Sự tiến hóa của xã hội vẫn còn là một ý tưởng mới khi các nhà nhân học văn hóa phát động cuộc nổi dậy chống lại nó, được miêu tả ở cuối Chương 2. Ý nghĩa mới nhất của thuật ngữ này mới chỉ xuất hiện vào năm 1857 khi Herbert Spencer, một học giả tự học người Anh, xuất bản một tiểu luận Sự phát triển: Quy luật và Nguyên nhân. Spencer là một nhân vật lạc lõng, ông từng muốn trở thành một kỹ sư đường sắt, một biên tập cho Tạp chí The Economist, và là một bạn tình lãng mạn của nữ tiểu thuyết gia George Eliot (không có việc gì phù hợp với ông, ông không bao giờ có công việc ổn định, kể cả việc lập gia đình). Bài tiểu luận này cũng chỉ là một cảm xúc bất chợt, trong đó Spencer giải thích: “Từ quá khứ xa xưa nhất mà khoa học có thể thăm dò được, cho đến những điều mới lạ của ngày hôm qua mà sự phát triển về cơ bản cũng bao gồm trong đó, chính là sự chuyển hóa từ đồng nhất thành đa dạng.”❖ Spencer nhấn mạnh rằng sự tiến hóa là quá trình mà ở đó sự vật đều khởi đầu đơn giản rồi dần dần trở nên phức tạp hơn, và nó giải thích mọi điều về mọi thứ:
Sự tiến hóa khởi đi từ đơn giản đến phức tạp, thông qua một quá trình đa dạng hóa tiếp nối nhau, được nhận biết theo cùng một cách những thay đổi sớm nhất của Vũ trụ mà chúng ta có thể suy luận ngược trở lại, và ở những thay đổi sớm nhất mà chúng ta có thể thiết lập theo phương pháp quy nạp; nó được nhận biết trong sự tiến hóa địa chất và khí hậu của trái đất; nó được nhận biết trong sự sinh sôi phát triển của mọi sinh vật đơn lẻ trên bề mặt của nó, và trong sự nhân bội của muôn loài; nó được nhận biết trong sự tiến hóa của Nhân loại, cho dù được xét ở từng cá thể văn minh, hay ở việc tập hợp các chủng tộc; nó được nhận biết trong sự phát triển của xã hội về bình diện chính trị, tôn giáo cũng như tổ chức kinh tế; và nó cũng được nhận biết ở sự tiến hóa của tất cả những sản phẩm cụ thể và trừu tượng bất tận đến từ hoạt động con người tạo thành môi trường cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
Spencer đã trải qua 40 năm cố gom địa chất học, sinh vật học, tâm lý học, xã hội học, chính trị học và đạo đức học vào một lý thuyết tiến hóa duy nhất. Ông gặt hái thành công đến mức khoảng năm 1870 ông trở thành triết gia dùng ngôn ngữ Anh có ảnh hưởng nhất, và khi các nhà trí thức Nhật Bản và Trung Hoa có nhu cầu hiểu biết về những thành tựu của phương Tây thì ông là tác giả đầu tiên họ chọn để dịch. Những bộ óc vĩ đại ở thời đó đã phải cúi đầu trước những ý tưởng của ông. Ấn bản đầu tiên của cuốn Nguồn gốc các loài của Charles Darwin xuất bản năm 1859, chưa có thuật ngữ evolution (tiến hóa); đến ấn bản lần thứ hai, thứ ba, thậm chí thứ tư hay thứ năm vẫn vậy. Nhưng ở ấn bản lần thứ sáu năm 1872, Darwin buộc phải vay mượn từ ngữ của Spencer, đến lúc này đã được sử dụng phổ biến.⦾
Spencer tin rằng các xã hội tiến hóa thông qua bốn mức độ khác biệt, từ giản đơn (những nhóm người lang thang không có lãnh đạo) đến phức tạp (những ngôi làng ổn định có lãnh đạo chính trị), rồi phức tạp gấp đôi (các nhóm người có nhà thờ, nhà nước, phân chia lao động phức tạp và giới học thức) đến phức tạp gấp ba (các nền văn minh vĩ đại như La Mã và nước Anh thời Nữ hoàng Victoria). Sự sắp xếp này trở nên phổ biến mặc dù không có nổi hai lý thuyết gia hoàn toàn đồng ý với nhau về cách phân định các giai đoạn. Một số thì nói về tiến hóa từ hành vi tàn bạo thông qua sự man rợ rồi tiến đến văn minh; những người khác lại ưa giải thích tiến hóa từ phép thuật thông qua tôn giáo rồi đến khoa học. Vào năm 1906, cánh rừng thuật ngữ rối rắm đến nỗi Max Weber, cha đẻ ngành xã hội học, đã phải than phiền về “đặc tính vô tích sự của các tác giả đương đại, những người khi đối mặt với một thuật ngữ đã được người khác sử dụng lại hành xử như thể nó là bàn chải răng của mình.”❖
Tuy nhiên, dù các nhà tiến hóa có sử dụng nhãn hiệu gì chăng nữa, tất cả đều phải đối mặt với cùng một vấn đề. Họ dễ có cảm giác vấn đề mình nêu ra ắt phải đúng, nhưng lại ít có bằng chứng rõ ràng để chứng minh điều đó. Do đó, ngành nhân học mới được hình thành để cung cấp dữ liệu. Theo suy nghĩ chung thì có một số xã hội ít tiến hóa hơn những xã hội khác: các sắc dân thuộc địa ở châu Phi hay quần đảo Trobriand với các công cụ bằng đá và những phong tục đầy màu sắc, cũng giống như tổ tiên của họ lúc sinh thời phản ánh một điều là con người văn minh ở các xã hội phức tạp gấp ba (xã hội tiến bộ và văn minh nhất) hẳn cũng phải có gì đó giống tổ tiên họ ở thời kỳ tiền sử. Tất cả những gì mà nhà nhân học phải làm (ngoại trừ việc phải chịu đựng chứng sốt rét, ký sinh trùng gây bệnh và những người bản xứ vô ơn) là ghi chép đầy đủ, chính xác và ông ta (thời kỳ đó thường hiếm có phụ nữ theo ngành nhân học) có thể trở về nhà để lấp đầy những khoảng trống trong câu chuyện tiến hóa.
Chính đây lại là chương trình trí óc mà Malinowski đã khước từ. Dù vậy, theo một cách nào đó, điều kỳ lạ là vấn đề này lại ít được đề cập. Nếu các nhà tiến hóa muốn có tài liệu chứng minh cho sự phát triển thì tại sao họ lại không trực tiếp thực hiện bằng cách sử dụng dữ liệu khảo cổ, những hiện vật còn sót lại của các xã hội tiền sử, mà thay vào đó lại bằng cách gián tiếp, sử dụng những khảo sát nhân học của các nhóm nghiên cứu đương thời để suy đoán rằng chúng đã từng tồn tại hay không? Câu trả lời: cách đây một thế kỷ các nhà khảo cổ chưa biết được nhiều. Công việc khai quật nghiêm túc chỉ vừa mới bắt đầu, vì vậy các nhà tiến hóa đã phải kết hợp những thông tin thiếu sót trong các báo cáo khảo cổ với các chi tiết ngẫu nhiên từ văn chương cổ đại và các tài liệu dân tộc học bất kỳ. Điều này khiến Malinowski và các nhà nhân học có cùng sở thích dễ dàng vạch trần những tái dựng của các nhà tiến hóa, xem chúng như những mẩu chuyện đoán mò không thể kiểm chứng.
Khảo cổ học là một ngành khoa học còn non trẻ. Cách đây gần ba thế kỷ, bằng chứng cổ xưa nhất của chúng ta về lịch sử – Ngũ Kinh của Trung Hoa, Kinh Vệ Đà ở Ấn Độ, Kinh Thánh của người Do Thái và nhà thơ Hy Lạp Homer – chỉ mới trở về đến thời điểm khoảng năm 1000 TCN; còn trước những kiệt tác đó, tất cả đều là bóng tối. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, hành động đơn giản là đào xới lên mọi thứ đã làm thay đổi tất cả. Khi Napoléon xâm chiếm Ai Cập vào năm 1799, ông đem theo cả một đội quân học giả để sao chép hay mang về hàng chục bản văn khắc cổ. Trong thập niên 1820, các nhà ngữ học người Pháp đã khai mở những bí mật của các bản khắc có kiểu chữ tượng hình này, thế là đột nhiên tái hiện được thêm 2.000 năm lịch sử. Không chỉ có thế, trong thập niên 1840, những nhà thám hiểm Anh quốc đào đường hầm vào các thành phố đổ nát ở vùng đất giờ đây là Iraq, hoặc treo mình trên dây để chép lại những văn khắc của hoàng gia vùng núi Iran; và trước khi kết thúc thập niên đó, các học giả đã có thể hiểu được ngôn ngữ Ba Tư cổ, ngôn ngữ Semit vùng Lưỡng Hà, và sự uyên thâm của Babylon cổ đại.
Khi Spencer bắt đầu viết về sự phát triển vào thập niên 1850, ngành khảo cổ học vẫn còn đậm tính phiêu lưu hơn khoa học, bùng nổ với những Indiana Jones trong đời thực. Chỉ đến thập niên 1970, các nhà khảo cổ mới bắt đầu áp dụng nguyên lý địa chất trong địa tầng học (theo hiểu biết thường tình thì do tầng đất trên cùng ở mặt đất tại một địa điểm phải xuất hiện sau các tầng dưới, và chúng ta có thể sử dụng chuỗi trầm tích đó để xây dựng thứ tự của các sự kiện) trong công việc khai quật, và việc phân tích địa tầng chỉ mới trở thành dòng chủ đạo ở thập niên 1920. Các nhà khảo cổ vẫn dựa vào việc nối kết các địa điểm khai quật với các sự kiện được đề cập trong văn học cổ đại để định niên đại cho những hiện vật được khai quật, và cho đến thập niên 1940, những phát hiện ở hầu hết các nơi trên thế giới đều bị thả nổi trong biển sương mù của những ước đoán và phỏng đoán. Điều đó chỉ chấm dứt khi các nhà vật lý hạt nhân phát kiến việc định niên đại bằng carbon phóng xạ bằng cách sử dụng sự phân rã của các đồng vị carbon không ổn định trong xương, than và các chất hữu cơ khác để xác định độ tuổi các hiện vật. Những nhà khảo cổ bắt đầu áp đặt trật tự thời tiền sử, và vào thập niên 1970, một mẫu hình mang tính toàn cầu mới hình thành.
Vào những năm 1980, khi tôi còn là nghiên cứu sinh, đã có một hay hai giáo sư kỳ cựu kể lại thời họ còn là sinh viên, những người thầy đã khuyến họ rằng những công cụ thiết yếu cho công việc thực địa là một bộ tuxedo và một khẩu súng lục nhỏ. Tôi vẫn không chắc liệu mình có nên tin vào họ hay không, nhưng dù sự thật là gì thì thời kỳ của James Bond chắc chắn đã chấm dứt ở thập niên 1950. Những bước đột phá thực sự, vốn dĩ ngày càng tăng, đều đến từ công việc hằng ngày của một đội quân những nhà chuyên nghiệp chuyên đào bới sự kiện, buộc họ phải tìm về tận thời tiền sử, và trải rộng trên khắp thế giới.
Những phòng chứa bảo tàng thì tràn ngập các hiện vật và các giá sách thư viện phải cong oằn dưới sức nặng của các chuyên khảo chuyên môn, nhưng một số nhà khảo cổ vẫn lo rằng câu hỏi cơ bản – tất cả điều này có ý nghĩa gì? – vẫn sẽ không có được lời giải đáp. Tình trạng những năm 1950 là hình ảnh phản chiếu của thập niên 1850: khi đó một lý thuyết quan trọng phải mày mò tìm kiếm dữ liệu, bây giờ dữ liệu lại phải cần đến lý thuyết. Được trang bị với những kết quả đạt được một cách khó khăn, các nhà khoa học xã hội giữa thế kỷ XX, đặc biệt ở Hoa Kỳ, cảm thấy mình đã sẵn sàng cho một bùng nổ khác trong việc tạo dựng các lý thuyết.
Tự nhận là những nhà tiến hóa mới để chứng minh rằng mình tiến bộ hơn những nhà tiến hóa cổ điển hủ lậu như Spencer, một số nhà khoa học xã hội bắt đầu cho rằng mặc dù thật tuyệt khi có quá nhiều sự kiện đáp ứng cho công việc, nhưng chính tự thân khối lượng bằng chứng lại trở thành một phần của vấn đề. Những thông tin quan trọng thường bị vùi lấp trong đống tư liệu tường thuật hỗn độn của các nhà nhân học và các nhà khảo cổ học hay trong các tài liệu lịch sử: tóm lại, nó không đủ chứng cứ khoa học. Để vượt qua khu rừng rậm các hệ thống loại hình của thế kỷ XIX và tạo ra một lý thuyết thống nhất về xã hội, những nhà tân tiến hóa cảm thấy cần phải chuyển đổi các câu chuyện này thành những chữ số. Bằng cách đo lường sự khác biệt và đặt định những con số, họ có thể sắp xếp các xã hội và sau đó tìm kiếm những mối tương quan giữa những con số và các giải thích khả dĩ. Cuối cùng, họ có thể chuyển sang các câu hỏi có thể làm cho mọi thời gian và tiền chi tiêu cho khảo cổ học trở nên đáng giá – liệu chỉ có một cách để xã hội tiến hóa, hoặc nhiều cách; liệu các xã hội có co cụm lại trong các giai đoạn tiến hóa riêng rẽ (và nếu vậy thì làm thế nào chúng chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác); hay liệu chỉ một đặc điểm duy nhất, chẳng hạn như dân số hoặc công nghệ (hay địa lý, theo ý nghĩa đó), là có thể giải thích tất cả mọi thứ.
Năm 1955, nhà nhân học Raoul Naroll làm việc cho một dự án rộng lớn thu thập dữ liệu từ nhiều trường đại học, gọi là Human Relations Area Files (Dữ liệu về Khu vực Quan hệ Con người), là người đầu tiên đưa ra chỉ số về phát triển xã hội. Lựa chọn ngẫu nhiên 30 xã hội tiền công nghiệp từ khắp nơi trên thế giới (một số là xã hội đương thời, số khác trong lịch sử), ông đã tra cứu các hồ sơ để tìm ra sự khác biệt giữa chúng, mà theo ông nghĩ sẽ được phản ánh qua quy mô của các khu định cư lớn nhất, tính chuyên biệt của thợ thủ công và số lượng phân nhóm mà chúng sở hữu. Bằng cách chuyển đổi các kết quả sang một định dạng chuẩn, Naroll phân hạng bằng các điểm số. Xếp ở cuối bảng là người Yahgan ở bán đảo Tierra del Fuego, vốn đã gây ấn tượng cho Darwin vào năm 1832 như là sắc dân “tồn tại ở một tình trạng cải thiện thấp hơn bất kỳ nhóm người nào trên thế giới.”❖ Họ chỉ nhận được 12 điểm trong thang điểm 63. Xếp ở đầu bảng là người Aztec thời kỳ trước khi bị người Tây Ban Nha chinh phục, với 58/63 điểm.❖
Trong vòng 20 năm tiếp theo các nhà nhân học khác cũng tiến hành thử nghiệm mô hình này. Mặc dù mỗi người đều áp dụng những phân loại, tập hợp dữ liệu, khuôn mẫu toán học và kỹ thuật chấm điểm khác nhau, nhưng họ đều đồng ý về kết quả giữa 87% và 94% về thời kỳ, điều này khá quan trọng đối với khoa học xã hội. Năm mươi năm sau cái chết của Spencer và 100 năm sau khi tiểu luận về sự tiến bộ của ông ra đời, những nhà tân tiến hóa mới đủ tự tin để chứng minh các quy luật tiến hóa của xã hội.
Ngành nhân học chuyển giao
Vậy điều gì đã xảy ra? Nếu các nhà tân tiến hóa đã có thể đưa ra các bằng chứng và giải thích mọi điều về tiến hóa xã hội, thì hẳn tất cả chúng ta đều đã nghe về nó. Và hiện tại điều quan trọng hơn là họ có thể trả lời câu hỏi tại sao phương Tây vượt trội. Sau tất cả, câu hỏi đó là về các mức độ phát triển tương đối của các xã hội phương Đông và phương Tây: Có phải phương Tây đã giữ vai trò dẫn đầu rất lâu trước đây, như khẳng định của các lý thuyết gia theo trường phái chốt khóa dài hạn, hay theo các lý thuyết gia ngẫu nhiên ngắn hạn, thì vai trò này chỉ mới xuất hiện cách đây không lâu. Nếu các nhà tân tiến hóa có thể cân đo được sự phát triển xã hội thì chúng ta hẳn sẽ không làm rối tung thêm với những sơ đồ phức tạp như ở Bảng 2.1. Và điều đơn giản là chỉ cần tính toán các điểm số mà phương Đông và phương Tây đạt được các mốc khác nhau kể từ khi kết thúc Thời đại Băng hà, đối chiếu chúng để xem lý thuyết nào phù hợp tốt hơn với thực tế. Vậy tại sao không ai làm điều này?
Tôi cho rằng phần lớn là do thuyết tân tiến hóa đã sụp đổ ngay từ bên trong. Ngay cả trước khi Naroll chọn quy tắc tính toán vào thập niên 1950, ước muốn đo lường các xã hội đã bị nhiều nhà nhân học cho là quá đỗi ngây thơ. “Đám đông quy tắc và trật tự” (danh xưng các nhà phê bình đặt cho Naroll và những người như ông ta), với những tấm thẻ đục lỗ chứa dữ liệu đã được mã hóa, các cuộc tranh luận phức tạp về thống kê, và những máy tính có kích cỡ bằng cả một nhà kho, hầu như rất xa rời với thực tiễn của các nhà khảo cổ chuyên đào bới hay các nhà nhân học phỏng vấn những người săn bắt-hái lượm; và tại thời điểm khởi đầu cho một sự thay đổi vào thập niên 1960 thì lý thuyết tân tiến hóa bắt đầu trông không còn lố bịch bằng tai họa đích thực. Chẳng hạn như nhà nhân học Marshall Sahlins, người viết bài tiểu luận Original Affluent Society (Xã hội giàu có nguyên thủy) mà tôi đã đề cập trong Chương 2, bắt đầu sự nghiệp của mình ở thập niên 1950 với tư cách là một lý thuyết gia tiến hóa, nhưng vào thập niên 1960 đã phán xử rằng “sự cảm thông và thậm chí ngưỡng mộ đối với cuộc đấu tranh của người Việt Nam gắn liền sự chống đối về mặt đạo đức và chính trị đối với cuộc chiến của nước Mỹ có thể làm xói mòn một nền nhân học của chủ thuyết tất định ở khía cạnh kinh tế và sự phát triển tiến hóa.”❖
Vào năm 1967, khi Sahlins ở Paris cho rằng những người săn bắt-hái lượm thực sự không nghèo nàn thì một thế hệ mới những nhà chủng học – những người có trải nghiệm đầu tiên về quyền công dân, phản chiến và các phong trào nữ quyền ở Mỹ, và thường xuyên dấn mình vào sự đối nghịch văn hóa – lại đặt cược vào những quan điểm khó nhằn hơn. Họ cho rằng điều duy nhất mà các nhà tiến hóa thực sự làm được là xếp hạng các xã hội không phải phương Tây bằng mức độ tương đồng với những người phương Tây, và một điều đáng ngạc nhiên, đó lại là những người luôn cho mình những điểm số cao nhất.
Vào thập niên 1980, hai nhà khảo cổ Michael Shanks và Christopher Tilley đã viết: “Các lý thuyết tiến hóa dễ dàng lọt vào những hệ tư tưởng tự biện hộ hay khẳng định ưu thế vượt trội của phương Tây so với các nền văn hóa khác mà tầm quan trọng chủ yếu của chúng chỉ là những bù đắp thêm cho nền văn minh đương đại của chúng ta.”❖ Nhiều nhà phê phán cũng không cảm thấy rằng sự tự tin vào những con số này đơn thuần là một cuộc chơi vô hại mà người phương Tây đã bày ra để giúp họ cảm thấy tốt lên; nó là một phần thiết yếu của sự kiêu căng vốn đã ban tặng cho chúng ta những cuộc ném bom rải thảm, Chiến tranh Việt Nam, và các tổ hợp công nghiệp-quân sự. Hey hey, ho ho, L.B.J phải ra đi;⦾ và những giáo sư theo chủ nghĩa vị chủng với tính ngạo mạn và các phép toán của họ cũng như vậy.
Những cuộc biểu tình ngồi và mạt sát nhau đã biến cuộc tranh luận học thuật thành sự đối đầu kiểu thiện ác phân minh (Manichean). Đối với một số nhà tiến hóa, những người phê phán họ đều là những người theo thuyết tương đối bị phá sản về mặt đạo đức; còn đối với một số nhà phê phán thì những người theo tiến hóa luận là con rối của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Trong suốt hai thập niên 1980 và 1990, các nhà nhân học đã đấu tranh để giành các vị trí tuyển dụng, bổ nhiệm và hội đồng tuyển sinh, hủy hoại luôn sự nghiệp và hình thành hai nhóm đối lập quan điểm trong học thuật. Các khoa nhân học ở những trường nổi tiếng nhất của Mỹ đã biến chất thành một kiểu như những cuộc hôn nhân tồi tệ, tan vỡ sau nhiều năm buộc tội lẫn nhau và thế là những đôi vợ chồng lại bắt đầu cuộc sống riêng. Vào năm 1984, một nhà nhân loại học lỗi lạc đã than thở: “Chúng tôi [thậm chí] còn không thèm cất công lăng mạ nhau nữa.”❖ Trường hợp cực đoan nhất là ở trường Đại học Stanford của tôi, các nhà nhân học đã phân ly vào năm 1998, chính thức tách ra thành hai ngành, ngành Khoa học Nhân loại chuộng thuyết tiến hóa, và ngành Nhân học Văn hóa và Xã hội không chuộng nó. Mỗi ngành đều tự thuê mướn và sa thải nhân viên đồng thời tiếp nhận và đào tạo sinh viên riêng cho ngành mình, những thành viên của một nhóm không cần phải thừa nhận thành viên nhóm kia. Họ thậm chí còn đưa ra một động từ mới, stanford hóa (stanfordize) một ngành.
Những hoài bão – hay niềm vui, tùy thuộc vào người nói chuyện – của việc stanford hóa, từng giúp các nhà nhân học tiêu khiển ở các quán bar tại các hội nghị chuyên môn trong nhiều năm, nhưng stanford hóa không phải là giải pháp cho một trong những vấn đề tri thức lớn nhất thuộc ngành khoa học xã hội.⦾ Nếu muốn giải thích lý do tại sao phương Tây thống lĩnh thế giới chúng ta cần phải đối mặt với các lập luận của cả hai phía về vấn đề này.
Các nhà phê phán tiến hóa xã hội rõ ràng đã nhận xét đúng khi cho rằng đám đông quy tắc và trật tự đều phạm phải tính kiêu căng. Giống như Herbert Spencer, do cố gắng giải thích mọi điều về vạn vật, nên có lẽ họ cũng sa vào việc giải thích hơi nông về bất kỳ điều gì. Có nhiều nhầm lẫn về những gì các nhà tân tiến hóa đo lường, và thậm chí khi họ cùng đồng ý về những điều được cho là đang phát triển bên trong các xã hội (hầu hết đều xảy ra khi họ bị dính vào ý tưởng ưa thích của Spencer về sự khác biệt) thì việc xếp hạng các xã hội trên thế giới trong một bảng liên kết nếu thực sự hoàn thành cũng không phải lúc nào cũng rõ ràng rành mạch.
Các nhà phê phán cho rằng những phiếu ghi điểm, vốn dĩ còn mơ hồ hơn so với những gì chúng phản ánh, đã che giấu những đặc thù của các nền văn hóa riêng lẻ. Tôi chắc rằng điều đó là chính xác khi bắt tay nghiên cứu về nguồn gốc nền dân chủ vào thập niên 1990. Các thành bang Hy Lạp cổ đại phát kiến ra hình thức chính phủ này quả thực khác biệt; nhiều cư dân của họ tin rằng thay vì hỏi các tư tế về những suy nghĩ của thần linh thì cách tốt nhất để tìm ra sự thật là tập trung tất cả đàn ông với nhau bên cạnh một ngọn đồi để tranh luận và bỏ phiếu. Xem xét sự khác biệt của những người Hy Lạp cổ đại không giải thích được nền dân chủ xuất phát từ đâu, và việc vùi lấp tính đặc trưng của người Hy Lạp ở đâu đó trong chỉ số phát triển xã hội thực ra lại khiến cho công việc trở nên khó khăn hơn khi làm chệch hướng sự chú ý khỏi những thành tựu độc đáo của họ.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tính chỉ số phát triển xã hội là một việc phí phạm thời gian; đó chỉ là một công cụ sai lầm dành cho câu hỏi cụ thể đó. Việc hỏi lý do tại sao phương Tây vượt trội lại là một kiểu câu hỏi khác, một câu hỏi đối sánh quá lớn đòi hỏi chúng ta phải mở rộng phạm vi xuyên suốt hàng nghìn năm lịch sử, nhìn vào hàng triệu kilomet vuông lãnh thổ và gom tụ hàng tỉ người lại với nhau. Đối với nhiệm vụ này, chỉ số phát triển xã hội lại đúng là thứ công cụ chúng ta cần đến. Xét cho cùng, sự bất đồng giữa các lý thuyết chốt khóa dài hạn và ngẫu nhiên ngắn hạn chỉ là về dạng hình tổng thể đối với phát triển xã hội ở phương Đông và phương Tây trong suốt 10 thập niên mà Đông và Tây là các khái niệm nhiều ý nghĩa. Thay vì tập trung vào vấn đề này và đối mặt trực tiếp với các lập luận của nhau, những người theo thuyết dài hạn và ngắn hạn lại có xu hướng nhìn vào các phần khác nhau của câu chuyện, sử dụng những bộ phận bằng chứng khác nhau và định nghĩa thuật ngữ của họ theo những cách khác nhau. Việc đi theo sự dẫn dắt của đám-đông-quy-tắc-và-trật-tự và rút gọn cả biển sự kiện thành những điểm đơn giản tuy có những mặt hạn chế nhưng đồng thời cũng có một ưu điểm lớn là buộc tất cả mọi người phải đối mặt với cùng một bằng chứng – với những kết quả đáng ngạc nhiên.
Chuẩn mực lượng định?
Bước đầu tiên là tìm hiểu chính xác những gì chúng ta cần lượng định. Chúng ta có thể lắng nghe từ ngài Robert Jocelyn, người đã chiến đấu trong cuộc Chiến tranh Nha phiến khiến cho việc phương Tây vượt trội trở nên hiển nhiên. Vào một buổi trưa nắng nóng ngày Chủ nhật tháng 7 năm 1840, ông ta đang quan sát các chiến thuyền Anh tiếp cận Định Hải (Tinghai – thủ phủ huyện đảo Chu Sơn), nơi có một pháo đài chặn đường tiếp cận của họ với cửa sông Dương Tử. Jocelyn viết như sau: “Các con tàu đồng loạt nổ súng vào thị trấn, những tấm ván gỗ vụn vỡ, những ngôi nhà đổ sụp và tiếng người rên rỉ vọng lại từ bờ. Cuộc pháo kích từ phía chúng tôi kéo dài trong chín phút… Chúng tôi đổ bộ lên một bãi biển hoang vắng, một vài xác chết, cung tên, giáo gãy và súng là những gì còn sót lại trên trận địa.”❖
Nguyên nhân trực tiếp của sự vượt trội phương Tây nằm ngay ở đây: vào thời điểm năm 1840, tàu chiến và súng ống châu Âu có thể quét sạch bất kỳ sức mạnh nào mà một cường quốc phương Đông có thể phô ra. Nhưng tất nhiên có nhiều vấn đề liên quan đến việc này mầm sự vượt trội của phương Tây chứ không chỉ riêng sức mạnh quân sự. Armine Mountain, một sĩ quan khác trên hạm đội Anh năm 1840, đã ví quân lực Trung Hoa ở Định Hải như những đám người vừa bước ra khỏi các trang sử biên niên thời Trung cổ: nó trông “như thể những hình nhân trong các bức ảnh cũ kỹ với đời sống và chất liệu và màu sắc giả tạo,” ông ta suy tưởng, “và di chuyển và hành động trước mặt tôi mà không ý thức về sự tiến triển của thế giới xuyên qua nhiều thế kỷ, và về tất cả mọi ứng dụng, phát kiến hay cải tiến hiện đại.”❖
Mountain hiểu rằng những chiến thuyền và pháo đài nổ tung chỉ là nguyên nhân gần của sự vượt trội phương Tây, là mối liên kết cuối cùng trong một chuỗi dài những lợi thế. Một nguyên nhân sâu xa hơn là các nhà máy ở Anh có thể sản xuất đạn pháo, đại bác khoan nòng và tàu chiến vượt đại dương, đồng thời các chính phủ Anh có thể huy động, tài trợ và chỉ đạo những cuộc thám hiểm hoạt động nửa vòng trái đất; và lý do cuối cùng để người Anh tràn qua Định Hải chiều hôm đó là thành công của họ trong việc khai thác năng lượng từ môi trường tự nhiên và sử dụng nó để đạt đến mục đích. Tất cả đều dẫn đến một thực tế là người phương Tây không chỉ giành được Chuỗi Năng lượng Lớn nhiều hơn so với những nhóm người khác mà còn nhiều đến mức – không như bất kỳ xã hội nào trước đó trong lịch sử – họ có thể phóng chiếu quyền lực của mình trên toàn thế giới.
Quá trình tranh cướp Chuỗi Năng lượng Lớn này là nền tảng cho điều mà theo truyền thống của các nhà nhân học tiến hóa kể từ thời Naroll ở thập niên 1950, tôi gọi là phát triển xã hội – về cơ bản, là khả năng của một nhóm người trong việc làm chủ môi trường thể chất và trí tuệ để thực hiện mọi việc.⦾ Nói nghiêm túc hơn, phát triển xã hội là một gói các thành quả về công nghệ, sự sống, tổ chức và văn hóa mà qua đó con người ăn, mặc, ở, và tái sản xuất, giải thích thế giới quanh mình, xử lý các tranh chấp trong cộng đồng, mở rộng quyền lực với sự trả giá của các cộng đồng khác, và tự vệ chống lại những nỗ lực mở rộng quyền lực của cộng đồng khác. Có thể nói phát triển xã hội là thước đo khả năng của một cộng đồng trong thực hiện công việc mà về nguyên tắc, có thể được đối chiếu qua thời gian và không gian.
Trước khi đi sâu vào luận điểm này, có một điểm tôi cần xác minh những giới hạn khả dĩ mạnh mẽ nhất: lượng định và đối chiếu sự phát triển xã hội không phải là một phương pháp bỏ qua đánh giá về mặt đạo đức đối với các cộng đồng khác nhau. Chẳng hạn như Nhật Bản thế kỷ XXI là một đất nước của điều hòa không khí, nhà máy vận hành bằng máy tính và các thành phố nhộn nhịp. Đất nước này có đầy đủ xe hơi, máy bay, thư viện và viện bảo tàng, chăm sóc sức khỏe công nghệ cao và dân trí cao. Người Nhật Bản ngày nay làm chủ môi trường thể chất và trí tuệ đầy đủ hơn nhiều so với tổ tiên của họ 1.000 năm trước đây khi những điều trên chưa xuất hiện. Do đó, việc cho rằng nước Nhật Bản hiện đại phát triển hơn nước Nhật Bản thời Trung cổ là một điều hợp lẽ. Tuy nhiên, điều này không ngụ ý gì về việc người dân Nhật Bản hiện đại thông minh hơn, sáng giá hơn hay may mắn hơn (không bàn đến việc hạnh phúc hơn) so với người dân thời Trung cổ. Nó cũng không có hàm ý gì về các giá trị đạo đức, môi trường hay các giá trị khác của phát triển xã hội. Phát triển xã hội là một phạm trù phân tích trung lập. Lượng định nó là một điều; ca ngợi hay lên án nó lại là một chuyện hoàn toàn khác.
Tôi sẽ bàn luận ở phần sau của chương này về việc lượng định phát triển xã hội sẽ cho chúng ta thấy cần phải giải thích những gì nếu chúng ta muốn trả lời câu hỏi tại sao phương Tây vượt trội; tất nhiên, tôi đề xuất rằng nếu không đưa ra một phương cách để lượng định sự phát triển xã hội, chúng ta sẽ không bao giờ có thể trả lời câu hỏi này. Tuy nhiên, trước tiên chúng ta cần phải thiết lập một số nguyên tắc để định hướng việc lập số liệu.
Tôi nghĩ rằng không gì bằng bắt đầu với Albert Einstein, nhà khoa học đáng kính nhất ở thời hiện đại. Một câu nói được cho là của Einstein: “Trong khoa học, mọi thứ nên đơn giản [như nó vốn có], nhưng không nên đơn giản hơn,”❖ nghĩa là các nhà khoa học nên cô đọng những ý tưởng của mình đến điểm cốt lõi có thể được kiểm chứng qua thực tế, tính toán phương cách đơn giản nhất để thực hiện việc kiểm chứng, sau đó tiến hành công việc – không thêm, cũng không bớt.
Lý thuyết tương đối của Einstein cung cấp một ví dụ nổi tiếng. Thuyết tương đối cho rằng lực hấp dẫn bẻ cong ánh sáng, nghĩa là, nếu lý thuyết này đúng, mỗi lần mặt trời đi qua không gian giữa trái đất và một ngôi sao khác, lực hấp dẫn của mặt trời sẽ uốn cong ánh sáng đến từ ngôi sao đó làm cho ngôi sao hơi có vẻ dịch chuyển vị trí. Điều đó cung cấp một thử nghiệm dễ dàng về lý thuyết – ngoại trừ thực tế là mặt trời quá sáng nên chúng ta không thể nhìn thấy các ngôi sao gần nó. Nhưng vào năm 1919, nhà thiên văn học người Anh Arthur Eddington đã đưa ra một giải pháp thông minh, rất giống với tinh thần câu châm ngôn của Einstein: qua quan sát những ngôi sao gần mặt trời trong thời gian nhật thực, Eddington nhận ra rằng ông có thể tính toán được chúng có dịch chuyển như dự đoán của Einstein hay không. Eddington đến Nam Thái Bình Dương để tiến hành những khảo sát của mình, và tuyên bố rằng lý thuyết của Einstein là đúng. Các cuộc tranh cãi gay gắt đã nổ ra sau đó do sự sai biệt giữa các kết quả ủng hộ và bác bỏ thuyết của Einstein là rất nhỏ, và Eddington vẫn kiên trì tận dụng các công cụ sẵn có trong năm 1919 đến tận giới hạn của chúng; tuy nhiên, dù thuyết tương đối có phức tạp,⦾ các nhà thiên văn học vẫn có thể đồng ý về cách thức cần có để tính toán đồng thời lượng định nó như thế nào. Chỉ đến lúc đó mới xét đến vấn đề liệu phương pháp tính toán của Eddington có đúng hay không. Cho dù có được kinh nghiệm dẫn chứng từ chuyển động tuyệt mỹ của các ngôi sao đến cuộc pháo kích khốc liệt vào pháo đài Định Hải, chúng ta cũng ngay lập tức thấy rằng mọi thứ đều trở nên rối rắm hơn khi phải đối mặt với xã hội loài người. Vậy chúng ta nên tính toán điều gì để ấn định thang điểm cho phát triển xã hội?
Nếu Einstein cung cấp chỉ dấu về mặt lý thuyết cho chúng ta, thì chúng ta có thể chọn một chỉ dấu thực tiễn từ Chỉ số Phát triển Con người của Liên Hiệp Quốc (United Nations Human Development Index), đặc biệt là vì nó có rất nhiều điểm chung với các loại chỉ số sẽ giúp giải đáp câu hỏi của chúng ta. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UN Development Programme) đã đưa ra chỉ số để đánh giá mức độ hiệu quả của mỗi quốc gia trong việc cung cấp cho công dân của mình cơ hội để nhận ra tiềm năng bẩm sinh của họ. Các nhà kinh tế của chương trình khởi đầu bằng cách tự đặt câu hỏi sự phát triển của con người thực sự có ý nghĩa gì, và quy vào ba đặc trưng cốt lõi: tuổi thọ trung bình, trình độ học vấn trung bình (mức độ biết đọc biết viết và số lượng người đến trường) và thu nhập trung bình. Sau đó, họ đặt ra một hệ thống cân bằng phức tạp kết hợp các đặc trưng để cho điểm từng quốc gia giữa điểm 0, nghĩa là không có sự phát triển của con người (trong trường hợp này tất cả mọi người có thể chết) và 1 – tương ứng với sự hoàn hảo, đối với các khả năng xảy ra ở thế giới thực trong từng năm tiến hành điều tra. (Nếu các bạn muốn biết thì trong chỉ số gần đây nhất có sẵn khi tôi viết cuốn sách này, năm 2009, Na Uy đứng đầu, ghi được 0,971 và Sierra Leone đứng cuối bảng, với 0,34012)❖.
Chỉ số này đáp ứng được quy tắc của Einstein do ba đặc trưng có thể đơn giản như những gì Liên Hiệp Quốc đã làm trong khi vẫn nắm bắt được ý nghĩa của sự phát triển con người. Tuy nhiên, có nhiều điều khiến các nhà kinh tế vẫn không chuộng nó. Điều rõ ràng nhất là tuổi thọ, trình độ học vấn và thu nhập không phải là những điều duy nhất chúng ta có thể lượng định được. Chúng chỉ có lợi thế là tương đối dễ xác định và dẫn chứng bằng tài liệu (một số đặc trưng ẩn, như hạnh phúc, sẽ khó khăn hơn), nhưng chắc chắn còn có những điều khác chúng ta có thể khảo sát (như tỉ lệ việc làm, dinh dưỡng hay nhà cửa), có khả năng tạo ra những điểm số khác biệt. Ngay cả những nhà kinh tế học đồng ý rằng các đặc trưng Liên Hiệp Quốc đưa ra là tốt nhất đôi khi cũng tránh kết hợp chúng vào chung một thang điểm phát triển con người duy nhất; họ cho rằng chúng cũng giống như táo và cam, và việc để chúng vào chung một giỏ quả là vô lý. Những nhà kinh tế học khác lại cảm thấy thoải mái với các biến số được lựa chọn và với việc kết hợp chúng, nhưng không theo cách mà các nhà thống kê của Liên Hiệp Quốc cân đo đong đếm từng đặc trưng. Những nhà kinh tế này đã chỉ ra rằng cách chấm điểm này trông có vẻ khách quan, nhưng trong thực tế chúng lại rất chủ quan. Các nhà phê phán khác cũng phản đối ý tưởng cho điểm sự phát triển con người. Họ cho rằng nó tạo ra ấn tượng rằng, người Na Uy đạt đến 97,1% của con đường hướng đến hạnh phúc tối hậu, và hạnh phúc gấp 2,9 lần người dân Sierra Leone – cả hai điều này không chắc đã đúng.
Nhưng bất chấp tất cả những lời chỉ trích, chỉ số phát triển con người đã chứng tỏ là rất hữu ích. Nó giúp các cơ quan cứu trợ định hướng quỹ viện trợ của họ đến các quốc gia nơi họ có thể đáp ứng tốt nhất, và ngay cả những người chỉ trích cũng đồng ý rằng việc đưa ra một chỉ số đơn giản đã thúc đẩy các cuộc tranh luận bằng cách khiến mọi việc trở nên rõ ràng hơn. Một chỉ số phát triển xã hội xuyên suốt 15.000 năm qua cũng vấp phải những vấn đề tương tự như chỉ số của Liên Hiệp Quốc (và một vài chỉ số sau đó), nhưng theo tôi nó cũng tạo ra một số thuận lợi tương tự.
Như những nhà kinh tế học của Liên Hiệp Quốc, chúng ta nên nhắm tới việc tuân theo quy tắc của Einstein. Chỉ số này phải lượng định phạm vi xã hội càng ít càng tốt (để giữ tính đơn giản) trong khi vẫn nắm bắt được các đặc điểm chính của phát triển xã hội như đã định nghĩa ở trên (không làm nó quá đơn giản). Mỗi phạm vi của xã hội mà chúng ta đánh giá phải đáp ứng sáu tiêu chí khá rõ ràng. Thứ nhất, nó phải xác đáng: đó là, nó phải cho chúng ta biết một điều gì đó về sự phát triển xã hội. Thứ hai, nó phải độc lập về mặt văn hóa: chẳng hạn như chúng ta có thể nghĩ rằng chất lượng của văn học và nghệ thuật là những tiêu chuẩn hữu ích cho phát triển xã hội, nhưng những phán xét về những vấn đề này thường chỉ giới hạn ở một nền văn hóa. Thứ ba, các đặc trưng phải độc lập với nhau – ví dụ, nếu xem số người trong một đất nước và số tài sản ở đất nước đó là những đặc trưng, thì chúng ta không nên xem số tài sản trên đầu người là một đặc trưng thứ ba vì nó chỉ là một sản phẩm của hai đặc điểm đầu tiên. Thứ tư, các đặc trưng phải được dẫn chứng đầy đủ. Đây thực sự là một vấn nạn khi chúng ta quán xét lui về hàng nghìn năm, vì chứng cứ có sẵn đã thay đổi quá nhiều. Đặc biệt là trong quá khứ xa xưa, chúng ta không biết gì nhiều về một số đặc trưng hữu ích tiềm tàng. Thứ năm, các đặc trưng phải đáng tin cậy, có nghĩa là các chuyên gia ít nhiều cũng đồng ý về những gì bằng chứng đưa ra. Thứ sáu, các đặc trưng phải thuận tiện. Đây có thể là tiêu chí ít quan trọng nhất, và càng khó kiếm bằng chứng về một điều gì đó hay càng mất nhiều thời gian để tính kết quả, thì đặc trưng đó lại càng ít hữu ích.
Không có điều gì được xem là một đặc trưng hoàn hảo. Mỗi đặc trưng mà chúng ta có thể chọn lựa chắc chắn sẽ thực hiện tốt hơn với một số tiêu chí này so với những tiêu chí khác. Nhưng sau nhiều tháng xem xét các khả năng, tôi đã chọn bốn đặc trưng mà tôi nghĩ là đáp ứng khá tốt ở cả sáu tiêu chí. Chúng không thêm chút gì vào bức tranh tổng thể về xã hội phương Đông và phương Tây hơn những đặc trưng về tuổi thọ, giáo dục, và thu nhập của Liên Hiệp Quốc giúp chúng ta biết về đất nước Na Uy hay Sierra Leone, nhưng lại cho chúng ta một cái nhìn khá rõ về sự phát triển xã hội và cũng chỉ ra những mẫu hình dài hạn cần được giải thích nếu chúng ta muốn biết tại sao phương Tây lại thống lĩnh thế giới.
Đặc trưng đầu tiên mà tôi chọn là hấp thu năng lượng. Nếu không có khả năng khai thác năng lượng từ thực vật và động vật để nuôi những người lính và thủy thủ – những người hầu như không làm nông nghiệp, từ gió và than để vận chuyển tàu chiến đến Trung Hoa, và từ chất nổ nã pháo vào đơn vị đồn trú của Trung Hoa, thì người Anh sẽ không bao giờ tiến được đến Định Hải vào năm 1840 và thổi tung nó thành từng mảnh. Việc hấp thu năng lượng là nền tảng cho sự phát triển xã hội – đến mức vào thập niên 1940, nhà phân loại học Leslie White đã đề xuất tối giản lịch sử loài người bằng một phương trình đơn giản: E × T → C, trong đó E là năng lượng, T là công nghệ và C là văn hóa.❖
Điều này không hoàn toàn thuần vật chất như cách nó diễn đạt. White thực ra không cho rằng việc nhân bội năng lượng bằng công nghệ có thể cho chúng ta biết mọi thứ về Khổng Tử và Plato hay các họa sĩ như bậc thầy hội họa người Hà Lan Rembrandt và họa sĩ phong cảnh người Trung Hoa Phạm Khoan (Fan Kuan). Khi White nói về văn hóa, thật ra ông có ý đề cập đến điều tương tự mà tôi gọi là phát triển xã hội. Nhưng ngay cả như vậy, công thức của ông lại quá đơn giản đối với mục đích của chúng tôi. Để giải thích sự cố Định Hải, chúng ta cần phải tìm hiểu nhiều hơn nữa.
Mọi khả năng chiếm giữ năng lượng trên thế giới cũng sẽ không đưa được hạm đội thuyền chiến Anh đến Định Hải nếu họ không có năng lực tổ chức. Những cận thần của Nữ hoàng Victoria phải có năng lực huy động binh đội, trả tiền và cung cấp quân nhu cho họ, buộc họ tuân thủ mệnh lệnh chỉ huy và thực hiện nhiều nhiệm vụ khó khăn khác. Chúng ta cần phải tính đến năng lực tổ chức này. Đến một mức nào đó thì năng lực tổ chức trùng lặp với ý tưởng cũ của Spencer về tính khác biệt, nhưng vào thập niên 1960 các nhà tân tiến hóa đã học được rằng hầu như không thể lượng định sự khác biệt một cách trực tiếp hay thậm chí xác định nó theo một phương cách thỏa mãn được những nhà phê phán. Chúng ta cần một dạng xử lý dữ liệu, một thứ gì đó liên quan chặt chẽ đến năng lực tổ chức nhưng dễ lượng định hơn.
Thứ mà tôi chọn là đô thị học (quy hoạch đô thị). Điều đó trông có vẻ kỳ quặc; nhưng xét cho cùng thì việc London là một thành phố lớn không trực tiếp phản ánh nguồn lợi tức của Huân tước Melbourne hay cơ cấu chỉ huy của Hải quân Hoàng gia. Tuy nhiên, ngẫm nghĩ lại, tôi hy vọng sự lựa chọn sẽ không mấy kỳ quặc. Cần đến một tổ chức đáng ngạc nhiên để cung ứng cho một thành phố ba triệu người. Phải có ai đó kiếm thức ăn và nước uống, đồng thời xử lý chất thải, cung cấp việc làm, duy trì luật pháp và trật tự, dập tắt các đám cháy, và thực hiện mọi công việc đang diễn ra, ngày này qua ngày khác, ở mọi thành phố lớn.
Hẳn nhiên một số thành phố lớn nhất thế giới ngày nay là những cơn ác mộng bất thường, tràn ngập tội ác, nghèo đói và bệnh tật. Và dĩ nhiên điều đó cũng đúng với hầu hết các thành phố lớn trong lịch sử. Ở thế kỷ I TCN, Rome có đến một triệu cư dân; nó cũng có các băng đảng đường phố đôi khi khiến chính phủ phải ngưng trệ và tử suất cao đến mức mỗi tháng có hơn 1.000 người dân vùng quê bản xứ phải chuyển đến Rome chỉ để bù đắp dân số bị hao hụt. Tuy nhiên, ngoài mọi tình trạng lộn xộn của Rome (được gợi lại một cách xuất sắc trong bộ phim nhiều tập Rome của kênh truyền hình HBO năm 2006), việc tổ chức cần thiết để giữ cho thành phố này vận hành đã vượt xa bất kỳ xã hội nào trước đó về mặt quản lý – cũng như việc điều hành Lagos (11 triệu dân) hoặc Mumbai (19 triệu dân), không kể đến Tokyo (khoảng 35 triệu dân), hẳn phải vượt quá khả năng của Đế quốc La Mã.
Đây là lý do tại sao các nhà khoa học xã hội thường xuyên sử dụng quy hoạch đô thị như một chỉ dẫn chung về năng lực tổ chức. Dù chưa phải là một thước đo hoàn hảo, nhưng nó chắc chắn là một chỉ dẫn chung hữu ích. Trong trường hợp của chúng ta, kích thước của những thành phố lớn nhất trong xã hội có thêm thuận lợi là chúng ta có thể truy theo nó không chỉ trong số liệu thống kê chính thức của mấy trăm năm qua mà còn trong tài liệu khảo cổ học, cho phép chúng ta có được cảm giác gần đúng về các mức độ tổ chức trở lại về Thời đại Băng hà.
Cùng với việc sản sinh năng lượng vật chất và tổ chức nó, người Anh còn phải xử lý và truyền đạt một lượng thông tin khổng lồ. Những nhà khoa học và công nghiệp phải chuyển giao kiến thức một cách chính xác, những nhà chế tạo súng ống, đóng tàu, binh sĩ và thủy thủ lại ngày càng cần phải đọc các chỉ thị, kế hoạch và bản đồ qua văn bản nhiều hơn; thư tín phải được chuyển qua giữa châu Á và châu Âu. Công nghệ thông tin của Anh ở thế kỷ XIX còn thô sơ so với hiện nay (gửi thư riêng từ Quảng Châu đến London phải mất ba tháng, nhưng thông điệp của chính phủ vì một lý do nào đó, mất đến 4 tháng), nhưng thế là đã vượt xa các mức độ ở thế kỷ XVIII, và không cần nói đến thế kỷ XVII. Việc xử lý thông tin rất quan trọng đối với phát triển xã hội, và tôi sử dụng nó như là đặc trưng thứ ba.
Cuối cùng nhưng đáng buồn là không kém phần quan trọng chính là khả năng gây chiến tranh. Dù người Anh có khai thác năng lượng, tổ chức nó và truyền đạt thông tin tốt đến đâu chăng nữa, thì chính khả năng hướng ba đặc trưng này đến sự tàn phá đã dẫn đến tình thế vào năm 1840. Ở Chương 1 tôi có đề cập đến việc Arthur C. Clarke đánh đồng sự tiến hóa với kỹ năng giết người trong cuốn tiểu thuyết viễn tưởng kinh điển 2001: Chuyến du hành không gian của ông, nhưng một chỉ số phát triển xã hội mà không tính đến sức mạnh quân sự thì sẽ không có tác dụng gì cả. Như Mao Trạch Đông từng nói: “Chúng ta đều phải nắm lấy chân lý này: Quyền lực chính trị sinh ra từ nòng súng.”❖ Trước thập niên 1840, không một xã hội nào có thể phóng chiếu sức mạnh quân sự trên khắp hành tinh này, và việc đặt câu hỏi ai là người thống lĩnh thế giới quả là khập khiễng. Tuy nhiên, sau thập niên 1840 thì nó lại trở thành câu hỏi quan trọng nhất trên thế giới.
Cũng như với chỉ số phát triển con người của Liên Hiệp Quốc, không một trọng tài nào có thể cho rằng những đặc trưng này, thay vì một số bộ đặc trưng khác, là phương cách tối hậu để đánh giá phát triển xã hội, và cũng như chỉ số của Liên Hiệp Quốc, bất kỳ thay đổi nào đối với các đặc trưng cũng sẽ làm thay đổi điểm số. Dầu vậy, có một tin tốt lành là không một đặc trưng thay thế nào mà tôi đã xem xét trong vài năm qua làm thay đổi nhiều về điểm số và cũng không có đặc trưng nào khiến mẫu hình tổng thể phải thay đổi.⦾
Nếu Eddington là một họa sĩ, hẳn ông đã là một Họa sĩ Bậc thầy tiêu biểu cho thế giới ở mức độ mọi nỗi buồn đều được vẽ ra một cách chi tiết. Nhưng việc tạo ra một chỉ số phát triển xã hội lại khá giống nghệ thuật cưa xẻ với việc chạm khắc những con gấu xám từ thân cây. Mức độ thô ráp và tính sẵn sàng này chắc hẳn sẽ làm tóc của Einstein chóng bạc hơn, nhưng những vấn đề khác nhau cũng đòi hỏi những sai biệt khác nhau. Đối với nghệ sĩ theo nghệ thuật cưa xẻ, vấn đề quan trọng duy nhất là liệu thân cây có hình dạng tương tự con gấu không còn đối với các nhà sử học đối sánh thì liệu các chỉ số có cho thấy dạng hình tổng thể của lịch sử phát triển xã hội hay không. Tất nhiên đây là những gì mà các sử gia phải tự phán đoán, đồng thời so sánh các mẫu hình thông qua chỉ số hiển thị với các chi tiết của tài liệu lịch sử.
Việc thuyết phục các sử gia làm theo điều này thực ra có thể là sự giúp ích hữu hiệu nhất mà một chỉ số có thể thực hiện. Có rất nhiều phạm vi cho tranh luận: những đặc trưng khác nhau và cách phân chia điểm số khác nhau có thể vận hành tốt hơn. Nhưng việc đặt những con số lên bàn cân buộc chúng ta phải tập trung vào những sai sót có thể xảy đến và làm thế nào để chỉnh sửa chúng. Điều này không hẳn thuộc ngành vật lý thiên văn, nhưng chính là một sự khởi đầu.
Lượng định như thế nào?
Bây giờ là lúc để đề cập đến những con số. Việc tìm kiếm số liệu của các quốc gia trên thế giới năm 2000 cũng dễ (vì đó là một con số tròn nên tôi dùng thời gian này làm điểm kết thúc cho thước đo). Những chương trình khác của Liên Hiệp Quốc ấn hành các tài liệu thống kê hằng năm cho thấy rằng bình quân người Mỹ tiêu thụ 83,2 triệu kcal năng lượng/năm, so với 38 triệu đối với bình quân đầu người Nhật Bản; 79,1% người Mỹ sống ở các thành phố, so với 66% người Nhật Bản; có 375 máy chủ Internet/1.000 người Mỹ nhưng chỉ có 73 máy chủ/1.000 người Nhật Bản; đại loại như vậy. Tạp chí thường niên Military Balance của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế cũng chỉ ra, cho đến thời điểm này, mỗi nước có bao nhiêu lực lượng quân đội và vũ khí, năng lực và chi phí cho chúng. Chúng ta đang đắm chìm vào những con số. Dù vậy, chúng không thêm gì vào một chỉ số so sánh, chỉ đến khi chúng ta quyết định làm thế nào để tổ chức sắp xếp chúng.
Gắn kết với chương trình càng-đơn-giản-càng-tốt, tôi cho 1.000 điểm là điểm số phát triển xã hội tối đa có thể đạt được trong năm 2000 và chia đều số điểm này cho bốn đặc trưng của mình. Khi Raoul Naroll công bố chỉ số phát triển xã hội đầu tiên vào năm 1956, ông cũng cho ba đặc trưng của mình thang điểm ngang nhau, như ông đã nói: “Vì không có lý do rõ ràng nào để đặt nặng một đặc trưng này hơn đặc trưng khác.”❖ Điều này nghe như một ý kiến vô vọng, nhưng thực ra lại có một lý do hợp lý để đánh giá các đặc trưng như nhau: ngay cả khi tôi nghĩ đến những lý do để đặt nặng một đặc trưng trong tính toán phát triển xã hội, thì cũng không có căn cứ để cho rằng những tính toán tương tự cũng đúng trong suốt hơn 15.000 năm được xem xét hay áp dụng đồng đều cho cả phương Đông lẫn phương Tây.
Sau khi đặt ra điểm số tối đa là 250 điểm cho mỗi đặc trưng trong năm 2000, chúng tôi đi đến phần khó khăn nhất là quyết định cho điểm phương Đông và phương Tây như thế nào ở từng giai đoạn lịch sử của chúng. Tôi sẽ không thực hiện tính toán theo từng bước (tôi tóm tắt các dữ liệu và một số yếu tố phức tạp ở phần phụ lục cuối cuốn sách này, đồng thời đăng một tài khoản trực tuyến đầy đủ hơn), nhưng nó có thể hữu ích để giúp có một cái nhìn tóm lược trong chuyện bếp núc, như nó đã từng, và giải thích quy trình đầy đủ hơn. (Tất nhiên nếu không nghĩ vậy, bạn có thể nhảy qua phần tiếp theo.)
Quy hoạch đô thị có lẽ là đặc trưng đơn giản nhất dù chắc chắn cũng có những thách thức nhất định. Đầu tiên là về mặt định nghĩa: Chúng ta xem quy hoạch đô thị là gì? Một số nhà khoa học xã hội định nghĩa quy hoạch đô thị là tỉ lệ dân số sống ở các khu định cư trên một quy mô nhất định (10.000 người chẳng hạn); số khác xem đó là sự phân bố người dân qua một số cấp độ các khu định cư, từ thành phố xuống đến thôn ấp; những người khác còn xem nó là quy mô bình quân của cộng đồng trong phạm vi một quốc gia. Tất cả đều là những phương cách tiếp cận hữu ích, nhưng khó để chúng ta áp dụng trong toàn bộ giai đoạn quan sát vì bản chất của các chứng cứ vẫn thay đổi. Tôi quyết định áp dụng một phạm vi đơn giản hơn: kích thước của khu định cư lớn nhất được biết đến ở phương Đông và phương Tây ở từng thời điểm.
Việc chú trọng đến quy mô thành phố lớn nhất cũng không thể gạt bỏ các vấn đề về định nghĩa, vì chúng ta vẫn phải quyết định làm thế nào để xác định những lằn ranh của các thành phố và kết hợp các loại chứng cứ khác nhau về những nhóm đô thị. Dù vậy, nó cũng giảm trừ được những bất quyết xuống mức tối thiểu. Khi thử nghiệm với những con số, tôi thấy rằng việc kết hợp quy mô các thành phố lớn với các tiêu chí khác, chẳng hạn như những dự đoán tốt nhất về sự phân phối con người giữa thành phố và làng xã hay về quy mô bình quân của các thành phố, đã làm gia tăng những khó khăn trong công việc nhưng hầu như toàn bộ điểm số không hề thay đổi; do những phương pháp đo lường phức tạp hơn đại khái cũng tạo ra những kết quả tương tự nhưng lại nảy sinh quá nhiều dự đoán, nên tôi quyết định gắn bó với các quy mô thành phố đơn giản.
Vào năm 2000, hầu hết các nhà địa lý xếp hạng Tokyo là thành phố lớn nhất thế giới, với khoảng 26,7 triệu cư dân.⦾ Do đó, Tokyo đạt 250 điểm theo phân bổ cho tổ chức/quy hoạch đô thị, nghĩa là theo mọi tính toán thì cứ 106.800 người (lấy 26,7 triệu chia cho 250 điểm) được tính 1 điểm. Thành phố phương Tây lớn nhất vào năm 2000 là New York với 16,7 triệu người, ghi được 156,37 điểm. Dữ liệu từ 100 năm trước không minh bạch, nhưng tất cả các sử gia đều đồng ý rằng những thành phố này nhỏ hơn nhiều. Ở phương Tây, London có khoảng 6,6 triệu người (ghi 61,80 điểm) vào năm 1900, trong khi ở phương Đông thì Tokyo vẫn là thành phố lớn nhất, nhưng chỉ với 1,75 triệu người, đạt 16,39 điểm. Lùi trở lại vào thời điểm năm 1800, các sử gia phải kết hợp nhiều bằng chứng khác nhau, bao gồm những tài liệu về cung cấp thực phẩm và đóng thuế, diện tích vật lý của các thành phố, mật độ nhà ở và các tư liệu mang tính giai thoại, nhưng hầu hết đều kết luận rằng Bắc Kinh là thành phố lớn nhất thế giới, với khoảng 1,1 triệu dân (10,30 điểm). Thành phố lớn nhất của phương Tây vẫn là London, với khoảng 861.000 người (8,06 điểm).
Chúng ta càng lùi thời điểm thì phạm vi sai sót càng lớn, nhưng nếu tính trong phạm vi 1.000 năm cho đến năm 1700 thì những thành phố lớn nhất rõ ràng vẫn là của Trung Hoa (theo sau thường là các thành phố của Nhật Bản). Đầu tiên là Trường An, Khai Phong kế đó, và Hàng Châu (Hangzhou) sau này đã tiệm cận hoặc vượt qua số lượng một triệu cư dân (khoảng 9 điểm) khoảng giữa năm 800 và 1200. Ngược lại, các thành phố phương Tây không bao giờ đạt quá một nửa kích thước đó. Một vài thế kỷ trước đó tình trạng lại đảo ngược: ở thế kỷ I TCN, một triệu cư dân của thành phố Rome khiến nó trở thành thủ phủ của thế giới, trong khi đó Trường An ở Trung Hoa mới chỉ có 500.000 người.
Khi chúng ta trở lại thời tiền sử, bằng chứng tất nhiên mờ nhạt hơn và số lượng dân cư cũng ít hơn, nhưng kết hợp các cuộc điều tra khảo cổ học có hệ thống và khai quật chi tiết ở các khu vực nhỏ hơn vẫn cho chúng ta một cảm giác hợp lý về quy mô các thành phố. Như tôi đã đề cập trước đó thì việc này rất giống nghệ thuật cưa xẻ. Những ước tính được chấp nhận rộng rãi nhất có thể giảm 10% chứ không thể cho nhiều điểm số hơn; và do chúng tôi đang áp dụng cùng một phương pháp lượng định cho các địa điểm ở phương Đông và phương Tây nên những phương hướng mở rộng khá tin cậy. Với hệ thống này, để đạt được 1 điểm đòi hỏi phải có 106.800 người, do đó hơn 1.000 người sẽ ghi được 0,01 điểm, con số nhỏ nhất mà tôi cảm thấy đáng để đưa vào chỉ số so sánh. Như chúng ta đã thấy ở Chương 2, những ngôi làng lớn nhất ở phương Tây đã đạt đến mức độ này ở giai đoạn khoảng năm 7500 TCN và ở phương Đông là khoảng năm 3500 TCN. Trước những cột mốc này, phương Tây cũng như phương Đông đều có cùng điểm 0 (các bạn có thể xem các bảng tính điểm ở phần phụ lục).
Có lẽ cũng đáng dành chút thời gian để nói về sự hấp thu năng lượng, vì nó đặt ra những vấn đề rất khác. Cách đơn giản nhất khi nghĩ đến việc hấp thu năng lượng là về mặt tiêu thụ năng lượng/người, được tính bằng kcal/ngày. Theo tiến trình tương tự như với quy hoạch đô thị, tôi cũng khởi đầu với năm 2000, khi người Mỹ bình quân đốt khoảng 228.000 kcal mỗi ngày. Con số đó, chắc hẳn là cao nhất trong lịch sử, xứng đáng để phương Tây nhận trọn vẹn 250 điểm (như đã trình bày trước đó ở chương này, tôi không quan tâm đến việc suy xét khả năng hấp thu năng lượng, xây dựng thành phố, thông tin truyền thông và gây chiến, mà chỉ đánh giá chúng). Mức tiêu thụ cao nhất trên đầu người ở phương Đông vào năm 2000 là ở Nhật Bản, với 104.000 kcal/ ngày, đạt 113,89 điểm.
Các số liệu thống kê chính thức về năng lượng chỉ xuất hiện khoảng đầu thế kỷ XX ở phương Đông và đầu thế kỷ XIX ở phương Tây, nhưng may là có nhiều cách để khảo sát nó. Cơ thể con người có một số nhu cầu sinh lý cơ bản. Nó sẽ không vận hành bình thường nếu không thu nạp khoảng 2.000 kcal thực phẩm mỗi ngày (nhiều hơn nếu bạn cao và/hoặc vận động nhiều, ít hơn nếu không thế; mức bình quân 3.460 kcal thức ăn mỗi ngày ở người Mỹ hiện nay, phản ánh qua cạp quần ngoại cỡ, lại vượt quá mức cần thiết). Nếu bạn nạp vào ở mức thấp hơn nhiều so với 2.000 kcal mỗi ngày, cơ thể của bạn sẽ dần dần giảm sút các chức năng – sức mạnh, thị giác, thính giác, v.v. cho đến khi bạn nhắm mắt xuôi tay. Mức tiêu thụ thực phẩm trung bình không bao giờ có thể dưới 2.000 kcal/người/ngày trong thời gian dài, khiến điểm số khả dĩ thấp nhất có thể xuống còn khoảng 2 điểm.
Tuy nhiên, trên thực tế điểm số thấp nhất luôn trên 2 điểm, vì con người tiêu thụ năng lượng phần lớn ở dạng phi thực phẩm. Như đã thấy ở Chương 1, Homo erectus ở Chu Khẩu Điếm có thể đã đốt củi để nấu ăn cách đây nửa triệu năm, và người Neanderthal hẳn nhiên cũng làm thế cách đây 100.000 năm, cũng như dùng da thú để che thân. Do biết rất ít về lối sống của người Neanderthal nên phỏng đoán của chúng ta không thể chính xác được, nhưng bằng cách khai thác các nguồn năng lượng phi lương thực, người Neanderthal hoàn toàn có thể chiếm dụng thêm trung bình hơn 1.000 kcal/ngày để đạt được khoảng 3,25 điểm. Con người hoàn toàn hiện đại nấu nướng nhiều hơn người Neanderthal, mặc nhiều quần áo hơn, và cũng đã làm nhà từ gỗ, lá, xương voi mammoth và da thú – tất cả lại đều sống bám vào năng lượng hóa học mà thảo mộc đã tạo ra từ năng lượng điện từ mặt trời. Ngay cả những xã hội săn bắt-hái lượm ở thế kỷ XX có kỹ thuật giản đơn nhất cũng thu nạp được ít nhất 3.500 calo mỗi ngày từ các nguồn thực phẩm và phi thực phẩm kết hợp lại. Với thời tiết lạnh lẽo hơn, tổ tiên xa xôi của họ ở cuối Thời đại Băng hà bình quân phải đạt được 4.000 kcal/ngày, hay tối thiểu là 4,25 điểm.
Tôi ngờ rằng bất kỳ nhà khảo cổ nào cũng sẽ chỉ trích nhiều về những đánh giá này, nhưng có một khoảng cách rất lớn giữa điểm số 4,25 dành cho những thợ săn ở giữa Thời đại Băng hà và điểm số 250 cho một phương Tây vốn dĩ ngốn nhiều xăng dầu và điện năng. Điều gì đã xảy ra ở khoảng giữa đó? Bằng việc góp chung kiến thức của mình, những nhà khảo cổ học, sử học, nhận học và sinh thái học có thể cho chúng ta một ý tưởng khá hay.
Trở lại năm 1971, ban biên tập của Tạp chí Scientific American đã mời nhà nghiên cứu địa chất Earl Cook đóng góp một tiểu luận có tiêu đề Dòng Năng lượng trong một xã hội công nghiệp. Trong tiểu luận này ông có kèm theo một biểu đồ, sau đó được in lại nhiều lần, thể hiện những dự đoán tốt nhất về mức tiêu thụ năng lượng tính trên đầu người của người săn bắt-hái lượm, những người làm nông nghiệp sớm (ông muốn nói đến những nông dân ở vùng tây nam châu Á ở khoảng năm 5000 TCN), của những nông dân đã tiến bộ (ở vùng tây bắc châu Âu khoảng năm 1400), và của người dân công nghiệp (người Tây Âu khoảng năm 1860), và các xã hội công nghệ cuối thế kỷ XX. Ông chia thang điểm thành bốn phạm trù: thực phẩm (bao gồm thức ăn cho gia súc để giết thịt), nhà ở và thương mại, công nghiệp và nông nghiệp, và vận tải (Hình 3.1).
Đến nay đã gần 40 năm và ước tính của Cook vẫn còn khá chính xác khi so với những kết quả thu được từ các nhà sử học, nhân học, khảo cổ học và kinh tế học.⦾ Dĩ nhiên chúng chỉ cung cấp một điểm bắt đầu, nhưng chúng ta có thể sử dụng những chứng cứ chi tiết còn sót lại ở từng giai đoạn lịch sử phương Đông và phương Tây để biết được các xã hội thực tế đã chệch khỏi những thông số này bao xa. Đôi khi chúng ta có thể rút ra những chứng cứ qua văn bản, nhưng trong hầu hết những thời kỳ cho đến vài trăm năm gần đây, những hiện vật khảo cổ học – xương người và động vật, nhà ở, dụng cụ nông nghiệp, vết tích thêm đất và tưới tiêu, tàn tích các xưởng thủ công và hàng hóa trao đổi, xe bò, tàu thuyền và những con đường vận chuyển – thậm chí còn quan trọng hơn.
Đôi khi sự giúp đỡ đến từ những hướng đáng ngạc nhiên. Các lõi băng được khắc họa ở các Chương 1 và 2 cũng chỉ ra ô nhiễm không khí đã tăng gấp bảy lần trong vài thế kỷ TCN, chủ yếu là do người La Mã khai thác mỏ ở Tây Ban Nha, và trong 10 năm qua, những nghiên cứu trầm tích từ những bãi và hồ than bùn đã khẳng định hình ảnh này. Vào thế kỷ I, người châu Âu dường như sản xuất đồng và bạc gấp 9, 10 lần so với ở thế kỷ XIII, với tất cả những nhu cầu nảy sinh về năng lượng – con người khai mỏ và gia súc vận chuyển xỉ quặng; nhiều người và gia súc hơn để xây dựng đường sá và bến cảng, xếp dỡ và vận chuyển kim loại đến các thành phố; cối xay nước để nghiền quặng; và trên tất cả là gỗ, như gỗ làm cột chống trong các hầm mỏ và làm nhiên liệu cho các xưởng rèn. Nguồn bằng chứng độc lập này cũng giúp chúng tôi so sánh những mức độ hoạt động công nghiệp ở các thời kỳ khác nhau. Đến thế kỷ XI – khi các tài liệu của Trung Hoa thể hiện rằng nhu cầu thường xuyên của thợ sắt đã làm trơ trụi các ngọn núi xung quanh phủ Khai Phong nên khi cây cối bị tàn phá thì than đá, lần đầu tiên trong lịch sử, trở thành nguồn năng lượng quan trọng – thì nạn ô nhiễm trở về những mức độ ở thời kỳ Đế quốc La Mã, và chỉ những ống khói phun mù mịt của các nhà máy điện ở Anh thế kỷ XIX mới đẩy tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng vượt quá mức độ thời kỳ Đế quốc La Mã.
Một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đang tiến hành nghệ thuật cưa xẻ. Chẳng hạn, tôi ước tính mức thu nạp năng lượng tính trên đầu người ở đỉnh cao Đế quốc La Mã vào thế kỷ I là khoảng 31.000 kcal mỗi ngày. Con số này cao hơn dự đoán của Cook với 26.000 calo cho các xã hội nông nghiệp tiến bộ, nhưng khảo cổ học rõ ràng cho thấy người La Mã ăn nhiều thịt hơn, xây dựng nhiều thành phố hơn, và sử dụng tàu buôn lớn hơn và nhiều hơn (và nhiều thứ nữa) so với những gì người châu Âu lặp lại cho đến thế kỷ XVIII. Điều đó nói lên rằng việc thu nạp năng lượng của người La Mã chắc chắn có thể cao hoặc thấp hơn 5% so với ước tính của tôi. Tuy nhiên, vì những lý do tôi nêu ra ở phần phụ lục, có thể nó không cao hoặc thấp hơn 10% và chắc chắn không thể đến 20%. Khung điểm của Cook và các chứng cứ chi tiết giúp hạn chế những ước tính khá chặt, và như với điểm số đô thị, việc một người cùng thực hiện dự đoán ở mọi trường hợp, áp dụng cùng các nguyên tắc giống nhau thì có nghĩa là các sai sót tối thiểu cũng nhất quán.

Hình 3.1. Chuỗi năng lượng Lớn tính theo các con số: những ước tính của Earl Cook về hấp thu năng lượng của mỗi người/ngày, từ thời kỳ Homo habilis đến thập niên 1970 ở Mỹ.
Công nghệ thông tin và chiến tranh cũng làm gia tăng những khó khăn cho chính các đô thị, như tôi đề cập ngắn gọn trong phần phụ lục và đầy đủ hơn trên trang web của tôi, nhưng những nguyên tắc tương tự cũng áp dụng như với quy hoạch đô thị và việc thu nạp năng lượng, và có lẽ cũng có cùng độ dung sai. Vì những lý do tôi đưa ra ở phần phụ lục, điểm số cần phải bị sai lệch một cách có hệ thống, khoảng 15 hoặc thậm chí 20% để tạo một khác biệt thực sự cho mẫu hình phát triển xã hội cơ bản, nhưng những sai số lớn như vậy dường như không tương thích với các chứng cứ lịch sử. Tuy nhiên, cuối cùng thì cách duy nhất để biết chắc chắn là chỉ dành cho các nhà sử học khác, những người có lẽ sẽ thích những đặc trưng khác và cho điểm theo những cách khác để đề xuất những tính toán của riêng họ.
Năm mươi năm trước, triết gia Karl Popper đã cho rằng tiến bộ trong khoa học là vấn đề phỏng định và bác bỏ,❖ theo một quy trình zigzag như khi một nhà nghiên cứu ném ra một ý tưởng và những người khác tranh nhau bác bỏ nó, và trong quá trình đó các ý tưởng tốt hơn sẽ được nghĩ ra. Tôi nghĩ điều này cũng áp dụng cho lịch sử. Tôi tin rằng bất kỳ chỉ số so sánh nào tiệm cận với chứng cứ thì dù ít dù nhiều cũng sẽ tạo ra mẫu hình như của tôi, nhưng nếu tôi sai, và nếu những người khác tìm thấy sự kết hợp này theo mong muốn, thì hy vọng thất bại của tôi sẽ động viên họ phát hiện những câu trả lời tốt hơn. Xin được trích dẫn Einstein một lần nữa: “Không thể có số phận tốt hơn cho bất kỳ lý thuyết nào… thay vì thế nó nên chỉ ra một lý thuyết toàn diện hơn để dựa vào.”❖
Nơi chốn và thời gian lượng định?
Có hai vấn đề kỹ thuật cuối cùng. Thứ nhất, chúng ta có nên tính toán điểm số thường xuyên không? Nếu muốn, chúng ta có thể dõi theo những thay đổi trong phát triển xã hội từng năm hay thậm chí là từng tháng kể từ những năm 1950. Dẫu vậy, có nhiều điểm tôi vẫn còn nghi ngờ. Rốt cùng, chúng tôi muốn nhìn thấy toàn bộ dạng hình của lịch sử qua các thời kỳ dài, và vì điều đó – như tôi mong sẽ trình bày tiếp theo – việc chọn xung động phát triển xã hội mỗi thế kỷ một lần xem ra cũng cung cấp đầy đủ chi tiết.
Tuy nhiên, khi chúng ta lui về cuối Thời đại Băng hà thì việc kiểm tra phát triển xã hội dựa trên một cơ sở từng thế kỷ lại vừa không khả thi vừa không thỏa mãn. Chúng ta không thể chỉ ra sự khác biệt giữa những gì đang diễn ra ở thời điểm năm 14000 TCN với tình trạng ở năm 13900 TCN (hay năm 13800 TCN về vấn đề đó), một phần là do không có đủ chứng cứ rõ ràng và một phần do sự thay đổi diễn ra rất chậm chạp. Do đó tôi dùng một thang đối chiếu. Giai đoạn năm 14000-4000 TCN, tôi tính toán phát triển xã hội theo đơn vị 1.000 năm. Giai đoạn năm 4.000-2500 TCN, do chất lượng chứng cứ có cải thiện và sự thay đổi tiến triển nhanh hơn nên tôi tính theo đơn vị 500 năm, rồi giảm xuống 250 năm một lần ở giai đoạn năm 2500-1500 TCN, và cuối cùng tính toán theo từng thế kỷ kể từ năm 1400 TCN cho đến năm 2000.
Việc đối chiếu này cũng có những rủi ro, rõ ràng nhất là thời gian càng lùi xa thì sự thay đổi sẽ trông càng êm ả và chậm chạp hơn. Với cách tính toán điểm số cứ mỗi 1.000 hay 500 năm một lần, chúng ta có thể bỏ lỡ nhiều điều thú vị. Tuy nhiên, có một sự thật khó khăn là thi thoảng chúng ta mới xác định được niên đại thông tin chính xác hơn những phạm vi tôi đưa ra. Tôi không muốn loại bỏ vấn đề này ra khỏi tầm tay, và sẽ cố gắng kể lại ở các Chương từ 4 đến 10 để lấp đầy khoảng trống càng nhiều càng tốt, nhưng đối với tôi, khuôn khổ sử dụng ở đây có vẻ như đáp ứng được sự cân bằng tốt nhất giữa tính thực tiễn và độ chính xác.
Một vấn đề khác là căn cứ vào nơi chốn nào để đo lường. Bạn hẳn sẽ bị bất ngờ khi đọc phần cuối cùng bởi sự lúng túng của tôi về phần nào của thế giới mà tôi đã đề cập khi tôi tạo ra các những tính toán cho phương Tây và phương Đông. Tôi đã nêu một số điểm về nước Mỹ và nước Anh, đôi khi lại về Trung Hoa và có khi về Nhật Bản. Trở lại Chương 1, tôi đã mô tả những than phiền của nhà sử học Kenneth Pomeranz về cách các nhà sử học đối sánh thường bóp méo việc phân tích lý do tại sao phương Tây vượt trội, cách so sánh cẩu thả nước Anh nhỏ bé với Trung Hoa khổng lồ rồi cho rằng phương Tây đã dẫn trước phương Đông vào năm 1750. Ông cho rằng chúng ta phải so sánh các đơn vị có kích cỡ như nhau. Tôi đã dành các Chương 1 và 2 để hưởng ứng suy nghĩ trên bằng cách xác định rõ ràng phương Tây và phương Đông như các xã hội có nguồn gốc từ các cuộc cải cách nông nghiệp phương Tây và phương Đông đầu tiên ở vùng Hilly Flanks và vùng thung lũng Hoàng Hà và Dương Tử; bây giờ là lúc để thừa nhận rằng điều đó chỉ giải quyết một phần của vấn đề Pomeranz nêu ra. Trong Chương 2, tôi mô tả sự mở rộng ngoạn mục các khu vực phía Tây và phía Đông trong 5.000 năm hay những năm sau khi khởi đầu việc canh tác và những khác biệt trong phát triển xã hội thường tồn tại giữa các vùng lõi như vùng Hilly Flanks hay thung lũng sông Dương Tử và các vùng ngoại biên như Bắc Âu hay Triều Tiên; vậy chúng ta nên tập trung vào phần nào của phương Đông và phương Tây khi đưa ra thang điểm cho chỉ số phát triển xã hội?
Chúng ta thử quan sát tổng thể các vùng ở phương Đông và phương Tây, mặc dù điều đó có nghĩa là thang điểm của năm 1900 sẽ gói chung các nhà máy nhả khói và súng máy của một nước Anh công nghiệp hóa với những nông nô ở Nga, nô lệ ở Mexico, chủ trang trại ở Australia và các nhóm dân cư khác ở mọi ngóc ngách của một vùng phía Tây rộng lớn. Sau đó, chúng ta phải đặt ra một thang điểm phát triển trung bình cho toàn bộ khu vực phương Tây, rồi lặp lại quy trình độ cho phương Đông, và quy trình này lại được tiến hành cho từng điểm trước đó trong lịch sử. Điều này sẽ trở nên quá phức tạp và không thực tế, và dù sao tôi vẫn cho rằng điều này cũng vô ích. Khi giải thích lý do tại sao phương Tây vượt trội, thông tin quan trọng nhất lại đến từ việc đối chiếu những khu vực phát triển cao nhất của từng vùng, các vùng lõi được gắn kết do những tương tác về mặt chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đậm đặc nhất. Chỉ số phát triển xã hội nhất thiết phải đo lường và so sánh sự thay đổi trong phạm vi các vùng lõi này.
Dù vậy, như chúng ta sẽ thấy ở Chương 4 đến Chương 10, những vùng lõi này cũng tự chuyển biến và thay đổi theo thời gian. Về mặt địa lý, vùng lõi của phương Tây thực sự rất ổn định từ năm 11000 TCN đến khoảng năm 1400, vẫn duy trì đến vùng cực đông Địa Trung Hải, ngoại trừ 500 năm, từ năm 250 TCN đến năm 250, khi Đế quốc La Mã bành trướng về hướng tây bao gồm cả Italy; nếu không, nó vẫn nằm trong phạm vi một khu vực tam giác hình thành từ những vùng bây giờ gồm các nước Iraq, Ai Cập, và Hy Lạp. Kể từ năm 1400, nó di chuyển không ngừng về phía bắc và phía tây, đầu tiên đến miền Bắc Italy, sau đó đến Tây Ban Nha và Pháp, rồi mở rộng để bao gồm cả Anh, Bỉ, Hà Lan, và Đức. Đến năm 1900, nó dao động ở hai bờ Đại Tây Dương và đến năm 2000 đã cắm rễ vững vàng ở Bắc Mỹ. Ở phía Đông, vùng lõi vẫn nằm trong khu vực Hoàng Hà-Dương Tử lúc ban đầu cho đến năm 1800, mặc dù trọng tâm của nó đã chuyển dịch, phía bắc đến vùng bình nguyên trung tâm Hoàng Hà khoảng sau năm 4000 TCN, phía nam đến lưu vực sông Dương Tử sau năm 500, rồi dần chuyển về phía bắc một lần nữa sau năm 1400. Nó đã phát triển để tính cả Nhật Bản vào năm 1900 và đông nam Trung Hoa vào năm 2000 (Hình 3.2). Bây giờ tôi chỉ muốn lưu ý rằng mọi thang điểm phát triển xã hội đều phản ánh các xã hội trong phạm vi các vùng lõi này; còn lý do tại sao các vùng lõi chuyển dịch sẽ là một trong những mối quan tâm chính của chúng tôi ở các Chương từ 4 đến 10.
Mẫu hình quá khứ?
Có quá nhiều quy tắc cho thang điểm này, và bây giờ là một số kết quả. Hình 3.3 thể hiện thang điểm trong suốt 16.000 năm qua, kể từ khi vạn vật bắt đầu ấm dần vào cuối Thời đại Băng hà.

Hình 3.2. Sự chuyển đổi các trung tâm quyền lực: việc dịch chuyển lúc chậm, lúc nhanh của vùng lõi phát triển cao nhất trong phạm vi truyền thống phương Tây và phương Đông kể từ khi kết thúc Thời đại Băng hà.

Hình 3.3. Điểm số duy trì: Phát triển xã hội phương Đông và phương Tây kể từ khoảng năm 14000 TCN.
Chúng ta thấy gì ở đồ thị này? Thành thật mà nói thì đúng là không nhiều, trừ khi tầm nhìn của bạn tốt hơn tôi rất nhiều. Các vạch Đông và Tây chạy gần sát nhau đến nỗi khó có thể phân biệt được, và chúng hầu như không rời khỏi đáy của đô thị mãi cho đến năm 2000 TCN. Ngay cả sau đó vẻ như cũng không có biến chuyển gì, mãi đến cách đây vài thế kỷ, đột nhiên cả hai tuyến thay đổi gần 90° theo hướng thẳng lên.
Nhưng đồ thị trông có vẻ chán ngắt này thực ra lại cho chúng ta biết hai điều rất quan trọng. Đầu tiên, phát triển xã hội ở phương Đông và phương Tây không khác biệt gì lắm; ở góc độ chúng ta đang quan sát, thật khó để nói chúng tách biệt nhau qua hầu hết chiều dài lịch sử. Thứ hai, có một điều gì đó sâu sắc đã xảy đến trong vài thế kỷ qua mà cho đến nay vẫn là một chuyển biến nhanh nhất và lớn nhất trong lịch sử.
Để có thêm thông tin, chúng ta cần quan sát thang điểm theo một cách khác. Vấn đề ở Hình 3.3 là chuyển động hướng lên của các đường đồ thị của phương Đông và phương Tây ở thế kỷ XX gây ấn tượng đến mức để có tỉ lệ trên trục tung đủ cao để tính thang điểm vào năm 2000 (906,38 ở phương Tây và 565,44 ở phương Đông) thì chúng ta phải ép thang điểm thấp hơn nhiều trong các thời kỳ trước đó đến mức chúng hầu như không thể nhìn thấy được bằng mắt thường. Vấn đề này tác động đến mọi đồ thị thể hiện các mẫu hình diễn tả sự tăng trưởng đang tăng tốc, làm nhân bội những gì đã thực hiện trước đó thay vì chỉ đơn giản cộng thêm vào nó. May mắn thay, đã có một phương cách thuận tiện để giải quyết vấn đề này.
Hãy tưởng tượng rằng tôi muốn một tách cà phê nhưng không có tiền. Tôi mượn một đô-la từ nhân vật Tony Soprano trong phim The Sopranos (cũng hãy tưởng tượng rằng câu chuyện này được dựng lên trong thời kỳ một đô-la vẫn mua được một tách cà phê). Dĩ nhiên ông ta là bạn của tôi nên sẽ không tính lãi nếu trong vòng một tuần tôi trả lại tiền. Tuy nhiên, nếu tôi trễ hạn, món nợ của tôi sẽ tăng gấp đôi cứ mỗi bảy ngày. Không cần phải nói, nếu tôi không xuất hiện khi đến hẹn thanh toán, thì tôi phải nợ ông ta hai đô-la. Do không có đủ khôn ngoan về mặt tài chính, tôi để một tuần nữa trôi qua, vì vậy tôi nợ bốn đô-la; rồi lại thêm một tuần nữa. Bây giờ, ông ta ghi nợ cho tôi tám đô-la. Thế là tôi phải chuồn khỏi thành phố để quên đi món nợ của mình.
Hình 3.4 cho thấy những gì xảy ra với món nợ của tôi. Cũng giống như Hình 3.3, trong một thời gian dài không thấy có thay đổi lắm. Dòng biểu đồ lãi suất chỉ có thể nhìn thấy được khoảng tuần thứ 14 – vào thời điểm đó tôi đã vướng một món nợ đáng kinh ngạc: 8.192 đô-la. Vào tuần thứ 16, khi món nợ của tôi đã tăng lên 32.768 đô-la thì dòng đường biểu đồ cuối cùng cũng thoát đáy. Đến tuần thứ 24, khi những kẻ cướp truy tìm tôi thì tôi đã nợ đến 8.260.608 đô-la. Đó quả là một tách cà phê cực đắt.
Tất nhiên, theo tiêu chuẩn này mức tăng nợ của tôi trong vài tuần đầu tiên – từ 1, 2, 4 rồi đến 8 đô-la – thực sự nhỏ nhoi. Nhưng hãy tưởng tượng rằng tôi phải chạm mặt một trong số những thuộc hạ của kẻ cho vay cắt cổ này khoảng một tháng sau khi uống ly cà phê định mệnh của mình, khi nợ của tôi mới ở mức 16 đô-la. Giả như tôi không có 16 đô-la, nhưng trả được cho ông ta 5 đô-la; và do lo cho bản thân, mỗi tuần tôi đều trả 5 đô-la, nhưng sau đó lại quên đi và ngừng trả tiền. Đường biểu đồ màu đen trong Hình 3.5 cho thấy những gì đã xảy ra khi tôi không trả gì cả, trong khi đường màu xám cho thấy khoản nợ của tôi phát triển thế nào sau những khoản thanh toán 5 đô-la này. Tách cà phê của tôi cuối cùng vẫn mất hết hơn 3 triệu đô-la, nhưng thế là còn ít hơn một nửa so với khoản nợ nếu không trả bớt. Tuy khoản nợ này đúng là rất quan trọng nhưng chúng ta không thể nhìn thấy được trong biểu đồ. Ở Hình 3.5 không cách gì lý giải tại sao đường màu xám lại đến đích thấp hơn rất nhiều so với đường màu đen.

Hình 3.4. Tách cà phê trị giá 8 triệu đô-la: lãi suất tổng hợp được dựng trên đồ thị truyền thống. Mặc dù chi phí của một tách cà phê tăng dần từ 1 đô-la đến 8.192 đô-la qua 14 tuần, cuộc đua đến thảm họa tài chính vẫn chưa thấy xuất hiện trên đồ thị mãi cho đến tuần 17.
Hình 3.6 thể hiện câu chuyện về sự phá sản của tôi theo một cách khác. Những nhà thống kê gọi Hình 3.4 và Hình 3.5 là các biểu đồ tuyến tính kép, bởi vì các thang đo trên mỗi trục đều phát triển theo những gia số tuyến tính; có nghĩa là mỗi tuần qua đi chiếm cùng một lượng không gian theo trục hoành, mỗi đồng đô-la nợ thì chiếm cùng một không gian trên trục tung. Hình 3.6, ngược lại, là những gì mà các nhà thống kê gọi là tuyến tính Logarit. Thời gian vẫn được chia thành từng phần theo tỉ lệ ngang trong các đơn vị tuyến tính, nhưng tỉ lệ dọc ghi lại số nợ của tôi theo Logarit, có nghĩa là không gian giữa trục đáy của biểu đồ và điểm đầu tiên trên trục tung bao gồm cả mức tăng gấp 10 lần của món nợ từ 1 đến 10 đô-la; ở không gian giữa các điểm đầu tiên và thứ hai nó lại phình ra gấp 10 lần, từ 10 đến 100 đô-la; rồi tiếp tục gấp 10 lần, từ 100 đến 1.000; cứ thế cho đến 10 triệu ở đỉnh đô thị.
Các chính trị gia và nhà quảng cáo đã làm chúng ta sai lạc với việc biến số liệu thống kê thành một tác phẩm mỹ thuật. Cách đây 1,5 thế kỷ, Thủ tướng Anh Benjamin Disraeli đã bức xúc nhận xét: “Có ba loại nói dối: nói dối, nói dối thậm tệ và thống kê,”❖ và Hình 3.6 có thể gây ấn tượng cho bạn khi nó chứng minh cho quan điểm của ông. Nhưng tất cả những gì nó thực sự thể hiện là nhằm làm nổi bật một khía cạnh khác về món nợ của tôi hơn Hình 3.4 và Hình 3.5. Một mô hình tuyến tính kép thực hiện tốt việc chỉ ra món nợ của tôi tồi tệ đến mức nào; một mô hình tuyến tính Logarit thực hiện tốt việc chỉ ra mọi thứ trở nên tồi tệ đến mức nào.

Hình 3.5. Một phương cách nghèo nàn tiêu biểu cho kế hoạch nghèo nàn: đường màu đen cho thấy một vòng xoáy nợ như Ở Hình 3.4, trong khi đường màu xám cho thấy những gì xảy ra sau khi có những thanh toán nhỏ lẻ cho món nợ ở các tuần từ 5 đến 9. Trên biểu đồ (tuyến tính bội) truyền thống, những khoản thanh toán quan trọng này là vô hình.
Ở Hình 3.6, đường màu đen chạy nhịp nhàng và thẳng, cho thấy rằng nếu không có bất kỳ khoản chi trả nào thì số nợ của tôi tăng lên đều đặn, cứ mỗi tuần lại tăng gấp bội. Đường màu xám chỉ ra tỉ lệ nợ của tôi tăng trưởng như thế nào sau bốn tuần tăng gấp đôi, và chuỗi chi trả 5 đô-la chậm lại, nhưng không làm giảm đi hiệu ứng. Khi tôi ngừng trả tiền, đường màu xám lại nhảy vọt lên song song với đường màu đen, vì khoản nợ của tôi lại một lần nữa tăng gấp đôi mỗi tuần, nhưng không kết thúc ở một mức cao đến chóng mặt như vậy.

Hình 3.6. Con đường thẳng dẫn đến thảm họa: vòng xoáy của món nợ trên một quy mô logic tuyến tính. Đường màu đen biểu thị số nợ tăng gấp đôi nếu không thanh toán, trong khi đường màu xám cho thấy tác động của các khoản thanh toán nhỏ lẻ từ tuần 5 đến tuần 9 trước khi nó tăng gấp đôi khi ngùng các khoản thanh toán.
Các chính trị gia và số liệu thống kê đều không phải luôn luôn nói dối; chỉ là không có bất kỳ một phương cách nào trung lập hoàn toàn để thể hiện chính sách hay số liệu. Mọi tuyên bố báo chí và mọi biểu đồ đều nhấn mạnh một số khía cạnh của chân lý và giảm nhẹ các yếu tố khác. Vì thế Hình 3.7, khi thể hiện điểm số phát triển xã hội từ giai đoạn năm 14000 TCN đến năm 2000 trên mô hình tuyến tính Logarit, đã tạo ra một ấn tượng cực kỳ khác biệt so với phiên bản tuyến tính bội của thang điểm tương tự ở Hình 3.3. Ở đây còn có nhiều điều khó hiểu trong Hình 3.3. Bước nhảy vọt trong phát triển xã hội ở các thế kỷ gần đây là rất chân thực và rõ ràng; bất kỳ động tác nhảy múa bằng số liệu thống kê khác lạ nào cũng sẽ không thay đổi được. Nhưng Hình 3.7 cho thấy nó không rơi đột ngột theo cách như ở Hình 3.3. Vào thời điểm những đường đồ thị bắt đầu vọt lên (khoảng năm 1700 ở phương Tây và năm 1800 ở phương Đông) thì điểm số ở cả hai khu vực này đã cao gấp 10 lần so với điểm số ở bên trái đồ thị – một khác biệt gần như không nhận ra ở Hình 3.3.

Hình 3.7. Sự tăng trưởng của phát triển xã hội, năm 14000 TCN – 2000, được vẽ trên một mô hình tuyến tính Logarit. Đây có thể là cách hữu ích nhất để trình bày điểm số, làm nổi bật tỉ lệ tăng trưởng tương đối ở phương Đông và phương Tây cùng tầm quan trọng của hàng nghìn năm thay đổi trước năm 1800.
Hình 3.7 cho thấy việc giải thích lý do tại sao phương Tây lại thống lĩnh thế giới cũng tức thì trả lời cho một số câu hỏi. Chúng ta cần biết tại sao sự phát triển xã hội lại nhảy vọt quá đỗi đột ngột như vậy sau năm 1800 để đạt đến một mức độ (có nơi gần được 100 điểm) khiến các quốc gia có thể phóng chiếu sức mạnh của họ trên toàn cầu.
Trước khi sự phát triển đạt đến những đỉnh cao như vậy, ngay cả các xã hội hùng mạnh nhất trên trái đất chỉ có thể cai trị ở khu vực của họ, nhưng các công nghệ và thể chế mới của thế kỷ XIX đã cho phép họ biến việc cai trị địa phương thành sự thống lĩnh trên toàn thế giới. Tất nhiên, chúng ta cũng cần phải tìm ra nguyên nhân tại sao phương Tây là vùng đất đầu tiên của thế giới đạt được ngưỡng này. Và để trả lời một trong hai câu hỏi này, chúng ta cũng phải hiểu được lý do tại sao sự phát triển đã tăng lên rất nhiều trong 14.000 năm qua.
Những gì Hình 3.7 thể hiện chưa phải đã hết. Nó cũng cho thấy thang điểm của phương Đông và phương Tây trước đó không thể phân biệt được cho đến chỉ vài trăm năm trước: Các điểm số của phương Tây cao hơn của phương Đông trong suốt hơn 90% thời gian kể từ năm 14000 TCN. Đây dường như là một vấn đề thực sự cho các lý thuyết ngẫu nhiên ngắn hạn. Sự dẫn đầu của Tây Phương từ năm 1800 đến nay chính là một sự tái diễn một quy tắc mang tính dài hạn chứ không phải là một sự bất thường khó hiểu.
Hình 3.7 không nhất thiết phải bác bỏ lý thuyết ngẫu nhiên ngắn hạn, nhưng nó nói lên rằng một lý thuyết ngắn hạn thành công sẽ cần phải phức tạp hơn, nghĩa là phải giải thích mẫu hình dài hạn lùi đến cuối Thời đại Băng hà cũng như các sự kiện xảy ra từ năm 1700. Tuy nhiên, các mẫu hình cũng chỉ ra rằng những người theo thuyết chốt khóa dài hạn không nên vui mừng quá sớm. Hình 3.7 chỉ rõ rằng điểm số phát triển xã hội phương Tây không phải lúc nào cũng cao hơn phương Đông. Sau khi hội tụ ở đa phần thời gian trong thiên niên kỷ thứ nhất, các đường đồ thị lại đi ngang ở năm 541, và phương Đông lúc đó vẫn tiến lên phía trước cho đến năm 1773. (Những trình tự thời gian chính xác một cách đáng ngờ này dựa vào giả định không chắc có thực rằng điểm số phát triển xã hội mà tôi tính toán là hoàn toàn chính xác; tuy vậy phương cách hợp lý nhất để diễn đạt sự việc có thể là điểm số phương Đông vượt phương Tây giữa thế kỷ VI và phương Tây giành lại vị trí dẫn đầu ở cuối thế kỷ XVIII). Việc thang điểm của phương Đông và phương Tây hội tụ nhau ở thời kỳ Cổ đại và phương Đông sau đó dẫn đầu thế giới về phát triển xã hội trong 1.200 năm không chứng minh các lý thuyết chốt khóa dài hạn là sai lầm, bất kể việc phương Tây đã dẫn dắt gần như toàn bộ thời gian kể từ cuối Thời đại Băng hà đã phủ nhận các lý thuyết ngẫu nhiên ngắn hạn; nhưng một lần nữa, chúng cho thấy, một lý thuyết đúng cần phải phức tạp hơn và phải tính đến một phạm vi chứng cứ rộng lớn hơn những gì được cung cấp cho đến nay.
Trước khi rời bỏ những đô thị này, có thêm hai mẫu hình đáng được nêu ra. Ta có thể nhìn thấy chúng ở Hình 3.7, nhưng Hình 3.8 làm chúng rõ hơn. Đây là một đồ thị tuyến tính bội truyền thống nhưng chỉ bao gồm ba thiên niên kỷ rưỡi, từ năm 1600 TCN đến năm 1900. Việc cắt bỏ những điểm số lớn lao dành cho năm 2000 cho phép chúng ta kéo giãn trục tung đủ để có thể nhìn thấy điểm số từ các thời kỳ trước đó, trong khi việc rút gọn khoảng thời gian lại cho phép chúng ta kéo giãn trục hoành nên những thay đổi theo thời gian cũng rõ ràng hơn.
Có hai điểm đặc biệt ở đô thị này gây ấn tượng với tôi. Thứ nhất là điểm đỉnh của phương Tây ở thế kỷ I, khoảng 43 điểm, kế đó là một sự giảm dần sau năm 100. Nếu nhìn xa hơn về bên phải, chúng ta sẽ thấy điểm đỉnh của phương Đông chỉ hơn 42 điểm vào năm 1100, đúng thời kỳ đỉnh cao quyền lực của nhà Tống ở Trung Hoa, rồi lại đến một sụt giảm tương tự. Xa hơn một chút về bên phải, khoảng năm 1700, cả hai thang điểm của phương Đông và phương Tây đều quay trở lại mức dưới 40 điểm, nhưng lần này thay vì bị ngăn trở thì chúng lại tăng tốc; chỉ 100 năm sau, đường biểu đồ của phương Tây đã vượt trần khi cuộc cách mạng công nghiệp khởi sự.

Hình 3.8. Những đường hiển thị qua thời gian và không gian: phát triển xã hội trong suốt ba thiên niên kỷ rưỡi, năm 1600 TCN-1900, được thể hiện trên một mô hình tuyến tính bội. Đường đồ thị A thể hiện ngưỡng khả dĩ khoảng 43 điểm, có thể đã cản trở sự phát triển liên tục của Đế quốc La Mã ở phương Tây trong các thế kỷ đầu tiên và triều đại nhà Tống ở Trung Hoa vào khoảng năm 1100 trước khi Đông và Tây cùng vượt ngưỡng vào khoảng năm 1700. Đường đồ thị B cho thấy một kết nối khả dĩ giữa những điểm số suy giảm ở cả Đông và Tây trong những thế kỷ đầu tiên, và đường đồ thị C hiển thị một kết nối Đông-Tây khả dĩ, bắt đầu khoảng năm 1300.
Phải chăng đã có một kiểu ngưỡng dưới 40 điểm gây khó khăn cho Đế quốc La Mã và triều đại nhà Tống ở Trung Hoa? Tôi đã đề cập trong phần giới thiệu rằng, trong cuốn Sự phân rẽ vĩ đại, Kenneth Pomeranz cho rằng phương Đông cũng như phương Tây đã rơi vào một trường hợp tắc nghẽn về môi trường ở thế kỷ XVIII nên việc phát triển xã hội của họ bị đình trệ và suy giảm là hợp lý. Không những thế, Pomeranz còn cho rằng người Anh – do ngẫu nhiên chứ không tài giỏi gì – đã kết hợp các thành quả của việc tước đoạt Tân Thế giới với năng lượng nhiên liệu hóa thạch để hủy diệt những ước thúc môi trường truyền thống. Phải chăng người La Mã và nhà Tống cũng rơi vào tình trạng tắc nghẽn tương tự khi phát triển xã hội đạt mức dưới 40 điểm nhưng không thể khai thông được? Nếu như vậy, có lẽ mẫu hình chi phối trong suốt 2.000 năm lịch sử là một trong những đợt sóng dài hạn, với các đế chế vĩ đại đã đạt đến trần dưới 40 điểm sau đó rớt xuống trở lại, cho đến khi xảy ra một điều kỳ diệu vào thế kỷ XVIII.
Điều thứ hai ở Hình 3.8 gây ấn tượng với tôi là chúng ta có thể vẽ các đường đồ thị theo chiều dọc cũng như ngang trên biểu đồ này. Vị trí cụ thể để đặt một đường dọc là ở đầu thế kỷ I, khi các thang điểm của phương Tây và phương Đông lên đến đỉnh điểm, mặc dù điểm số của phương Đông vẫn thấp hơn ở phương Tây (34,13 so với 43,22 điểm). Thay vì (hay cùng) tập trung vào việc phương Tây chạm đến mức điểm trần dưới 40, có lẽ chúng ta nên tìm kiếm một số sự kiện tác động đến cả hai đầu của Cựu Thế giới làm hạ thấp thang điểm phát triển xã hội của người La Mã và người Hán thay vì quan tâm đến mức điểm họ đạt được.
Chúng ta có thể đặt một đường đồ thị theo chiều dọc ở khoảng 1300, khi các thang điểm ở phương Đông và phương Tây vẫn tiếp diễn theo các mô hình tương tự dù lần này điểm số ở phương Tây thấp hơn nhiều (30,73 so với 42,66 điểm). Mặc dù điểm số của phương Đông đã trượt xa trong vòng 100 năm, nhưng phương Tây giờ đây đã bắt kịp ở cả hai đường đồ thị sau năm 1400 rồi bất ngờ tăng tốc vào khoảng năm 1700. Lại một lần nữa, thay vì tập trung vào những điểm số chạm mức trần dưới 40 ở đầu thế kỷ XVIII, có lẽ chúng ta nên tìm kiếm một số sự kiện toàn cầu bắt đầu thúc đẩy sự phát triển ở phương Đông và phương Tây theo cùng một con đường chung ở thế kỷ XIV. Có lẽ cuộc cách mạng công nghiệp lần đầu tiên xuất hiện ở phương Tây không phải do một số may mắn kỳ diệu nào đó như Pomeranz kết luận, nhưng do cả phương Đông và phương Tây đều đang theo đuổi một cuộc cải cách như thế; và rồi có một điều gì đó xảy ra đối với phương cách phương Tây phản ứng lại với các sự kiện ở thế kỷ XIV đã tạo cho nó một sự dẫn đầu dẫu không đáng kể nhưng lại mang tính quyết định để cất cánh vào thế kỷ XVIII.
Với tôi dường như các Hình 3.3, Hình 3.7 và Hình 3.8 đã làm rõ nhược điểm thực sự của cả hai lý thuyết chốt khóa dài hạn và ngẫu nhiên ngắn hạn. Một ít lý thuyết gia tập trung vào sự khởi đầu của chuyện kể về cuộc cách mạng nông nghiệp, trong khi đại đa số lại chỉ nhìn vào chính phần cuối của nó, giai đoạn 500 năm qua. Do hầu hết đều bỏ qua mấy nghìn năm ở khoảng giữa nên họ hiếm khi cố gắng làm sáng tỏ những bộc phát trong tăng trưởng, suy thoái, sụp đổ, hội tụ, thay đổi giai tầng lãnh đạo, hay mức trần điểm số và đường biểu đồ hàng dọc thu hút chúng ta khi chúng ta có thể thấy được toàn bộ dạng hình của lịch sử. Nói thẳng ra, điều đó có nghĩa là không có cách tiếp cận nào có thể giải thích cho chúng ta biết được lý do tại sao phương Tây lại vượt trội; và vì điều đó là hiển nhiên, nên cũng không thể hy vọng có lời giải đáp cho một câu hỏi ngoài tầm – điều gì sẽ xảy ra sau này.
Vấn nạn của Scrouge
Trong đoạn cao trào của truyện A Christmas Carol (Bài ca Giáng Sinh) của Charles Dickens, Bóng Ma của Giáng Sinh Tương Lai đưa lão Ebenezer Scrooge đến một nghĩa trang nhà thờ cỏ dại mọc đầy. Rồi, Bóng Ma im lặng chỉ vào một bia mộ hoang phế. Scrooge biết ngay tên của mình sẽ xuất hiện; ông ta biết rằng mình sẽ mãi mãi nằm lại đó một mình, không người thăm viếng. Ông lão đã kêu thét lên: “Có phải đây là điềm báo của những điều sẽ xảy đến, hay chỉ là điềm báo của những điều có thể xảy ra?”❖
Chúng ta cũng có thể đặt ra cùng một câu hỏi như thế về Hình 3.9, thể hiện tỉ lệ gia tăng về phát triển xã hội ở phương Đông và phương Tây trong thế kỷ XX và phóng chiếu cho tương lai.⦾ Đường biểu đồ phương Đông sẽ vượt qua phương Tây vào năm 2103. Đến năm 2150 thì sự vượt trội của phương Tây sẽ kết thúc và vẻ hào nhoáng rực rỡ của nó rồi cũng sẽ chấm dứt như hai thành phố Nineveh và Tyre.
Bài văn bia dành cho phương Tây rồi sẽ cũng như của ông già Scrooge:
Sự vượt trội của phương Tây
1773-2103
an giấc ngàn thu
Tuy nhiên, đây thực sự có phải là những điềm triệu của những điều sẽ xảy đến?

Hình 3.9. Định hình của những điều sắp xảy đến? Nếu phóng chiều tốc độ phát triển xã hội ở phương Đông và phương Tây tăng lên trong thế kỷ XX đến thế kỷ XXII, chúng ta sẽ thấy phương Đông giành lại vị trí dẫn đầu trong năm 2103. (Trên đồ thị tuyến tính, các đường Đông và Tây sẽ chạy thẳng từ năm 1900 trở đi, phản ánh tốc độ tăng trưởng không đổi, bởi vì đây là một mô hình tuyến tính bội, nên cả hai đường đồ thị đều cong lên theo đường thẳng).
Đối diện với văn bia của chính mình, Scrooge đã quỳ xuống, nắm tay Bóng Ma van cầu: “Lạy Chúa lòng lành, xin hứa với tôi rằng tôi vẫn có thể thay đổi những điềm báo mà ngài đã chỉ cho tôi, nếu tôi biết biến đổi lối sống!” Giáng sinh Tương Lai không nói gì cả, nhưng Scrooge đã đưa ra câu trả lời cho chính mình. Ông ta buộc phải trải qua một buổi tối khó chịu với những Bóng Ma của Quá Khứ Và Hiện Tại vì ông cần học hỏi từ cả hai. Scrooge hứa sẽ không đóng cửa các bài học mà họ dạy. “Ồ, hãy cho tôi biết có thể xóa đi những hàng chữ trên bia mộ này được không?”
Như đã nêu rõ trong phần giới thiệu, tôi chỉ là thiểu số trong những người viết về lý do phương Tây vượt trội, và đặc biệt lại viết về những gì sẽ xảy ra sau này, mà lại không phải là một nhà kinh tế học, sử gia hiện đại, hay một chuyên gia chính trị. Về nguy cơ do cường điệu phép loại suy của Scrooge, tôi có thể cho rằng sự vắng bóng của các nhà sử học tiền hiện đại trong thảo luận này sẽ dẫn chúng ta đến chỗ sai lầm khi chỉ bàn riêng về Bóng Ma Giáng Sinh Hiện Tại. Chúng ta cần đưa Bóng Ma Giáng Sinh Quá Khứ trở lại.
Để làm được điều này, tôi sẽ dành phần II của cuốn sách này (Chương 4-10), ở cương vị một nhà sử học, để kể những câu chuyện về phương Đông và phương Tây trong vài nghìn năm gần đây và cố gắng giải thích lý do tại sao phát triển xã hội lại thay đổi như nó đã từng, và trong Phần III (các Chương 11 và 12) tôi sẽ gom những câu chuyện này lại với nhau. Tôi tin rằng điều này không những sẽ cho chúng ta biết không chỉ tại sao phương Tây lại thống lĩnh thế giới mà còn những điều gì sẽ xảy ra sau này.