phương Tây. Nhưng khi súng ống được cải tiến (bắn xa hơn và nhanh hơn) và các đế chế được tổ chức tốt hơn, các tướng lĩnh có khả năng tuyển dụng hàng chục nghìn bộ binh được trang bị súng hỏa mai và thần công và huấn luyện họ bắn theo từng loạt thì họ bắt đầu đánh bại những kỵ binh du mục. Khoảng năm 1500, những cung thủ cưỡi ngựa từ các thảo nguyên vẫn thường xuyên đánh bại bộ binh của các vương quốc nông nghiệp. Đến năm 1600, thỉnh thoảng họ cũng làm được điều đó. Nhưng đến năm 1700 thì hầu như chúng ta không còn nghe đến điều này nữa.

Người Nga dẫn đầu chuyện này. Vào thập niên 1550, pháo binh của Ivan Hung Đế quét sạch các hàn quốc yếu ớt của người Mông Cổ khỏi lưu vực sông Volga, và trong hàng trăm năm tiếp theo, người Nga, người Thổ và người Ba Lan đã đóng chặt cửa vùng thảo nguyên Ukraine khô cằn với các lực lượng đồn trú, hào lũy và cọc nhọn. Những dân làng được trang bị súng hỏa mai đầu tiên đào hào ngăn chặn những chuyển động của những người du mục và cuối cùng chia cắt họ, và ở Nerchinsk, Nga và Trung Hoa thỏa thuận rằng không một ai – bao gồm người tị nạn, thương nhân, lính đào ngũ, và trên hết là những người du mục di cư – được đi lại dọc theo tuyến thảo nguyên nếu không được phép của họ. Tất cả bây giờ đều là thần dân của các đế chế nông nghiệp.

Tiếng hoan hô cuối cùng của người vùng Nội Á vào năm 1644 đã phản ánh biết bao nhiêu thay đổi. Triều đại nhà Minh ở Trung Hoa sụp đổ vào năm đó khi một thủ lĩnh nghĩa quân nông dân chiếm Bắc Kinh, và khi cuộc nội chiến vượt khỏi tầm kiểm soát, một cựu thần nhà Minh cho rằng việc mời người Mãn bán-du-mục ở Mãn Châu – vượt Vạn Lý Trường Thành để tái lập trật tự sẽ ít rủi ro hơn. Các nhà lãnh đạo Trung Hoa đã có một truyền thống lâu đời trong việc mời các tộc người vùng Đông và Bắc Á tham dự vào các cuộc nội chiến của đế chế, thường là gây ra những kết quả thảm khốc. Nhưng không như những kẻ xâm lược trước đây, người Mãn không đến với tư cách kỵ binh du mục mà đó là một đội quân hầu như không thể phân biệt được với quân đội Trung Hoa, dựa trên lực lượng bộ binh tập trung sử dụng súng hỏa mai và đại pháo sao chép từ người Bồ Đào Nha.

Người Mãn chiếm Bắc Kinh không tốn chút công sức nào, tuyên bố thành lập triều đại nhà Thanh, và sau đó dành gần 40 năm đấu tranh để củng cố quyền lực của mình. Những cuộc đấu tranh này cũng khác với hậu quả của những cuộc xâm lăng đến từ vùng thảo nguyên trước đó. Thay vì mở các cửa xả cho người du mục từ xứ lạnh tràn vào, cuộc đấu tranh lâu dài chỉ giúp rèn luyện một quân đội nhà Thanh có khả năng tiến ngược trở lại vào vùng Nội Á. Năm 1697, nhà Thanh tiêu diệt một đạo quân du mục đông đảo ở Mông Cổ và năm 1720, lần đầu tiên bành trướng quyền lực Trung Hoa đến vùng núi Tây Tạng. Vào những năm 1750, nhà Thanh áp dụng giải pháp cuối cùng cho vấn đề người du mục, kéo theo súng ống đạn dược, họ tấn công vùng biên giới của Kyrgyzstan ngày nay, đập tan cuộc kháng cự cuối cùng.

Vào thế kỷ XVII và XVIII, các đế chế nông nghiệp – trên hết là vương triều Romanov ở Nga và nhà Thanh ở Trung Hoa – đã tiêu diệt một trong các kỵ sĩ Khải huyền một cách hiệu quả. Vì lý do này, áp lực của phát triển xã hội đối với ngưỡng cứng không kích hoạt những làn sóng di cư ở vùng thảo nguyên như cách nó đã làm trong thế kỷ II và thế kỷ XII; và do đó, có vẻ như sức nặng kết hợp giữa thất bại của nhà nước, nạn đói, tật bệnh và thay đổi khí hậu cũng không đủ thúc đẩy các vùng lõi bị sụp đổ. Tuyến đường vùng thảo nguyên đã đóng lại cùng với việc khép lại toàn bộ một chương trong lịch sử Cựu Thế giới.

Đối với những người du mục, đây là một thảm họa hoàn toàn. Những con người từng tồn tại qua bao cuộc chiến tranh nay ngày càng bị phong tỏa. Sự di chuyển tự do, nền tảng lối sống của họ, giờ đây lệ thuộc vào ý thích của những vị hoàng đế phương xa, và từ thế kỷ XVIII trở đi, các chiến binh một thời đầy tự hào của vùng thảo nguyên ngày càng giảm thiểu để trở thành những kẻ được thuê mướn, hay đám côn quang như những kỵ binh Cossack, để giữ những người nông dân ngang bướng vào khuôn phép.

Tuy nhiên, đối với các đế quốc, việc đóng lại Tuyến đường Thảo nguyên là một thắng lợi. Vùng Nội Á không còn là một nơi khởi nguồn sự nguy hiểm mà trở thành một biên giới mới. Khi các cuộc cướp bóc của dân du mục giảm sút, đã có một hay hai triệu người Nga và khoảng 5 đến 10 triệu người Trung Hoa trôi dạt từ những vùng lõi đông đúc đến các vùng đất mới dọc rìa biên giới thảo nguyên. Một khi đã định cư ở đó, những con người gan góc này đủ sức chia nhỏ cảnh quan để phục vụ các ngành nông nghiệp, khai mỏ, và khai thác gỗ, gửi nguyên liệu và thuế trở lại cho vùng đất trung tâm của đế quốc. Việc đóng lại Tuyến đường Thảo nguyên không chỉ đẩy lùi sự sụp đổ mà còn khởi phát sự hưng thịnh của vùng thảo nguyên, giúp phá vỡ ngưỡng cứng vốn dĩ trong suốt hàng nghìn năm đã giới hạn phát triển xã hội ở mức dưới 40 điểm trên bảng chỉ số.

Mở ra những đại dương

Trong khi người Nga và Trung Hoa khép lại con đường cũ đi qua vùng thảo nguyên thì người Tây Âu lại mở con đường mới vượt đại dương làm thay đổi lịch sử đáng kể hơn.

Trong suốt một thế kỷ sau khi người Tây Âu lần đầu tiên vượt Đại Tây Dương để vào Ấn Độ Dương, các đế chế hàng hải của họ dường như chẳng có gì bất thường cả. Người Venice tự làm giàu bằng cách khai thác thương mại trên Ấn Độ Dương từ thế kỷ XIII; bằng cách đi thuyền vòng quanh mũi phía nam châu Phi thay vì phải thương lượng khi băng qua Đế quốc Ottoman, các thủy thủ Bồ Đào Nha cũng làm điều tương tự như vậy nhưng lại rẻ và nhanh hơn. Ở châu Mỹ người Tây Ban Nha đã thâm nhập vào toàn bộ Tân Thế giới, nhưng những gì họ làm ở đó cũng giống như người Nga đã làm ở Siberia sau này.

Cả người Tây Ban Nha và người Nga đều khoán hết mọi thứ có thể. Ivan Hung Đế cho gia đình Stroganov độc quyền mọi việc ở miền đông Urals để đổi lấy một khoản tiền từ doanh thu; các vị vua Tây Ban Nha ít nhiều cũng đồng ý cho bất kỳ ai xin quyền chiếm hữu những gì họ tìm thấy ở châu Mỹ miễn là dòng họ Habsburg có được 20%. Ở cả Siberia và châu Mỹ những băng nhóm liều mạng đã lan tràn, tự bỏ kinh phí xây dựng các rào chắn khắp nơi trên những vùng lãnh thổ chưa ghi trên bản đồ và thường viết thư về nhà để kiếm thêm tiền và phụ nữ châu Âu.

Khi mà cơn sốt lông thú thúc đẩy người Nga ra đi thì cơn sốt vàng cũng thúc đẩy người Tây Ban Nha. Cortés đã đặt Tây Ban Nha theo con đường này bằng cách cướp phá Tenochtitlán vào năm 1521, rồi Francisco Pizarro còn đẩy bọn họ đi xa hơn nữa. Năm 1533 Francisco Pizarro bắt cóc vua Inca là Atahualpa rồi ra lệnh cho thần dân của ông chất đầy kho báu vào trong một căn phòng dài 6m, rộng 5,2m và cao 2,7m xem như đòi tiền chuộc. Pizarro nấu chảy những thành tựu nghệ thuật được tích lũy của nền văn minh Andes thành các thỏi vàng – có đến hơn 6 kg vàng và gần 12 kg bạc – rồi cho siết cổ vua Atahualpa đến chết.

Vào năm 1535 những món béo bở tương đối dễ lấy cũng hết, nhưng những giấc mơ về El Dorado, vị Vua Vàng của một vương quốc nơi kho báu nằm khắp mọi nơi, đã khiến những kẻ giết người tiếp tục mò đến. “Hằng ngày họ không làm gì khác ngoài việc chỉ nghĩ đến vàng bạc và tài sản của người Anh-điêng ở Peru,” một người chép biên niên sử than trách. “Họ giống như một người đang trong cơn tuyệt vọng, điên cuồng, loạn trí vì lòng tham vàng bạc.”❖

Hình 9.6. Các đế quốc đại dương, năm 1500-1750. Những mũi tên thể hiện tam giác giao thương nô lệ, đường, rượu rum, lương thực và hàng hóa sản xuất quanh vùng Đại Tây Dương.

Chứng cuồng này đã tìm thấy một lối thoát mới vào năm 1555 khi các kỹ thuật được cải tiến để chiết xuất bạc đột nhiên làm cho ngành khai thác mỏ ở Tân Thế giới tạo lợi nhuận cao. Đầu ra thật là quá lớn: khoảng 50.000 tấn bạc ở châu Mỹ đến châu Âu giữa những năm 1540 và năm 1700, ⅔ số đó từ Potosí, một ngọn núi nay nằm Bolivia, nơi mỏ quặng hầu như rắn đặc. Vào những năm 1580, kho dự trữ bạc của châu Âu đã tăng gấp đôi và của dòng họ Habsburg tăng gấp 10 lần, mặc dù, như một du khách Tây Ban Nha đến Potosí vào năm 1638 tuyên bố: “Cứ mỗi đồng peso được đúc ở Potosí thì có 10 mạng người Anh-điêng bị cướp đi.”❖ Tương tự như nước Nga, dòng họ Habsburg đã xem cuộc chinh phục vùng đất hoang dã chủ yếu để tài trợ những cuộc chiến xây dựng một đế chế đất đai ở châu Âu. Một du khách đã ghi lại như sau: “Potosí tồn tại để phục vụ cho những khát vọng của Tây Ban Nha, nó dùng để trừng trị người Turk, hạ nhục người Moor, làm người vùng Flander run sợ và khiến nước Anh kinh hoàng.”❖

Dòng họ Habsburg dùng hầu hết số bạc ở Tân Thế giới để thanh toán các món nợ cho các nhà tài chính Ý, rồi từ tay những người này chúng lại được chuyển vào Trung Hoa, nơi nền kinh tế đang bùng nổ cần đến mọi đồng bạc kiếm được. Một thương nhân cho rằng “Hoàng đế Trung Hoa có thể xây cả một cung điện bằng những thỏi bạc nhập vào nước mình từ Peru.”❖ Mặc dù Đế chế Habsburg xuất khẩu bạc và nhà Minh nhập vào, nhưng họ lại có nhiều điểm chung, lo việc mở rộng phần bánh kinh tế của chính mình hơn là mở rộng cả chiếc bánh. Cả hai đế quốc giới hạn việc giao thương ở nước ngoài cho một số người được chọn nắm giữ độc quyền được nhà nước hỗ trợ dễ dàng về thuế khóa.

Trên lý thuyết, Tây Ban Nha mỗi năm chỉ cho phép một chiếc thuyền lớn chở đầy bạc vượt qua Đại Tây Dương, và (một lần nữa, về mặt lý thuyết) quy định việc giao thương các loại hàng hóa khác một cách nghiêm ngặt. Trên thực tế, kết quả cũng giống như vậy dọc theo các bờ biển hỗn loạn của Trung Hoa: những người bị loại ra khỏi các thỏa thuận ngầm của chính phủ đã tạo ra một chợ đen khổng lồ. Những con buôn không môn bài này, giống như những tên cướp biển buôn lậu của Trung Hoa, bán rẻ cho các đại lý chính thức bằng cách lờ đi các khoản thuế và bắn bỏ bất cứ ai nhảy vào tranh chấp.

Người Pháp, vốn gánh chịu sức nặng những cuộc chiến tranh ở châu Âu của dòng họ Habsburg trong những thập niên 1520-1530, là những người đầu tiên tham gia cuộc xung đột này. Cuộc tấn công đầu tiên của hải tặc Pháp được ghi lại là vào năm 1536; đến những năm 1550 thì chúng trở thành một điều bình thường. Năm 1555, một viên chức than phiền: “Dọc toàn bộ bờ biển [Haiti], chẳng có làng nào là không bị người Pháp cướp phá.”❖ Vào thập niên 1560, đám buôn lậu người Anh cũng bắt đầu bán nô lệ miễn thuế hoặc lên bộ cướp những đoàn la chở bạc, tạo cơ hội để thể hiện chính mình. Số của cải cướp được rất khả quan, và trong vòng 20 năm những kẻ (một số là phụ nữ) man rợ và liều lĩnh nhất vùng Tây Âu cũng đổ xô tham gia.

Tây Ban Nha, cũng như Trung Hoa, phản ứng một cách chậm chạp và miễn cưỡng. Cả hai đế quốc này đều nhận ra rằng việc phớt lờ bọn cướp biển còn ít tốn kém hơn là phải đụng độ với chúng, và chỉ đến thập niên 1560, Tây Ban Nha, cũng như Trung Hoa, mới thực sự phản kích. Một cuộc chiến toàn cầu chống hải tặc kéo dài hàng thập niên đã nổ ra với đoản kiếm và đại pháo, trải dài từ Trung Hoa đến Cuba (Đế quốc Ottoman ở vùng Địa Trung Hải cũng tham gia). Vào năm 1575, tàu chiến Tây Ban Nha và Trung Hoa cũng hợp tác để chống lại hải tặc ngoài khơi Philippines.

Vào thời đó nhà Minh và Đế quốc Ottoman ít nhiều cũng đã giành thắng lợi trong các cuộc chiến chống hải tặc, nhưng Tây Ban Nha phải đối phó với mối đe dọa nghiêm trọng hơn từ các tàu săn lùng – một kiểu cướp biển được các nhà nước khác bảo trợ. Chỉ huy những tàu săn lùng này là các thuyền trưởng được nhà cầm quyền cấp phép, thậm chí đôi khi cấp cả tàu để cướp tàu của người Tây Ban Nha và sự trơ tráo của họ thì không biết giới hạn. Vào thập niên 1550, thuyền trưởng tàu săn lùng của Pháp là Le Clerc Chân Gỗ cướp bóc các thành phố chính ở Cuba và năm 1575, thuyền trưởng John Oxenham của Anh cho tàu đến vùng biển Caribe, cập bờ gần Panama và kéo hai khẩu pháo trên tàu qua eo đất. Khi đến bờ Thái Bình Dương, ông đến cây đóng một con tàu mới, dẫn theo một thủy thủ đoàn gồm một đám nô lệ chạy trốn và chỉ trong vài tuần đã gieo kinh hoàng cho vùng bờ biển Peru không được bảo vệ.

Oxenham bị treo cổ ở Lima, nhưng bốn năm sau, người bạn cũ cùng đi biển với ông ta là Francis Drake – kẻ cũng ngang tài ngang sức với ông về tính lừa dối, trộm cắp và hão huyền; nói ngắn gọn, là tay cướp biển hoàn hảo – quay trở lại với kế hoạch thậm chí còn điên cuồng hơn là đi thuyền vòng xuống phía dưới Nam Mỹ để cướp phá Peru. Chỉ có một trong sáu con tàu của ông vượt qua được Cape Horn, nhưng do được vũ trang hùng hậu nên nó đã xác lập ngay vị thế bá chủ của hải quân Anh ở Thái Bình Dương. Drake đuổi bắt được một mẻ vàng bạc lớn nhất (hơn 25 tấn) từ một chiếc tàu Tây Ban Nha, và rồi, nhận ra rằng không thể quay trở lại theo hải trình cũ, ông ta lẳng lặng đi vòng quanh thế giới với số vàng bạc cướp được của mình. Tài sản cướp biển được phân phối như sau: những kẻ hậu thuẫn cho Drake nhận được 4.700% phần bồi hoàn cho vốn đầu tư, và chỉ dùng ¾ phần chia của mình, Nữ hoàng Elizabeth cũng đủ xóa được toàn bộ khoản nợ nước ngoài của nước Anh.

Được khích lệ bởi những thành quả đó, các đối thủ của Tây Ban Nha gửi những người sau này trở thành những nhà chinh phục đến Tân Thế giới. Điều đó lại ít hiệu quả hơn. Trong một chiến thắng ngoạn mục của hy vọng trước kinh nghiệm, Pháp thành lập một thuộc địa ở Quebec vào năm 1541 với mong muốn tìm kiếm vàng và gia vị. Nhưng vùng Quebec lại thiếu cả hai thứ đó nên chính sách thuộc địa bị thất bại. Những nỗ lực tiếp theo của Pháp cũng không thành công: bắt chước sát sao người Tây Ban Nha, những di dân đến định cư kế cận một pháo đài Tây Ban Nha ở Florida và ngay lập tức bị tiêu diệt.

Những mạo hiểm đầu tiên của Anh quốc cũng không thực tế. Sau khi gây kinh hoàng cho Peru năm 1579, Francis Drake đi tàu lên bờ biển phía tây châu Mỹ và đổ bộ lên California (có lẽ ở một vịnh nhỏ đẹp như tranh gần San Francisco, bây giờ gọi là Vịnh Drake). Nơi đó ông ta thông báo cho dân địa phương mà ông tiếp xúc trên bãi biển rằng quê hương của họ bấy giờ được gọi là Nova Albion – New England – và thuộc về Nữ hoàng Elizabeth; sau đó ông ta lại tiếp tục cuộc hành trình và không bao giờ quay trở lại.

Năm 1585, đối thủ lớn của Drake là Walter Raleigh [hay Walter Raw Lie (Walter kẻ nói dối non nớt), như các đối thủ thích gọi ông ta] thành lập thuộc địa riêng của mình, Roanoke, nay ở Bắc Carolina. Raleigh thực tế hơn Drake và ít nhất cũng đưa những người định cư thực sự vào đất liền, nhưng kế hoạch của ông nhằm sử dụng Roanoke như một hang ổ cướp biển để phục kích tàu Tây Ban Nha là một thảm họa. Roanoke là một nơi nghèo nàn, và khi Drake đi ngang qua đó vào năm sau, những người khai hoang đói khát xin quá giang về lại quê nhà. Một trong số cấp phó của Raleigh thả xuống nhóm thứ hai ở Roanoke (người ta cho rằng ông ta đã đưa họ đến một địa điểm tốt hơn, ở Vịnh Chesapeake, nhưng đám người này bị thất lạc). Không ai biết chuyện gì xảy ra cho họ; khi viên thống đốc của họ trở lại vào năm 1590, ông ta nhận thấy mọi người đã biến mất, chỉ còn lại một từ duy nhất được khắc trên cây – Croatan, cái tên họ đặt cho Roanoke.

Cuộc sống ở vùng biên giới mới này rất rẻ rúng và đặc biệt mạng sống của người Mỹ bản địa cũng vậy. Người Tây Ban Nha thích giễu cợt rằng các lãnh chúa của họ tại Madrid bất tài đến nỗi “nếu thần chết đến từ Tây Ban Nha thì tất cả chúng ta hẳn sẽ sống mãi,”❖ nhưng người bản địa châu Mỹ lại thấy chẳng có gì là buồn cười. Đối với họ cái chết thực sự đã đến từ Tây Ban Nha. Tuy được Đại Tây Dương và Thái Bình Dương che chắn, họ lại không có biện pháp phòng vệ nào chống lại mầm bệnh ở Cựu Thế giới, và chỉ trong vòng vài thế hệ từ khi Columbus đổ bộ vào đất liền, dân số của họ đã giảm đi ít nhất cũng ¾. Đây là thời kỳ Trao đổi Columbus đã đề cập trong Chương 6: Người châu Âu có được lục địa mới còn người bản địa châu Mỹ lại bị bệnh đậu mùa. Mặc dù những thực dân châu Âu thỉnh thoảng cũng trừng phạt một cách tàn bạo những người mà họ chạm trán, nhưng cái chết hầu như không báo trước lại xảy đến với dân bản địa, qua vi khuẩn trong hơi thở hay trong chất dịch cơ thể. Nó cũng chạy đua trước cả bản thân người châu Âu, lây truyền từ đám thực dân qua người bản địa rồi sau đó lây lan sâu vào nội địa mỗi khi một người bản địa nhiễm bệnh gặp một người còn khỏe mạnh. Do đó, khi những người da trắng xuất hiện thì họ ít khi gặp phải khó khăn trong việc xua đuổi số dân bản địa đã bị co cụm lại.

Bất cứ nơi nào đất đai còn tốt thì thực dân lại tạo ra thứ mà nhà sử học-địa lý học Alfred Crosby gọi là châu Âu mới – gieo trồng những phiên bản ở quê hương, bao gồm các loài cây trồng, cỏ dại và động vật quen thuộc. Và tại những nơi thực dân không cần đến đất đai – như ở vùng New Mexico, nơi chẳng có thứ gì, như một phó vương Tây Ban Nha tuyên bố, chỉ có “những con người trần truồng, một ít san hô giả và bốn viên sỏi”❖ – chủ nghĩa đế quốc sinh thái của họ (một cụm từ tuyệt hảo khác của Crosby) lại chuyển đổi nó bằng mọi cách. Từ Argentina đến Texas, gia súc, lợn và cừu thả rông biến thành hoang dã, sinh sản thành bầy đàn hàng triệu con mạnh khỏe và tràn ngập khắp các vùng đồng bằng.

Thậm chí còn hơn thế nữa, đám thực dân đã tạo ra những châu Âu được cải biên khi thay vì ép giá thuê đám nông dân không thân thiện, họ có thể sử dụng số dân bản địa sống sót như nô lệ hay – nếu dân bản địa hết sử dụng được – nhập khẩu nô lệ từ châu Phi (những nô lệ đầu tiên được xác nhận là vào năm 1510, đến năm 1650 họ đã vượt qua số lượng người châu Âu ở vùng châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha). Một người định cư ở Mexico viết thư về nhà: “Ở đây cho dù bạn nghèo thì vẫn tốt hơn là ở Tây Ban Nha. Do ở đây bạn luôn chỉ huy và không phải làm việc gì nên bạn luôn ở trên lưng ngựa.”❖

Bằng việc xây dựng những châu Âu cải biên, những di dân ở đây đã khởi đầu một cuộc cách mạng khác mang ý nghĩa địa lý. Vào thế kỷ XVI, khi các đế quốc châu Âu theo tư tưởng truyền thống xem Tân Thế giới là một nguồn cướp bóc để tài trợ cho cuộc chiến đấu vì một đế chế đất đai ở châu Âu, thì những đại dương ngăn cách châu Mỹ với Cựu Thế giới chẳng có ý nghĩa gì ngoài việc tạo ra phiền toái. Tuy nhiên, vào thế kỷ XVII, sự tách biệt về mặt địa lý dần dần có vẻ như một ưu thế. Thực dân có thể khai thác những khác biệt về sinh thái giữa Tân và Cựu Thế giới để sản xuất những mặt hàng không có ở châu Âu hoặc chế tạo ở châu Mỹ tốt hơn ở quê nhà rồi sau đó bán chúng lại cho thị trường châu Âu. Thay vì trở thành một rào cản, Đại Tây Dương bắt đầu trông giống như một xa lộ cho phép các nhà buôn hợp nhất các thế giới khác biệt.

Năm 1608 những người định cư Pháp quay trở lại Quebec, lần này với tư cách là những thương nhân buôn bán lông thú chứ không phải những tay săn châu báu, và họ phát triển thịnh vượng. Những người định cư Anh ở Jamestown hầu như bị chết đói cho đến khi họ phát hiện ra thuốc lá phát triển mạnh ở Virginia vào năm 1612. Lá thuốc không được tốt như người Tây Ban Nha đã trồng ở vùng Caribe nhưng lại rẻ và họ sớm trở nên giàu có. Năm 1613, các thương nhân buôn lông thú Hà Lan định cư ở Manhattan rồi mua luôn cả hòn đảo. Vào thập niên 1620, dân tị nạn tôn giáo trốn khỏi nước Anh đến Massachusetts cũng tham gia vào công việc kinh doanh này, họ chuyển gỗ đóng cột buồm về quê nhà. Đến thập niên 1650, họ gửi gia súc và cá khô đến Caribe, nơi mà đường – được xem là vàng trắng – đã tạo ra cơn sốt mới. Những người định cư và nô lệ lúc đầu lựa thưa sau đó tràn ngập về hướng tây băng qua Đại Tây Dương, đồng thời hàng hóa từ nước ngoài cũng như các loại thuế lại chuyển ngược về hướng đông.

Ở một mức độ nào đó, những người định cư ở các vùng biên giới mới luôn thực hiện công việc kinh doanh theo kiểu này. Người Hy Lạp cổ đại thì gửi lúa mì về quê nhà từ phía tây Địa Trung Hải; những người định cư Trung Hoa ở thung lũng sông Dương Tử vận chuyển gạo ngược Đại Vận Hà; còn những thực dân sống dọc theo rìa thảo nguyên giờ đây lại vận chuyển gỗ, lông thú và khoáng sản đến Moscow và Bắc Kinh. Nhưng tính hoàn toàn đa dạng của những môi trường sinh thái quanh Đại Tây Dương và quy mô của đại dương – tuy rộng lớn nhưng vẫn quản lý được, căn cứ vào tính phức tạp và hoạt động vận chuyển hiện đại – đã cho phép người Tây Âu tạo ra một điều mới mẻ: một nền kinh tế liên lục địa phụ thuộc lẫn nhau, được liên kết qua mạng lưới tam giác thương mại (Hình 9.6).

Thay vì chỉ vận chuyển hàng hóa từ A đến B, thương nhân có thể vận chuyển hàng hóa sản xuất ở Tây Âu (hàng dệt may, súng đạn, v.v.) sang phía tây châu Phi để trao đổi nô lệ lấy lợi nhuận. Sau đó họ có thể đưa dân nô lệ đến vùng Caribe để đổi (cũng chỉ để kiếm lời) lấy đường. Cuối cùng, họ có thể mang đường trở lại châu Âu để bán, thu thêm lợi nhuận trước khi mua một lô hàng thành phẩm mới và lại đưa sang châu Phi. Cũng theo cách đó, người châu Âu định cư ở Bắc Mỹ có thể mang rượu rum tới châu Phi để đổi lấy nô lệ; sau đó mang nô lệ đến vùng biển Caribe đổi lấy mật mía; rồi đem mật mía trở lại Bắc Mỹ để làm ra nhiều rượu rum hơn. Những người khác thì vận chuyển thực phẩm từ Bắc Mỹ đến vùng Caribe (vốn dĩ đất đai dành cho sản xuất đường quá giá trị nên không thể để lãng phí vào việc trồng lương thực cho nô lệ), rồi mua đường ở đó đem đến miền tây châu Âu, cuối cùng quay trở về Bắc Mỹ cùng các mặt hàng thành phẩm.

Những thuận lợi của tình trạng lạc hậu cũng góp phần vào đó. Tây Ban Nha, đế quốc vĩ đại của châu Âu ở thế kỷ XVI, có chế độ quân chủ chuyên chế phát triển toàn vẹn nhất, thường đối xử với giới thương nhân như những cỗ máy rút tiền để thanh toán theo yêu cầu khi bị đe dọa và xem các thuộc địa của nó là nguồn tài sản để cướp bóc. Nếu dòng họ Habsburg thành công trong việc ép buộc các đối thủ châu Âu của họ để trở thành một đế quốc đất liền thì nền kinh tế Đại Tây Dương chắc chắn cũng sẽ tiếp tục theo đúng xu thế này để bước vào thế kỷ XVII. Tuy nhiên thay vì thế, các thương nhân từ vùng rìa tây bắc châu Âu còn tương đối lạc hậu, nơi những vị vua yếu thế hơn, đã thúc đẩy vấn đề theo một hướng mới.

Đứng đầu trong số đó là người Hà Lan. Vào thế kỷ XIV, nước Hà Lan là một vùng ngoại vi ngập nước bị chia cắt giữa các tiểu quốc đô thị. Về mặt lý thuyết, Hà Lan vẫn còn nợ lời thề trung thành với dòng họ Habsburg, nhưng trên thực tế, những nhà cai trị bận rộn ở xa thấy rằng việc áp đặt ý chí của họ lên tận vùng tây bắc xa xôi thì phiền phức hơn nó xứng đáng được thế nên giao chính quyền cho những thân hào nhân sĩ thành phố trong địa phương đó. Để tồn tại, các thành phố của Hà Lan phải đổi mới. Thiếu gỗ, họ phát triển than bùn làm nguồn năng lượng; thiếu lương thực, họ đánh bắt cá ở Biển Bắc và buôn bán các sản phẩm đánh bắt của mình để đổi lấy lúa gạo quanh vùng biển Baltic; và thiếu các vị vua và giới quý tộc phiền nhiễu, những thị dân giàu có đã tạo thuận lợi cho thành phố của mình trong việc kinh doanh. Tiền bạc dồi dào và chính sách hoàn chỉnh hơn lại càng thu hút được nhiều tiền hơn, cho đến cuối thế kỷ XVI, Hà Lan trước đây vốn lạc hậu đã trở thành trung tâm ngân hàng của châu Âu. Do có thể vay mượn với lãi suất thấp, người Hà Lan có khả năng tài trợ cho cuộc chiến tranh tiêu hao kéo dài dần dần phá vỡ quyền lực của Tây Ban Nha.

Nước Anh cũng vững bước theo hướng đi của Hà Lan. Trước Cái Chết Đen, nước Anh đã là một vương quốc thực sự, nhưng công việc kinh doanh len bùng nổ khiến thương nhân Anh có uy thế hơn ở bất cứ nơi nào bên ngoài Hà Lan. Đầu thế kỷ XVII, các thương nhân dẫn đầu trong việc chống đối, đấu tranh và cuối cùng chặt đầu kẻ cai trị tương đối yếu kém của mình, sau đó thúc đẩy chính phủ xây dựng các đội tàu lớn hiện đại. Các thương nhân lại nằm trong số những người được hưởng lợi chính khi cuộc đảo chính/xâm lăng không đổ máu đưa một hoàng tử Hà Lan lên ngai vàng của Anh vào năm 1688.

Sự kìm kẹp của Tây Ban Nha suy yếu đi sau năm 1600, rồi các thương nhân Hà Lan và Anh hùng hổ tràn vào Đại Tây Dương. Như Hình 9.3 cho thấy, vào năm 1350 tiền công của người bình thường ở vùng rìa tây bắc Anh-Hà Lan chỉ hơi cao hơn so với các thành phố giàu có nhưng đông đúc hơn của Italy. Tuy nhiên sau năm 1600, khoảng cách này ngày càng lớn. Ở những nơi khác, áp lực không ngừng của những nhân khẩu đói kém đã khiến đồng lương trở lại mức trước thời Cái Chết Đen, nhưng tiền lương ở phía tây bắc đã gần quay lại mức trước đó, vào thời kỳ vàng son của thế kỷ XV.

Đây không phải là kết quả của việc chỉ bòn rút tài sản từ châu Mỹ, như Tây Ban Nha đã làm, và chuyển nó sang châu Âu. Trong khi các chuyên gia tranh luận về mức độ giàu có mới ở miền tây bắc trực tiếp đến từ chế độ thực dân hóa và thương mại, thậm chí những ước tính cao nhất cũng đưa nó xuống dưới 15% (và thấp nhất chỉ 5%). Những điều mang tính cách mạng đối với nền kinh tế Đại Tây Dương chính là nó đã thay đổi phương cách làm việc của con người.

Tôi đã vài lần đề cập trong cuốn sách này về những động cơ của lịch sử chính là nỗi sợ hãi, tính lười biếng và sự tham lam. Nỗi sợ hãi có xu hướng lấn át tính lười biếng, và khi dân số tăng lên sau năm 1450, ở khắp lục địa Á-Âu, con người phải hành động ngay để khỏi lo mất công việc làm ăn, lo đói kém hay thậm chí chết đói. Nhưng sau năm 1600, tính tham lam lại bắt đầu vượt qua sự lười biếng khi đặc tính đa dạng sinh thái của nền kinh tế Đại Tây Dương, vận tải giá rẻ và các thị trường mở đã đem lại cho thế giới một số mặt hàng xa xỉ vừa tầm người dân bình thường ở tây bắc châu Âu trong sinh hoạt hằng ngày. Vào thế kỷ XVIII, một người đem theo một ít tiền mặt trong túi có thể tậu được nhiều thứ hơn là chỉ mua một ổ bánh mì; người này có thể mua được hàng nhập khẩu như trà, cà phê, thuốc lá và đường, hay những món đồ kỳ diệu sản xuất trong nước như tẩu thuốc bằng đất nung, ô dù và báo chí. Và cũng cùng nền kinh tế Đại Tây Dương khởi phát sự hào phóng này đã tạo ra những con người sẵn sàng đưa cho một người như thế số tiền mặt mà ông ta cần, bởi vì các thương nhân sẽ mua tất cả mũ, súng, hoặc chăn màn trong khả năng của mình để chở đến châu Phi hoặc châu Mỹ, và do đó các nhà sản xuất sẽ phải trả tiền cho người khác để làm ra những sản phẩm đó. Một số nông dân cho gia đình mình làm nghề quay tơ và dệt vải; một số khác thì tham gia vào các nhà máy. Một số hoàn toàn từ bỏ công việc đồng áng; số khác thấy rằng việc cung ứng thực phẩm cho những người lao động nghèo đói này tạo ra những thị trường đủ độ ổn định giúp biện minh cho việc rào chắn, dẫn nước và chăm bón đất đai một cách tích cực hơn, đồng thời mua thêm gia súc.

Về chi tiết thì đa dạng, nhưng cư dân vùng tây bắc châu Âu ngày càng bán sức lao động nhiều hơn và làm việc nhiều giờ hơn. Đồng thời, càng làm nhiều thì họ càng mua được nhiều đường, trà, và báo chí – có nghĩa là càng nhiều nô lệ kéo qua Đại Tây Dương, càng nhiều diện tích đất trống được phát quang để lập đồn điền cùng nhiều nhà máy và cửa hàng mở ra. Doanh số tăng lên, những nền kinh tế quy mô đạt thành quả và giá cả giảm xuống, mở rộng thế giới hàng hóa cho nhiều người châu Âu hơn nữa.

Cho dù tốt hoặc xấu chăng nữa thì vào năm 1750, văn hóa tiêu dùng đầu tiên của thế giới cũng hình thành quanh bờ Bắc Đại Tây Dương và làm đổi thay hàng triệu cuộc sống. Những người đàn ông vốn không dám chường mặt trong quán cà phê nếu thiếu đôi giày da và một đồng hồ bỏ túi – nói gì đến chuyện kể cho vợ mình rằng họ không thể cho đường vào trà khi khách gọi – ngày càng có xu hướng ít dùng hàng chục ngày lễ thánh làm ngày nghỉ hay tuân thủ truyền thống cũ xưa Saint Monday, tức là dùng ngày thứ Hai để ngủ nghỉ bù lại cho dư vị ăn chơi của Chủ nhật. Thời giờ chính là tiền bạc khi có quá nhiều thứ cần tiền để mua; tiểu thuyết gia Thomas Hardy than thở: “Đồng hồ một kim quả không thể chia đầy đủ cho ngày nữa.”❖

Như bộ máy đồng hồ

Thật ra đồng hồ có hai kim là nhu cầu tối thiểu mà thời đại mới này đã tạo ra. Người phương Tây muốn biết về các máy gieo hạt cùng cái cày lưỡi tam giác, máy hút chân không với nồi hơi, và đồng hồ không những chỉ có hai kim mà còn lưu giữ được thời gian ngay cả khi được đem đến phía bên kia của thế giới, cho phép thuyền trưởng tính toán được kinh độ. Trên thực tế, trong suốt 2.000 năm, kể từ lần cuối cùng phát triển xã hội phương Tây chạm ngưỡng cứng ở mức 40 điểm trên bảng chỉ số, những tiếng nói khôn ngoan của người xưa đã đưa ra chỉ dẫn cho hầu hết các vấn đề nóng bỏng của đời sống. Nhưng lúc bấy giờ rõ ràng những tác phẩm kinh điển không thể chỉ cho mọi người những điều họ cần phải biết.

Tiêu đề cuốn Novum Organum (Bộ công cụ mới) của Francis Bacon viết năm 1620 đã nói lên tất cả. Organum là tên gọi mà các triết gia đã dùng cho sáu cuốn sách về luận lý học của Aristotle; Bacon đã đưa ra tiêu đề Novum Organum để thay thế chúng. “Danh dự và lòng tôn kính đối với người xưa vẫn còn nguyên vẹn, không hề suy suyển.” Bacon nhấn mạnh; ông cho rằng mục tiêu của ông “đơn thuần là một hướng dẫn nhằm chỉ ra con đường.” Tuy nhiên Bacon lưu ý rằng chúng ta sẽ thấy chỉ có “một lộ trình duy nhất… để khởi đầu toàn bộ công việc phục dựng khoa học, nghệ thuật và mọi kiến thức loài người dựa trên những nền tảng hợp lý.”❖

Nhưng điều gì tạo nên những nền tảng như thế? Theo Bacon (và nhiều người cùng thời với ông) đơn giản là khả năng quan sát. Các triết gia nên rời mắt khỏi sách vở và thay vào đó là quan sát mọi vật xung quanh mình – tinh tú và côn trùng, đại pháo và mái chèo, những quả táo rơi và đèn chùm đung đưa. Và họ nên tiếp xúc với thợ rèn, thợ đồng hồ và thợ máy, là những người biết sự vật hoạt động như thế nào.

Bacon, Galileo, triết gia người Pháp René Descartes, và vô số học giả ít nổi tiếng hơn đều cho rằng khi làm như vậy thì họ khó lòng tránh được kết luận giống nhau: điều đó trái với những gì mà hầu hết người xưa nói ra, thiên nhiên không phải là một vật thể sống, biết hít thở, có mơ ước và mục đích. Nó thực sự thuộc về cơ học. Trên thực tế, nó rất giống một chiếc đồng hồ. Thiên Chúa là người tạo ra đồng hồ, khởi động bộ truyền động bánh răng để làm thiên nhiên vận hành rồi quay trở lại. Và nếu như vậy thì con người có thể giải quyết các hoạt động của thế giới tự nhiên dễ dàng như bất cứ hoạt động nào của các bộ máy khác. Sau hết, Descartes suy ngẫm: “một chiếc đồng hồ, được làm bằng số lượng bánh răng cần thiết để chỉ giờ giấc, không khác gì một thân cây nảy ra từ hạt giống này hoặc khác để tạo ra một loại trái cây đặc trưng.”❖

Mô hình tự nhiên của bộ máy đồng hồ này – cộng thêm một số thực nghiệm và lý giải cực kỳ sắc sảo – đã có được những kết quả khác thường. Những bí mật tiềm ẩn từ thời sơ khai đã được phơi bày một cách bất ngờ và gây sửng sốt. Hóa ra không khí lại là một thứ vật chất chứ không phải rỗng không; quả tim bơm máu đi quanh cơ thể, giống như một ống bể bơm nước; và, điều gây ngỡ ngàng nhất, trái đất không phải trung tâm của vũ trụ.

Tất cả những khám phá này, mâu thuẫn với những điều cũ xưa và cả Kinh Thánh, tạo ra những cơn bão chỉ trích dữ dội. Phần thưởng cho Galileo về việc quan sát bầu trời là bị đưa ra trước Tòa án Dị giáo vào năm 1633 và bị hăm dọa phải rút lại những điều ông ta biết chắc là đúng. Dù vậy, tất cả những gì mà sự trấn áp tạo ra lại giúp đẩy nhanh tiến trình chuyển di của tư duy mới từ vùng lõi Địa Trung Hải cũ sang miền tây bắc, nơi phát triển xã hội nổi lên nhanh nhất, những khuyết điểm của hệ tư duy cổ đại dường như bị xóa sạch và những mối lo về thách thức quyền lực lại yếu nhất.

Người phương Bắc (châu Âu) bắt đầu đưa thời Phục hưng lên đầu, khước từ thời cổ đại thay vì tìm kiếm lời giải đáp từ nó, và trong thập niên 1690, khi phát triển xã hội chỉ kém một chút không đáng kể so với đỉnh cao dưới thời Đế quốc La Mã, thì các quý ngài uyên bác Paris công khai tranh luận việc con người Hiện đại thời bấy giờ có đang vượt mặt con người Cổ đại hay không. Vào thời kỳ đó, câu trả lời đã rõ ràng đối với bất cứ ai để mắt đến. Cuốn Principia Mathematica (Các Nguyên lý Toán học) của Isaac Newton xuất bản vào năm 1687 sử dụng các công cụ mới trong tính toán mà chính Newton đã triển khai để giải thích mô hình cơ học của bầu trời về mặt thuật toán.⦾ Nó cũng khó hiểu (thậm chí đối với những người học rộng) như thuyết tương đối của Einstein khi ông công bố vào năm 1905, nhưng rốt lại mọi người đều đồng ý (như đã đồng ý về thuyết tương đối) rằng nó đã đánh dấu một thời đại mới.

Phép ngoa dụ dường như không tương xứng với các tượng đài tư tưởng đó. Khi kêu gọi vinh danh sự bất tử cho Newton, nhà thơ tiếng tăm của Anh, Alexander Pope, đã thốt lên:

Tạo hóa, và quy luật của Tạo hóa nằm lẩn khuất trong đêm,

Thiên Chúa phán Hãy cứ để Newton như thế! Và tất cả là Ánh sáng.

Trong thực tế, sự chuyển đổi từ đêm sang ngày cũng hơi đột ngột. Cuốn Các Nguyên lý Toán học của Newton xuất hiện chỉ năm năm sau vụ treo cổ phù thủy cuối cùng ở Anh và năm năm trước khi các vụ án phù thủy ở Salem, bang Massachusetts bắt đầu. Bản thân Newton, qua hàng nghìn trang viết riêng tư được bán đấu giá vào năm 1936, là người say mê thuật giả kim chẳng kém gì lực hấp dẫn, thậm chí đến cuối đời còn bị thuyết phục rằng mình có thể biến chì thành vàng. Ông cũng còn là nhà khoa học duy nhất của thế kỷ XVII không cho rằng thời đại của mình là kỳ lạ khác thường. Nhưng dần dần người phương Tây cũng làm cho thế giới tỉnh ngộ, giải trừ thần linh và ma quỷ bằng toán học. Những con số đã trở thành thước đo của thực tế.

Theo Galileo:

Triết học được viết trong cuốn sách vĩ đại này, chính là vũ trụ, hiện vẫn tiếp tục mở ra cho cái nhìn của chúng ta… Nó được viết bằng ngôn ngữ toán học và các ký tự của nó là hình tam giác, hình tròn cùng các ký hiệu hình học khác mà nếu không có chúng thì con người không thể hiểu nổi một từ đơn giản của nó; nếu không có chúng thì con người còn lang thang trong mê cung tăm tối.

Một số nhà khoa học suy luận rằng những gì được cho là đúng với tự nhiên thì cũng có thể đúng với xã hội. Rồi cũng đến một lúc, những viên chức chính quyền – đặc biệt là các nhà tài chính – hoan nghênh tư tưởng này. Nhà nước cũng có thể được xem như một bộ máy; các nhà thống kê có thể tính toán lưu lượng thu nhập và các bộ trưởng có thể hiệu chỉnh các bánh răng phức tạp của bộ máy. Nhưng những phương cách tư duy mới cũng đáng lo ngại. Khoa học tự nhiên đã có bước ngoặt mới bằng cách phơi bày quyền lực cổ đại như là sự chuyên quyền độc đoán, liệu rằng khoa học xã hội có làm như vậy với các vị vua và nhà thờ chăng?

Nếu các nhà khoa học nghĩ đúng và óc quan sát cũng như tính logic thực sự là những công cụ tốt nhất để hiểu ý Chúa, thì hiển nhiên chúng cũng sẽ là công cụ tốt nhất để điều hành chính quyền. Cũng hợp lý khi lý thuyết gia người Anh John Locke lập luận rằng từ khởi thủy Chúa đã ban cho con người những quyền tự nhiên nhất định; “Con người,” ông suy luận, “được tự nhiên ban tặng sức mạnh… để bảo vệ quyền sở hữu của mình – đó là mạng sống, tự do và tài sản – tránh những tổn thương và xâm phạm do người khác gây ra.” Vì vậy, Locke kết luận: “Cùng đích chính yếu và quan trọng nhất… của con người trong việc thống nhất thành những khối cộng đồng mà quyền lực thuộc về nhân dân và tự đặt mình dưới sự quản lý của chính quyền, chính là nhằm đảm bảo quyền sở hữu của mình.” Và nếu đúng thế, đồng thời con người “về bản chất tất cả đều tự do, bình đẳng và độc lập, [thì] không ai có thể tước đoạt quyền sở hữu này hoặc phải bị lệ thuộc một thế lực chính trị của một ai nếu không có sự đồng thuận của chính họ.”❖

Những tư tưởng này đã gây đủ mọi rắc rối khi chúng chỉ giới hạn trong phạm vi giới trí thức tranh luận bằng tiếng Latin ở các trường đại học lâu đời. Nhưng không có giới hạn như vậy. Trước tiên ở Paris, rồi lan rộng ra, nhiều phụ nữ giàu có tài trợ các cuộc hội họp, nơi các học giả cùng nhau trao đổi tư duy lớn và mới mẻ. Những kẻ nghiệp dư thành lập các câu lạc bộ tranh luận, mời diễn giả giải thích các ý tưởng mới và chứng minh các thí nghiệm. Việc in ấn rẻ hơn, công việc phát hành tốt hơn và số người biết chữ gia tăng cho phép ấn hành nhiều tờ báo mới, kết hợp phóng sự với phê bình xã hội và thư độc giả, lan truyền sự sôi nổi đến hàng chục nghìn độc giả. Ba thế kỷ trước Starbucks, các chủ cửa hàng cà phê dám nghĩ dám làm nhận ra rằng nếu họ cung cấp báo miễn phí và chỗ ngồi thoải mái, những khách hàng quen thuộc sẽ ngồi ở đó – đọc, tranh luận và uống cà phê – suốt ngày. Đã có một điều mới mẻ bắt đầu ra đời: công luận.

Những người tạo ra quan điểm thường nói rằng sự khai minh lan truyền khắp châu Âu, chiếu rọi vào những khoảng tối bị che khuất bởi mê tín hàng thế kỷ. Nhưng khai minh là gì? Tư tưởng gia người Đức Immanuel Kant thẳng thừng: “Hãy dám biết! Hãy có can đảm để vận dụng sự hiểu biết của riêng mình!”❖

Thách thức đối với quyền lực đã được thiết lập thì dễ thấy rõ, nhưng thay vì chống lại nó, hầu hết các vua chúa ở thế kỷ XVIII đều thỏa hiệp. Họ cho rằng ngay từ đầu họ đã là những đấng quân chủ được khai sáng, cai trị một cách hợp thức vì lợi ích chung. Vua nước Phổ viết như sau: “Các nhà triết học phải là người thầy của thế giới và cũng là người thầy của các bậc vua chúa, họ phải tư duy một cách hợp lý và chúng ta cũng phải hành động một cách hợp lý.”❖

Tuy nhiên, trong thực tế, các hoàng thân thường thấy logic của những thần dân của mình lại gây phiền toái. Ở Anh⦾ các vị vua phải chấp nhận nó và ở Tây Ban Nha họ có thể buộc nó phải im lặng, nhưng nước Pháp lại có đủ tính tiên phong (avant-garde theo tiếng Pháp) để tụ hội với các nhà phê bình được khai sáng nhưng cũng đủ tính chuyên chế để bắt giam họ và cấm đoán các cuốn sách của họ bất kỳ lúc nào. Nhà sử học Thomas Carlyle cho rằng đó là: “Một chế độ chuyên chế được kiềm chế bởi những bài thơ trào phúng”❖ – khiến cho nó trở thành một khu vườn hoàn hảo nơi sự khai sáng nở rộ.

Trong tất cả các cuốn sách và lời thơ làm cả thành phố Paris phấn khích vào thập niên 1750, chẳng gì sánh được cuốn Encyclopedia or Reasoned Dictionary of the Sciences, the Arts, and the Crafts (Bách khoa Toàn thư hay Từ điển Khoa học, Nghệ thuật và Thủ công) có tính khai sáng tích cực. Một trong những người biên tập bộ từ điển này viết: “Người ta phải khảo sát và khuấy động mọi thứ lên, không có ngoại lệ và cũng không phải thận trọng. Chúng ta phải giẫm dưới chân tất cả sự xuẩn ngốc cũ kỹ đó; lật đổ những rào cản vô cớ, phục hồi quyền tự do quý báu cho khoa học và nghệ thuật.”❖ Những kẻ nổi loạn đội tóc giả lần lượt nhấn mạnh rằng chế độ nô lệ, chủ nghĩa thực dân và vị trí thấp kém của phụ nữ và người Do Thái đi ngược với tự nhiên và lẽ phải, rồi từ nơi lưu đày ở Thụy Sĩ vào thập niên 1760, Voltaire, bậc thầy về sự dí dỏm, thách thức cả thứ mà ông gọi là điều ô nhục – những đặc quyền đặc lợi của nhà thờ và vương vị.

Voltaire biết chính xác nơi người châu Âu nên tìm kiếm những mô hình khai sáng: Trung Hoa. Ông cho rằng ở đất nước này người ta sẽ thấy một bạo chúa thực sự khôn ngoan, cai trị với sự tham vấn ý kiến của những bề tôi sáng suốt, tránh được những cuộc chiến vô nghĩa và ngược đãi tôn giáo. Họ cũng thấy Khổng giáo (không giống như Ki-tô giáo) là một đức tin của lý trí, tránh được mê tín và các truyền thuyết ngu xuẩn.

Quan điểm của Voltaire không hoàn toàn sai vì những sĩ phu Trung Hoa đã thách thức chế độ chuyên chế cả một thế kỷ trước khi ông ra đời. Nghề in ấn tạo ra một lượng độc giả tiếp cận những tư tưởng mới thậm chí còn nhiều hơn cả Tây Âu, đồng thời các nhóm học giả cấp tiến cũng hồi sinh. Nhóm nổi tiếng nhất trong số đó, Đông Lâm thư viện (còn gọi là Đông Lâm đảng), đương đầu trực tiếp với những điều ô nhục còn hơn cả Voltaire. Vào thập niên 1630, người điều hành Đông Lâm thư viện thúc đẩy tự lực tự cường, khuyến khích các học giả tìm kiếm những đáp án thông qua óc suy luận của mình chứ không đắm chìm trong các văn bản cổ xưa,⦾ và lần lượt từng học giả trong Đông Lâm đảng bị bỏ tù, tra tấn, hoặc bị hành hình vì tội phê phán triều đình nhà Minh.

Những phê phán của các nhà trí thức càng gia tăng khi triều đại nhà Thanh nắm quyền vào năm 1644. Hàng trăm học giả từ chối làm việc cho người Mãn Châu. Một trong số đó là Cố Viêm Vũ, một vị quan nhỏ chưa bao giờ vượt qua kỳ thi cao nhất. Ông đến những vùng biên giới xa xôi, lánh xa sự suy đồi của các bạo chúa. Ở đó, ông quay lưng với tư tưởng chuyên bới lông tìm vết mang tính siêu hình đã thống lĩnh đời sống trí thức từ thế kỷ XII, và cũng như Francis Bacon nước Anh, để thay thế ông cố gắng tìm hiểu thế giới bằng cách quan sát mọi sự việc mà những con người chân chính tạo ra.

Trong gần 40 năm, Cố Viêm Vũ đi khắp nơi, ghi chép với các mô tả chi tiết về nông nghiệp, khai thác mỏ và ngân hàng. Ông trở nên nổi tiếng và những người khác sao chép lại ý tưởng của ông, đặc biệt là các thầy thuốc, vốn hoảng hốt bởi sự bất lực của mình khi đối mặt với dịch bệnh trong thập niên 1640. Bằng cách thu thập tiền sử bệnh tật của người bệnh, họ tập trung kiểm định các lý thuyết ngược lại với kết quả thực tế. Vào những năm 1690, ngay cả hoàng đế cũng tuyên bố những lợi ích của việc “nghiên cứu gốc rễ của một vấn đề, thảo luận với những người bình thường, và sau đó giải quyết nó.”❖

Các nho sĩ thế kỷ XVIII gọi phương pháp tiếp cận này là kaozheng (khảo chứng, hay nghiên cứu bằng chứng). Nó tập trung vào các sự kiện dựa trên suy đoán, đưa ra những cách tiếp cận nghiêm túc và có phương pháp đối với các lĩnh vực đa dạng như toán học, thiên văn học, địa lý, ngôn ngữ học và lịch sử đồng thời phát triển một cách kiên định các quy tắc để đánh giá bằng chứng. Khảo chứng đã đồng hành với cuộc cách mạng khoa học của Tây Âu về mọi mặt, ngoại trừ một mặt: nó không phát triển một mô hình cơ học của tự nhiên.

Giống như người phương Tây, các học giả phương Đông thường thất vọng với kiến thức mà họ được thừa hưởng từ lần cuối cùng phát triển xã hội tiếp cận ngưỡng cứng khoảng 43 điểm trên bảng chỉ số (dưới triều đại nhà Tống vào thế kỷ XI và XII). Nhưng thay vì khước từ tiền đề cơ bản về một vũ trụ được thúc đẩy bởi tinh thần (khí) và thay vào đó hình dung vũ trụ vận hành như một bộ máy, người phương Đông hầu như chỉ soi rọi lại những tư liệu cũ xưa còn được ngưỡng mộ – sách vở ở triều đại nhà Hán. Ngay Cố Viêm Vũ cũng thích thú với các bản khắc cổ chẳng khác gì khai thác mỏ hoặc nông nghiệp, và nhiều thầy thuốc thu thập bệnh án vẫn sôi nổi sử dụng chúng để làm rõ những sách y học thời Hán trong việc điều trị bệnh. Thay vì chuyển thời kỳ Phục hưng lên đầu, các nhà trí thức Trung Hoa đã chọn thời kỳ Phục hưng Thứ hai. Tuy có nhiều người là học giả lỗi lạc nhưng vì sự lựa chọn này mà chẳng một ai có thể trở thành Galileo hay Newton được.

Đây chính là điều mà Voltaire sai lầm. Ông ta dựng lên Trung Hoa như một mô hình ở ngay thời điểm nó đang dừng lại – thực tế là bấy giờ một số đối thủ tranh luận của ông tại các phòng khách thượng lưu ở châu Âu đã rút ra những kết luận hoàn toàn ngược về Trung Hoa. Mặc dù không có chỉ số nào báo cho những người này biết phát triển xã hội phương Tây đã giành lấy vị trí đứng đầu của phương Đông, nhưng họ vẫn cho rằng Trung Hoa chẳng phải là đế chế khai sáng lý tưởng gì. Đúng hơn, nó là sự tương phản của tất cả mọi thứ ở châu Âu. Trong khi người châu Âu đã học được tính năng động, lẽ phải và sự sáng tạo từ Hy Lạp cổ đại và giờ đây đang vượt qua người thầy của họ thì Trung Hoa vẫn là một đất nước bất động.

Như vậy lý thuyết chốt khóa dài hạn về tính ưu việt của phương Tây đã được khai sinh. Montesquieu dứt khoát cho rằng khí hậu là lời giải thích cuối cùng: thời tiết thuận lợi đã giúp người châu Âu (đặc biệt là người Pháp) có được “một sự cường tráng nhất định về thể xác lẫn tâm hồn, khiến họ kiên nhẫn và gan dạ đồng thời giúp họ đủ khả năng làm những công việc khó khăn, trong khi đó, tính nhu nhược của người ở vùng khí hậu nóng đã luôn khiến họ trở thành nô lệ…, một tinh thần nô lệ ngự trị ở châu Á mà người ta không bao giờ rũ bỏ được.”❖

Những người châu Âu khác còn đi xa hơn. Họ cho rằng người Trung Hoa không chỉ hèn hạ mà còn là một chủng người khác. Carolus Linnaeus, cha đẻ của di truyền học, tuyên bố đã tìm ra bốn chủng người – người châu Âu da trắng, người châu Á da vàng, người châu Mỹ da đỏ và người châu Phi da đen; và vào thập niên 1770, triết gia David Hume khẳng định rằng chỉ có chủng tộc da trắng mới đủ khả năng có được nền văn minh thực sự. Kant thậm chí tự hỏi liệu người da vàng có đúng là một chủng tộc không. Có lẽ ông ta nghĩ rằng họ chỉ là hậu duệ lai tạp giữa người Ấn Độ và người Mông Cổ.

Rõ ràng, dám hiểu biết chỉ dành cho người châu Âu.

Thử nghiệm bằng kính thiên văn

Vào năm 1937, ba nhà khoa học trẻ tập sự đáp tàu từ Nam Kinh, thủ đô của Trung Hoa sang nước Anh. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào vốn đã không dễ đánh đổi thành phố quê hương nhộn nhịp, hỗn độn của họ (được gọi là một trong bốn lò nung của Trung Hoa về độ ẩm) để chọn lấy các tu viện im lìm, những cơn mưa phùn không ngớt và những cơn gió cắt da ở Cambridge; nhưng những điều kiện mùa hè năm đó thì đặc biệt khắc nghiệt. Ba người này không biết liệu họ có bao giờ gặp lại gia đình và bạn bè của họ lần nữa không. Một đội quân Nhật Bản đang tiến gần đến Nam Kinh. Vào tháng 12, đội quân này tàn sát hàng nghìn đồng bào của họ một cách tàn nhẫn đến nỗi thậm chí một sĩ quan Quốc xã có mặt trong thảm họa này cũng bị sốc.

Ba người tị nạn này cũng không lường được sự chào đón khi họ đến Anh. Ngày nay các phòng thí nghiệm khoa học của Đại học Cambridge đã có nhiều sinh viên Trung Hoa, nhưng năm 1937, gia sản của Hume và Kant vẫn còn bền vững. Cả ba người mới đến gây lắm xôn xao, và Joseph Needham, một ngôi sao đang lên tại Viện Hóa sinh, đã khuấy động hơn ai cả. Một trong các sinh viên, Lỗ Quế Trân (Lu Gwei-djen), viết rằng “càng hiểu nhiều hơn về chúng tôi, ông ta càng thấy chúng tôi cũng giống ông trong việc nắm bắt khoa học và sự thấu suốt trí tuệ; và điều này khiến đầu óc hiếu kỳ của ông tự hỏi lý do tại sao khoa học hiện đại chỉ bắt nguồn ở thế giới phương Tây?”❖

Needham không được đào tạo về ngôn ngữ hoặc lịch sử nhưng ông có đầu óc sắc sảo, giỏi biện luận nhất trong một trường đại học nổi tiếng cả hai ngành này. Lỗ Quế Trân trở thành người yêu của ông, giúp ông tinh thông ngôn ngữ và quá khứ của đất nước Trung Hoa; Needham cực kỳ yêu quê hương của bà Lỗ đến nỗi vào năm 1942, ông từ bỏ sự an toàn ở trường mình để nhận một chức vụ ở bộ Ngoại giao đến Trùng Khánh để giúp các trường đại học Trung Hoa tồn tại trong cuộc chiến thảm khốc với Nhật Bản. BBC viết thư yêu cầu ông ghi lại những cảm tưởng của mình nhưng Needham còn làm nhiều hơn thế. Trong mép lá thư của họ, ông ghi sơ lược một câu hỏi đã làm đổi thay cuộc đời ông: “Khoa học Trung Hoa nói chung – tại sao không phát triển?”❖

Câu hỏi này – tại sao sau nhiều thế kỷ vượt trội về khoa học của Trung Hoa, nhưng chính những người Tây Âu lại tạo ra nền khoa học hiện đại vào thế kỷ XVII – giờ đây thường được gọi là Vấn nạn của Needham.❖ Khi tôi hân hạnh được quen biết Needham 40 năm sau đó, ông vẫn còn trăn trở với điều này (lúc đó vợ tôi đang theo đuổi môn nhân học ở Đại học Cambridge nơi Lỗ Quế Trân – lúc đó vẫn còn là người yêu của Needham – nắm giữ một chương trình học bổng ngắn hạn, và chúng tôi thuê tầng trên ngôi nhà của Tiến sĩ Lỗ). Thật sự ông chưa giải quyết được vấn đề của mình, nhưng phần lớn nhờ vào những thập niên ông liệt kê các thành tựu khoa học của Trung Hoa nên giờ đây chúng ta đứng ở vị trí tốt hơn rất nhiều để hiểu rõ những gì xảy ra hơn là ở thời điểm những năm 1930.

Như chúng ta đã thấy trong Chương 7, Trung Hoa đã có những tiến bộ khoa học và kỹ thuật đặc biệt nhanh chóng khi phát triển xã hội của nó chạm ngưỡng vào thế kỷ XI, nhưng những tiến bộ này bị chệch hướng khi sự phát triển sụp đổ. Câu hỏi thực sự là tại sao khi sự phát triển chạm ngưỡng cứng vào thế kỷ XVII và XVIII, những nhà trí thức Trung Hoa lại không, như những người châu Âu, tạo ra các mô hình cơ học của tự nhiên để vén màn bí mật của nó.

Lại một lần nữa, câu trả lời là những trí thức đặt ra những câu hỏi mà phát triển xã hội thúc bách họ: mỗi thời đại đều có tư tưởng mà nó cần đến. Người Tây Âu, với biên giới mới ngang qua các đại dương, cần có các phép đo chính xác về không gian, tiền bạc và thời gian được chuẩn hóa, và vào thời điểm những chiếc đồng hồ có hai kim đã trở thành tiêu chuẩn thì người châu Âu hẳn phải chậm hiểu lắm mới không tự hỏi bản thân tự nhiên có phải là một cơ cấu hay không. Tương tự như thế, những giai cấp cai trị của phương Tây ắt hẳn còn chậm hiểu hơn nữa mới không nhìn thấy đủ các ưu điểm trong tư duy khoa học để có cơ hội đoạn tuyệt các nhà tư tưởng lập dị, khó lường. Giống như làn sóng thứ nhất và thứ hai của tư tưởng Trục và thời kỳ Phục hưng, cuộc cách mạng khoa học và thời kỳ Khai sáng lúc ban đầu là hậu quả, chứ không phải nguyên nhân, của việc phát triển xã hội phương Tây trỗi dậy.

Dĩ nhiên phương Đông cũng có biên giới mới của riêng mình trên vùng thảo nguyên nhưng đây là một loại biên giới mang tính truyền thống hơn so với Đại Tây Dương và nhu cầu tạo ra tư tưởng mới do đó ít thúc bách hơn. Các nhà triết học tự nhiên và xã hội cũng đặt ra một số câu hỏi tương tự như người Tây Âu, nhưng sự cần thiết phải tái tạo tư duy trong giới hạn các mô hình cơ học của vũ trụ vẫn chưa rõ ràng và đối với các vị vua nhà Thanh, những người rất cần lôi kéo các nhà trí thức Trung Hoa theo về phía họ thì những nguy hiểm của sự nuông chiều tư tưởng cấp tiến lại có tầm quan trọng lớn lao hơn bất kỳ những thuận lợi nào có thể đem lại.

Triều đình nhà Thanh làm mọi thứ trong khả năng của mình để thu hút các học giả trở lại phục vụ triều đình từ các học viện tư nhân và từ các cuộc kinh lý tìm hiểu thực tế ở vùng biên giới; tổ chức các kỳ thi đặc biệt, trả lương rộng rãi, và làm thỏa mãn tính hư danh hết mức. Vị hoàng đế trẻ Khang Hy đã cố gắng thể hiện bản thân mình như người theo Nho giáo, triệu tập một nhóm học giả đặc biệt để cùng ông nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, đồng thời, năm 1670 ban ra một Thánh chỉ để thể hiện sự nghiêm túc của mình. Ông còn tài trợ cho các bộ bách khoa toàn thư (bộ Cổ kim đồ thư tập thành được ấn hành ngay sau khi ông qua đời, dày đến 800.000 trang)⦾, nhưng thay vì khuấy động mọi thứ, như bộ bách khoa toàn thư Pháp cùng thời, những cuốn sách này không nhằm kích động gì cả mà chỉ gìn giữ trung thực văn bản cổ và cung cấp chức vụ ngồi không ăn lương cho các học giả trung thành.

Chiến lược này là một thành công tuyệt vời, và khi giới trí thức đắm chìm trong chốn quan trường, họ đã biến bản thân khảo chứng thành con đường tiến thân. Các ứng viên được sát hạch phải trình bày những nghiên cứu có chứng cứ, nhưng chỉ những học giả được quyền tiếp cận các thư viện tốt mới có thể nắm vững được nó, điều này thực sự ngăn trở mọi người, trừ các tài năng hiếm hoi, đạt được điểm cao. Sự cám dỗ của địa vị có thu nhập khi làm quan là một động lực mạnh mẽ cho mọi tư duy thông thường.

Tôi sẽ lưu lại đến Chương 10 một câu hỏi quan trọng nhất – có phải, nếu có nhiều thời gian hơn, những nhà trí thức Trung Hoa sẽ có cuộc cách mạng khoa học riêng của họ hay không. Nhưng đã xảy ra mọi việc như thế, người phương Tây không cho họ thời gian. Các nhà truyền giáo Dòng Tên đã thâm nhập vào Trung Hoa từ Ma Cao từ những năm 1570, và mặc dù họ đến để cứu rỗi linh hồn, chứ không phải để bán khoa học, họ cũng biết rằng những món quà tốt sẽ giúp những người khách được đón chào hơn. Đồng hồ phương Tây là một món hàng được nhiều người ưa thích, kính mắt cũng vậy. Một trong những nhà thơ vĩ đại nhất Trung Hoa, có tầm nhìn lâu dài, đã mô tả với niềm vui khi:

Thủy tinh trong từ bên kia biển phía Tây

nhập khẩu qua Ma Cao.

Được tạo hình thành các thấu kính lớn như đồng xu,

Chúng chứa đựng tầm nhìn của một người trong một khung kép.

Tôi đeo chúng vào – mọi thứ bỗng nhiên trở nên rõ ràng.

Tôi có thể nhìn thấy những chóp rất nhỏ của mọi thứ!

Và đọc những dòng chữ in tuyệt mỹ bên cửa sổ mờ tối

Như thời con trai trẻ.

Nhưng món quà lớn nhất mà các tu sĩ Dòng Tên đem đến là thiên văn học. Các nhà truyền giáo biết rằng lịch là một vấn đề trọng yếu ở Trung Hoa; tổ chức lễ đông chí sai ngày có thể làm trật tự đảo lộn một cách tồi tệ như tổ chức sai lễ Phục Sinh trong Ki-tô Giáo. Vì vậy các quan chức Trung Hoa nghiêm túc thực hiện việc này, thậm chí họ tuyển dụng người nước ngoài vào Khâm Thiên Giám nếu những người này – chủ yếu là người Ả Rập và người Ba Tư – hiểu biết nhiều về các vì sao hơn người bản địa.

Các tu sĩ Dòng Tên nhạy bén xem đây là con đường tốt nhất để đến với các nhà cai trị Trung Hoa. Những nhà toán học thuộc dòng Tên từng tham gia việc cải cách lịch Công giáo trong thập niên 1580, và mặc dù ngành thiên văn học của họ đã lạc hậu theo tiêu chuẩn Tây Bắc Âu (họ kiên quyết bám vào mô hình lấy trái đất làm trung tâm vũ trụ) nhưng dù sao nó còn tốt hơn với những gì có sẵn ở Trung Hoa.

Lúc đầu mọi việc đều thuận buồm xuôi gió. Đến năm 1610 một số quan chức đầu triều, do ấn tượng với môn toán học của các tu sĩ Dòng Tên, đã bí mật chuyển đổi sang Ki-tô giáo. Họ công khai quảng bá học thuật của phương Tây, cho rằng nó vượt trội so với Trung Hoa, đồng thời cho dịch những sách giáo khoa của châu Âu. Nhiều học giả truyền thống đôi khi phản ứng với thái độ không yêu nước này, do đó trong thập niên 1630, nhân vật chính ủng hộ các giáo sĩ dòng Tên áp dụng phương cách tinh tế hơn. Ông đảm bảo với đồng bào của mình: “Nấu chảy vật chất và chất liệu của kiến thức phương Tây, chúng ta sẽ đúc chúng thành khuôn mẫu hệ thống Hòa hợp vĩ đại [của truyền thống Trung Hoa].”❖ Có lẽ ông còn nói rằng kiến thức phương Tây thật ra chỉ là sản phẩm phụ xuất phát từ sự thông thái của Trung Hoa trước đây.

Khi người Mãn Châu chiếm Bắc Kinh vào năm 1644, các tu sĩ Dòng Tên đề xuất – và đã thắng – một cuộc thi công khai về dự báo nhật thực. Danh tiếng của họ chưa bao giờ lên cao đến thế và trong một vài tháng bốc đồng vào năm 1656, thậm chí hoàng đế có vẻ như muốn chuyển đổi sang Ki-tô giáo. Chiến thắng dường như trong tầm tay cho đến khi vị vua thành niên này hiểu rằng người Ki-tô giáo không thể có thê thiếp được, nên ông đã chuyển sang đạo Phật. Những người theo chủ nghĩa truyền thống sau đó đã phản công lại, tố cáo lãnh đạo Dòng Tên là một gián điệp.

Năm 1664, một cuộc thử nghiệm khác bằng kính thiên văn được ban bố với sự tham gia của các tu sĩ Dòng Tên, Khâm Thiên Giám và một nhà thiên văn Islam giáo, mỗi bên dự đoán thời gian của nhật thực sắp xảy ra. Khâm Thiên Giám cho là 2 giờ 15 phút; nhà thiên văn Islam giáo thì chọn 2 giờ 30 phút; các linh mục Dòng Tên, 3 giờ. Ống kính được đặt trong một căn phòng tối để chiếu hình ảnh của mặt trời. Đến 2 giờ 15 phút chưa có nhật thực. Lúc 2 giờ 30 phút vẫn không thấy gì. Nhưng hầu như chính xác lúc 3 giờ, một bóng đen bắt đầu phủ dần chiếc đĩa lửa.

Nhưng các trọng tài phán xét rằng điều đó vẫn chưa đủ tài giỏi, và cấm đoán Ki-tô giáo.

Mọi việc dường như chỉ có thế – chỉ trừ sự kiện vụn vặt là lịch Trung Hoa vẫn còn sai. Vì vậy, ngay khi lên ngôi vào năm 1668, Hoàng đế Khang Hy lại tổ chức tái đấu. Một lần nữa những tu sĩ Dòng Tên lại thắng.

Tin tưởng vào sự ưu việt của các tu sĩ Dòng Tên, Khang Hy lao mình vào học tập, ngồi hàng giờ với các tu sĩ, học các môn số học, hình học và cơ học của họ. Thậm chí ông còn học chơi đàn clavico (tiền thân của đàn piano). Vị hoàng đế viết như sau: “Ta nhận thấy rằng toán học phương Tây có những lợi ích của nó, ở các chuyến tuần du sau này, ta sẽ sử dụng các phương pháp của phương Tây để chỉ cho các quan lại biết cách tính toán chính xác hơn khi lập kế hoạch cho các công trình đường sông của họ.”❖

Khang Hy nhận ra rằng “những phương pháp mới trong tính toán giúp không để xảy ra những lỗi cơ bản” và rằng “các nguyên tắc chung của khoa học lịch biểu phương Tây không có sai sót,” nhưng ông vẫn chống lại những tuyên bố rộng rãi về khoa học và Thiên Chúa của họ. Khang Hy kết luận: “Mặc dù một số phương pháp của phương Tây khác với của chúng ta, thậm chí có thể chỉ là một cải tiến, nhưng có rất ít điều mới mẻ. Những nguyên lý toán học đều bắt nguồn từ Kinh Dịch và phương pháp phương Tây rốt cùng cũng có nguồn gốc từ Trung Hoa,” ông nói thêm: “họ biết chỉ một phần nhỏ những gì ta đã biết.”

Năm 1704, Giáo hoàng lo ngại các tu sĩ Dòng Tên sẽ thúc đẩy mạnh mẽ ngành thiên văn học ở đây hơn Ki-tô giáo nên đã phải một đặc sứ đến Bắc Kinh để mắt đến họ, đồng thời Khang Hy cũng lo rằng điều này sẽ gây nên sự dấy loạn nên đã loại bỏ các nhà truyền giáo. Ông thành lập các học viện khoa học mới (mô phỏng Viện Hàn lâm Khoa học ở Paris), nơi các nhà khoa học Trung Hoa có thể theo đuổi các ngành thiên văn học và toán học mà không chịu ảnh hưởng của Dòng Tên. Toán học mà các tu sĩ Dòng Tên đang giảng dạy, với một ít đại số học và ít phép tính hơn, còn đứng sau toán học của vùng Bắc Âu hàng thập niên, nhưng ngay khi vua Khang Hy cắt đứt mối liên kết với khoa học phương Tây thì khoảng cách học thuật Đông-Tây đã mở rộng thành một vực thẳm.

Quả là hấp dẫn để hình dung Khang Hy (Hình 9.7) là giải pháp cho nan đề của Needham, một kẻ ngốc vụng về có thể đã đưa khoa học Trung Hoa tiến vào thế kỷ XVIII nhưng lại không chọn. Tuy nhiên, trong số tất cả những nam nhân (và một nữ nhân) ngồi trên Ngai Rồng, Khang Hy chắc chắn nằm trong số người ít xứng đáng với vị trí đó. Nói rằng các linh mục Dòng Tên chỉ biết một phần nhỏ những hiểu biết của ông ta thì khiếm nhã, nhưng không phải là sai hoàn toàn. Khang Hy là một nhà trí thức chân chính, một lãnh đạo mạnh mẽ và cũng là con người hành động (bao gồm việc làm cha của 56 đứa con). Ông nhìn người phương Tây trong bối cảnh rộng lớn hơn. Trong 2.000 năm, các hoàng đế Trung Hoa nhận ra rằng trong chiến tranh, dân du mục giỏi hơn mình và thấy rằng việc mua chuộc kỵ binh du mục thì ít nguy hiểm hơn là phải chiến đấu với họ. Khi điều đó thay đổi thì Khang Hy là người đầu tiên nhận ra và đích thân chỉ huy các chiến dịch khép chặt Tuyến đường Thảo nguyên trong thập niên 1690. Với người phương Tây, mọi thứ lại theo hướng khác. Khang Hy tiếp xúc với người phương Tây từ thập niên 1660, nhưng sau 1704 việc bỏ lơ họ xem ra ít rủi ro hơn. Một số nhà cai trị ở Đông Nam Á cũng có kết luận tương tự vào thế kỷ XVI, và các Mạc phủ Nhật Bản cũng đi theo chính sách này vào năm 1613. Một cuộc nổi loạn dữ dội nhuốm màu Ki-tô giáo ở Nhật Bản vào năm 1637 dường như chỉ để khẳng định sự khôn ngoan của quyết định cắt đứt những mối dây liên kết với phương Tây. Trong bối cảnh này, quyết định của Khang Hy dường như không vụng về chút nào.

Và trong bất kỳ trường hợp nào, còn có một câu hỏi khác mà chúng ta phải đặt ra. Ngay cả khi Khang Hy tiên liệu được khoa học phương Tây tiến đến mức nào để thúc đẩy nền khoa học của đất nước mình, thì liệu ông có giúp phát triển xã hội phương Đông vượt lên trước phương Tây ở thế kỷ XVIII hay không?

Hình 9.7. Chân dung Hoàng đế Khang Hy do họa sĩ người Italy Giovanni Gherardi vẽ khoảng năm 1700.

Câu trả lời hầu như là không. Trung Hoa cũng phải đối mặt với một số vấn đề như vùng Tây Bắc Âu, và một số nhà tư tưởng của họ cũng đi theo những hướng tương tự. Chẳng hạn vào thập niên 1750, Đái Chấn [Dai Zhen] (cũng như Cố Viêm Vũ [Gu Yanwu], một viên quan nhỏ chưa bao giờ đỗ đạt cao) đề xuất một ý tưởng giống như tầm nhìn của phương Tây về bản chất cơ học vận hành không mục đích hay mục tiêu và hướng đến các phân tích thực nghiệm. Nhưng với Chấn, một nhà ngôn ngữ học xuất sắc, vẫn luôn đặt nền tảng lập luận của mình dựa trên các văn bản cổ đại; suy cho cùng ở Trung Hoa việc gìn giữ vinh quang của quá khứ dường như còn quan trọng hơn giải quyết loại câu hỏi mà sự mở rộng toàn cầu đã buộc người phương Tây phải quan tâm.

Những thách thức của vùng biên giới Đại Tây Dương đã sản sinh những con người phương Tây háo hức tìm kiếm lời giải cho những vấn đề mới. Những người như Newton và Leibniz đạt được cả danh lẫn lợi vượt xa những gì các nhà khoa học trước đó có thể tưởng tượng được, và các nhà lý luận mới, những người như Locke và Voltaire giúp xác định ý nghĩa của những tiến bộ này đối với trật tự xã hội. Trái lại, biên giới mới trên vùng thảo nguyên của Trung Hoa lại tạo ra ít thách thức hơn nhiều. Các học giả được trả lương cao ở các viện khoa học của Khang Hy cảm thấy không cần thiết phải phát minh các phép tính hay phát hiện trái đất xoay quanh mặt trời. Dường như việc biến toán học – cũng như y học – thành một ngành nghiên cứu cổ điển lại có lợi hơn nhiều.

Đông và Tây mỗi bên đều có kiểu tư duy họ cần.

Quy luật bất biến

Khi Khang Hy băng hà vào năm 1722 thì phát triển xã hội đang dần tăng cao hơn bao giờ hết. Đã hai lần trong quá khứ, vào thời Đế quốc La Mã khoảng năm 100 và vào triều đại nhà Tống ở Trung Hoa 1.000 năm sau đó, sự phát triển đã đạt đến 43 điểm, chỉ có tai họa mới đẩy nó xuống trở lại. Và rồi đến năm 1722, tuyến đường qua thảo nguyên bị đóng lại. Một trong những kỵ sĩ Khải huyền mất đi và phát triển xã hội không còn bị sụp đổ khi chạm đến ngưỡng cứng. Thay vào đó, biên giới mới dọc rìa thảo nguyên cho phép sự phát triển ở phương Đông tiếp tục tăng trưởng, trong khi đó những người vùng tây bắc châu Âu, tránh được nạn di dân từ vùng thảo nguyên nhờ các Đế chế Trung Hoa và Nga, đã mở ra một biên giới mới của họ trên Đại Tây Dương. Sự phát triển của phương Tây thậm chí còn nhanh hơn cả phương Đông, và vượt phương Đông vào năm 1773 (hay ở các vùng lân cận). Đó là một thời kỳ mới ở cả hai đầu lục địa Á-Âu.

Hay có đúng thế không? Nếu một người ở thời Đế quốc La Mã hay ở Trung Hoa đời Tống chuyển đến London hoặc Bắc Kinh vào thế kỷ XVIII, người đó chắc chắn sẽ có lắm điều ngạc nhiên. Chẳng hạn như súng ống. Hay châu Mỹ. Hay thuốc lá, cà phê và chocolate. Và về mặt thời trang – bộ tóc giả bôi phấn? Tóc đuôi sam của người Mãn Châu? Đồ lót phụ nữ? Chân bó? O tempora, O mores[]{.ref}⦾ (“Ôi thời đại! Ôi phong tục!”), như Cicero hay nói.

Chưa hết, trên thực tế còn nhiều điều hơn thế dường như đã quen thuộc. Những đội quân thuốc súng hùng hậu của thế giới hiện đại chắc chắn hùng mạnh hơn các quân đội thời cổ đại và có nhiều người biết chữ hơn bao giờ hết, nhưng cả phương Đông lẫn phương Tây đều không thể khoe khoang một thành phố hùng mạnh có đến một triệu dân như thành La Mã cổ đại hay thành phố Khai Phong thời Trung cổ.⦾ Tuy nhiên, điều quan trọng hơn hết là những du khách từ quá khứ có thể nhận thấy rằng mặc dù phát triển xã hội đang tiến lên cao hơn bao giờ hết, nhưng các phương cách để thúc đẩy nó hầu như không khác gì cách mà người La Mã và người Trung Hoa đời Tống đã làm. Nông dân cũng chỉ sử dụng phân bón nhiều hơn, đào thêm kênh mương, luân canh cây trồng, khai phá đất hoang. Thợ thủ công đốt thêm gỗ để đúc nhiều kim loại hơn, và khi gỗ trở nên khan hiếm thì chuyển sang dùng than đá. Ngày càng có nhiều vật nuôi lớn hơn để quay bánh xe, nhấc vật nặng, và kéo những chiếc xe tốt hơn đi trên những con đường êm ái hơn. Gió và nước được khai thác hiệu quả hơn để nghiền quặng, xay hạt và dong thuyền xuống những con sông và kênh đào thẳng tắp. Tuy vậy, trong khi du khách đời Tống và La Mã có lẽ phải thừa nhận rằng nhiều thứ ở thế kỷ XVIII lớn hơn và tốt hơn ở thế kỷ XI hay thế kỷ I, họ sẽ không thừa nhận rằng mọi thứ có khác nhau về cơ bản.

Có một sự cản trở. Việc chinh phục các thảo nguyên và đại dương vẫn không phá vỡ được ngưỡng cứng khoảng 43 điểm mà người La Mã và Trung Hoa đời Tống đã chạm đến: họ chỉ đẩy nó lên một chút, và vào năm 1750 có những dấu hiệu đáng báo động cho thấy sự phát triển lại một lần nữa kéo căng nó. Bên phải của Hình 9.3, biểu thị mức lương thực tế, không phải là một bức tranh đẹp đẽ. Đến năm 1750, mức sống giảm sút ở khắp mọi nơi, ngay cả ở vùng tây bắc năng động của châu Âu. Khi các vùng lõi phương Đông và phương Tây cố sức đẩy ngưỡng cứng lên, thời kỳ này đã trở nên khó khăn hơn.

Thế thì sẽ phải làm gì đây? Giới quan lại ở Bắc Kinh, những vị khách thường đến các phòng khách thượng lưu ở Paris, và mọi trí thức tự trọng ở giữa đều tung ra đủ thứ lý thuyết. Một số người cho rằng mọi sự thịnh vượng đều xuất phát từ nông nghiệp và thuyết phục các nhà cai trị miễn thuế cho nông dân để họ tháo nước đầm lầy hay khai phá sườn đồi để làm ruộng bậc thang. Từ Vân Nam đến vùng sông Tennessee, những căn lều và nhà gỗ đã lan tận rừng sâu, nơi các cộng đồng kém phát triển sống bằng nghề săn bắt. Những lý thuyết gia khác lại khẳng định rằng mọi sự giàu có đều xuất phát từ thương nghiệp, vì vậy các nhà cai trị (thường là những nhà lý luận) đổ nhiều nguồn lực hơn để làm tổn hại nước láng giềng bằng cách tước đoạt việc kinh doanh của họ.

Đã có sự biến đổi rất lớn, nhưng nói chung các nhà cai trị phương Tây (những người luôn chiến đấu dữ dội kể từ thế kỷ XV) nghĩ rằng chiến tranh sẽ giải quyết được các vấn đề của họ, trong khi những nhà cái trị phương Đông (thường ít hung hăng hơn) nghĩ ngược lại. Nhật Bản là một trường hợp cực đoan. Sau khi rút khỏi Triều Tiên vào năm 1598, các nhà cai trị ở nước này cho rằng việc chinh phục không đem lại lợi ích gì, và vào thập niên 1630 thậm chí còn cho rằng nền ngoại thương chỉ làm họ mất đi những hàng hóa có giá trị như bạc và đồng. Các thương nhân Trung Hoa và Hà Lan (người châu Âu duy nhất được phép vào Nhật Bản hồi năm 1640) bị quây lại trong các khu ổ chuột nhỏ ở Nagasaki, nơi những phụ nữ duy nhất được phép giao kết với họ là gái mại dâm người Nhật Bản. Rõ ràng nên ngoại thương đã suy giảm.

Được đại dương bao la bảo vệ khỏi sự xâm lăng, Nhật Bản phát triển thịnh vượng cho đến khoảng năm 1720. Dân số Nhật Bản tăng gấp đôi và có lẽ Edo đã trở thành thành phố lớn nhất thế giới. Gạo, cá và đậu nành thay thế các loại thực phẩm rẻ hơn trong khẩu phần ăn của hầu hết mọi người. Và hòa bình ngự trị: việc giao nộp súng ống của mình cho Mạc phủ Hideyoshi vào năm 1587 khiến người dân Nhật Bản bình thường không còn tái trang bị vũ khí nữa. Ngay cả những chiến binh samurai nhạy cảm cũng đồng ý giải quyết các tranh chấp của họ bằng cách đấu kiếm, điều này gây ngạc nhiên cho những người phương Tây ức hiếp Nhật Bản ở thập niên 1850. Một người phương Tây nhớ lại: “Những người này hầu như không biết sử dụng súng cầm tay, điều này gây ấn tượng cho một người Mỹ, vốn từ thời thơ ấu đã nhìn thấy trẻ con bắn súng, rằng sự thiếu hiểu biết về vũ khí là một biểu hiện bất thường của con người ngây thơ thời hồng hoang và tính chất phác của người xứ Arcadia.”❖

Tuy nhiên, sau năm 1720, bức tranh trở nên tăm tối. Nhật Bản chật cứng người. Nếu không có một bước đột phá về công nghệ thì chẳng có cách nào kiếm thêm thực phẩm, nhiên liệu, quần áo và nhà cửa từ khung cảnh đông đúc này, và nếu không có thương mại thì cũng vô phương xoay xở. Nông dân Nhật Bản đã cho thấy sự khéo léo đáng kinh ngạc đồng thời các quan chức Nhật Bản cũng nhận ra những thiệt hại mà việc đói nhiên liệu gây ra cho rừng của họ nên đã chủ động bảo vệ chúng. Nền văn hóa tinh hoa của người Nhật Bản liền chuyển sang một chủ nghĩa tối giản nhẹ nhàng và khắc khổ để bảo tồn các nguồn tài nguyên. Nhưng giá thực phẩm vẫn tăng, nạn đói vẫn tăng và những đám đông đói khát phản kháng trên đường phố. Đó không còn là xứ Arcadia thiên đường nữa.

Lý do duy nhất để Nhật Bản chọn con đường cực đoan này chính là do Trung Hoa, mối đe dọa khả tín đối với an ninh của Nhật Bản, cũng đi theo cùng một phương sách. Các biên giới bao la, mở rộng của Trung Hoa có nghĩa là dân số có thể tiếp tục gia tăng suốt thế kỷ XVIII, nhưng nhà Thanh cũng ngày càng ngăn trở thế giới nguy hiểm bằng qua vùng biển của mình. Vào năm 1760, mọi hoạt động ngoại thương đều bị hạn chế ở Quảng Châu, và khi công ty Đông Ấn của Anh gửi đặc sứ Macartney đến khiếu nại về những hạn chế này vào năm 1793, Hoàng đế Càn Long trả lời một cách dứt khoát: “Đất nước ta chưa bao giờ chuộng hàng hóa tinh xảo và chúng ta cũng không có chút nhu cầu nào về sản phẩm của đất nước các ông.” Vị hoàng đế kết luận: “Việc tiếp tục giao thương vốn không phù hợp với các luật tắc của Thiên Quốc [và]… không có thuận lợi gì cho đất nước của các ông.”❖

Ít có nhà cai trị phương Tây nào sẻ chia niềm tin của Càn Long về sự cô lập. Thế giới mà họ đang sống không bị chi phối bởi một đế chế vĩ đại độc nhất như nhà Thanh ở Trung Hoa, thay vào đó, nó là một nơi đầy xào xáo và cán cân quyền lực thay đổi liên tục. Hầu hết các nhà cai trị phương Tây đều biết rằng, cho dù sự thịnh vượng của thế giới đã cố định, một quốc gia luôn có thể chiếm đoạt miếng bánh lớn hơn. Mỗi đồng florin, đồng franc, hoặc đồng bảng Anh tiêu tốn cho chiến tranh đều có giá của nó, và khi nào một số nhà cai trị còn cảm thấy như vậy thì tất cả phải sẵn sàng chiến đấu. Cuộc chạy đua vũ trang ở Tây Âu không bao giờ dừng lại.

Những thương nhân gieo rắc chết chóc ở châu Âu không ngừng cải tiến công cụ kinh doanh của họ (lưỡi lê, đạn có ngòi nổ, bộ kích hỏa của súng nhanh hơn), nhưng những đột phá thực sự lại xuất phát từ việc tổ chức bạo lực một cách khoa học hơn. Kỷ luật – những thứ như đồng phục, cấp bậc và đội hành quyết của các sĩ quan, những kẻ thường làm theo sở thích (trái với lính thường, luôn bị trừng phạt một cách tàn nhẫn) – đã tạo ra những điều kỳ diệu, đồng thời việc huấn luyện quanh năm cũng sản sinh những cỗ máy chiến đấu thực hiện các thao tác phức tạp và sử dụng vũ khí một cách vững chắc.

Những đám lính đánh thuê kiểu này còn gây thêm chết chóc để mong kiếm nhiều tiền vàng.⦾ Do vậy, đầu tiên là người Hà Lan rồi sau đó các đối thủ của họ loại bỏ truyền thống ít tốn kém nhưng xấu xa về việc giao khoán chiến tranh cho các nhà thầu tư nhân chuyên thuê mướn những đám giết người, trả tiền cho đám này không thường xuyên hoặc không bao giờ trả, rồi thả lỏng cho họ đi moi móc của dân thường. Tuy chiến tranh vẫn còn là địa ngục, nhưng ít nhất đã có được một số hạn chế về tổn thất.

Điều này cũng diễn ra trên mặt đại dương, nơi thời kỳ hải tặc giết người cướp của và chôn cất kho báu đã kết thúc. Anh quốc là nước dẫn đầu trong một cuộc chiến mới chống đám cướp biển, giống cuộc chiến chống hải tặc ở Trung Hoa vào thế kỷ XVI, vốn cũng không thiếu những thối nát cũng như lắm trò liều lĩnh. Khi thuyền trưởng Morgan khét tiếng phớt lờ hiệp ước hòa bình nước Anh ký kết với Tây Ban Nha để tiếp tục cướp phá các thuộc địa Tây Ban Nha ở vùng biển Caribe năm 1671, những nhân vật có thế lực ủng hộ ông ta vẫn giúp ông được phong tước hiệp sĩ và trở thành thống đốc Jamaica. Tuy nhiên, đến năm 1701, thuyền trưởng Kidd khét tiếng không kém lại thấy mình bị dẫn giải về London chỉ vì tội cướp một chiếc tàu của Anh và khi đến nơi mới biết rằng những người ủng hộ ông (trong đó có cả nhà vua) không thể hoặc không còn muốn giúp mình. Tiêu đồng shilling cuối cùng vào rượu rum, thuyền trưởng Kidd bị dẫn đến giá treo cổ, ông ta gào lên: “Tôi là người vô tội nhất!”❖ – nhưng thòng lọng vẫn siết lại. Chỉ những truyện cổ tích họa chăng mới cứu được ông ta, nhưng giờ đây thì không. Một nút thòng lọng thứ hai cũng thực hiện công việc này. Năm 1718, khi hải quân Anh truy đuổi thuyền trưởng Râu Đen (Edward Teach), thậm chí chẳng một ai ngó ngàng. Cái chết của Râu Đen còn bi thảm hơn Kidd – có đến năm viên đạn hỏa mai và 25 nhát chém trên thân thể ông ta – và chính đám thủy thủ đã làm điều này. Năm đó vẫn còn 50 vụ cướp biển ở Caribe; nhưng đến năm 1726 chỉ còn lại sáu. Thời kỳ bạo lực đã kết thúc.

Tất cả điều này đều gây tốn kém tiền bạc và những bước tiến trong tổ chức lại phụ thuộc vào những bước tiến thậm chí còn nhiều hơn về mặt tài chính. Không một chính phủ nào có đủ khả năng chăm lo, chi trả, và cung ứng cho quân lính và thủy thủ quanh năm, nhưng người Hà Lan lại tìm ra giải pháp: tín dụng. Tiền thì đẻ ra tiền, và do Hà Lan có nguồn thu nhập ổn định từ thương mại và các ngân hàng vững vàng trong xử lý tiền mặt nên giới lãnh đạo thương nhân có thể mượn các khoản tiền lớn hơn, nhanh hơn với lãi suất thấp hơn và hoàn trả với thời hạn dài hơn so với những đối thủ hoang phí.

Nước Anh lại một lần nữa nối bước Hà Lan. Cho đến năm 1700, cả hai nước này đều có ngân hàng quốc gia, quản lý nợ công thông qua việc bán trái phiếu dài hạn trên thị trường chứng khoán, đồng thời chính phủ của họ làm dịu nỗi sợ của người cho vay thông qua việc cam kết thực hiện các khoản thuế đặc biệt để thanh toán lãi trái phiếu. Kết quả mang đến thật ngoạn mục. Như Daniel Defoe (tác giả của Robinson Crusoe, thiên sử thi của những tuyến đường đại dương mới) giải thích:

Tín dụng gây ra chiến tranh đồng thời cũng kiến tạo hòa bình; tăng cường quân đội, trang bị hải quân, chiến đấu trên chiến trường, vây hãm các đô thị; và tóm lại, nó được gọi một cách chính đáng là nguồn lực chủ yếu của chiến tranh hơn cả tiền bạc… Tín dụng làm người lính chiến đấu không cần lương, quân đội hành quân không cần lương thực dự trữ… đồng thời làm Ngân khố quốc gia và các ngân hàng đầy ắp hàng triệu đồng tiền khi cần, tùy theo yêu cầu.

Tín dụng vô thời hạn có nghĩa là chiến tranh không có hồi kết. Nước Anh đã phải chiến đấu trong 20 năm để giành được miếng bánh thương mại lớn nhất từ người Hà Lan, nhưng chiến thắng đó chỉ dọn đường cho một cuộc chiến thậm chí lớn hơn. Các nhà cai trị nước Pháp có vẻ muốn vươn đến một đế chế đất liền vốn đã vuột khỏi tầm tay của dòng họ Habsburg, đồng thời các chính trị gia Anh lo ngại: “Pháp sẽ hủy diệt chúng ta trên biển khi họ không sợ gì trên đất liền.”❖ Thủ tướng Anh William Pitt (Cha) khẳng định giải pháp duy nhất là “chinh phục châu Mỹ thông qua nước Đức”❖, bằng cách cung cấp vốn cho các liên minh lục địa để trói chân người Pháp ở châu Âu trong khi Anh chộp lấy các thuộc địa ở hải ngoại.

Hình 9.8. Một bối cảnh toàn thế giới: Phân bố cuộc chiến phương Tây trên toàn cầu giữa nước Anh cùng đồng minh và nước Pháp năm 1689-1815. Dấu mũi tên chỉ một số trận đánh chủ chốt; những vùng chấm là lãnh thổ Đế quốc Anh vào năm 1815.

Các cuộc chiến tranh Anh-Pháp kéo dài hơn phân nửa thời gian kể từ năm 1689, khi lần đầu tiên Pháp xâm lược nước Anh thất bại, đến năm 1815, khi Wellington đánh bại Napoléon trong trận Waterloo. Cuộc chiến mang tính sử thi này không gì khác hơn là một cuộc chiến tranh phương Tây, chiến đấu để giành quyền thống lĩnh vùng lõi châu Âu. Những đạo quân lớn được tung ra giao chiến ở Đức và đào chiến hào ở vùng Flanders; lính chiến bắn phá và xung phong lên boong tàu nhau ngoài khơi bờ biển Pháp đây bão tố và trên vùng biển Địa Trung Hải sôi sục; cả trong các khu rừng ở Canada và Ohio, đến những đồn điền vùng Caribe và các khu rừng ở Tây Phi và Bengal, các Liên minh châu Âu và (đặc biệt) các khu vực địa phương đã có hàng tá cuộc chiến nhỏ ác liệt và riêng lẻ khiến chiến tranh phương Tây trở thành cuộc chiến đầu tiên mang tính toàn cầu.

Lòng gan dạ và sự phản bội đủ để viết ra nhiều cuốn sách, nhưng câu chuyện thực lại được kể bằng những đồng bảng Anh, shilling, và đồng xu. Tín dụng liên tục bổ sung thêm quân đội và hạm đội của nước Anh, nhưng nước Pháp thì lại không thể thanh toán hóa đơn cho chiến tranh. “Những cái chuông của chúng ta tuy cũ kỹ nhưng lại có âm vang của chiến thắng,”❖ một người Anh quyền thế đã khoác lác vào năm 1759, và năm 1763 người Pháp kiệt quệ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chuyển nhượng hầu hết vùng đất hải ngoại của mình (Hình 9.8).

Dù sao, chiến tranh phương Tây chỉ mới đi nửa đoạn đường. Ngay nước Anh cũng cảm thấy căng thẳng về mặt tài chính và khi một kế sách thiếu cân nhắc nhằm bắt những người di dân ở Mỹ phải gánh một phần chi phí chiến tranh đã gây ra một cuộc nổi dậy vào năm 1776, nước Pháp đã có mặt ở đó cùng với tiền mặt và tàu thuyền để tạo ra sự khác biệt cho những người nổi dậy. Ngay cả tín dụng của Anh quốc cũng không thể kiềm chế được đám nổi loạn đầy quyết tâm xa quê nhà đến 5.000km cường quốc kia.

Dù sao, vấn đề tài chính cũng giúp quên đi sự đắng chát của thất bại. Trong bất kỳ thế giới lý tính nào, việc để mất châu Mỹ vào tay những người cách mạng tuyên ngôn sự mưu cầu hạnh phúc bằng thứ ngôn ngữ lấy cảm hứng từ nền Khai sáng Pháp lẽ ra đã khiến nền kinh tế Đại Tây Dương của Anh sụp đổ và mở ra một đế chế Pháp ở châu Âu. Pitt rất sợ điều đó, cảnh báo rằng nếu nước Anh mất đi, ông ta tin rằng các quý ông ở nước Anh sẽ bán sạch mọi thứ để chạy sang Mỹ, nhưng thương mại và tín dụng lại một lần nữa đứng ra giải cứu. Nước Anh thanh toán được một phần nợ, giữ được hạm đội của mình để kiểm soát các tuyến đường biển, và tiếp tục vận chuyển hàng hóa mà người Mỹ vẫn còn cần đến. Vào năm 1789, nền thương mại Anh-Mỹ trở lại mức trước thời kỳ cách mạng.

Tuy nhiên, đối với nước Pháp, năm 1789 là một thảm họa. Để giành chiến thắng trong cuộc chiến ở châu Mỹ, vua Louis XVI phải vay thêm nợ đến mức không thể trả nổi, vì vậy ông triệu tập các nhà quý tộc, hàng giáo phẩm và những nghị sĩ giàu có để xin các khoản thuế mới, điều này chỉ khiến những nghị sĩ thuộc giới bình dân theo phong trào Khai sáng chống lại ông ta. Ra tuyên ngôn về Nhân Quyền (và hai năm sau là Quyền của Nữ giới), các nghị sĩ thuộc lớp bình dân giàu có nảy sinh hai luồng tư tưởng, một nửa thì muốn kiểm soát tình hình, một nửa lại cố đứng ngoài vòng xoáy nổi loạn và nội chiến không lường trước được. Những nhân vật cấp tiến trong Quốc ước hội (Quốc hội lập hiến) kêu gào, đòi “Khủng bố là vấn đề trọng tâm ở chương trình nghị sự!”❖, sau đó hành quyết nhà vua, gia đình của ông ta và hàng nghìn đồng chí cách mạng của họ.

Một lần nữa những kỳ vọng hợp lý bị tiêu tan. Thay vì để nước Anh làm chủ phương Tây, cuộc cách mạng đã mở đường cho những hình thức mới của chiến tranh đại trà, và trong một vài năm nhiệt cuồng, có vẻ như Napoléon, vị tướng thiên tài, cuối cùng sắp tạo ra một đế chế đất đai ở châu Âu. Năm 1805, ông tập hợp đại quân của mình cho nỗ lực xâm lăng nước Anh lần thứ tư kể từ năm 1689; ông tuyên bố với quân đội “Chúng ta hãy trở thành chủ nhân của eo biển Manche chỉ trong 6 giờ, rồi chúng ta là chủ nhân của thế giới!”❖

Napoléon sẽ không bao giờ có được 6 tiếng đồng hồ đó, và cho dù ông biến những cơn ác mộng tồi tệ nhất của thương nhân người Anh thành hiện thực khi phong tỏa mọi hải cảng ở châu Âu, ông cũng không thể phá vỡ được tiềm lực tài chính của họ. Năm 1812, Napoléon kiểm soát ¼ dân số châu Âu và một đội quân Pháp đã đến tận Moscow, nhưng chỉ hai năm sau, ông mất hết sức mạnh và một đội quân Nga (trong biên chế của Anh) lại có mặt ở Paris; và vào năm 1815, các nhà ngoại giao ở Hội nghị Vienna đưa ra những điều khoản giúp giảm trừ chiến tranh phương Tây trong 99 năm sau đó.

Có phải những cuộc chiến tranh này cuối cùng đã tạo ra sự khác biệt: Trong một chừng mực nào đó thì đúng thế. Năm 1683, ở giai đoạn trước khi xảy ra cuộc xung đột Anh-Pháp, thành Vienna từng tiếp tục bị một đội quân Thổ Nhĩ Kỳ vây hãm, nhưng vào thời điểm những con người vĩ đại và tốt đẹp triệu tập Hội nghị ở đó vào năm 1815, cuộc chiến tranh phương Tây đã thúc đẩy hỏa lực, kỷ luật và tài chính ở Tây Âu vượt xa mọi nơi khác trên thế giới, và quân đội Thổ không bao giờ còn trở lại. Khi Napoléon xâm chiếm Ai Cập vào năm 1798, Đế quốc Ottoman phải dựa vào nước Anh để đánh đuổi ông ta, và đến năm 1803, chưa đến 5.000 quân Anh (một nửa trong số đó được tuyển mộ tại địa phương và được đào tạo bắn súng trường châu Âu) đã đánh tan tác đội quân vùng Nam Á đông gấp 10 lần ở Assaye. Cán cân sức mạnh quân sự đã chuyển sang Tây Âu một cách ngoạn mục.

Nhưng mặt khác thì không. Bất chấp mọi cuộc chiến và bắn phá, tiền lương thực tế vẫn tiếp tục giảm sau năm 1750. Bắt đầu từ những năm 1770, một loại học giả mới, tự nhận là các nhà kinh tế chính trị học, dùng mọi công cụ khoa học và sự khai sáng để soi rọi vấn nạn này. Nguồn tin họ đem lại từ các nghiên cứu quả thật không mấy tốt đẹp: họ khẳng định có các quy luật bất biến thống trị con người. Thứ nhất, mặc dù đế quốc và sự chinh phục có thể làm tăng năng suất và thu nhập, nhưng người vẫn luôn chuyển đổi sự thịnh vượng dôi dư thành việc sinh nhiều con hơn. Những cái bụng rỗng của trẻ con sẽ tiêu thụ hết mọi sự thịnh vượng đó, và còn tồi tệ hơn, khi những đứa bé trưởng thành và cần công việc, thì sự cạnh tranh của chúng sẽ đẩy tiền lương trở lại bờ vực chết đói.

Có vẻ như không có cách nào thoát khỏi chu kỳ tàn nhẫn này. Nếu các nhà kinh tế chính trị học biết đến chỉ số phát triển xã hội, có lẽ họ sẽ chỉ ra rằng mặc dù ngưỡng cứng được đẩy lên một chút nhưng nó vẫn cứng như bao lâu nay. Họ có thể bị mê hoặc khi biết rằng điểm số của phương Tây đã bắt kịp phương Đông vào năm 1773, nhưng chắc chắn họ sẽ nói rằng điều đó không thực sự quan trọng bởi vì những quy luật bất biến đã ngăn chặn cả hai điểm số tăng thêm. Nền kinh tế chính trị đã chứng minh một cách khoa học rằng không gì có thể thực sự thay đổi.

Nhưng rồi nó đã thay đổi.

Người dịch Nguyễn Thanh Xuân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.