Tại Sao Phương Tây Vượt Trội

Lượt đọc: 131 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phụ lục Về phát triển xã hội
Bốn điều chưa thỏa đáng

❊ ❊ ❊

Chỉ số phát triển xã hội là xương sống của cuốn sách này, nó kết nối các sự kiện và bằng chứng mà các nhà khảo cổ và các sử gia đã tích lũy. Chỉ số tự nó không giải thích được tại sao phương Tây vượt trội, nhưng nó cho chúng ta thấy dạng hình lịch sử cần phải được giải thích. Tôi cung cấp bài viết đầy đủ về chỉ số cho những ai quan tâm đến các phương pháp và bằng chứng chi tiết phía sau các tính toán tại trang web http://www.ianmorris.org; phụ lục này chỉ nhằm tóm tắt những thách thức kỹ thuật chính và kết quả cơ bản.

Tôi nhận thấy bốn điều phản biện rõ ràng đối với chỉ số phát triển xã hội:

Việc lượng định và so sánh sự phát triển xã hội ở những thời kỳ và địa điểm khác nhau làm con người mất nhân tính, và vì thế, chúng ta không nên làm điều đó. Việc lượng định và so sánh các xã hội là một quy trình hợp lý, nhưng sự phát triển xã hội theo định nghĩa của tôi (là khả năng các xã hội thực hiện mọi việc) là điều không chính xác để đo lường. Sự phát triển xã hội theo định nghĩa của tôi là một cách hữu ích để so sánh phương Đông và Tây, nhưng bốn yếu tố mà tôi sử dụng để đo lường phát triển xã hội (hấp thu năng lượng, sự tổ chức/đô thị hóa, tiến hành chiến tranh, và công nghệ thông tin) không phải là những yếu tố tốt nhất. Bốn yếu tố này là một cách tốt để đo lường sự phát triển xã hội, nhưng tôi đã có những sai sót dựa trên sự thực và làm cho các số đo không chính xác.

Tôi đã đề cập đến phản biện thứ nhất ở Chương 3. Có rất nhiều câu hỏi lịch sử và nhân học mà sự lượng định và so sánh phát triển xã hội hoàn toàn không giúp ích được gì, nhưng câu hỏi tại sao phương Tây vượt trội, về bản chất lại là một câu hỏi có tính so sánh và lượng định. Nếu chúng ta muốn trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải lượng định và so sánh.

Tôi cũng đã nói đôi lời tại Chương 3 về phản biện thứ hai. Có lẽ có nhiều thứ khác hữu hiệu hơn sự phát triển xã hội mà chúng ta có thể lượng định và so sánh, nhưng tôi không biết chúng là những thứ gì. Tôi để các nhà sử học và các nhà nhân học khác nhận dạng các đối tượng khác để lượng định và chứng minh rằng chúng mang lại kết quả tốt hơn.

Phản biện thứ ba có thể có ba hình thức – chúng ta có thể bổ sung các yếu tố khác ngoài bốn yếu tố của tôi; rằng chúng ta có thể sử dụng các yếu tố khác nhau; hoặc chúng ta có thể xem xét ít yếu tố hơn. Khi viết cuốn sách này, tôi đã khám phá ra một số yếu tố khác (ví dụ: diện tích của đơn vị chính trị lớn nhất, mức sống [được đo lường thông qua vóc dáng người trưởng thành], tốc độ giao thông, hoặc kích thước các công trình lớn nhất), nhưng tất cả đều có các vấn đề chứng cứ nghiêm trọng hoặc không vượt qua thử thách về sự độc lập lẫn nhau. Trong mọi trường hợp, hầu hết các yếu tố đều cho thấy mức dư thừa cao xuyên suốt hầu hết lịch sử, và mọi sự kết hợp hợp lý các yếu tố có xu hướng tạo ra kết quả cuối cùng khá giống nhau.

Có nhiều ngoại lệ nhỏ và hai ngoại lệ lớn đối với quy tắc dôi dư. Ngoại lệ lớn thứ nhất là chúng ta có thể gọi điều khác thường của người du mục là gì – thực tế là các xã hội vùng thảo nguyên thường có điểm số thấp về hấp thu năng lượng, sự tổ chức và công nghệ thông tin, nhưng lại đạt điểm số cao về tiến hành chiến tranh. Điều khác thường này giúp giải thích tại sao các xã hội du mục vốn rất giỏi trong việc đánh bại các đế chế, nhưng lại rất dở trong việc điều hành chúng,⦾ và điều đó đáng được nghiên cứu sâu rộng, nhưng nó không trực tiếp ảnh hưởng đến các so sánh giữa vùng lõi phương Đông và phương Tây nông nghiệp và định cư trong cuốn sách này.

Hình A.1. Chỉ riêng năng lượng: làm thế nào để so sánh phương Đông và phương Tây nếu chúng ta chỉ xem xét sự hấp thu năng lượng trên mỗi đầu người.

Một phiên bản khác của phản biện thứ ba có thể loại bỏ yếu tố tổ chức, tiến hành chiến tranh, và công nghệ thông tin ra khỏi sự phân tích và chỉ tập trung vào yếu tố hấp thu năng lượng, với lý do sự tổ chức, chiến tranh và công nghệ thông tin chỉ là những cách sử dụng năng lượng. Hình A.1 cho thấy chỉ số chỉ có duy nhất yếu tố năng lượng sẽ trông như thế nào. Nó khác với biểu đồ chỉ số đầy đủ trong Hình 3.3, nhưng không quá lớn. Trong biểu đồ chỉ có duy nhất yếu tố năng lượng, giống như biểu đồ phát triển xã hội đầy đủ, phương Tây vẫn đi trước phương Đông trong 90% thời gian, phương Đông vẫn vượt qua nó trong khoảng thời gian từ năm 550 đến 1750, vẫn có một ngưỡng cứng ngăn cản sự phát triển trong giai đoạn từ năm 100 đến năm 1100 (với trên 30.000 kcal/người/ngày), các điểm số của cuộc cách mạng hậu công nghiệp vẫn khiến cho các điểm số ở các thời kỳ trước đó trở nên nhỏ bé, và vào năm 2000, phương Tây vẫn vượt trội.

Việc tập trung duy nhất vào yếu tố năng lượng có lợi thế tiết kiệm hơn cách tiếp cận bốn yếu tố của tôi đối với sự phát triển xã hội, nhưng nó cũng có một nhược điểm lớn. Đây là ngoại lệ lớn thứ hai đối với quy tắc dôi dư: thực tế là kể từ khi có cuộc cách mạng công nghiệp, mối quan hệ giữa các yếu tố đã trở nên phi tuyến tính. Nhờ các công nghệ mới, quy mô thành phố tăng gấp bốn lần trong thế kỷ XX, năng lực quân sự tăng lên 50 lần, và công nghệ thông tin tăng lên gấp 80 lần, trong khi sự hấp thu năng lượng ở mỗi người chỉ tăng gấp đôi. Việc chỉ xem xét duy nhất yếu tố năng lượng là quá đơn giản, và bóp méo hình dạng lịch sử.

Điều phản biện thứ tư đưa ra các vấn đề rất khác nhau, bởi vì cách duy nhất để đánh giá liệu tôi có hiểu sai chứng cứ hoặc sử dụng các phương pháp không phù hợp là xem xét lại tất cả các nguồn thông tin mà tôi đã sử dụng để tính toán các điểm số phương Đông và phương Tây suốt 16.000 năm qua. Thực hiện công việc đó trong phần phụ lục này có thể là một đề xuất tốn kém, khiến cho một cuốn sách vốn đã dài lại càng dài thêm, vì vậy tôi đã đưa các thông tin lên trang web đã được nhắc đến trên đây. Những bạn đọc có thời gian và nhu cầu có thể tìm thấy ở đó những nguồn thông tin mà tôi đã sử dụng và quan điểm của tôi về những điều còn mơ hồ trong bằng chứng.

Trong phần còn lại của phụ lục này, tôi sẽ tóm tắt các dữ liệu, phác thảo nhanh cách tính toán điểm số của tôi, và nói vài lời về biên độ sai số.

Hấp thu năng lượng

Tôi thảo luận về vấn đề hấp thu năng lượng trước tiên và với thời gian nhiều nhất bởi vì nó là yếu tố quan trọng nhất trong bốn yếu tố. Nếu chúng ta lui lại quá khứ đủ xa, chúng ta sẽ thấy rằng các điểm số về đô thị hóa, tiến hành chiến tranh, hoặc công nghệ thông tin đều giảm xuống bằng 0 vì hoạt động của con người ở quy mô nhỏ bé đến mức chúng tạo ra các giá trị dưới 0,01 điểm trên chỉ số. Ngược lại, điểm số về hấp thu năng lượng không bao giờ giảm đến 0, bởi vì nếu con người năng lượng bằng 0, con người sẽ chết. Để duy trì sự sống, một người cần khoảng 2.000 kcal mỗi ngày, và vì hấp thu năng lượng ở phương Tây hiện đại là khoảng 228.000 kcal/người/ngày (= 250 điểm), điểm thấp nhất có thể về mặt lý thuyết là 2,19; và trên thực tế, hấp thu năng lượng luôn đạt trên 4 điểm kể từ khi kết thúc Thời đại Băng hà, bởi vì phần lớn năng lượng con người sử dụng đều ở dạng phi thực phẩm (quần áo, nhà ở, đồ tạo tác, nhiên liệu, v.v.). Cho đến cuộc cách mạng công nghiệp, điểm số hấp thu năng lượng thường chiếm khoảng từ 75% đến 90% tổng điểm số phát triển xã hội. Năm 2000, nó vẫn chiếm 28% điểm số của phương Tây và 20% điểm số của phương Đông.

Bằng chứng về hấp thu năng lượng là hết sức đa dạng, từ các báo cáo thống kê hiện đại cho đến các tài liệu ghi chép về nông nghiệp, công nghiệp và lối sống, các bằng chứng khảo cổ về chế độ ăn uống, ngành nghề thủ công và chất lượng cuộc sống. Việc kết hợp các tài liệu đa dạng như vậy là một thách thức, nhưng ở đây, giống như ở những nơi khác, tôi đã dựa vào những đóng góp của các nhà nghiên cứu trước đây. Như tôi đã giải thích tại Chương 3, nghiên cứu các dòng năng lượng năm 1971 của Earl Cook đã cung cấp một xuất phát điểm thuận lợi, nó có thể được đối chiếu thường xuyên với các ước tính khác. Tất cả những ước tính này đều tập trung vào các mức chiếm hữu đương thời tại vùng lõi phương Tây là khoảng 230.000 kcal/người/ngày, mà Earl Cook tạm chia thành các loại, gồm thức ăn/thực phẩm (dành cho gia súc cũng như con người), nhà cửa/thương mại, công nghiệp/nông nghiệp, và giao thông.

Vaclav Smil (1991, 1994) đã làm một việc hữu ích đó là tách tiêu thụ phi thực phẩm thành nhiên liệu sinh khối và nhiên liệu hóa thạch, và lập đồ thị cho sự phát triển tại vùng lõi phương Tây qua thời gian. Cần phải tiến hành một số bước cần thiết để biến dữ liệu của ông thành điểm số hấp thu năng lượng cho phương Tây, nhưng kết quả cho ra khoảng 93.000 kcal/người/ngày vào năm 1900, và 38.000 vào năm 1800, tương đương với ước tính của Earl Cook là 77.000 đối với châu Âu công nghiệp hóa vào năm 1860. Chúng ta càng lùi xa vào quá khứ trước năm 1800, thì số liệu thống kê do chính phủ tạo ra càng ít, nhưng các nền kinh tế phụ thuộc càng nhiều vào các nhiên liệu sinh khối thì chúng ta càng có thể thay thế thông tin so sánh do các nhà sử học kinh tế và các nhà nhân học thu thập để đưa vào các tài liệu chính thức. Vào năm 1700, một người bình thường ở vùng lõi phương Tây chắc chắn tiêu thụ khoảng từ 30.000 đến 35.000 kcal/ngày. Bằng chứng của chúng ta về những gì mà các xã hội phương Tây đã làm cho thấy rằng chúng ta càng lùi thêm vào quá khứ 1.000 năm trước, thì con số đó càng thấp,⦾ mặc dù các bằng chứng so sánh cũng cho thấy rõ rằng tiêu thụ năng lượng ở phương Tây có lẽ không bao giờ giảm quá 30.000 kcal/người/ngày. Vẫn còn có chỗ để tranh luận, nhưng tôi nghi ngờ rằng hấp thu năng lượng ở phương Tây Trung cổ đã từng giảm xuống dưới 25.000 kcal/người/ngày, ngay cả trong thế kỷ VIII. Vì những lý do quay trở lại dưới đây, tôi không nhận ra bằng cách nào mà các ước tính năng về phỏng đoán này có thể cách xa đích đến hơn 5-10%.

Năm Phương Tây Phương Đông
2000 230 104
1900 92 49
1800 38 36
1700 32 33
1600 29 31
1500 27 30
1400 26 29
1200 26 30,5
1000 26 29,5
800 25 28
600 26 27
400 28 26
200 30 26

1 TCN/CN 31 27
200 TCN 27 24
400 24 22
600 22 20
800 21 18
1000 20 17
1200 21 17
1500 20,5 15
2000 17 11
2500 14 9,5
3000 12 8
3500 11 7,5
4000 10 7
5000 8 6,5
6000 7 6
8000 6 5
10000 5,5 4
12000 4,5 4
14000 TCN 4 4

Bảng A.1. Hấp thụ năng lượng kcal/người/ngày (các năm được lựa chọn)

Những tàn tích uy nghi của nhà cửa và các công trình xây dựng thời kỳ La Mã, số vụ đắm tàu, khối lượng hàng hóa sản xuất, mức độ ô nhiễm công nghiệp trong các lõi băng và số lượng xương động vật đáng kinh ngạc từ các khu định cư chứng tỏ rằng hấp thu năng lượng phương Tây vào thế kỷ I cao hơn ở thứ thế kỷ VIII hoặc thậm chí là thế kỷ XIII, nhưng cao hơn bao nhiêu? Những tính toán khéo léo của các sử gia kinh tế đã đưa ra được câu trả lời. Robert Allen (2007a) đã chứng minh rằng vào năm 300, các mức lương thực tế (mà nó đã phản ánh rõ sự tiêu thụ năng lượng đối với hầu hết người nghèo ở những thời kỳ tiền hiện đại) tại vùng lõi phương Tây có thể so sánh với mức lương ở Nam Âu vào thế kỷ XVIII, và Walter Scheidel (2008) cho rằng mức lương thời kỳ La Mã cao hơn nhiều so với mức lương khắp hầu hết châu Âu thời Trung cổ. Dữ liệu do Geof Kron (2005), Nikola Koepke và Joerg Baten (2005, 2008) thu thập đã chỉ ra rằng tầm vóc con người ít thay đổi trong khoảng thời gian từ thế kỷ I đến thế kỷ XVIII, và Kron (sau này) cho rằng nhà cửa ở thời cổ đại đặc biệt tốt hơn nhiều so với nhà cửa tại các khu vực giàu nhất của châu Âu ở thế kỷ XVIII. Tôi đã ước tính mức hấp thu năng lượng là khoảng 31.000 kcal/người/ngày vào những năm 1 TCN/CN, con số đó giảm chậm đến năm 500, và sau đó giảm nhanh hơn cho đến năm 700.

Hấp thu năng lượng ở vùng lõi phương Tây vào khoảng năm 1000 TCN không chỉ thấp hơn hấp thu năng lượng ở thời kỳ La Mã, mà còn thấp hơn ở thế kỷ XVIII. Giai đoạn tăng mạnh nhất diễn ra sau năm 300 TCN, khi Địa Trung Hải được hợp nhất thành những đơn vị kinh tế và chính trị lớn hơn, và Thời kỳ Ấm La Mã đã giúp nâng cao sản lượng, nhưng khối dữ liệu khảo cổ cũng cho thấy một giai đoạn tăng tốc trước đó sau năm 600 TCN. Tôi đã thử đề xuất rằng vào năm 1000 TCN hấp thu năng lượng có thể thấp đến mức 20.000 kcal/ người/ngày, một sự giảm nhẹ trên các mức hấp thu năng lượng ở cuối thiên niên kỷ thứ hai TCN, nhưng vẫn cao hơn các mức hấp thu năng lượng ở thiên niên kỷ thứ ba.

Ở giai đoạn đầu của thời kỳ tiền sử, các điểm số thậm chí còn thấp hơn. Khi kết thúc sự kiện Dryas Trẻ, những người sống bằng săn bắt và hái lượm có thể đã xoay xở với khoảng 5.000 kcal/người/ngày, nhưng con số này có thể đã tăng mạnh (tương ứng với những gì đã xảy ra trước đó) khi khí hậu ấm lên, thực vật và động vật được thuần hóa để làm thức ăn, và động vật đã được sử dụng để làm sức kéo. Khoảng năm 3000 TCN, người dân ở các làng mạc tại vùng Hilly Flanks chắc chắn đã tiêu thụ 12.000 kcal/người/ngày cho quần áo, nhiên liệu, gia súc, nhà ở và hàng gia dụng, và các công trình, thậm chí chế độ ăn uống của họ cũng không tốt hơn chế độ ăn uống trước đó bốn thiên niên kỷ.

Tính toán điểm số phương Đông thậm chí còn khó khăn hơn, một phần bởi vì các học giả như Cook và Smil chỉ quan tâm đến khu vực có mức hấp thu năng lượng cao nhất của thế giới mà không có những so sánh giữa các khu vực. Tuy nhiên, chúng ta có thể bắt đầu từ ước tính của Liên Hiệp Quốc (2006) rằng, vào năm 2000, một người Nhật Bản trung bình tiêu thụ 104.000 kcal mỗi ngày (dưới một nửa mức phương Tây). Vào năm 1900, vùng lõi phương Đông chủ yếu vẫn là nông nghiệp, khi Nhật Bản đã sử dụng dầu và thậm chí nền công nghiệp chạy bằng than vẫn trong giai đoạn trứng nước. Hấp thu năng lượng của Nhật Bản có thể khoảng 49.000 kcal/người/ngày (một lần nữa, thấp hơn một nửa mức tiêu thụ của phương Tây). Suốt năm thế kỷ trước, việc sử dụng than và sản lượng nông nghiệp đã tăng lên đều đặn. Vào năm 1600, năng suất tại vùng châu thổ sông Dương Tử cao hơn bất cứ khu vực nào ở phương Tây, nhưng vào khoảng năm 1750, nền nông nghiệp Hà Lan và Anh đã đuổi kịp, và các mức lương của phương Đông chỉ tương đương với các mức lương ở Nam Âu chứ không phải vùng Bắc Âu giàu có. Tôi đã ước tính hấp thu năng lượng ở vùng lõi phương Đông khoảng 29.000 kcal/ người/ngày vào năm 1400 và 36.000 vào năm 1800, với phần lớn sự gia tăng diễn ra ở thế kỷ XVIII.

Cũng có sự tranh luận về cuộc khủng hoảng sau năm 1200 đã ảnh hưởng xấu đến việc sử dụng năng lượng của Trung Hoa như thế nào, nhưng có lẽ ít nhất cũng có sự giảm nhẹ từ đỉnh điểm của thời đại nhà Tống, khi lượng tiêu thụ có thể đã vượt quá 30.000 kcal/người/ngày.

Giống như ở phương Tây, các bằng chứng khảo cổ đã chứng minh rằng, hấp thu năng lượng đã giảm xuống vào giữa thiên niên kỷ thứ nhất, nhưng một lần nữa, thật khó để xác định mức độ suy giảm đó nhanh chậm như thế nào. Bằng chứng mà tôi đã xem xét ở Chương 5 cho thấy rằng tiêu thụ năng lượng của nhà Hán cao hơn bất cứ mức độ nào đã từng được chứng kiến trước đây ở phương Đông, nhưng thấp hơn các mức tiêu thụ của thời kỳ La Mã đương thời hay các mức tiêu thụ của nhà Tống sau đó, tôi đã ước tính khoảng 27.000 kcal/người/ngày vào năm 1 TCN/CN, trở lại cùng mức vào khoảng năm 700, sau khi có sự giảm nhẹ.

Một lần nữa, giống như phương Tây, hấp thu năng lượng phương Đông ở thiên niên kỷ thứ nhất TCN có sự gia tăng ổn định, và bắt đầu tăng tốc sau khoảng năm 500 TCN, và thậm chí nhanh hơn nữa sau năm 300 TCN với sự mở rộng mạng lưới kênh rạch, thương mại và các công cụ kim loại. Trở lại năm 1000 TCN, thu thập lượng năng lượng trung bình có thể ở khoảng 17.000 kcal/người/ngày; đến triều đại Tần Thủy Hoàng, hấp thu năng lượng trung bình có thể tăng lên khoảng 26.000.

Trong thời tiền sử, hấp thu năng lượng phương Đông dường như đã vượt qua các ngưỡng tương tự như phương Tây, nhưng đã bắt đầu tăng lên về sau và thường chậm hơn từ một đến hai thiên niên kỷ.

Sự tổ chức

Xuyên suốt lịch sử tiền công nghiệp, sự tổ chức luôn là thành phần lớn thứ hai trong điểm số phát triển xã hội. Tôi đã sử dụng yếu tố này làm ví dụ chính ở Chương 3, khi giải thích lý do tại sao tôi sử dụng quy mô thành phố lớn nhất để đại diện cho sự tổ chức xã hội. Sự mơ hồ trong dữ liệu và sự linh hoạt trong các định nghĩa đủ nhiều để khiến các chuyên gia bất đồng ý kiến về quy mô của thành phố ở mỗi thời kỳ, và tôi lý giải cho các quyết định của tôi trên trang web đã nêu. Trong Bảng A.2, tôi chỉ tóm tắt một số tính toán chính của mình.

Chiến tranh

Kể từ khi có chữ viết, con người đã bắt đầu ghi chép về các cuộc chiến tranh của mình, và từ giai đoạn đầu của thời kỳ tiền sử, con người đã chôn người chết cùng với các loại vũ khí. Vì vậy, chúng ta biết khá nhiều về chiến tranh, kể cả các cuộc chiến tranh tiền hiện đại. Thách thức chính trong việc cho điểm số về năng lực chiến tranh không phải dựa trên kinh nghiệm mà là khái niệm – làm cách nào chúng ta so sánh các hệ thống chiến đấu hoàn toàn khác nhau mà thường được tạo ra nhằm để không thể so sánh được với các hệ thống trước đó. Trường hợp điển hình nhất là khi nước Anh tung ra thiết giáp hạm HMS Dreadnought vào năm 1906, những khẩu siêu pháo và lớp giáp sắt dày cộm của nó có nghĩa là bất kỳ số lượng tàu chiến nào của thời kỳ 1890 cộng lại cũng không bằng một chiếc tàu ra đời sau năm 1906.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy mọi việc không bao giờ diễn ra một cách giản đơn. Trong những hoàn cảnh thích hợp, những thiết bị nổ tự tạo thậm chí có thể khiến cho một đội quân được trang bị công nghệ cao nhất phải khốn đốn. Về nguyên tắc, chúng ta có thể cho điểm số trên một chỉ số duy nhất cho các hệ thống quân sự hết sức khác nhau, cho dù các chuyên gia có thể bàn cãi về việc những điểm số đó nên cho như thế nào.

Vào năm 2000, sức mạnh quân sự chưa từng có của phương Tây đạt được 250 điểm, và rõ ràng lớn hơn nhiều so với sức mạnh quân sự của phương Đông. Một vài đội quân phương Đông có quân số lớn, nhưng hệ thống vũ khí có ý nghĩa hơn nhiều so với số lượng binh lính thuần túy. Nước Mỹ chi tiêu nhiều hơn Trung Hoa với tỉ lệ 10:1, và có số lượng nhiều hơn Trung Hoa về các nhóm tàu sân bay với tỉ lệ 11:0 và về đầu đạn hạt nhân với tỉ lệ 26:1. Sự khác nhau về chất lượng giữa xe tăng chiến đấu M1 và vũ khí chính xác của Hoa Kỳ với các hệ thống đã lỗi thời của Trung Hoa thậm chí còn lớn hơn. Việc đặt tỉ lệ điểm số phương Tây so với phương Đông ở mức thấp 10:1 hoặc ở mức cao 50:1 dường như đều cực đoan, và tôi đã ước đoán ở tỉ lệ 20:1, nghĩa là phương Đông đạt được 12,5 điểm vào năm 2000 so với điểm số phương Tây là 250.

So sánh các điểm số vào năm 2000 với các điểm số ở những thời kỳ trước đó thậm chí còn khó khăn hơn, nhưng bằng cách xem xét những thay đổi về quy mô lực lượng, tốc độ di chuyển, năng lực hậu cần, phạm vi và sức tàn phá của sức mạnh tấn công, lực lượng xe bọc thép và các hệ thống công sự luôn sẵn sàng của họ, chúng ta có thể đưa ra những ước tính sơ bộ. Dựa theo một tính toán, hiệu quả của hỏa lực pháo tăng gấp 20 lần từ năm 1900 đến năm 2000 và tính hiệu quả của hỏa lực chống tăng tăng lên gấp sáu lần; bao gồm toàn bộ những thay đổi khác xuyên suốt thế kỷ XX, tôi xác lập tỉ lệ về năng lực chiến tranh của phương Tây vào năm 2000 và năm 1900 là 50:1, nghĩa là phương Tây đạt được 5 điểm vào năm 1900 so với 250 điểm vào năm 2000.

Năm Phương Tây Phương Đông
2000 16.700 (New York) 26.700(Tokyo)
1900 6.600 (London) 1.750(Tokyo)
1800 900 (London) 1.100 (Bắc Kinh)
1700 600 (London, Constantinople) 650 (Bắc Kinh)
1600 400 (Constantinople) 700 (Bắc Kinh)
1500 100 (Constantinople) 650 (Bắc Kinh)
1400 125 (Cairo) 500 (Nam Kinh)
1200 250 (Baghdad, Cairo, Constantinople) 800 (Hàng Châu)
1000 200 (Cordoba) 1.000 (Khai Phong)
800 175 (Damascus) 1.000 (Trường An)
600 125 (Constantinople) 250 (Đại Hưng)
400 500 (Rome) 150 (Lạc Dương)
200 800 (Rome) 120 (Lạc Dương)
1 TCN/CN 1.000 (Rome) 500 (Trường An)
200 TCN 300 (Alexandria) 125 (Lâm Truy)
500 150 (Babylon) 80 (Lạc Dương)
1000 25 (Susa) 35 (Tề)
1200 80 (Babylon, Thebes) 50 (An Dương)
1500 75 (Uruk, Thebes) 35 (Trịnh Châu, Yển Sư)
2000 60 (Memphis) 15 (Lý Nhị Đầu)
3000 45+ (Uruk) 2 (Đại Địa Loan)
4000 5 (Uruk, Tell Brak) <1 (Xipo? Đại Địa Loan?)
6500 3 (Çatalhöyük)
7500 TCN 1 (Beidha, Basta, Çatalhöyük)

Bảng A.2. Dân số của khu định cư lớn nhất tại mỗi vùng lõi, tính theo đơn vị hàng nghìn (thời điểm được lựa chọn).

Sức mạnh quân sự của phương Tây vào năm 1900 lớn hơn nhiều so với phương Đông, cho dù khoảng cách chắc chắn không lớn như năm 2000. Hải quân Anh có trọng tải tàu gấp sáu lần trọng tải tàu của hải quân Nhật Bản vào năm 1902, và bất cứ một cường quốc nào của châu Âu đều có số binh lính được trang bị vũ khí mạnh hơn Nhật Bản; tôi đặt tỉ lệ phương Tây/phương Đông vào năm 1900 là 5:1, nghĩa là phương Đông chỉ đạt được 1 điểm vào năm 1900 (so với 5 điểm của phương Tây vào năm 1900 và 12,5 điểm của phương Đông vào năm 2000).

Không phải ai cũng cảm thấy thoải mái với mức độ chủ quan trong những tính toán như thế này, nhưng điểm quan trọng đó là năng lực quân sự của phương Tây vào năm 2000 lớn đến mức tất cả các điểm số khác – kể cả năng lực quân sự của phương Tây vào năm 1900 hoặc thậm chí năng lực quân sự của phương Đông vào năm 2000 – đều nhỏ bé; vì thế, những sai số liên quan đến ước tính là không đáng kể. Chúng ta có thể tăng gấp đôi, hoặc giảm một nửa, bất kỳ hoặc tất cả các điểm số về chiến tranh cho tất cả các giai đoạn đến năm 1900 mà không có sự ảnh hưởng đáng kể nào đối với tổng số điểm phát triển.

Sự tương phản giữa chiến tranh của phương Tây vào năm 1800 và năm 1900 ít hơn sự tương phản chiến tranh từ năm 1900 đến năm 2000, nhưng nó vẫn còn rất lớn, đưa chúng ta đi từ thời kỳ của những chiếc thuyền buồm, những cuộc đột kích bằng kỵ binh, và những khẩu súng hỏa mai nòng trơn nạp đạn phía trước đến thời kỳ của những quả đạn pháo, tàu chạy dầu bọc thép, và súng máy, với xe tăng và máy bay chỉ hoạt động trong phạm vi hẹp. Thế kỷ XIX có lẽ đã nâng cao năng lực chiến tranh của phương Tây ở tầm lớn hơn, và tôi chỉ cho năng lực chiến tranh của phương Tây 0,5 điểm vào năm 1800. Chiến tranh ở phương Tây tại thời điểm đó có hiệu ứng lớn hơn rất nhiều so với chiến tranh ở phương Đông, có lẽ phương Đông chỉ được 0,1 điểm vào năm 1800.

Trong giai đoạn từ năm 1500 đến năm 1800, châu Âu đã trải qua cái mà các nhà sử học thường gọi là cuộc cách mạng quân sự, có lẽ nó đã tăng hiệu quả chiến tranh lên gấp bốn lần. Ngược lại, chiến tranh ở phương Đông lại thụt lùi trong giai đoạn từ năm 1700 (khi Khang Hy bắt đầu xâm chiếm các vùng thảo nguyên) đến năm 1800. Khi không có các mối đe dọa hiện hữu, các nhà cai trị Trung Hoa thường xuyên tìm kiếm các khoản lợi tức hòa bình bằng cách giảm bớt các lực lượng vũ trang và bỏ qua các tiến bộ kỹ thuật đắt đỏ. Đáng lưu ý là chiến tranh ở phương Đông vào năm 1800 không hiệu quả hơn so với năm 1500, và kém hiệu quả hơn nhiều so với năm 1700 – điều này liên quan rất nhiều đến lý do tại sao các lực lượng quân sự của Anh dễ dàng quét sạch các đội quân Trung Hoa vào thập niên 1840.

Sự xuất hiện của các loại vũ khí dùng thuốc súng ở thế kỷ XIV đã nâng cao năng lực chiến tranh ở cả phương Đông lẫn phương Tây, mặc dù ít dữ dội hơn những phát minh của thế kỷ XIX và XX. Ở châu Âu, các đội quân thiện chiến nhất vào khoảng năm 1500 (đặc biệt là Đế quốc Ottoman) có lẽ có hiệu quả gấp đôi so với các đội quân trước đó năm thế kỷ, mặc dù điều đó còn liên quan nhiều đến quy mô lực lượng và hậu cần cũng như đến hỏa lực.

Tính toán mối tương quan giữa chiến tranh ở phương Tây vào khoảng năm 1500 với các đội quân hùng hậu, có tổ chức cao, nhưng chưa có thuốc súng của Đế quốc La Mã là hết sức khó khăn. Một nghiên cứu đã ước tính rằng một máy bay ném bom phản lực ở thời điểm năm 2000 có khả năng sát thương cao gấp nửa triệu lần khả năng sát thương của một binh đoàn La Mã, chúng ta có thể xem đó như một hàm ý rằng điểm số của phương Tây vào năm 1 TCN/CN sẽ là 0,0005 điểm; nhưng tất nhiên La Mã có nhiều binh đoàn hơn số lượng máy bay ném bom mà Hoa Kỳ sở hữu, và tôi ước tính tỉ lệ chiến tranh giữa phương Tây hiện đại và La Mã là 2.000:1, nên cho điểm số của phương Tây vào năm 1 TCN/CN là 0,12 điểm. Điều đó biến cỗ máy chiến tranh của La Mã ở thời kỳ đỉnh cao thành một đối thủ đáng gờm đối với các lực lượng quân đội và hải quân châu Âu ở thế kỷ XV, bất chấp súng và đại pháo của họ, nhưng không phải là đối thủ của các lực lượng thời kỳ “cách mạng quân sự.” Điều đó cũng có nghĩa rằng quân đội của La Mã vào thời kỳ đỉnh cao của nó có thể cạnh tranh với quân đội của Mông Cổ và vượt trội hơn quân đội của triều đại nhà Đường, Trung Hoa.❖

Ở phương Đông, nơi vũ khí bằng đồng vẫn còn là chuẩn mực cho đến cuối năm 200 TCN, các đội quân của nhà Hán (từ năm 200 TCN đến năm 200) dường như ít hiệu quả hơn các đội quân của La Mã, mặc dù sức mạnh quân sự của Trung Hoa suy giảm ít hơn phương Tây sau Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới. Các lực lượng quân đội và hải quân mà nhà Tùy đã sử dụng để thống nhất Trung Hoa ở thế kỷ VI mạnh hơn rất nhiều so với bất kỳ lực lượng nào ở phương Tây, và trong giai đoạn trị vì của Võ Hậu vào khoảng năm 700, khoảng cách đó là rất lớn.

Các lực lượng quân sự ở những thế kỷ TCN yếu hơn rất nhiều so với các đội quân của Đế quốc La Mã và nhà Hán. Tôi cho rằng ở phương Đông, không có đội quân nào trước thời kỳ Nhị Lý Đầu vào khoảng năm 1900 TCN đủ hiệu quả để đạt được 0,01 điểm; ở phương Tây, quân đội Ai Cập và Lưỡng Hà có thể ghi được 0,01 điểm vào khoảng năm 3000 TCN.

Năm Phương Tây Phương Đông
2000 250 12,5
1900 5 1
1800 0,5 0,1
1700 0,35 0,15
1600 0,18 0,12
1500 0,13 0,10
1400 0,11 0,11
1200 0,08 0,09
1000 0,06 0,08
800 0,04 0,07
600 0,04 0,09
400 0,09 0,07
200 0,11 0,07
1TCN/CN 0,12 0,08
200 TCN 0,1 0,07
400 0,09 0,05
600 0,07 0,03
800 0,05 0,02
1000 0,03 0,03
1200 0,04 0,02
1500 0,02 0,01
2000 0,01 0
2500 0,01 0
3000 TCN 0,01 0

Bảng A.3. Năng lực chiến tranh, thể hiện bằng điểm số trên chỉ số phát triển xã hội (thời điểm được lựa chọn).

Công nghệ thông tin

Các nguồn tư liệu khảo cổ học và văn bản cho chúng ta biết những loại công nghệ thông tin nào đã tồn tại ở những thời kỳ khác nhau và không quá khó để ước tính các phương tiện truyền thông này có thể truyền tải được bao nhiêu thông tin, với vận tốc nào và ở những khoảng cách bao xa. Vấn đề thực sự nằm trong việc ước tính mức độ sử dụng các công nghệ khác nhau, đồng nghĩa với việc có bao nhiêu người có thể đọc và viết và có độ thông thạo ở mức nào xuyên suốt hầu hết lịch sử.

Định luật Moore – cho rằng hiệu quả chi phí của công nghệ thông tin tăng gấp đôi mỗi 18 tháng kể từ năm 1950 – dường như ngụ ý rằng điểm số năm 2000 phải cao hơn điểm số của năm 1900 khoảng một tỉ lần, mang lại cho chúng ta điểm số của phương Tây vào năm 1900 là 0,00000025 điểm. Tất nhiên, điểm số đó có thể đã bỏ qua tính linh hoạt của các hình thức lưu trữ thông tin xưa cũ như sách in (mà các phương tiện truyền thông kỹ thuật số chỉ mới bắt đầu thách thức) và những thay đổi qua thời gian trong việc tiếp cận các kỹ thuật tiên tiến nhất.

Tỉ lệ chính xác giữa công nghệ thông tin hiện đại và công nghệ thông tin thời kỳ trước đó là dưới 1 tỉ:1, mặc dù tỉ lệ đó rõ ràng là rất lớn, với kết quả là các điểm số trước năm 1900 (và cả các biên độ sai số trước năm 1900) thậm chí còn nhỏ bé hơn so với trường hợp của chiến tranh. Mặt khác, bằng chứng có bao nhiêu người có thể đọc, viết, và đếm ở các mức độ thông thạo khác nhau lại mơ hồ hơn bằng chứng về chiến tranh, và những ước tính dựa trên phỏng đoán của tôi thậm chí còn đầy ấn tượng hơn.

Trong Bảng A.4, tôi sử dụng phương pháp tiếp cận nhiều bước để lượng định công nghệ thông tin. Thứ nhất, theo thông lệ chung của các nhà sử học, tôi phân loại các kỹ năng ở các mức độ đầy đủ, trung bình và cơ bản. Định mức cho các loại kỹ năng được đặt ở mức thấp – về khía cạnh biết chữ, kỹ năng cơ bản nghĩa là có thể đọc và viết được tên; kỹ năng trung bình nghĩa là có thể đọc hoặc viết một câu đơn giản; và kỹ năng đầy đủ nghĩa là có thể đọc và viết một bài văn xuôi có kết nối. Các định nghĩa của Chính phủ Trung Hoa trong cuộc vận động xóa mù chữ năm 1950 cũng khá tương tự (biết chữ đầy đủ là có thể nhận biết được 1.000 ký tự, biết một nửa là có khả năng nhận biết được từ 500 đến 1000 ký tự, và cơ bản biết chữ là có khả năng nhận biết được từ 300 đến 500 ký tự).

Thứ hai, dựa trên trình độ học vấn sẵn có, tôi chia số nam giới trưởng thành ở các thời kỳ khác nhau thành ba loại này. Đối với mỗi phần trăm nam giới nằm trong nhóm biết chữ hoàn toàn, tôi cho 0,5 điểm; đối với mỗi phần trăm nam giới nằm trong nhóm biết chữ trung bình, tôi cho 0,25 điểm; và đối với mỗi phần trăm nam giới nằm trong nhóm biết chữ cơ bản, tôi cho 0,15 điểm. Sau đó tôi cũng gán điểm số tương tự cho nữ giới. Bằng chứng về nữ giới biết chữ không nhiều bằng nam giới, dù rõ ràng cho đến thế kỷ XX, số nữ giới có thể đọc và viết ít hơn (thường thì ít hơn nhiều) so với nam giới. Mặc dù về cơ bản, tôi đưa ra phỏng đoán trước những thời kỳ gần đây, nhưng tôi đánh bạo ước tính nữ giới sử dụng công nghệ thông tin theo tỉ lệ phần trăm nam giới sử dụng công nghệ thông tin. Sau đó tôi ấn định điểm số cho mỗi thời kỳ dựa trên khối lượng và mức độ sử dụng công nghệ thông tin.

Năm 2000, 100% nam giới và nữ giới nằm trong nhóm biết chữ hoàn toàn ở cả hai vùng lõi phương Tây và phương Đông,⦾ ghi được 100 điểm công nghệ thông tin cho cả hai khu vực. Vào năm 1900, hầu như tất cả nam giới ở vùng lõi phương Tây ít nhiều đều biết chữ (50% biết chữ hoàn toàn, 40% biết chữ trung bình và 7% biết chữ cơ bản) và hầu hết nữ giới cũng được học hành, điều này đã mang lại cho phương Tây 63,8 điểm công nghệ thông tin. Ở phương Đông, tỉ lệ biết chữ cũng phổ biến ở nam giới, mặc dù không ở mức cao như vậy (tôi ước tính 15% biết chữ đầy đủ, 60% biết chữ trung bình và 10% biết chữ cơ bản), mặc dù bình quân tỉ lệ phụ nữ biết chữ có thể chỉ là ¼. Kết quả điểm số công nghệ thông tin của phương Đông là 30 điểm. Khi tôi lặp lại những cách tính toán này lùi thêm vào lịch sử, biên độ sai số có thể có xung quanh các ước tính của tôi tăng lên đều đặn, mặc dù số lượng người biết chữ nhỏ nhoi khiến cho tác động của các sai số này vì lẽ đó cũng nhỏ theo.

Bước thứ ba là áp dụng một số nhân đối với tốc độ thay đổi và sự tiếp cận các công nghệ truyền thông. Tôi chia các công cụ xử lý thông tin tiên tiến nhất thành ba loại chính: điện tử (được sử dụng ở cả phương Đông lẫn phương Tây vào năm 2000), điện (được sử dụng ở phương Tây vào khoảng năm 1900), và trước khi có điện (áp dụng cho phương Tây khoảng 11.000 năm và phương Đông khoảng 9.000 năm).

Không giống hầu hết các nhà sử học, tôi không tạo ra khác biệt lớn giữa các thời kỳ in ấn và thời kỳ tiền in ấn; sự đóng góp chính của công nghệ in ấn là sản xuất ra nhiều ấn phẩm hơn và với giá rẻ thay vì chuyển đổi cách thức liên lạc theo cách mà điện báo hoặc Internet có thể làm, và những thay đổi lượng định này đã được tính đến. Đối với các công nghệ điện tử, tôi sử dụng số nhân là 2,5 đối với phương Tây và 1,89 đối với phương Đông, điều này phản ánh sự sẵn có tương đối của máy tính và truyền thông băng thông rộng ở phương Tây và phương Đông vào năm 2000. Đối với các công nghệ điện, vốn có một số tác động ở phương Tây vào khoảng năm 1900, tôi sử dụng số nhân 0,05; và đối với các công nghệ trước khi có điện, được sử dụng ở mọi thời kỳ khác, tôi sử dụng số nhân 0,01 ở cả phương Đông và phương Tây. Do đó, vào năm 2000, phương Tây ghi được 250 điểm phát triển xã hội tối đa có thể (100 điểm công nghệ thông tin × 2,5) và phương Đông đạt được 189 điểm (100 điểm công nghệ thông tin × 1,89); vào năm 1900, phương Tây đạt 3,19 điểm (63,8 × 0,05) và phương Đông đạt 0,3 điểm (30 × 0,01). Điểm số phương Tây đạt mức tối thiểu cần thiết để ghi trên chỉ số phát triển xã hội (tức là 0,01 điểm) chỉ tính từ khoảng năm 3300 TCN và ở phương Đông là khoảng năm 1300 TCN.

Phân loại nam giới (%)
Thời gian (Mức độ) Đầy đủ (1% = 0.5 điểm) Trung bình (1% = 0.25 điểm) Cơ bản (1% = 0.15 điểm) Điểm số nam giới (M) Nữ giới (%M) Điểm số biết chữ Hệ số Tổng điểm
Điểm số phương Tây
1800 20 (10) 25 (6,25) 20 (3) 19,3 50% = 9,65 28,95 × 0.01 0,29
1700 10 (5) 15 (3,75) 25 (3,75) 12,5 10% = 1,25 13,75 × 0,01 0,14
1600 5 (2,5) 10 (2.5) 10 (1,5) 6,5 2% = 0,13 6,63 × 0,01 0,07
1500 4 (2) 8 (2) 6 (0,9) 4,9 2% = 0,1 5 × 0,01 0,05
1400 3 (1,5) 6 (1,5) 4 (0,6) 3,6 1% = 0,04 3,64 × 0,01 0,04
1300 3 (1,5) 6 (1,5) 4 (0,6) 3,6 1% = 0,04 3,64 × 0,01 0,04
1200 3 (1,5) 6 (1,5) 4 (0,6) 3,6 1% = 0,04 3,64 × 0,01 0,04
1100 2 (1) 4 (1) 3 (0,45) 2,95 1% = 0,02 2,32 × 0,01 0,02
1000 2 (1) 4 (1) 3 (0,45) 2,95 1% = 0,02 2,32 × 0,01 0,02
600-900 2 (1) 2 (0,5) 1 (0,15) 1,65 1% = 0,02 1,67 × 0,01 0,02
300-500 3 (1,5) 4 (1) 3 (0,45) 2,95 1% = 0,03 2,98 × 0,01 0,03
100 TCN-200 4 (2) 6 (1,5) 5 (0,75) 4,25 1% = 0,04 4,29 × 0,01 0,04
500-200 TCN 2 (1) 3 (0,75) 2 (0,3) 2,05 1% = 0,02 2,07 × 0,01 0,02
900-600 TCN 1 (1) 2 (0,5) 1 (0,15) 1,65 1% = 0.02 1,67 × 0,01 0,02
1100-1000 TCN 1 (1) 1 (0,25) 1 (0,15) 1,4 1% = 0,01 1,41 × 0,01 0,01
2200-1200 TCN 1 (1) 2 (0,5) 1 (0,15) 1,65 1% = 0.02 1,67 × 0,01 0,02
2700-2300 TCN 1 (1) 1 (0,25) 1 (0,15) 1,4 1% = 0,01 1,41 × 0,01 0,01
3300-2800 TCN 0 (1) 1 (0,25) 2 (0,3) 0,55 1% = 0,01 0,56 × 0,01 0,01
6000-3400 TCN 0 0 1 (0,15) 0,15 1% = 0 0,15 × 0,01 0
9000-6100 TCN 0 0 0 0 1% = 0 0 × 0,01 0
9300-9000 TCN 0 0 1 (0,15) 0,15 1% = 0 0,15 × 0,01 0
Điểm số phương Đông
2000 100 (50) 0 0 50 100% = 50 100 × 1,89 189
1900 15 (7,5) 60 (15) 10 (1,5) 24 25% = 6 30 × 0,01 0,3
1800 5 (2,5) 35 (8,75) 10 (1,5) 12,75 5% = 0,64 13,39 × 0,01 0,13
1700 5 (2,5) 20 (5) 10 (1,5) 9 2% = 0,18 9,18 × 0,01 0,09
1600 4 (2) 15 (3,75) 10 (1,5) 7,25 2% = 0,15 7,4 × 0,01 0,07
1500 3 (1,5) 10 (2,5) 10 (1,5) 5,5 2% = 0,11 5,61 × 0,01 0,06
1400 3 (1,5) 10 (2,5) 10 (1,5) 5,5 2% = 0,11 5,61 × 0,01 0,06
1300 3 (1,5) 5 (1,25) 5 (0,75) 3,5 1% = 0,04 3,54 × 0,01 0,04
1200 3 (1,5) 5 (1,25) 5 (0,75) 3,5 1% = 0,04 3,54 × 0,01 0,04
1100 2 (1) 2 (0,5) 3 (0,45) 1,95 1% = 0,02 1,97 × 0,01 0,02
600 TCN - 1000 2 (1) 2 (0,5) 2 (0,3) 1,8 1% = 0,02 1,82 × 0,01 0,02
1000-700 TCN 2 (1) 1 (0.25) 1 (0,15) 1,4 1% = 0,01 1,41 × 0,01 0,01
1300-1100 TCN 1 (0,5) 1 (0,25) 1 (0,15) 0,9 1% = 0,01 0,91 × 0,01 0,01
7000-1400 TCN 0 0 1 (0,15) 0,15 1% = 0 0,15 × 0,01 0

Bảng A.4. Điểm số công nghệ thông tin

Biên độ sai số

Tôi đã nói nhiều lần về các ước tính và phỏng đoán ở phần trước, bởi vì không có cách nào để xây dựng một chỉ số phát triển xã hội nếu không có những ước tính và phỏng đoán như thế. Một hệ quả của điều này là không có chỉ số nào sẽ luôn đúng, cho dù chúng ta hiểu từ đúng theo nghĩa mỗi chi tiết đều hoàn toàn chính xác hoặc theo nghĩa yếu hơn rằng tất cả các chuyên gia sẽ có cùng các ước tính tương tự. Do đó, chẳng có lý do gì khi cho rằng điểm số phát triển xã hội mà tôi đã tính toán là sai. Tất nhiên là nó sai, nhưng vấn đề thực sự là: Các điểm số đó sai như thế nào? Liệu các điểm số đó có sai đến mức hình dạng cơ bản của lịch sử phát triển xã hội được biểu thị bằng các biểu đồ Chương 4-10 là sai lệch, có nghĩa là toàn bộ cuốn sách này bị sai lệch nghiêm trọng? Hay những sai số trên thực tế là tương đối nhỏ?

Về nguyên tắc, những câu hỏi này có thể được trả lời một cách dễ dàng, chúng ta chỉ cần hỏi (1) chúng ta chỉ cần thay đổi điểm số bao nhiêu để khiến cho quá khứ trông khác biệt đến mức các lập luận trước đây trong cuốn sách này sẽ không còn đúng nữa và (2) liệu những thay đổi đó có đáng tin cậy hay không.

Cuối cùng, cách duy nhất để làm điều này là kiểm tra bằng chứng được liệt kê trên trang web http://www.ianmorris.org; đối với mỗi tính toán riêng mà tôi đã thực hiện, nhưng ở đây tôi muốn đề cập ngắn gọn về khả năng các lỗi hệ thống sẽ hủy hoại những khẳng định của tôi về hình dạng tổng thể của lịch sử. Theo chỉ số của tôi (thể hiện trên thang Logarit tuyến tính ở Hình 3.7), phương Tây chiếm vị trí dẫn đầu sau năm 14000 TCN. Phương Đông chậm bắt kịp, và suốt hầu hết thiên niên kỷ thứ nhất TCN, vị trí dẫn đầu của phương Tây đã bị thu hẹp khoảng cách. Khoảng năm 100 TCN, phương Tây gia tăng vị trí dẫn đầu, nhưng vào năm 541, phương Đông đã vượt lên phía trước. Phương Đông duy trì vị trí đó mãi đến năm 1773. Phương Tây sau đó giành lại vị trí dẫn đầu, và sẽ giữ vững vị trí đó cho đến năm 2103 nếu các xu thế của thế kỷ XX tiếp tục. Phát triển của phương Tây cao hơn phương Đông trong 92,5% thời gian kể từ khi kết thúc Thời đại Băng hà.

Tôi đã đề xuất ở Chương 3 rằng điểm số tổng thể của tôi có thể bị sai lệch khoảng 10% mà không làm thay đổi đáng kể mẫu hình này. Hình A.2a cho thấy các xu hướng sẽ như thế nào nếu tôi luôn ước tính thấp các điểm số phát triển của phương Tây khoảng 10% và ước tính cao các điểm số của phương Đông với một tỉ lệ tương tự; Hình A.2b cho thấy kết quả nếu tôi ước tính thấp điểm số phát triển của phương Đông 10% và ước tính cao điểm số của phương Tây với tỉ lệ tương tự.

Điểm đầu tiên cần lưu ý là những điểm số này rất khó tin cậy. Hình A.2a, tăng điểm số phương Tây và giảm điểm số phương Đông 10%, bắt chúng ta phải chấp nhận rằng phương Tây phát triển hơn phương Đông vào năm 1900, ngay trước khi Trịnh Hòa giương buồm đến Ấn Độ Dương, điều này cũng có nghĩa là khi Hannibal chỉ huy đàn voi của mình tấn công La Mã vào năm 218 TCN thì sự phát triển của phương Tây đã cao hơn phương Đông vào thời của Trịnh Hòa. Như thể điều đó chưa đủ đặc biệt, biểu đồ cho chúng ta biết thêm rằng phương Tây khi Julius Caesar bị sát hại vào năm 44 TCN còn phát triển hơn phương Đông khi Hoàng đế Càn Long của Trung Hoa từ chối tiếp phái bộ thương mại của bá tước Macartney năm 1793. Hình A.2b thậm chí còn đặc biệt hơn. Ví dụ, điểm số phát triển mà nó dành cho phương Tây vào năm 700 khi người Ả Rập cai trị một lãnh thổ rộng lớn từ Damascus, thấp hơn điểm số nó dành cho phương Đông vào thời kỳ của Khổng Tử, điều đó không thể đúng; và nó có thể làm điểm số phương Tây vào năm 1800, khi cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra, thấp hơn điểm số của phương Đông dưới triều đại nhà Tống vào năm 1000-1200, mà điều này ít có khả năng xảy ra hơn.

Tuy nhiên, cho dù các nhà sử học có thể chấp nhận những kết luận kỳ quặc như vậy, thì những khuôn mẫu của lịch sử như được thể hiện trong Hình A.2 vẫn chưa đủ khác biệt so với những khuôn mẫu ở Hình 3.7 để thay đổi mẫu hình cơ bản cần phải giải thích. Các học thuyết về ngẫu nhiên ngắn hạn vẫn không đầy đủ và ngay cả trong Hình A.2b, điểm số phương Tây vẫn cao hơn suốt hầu hết thời gian (mặc dù hầu hết bây giờ có nghĩa là 56% thay vì 92,5%); do đó, các lý thuyết chốt khóa dài hạn cũng tương tự như thế, vì ngay cả trong Hình A.2a, phương Đông vẫn dẫn đầu suốt bảy thế kỷ. Sinh học và xã hội học vẫn là những lời giải thích đáng tin cậy nhất cho sự di chuyển đi lên nhưng bị gián đoạn của sự phát triển, trong khi địa lý vẫn là sự giải thích đáng tin cậy nhất đối với lý do tại sao phương Tây thống lĩnh thế giới.

Hình A.2. Sai số được thể hiện: các hàm ý lỗi hệ thống trong điểm số phát triển xã hội. (a) tăng tất cả điểm số phương Tây lên 10% và giảm tất cả các điểm số phương Đông với tỉ lệ tương tự; (b) tăng tất cả điểm số phương Đông lên 10% và giảm tất cả điểm số phương Tây với tỉ lệ tương tự.

Để thay đổi các mẫu hình cơ bản, những ước tính của tôi có thể cần phải sai lệch mục tiêu 20%. Hình A.3a cho thấy lịch sử sẽ trông như thế nào nếu tôi luôn đánh giá thấp điểm số phát triển của phương Tây mức 20% và đánh giá cao điểm số của phương Đông với tỉ lệ tương tự; Hình A.3b là kết quả nếu tôi tính toán thấp điểm số phát triển của phương Đông ở mức 20% và tính toán cao điểm số của phương Tây với tỉ lệ tương tự.

Lần này, các mẫu hình trở nên rất khác nhau. Trong Hình A.3a, điểm số của phương Tây luôn luôn cao hơn điểm số của phương Đông, khiến các học thuyết chốt khóa dài hạn có vẻ rất đáng tin cậy và cũng phủ nhận khẳng định của tôi rằng phát triển xã hội làm thay đổi ý nghĩa của địa lý. Ngược lại, Hình A.3b thực sự đảo ngược các kết luận về chỉ số thực tế của tôi, khiến cho phương Đông dẫn đầu suốt 90% thời gian kể từ Thời đại Băng hà.

Nếu Hình A.3a hoặc Hình A.3b là chính xác, thì mọi thứ bạn vừa đọc trong cuốn sách này đều sai. Tuy nhiên, chúng ta có thể tin chắc rằng chúng không chính xác. Hình A.3a, tăng điểm số phương Tây và giảm điểm số phương Đông ở mức 20%, cho chúng ta thấy rằng sự phát triển của Đế quốc La Mã vào những năm 1 TCN/CN chỉ đứng sau sự phát triển của nước Nhật Bản công nghiệp vào năm 1900 năm điểm, điều này không thể đúng; trong khi Hình A.3b, tăng điểm số phương Đông và giảm điểm số phương Tây 20%, có nghĩa rằng sự phát triển của phương Đông vào thời kỳ tiền nhà Thương đã cao hơn sự phát triển của phương Tây thời kỳ Đế quốc Ba Tư; rằng phương Tây chỉ bắt kịp phương Đông vào năm 1828, vào đêm trước của Chiến tranh Nha phiến; và sự thống lĩnh của phương Tây đã kết thúc (năm 2003). Không một điều nào trong những này có vẻ đáng tin.

Do đó, các đề xuất của tôi ở Chương 3 rằng (a) biên độ sai số trong các ước tính của tôi có thể thấp hơn 10% và chắc chắn là dưới 20%, và (b), ngay cả khi biên độ sai số tăng đến 10%, thì các mẫu hình lịch sử cơ bản mà tôi đang cố gắng giải thích vẫn đúng.

Hình A.3. Sai số thậm chí lớn hơn: (a) tăng tất cả điểm số phương Tây và giảm tất cả điểm số phương Đông ở mức 20%, và (b) tăng tất cả điểm số phương Đông và giảm tất cả điểm số phương Tây ở mức 20%.

Kết luận

Tôi đã quan sát nhiều lần ở Chương 3 rằng tạo ra một chỉ số phát triển xã hội là nghệ thuật điêu khắc cưa xẻ. Điều tốt nhất mà một chỉ số có thể làm là cung cấp cho chúng ta một phép đo xấp xỉ đúng và đủ tốt để biến các giả định của người thiết lập chỉ số trở nên rõ ràng. Tôi đã lập luận rằng lý do chính trong một thời gian khá lâu chúng ta không giải thích lý do tại sao phương Tây vượt trội đó là những người bênh vực đã định nghĩa các thuật ngữ của họ theo những cách khác nhau và tập trung vào các phần khác nhau của vấn đề. Vì vậy, việc làm đơn giản để thiết lập một chỉ số là đẩy cuộc tranh luận về phía trước.

Những người chỉ trích cuốn sách này đưa ra phản biện đầu tiên trong số những phản biện mà tôi đã liệt kê ở phần đầu phụ lục này – rằng các so sánh lượng định là không thể chấp nhận được vì nó làm chúng ta mất đi nhân tính – buộc phải tìm kiếm một phương thức khác để giải thích lý do tại sao phương Tây vượt trội hoặc chỉ ra được lý do tại sao chúng ta không nên đặt ra câu hỏi đó, trong khi những người chỉ trích đưa ra các phản biện thứ hai đến thứ tư – rằng tôi định nghĩa phát triển xã hội thật tồi tệ, tôi đã sử dụng các yếu tố không đúng hoặc hiểu sai các bằng chứng – buộc phải đưa ra các chỉ số tốt hơn của riêng mình. Và sau đó, có lẽ, chúng ta sẽ nhìn thấy một số tiến bộ thực sự.⦾

Người dịch Nguyễn Thanh Xuân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.