Tại Sao Phương Tây Vượt Trội

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2 Phương Tây dẫn đầu
Sự ấm lên toàn cầu

❊ ❊ ❊

Mặc dù những người hang động ngồi lạnh run quanh đống lửa 2.000 năm trước không hề biết đến nó [sự ấm lên toàn cầu] thì thế giới của họ cũng đã bắt đầu ấm dần lên. Sự kết hợp giữa biến đổi khí hậu và những bộ óc siêu việt hơn 10.000 năm sau đó đã làm thay đổi địa lý và tạo nên những phương cách sống có tính chất vùng miền riêng biệt vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay. Và khái niệm phương Đông – phương Tây đã chớm hình thành từ đây.

Hệ quả của sự ấm lên toàn cầu là không thể tin được. Chỉ trong hai hoặc ba thế kỷ vào khoảng năm 17000 TCN, mực nước biển đã dâng thêm 12,2m khi những dòng sông băng bao phủ khắp khu vực Bắc Mỹ, châu Âu, và châu Á bị tan chảy. Khu vực giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Crimea, nơi những con sóng của Biển Đen tràn vào (Hình 2.1), đã từng là một lưu vực trũng sâu trong suốt Thời đại Băng hà, nhưng những dòng sông băng đó giờ đây đã trở thành hồ nước ngọt lớn nhất thế giới.

Sự tan băng này đã gây nên lũ lụt kinh hoàng kiểu truyền thuyết Noah⦾ với mực nước dâng nhiều lần trong ngày, mỗi lần hơn 15cm, và cứ mỗi ngày trôi qua như vậy thì bờ hồ lại lấn thêm 1,6km nữa. Không có gì trong thời hiện đại có thể so sánh được với điều này. Sự thay đổi quỹ đạo trái đất tạo nên chuyển động qua lại tự nhiên giữa ấm và lạnh, giữa hội hè và đói kém. Hình 2.2 cho thấy diễn biến của tỉ lệ hai đồng vị oxy trong lõi băng Nam Cực đã nhắc đến ở Chương 1 được thể hiện theo đường zigzag vào thời điểm trước và sau khi khí hậu thay đổi. Chỉ sau năm 14000 TCN, khi các dòng sông băng ngừng đổ số băng tan vào đại dương, thế giới rõ ràng xảy ra hiện tượng cứ mỗi bước lùi về thời kỳ băng giá thì lại đến hai bước tiến đến sự ấm áp. Tiến trình này tăng vọt vào khoảng năm 12700 TCN, và chỉ trong một vòng đời toàn cầu đã ấm lên khoảng 3°C, đưa nó nằm trong khoảng sai biệt 0.5°C hoặc 1°C so với nhiệt độ chúng ta đã biết trong những thời điểm gần đây.

Người Ki-tô giáo thời Trung cổ thường nghĩ về vũ trụ như một Chuỗi Sự sống Vĩ đại, khởi từ Thượng Đế xuống dần đến loài côn trùng bé nhỏ. Người giàu ở lâu đài, người nghèo gác cổng – tất cả đều có sự phân định theo một trật tự bất biến. Dù vậy, chúng ta có thể hình dung ra một điều gì khác chứ không chỉ Chuỗi Năng lượng Lớn bất biến. Chính lực hấp dẫn tạo nên vũ trụ. Nó chuyển đổi vũ trụ từ thời kỳ nguyên thủy hỗn độn thành khí hydro và heli rồi biến những nguyên tố đơn giản này thành những vì sao. Mặt trời của chúng ta hoạt động như một lò phản ứng hạt nhân to lớn chuyển đổi trọng lực thành năng lượng điện từ, và thực vật trên trái đất quang hợp một phần nhỏ năng lượng này để chuyển thành năng lượng hóa học, sau đó động vật tiêu thụ thực vật rồi chuyển hóa thành năng lượng động học.

Hình 2.1. Bức tranh lớn: câu chuyện của chương này nhìn ở phạm vi toàn cầu.

Hình 2.2. Một câu chuyện viết trong băng tuyết: tỉ lệ giữa các đồng vị oxygen trong bóng khí bị giam hãm trong băng nổi Nam Cực, cho thấy những biến đổi của thời tiết ấm/ẩm và lạnh/khô trong 20.000 năm trở lại đây.

Sự tương tác giữa mặt trời và sức hút của các hành tinh khác định hình nên quỹ đạo của trái đất, từ đó xác định được bao nhiêu năng lượng điện từ mà chúng ta tiếp nhận, cũng như số năng lượng hóa học mà thực vật tạo thành, và lượng động năng mà động vật sản sinh ra từ đó; và điều này cũng quyết định mọi thứ khác.

Khoảng năm 12700 TCN, trái đất vọt lên Chuỗi Năng lượng Lớn. Có nhiều ánh nắng nghĩa là có thêm nhiều thực vật, nhiều động vật, và cả nhiều lựa chọn cho nhân loại về lượng thực phẩm tiêu thụ, lượng công việc và sinh sản. Từng cá thể hay mỗi nhóm nhỏ có thể kết hợp nhiều lựa chọn theo cách của chúng, nhưng tựu trung nhân loại vẫn phản ứng để dịch chuyển lên Chuỗi Năng lượng Lớn theo các kiểu tương tự mà động thực vật đã làm: Sinh sản. Cứ mỗi người sống trong khoảng năm 18000 TCN (có khả năng đến nửa triệu người vào thời điểm đó) sẽ tạo ra một tá người vào khoảng năm 10000 TCN.

Trải nghiệm của con người về sự ấm lên toàn cầu tùy thuộc vào nơi mà họ sinh sống. Các đại dương lớn giúp giảm nhẹ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ở Nam bán cầu nhưng phần Bắc bán cầu lại phải chứng kiến những trái ngược đầy ấn tượng. Đối với những người hái lượm ở khu vực là Biển Đen bây giờ thì sự ấm lên đúng là một thảm họa, mọi thứ chỉ có vẻ dễ chịu hơn đối với người sống ở những khu vực đồng bằng ven biển. Con người thời kỳ đó đã trải qua những mùa hái lượm sung túc nhất vào Thời đại Băng hà, nhưng giờ đây khí hậu trở nên nóng hơn đồng nghĩa với việc nước biển dâng cao hơn. Mỗi năm, những con sóng lại tiến thêm chút nữa và những bãi săn của tổ tiên họ lại bị thu hẹp dần đi cho đến khi mọi thứ hoàn toàn bị nhấn chìm trong nước.⦾ Tuy nhiên, đối với hầu hết những người sống ở Bắc bán cầu, việc dịch chuyển lên Chuỗi Năng lượng Lớn lại tốt cho họ. Con người có thể dịch chuyển theo các loài động thực vật về phía bắc, đến những vùng trước đây quá lạnh để sinh sống, và đến năm 13000 TCN (thời điểm chính xác vẫn còn đang tranh cãi) con người đã tản ra khắp châu Mỹ, nơi trước đó chưa từng xuất hiện dấu chân của loài vượn người. Đến năm 11500 TCN, con người đã đặt chân đến mũi cực nam của lục địa, trèo lên các ngọn núi và dầm mình vào những cơn mưa rừng. Con người thừa hưởng trọn vẹn trái đất kể từ đó.

Vườn địa đàng

Đối tượng được hưởng lợi lớn nhất của sự ấm lên toàn cầu là những chủng loài sống trong Miền Ân Sủng (Lucky Latitudes) nằm khoảng 20-35° Bắc ở Cựu Thế giới và 15° Nam đến 20° Bắc ở Tân Thế giới (xem Hình 2.1). Trong suốt Thời đại Băng hà, động thực vật tập trung ở vùng ôn đới này đã phát triển mạnh mẽ sau năm 12700 TCN, đặc biệt là dường như ở mỗi đầu của châu Á, nơi có những loại ngũ cốc mọc hoang vốn là nguyên mẫu đầu tiên của đại mạch, lúa mì, lúa mạch đen mọc ở phía Tây Nam và lúa gạo, hạt kê mọc ở phía Đông – đã có hạt phát triển to lớn để người ta có thể thu lượm rồi nấu sôi lên thành cháo hoặc giã nát và nướng lên thành bánh mì. Tất cả những gì họ cần làm là đợi đến khi cây chín, rung lắc cho hạt rơi xuống rồi thu lượm. Các thí nghiệm với những hạt mầm có nguồn gốc hoang dã ở vùng Tây Nam châu Á cho thấy rằng chỉ cần 1 hecta thảo mộc là cho thu hoạch đến 1 tấn hạt ăn được, điều này cũng đồng nghĩa với việc mỗi calo năng lượng lao động bỏ ra thu lại được 50 calo năng lượng thực phẩm. Đó thật là một thời kỳ vàng son trong việc tìm kiếm thức ăn.

Trong Thời đại Băng hà, những người săn bắt-hái lượm phải lang thang kiếm ăn khắp vùng này theo từng nhóm nhỏ do khan hiếm thực phẩm, nhưng giờ đây con cháu họ đã bắt đầu thay đổi phương thức. Giống như những loài động vật có kích thước não bộ to lớn (dù chúng ta nói về loài ong, cá heo, vẹt, hay họ hàng gần nhất của chúng ta là vượn người), con người có bản năng kết hợp thành bầy đàn. Chúng ta là loài có tính xã hội cao.

Có thể những động vật có não bộ lớn chọn cách này vì chúng đủ thông minh để nhận ra rằng một nhóm thì có nhiều tai mắt hơn một cá thể đơn độc và hành động tốt hơn khi phải đối mặt với kẻ thù. Hay có thể, theo một số người ủng hộ thuyết tiến hóa, do việc sinh sống thành bầy đàn đã có trước khi não bộ phát triển, bắt đầu từ những gì mà nhà nghiên cứu não bộ Steven Pinker gọi là cuộc chạy đua vũ trang về nhận thức (cognitive arms race)❖, trong đó loài vật nào tìm hiểu được những gì loài khác suy nghĩ – nhận biết được bạn thù, loài nào có thể chia sẻ và loài nào thì không – thường gia tăng số lượng nhanh hơn những loài mà não bộ không có khả năng đó.

Nhưng dù bằng cách nào thì chúng ta cũng tiến hóa để trở nên yêu thích nhau, và tổ tiên chúng ta đã chọn khai thác sự chuyển dịch của trái đất tiến lên Chuỗi Năng lượng Lớn bằng cách hình thành những bầy đàn cố định lớn hơn. Vào khoảng năm 12500 TCN, việc tìm thấy một nhóm 40 hoặc 50 người cùng sống chung trong Miền Ân Sủng đã không còn là chuyện lạ, và cũng có một số nhóm tập trung vượt cả con số trăm người.

Trong Thời đại Băng hà, con người đã có xu hướng dựng lều trại, chọn ăn loại thực vật gì hay nên giết loài động vật nào mà họ tìm thấy được, rồi lại tiếp tục di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Chúng ta vẫn hát ca về việc trở thành một người du mục, phiêu du tự do như chim trời, và những điều tương tự vậy, nhưng khi Chuỗi Năng lượng Lớn khiến cho việc định cư lâu dài trở thành một khả năng có thực thì việc đòi hỏi có một nơi sưởi ấm và một ngôi nhà để trú thân rõ ràng thôi thúc chúng ta dữ dội hơn nhiều. Người Trung Hoa bắt đầu chế tác đồ gốm (sẽ là một ý tồi nếu bạn dự tính ở mỗi nơi chỉ vài tuần rồi lại dời đi) ngay từ khoảng năm 16000 TCN, và ở cao nguyên Peru những người săn bắt-hái lượm đã xây tường và giữ chúng luôn sạch sẽ vào khoảng năm 11000 TCN – một hành động vô nghĩa đối với những người liên tục di chuyển nhưng lại hoàn toàn hợp lý với những ai sống cố định một nơi trong nhiều tháng dài liên tục.

Bằng chứng rõ ràng nhất cho việc con người quần cư là vùng mà giới khảo cổ gọi là Hilly Flanks, một vùng đất vòng cung uốn quanh sông Tigris, sông Euphrates, và thung lũng sông Jordan ở Tây Nam châu Á. Tôi sẽ dành phần lớn chương này nói về vùng đất đó để thấy được những dịch chuyển cơ bản đầu tiên của nhân loại nhằm rời bỏ lối sống săn bắt-hái lượm – và cùng với nó, phương Tây cũng hình thành.

Di chỉ ‘Ain Mallaha ở Israel hiện nay (Hình 2.3; còn gọi là Eynan) cung cấp ví dụ tốt nhất về những gì đã xảy ra. Vào khoảng năm 12500 TCN, tộc người đến nay vẫn chưa xác định được đã xây dựng những ngôi nhà hình tròn bán ngầm (semisubterranean) ở đó có chiều ngang đến 9,1m, họ dùng đá làm tường và thân cây làm trụ đỡ mái nhà. Các mẩu thức ăn thừa bị cháy chứng tỏ họ đã thu thập được một số lượng lớn các loại hạt và cây quả chín ở các thời điểm khác nhau trong năm, tích trữ chúng trong những chiếc hố viên thạch cao chống thấm nước rồi phủ vữa đá lên. Họ vứt xương hươu, cáo, chim chóc, và (nhiều nhất là) xương linh dương rải rác quanh khu làng. Giới khảo cổ rất thích răng linh dương do nó có đặc tính sản sinh lớp men có màu sắc khác nhau vào mùa hè và mùa đông, giúp biết được con vật chết vào thời gian nào trong năm. Tại ‘Ain Mallaha có màu răng linh dương của cả hai mùa, nghĩa là có thể con người từng sống quanh năm suốt tháng đó. Hiện chúng ta chưa thấy có di chỉ nào trên thế giới ngoài vùng Hilly Flanks có trường hợp như vậy.

Việc định cư lâu dài thành các nhóm lớn hơn hẳn phải thay đổi cách quan hệ giữa con người với nhau và với thế giới xung quanh. Trong quá khứ loài người phải chạy theo nguồn thực phẩm và liên tục di chuyển. Rõ ràng họ đã kể những câu chuyện về mỗi nơi dừng chân: đây là hang động nơi cha tôi qua đời, kia là nơi con trai chúng tôi đốt trụi căn chòi, đó là con nước nơi những linh hồn trò chuyện, v.v. Nhưng ‘Ain Mallaha không phải là một nơi chỉ để tới lui, mà đối với dân làng sống ở đó, ‘Ain Mallaha còn là một địa điểm định cư lâu dài. Ở đó, họ đã sinh ra, lớn lên, và chết đi. Thay vì chôn người chết ở nơi xa xôi khó thăm viếng thường xuyên, giờ đây họ chôn luôn trong làng và thậm chí ngay trong nhà, giữ cội rễ tổ tiên ở vị trí đặc biệt này. Con người thời đó đã biết chăm lo ngôi nhà của mình và không ngừng cải tạo, tu sửa nó.

Họ cũng bắt đầu lo vấn đề vệ sinh. Người hái lượm Thời đại Băng hà là những người nhếch nhác, họ vứt đầy thức ăn thừa quanh khu trại lúc rời đi. Mà tại sao lại không kia chứ? Vì lúc phát sinh giòi bọ và xuất hiện các loài ăn xác thối thì bọn họ đã rời đi để kiếm tìm nguồn thức ăn tiếp theo lâu rồi.

Hình 2.3. Sự khởi đầu của phương Tây: vị trí trong và xung quanh Hilly Flanks được đề cập trong chương này.

Tuy nhiên ở ‘Ain Mallaha lại là một câu chuyện khác. Những người ở đó không dự định đi đâu nữa, và họ phải sống chung với đống rác của mình. Các nhà khai quật tìm thấy hàng nghìn xương chuột ở ‘Ain Mallaha – những loài vật trước đó không tồn tại trong hình dáng như chúng ta biết trong suốt Thời đại Băng hà. Những loài ăn xác thối đầu tiên phải thích ứng với rác thải [thức ăn thừa] của con người trong một chiến lược kiếm ăn rộng lớn hơn. Đây là một phần thưởng hấp dẫn nếu con người bỏ lại xương và các loại hạt trên khắp sàn hang động, nhưng bất kỳ con chuột nguyên thủy nào cố ý trông chờ vào nguồn thức ăn này sẽ phải đói đến chết trước khi những con người đó quay lại và thải thêm thức ăn thừa bổ sung.

Những ngôi làng cố định đã làm thay đổi quy luật của loài gặm nhấm. Mùi của những đống rác ngon lành luôn sẵn có, ở hoàn cảnh mới này, những con chuột đồng nhỏ lén lút cùng lũ chuột nhắt có thể sống ngay dưới mũi con người để lấy thức ăn thuận lợi hơn so với những con to lớn hung hăng dễ gây sự chú ý. Trong vài chục thế hệ (một thế kỷ sẽ là thời gian dài; loài chuột nhắt cuối cùng đã sản sinh ra giống chuột hiện nay) loài gặm nhấm trên thực tế tự điều chỉnh tính di truyền của chúng để cùng tồn tại với loài người. Loài gặm nhấm (trong nhà) đã thay thế cho tổ tiên (hoang dã) to lớn của chúng cũng y như Homo sapiens đã thay thế người Neanderthal trước đó.

Đáp lại bãi rác vô tận, những loài gặm nhấm trong nhà lại thải phân và nước tiểu của chúng vào chỗ chứa thức ăn và nước uống của con người, thúc đẩy sự lây lan của dịch bệnh. Con người sớm nhận ra điều này nên không ưa thích loài chuột; thậm chí một số người trong họ còn thấy chúng đáng sợ. Dù vậy, loài ăn xác thối đáng sợ nhất vẫn là loài sói, vốn cũng không cưỡng được sự hấp dẫn từ những bãi rác mà con người thải ra. Hầu hết con người đều thấy mặt hạn chế của nỗi sợ hãi những con quái vật hoang dã lượn lờ quanh họ, cũng giống như các loài gặm nhấm đều là những con vật nhỏ hơn và ít đe dọa hơn nên kiếm ăn cũng tốt hơn.

Trong một thời gian dài, các nhà khảo cổ cho rằng con người đã chủ động thuần hóa loài chó, bằng cách huấn luyện sói con thành vật nuôi và gây giống thành loại chó con thích gần gũi con người cũng nhiều như con người thích chúng; nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy chính sự chọn lọc tự nhiên một lần nữa lại vận hành mà không cần đến sự can thiệp của ý thức. Tuy nhiên, dù bằng cách nào thì sự tương tác giữa loài sói, rác từ thức ăn thừa và con người tạo nên loài vật mà chúng ta gọi là chó, loài có thể tiêu diệt những loài gặm nhấm mang mầm bệnh chuyên tranh giành thức ăn thừa của chúng, thậm chí còn chiến đấu với loài sói thuần chủng, chiếm được vị trí là người bạn tốt nhất của con người. Một ví dụ minh chứng cho điều trên: vào khoảng năm 11000 TCN, một phụ nữ lớn tuổi được chôn cất ở ‘Ain Mallaha với một tay đặt trên chú chó con, cả hai đều cuộn mình lại như đang ngủ.⦾

Thực phẩm hằng ngày

Trong phần giới thiệu cuốn sách, tôi đã kể về một câu nói vui của nhà văn khoa học viễn tưởng Robert Heinlein rằng “sự tiến bộ được tạo ra do những người lười biếng luôn tìm kiếm những phương cách dễ dàng hơn để thực hiện công việc” dẫn đến một giả định tổng quan về xã hội học là lịch sử được tạo nên bởi những người lười biếng, tham lam, và sợ hãi (những người hiếm khi biết họ đang làm gì) mong tìm ra cách dễ hơn, thuận lợi hơn, và an toàn hơn để làm việc. Nguyên lý này được thực hiện vượt cả mong đợi ở vùng Hilly Flanks vào cuối Thời đại Băng hà, tạo nên một lối sống phương Tây riêng biệt với phát triển xã hội cao hơn bất kỳ phần còn lại nào của thế giới.

Chúng ta có thể ngợi khen (hay chê trách) phái nữ vì điều này. Trong những xã hội săn bắt hái lượm hiện đại, người phụ nữ hầu như đảm đương hết việc hái lượm cây trái trong khi người đàn ông lại chuyên việc săn bắt nhiều hơn. Nhận xét này dựa vào việc các ngôi mộ đàn ông chứa nhiều giáo và đầu mũi tên hơn, trong khi của phụ nữ lại có nhiều công cụ nghiền, ở thời tiền sử cũng xảy ra điều tương tự, điều này đã đưa ra gợi ý cho lời giải đáp về câu hỏi mấu chốt trong cuốn sách này từ đầu đến giờ – khi nào và từ đâu chúng ta nên đề cập đến cách sống khác biệt của phương Tây so với lối sống ở những nơi khác – bắt nguồn từ sự khéo léo của những người phụ nữ ở vùng Hilly Flanks gần 15.000 năm trước.

Ngũ cốc mọc hoang là loại cây sống trong năm. Nghĩa là, chúng lớn lên, cho hạt, và chết đi trong một mùa, rồi những hạt mầm của chúng lại lớn lên thành cây mới vào năm tiếp theo. Khi một loại cây chín tới, cuống (những cuống nhỏ mang các hạt mầm đơn lẻ) trĩu nặng rồi rụng từng hạt xuống mặt đất, làm vỡ lớp vỏ ngoài và nảy mầm. Đối với những người hái lượm 15.000 năm trước, cách đơn giản nhất để thu lượm hạt là đặt một cái giỏ bên dưới rồi rung lắc cây để hầu hết các hạt chín rơi vào giỏ. Vấn đề duy nhất là hạt ở mỗi cây mọc hoang tại những vị trí khác nhau lại chín ở những thời điểm khác nhau. Nên nếu người hái lượm đến trễ một nơi trong mùa, hầu hết hạt chín sẽ rơi xuống và nảy mầm, hoặc bị chim ăn. Nếu họ đến quá sớm thì cành vẫn còn khỏe và hầu hết hạt vẫn còn dính chặt vào cuống nên khó bị rơi khi rung lắc. Và cách nào đi nữa, họ cũng sẽ bị một vụ mùa thất thu. Đương nhiên là họ có thể đều đặn đến thăm một địa điểm để biết chắc thời điểm hạt chín cho việc thu hoạch, nhưng nếu vậy họ lại có ít thời gian để đến thăm những nơi khác.

Chúng ta không biết là do lười biếng (không muốn đi từ địa điểm này đến địa điểm khác), tham lam (muốn nhiều thực phẩm hơn), hay lo sợ (vì đói hay vì một ai khác sẽ đến lấy trước) là nguồn cảm hứng, nhưng một ai đó, rất có thể là một người phụ nữ, đã có ý tưởng thông minh là: Tại sao không lấy vài hạt giống tốt nhất và trồng lại chúng ở một vị trí đặc biệt màu mỡ? Rồi, người này lại nghĩ rằng, nếu chăm sóc chúng – cày xới đất, nhổ bỏ cỏ dại, kể cả tưới cây – thì họ có thể trông chờ số cây trồng này cho hạt để thu hoạch vào mỗi năm, và thậm chí còn cho họ sản lượng hạt cao hơn. Cuộc đời quả là đáng sống biết bao.

Một lần nữa, bằng chứng trực tiếp đầu tiên lại đến từ vùng Hilly Flank, và một cách gián tiếp chúng ta phải cảm ơn Đảng Ba’ath vì điều này. Những người theo Đảng Ba’ath nổi tiếng là phong trào chính trị tàn nhẫn của Saddam Hussein tại Iraq, nhưng trước đó họ đã nắm quyền lực ở đất nước Syria láng giềng vào năm 1963. Sau khi thanh trừng các đối thủ, họ bắt đầu tiến hành hiện đại hóa Syria. Việc đắp đập trên sông Euphrates để tạo nên hồ Assad dài 80km mà ngày nay cung cấp hầu hết điện năng cho Syria là một công trình lớn lao trong công cuộc hiện đại hóa này. Biết trước là con đập sẽ làm ngập vùng trung tâm của Hilly Flanks, Tổng cục Cổ vật Syria phát động một chiến dịch quốc tế nhằm nghiên cứu những di chỉ có khả năng bị phá hủy. Vào năm 1971 một nhóm nghiên cứu người Anh khảo sát gò Abu Hureyra. Những phát hiện trên bề mặt cho thấy đã từng có một ngôi làng ở đây vào khoảng năm 7000 TCN, và các nhà khảo cổ học cũng đưa ra tài liệu chứng minh điều này với nhiều chi tiết phong phú; nhưng vết tích của một đường hào lại cho thấy rằng ngôi làng này đã được xây dựng trên phế tích của một khu định cư cũ có niên đại đến năm 12700 TCN.

Đây là một phần thưởng to lớn. Những người khai quật đã phải chạy đua với thời gian vì nước lũ dâng cùng vấn đề chiến tranh do quân đội Syria bắt công nhân của họ nhập ngũ để chiến đấu với Israel trong cuộc chiến Yom Kippur/Ramadan vào năm 1973. Trước khi di tích này bị nhấn chìm trong nước, nhóm nghiên cứu khai quật được một phần nhỏ trong hơn 46.000m2 của ngôi làng cổ xưa nhất: dù chỉ là một khu vực nhỏ, nhưng lại là một trong những phát hiện quan trọng nhất trong ngành khảo cổ. Họ tìm thấy những chòi tròn bán ngầm, đá mài, lò sưởi, và hàng nghìn hạt đã bị đốt thành than. Hầu hết đều từ các loại cây cỏ dại, nhưng có một nhúm hạt lúa mạch đen to chắc nổi bật hẳn.

Những hạt này cho thấy cư dân cổ xưa ở Abu Hureyra đã dùng cuốc để canh tác ruộng đồng. Họ gieo hạt giống ở bên dưới thay vì chỉ rải trên mặt đất, và điều này đã giúp mầm cây lớn hơn, dễ nảy lên để tiếp nhận không khí so với những mầm cây khác – nhỏ hơn nên khó phát triển hơn. Nếu những người canh tác thời tiền sử chỉ ăn mọi thứ họ trồng thì điều này có lẽ không quan trọng lắm, nhưng nếu họ để dành một phần hạt giống để trồng lại vào năm tới thì sẽ cho những hạt lớn hơn. Lúc đầu không dễ nhận ra sự khác biệt, và nếu họ lặp đi lặp lại phương thức này nhiều lần, dần dần họ sẽ thay đổi nhận thức về khái niệm bình thường khi kích thước trung bình của hạt dần tăng lên. Các nhà nghiên cứu cổ thực vật học gọi những hạt lớn hơn này là được canh tác❖ để phân biệt với loại hạt mọc hoang và loại lương thực hoàn toàn thuần hóa mà chúng ta thường dùng ngày nay.

Trong khi những người ở ‘Ain Mallaha chôn cất người phụ nữ lớn tuổi cùng con chó của bà ta vào khoảng năm 11000 TCN, thì những người ở Abu Hureyra đã trồng đi trồng lại lúa mạch đen nhiều lần đến mức nó đã cho họ những hạt lớn hơn. Khi đó, có vẻ điều này là chuyện nhỏ, nhưng nó đã chứng minh (một trong những cách chơi chữ dở nhất trong ngành khảo cổ học) chính từ những hạt mầm mà phương Tây phát triển.

Thiên đường đã mất

Trên một nửa hành tinh còn lại, các dòng sông băng vẫn đang tan chảy, không biết đến những chú chó con cùng lúa mạch đen. Một nghìn năm trước đó, chúng tràn ngập khắp vùng Bắc Mỹ, tạo ra vùng đất Trung Tây nước Mỹ bằng phẳng hiện nay, việc chúng rút khỏi vùng đất này đã biến những bình nguyên với rừng rậm đang phát triển thành một vùng hỗn tạp lầy lội đầy rẫy muỗi mòng truyền nhiễm. Các nhà sinh thái học gọi nó là Miền rừng say (Drunk woodland) do mặt đất quá ẩm ướt đến nỗi cây cối không thể mọc thẳng được. Những rặng núi băng chưa tan và đá cuội đã chặn dòng chảy từ những con sông băng vào các hồ lớn. Các nhà địa chất đặt tên cho hồ lớn nhất trong số này là hồ Agassiz (Hình 2.1) vào những năm 1830, sau khi các nhà khoa học Thụy Sĩ lần đầu tiên nhận thấy rằng toàn cầu đã trải qua nhiều Thời đại Băng hà. Vào khoảng năm 10800 TCN, hồ Agassiz bao phủ gần 650.000km2 vùng đồng bằng phía Tây, gấp bốn lần diện tích hồ Superior hiện nay. Nhưng rồi điều không tránh khỏi đã xảy đến: nhiệt độ tăng lên và mực nước dâng cao đã làm suy giảm phần băng còn lại trong hồ.

Sự sụp đổ của nó là một cơn đại hồng thủy kéo dài, khác rất nhiều với những câu chuyện thảm họa thời hiện đại. Ví dụ, trong bộ phim phi lý The Day After Tomorrow (Ngày kinh hoàng), diễn viên Dennis Quaid đóng vai Jack Hall, một nhà khoa học (dường như chỉ mình ông ta) nhận thấy sự ấm lên toàn cầu sẽ là nguyên nhân khiến những chỏm băng bị sạt lở vào ngày hôm sau. Được triệu tập đến Nhà Trắng, ông ta nói với tổng thống rằng một trận siêu bão sắp làm nhiệt độ giảm xuống đến -100°C chặn dòng hải lưu Gulf Stream tưới tắm vùng duyên hải phía bắc châu Âu bằng dòng nước nhiệt đới khiến London của nước Anh có mùa đông giống với thị trấn London ở Ontario, Canada. Hall khẳng định rằng trận siêu bão này sẽ gây ra một Thời đại Băng hà mới khiến hầu hết khu vực Bắc Mỹ trở thành vùng đất chết. Hiển nhiên vị tổng thống cảm thấy hoài nghi với nhận định này nên đã không có bất kỳ hành động đối phó nào. Một vài giờ sau cơn bão nổi lên, con trai của Hall bị kẹt lại ở New York. Và những hành động anh hùng đã diễn ra trong phim.

Tôi sẽ không làm hỏng cốt truyện bằng việc kể lại diễn tiến trong phim, ngoại trừ việc cho rằng khi hồ Agassiz làm nghẽn dòng hải lưu Gulf Stream vào khoảng năm 10800 TCN, mọi sự lại diễn ra khá khác với phim. Không có cơn siêu bão nào cả, nhưng trong 1.200 năm, khi hồ này tuôn nước vào Đại Tây Dương, thế giới rơi trở lại tình trạng của Thời đại Băng hà. (Các nhà địa chất gọi giai đoạn 10800-9600 TCN là thời kỳ Dryas Trẻ [Younger Dryas] – theo cách gọi những cánh hoa nhỏ ngập nước gọi là Arctic Dryas – thường thấy ở các đầm than bùn ngày nay). Loài ngũ cốc mọc hoang vốn từng cung cấp thực phẩm cho những ngôi làng định cư ở vùng Hilly Flanks, từng tạo nên nhiều bãi rác vốn đem đến cho chúng ta loài chuột và chó ngày nay, giờ đây cũng giảm sút và khiến việc thu hái ít đi và hạt cũng nhỏ hơn.⦾

Loài người đã bị trục xuất khỏi Vườn Địa Đàng. Rời bỏ những ngôi làng định cư quanh năm, hầu hết mọi người chia thành từng nhóm nhỏ hơn và trở lại đi lang thang quanh các sườn đồi để tìm kiếm thực phẩm cho bữa ăn tiếp theo, như những gì tổ tiên của họ đã làm vào thời điểm lạnh nhất của Thời đại Băng hà. Xương động vật ở vùng Hilly Flanks cho thấy loài linh dương ngày càng nhỏ hơn vào khoảng năm 10500 TCN khi bị con người săn bắt quá nhiều, và men răng con người thường có các đường lằn biểu hiện cho sự suy dinh dưỡng suốt thời kỳ thơ ấu.

Chưa từng có thảm họa nào có quy mô lớn gần như vậy. Thực ra, để tìm điều tương tự, chúng ta phải dựa vào khoa học viễn tưởng. Vào năm 1941, Isaac Asimov, khi vừa bắt đầu sự nghiệp của mình, đã xuất bản một truyện ngắn có tên Nightfall (Hoàng hôn) trên Tạp chí Astounding Science Fiction. Ông ta lấy bối cảnh truyện ở Lagash, một hành tinh có đến sáu mặt trời. Bất kỳ người Lagash đi đến đâu thì ít nhất cũng có một mặt trời chiếu sáng và vùng này luôn là ban ngày – ngoại trừ cứ 2.049 năm một lần, khi mặt trời thẳng hàng với quỹ đạo di chuyển của mặt trăng tạo nên hiện tượng nhật thực. Bầu trời tối đen và các vì sao lặn mất. Dân chúng sợ hãi đến phát điên. Khi hiện tượng nhật thực kết thúc thì người Lagash cũng hủy hoại nền văn minh của họ và rơi vào sự man rợ. Sang 2.049 năm tiếp theo họ dần tái thiết nền văn minh của mình, rồi lại sụp đổ chỉ qua một đêm để khởi đầu một chu trình mới.

Thời kỳ Dryas Trẻ giống như sự tái diễn của truyện Nightfall: quỹ đạo trái đất tạo nên sự chuyển dịch giữa đóng băng và tan băng, mà cứ mỗi vài nghìn năm lại gây ra những thảm họa tương tự như sự rút nước của hồ Agassiz, xóa sạch lịch sử để làm lại từ đầu. Thế nhưng trong khi Nightfall là một câu chuyện tuyệt vời (được Hiệp hội các tác giả truyện Khoa học viễn tưởng Mỹ bầu chọn là tác phẩm khoa học viễn tưởng hay nhất mọi thời đại, và nó cũng xứng đáng được một phiếu bầu chọn của tôi) thì thực tế nó lại không phải là một mô hình đúng đắn cho tư duy lịch sử. Trong thế giới thật, không chỉ thời kỳ Dryas Trẻ có khả năng xóa sạch mọi thứ rồi tạo dựng lại như trong Nightfall. Thật ra, chúng ta có thể làm tốt hơn như theo triết gia cổ đại Hy Lạp Heraclitus – người sinh ra từ 2.500 năm trước khi Asimov viết các tác phẩm của mình – nhận xét: “Bạn không thể tắm hai lần trên một dòng sông.”❖ Đó là một nghịch lý nổi tiếng, nghĩa là: lần thứ hai đặt chân vào con suối thì dòng nước đầu tiên bạn giẫm lên đã trôi xa ra biển rồi, do đó dòng sông giờ đây không còn là dòng sông ban đầu nữa.

Theo cách nghĩ như vậy, bạn không thể có hai Thời đại Băng hà giống hệt nhau. Những người sống trong vùng Hilly Flanks khi hồ Agassiz biến mất vào khoảng năm 10800 TCN không còn giống với những người sống ở đây vào Thời đại Băng hà đầu tiên. Không như người Lagash của Asimov, dân cư vùng Hilly Flanks không bị điên loạn khi thiên nhiên làm thế giới của họ đảo lộn. Thay vào đó, họ áp dụng một kỹ năng đặc biệt của con người, sự khéo léo, và xây dựng lại dựa trên những gì họ đã tạo lập. Thời kỳ Dryas Trẻ không làm quay ngược thời gian và những thời kỳ trước đó cũng thế.

Một số nhà khảo cổ cho rằng khác với việc hình thành thời điểm Hoàng hôn, giai đoạn Dryas Trẻ thật sự đã thúc đẩy sự đổi mới. Cũng như mọi ngành kỹ thuật khoa học, các kỹ thuật được áp dụng để xác định niên đại những hạt lúa mạch đen được trồng tỉa sớm nhất ở Abu Hureyra cũng tính đến biên độ sai sót. Những nhà khai quật di tích này chỉ ra rằng trong khi trung điểm của niên đại những hạt lúa mạch đen cỡ lớn được đề cập trước đó rơi vào khoảng năm 11000 TCN, trước thời kỳ Dryas Trẻ, thì có thể chúng cũng được thu hoạch tốt 500 năm sau đó, sau khi thời kỳ Dryas Trẻ bắt đầu. Có lẽ không phải do lười biếng hay tham lam khiến những người phụ nữ ở Abu Hureyra chăm sóc cây lúa mạch đen mà là xuất phát từ nỗi lo sợ. Khi nhiệt độ hạ xuống và lương thực mọc hoang bị suy giảm, cư dân ở Abu Hureyra, có thể nhờ kinh nghiệm, nhận ra rằng chăm sóc cây trồng kỹ lưỡng sẽ cho ra nhiều hạt và hạt cũng sẽ lớn hơn. Một mặt, thời tiết lạnh và khô khiến việc trồng trọt ngũ cốc gặp khó khăn; mặt khác, thời tiết khắc nghiệt hơn cũng là động cơ để họ phải làm thế. Một số nhà khảo cổ hình dung những người hái lượm ở thời kỳ Dryas Trẻ đem theo túi đựng những hạt giống rải quanh các địa điểm trông như một bảo hiểm đối với sự thất thường của thời tiết tự nhiên.

Việc khai quật thêm sẽ cho thấy quan điểm này có đúng hay không, nhưng chúng ta cũng biết rằng không phải tất cả cư dân ở vùng Hilly Flanks đều đối phó với thảm họa khí hậu bằng cách lại di chuyển khắp nơi để tìm kiếm thức ăn. Tại Mureybet, nằm phía trên Abu Hurerya, những nhà khai quật người Pháp cũng tìm thấy một ngôi làng mới có niên đại vào khoảng năm 10000 TCN. Họ chỉ làm phát lộ 2,3m2 những tầng sớm nhất trước khi hồ Assad nuốt chửng di tích này, nhưng chừng đó cũng đủ cho thấy dân làng đã dành dụm một số lượng thảo mộc mọc hoang và linh dương đủ dùng quanh năm. Và ở một ngôi nhà có niên đại vào khoảng năm 10000-9500 TCN, những nhà khảo cổ đã có một khám phá bất ngờ: gắn vào một băng ghế làm bằng đất sét là những chiếc sừng của giống bò rừng châu Âu hoang dã (wild aurochs), loài bò hung dữ cao 1,8m, tổ tiên của loài bò hiện nay có thêm 2 xương vai.

Không một di chỉ nào thời tiền-Dryas Trẻ cung cấp những hiện vật kỳ lạ như thế, nhưng những ngôi làng sau năm 10000 TCN lại đầy rẫy những thứ gây ngạc nhiên. Chẳng hạn việc san ủi vào năm 1986 làm phát lộ di chỉ Qermez Dere ở miền Bắc Iraq. Dù chỉ hai đường hào nhỏ được khai quật, nhưng một trong hai đường hào này gặp đúng khu vực dự trữ cho lương thực mọc hoang, rất giống với những khu vực ở ‘Ain Mallaha hay Abu Hureyra. Tuy nhiên đường hào còn lại không cung cấp được bằng chứng gì về các hoạt động gia đình. Thay vào đó nó gồm một dãy ba phòng có hình dáng hơi tròn, mỗi phòng có chiều ngang khoảng 3,7-4,6m và nằm dưới tầng đất cổ 1,5m. Phòng đầu tiên được trát thạch cao và một hàng bốn cột trụ dựng ngay trên nền phòng, rất gần nhau nên khó di chuyển quanh phòng. Một cột trụ trong số đó còn nguyên vẹn: nó được trát bằng đất sét và vữa quanh một lối đá, có dạng thuôn với những chỗ lồi kỳ lạ gần đỉnh trụ, trông giống một tượng bản thân với đôi vai được cách điệu. Căn phòng được lấp đầy (dường như cố ý) đến vài tấn đất, chứa nhiều nhóm xương động vật to lớn và các hiện vật lạ giống hạt cườm bằng đá. Một căn phòng mới được khai quật sau đó, cũng giống phòng đầu tiên, ở gần như cùng một địa điểm, nó cũng được trát vữa và chứa đầy hàng tấn đất. Rồi phòng thứ ba cũng được khai quật ở cùng vị trí, vẫn được trát vữa và lấp đầy bên trong. Sau khi dọn một ít giỏ đất trong phòng cuối thì phát hiện được sáu sọ người không có xương hàm trên nền phòng. Những sọ này đã biến dạng, có thể do bị luân chuyển một thời gian dài trước khi được chôn tại đây.

Vậy con người ở nơi này đang làm gì? Có một trò đùa phổ biến trong giới khảo cổ: mỗi khi không hiểu những gì chúng ta đào lên thì chúng ta lại nói là nó liên quan đến tôn giáo (vừa khai quật xong một di chỉ ở Sicily mà tôi cho là có liên quan đến tôn giáo, phải thú nhận là tôi không còn thấy những trò vui như vậy nữa). Dĩ nhiên vấn đề là chúng ta không thể khai quật được đức tin trong quá khứ; nhưng điều đó không có nghĩa là giới khảo cổ bịa chuyện khi họ đề cập đến tôn giáo thời tiền sử.

Nếu chúng ta chọn một định nghĩa thông thường về tôn giáo như là niềm tin vào những thực thể quyền năng, siêu nhiên và vô hình chăm lo cho con người và cũng kỳ vọng con người quan tâm đến họ (dường như ứng với rất nhiều xã hội mà một số nhà tâm lý học tiến hóa cho rằng tôn giáo đã được lập trình sẵn trong não bộ con người) thì chúng ta có thể nhận biết, chứ không nhất thiết phải hiểu, tàn tích của những nghi lễ mà thông qua đó con người giao tiếp với thế giới thần linh.

Nghi lễ chính là đặc trưng văn hóa. Tùy thuộc vào thời điểm và nơi chốn bạn soi rọi bản thân mình, ở đó có thể những đấng toàn năng chỉ lắng nghe khi bạn lấy máu dê trắng còn nóng hổi rưới lên phía phải tảng đá đặc biệt này; hay chỉ khi bạn cởi giày, quỳ gối, và cầu nguyện hướng về một nơi; hay khi bạn xưng tội với một tu sĩ khoác áo choàng đen vô nhiễm với dục tính; và những điều đại loại như vậy. Danh sách này là vô tận. Tuy nhiên, mặc dù có đủ kiểu thức kỳ lạ, những nghi lễ này cũng có những điểm chung nhất. Nhiều nghi lễ đòi hỏi phải có vị trí đặc biệt (đỉnh núi, hang động, căn nhà khác thường), đối tượng (ảnh, tượng, của cải quý báu hoặc hiếm lạ), hành lễ (rước kiệu, hành hương), và y phục (trang trọng, nhếch nhác), tất cả đều nhằm gia tăng ý thức của việc tiếp xúc với thế giới bên ngoài mỗi ngày. Tiệc lễ, thường gồm những thực phẩm hiếm dùng; hay chay tịnh để thanh lọc tâm trí. Mất ngủ, hành xác, tụng kinh và nhảy múa liên tục, hay dùng chất kích thích (được ưa chuộng), tất cả đều có cùng mục đích là đưa người tín tâm sùng đạo vào trạng thái hôn mê, co giật, và ảo tưởng.

Những di chỉ này có tất cả những điều đó: các căn phòng kỳ lạ dưới mặt đất, cột có hình người, hộp sọ không hàm – và trong khi mọi điều trong ngành khảo cổ về tôn giáo chỉ là suy đoán, tôi thấy khó mà không chấp nhận chúng như là những giải pháp tôn giáo của thời kỳ Dryas Trẻ. Thế giới bị đóng băng, thực vật đang chết dần, và loài linh dương bỏ đi; còn gì tự nhiên hơn là cầu xin thần linh, ma quỷ và tổ tiên để được phù hộ: Còn điều gì có ý nghĩa hơn việc xác định những con người đặc biệt và tạo nên những nơi đặc biệt thuận lợi cho việc giao tiếp? Ngôi đền thờ tại Qermez Dere trông như một bộ khuếch đại, nhằm tăng âm lượng lời nguyện cầu giúp đỡ.

Do đó, khi thế giới ấm lên vào cuối thời kỳ Dryas Trẻ, khoảng năm 9600 TCN, thì vùng Hilly Flanks không còn là một nơi như khoảng thời gian 3.000 năm trước đó khi thế giới ấm lên vào cuối Thời đại Băng hà chính. Sự ấm lên toàn cầu không xảy ra hai lần trong cùng một xã hội. Các di chỉ ở thời kỳ ấm lên trước đó, chẳng hạn như ‘Ain Mallaha, tạo ấn tượng rằng con người chỉ mãn nguyện với việc tận dụng sự rộng lượng của thiên nhiên, nhưng ở những ngôi làng bất ngờ xuất hiện quanh vùng Hilly Flanks khoảng sau năm 9600 TCN người dân đã dồn nhiều nguồn lực cho vấn đề tôn giáo. Nhiều di chỉ thuộc giai đoạn sau năm 9600 TCN đưa ra chứng cứ về việc bảo quản sọ người và bò rừng một cách kỹ lưỡng, và có một số căn phòng ngầm rộng lớn trông như những đền thờ của cộng đồng. Ở Jerf al-Ahmar thuộc đất nước Syria, hiện đang chìm sâu cạnh nhiều di tích khác bên dưới mặt hồ Assad, những nhà khảo cổ người Pháp tìm thấy 10 căn nhà có nhiều phòng bao quanh một căn phòng ngầm rộng lớn. Một sọ người được đặt trên băng ghế và ở giữa phòng là một bộ hài cốt không đầu, trông chẳng khác gì một lễ hiến tế con người.

Kỳ lạ nhất là di chỉ Gobekli Tepe, nằm trên đỉnh đồi cao với tầm nhìn bao quát cả vùng đông nam Thổ Nhĩ Kỳ. Từ năm 1995, những nhà khảo cổ Đức và Thổ Nhĩ Kỳ khai quật ở đó phát hiện bốn căn phòng chìm, sâu đến 3m và chiều ngang 9,1m, có niên đại đến khoảng năm 9000 TCN hoặc sớm hơn. Giống những căn phòng nhỏ xuất hiện sớm hơn ở Qermez Dere, mỗi phòng đều được cố ý lấp đầy. Mỗi phòng đều có những cột đá hình chữ T, một số cao đến 2,1m, được trang trí hình khắc động vật. Các cuộc khảo sát địa từ cho thấy còn hơn 15 căn phòng chưa được khai quật; toàn bộ di chỉ này có thể có đến 200 cột đá, nhiều cột nặng hơn 8 tấn. Một cột có chiều dài gần 6,1m, nặng 50 tấn được tìm thấy đang thực hiện dở dang tại một mỏ đá.

Chỉ với những công cụ bằng đá lửa, con người thời đó đã làm nên tất cả những thứ này với độ phức tạp cao nhất có thể. Dù chúng ta không bao giờ biết được tại sao đỉnh đồi đặc biệt này lại thiêng liêng đến thế, nhưng chắc chắn nó trông như một thánh địa trong vùng, có lẽ là nơi lễ hội với hàng trăm người tụ hợp cùng lúc trong nhiều tuần để chạm trổ những trụ đá, kéo chúng vào các căn phòng, và dựng lên. Thế nhưng có một điều chắc chắn là: trước đó trong lịch sử chưa bao giờ lại có những nhóm người làm việc cùng nhau đông đúc đến thế.

Con người không phải là nạn nhân thụ động của việc biến đổi khí hậu. Họ đã áp dụng sự khéo léo của mình, làm việc để nhận được sự trợ giúp từ thần linh và tổ tiên trong nỗ lực ứng phó với nghịch cảnh. Và trong khi hầu hết chúng ta đều nghi ngờ về sự tồn tại của thần linh và tổ tiên, thì những nghi lễ dù sao cũng góp phần thực hiện một số điều tốt đẹp như một chất keo kết dính xã hội. Những con người thành tâm tin rằng những nghi lễ lớn trong các đền thờ xa hoa nhận được sự phù hộ của thần linh chắc chắn sẽ có nhiều khả năng chịu đựng và gắn bó cùng nhau dù hoàn cảnh có khó khăn thế nào chăng nữa.

Vào khoảng năm 10000 TCN, vùng Hilly Flanks đã nổi bật hẳn so với phần còn lại của thế giới. Hầu hết con người ở phần lớn các nơi vẫn còn trôi dạt giữa những hang động và địa điểm lều trại, như di chỉ Long Vương Sơn (Longwangcan) ở Thiểm Tây, Trung Hoa được khai quật từ năm 2004, nơi vết tích duy nhất còn sót lại về hoạt động của con người là những hiện vật đất nung hình tròn từ lửa trại. Một mảnh đá phiến mòn vẹt tìm thấy tại di tích này có khả năng là một cái mai bằng đá đơn sơ khiến ta có thể suy diễn việc canh tác mùa vụ bắt đầu xuất hiện, nhưng không thấy thứ gì tương tự những hạt lúa mạch đen chắc mẩy ở Abu Hureyra, chưa nói đến những công trình ở Muraybet hay Qermez Dere. Công trình quan trọng nhất được biết đến ở châu Mỹ là một túp lều nhỏ dựng lên từ những cây non bên trên phủ da thú, được phát hiện tại Monte Verde, Chile bởi các nhà khai quật tỉ mẩn; trong khi đó, trên toàn Ấn Độ các nhà khảo cổ không tìm thấy bất kỳ thứ gì như thế ngoại trừ những công cụ đồ đá nằm rải rác, những vết tích duy nhất chứng tỏ sự tồn tại của hoạt động con người.

Một thế giới phương Tây riêng biệt đang bắt đầu hình thành.

Thiên đường biến đổi

Khoảng năm 9600 TCN trái đất lại ấm lên, và trong khoảng thời gian này, những cư dân vùng Hilly Flanks đã biết cách làm thế nào để thu nhận được nhiều nhất từ các loại cỏ. Họ nhanh chóng (đại khái là theo các chuẩn mực của những thời kỳ trước đó) khôi phục việc canh tác. Khoảng năm 9300 TCN, hạt lúa mì và lúa mạch ở những di chỉ trong thung lũng sông Jordan lớn hơn đáng kể so với hạt mọc hoang và con người đã cải tạo cây vả để cải thiện năng suất. Những kho thóc lâu đời nhất được biết đến trên thế giới là những phòng chứa bằng đất sét rộng 3m và cũng cao đến 3m xuất hiện tại thung lũng sông Jordan vào khoảng năm 2000 TCN. Vào thời điểm đó, việc canh tác được thực hiện tại ít nhất bảy khu vực ở vùng Hilly Flanks, từ Israel ngày nay đến vùng đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, và khoảng năm 8500 TCN, những hạt ngũ cốc có kích cỡ lớn là điều bình thường trên khắp vùng này.

Những thay đổi này đúng là còn chậm theo các chuẩn mực hiện thời, nhưng chỉ trong 1.000 năm tiếp theo họ đã biến đổi vùng Hilly Flanks ngày càng khác biệt so với bất kỳ phần còn lại nào của thế giới. Con người ở vùng này vô tình đã làm biến đổi gen các loài thực vật để tạo ra những giống cây trồng được thuần hóa hoàn toàn mà nếu thiếu đi tác động của con người thì không thể tự tái tạo. Giống như loài chó, những loài thực vật này cũng cần chúng ta nhiều như chúng ta cần chúng vậy.

Cũng giống như động vật, thực vật tiến hóa do các đột biến ngẫu nhiên xảy ra khi DNA được sao chép từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp. Đôi khi một sự đột biến lại gia tăng cơ hội tái tạo của thực vật. Điều này đặc biệt phổ biến nếu môi trường cũng thay đổi, như đã từng xảy ra khi các ngôi làng cố định sẽ tạo những môi trường thuận lợi cho những con sói nhỏ đã được thuần hóa hơn loài sói hoang hung tợn hay việc canh tác tạo thuận lợi cho giống cây lớn hơn những giống nhỏ. Tôi đã đề cập đến việc ngũ cốc hoang tái sản sinh bằng cách cho mỗi hạt giống chín và rơi xuống mặt đất ở một thời điểm khác nhau từ những nơi khác, và rồi lớp vỏ tróc ra để hạt tự do phát triển. Tuy nhiên, chỉ một ít cây – tỉ lệ 1/1.000.000 hoặc 1/2.000.000 – là có đột biến ngẫu nhiên trên một gen duy nhất làm gia tăng cuống lá gắn kết hạt với cây và cả lớp vỏ bảo vệ hạt. Khi những hạt này chín, chúng không rơi xuống đất và lớp vỏ cũng không bị vỡ. Những hạt này chỉ chờ đợi một người thu hoạch nhanh chóng đến hái. Trước khi có những người thu hoạch thì hằng năm những cây đột biến chết rụi vì hạt của chúng không thể đâm vào lòng đất, khiến điều này trở thành một đột biến bất lợi nhất. Điều tương tự cũng xảy ra nếu con người rung cây cho hạt rơi xuống, những hạt đột biến sẽ không rơi, và cây lại héo khô.

Các nhà cổ thực vật học tranh luận sôi nổi về những gì đã xảy ra làm thay đổi tình trạng trên, và có lẽ sự can dự của lòng tham cổ hủ là thích hợp nhất. Sau khi đầu tư công sức vào việc gieo trồng chăm sóc những cây trồng tốt nhất, những người phụ nữ (một lần nữa lại giả định là phụ nữ) có lẽ muốn vét nốt chút thức ăn cuối cùng từ cây cỏ do mình trồng ra. Điều đó có nghĩa là mỗi lần thăm cây, họ thường lắc các búi cây, và chắc chắn họ sẽ nhận ra rằng dù có lắc mạnh bao nhiêu chăng nữa, thì một số hạt bướng bỉnh, những hạt đột biến có cuống chắc, vẫn không chịu rơi ra. Còn gì tự nhiên hơn việc họ sẽ nhổ bỏ cái cọng khó chịu đó rồi đem toàn bộ số thu hoạch về nhà? Xét cho cùng thì cọng lúa mì và lúa mạch cũng không nặng bao nhiêu và chắc chắn rằng đó là cách tôi phản ứng nếu gặp phải một loại ngũ cốc cứng đầu.

Nếu sau đó người phụ nữ trồng lại những hạt giống được lựa chọn ngẫu nhiên, họ sẽ gieo chung những hạt biến đổi cùng với những hạt bình thường, trên thực tế, số lượng hạt đột biến lại trội hơn, vì tối thiểu cũng có một số hạt bình thường rơi vãi và mất mát. Và như thế, cứ mỗi năm trồng lại, họ sẽ làm tăng dần tỉ lệ hạt đột biến ở cây trồng. Đây rõ ràng là một tiến trình chậm chạp đầy khó nhọc mà người trong cuộc không nhận thấy, nhưng nó khởi đầu cho một tiến hóa theo đường xoắn ốc gây ấn tượng không kém những gì xảy đến cho những chú chuột nhắt ở các đống rác. Trong vòng vài nghìn năm, từ một loại cây chỉ chờ người thu hoạch trên mỗi cánh đồng có đến 1-2 triệu cây, nay chúng chỉ toàn những cây được thuần dưỡng đã biến đổi gen. Những phát hiện từ khai quật cho thấy thậm chí vào khoảng năm 8500 TCN, lúa mì và lúa mạch thuần dưỡng hầu như vẫn chưa được biết đến. Tuy vậy, khoảng năm 8000 TCN, khoảng một nửa số hạt chúng ta tìm thấy vùng Hilly Flanks có cuống cứng chỉ đợi người thu hoạch; và đến khoảng năm 7500 TCN thì hầu như tất cả đều là một giống.

Tính lười biếng, tham lam, và sợ hãi liên tục đóng góp vào những cải tiến. Người ta phát hiện ra rằng việc trồng ngũ cốc ở một khu vườn trong một năm, rồi các loại đậu giàu protein vào năm sau sẽ bổ sung chất đất, đồng thời cũng làm phong phú chế độ ăn uống của họ; trong quá trình này, họ đã thuần dưỡng đậu lăng và đậu gà. Việc cán lúa mì và lúa mạch bằng đá nghiền thô tháp làm bánh mì bám đầy mạt đá, khiến răng bị mòn đến chân răng; vì thế, họ đã sàng sảy để loại bỏ các tạp chất. Họ tìm ra những phương cách mới để nấu ngũ cốc, nung đất sét thành những cái nồi không thấm nước để nấu ăn. Nếu chúng ta có lý khi đưa ra những tương đồng với những người nông dân hiện đại, thì phụ nữ hẳn phải đảm đương trách nhiệm về hầu hết hoặc tất cả những đổi mới này, kể cả việc học cách dệt vải để may quần áo. Da và lông thú không còn được dùng nữa.

Trong khi phụ nữ thuần dưỡng thực vật, thì đàn ông (có khả năng) thuần hóa động vật. Khoảng năm 8000 TCN, những người chăn thả gia súc ở vùng bây giờ là phía tây Iran đang cai quản đàn dê hiệu quả đến mức những giống dê lớn và hiền hòa hơn cũng tiến hóa. Trước năm 7000 TCN, những người chăn thả này đã biến bò rừng thành dạng bò nuôi như hiện nay và thuần hóa lợn rừng thành lợn nhà. Chỉ qua vài nghìn năm, họ đã học được cách không giết tất cả động vật để lấy thịt khi chúng còn non và giữ lại một ít để lấy lông và sữa, rồi sau đó – tiện ích nhất – đóng cương chúng để kéo xe. Trước đây, khi di chuyển bất kỳ thứ gì thì con người thu lượm và vác đi,⦾ nhưng một con bò kéo xe có thể vận chuyển gấp ba lần công sức của một người. Đến khoảng năm 4000 TCN thì việc thuần hóa thực vật và động vật đồng quy về một điểm là dùng bò để cày bừa. Con người chỉ điều khiển chiếu lệ, nhưng cũng phải gần 6.000 năm qua đi, con người mới đưa thêm các nguồn năng lượng mới vào gói công việc này bằng cách khai thác than đá và hơi nước trong cuộc cách mạng công nghiệp.

Những người nông dân đầu tiên của vùng Hilly Flanks đã biến đổi lối sống của con người. Những ai trong chúng ta từng sợ hãi viễn cảnh phải ngồi cạnh một em bé đang gào khóc trên một chuyến bay đường dài hẳn phải cảm thông với những phụ nữ hái lượm hằng năm phải địu con trẻ cuốc bộ hàng nghìn kilomet để thu nhặt lương thực. Do vậy, việc họ không muốn có quá nhiều con không phải là một điều đáng ngạc nhiên, dù có ý thức hay không, họ kéo giãn thời gian mang thai bằng cách kéo dài việc cho trẻ bú sữa mẹ đến năm thứ ba hoặc thứ tư (việc sản sinh sữa mẹ ngăn ngừa rụng trứng). Những con người hái lượm ở Thời đại Băng hà có thể cũng theo những chiến lược tương tự, nhưng khi càng sống định cư, họ lại càng ít có nhu cầu thực hiện những chiến lược đó. Việc sinh nhiều con thực tế đã trở thành một ân sủng do sức lao động được tăng cường, và các nghiên cứu về xương gần đây cho thấy bình quân một phụ nữ ở những làng theo nghề nông có thực phẩm dồi dào thường sinh bảy hoặc tám người con (trong số đó có lẽ chỉ bốn trẻ sống sót qua lần sinh nhật đầu tiên và có thể chỉ ba người bước qua tuổi sinh sản) so với chỉ năm hoặc sáu lần sinh thành công của các tổ tiên sống lưu động của họ. Con người càng trồng nhiều lương thực thì càng có khả năng nuôi nhiều con, dù rõ ràng càng có nhiều con họ lại phải trồng nhiều lương thực hơn.

Dân số ngày càng tăng. Vào khoảng năm 8000 TCN, một số làng có thể có 500 cư dân, gấp 10 lần so với các thôn xóm ở thời kỳ Dryas Trẻ như ‘Ain Mallaha. Vào khoảng năm 6500 TCN, làng Çatalhöyük ở Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay có đến 3.000 người. Đó là những ngôi làng lớn đến không tưởng, và tất cả đều gặp những vấn đề rắc rối. Phân tích dưới kính hiển vi xử lý các trầm tích ở Çatalhöyük cho thấy người ta đổ rác và phân người thành những đống hôi thối giữa các ngôi nhà, rồi giẫm lên chúng thành đất đen và bùn. Rác rưởi bẩn thỉu khiến những người săn bắt-hái lượm kinh khiếp, nhưng chắc chắn sẽ làm chuột, ruồi, và bọ chét thỏa lòng. Chúng ta có thể thấy được các mẫu phân nhỏ xíu trét trên các nền đất bẩn thỉu mà dân làng cũng lấy làm chuồng chứa gia súc trong nhà, và những bộ xương người từ di chỉ ‘Ain Ghazal ở Jordan cho thấy rằng khoảng năm 7000 TCN, bệnh lao đã từ gia súc lây sang người. Ổn định cuộc sống tại chỗ và trồng lương thực làm tăng khả năng sinh sản, nhưng cũng đồng nghĩa với việc có nhiều miệng ăn và mầm bệnh, cả hai điều này làm tăng tỉ lệ tử vong. Mỗi ngôi làng mới chuyên làm nông nghiệp có thể tăng trưởng nhanh trong một vài thế hệ cho đến khi tỉ lệ sinh sản và tử vong cân bằng nhau.

Ngoài tình trạng bẩn thỉu thì đây rõ ràng là những gì con người mong muốn. Những nhóm nhỏ người săn bắt-hái lượm đã có tầm nhận thức địa lý rộng lớn những xã hội bó hẹp: cảnh quan thay đổi nhưng vẻ ngoài thì không. Thế giới của những người nông dân đầu tiên thật là đối nghịch. Bạn có thể sống suốt đời trong phạm vi một ngày đi bộ quanh quẩn ở ngôi làng nơi bạn sinh ra, nhưng chốn đó là gì – tràn ngập các điện thờ nơi các vị thần thể hiện quyền năng siêu phàm, các lễ hội, tiệc tùng để thỏa mãn những giác quan, ngồi lê đôi mách, láng giềng tọc mạch trong những ngôi nhà vững chãi với sàn được tô trát và mái che mưa nắng. Những ngôi nhà này hẳn sẽ gây kinh hoàng cho hầu hết con người ngày nay bởi sự tù túng, dơ dáy do khói bụi, mùi hôi, nhưng đó là một bước tiến lớn so với việc trước đó phải chia sẻ những hang động ẩm ướt với loài gấu hay túm tụm ngoài trời mưa bên dưới lớp vỏ cây phủ lên các cành lá.

Những người nông dân đầu tiên đã cải tạo cảnh quan, phá vỡ nó thành các vòng tròn đồng tâm – ở giữa là nơi ở của gia đình, rồi đến những người hàng xóm, và sau đó là ruộng đồng; kế tiếp là đồng cỏ, nơi những người chăn cừu chăn thả đàn gia súc rong ruổi giữa mùa hè và mùa đông, và phía xa kia là thế giới hoang dã, bất định của những loài động vật đáng sợ, những kẻ man rợ chuyên săn bắt, và ai mà biết được chúng là những quái vật gì. Một số khai quật phát hiện các phiến đá được khắc những đường kỷ hà, và ít nhất dưới mắt người tin tưởng, trông khá giống bản đồ của những cánh đồng được phân chia bằng những lối đi nhỏ; và khoảng năm 9000 TCN, dân làng ở Jerf al-Ahmar và một số địa điểm lân cận hiện nay nằm bên dưới hồ Assad có vẻ như đang thử nghiệm một loại chữ viết sớm nhất khi họ rạch những hình ảnh các loài rắn, chim, động vật nông trại, và các ký hiệu trừu tượng trên những thẻ đá nhỏ.

Có thể nói rằng, qua việc áp đặt những cơ cấu tinh thần như thế lên thế giới của họ, dân cư vùng Hilly Flanks đã tự thuần hóa bản thân. Họ thậm chí còn đặt định lại ý nghĩa của tình yêu. Tình yêu giữa vợ chồng hay cha mẹ và con cái là điều tự nhiên, được nuôi dưỡng trong chúng ta qua hàng triệu năm, nhưng nông nghiệp đã đưa những thế lực mới vào các mối quan hệ này. Những người hái lượm luôn chia sẻ kiến thức của họ với con trẻ, dạy cho chúng biết tìm quả chín, kỹ năng săn bắt, và các hang động an toàn, nhưng nông dân thì có điều gì đó cụ thể hơn để truyền lại. Để gọi là viên mãn, giờ đây con người phải có tài sản – ngôi nhà, đồng ruộng và đàn gia súc, không kể các khoản đầu tư khác như giếng, tường bao và công cụ. Những nông dân đầu tiên rõ ràng là sống theo cộng đồng, chia sẻ thức ăn và dùng bếp chung, nhưng khoảng năm 8000 TCN, họ làm nhà lớn hơn và phức tạp hơn, mỗi nhà đều có nhà kho và bếp riêng, đồng thời đất đai được phân chia thành những cánh đồng thuộc sở hữu cá nhân. Cuộc sống ngày càng tập trung vào các nhóm gia đình nhỏ, có thể là đơn vị cơ bản để chuyển giao tài sản giữa các thế hệ. Trẻ em cần sự thừa kế vật chất này vì nghèo đói là khả năng luôn hiện hữu. Việc chuyển giao tài sản đã trở thành vấn đề sống còn.

Có những dấu hiệu về điều chỉ có thể được gọi là nỗi ám ảnh đối với các bậc tổ tiên. Có lẽ chúng ta đã nhìn thấy trường hợp này từ năm 10000 TCN qua những hộp sọ không có quai hàm ở di chỉ Qermez Dere, nhưng khi nông nghiệp phát triển, sự kiện này đã gia tăng. Việc chôn nhiều thế hệ người chết dưới nền đất nhà trở nên phổ biến, sự hòa trộn thân xác người chết theo những cách có vẻ như nhằm thể hiện một cách cụ thể sự kết nối giữa tài sản và dòng dõi. Một số người còn đi xa hơn bằng cách khai quật xác chết sau khi đã rữa nát, gỡ hộp sọ và cải táng cái xác không đầu. Họ còn dùng vữa mô phỏng khuôn mặt trên sọ, gắn vỏ sò vào hốc mắt và vẽ tóc như thật.

Phu nhân Kathleen Kenyon, một phụ nữ đáng nể trong thế giới khảo cổ học dường như chỉ dành cho nam giới ở thập niên 1950, là người đầu tiên ghi lại phong tục như phim kinh dị này trong các cuộc khai quật của bà tại di chỉ nổi tiếng Jericho ở Bờ Tây vùng Trung Đông, nhưng các sọ người được trét vữa hiện đã được tìm thấy ở hàng chục vùng định cư. Những gì người ta đã làm với các sọ người vẫn chưa được khám phá hết, vì chúng ta chỉ tìm thấy những sọ được cải táng. Hầu hết đều được đặt trong hố chôn, dù ở Çatalhöyük có một phụ nữ trẻ được chôn cất khoảng năm 7000 TCN ôm trên bầu ngực một hộp sọ được trát vữa và sơn đỏ không dưới 3 lần.

Sự gần gũi mật thiết với xác chết như vậy khiến hầu hết chúng ta thấy khó chịu nhưng rõ ràng đây là điều rất quan trọng đối với những người nông dân đầu tiên ở vùng Hilly Flanks. Hầu hết các nhà khảo cổ đều cho rằng nó thể hiện việc ứng xử với tổ tiên như những hiện thể siêu nhiên quan trọng bậc nhất. Tổ tiên đã trao truyền tài sản mà nếu không có chúng cuộc sống sẽ đói khổ; đổi lại, người sống phải tôn vinh họ. Có thể các nghi lễ thờ cúng tổ tiên là hình thức che đậy cho việc trao truyền tài sản trong một hào quang linh thánh, minh chứng cho lý do tại sao một số người lại sở hữu nhiều hơn những người khác. Người ta cũng có thể sử dụng sọ người trong thuật gọi hồn, triệu hồi tổ tiên để hỏi ý nên trồng trọt lúc nào, đi săn nơi đâu và có nên cướp phá những vùng lân cận hay không.

Những tục lệ thờ cúng tổ tiên phát triển trên khắp vùng Hilly Flanks. Tại Çatalhöyük gần như nhà nào cũng có xác người chôn dưới nền và sọ tổ tiên gắn lên bề mặt và trên tường. Ở ‘Ain Ghazal, hai hố được phát hiện có các tượng và tượng bán thân có kích cỡ như người sống làm từ những bó sậy được phủ bằng vữa. Một số có hai đầu, hầu hết đều vẽ những đôi mắt to nhìn chằm chằm. Nổi bật nhất là, khoảng năm 8000 TCN, người dân ở Çayönü đông nam Thổ Nhĩ Kỳ đã xây dựng một công trình mà những nhà khai quật đặt tên là Ngôi nhà của người chết, có đến 66 sọ người và hơn 400 bộ xương cất giữ sau một đài thờ. Các nhà hóa học xác định những chất trên đài thờ có tinh thể hemoglobin từ máu người và động vật. Nhiều máu người còn đọng lại trên những chén đất sét, và hai công trình khác cũng có đài thờ dính vết máu khô, một cái có hình ảnh một đầu người được chạm khắc phía trên. Trí óc bạn sẽ không khỏi vẩn vơ. Sự việc này trông có vẻ như trong một phim kinh dị bạo lực – những nạn nhân bị cột chặt vào đài thờ đang giãy giụa trong khi các tu sĩ cứa đứt tĩnh mạch cổ của họ bằng lưỡi dao bén ngót rồi cưa đầu để cất giữ, và những tín đồ thì uống máu của họ…

Hoặc không phải như vậy. Không một hiện vật nào mà các nhà khảo cổ khai quật lên có thể chứng minh hoặc bác bỏ những ý tưởng viển vông đó. Tuy nhiên, các pho tượng và Ngôi nhà của người chết có vẻ như gợi lên sự có mặt của những người chuyên trách việc thực hành tôn giáo (religious specialists) bằng cách nào đó đã thuyết phục mọi người rằng họ có đặc ân tiếp cận với quyền lực siêu nhiên. Có thể họ rơi vào trạng thái xuất thân hoặc choáng hoặc cũng có thể họ chỉ mô tả ảo tượng của mình một cách thuyết phục. Bất kể lý do là gì, các thầy tu có thể là những người đầu tiên được hưởng quyền như một định chế. Có lẽ ở đây chúng ta nhìn thấy những khởi đầu của hệ thống phân cấp cực đoan.

Cho dù điều này có đúng hay không, hệ thống phân cấp cũng phát triển nhanh nhất trong phạm vi các hộ gia đình. Tôi quan sát thấy đàn ông và phụ nữ có vai trò khác nhau trong những xã hội hái lượm, đàn ông tích cực hơn trong việc săn bắt và phụ nữ thì trong hái lượm, nhưng những nghiên cứu về các nhóm người cùng thời cho thấy việc thích nghi cuộc sống gia đình đã làm sâu sắc thêm sự phân chia giới tính, trói buộc người phụ nữ với gia đình. Tỉ lệ tử vong cao/chế độ sinh nở cao đòi hỏi hầu hết phụ nữ phải dành phần lớn cuộc sống của mình để dưỡng thai và/hoặc chăm sóc con cái, và những thay đổi trong nông nghiệp – mà phụ nữ có thể đã đi tiên phong – đã củng cố điều này. Các loại ngũ cốc được thuần dưỡng cần chế biến nhiều hơn hầu hết các loại thực phẩm hoang, và vì việc giã, nghiền và nướng có thể thực hiện ở nhà trong khi coi sóc trẻ sơ sinh, nên những công việc này đương nhiên là do phụ nữ đảm đương.

Khi đất đai dồi dào nhưng lao động khan hiếm (như thời kỳ mới bắt đầu canh tác), người ta thường trồng trọt ở những khu vực rộng lớn một cách nhẹ nhàng, đàn ông và phụ nữ đều cùng cuốc đất và làm cỏ. Nếu dân số gia tăng nhưng việc cung cấp lương thực trên đất canh tác không tăng, như đã xảy ra ở vùng Hilly Flanks sau năm 8000 TCN, thì có nghĩa là phải làm việc cật lực, thúc ép hơn trên mỗi mẫu đất bằng bón phân, cày xới, và thậm chí cả tưới tắm. Tất cả những công việc này đòi hỏi sức mạnh ở phần thân trên. Nhiều phụ nữ cũng mạnh mẽ không kém gì đàn ông, nhưng khi nông nghiệp tăng trưởng thì đàn ông ngày càng chiếm ưu thế trong công việc ngoài trời và phụ nữ chỉ làm công việc trong nhà. Đàn ông trưởng thành thì làm ruộng, con trai thì chăn gia súc trong khi phụ nữ và con gái quán xuyến công việc nhà được phân định rõ ràng hơn bao giờ hết. Một nghiên cứu từ 162 bộ xương có niên đại khoảng năm 7000 TCN ở Abu Hureyra cho thấy những khác biệt nổi bật về giới tính. Xương sống ở phần lưng trên của cả đàn ông và phụ nữ đều mở rộng, có thể là do trên đầu phải mang nặng, nhưng đặc biệt chỉ phụ nữ có tình trạng ngón chân bị viêm khớp do dùng nhiều thời gian để quỳ, dùng ngón chân làm cơ sở tạo lực trong khi nghiền hạt ngũ cốc.

Nhổ cỏ, dọn đá, bón phân, tưới nước và cày bừa để gia tăng sản lượng, và việc thừa hưởng một cánh đồng được chăm sóc tốt, chứ không chỉ đất đai, tạo nên sự khác biệt đối với tài sản của hộ gia đình. Cách thức tôn giáo phát triển khoảng sau năm 9600 TCN cho thấy con người quan tâm đến tổ tiên và sự thừa kế, và có lẽ chúng ta nên giả định rằng vào thời điểm này họ bắt đầu củng cố các nghi lễ cùng những thiết chế khác. Với quá nhiều mối đe dọa, những người đàn ông ở nền nông nghiệp nông dân hiện thời đều muốn đảm bảo rằng họ thực sự là cha của những đứa trẻ sẽ thừa kế tài sản của họ. Trong khi đó thái độ của người hái lượm về tính dục có vẻ hững hờ hơn, họ chỉ quan tâm đến sự trinh trắng của con gái thời kỳ tiền hôn nhân và việc người vợ ngoại tình. Đàn ông trong các xã hội nông nghiệp truyền thống thường lập gia đình ở độ tuổi 30, sau khi họ chính thức được quyền thừa kế, trong khi phụ nữ thường kết hôn ở độ tuổi 15 trước khi có nhiều thời gian để lông bông. Mặc dù chúng ta không thể chắc chắn rằng các mẫu hình này hình thành từ lúc ban đầu khởi sự canh tác nhưng có vẻ thiên về khả năng này nhiều hơn. Ví dụ, khoảng năm 7500 TCN, một bé gái thường lớn lên dưới uy quyền của người cha, sau đó, khi là một thiếu nữ, hoán đổi nó thành uy quyền của một người chồng đủ chín chắn để thay thế người cha của mình. Hôn nhân sẽ trở thành một nguồn tài sản vì những người có những vùng đất và đàn gia súc tốt thường kết hôn với những người có tình trạng may mắn tương tự để củng cố cảm giác an toàn. Như thế người giàu càng giàu thêm.

Có những thứ đáng giá để thừa hưởng cũng đồng nghĩa với việc có những thứ đáng giá để đánh cắp, và chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà các pháo đài và chiến tranh mọc lên như nấm ở vùng Hilly Flanks sau khoảng năm 9600 TCN. Đời sống của con người săn bắt-hái lượm nổi tiếng là bạo lực; không có một hệ thống thứ bậc nào để kìm hãm những khát khao của họ, những thợ săn trẻ tuổi thường xem giết người là một phương cách hợp lý để giải quyết những bất đồng. Ở nhiều nhóm người, đó là nguyên nhân hàng đầu của cái chết. Nhưng để sống chung trong một ngôi làng, mọi người phải học cách quản lý bạo lực giữa các cá nhân. Những ngôi làng hành xử như thế sẽ phát triển mạnh – và cũng có thể đã sử dụng bạo lực để cướp lấy mọi thứ từ những cộng đồng khác.

Bằng chứng đáng chú ý nhất xuất phát từ Jericho, một thành phố nổi tiếng với câu chuyện trong Kinh Thánh kể lại những bức tường của nó đã sụp đổ khi Joshua thổi hồi kèn trumpet. Khi Kathleen Kenyon đào bới khảo cổ cách đây 50 năm, bà đã tìm thấy những bức tường – không phải của Joshua, người sống ở thời kỳ khoảng năm 1200 TCN, nhưng Kenyon đào được một thứ trông như những pháo đài có hơn 8.000 năm tuổi. Bà giải thích đây là một công sự phòng thủ cao 3,7m và dày 1,5m, có niên đại khoảng năm 9300 TCN. Nhưng những nghiên cứu mới ở thập niên 1980 chứng minh rằng bà có thể bị nhầm lẫn, và pháo đài của bà thực ra chỉ là một vài bức tường nhỏ được xây dựng ở những thời điểm khác nhau, có thể dùng để chặn một con suối; nhưng phát hiện lần thứ hai của bà, một tháp đá cao 7,6m, có lẽ đúng là một công sự phòng thủ. Trong một thế giới mà vũ khí tiên tiến nhất là một cây gậy có mũi gắn đá nhọn thì đây đúng là một bức tường thành.

Không nơi nào ngoài vùng Hilly Flanks mà người ta xây dựng nhiều công trình phòng thủ đến thế. Ngay cả ở khoảng năm 7000 TCN, khi hầu như những người sinh sống ngoài vùng này đều còn là con người hái lượm, di chuyển theo mùa, ngay cả khi họ bắt đầu định cư trong các làng mạc, như Mehrgarh ở Pakistan hiện nay hay di chỉ Thượng Sơn (Shangshan) ở đồng bằng sông Dương Tử, thì đó vẫn là những nơi tầm thường so với tiêu chuẩn của Jericho. Tôi cho rằng nếu những người săn bắt-hái lượm ở bất kỳ nơi nào trên trái đất được vận chuyển bằng máy bay đến Çayönü hoặc Çatalhöyük, hẳn họ sẽ không biết mình đang chứng kiến điều gì. Thay cho những hang động hay những túp lều nhỏ bé là phố phường nhộn nhịp với những ngôi nhà vững chãi, cửa hàng thực phẩm to lớn, nghệ thuật có vị trí quan trọng, và đầy những công trình tôn giáo. Họ sẽ nhận ra mình đã làm việc vất vả chỉ để chết trẻ và làm mồi cho hàng loạt vi khuẩn khó ưa. Họ sẽ cùng kề vai sát cánh với người giàu lẫn người nghèo và nổi cáu hoặc thích thú với quyền hạn của nam giới đối với phụ nữ và cha mẹ đối với con trẻ. Thậm chí họ có thể nhận ra rằng một số người có quyền giết mình trong các nghi lễ. Và họ cũng có thể tự vấn tại sao người ta lại tạo ra được tất cả những điều này.

Ra đi và nhân rộng

Bây giờ chúng ta tua nhanh qua 10.000 năm với những nguồn gốc thứ bậc và sự việc buồn tẻ ở vùng Hilly Flanks thời tiền sử để đến Paris vào năm 1967.

Đối với những người đàn ông trung niên quản lý khuôn viên Đại học Paris ở vùng ngoại ô ảm đạm của Nanterre – những người kế thừa truyền thống chế độ gia trưởng trải dài từ thời mới có vùng định cư Çatalhöyük – rõ ràng những thiếu nữ mà họ phụ trách không được phép tiếp các quý ngài trẻ tuổi trong phòng kí túc xá của mình (hoặc ngược lại). Các quy tắc như vậy có lẽ không bao giờ rành mạch đối với giới trẻ, thế nhưng lớp trẻ đã phải sống với những quy luật này trong suốt 300 thế hệ. Giờ thì không còn thế nữa. Như mùa đông khép lại, sinh viên thách thức quyền lực của các bậc trưởng thượng bằng việc công khai cuộc sống tình yêu của họ. Vào tháng 1 năm 1968, Daniel Cohn-Bendit, nay là một thành viên đáng kính của Đảng Xanh ở Nghị viện châu Âu, hồi đó là một nhà hoạt động sinh viên có biệt danh là Danny Đỏ, đã so sánh thái độ của vị bộ trưởng thanh niên với Đoàn Thanh niên Hitler. Vào tháng Năm, sinh viên đối đầu với cảnh sát vũ trang trong những trận chiến đường phố làm tê liệt thành phố Paris với hàng rào và nhiều xe bị đốt. Tổng thống De Gaulle phải bí mật hội kiến với các tướng tá để tìm hiểu xem có khả năng xảy ra một Ngày (phá ngục) Bastille mới, và quân đội có hậu thuẫn ông hay không.

Hay dẫn chứng trường hợp của Marshall Sahlins, một giáo sư nhân học trẻ tuổi của Đại học Michigan. Sahlins đã tạo tiếng tăm qua một loạt các bài tiểu luận nổi bật về sự tiến hóa xã hội đồng thời phê phán cuộc chiến tranh Việt Nam; lúc đó ông bỏ học ở trường Ann Arbor, bang Michigan (“một thành phố đại học nhỏ bé được hình thành riêng cho những con phố nhỏ bé”❖ – ông ta nhận xét một cách thiếu lịch sự nhưng không phải là không thẳng thắn) để dành hai năm tại Collège de France, thánh đường của lý thuyết nhân học và lý thuyết cấp tiến đối với giới sinh viên. Khi cuộc khủng hoảng trở nên trầm trọng, Sahlins gửi một bản thảo cho Tạp chí Les temps modernes, yêu cầu đọc cho bất kỳ ai được xem là thuộc giới trí thức Pháp. Nó đã trở thành một trong những tiểu luận về nhân học có ảnh hưởng nhất từ trước tới nay.

“Hãy mở cửa mọi vườn ươm nghệ sĩ, trường đại học, và những nhà tù. Cảm ơn giáo viên và những ganh đua trong thi cử,” những sinh viên có quan điểm cấp tiến nguệch ngoạc trên một bức tường ở Nanterre. Bản thảo của Sahlins đáp ứng một điều gì đó trong giới sinh viên: không phải là một giải đáp mà những người theo phái vô chính phủ có thể không mong muốn nhưng ít nhất cũng có một số khuyến khích (“Hãy là một người theo chủ nghĩa thực tế, hãy đòi hỏi điều bất khả”❖ đã trở thành một trong những khẩu hiệu của họ). Sahlins cho rằng vấn đề trọng tâm là xã hội thuộc giai cấp tư sản đã “xây dựng một đền thờ cho những điều không-thể-đạt-được: Những Nhu Cầu Vô Hạn.” Chúng ta cam chịu phục tùng kỷ luật tư bản và cạnh tranh để kiếm tiền, do đó chúng ta có thể theo đuổi Những Nhu Cầu Vô Hạn bằng cách mua những thứ chúng ta thực sự không muốn có. Sahlins còn đề xuất: “Chúng ta có thể học được điều gì đó từ những con người săn bắt-hái lượm, những con người nguyên thủy nhất trên thế giới, tuy có ít tài sản nhưng họ không phải là những người nghèo khổ.”❖ Điều này nghe có vẻ nghịch lý nhưng Sahlins lập luận rằng người hái lượm thường chỉ làm việc từ 21 đến 35 giờ mỗi tuần – ít giờ hơn so với những người thợ công nghiệp ở Paris hoặc thậm chí, tôi cho rằng, giờ học của sinh viên ở thành phố này. Những con người săn bắt-hái lượm không có xe hơi hay tivi, nhưng họ không biết mình có muốn chúng hay không. Phương tiện của họ thì rất ít, nhưng nhu cầu thì còn ít hơn, khiến họ trở thành”một xã hội nguyên thủy thịnh vượng,” Sahlins kết luận.

Sahlins nêu ra một điểm: thế thì tại sao nền nông nghiệp lại thay thế công việc hái lượm nếu bù lại chỉ có công việc, bất bình đẳng và chiến tranh? Nhưng dù vậy việc thay thế công việc hái lượm đã quá rõ. Khoảng năm 7000 TCN, nền nông nghiệp đã chiếm lĩnh hoàn toàn vùng Hilly Flanks. Trước đó, khoảng năm 8500 TCN, các loại ngũ cốc canh tác đã truyền đến đảo Síp và đến khoảng năm 8000 TCN, chúng lan đến miền trung Thổ Nhĩ Kỳ. Và vào khoảng năm 7000 TCN, các giống cây thuần dưỡng này phổ biến đến toàn bộ các khu vực rồi lan về phía đông đến tận Pakistan (hoặc có lẽ phát triển tự phát). Chúng được du nhập vào Hy Lạp, phía nam Iraq và Trung Á vào giai đoạn khoảng năm 6000 TCN, Ai Cập và Trung Âu khoảng năm 5000 TCN, và dọc bờ Đại Tây Dương khoảng năm 4000 TCN (Hình 2.4).

Các nhà khảo cổ đã tranh luận trong nhiều thập niên về nguyên nhân xảy ra điều này, nhưng sự việc vẫn chưa ngã ngũ. Chẳng hạn như phần cuối một bài viết có uy tín mới đây, Graeme Barker thuộc Đại học Cambridge khái quát rõ ràng nhất về những gì mà ông cảm nhận, là những người nông dân đã thế chỗ Con người hái lượm “bằng nhiều cách khác nhau, ở các mức độ khác nhau và với những lý do khác nhau, nhưng chung quy là khi bị rơi vào những tình huống phải đối mặt với thế giới mà họ đã biết.”❖

Hình 2.4. Lan tỏa và nhân rộng phiên bản 1: Sự lan tỏa về phía tây của các loài thực vật được thuần dưỡng từ vùng Hilly Flanks đến vùng Địa Trung Hải, giai đoạn 9000-4000 TCN.

Tuy nhiên, mặc dù quá trình này diễn ra một cách hỗn độn – qua hàng nghìn năm liên tục ở quy mô toàn bộ lục địa, nhưng làm sao chúng không xảy ra được chứ? Chúng ta có thể hiểu nhiều về nó nếu còn nhớ rằng cuối cùng thì tất cả chuyển động của trái đất đều tập trung lên Chuỗi Năng lượng Lớn. Việc thay đổi quỹ đạo đồng nghĩa với việc trái đất hấp thu được nhiều năng lượng điện từ của mặt trời; sự quang hợp đã chuyển đổi một phần lớn năng lượng điện từ thành năng lượng hóa học (nghĩa là gia tăng số lượng cây cỏ); sự trao đổi chất lại chuyển đổi một lượng lớn năng lượng hóa học thành động năng (nghĩa là gia tăng số lượng động vật); và nông nghiệp cho phép con người khai thác rộng rãi năng lượng từ cây cỏ và các loài động vật khác để dùng riêng. Sau đó đến lượt các loài sâu bọ, động vật ăn thịt, và các loài ký sinh lại rúc rỉa càng nhiều càng tốt thứ năng lượng mới này từ những người nông dân khi có dịp, nhưng nó vẫn còn lại rất nhiều.

Con người, cũng như thực vật và các loài động vật khác, đã tìm ra một lối thoát cho nguồn năng lượng dư thừa của mình qua việc sinh sản bằng con đường tình dục. Tỉ lệ sinh đẻ cao cho thấy những ngôi làng mới có thể phát triển nhanh chóng cho đến khi mỗi một centimet vuông đất đều được tận dụng để canh tác, và rồi đói nghèo và dịch bệnh phát sinh cho đến khi họ cân bằng khả năng sinh sản. Sau đó, việc hấp thu năng lượng và tiêu thụ năng lượng đã đạt được một sự cân bằng tạm thời. Ở một số ngôi làng ổn định theo kiểu này luôn bị lơ lửng bên bờ vực nghèo khổ; ở một số làng khác, vài con người táo bạo quyết định bắt đầu lại. Họ có thể đi bộ hàng giờ để đến một địa điểm còn bỏ không (và có lẽ không đáng ao ước) ở cùng thung lũng hay vùng đồng bằng – hoặc lê bước hàng trăm kilomet để tìm kiếm những đồng cỏ xanh tươi đã từng nghe nói đến. Thậm chí họ có thể vượt qua biển khơi. Hẳn là rất nhiều người phiêu lưu đã thất bại, những người sống sót tả tơi, đói khát phải cúp đuôi bò về chốn cũ. Dầu vậy, cũng có một số người chiến thắng nghịch cảnh. Sự gia tăng dân số lại bùng nổ cho đến khi tử suất lại bắt kịp sinh suất hay cho đến khi có các khu định cư mới tách ra từ những khu vực cũ.

Hầu hết các nông dân tràn sang lãnh thổ mới đều bắt gặp những người hái lượm đã sống ở đó. Thật dễ hình dung những cảnh tượng như trong các bộ phim cao bồi Viễn Tây cũ xưa, với những vụ cướp gia súc, lột da đầu và đấu súng (nhưng cả hai bên đều sử dụng cung tên), dù vậy, trên thực tế có thể ít nghiêm trọng hơn. Những khảo sát khảo cổ học cho thấy những người nông dân đầu tiên ở mỗi vùng đều có xu hướng định cư ở các khu vực khác với những cư dân hái lượm bản địa, một điều gần như chắc chắn, vì các khu vực đất nông nghiệp tốt nhất và các vùng hái lượm tốt nhất hiếm khi chồng lấn nhau. Ít nhất vào lúc đầu, người nông dân và cư dân hái lượm có thể không cần lưu tâm đến nhau.

Tất nhiên cuối cùng thì công việc hái lượm cũng thực sự biến mất. Ngày nay bạn chỉ còn tìm thấy một vài thợ săn hay người hái lượm lảng vảng rình mò quanh các quang cảnh tỉa tót cẩn thận của vùng Tuscany hay ngoại ô Tokyo. Dân số làm nông nghiệp gia tăng nhanh chóng, chỉ cần vài thế kỷ là lấp đầy những vùng đất tốt nhất, cho đến khi họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải dồn vào các vùng đất ngoại vi của cư dân hái lượm.

Có hai lý thuyết chính về những gì xảy ra sau đó. Thuyết đầu tiên cho rằng về cơ bản, nông dân đã hủy hoại xã hội thịnh vượng ban đầu. Dịch bệnh có thể đóng một vai trò ở đó, chuột, cuộc sống bầy đàn và những ngôi làng cố định chắc chắn sẽ khiến những nông dân không khỏe mạnh bằng những người săn bắt-hái lượm. Tuy vậy, chúng ta không nên hình dung những loại dịch bệnh như trận dịch đã cướp đi sinh mạng hàng triệu người bản địa ở châu Mỹ sau năm 1992. Những ổ bệnh của người nông dân và người hái lượm chỉ bị ngăn cách bởi một vài kilomet rừng chứ không phải đại dương không băng qua được, vì thế chúng cũng không khác biệt gì mấy.

Tuy nhiên, ngay cả khi không có những kiểu giết người hàng loạt thì ưu thế của số đông vẫn mang tính quyết định. Nếu những người hái lượm cương quyết chiến đấu, như đã từng xảy ra trên nhiều biên giới thuộc địa ở thời hiện đại, họ có thể phá hủy những ngôi làng nông nghiệp lẻ tẻ, nhưng nhiều người khai hoang hơn vẫn cứ tiếp tục tràn đến, dập tắt mọi sự kháng cự. Cuối cùng, những người hái lượm phải chọn giải pháp tháo lui, nhưng cho dù họ có lùi xa bao nhiêu, những nông dân mới vẫn sẽ đến nơi, vẫn chặt cây và hít thở mầm bệnh, cho đến khi những người hái lượm dừng lại ở những vùng đất mà nông dân không thể tận dụng, chẳng hạn như vùng Siberia hay sa mạc Sahara.

Lý thuyết thứ hai cho rằng những điều này đã không xảy ra vì những nông dân đầu tiên vượt qua hầu hết các khu vực ở Hình 2.4 không phải là hậu duệ của những di dân từ vùng Hilly Flanks. Họ là những người săn bắt-hái lượm định cư rồi trở thành nông dân. Sahlins khiến cho nông nghiệp trông không hấp dẫn chút nào so với xã hội thịnh vượng nguyên thủy, nhưng rất có khả năng con người hái lượm hiếm khi phải đối mặt với một lựa chọn giản đơn giữa hai lối sống. Một nông dân rời bỏ cày bừa và khởi sự ra đi sẽ không vượt qua lằn ranh để vào lãnh thổ của người hái lượm. Thay vào đó, anh ta sẽ đến những làng mạc, nơi những nông dân làm công việc đồng áng tệ hơn anh ta (có thể chỉ cuốc đất thay vì cày bừa và bón phân), rồi vẫn còn những người làm nông nghiệp kém hơn nữa (có thể chỉ đốt các mảnh rừng để trồng trọt cho đến khi cỏ dại mọc trở lại, rồi rời đi chỗ khác), và cuối cùng là những người dựa hoàn toàn vào việc săn bắt và hái lượm. Cứ thế, những ý tưởng, con người, và vi khuẩn trôi dạt qua lại khắp vùng tiếp xúc rộng lớn này.

Khi con người nhận ra rằng những người láng giềng với tập quán thâm canh đã diệt hết cỏ dại và xua đuổi các loài thú mà lối sống hái lượm của họ phụ thuộc vào, thay vì tấn công những kẻ cố ý phá hoại này hoặc bỏ chạy, họ đã chọn giải pháp nhập vào đám đông và tăng gia canh tác. Đáng lẽ chọn canh tác nông nghiệp thay cho hái lượm, con người có thể đã chỉ quyết định dành ít thời gian hơn cho công việc hái lượm và khá nhiều thời gian cho công việc làm vườn. Về sau, họ mới phải quyết định xem liệu có nên bắt đầu làm cỏ trước, rồi cày xới, sau đó mới bón phân hay không, nhưng đây là – để lặp lại một hình ảnh từ chương trước – một chuỗi những bước đi chập chững của con người hơn là một bước nhảy vọt vĩ đại một-lần-cho-tất-cả từ xã hội thịnh vượng nguyên thủy đến công việc nặng nhọc đến kiệt sức và những căn bệnh kinh niên. Nhìn chung, qua hàng trăm năm và hàng nghìn kilomet đường, số người thâm canh đồng thời cũng sinh sôi nảy nở; trong khi những người bám theo khuôn nếp cũ lại giảm dần. Trong quá trình này, ranh giới nông nghiệp tiếp tục lan rộng. Không ai chọn hệ thống phân cấp và làm việc nhiều giờ hơn, phụ nữ cũng không chọn ôm mãi những ngón chân sưng tấy, nhưng những điều này cứ thế mà xâm chiếm họ.

Cho dù các nhà khảo cổ có đào bới được bao nhiêu công cụ bằng đá, hạt giống bị đốt, hay các nền nhà đi chăng nữa, họ cũng sẽ không bao giờ có thể chứng minh được một trong hai lý thuyết đó, nhưng một lần nữa, di truyền học (phần nào) đã xuất hiện để giải cứu. Vào thập niên 1970, Luca Cavalli-Sforza thuộc Đại học Stanford bắt đầu tiến hành một khảo sát quy mô về các nhóm máu và nhân DNA của người châu Âu. Nhóm nghiên cứu của ông đã phát hiện một tốc độ phát triển liên tục của các tỉ lệ gen tương ứng từ đông nam sang tây bắc (Hình 2.5), từ đó họ chỉ ra rằng điều này đã giúp sắp xếp khá rõ các chứng cứ khảo cổ học về sự lan truyền của nông nghiệp, thể hiện ở Hình 2.4. Kết luận của họ: sau khi những di dân từ Tây Á đưa việc canh tác nông nghiệp vào châu Âu, hậu duệ của họ thế chỗ những người hái lượm bản địa trên quy mô lớn, đẩy các tàn dư của họ đi xa về phía bắc và phía tây.

Nhà khảo cổ học Colin Renfrew lập luận rằng ngôn ngữ học cũng hỗ trợ cho kịch bản của Cavalli-Sforza: ông cho rằng những người nông dân đầu tiên không chỉ thay thế các gen châu Âu bằng gen của người Ấn-Âu mà còn thay thế các ngôn ngữ bản địa của người châu Âu bằng ngôn ngữ Ấn-Âu xuất phát từ vùng Hilly Flanks, chỉ còn sót lại các nhóm ngôn ngữ riêng biệt cổ xưa hơn, chẳng hạn như ngôn ngữ xứ Basque. Những biến cố về sự trục xuất đưa đến việc chấm dứt xã hội thịnh vượng nguyên thủy được ghi lại ngay trong thân xác người châu Âu hiện đại và lại tái diễn mỗi lần họ mở miệng nói ra.

Đầu tiên, những chứng cứ mới chỉ làm gia tăng các tranh cãi học thuật. Các nhà ngôn ngữ học lập tức phản bác Renfrew, lập luận rằng các ngôn ngữ châu Âu hiện đại sẽ còn khác nhau xa nếu chúng thực sự bắt đầu phân tách từ một ngôn ngữ của tổ tiên sáu hay bảy triệu năm trước đây, và năm 1996 một nhóm chuyên gia của Đại học Oxford do Bryan Sykes đứng đầu đã phản bác Cavalli-Sforza về mặt di truyền học. Sykes khảo sát DNA ty thể thay vì nhân DNA như Cavalli-Sforza nghiên cứu, và thay vì một tiến trình đông nam-tây bắc, như Hình 2.5, được xem là một mẫu hình quá rối rắm để có thể trình bày dễ dàng trên bản đồ, họ đã tìm ra sáu nhóm liên kết gen, và chỉ có một trong số đó có khả năng liên kết với những di dân nông nghiệp đến từ vùng Tây Á. Sykes cho rằng năm nhóm kia xưa hơn nhiều, phần lớn ngược trở lại đến những di dân đầu tiên rời châu Phi đến châu Âu từ 25.000 đến 50.000 năm trước; ông kết luận rằng tất cả những điều này cho thấy những nông dân đầu tiên ở châu Âu chủ yếu là những người hái lượm bản địa chọn lối sống định cư, chứ không phải là hậu duệ của những di dân từ vùng Hilly Flanks.

Hình 2.5. Câu chuyện viết bằng máu: diễn giải của Luca Cavalli-Sforza về lắp ghép gen ở châu Âu trên dựa trên việc lấy mẫu nhân DNA. Ông kết luận rằng bản đồ này, thể hiện các mức độ giống nhau về di truyền của những quần thể dân cư hiện đại với những người thực dân theo giả thuyết đến từ vùng Hilly Flanks, Với mức 8 hoàn toàn giống nhau và mức 1 là thấp nhất (đo lường thành phần chính đầu tiên trong thao tác thống kê của ông về các kết quả để giải thích cho 95% biến dị trong mẫu), cho thấy những người thực dân đến từ vùng Hilly Flanks đã truyền bá nền nông nghiệp khắp châu Âu. Nhưng vẫn còn nhiều nhà khảo cổ học và một số nhà di truyền học không đồng ý.

Vào năm 1997, hai nhóm Cavalli-Sforza và Sykes công kích nhau dữ dội trên các trang Tạp chí American Journal of Human Genetics, nhưng kể từ đó, quan điểm của họ dần tiệm cận nhau. Giờ đây Cavalli-Sforza tính toán rằng những nông dân di cư đến từ vùng Tây Á chiếm khoảng 26-28% DNA người châu Âu, còn Sykes cho con số đó gần 20%. Việc cho rằng cứ một trong những nông dân đầu tiên ở châu Âu có tổ tiên là những di dân từ vùng Tây Nam Á so với 3 hay 4 người có tổ tiên là người bản địa đúng là quá đỗi giản đơn, nhưng điều này cũng không quá sai.

Tiền định

Những khẳng định của Cavalli-Sforza và Renfrew cũng như lựa chọn của Sykes – thậm chí thỏa hiệp đang hình thành giữa họ – hẳn nhiên không làm các sinh viên ở Nanterre hạnh phúc, bởi vì mọi lý thuyết trên đều cho rằng chiến thắng của nông nghiệp là điều không thể tránh khỏi. Dù hầu như không liên quan gì đến các kỳ thi hay giáo viên, thì sự cạnh tranh, di truyền học và khảo cổ học vẫn có ý nghĩa vì nó luôn tồn tại với chúng ta. Logic của nó có nghĩa là mọi thứ ít nhiều gì cũng phải trở thành những gì mà chúng từng là.

Nhưng liệu điều này có đúng không? Vì suy cho cùng, mọi người đều có ý chí tự do. Lười biếng, tham lam, và sợ hãi có thể là những động cơ của lịch sử, nhưng mỗi người chúng ta đều phải lựa chọn trong số đó. Nếu ¾ hay hơn nữa những nông dân đầu tiên ở châu Âu có tổ tiên là người hái lượm, thì chắc chắn người châu Âu thời tiền sử hẳn phải ngừng sản xuất nông nghiệp theo những lối mòn nếu có đủ người quyết định không chịu thâm canh. Vậy tại sao điều đó lại không xảy ra?

Điều này có lúc đã xảy ra. Sau khi lan rộng từ nơi hiện giờ là Ba Lan đến vùng lòng chảo Paris khoảng vài trăm năm trước năm 5200 TCN, thì làn sóng phát triển nông nghiệp chậm lại rồi dừng hẳn (Hình 2.4). Trong 1.000 năm hầu như không có nông dân nào chiếm nốt 80 hay 95km cuối cùng ngăn cách họ với biển Baltic và ít người hái lượm nào ở vùng Baltic áp dụng việc thâm canh. Ở đó, những người hái lượm đã đấu tranh cho lối sống của họ. Dọc theo đường nứt gãy phân cách vùng nông nghiệp và vùng hái lượm chúng ta tìm thấy số lượng đáng kể những khu định cư kiên cố và xương của những thanh niên bị giết bởi các vết thương ở phía trước và bên trái hộp sọ do vật dụng còn gây ra – theo suy đoán của chúng tôi thì họ đã chết khi chiến đấu trực diện với những đối thủ thuận tay phải sử dụng rìu đá. Một số ngôi mộ tập thể thậm chí có thể là chứng tích khủng khiếp của những vụ thảm sát.

Chúng ta sẽ không bao giờ biết được những hành động của chủ nghĩa anh hùng và sự tàn bạo diễn ra dọc theo dải Đồng bằng Bắc Âu 7000 năm trước, nhưng có lẽ địa lý và kinh tế cũng đóng vai trò lớn không kém văn hóa và bạo lực trong việc quy định ranh giới canh tác/hái lượm. Những người hái lượm vùng Baltic sống ở một khu vườn Địa Đàng lạnh giá, nơi các nguồn tài nguyên biển phong phú đã hỗ trợ các quần thể dân cư dày đặc quanh năm sống ở làng mạc. Các nhà khảo cổ học đã khai quật những đống vỏ sò, thức ăn thừa từ các buổi tiệc tùng chất thành đống quanh các thôn làng. Rõ ràng tặng vật từ thiên nhiên cho phép những người hái lượm có được miếng bánh (hay tôm cua) để ăn: dân hái lượm có đủ người để đối đầu với những người nông dân nhưng không nhiều đến mức họ phải chuyển sang trồng trọt để nuôi bản thân. Đồng thời, nông dân thấy rằng các loài thực vật và động vật ban đầu được thuần hóa ở vùng Hilly Flanks khó sống khỏe vùng cực bắc này.

Thực lòng mà nói, chúng tôi không biết tại sao cuối cùng nông nghiệp lại chuyển về phía bắc sau năm 4200 TCN. Một số nhà khảo cổ thì chú trọng đến các yếu tố thúc đẩy, cho rằng số lượng nông dân nhân rộng đến mức cuốn phăng mọi chống đối; số khác nhấn mạnh các yếu tố lôi kéo, cho rằng đã xảy ra một biến cố bên trong xã hội hái lượm khiến phương bắc bị bỏ ngỏ cho sự xâm chiếm. Nhưng dù điều này đã kết thúc, ngoại lệ của vùng Baltic có vẻ như chứng minh quy luật: khi nền nông nghiệp xuất hiện ở vùng Hilly Flanks thì xã hội thịnh vượng nguyên thủy không thể tiếp tục tồn tại.

Dù nói ra điều này, tôi vẫn không phủ nhận sự tồn tại của ý chí tự do. Điều đó đúng là xuẩn ngốc mặc dù rất nhiều người vẫn không cưỡng nổi sự cám dỗ. Như văn hào Leo Tolstoy vĩ đại chẳng hạn, đã khép lại tác phẩm Chiến tranh và Hòa bình của mình bằng một đoạn văn dông dài kỳ quặc phủ định ý chí tự do trong lịch sử – nói là kỳ quặc vì rải rác trong tác phẩm này là những quyết định thống khổ (cùng những do dự thiếu quyết đoán), những thay đổi đột ngột của tâm trí, và không ít những sai lầm dại dột vốn thường để lại những hậu quả trầm trọng. Theo Tolstoy, dù nói gì chăng nữa: “Ý chí tự do chỉ dành cho lịch sử một biểu đạt bao hàm những gì chúng ta không biết về những quy luật của lịch sử nhân loại.”❖ Ông tiếp tục:

Việc thừa nhận ý chí tự do của con người như một điều gì đó có khả năng ảnh hưởng đến các biến cố lịch sử… đối với lịch sử thì cũng giống như việc thừa nhận một lực tự do làm các thiên thể di chuyển phải thuộc về thiên văn học… Nếu quả có một thiên thể di chuyển tự do thì định luật của Kepler và Newton sẽ bị phủ nhận và khái niệm về thiên thể chuyển động cũng không còn tồn tại nữa. Nếu bất kỳ hành động đơn lẻ nào đều theo ý muốn tự do, thì không một quy luật lịch sử nào có thể tồn tại, cũng như bất kỳ khái niệm nào về những sự kiện lịch sử.

Điều này thật vô lý. Đảm bảo là tột cùng vô lý, nhưng có vô lý cũng thế thôi. Vào một ngày nào đó được định sẵn, bất kỳ người hái lượm nào ở thời tiền sử cũng có thể quyết định không tăng gia, và bất kỳ người nông dân nào cũng có thể quyết định rời bỏ cánh đồng hay hòn đá mài của mình để đi hái lượm quả hạt hay săn hươu nai. Chắc hẳn một số đã làm thế cùng những hậu quả khôn lường đối với cuộc sống của họ. Nhưng về lâu dài nó không quan trọng nữa, bởi vì sự tranh giành tài nguyên đồng nghĩa với việc những người tiếp tục cày cấy trồng trọt, và thậm chí siêng năng với công việc đó, sẽ thu hút nhiều năng lượng hơn những người không làm gì. Nông dân tiếp tục nuôi dưỡng nhiều con cái và gia súc hơn, phát quang nhiều đồng ruộng và có được lợi thế hơn so với những người hái lượm. Trong những hoàn cảnh thích hợp, giống như những gì diễn ra phổ biến quanh vùng biển Baltic vào khoảng năm 5200 TCN, sự lan rộng của nông nghiệp giảm dần. Nhưng những tình huống như thế không thể kéo dài mãi mãi.

Việc canh tác chắc chắn phải gánh chịu những thiệt hại cục bộ (chẳng hạn, do chăn thả quá mức khiến thung lũng sông Jordan biến thành sa mạc ở giai đoạn năm 6500-6000 TCN), nhưng trừ phi xảy ra một thảm họa khí hậu như một thời kỳ Dryas Trẻ mới, mọi ý chí tự do trên thế giới không thể ngăn cản lối sống nông nghiệp phát triển để lấp đầy các môi trường sống thích hợp. Sự kết hợp giữa những Homo sapiens thông minh và thời tiết ấm áp, ẩm và ổn định cộng thêm các loài thực vật và động vật có thể tiến hóa theo cách được thuần hóa khiến điều này không thể tránh khỏi như bất cứ điều gì có thể xảy ra trong thế giới này.

Vào khoảng năm 7000 TCN, các xã hội nông nghiệp năng động và phát triển ở tận cùng phía tây vùng Âu-Á không giống bất cứ nơi nào trên trái đất, và do điểm này việc dùng thuật ngữ phương Tây để phân biệt với phần còn lại của thế giới cũng là hợp lý. Tuy vậy, dù phương Tây có khác biệt với phần còn lại của thế giới thì những khác biệt đó cũng không phải là cố định, và trong vài nghìn năm kế tiếp, người ta bắt đầu tự phát kiến nông nghiệp ở khoảng nửa tá nơi vắt ngang trục Miền Ân Sủng (Hình 2.6).

Trường hợp sớm nhất và rõ ràng nhất nằm ngoài vùng Hilly Flanks là Trung Hoa. Việc canh tác lúa khởi đầu ở vùng thung lũng sông Dương Tử từ khoảng năm 8000-7500 TCN và kê ở phía bắc Trung Hoa khoảng 6500 TCN. Giống kê được thuần dưỡng hoàn toàn khoảng năm 5500 TCN và lúa khoảng năm 4500 TCN, lợn được thuần hóa ở giai đoạn khoảng năm 6000-5000 TCN. Những phát hiện gần đây cho thấy việc bắt đầu trồng trọt cũng sớm không kém gì ở Tân Thế giới. Giống bí đã tiến hóa thành các loại cây thuần dưỡng ở thung lũng Nanchoc phía bắc Peru vào khoảng năm 8200 TCN và ở thung lũng Oaxaca của Mexico giai đoạn khoảng năm 7500-6000 TCN.

Hình 2.6. Những vùng đất hứa: Bảy khu vực trên thế giới, nơi các loài thực vật và động vật có thể được thuần dưỡng riêng biệt, khoảng năm 11000-5000 TCN.

Đậu phộng xuất hiện tại Nanchoc vào khoảng năm 6500 TCN, và trong khi các bằng chứng khảo cổ cho thấy giống cỏ dại teosinte đã tiến hóa thành ngô thuần dưỡng ở Oaxaca vào năm 5300 TCN thì các nhà di truyền học cho rằng quá trình này thực sự bắt đầu rất sớm, khoảng năm 7000 TCN.

Việc thuần hóa ở Trung Hoa và Tân Thế giới chắc chắn không phụ thuộc vào các sự kiện ở vùng Hilly Flanks, nhưng ở thung lũng sông Indus của Pakistan thì mọi thứ ít rõ ràng hơn. Lúa mạch, lúa mì, cừu và dê được thuần dưỡng xuất hiện đột ngột tại Mehrgarh vào khoảng năm 7000 TCN – đột ngột đến nỗi nhiều nhà khảo cổ nghĩ rằng những di dân từ vùng Hilly Flanks đã đưa chúng đến đó. Sự hiện diện của lúa mì có vẻ cũng là một trường hợp đặc biệt, vì cho đến nay chưa ai xác định được các giống lúa mì hoang bản địa đã tiến hóa thành lúa mì thuần dưỡng như hiện nay ở bất kỳ nơi nào gần Mehrgarh. Các nhà thực vật học cũng không khảo sát khu vực này một cách triệt để (thậm chí quân đội Pakistan cũng không có lòng dạ nào để lục lọi quanh những vùng đất của các bộ lạc hoang dã này), vì thế có thể sẽ còn có những bất ngờ đang đợi được khám phá. Và mặc dù các bằng chứng hiện tại cho thấy nền nông nghiệp ở thung lũng sông Indus là một nhánh của vùng Hilly Flanks, chúng ta cũng cần lưu ý rằng nó đã nhanh chóng đi theo con đường riêng của mình, với loại bò u bản địa được thuần hóa vào khoảng năm 5000 TCN và một xã hội đô thị phức tạp xuất hiện vào khoảng năm 2500 TCN.

Khoảng năm 7000 TCN, vùng phía đông sa mạc Sahara ẩm hơn so với bây giờ, với những cơn mưa gió mùa lấp đầy các hồ mỗi mùa hè, nhưng nó vẫn là một vùng khắc nghiệt với sự sống. Hoàn cảnh trái nghịch này rõ ràng là mẹ đẻ của phát kiến ở vùng này: gia súc và cừu không thể sống sót trong môi trường hoang dã, nhưng những người hái lượm có thể bổ sung việc kiếm sống nếu họ chăn thả gia súc từ hồ nước này đến hồ nước khác. Khoảng năm 7000-5000 TCN, những người hái lượm đã trở thành những người chăn cừu, đồng thời biến đàn gia súc và cừu hoang thành những con vật được thuần hóa và đông đúc hơn.

Vào khoảng năm 5000 TCN, nền nông nghiệp cũng trỗi dậy ở hai khu vực cao nguyên, một ở Peru, nơi lạc đà không bướu (llama) và lạc đà cừu (alpaca) được chăn thả và hạt quinoa (từ cây diêm mạch) đã biến đổi để cho con người thu hoạch, và một ở New Guinea. Chứng cứ New Guinea cũng gây nhiều tranh cãi như ở vùng thung lũng sông Indus, nhưng bây giờ có vẻ rõ ràng là khoảng năm 2000 TCN, người vùng cao đã đốt rừng, tiêu nước ở vùng đầm lầy để thuần dưỡng chuối và khoai sọ.

Những vùng này có lịch sử rất khác nhau, nhưng cũng như ở vùng Hilly Flanks, mỗi nơi đều là điểm khởi đầu cho một truyền thống kinh tế, xã hội và văn hóa đặc thù kéo dài đến thời chúng ta. Ở đây, cuối cùng chúng ta có thể giải đáp được vấn đề bám theo từ Chương 1, đó là định nghĩa phương Tây như thế nào. Chúng tôi thấy được những phê phán của nhà sử học Norman Davies đối với việc định nghĩa về phương Tây mà ông gọi là “địa lý co giãn.”… “chỉ được dựng lên nhằm thúc đẩy lợi ích của các nhà nghiên cứu.” Davies đã phủ nhận tất cả mà không hề đề cập đến phương Tây. Nay nhờ có khảo cổ học chuyên sâu cung cấp mốc thời gian, chúng ta có thể tìm lời giải đáp tốt hơn.

Mọi nền văn minh vĩ đại của thế giới hiện nay đều phải xét trở lại từ những sự kiện thuần hóa ban đầu ở cuối Thời đại Băng hà. Không nhất thiết phải để xảy ra những cãi vã ầm ĩ giữa những trí thức, như Davies đã mô tả, tước đoạt lấy phương Tây của chúng ta như một phạm trù đơn lập: nó đơn giản chỉ là một thuật ngữ địa lý liên quan đến những xã hội có tổ tiên ở cực tây vùng lõi thuần hóa Âu-Á, vùng Hilly Flanks. Trước khoảng năm 11000 TCN, khi nền nông nghiệp bắt đầu biến vùng này thành biệt lệ, không có lý do gì để đề cập đến phương Tây như một khu vực đặc biệt, khái niệm này bắt đầu trở thành một công cụ phân tích quan trọng chỉ sau năm 8000 TCN khi các vùng lõi nông nghiệp khác cũng bắt đầu xuất hiện. Vào khoảng năm 4500 TCN, phương Tây mới mở rộng bao gồm hầu hết châu Âu, và trong vòng 500 năm trước đây, những người thực dân mới lan đến châu Mỹ, Ustralia, New Zealand và Siberia. Phương Đông, theo lẽ tự nhiên, đơn giản là những xã hội trỗi dậy ở cực đông vùng lõi khai hóa, bắt đầu phát triển ở Trung Hoa khoảng năm 7500 TCN. Chúng ta cũng có thể nói về các vùng đất truyền thống ở Tân Thế giới, Nam Á, New Guinea, và châu Phi tương tự như thế. Vậy thì đặt vấn đề tại sao phương Tây vượt trội thực ra có nghĩa là hỏi tại sao các xã hội trỗi dậy từ vùng lõi nông nghiệp ở Hilly Flanks, chứ không phải những xã hội khởi nguồn từ các vùng lõi ở Trung Hoa, Mexico, thung lũng sông Indus, sa mạc Sahara, Peru hay New Guinea, lại dẫn đầu hành tinh này.

Một giải thích chốt khóa dài hạn sẽ ngay lập tức bật ra trong ý nghĩ: rằng dân cư ở vùng Hilly Flanks – những người phương Tây đầu tiên – đã phát triển nền nông nghiệp hàng nghìn năm trước các chủng người khác trên thế giới vì họ khéo léo hơn. Họ đã tiếp nối sự khéo léo của mình qua gen di truyền và ngôn ngữ khi họ tràn ngập khắp châu Âu, rồi người châu Âu đem theo nó khi họ chiếm những vùng khác trên thế giới làm thuộc địa sau thế kỷ XV; và đó là lý do tại sao phương Tây vượt trội.

Cũng như các lý thuyết phân biệt chủng tộc đề cập ở Chương 1, điều này hoàn toàn sai lầm vì những lý do mà nhà tiến hóa và địa lý học Jared Diamond nêu ra trong cuốn sách kinh điển Súng, Vi trùng và Thép của mình. Diamond cho rằng Mẹ Tự nhiên rõ ràng không công bằng. Nông nghiệp xuất hiện ở vùng Hilly Flanks sớm hơn những nơi khác hàng nghìn năm không phải vì chỉ có dân cư nơi này là khéo léo, mà vì vị trí địa lý đã cho họ một vai trò đầu tàu.

Theo Diamond, hiện nay trên thế giới có 200.000 loài thực vật, nhưng chỉ có khoảng 2.000 loài là ăn được, và khoảng 200 loài có khả năng thuần hóa được. Trên thực tế, hiện nay hơn một nửa lượng calo tiêu thụ đến từ các loại ngũ cốc, và đứng đầu danh sách là lúa mì, ngô, gạo, lúa mạch, và hạt kê. Những loại cỏ hoang tiến hóa thành các loại ngũ cốc này không phân bố đều trên toàn cầu. Trong số 56 loài cỏ có hạt lớn nhất và giàu dinh dưỡng nhất thì đã có 32 loài mọc hoang ở vùng tây nam châu Á và vùng Địa Trung Hải. Đông Á chỉ có sáu loài hoang dã; Trung Mỹ có năm loài; châu Phi ở phía nam sa mạc Sahara có bốn loài; Bắc Mỹ cũng có bốn; Australia và Nam Mỹ mỗi nơi có hai loài; và Tây Âu chỉ có một loài. Nếu con người (ở các nhóm [loài] lớn) tất cả đều giống nhau và những người hái lượm trên khắp thế giới đều lười biếng, tham lam và sợ hãi như nhau, thì khả năng dân cư ở vùng Hilly Flanks thuần hóa thực vật và động vật trước các vùng khác là rõ ràng vì họ có nhiều nguyên liệu thô triển vọng để thực hiện công việc đó.

Vùng Hilly Flanks cũng còn có những ưu điểm khác. Họ chỉ mất một lần đột biến di truyền để thuần dưỡng lúa mạch và lúa mì hoang, nhưng để biến cỏ teosinte thành một thứ thực phẩm gọi là ngô thì đòi hỏi hàng chục lần. Những di dân vào Bắc Mỹ khoảng năm 14000 TCN không lười biếng và cũng không đần độn hơn bất kỳ ai khác, họ cũng không sai lầm khi cố gắng thuần chủng cỏ teosinte thay vì lúa mì. Ở Tân Thế giới không có giống lúa mì hoang. Những người di cư cũng không thể đem theo các loại cây trồng đã thuần dưỡng từ Cựu Thế giới vì họ chỉ có thể vào châu Mỹ khi còn một dải đất làm cầu nối từ châu Á. Khi họ vượt qua đó, trước khi nước biển nhấn chìm dải đất này, khoảng năm 12000 TCN, thì chưa có giống cây lương thực được thuần dưỡng nào để mang theo; nhưng rồi vào thời điểm xuất hiện cây lương thực được thuần dưỡng thì dải đất cầu nối này đã bị chìm ngập dưới lòng đại dương.

Chuyển từ cây trồng sang động vật, lợi thế hầu như cũng ưu đãi mạnh mẽ vùng Hilly Flanks. Có 148 loài động vật có vú lớn (trên 45kg) trên thế giới. Khoảng năm 1900 TCN, chỉ có 14 loài trong số đó được thuần hóa. Bảy trong số 14 loài này có nguồn gốc ở vùng tây nam châu Á; và trong số 5 loài được thuần hóa quan trọng nhất trên thế giới (cừu, dê, bò, lợn và ngựa), thì ngoài giống ngựa, tất cả đều có nguồn gốc tổ tiên hoang dã ở vùng Hilly Flanks. Đông Á có 5 trong tổng số 14 loài có khả năng thuần hóa được, trong khi Nam Mỹ chỉ có một loài. Bắc Mỹ, Australia và châu Phi về phía nam sa mạc Sahara thì không có loài nào. Dĩ nhiên ở châu Phi đầy rẫy các loài động vật to lớn, nhưng rõ ràng có những thách thức trong việc thuần hóa các loài như sư tử, loài động vật có thể ăn thịt cả chính bạn, hay hươu cao cổ, loài có thể chạy nhanh hơn cả sư tử.

Do đó, chúng ta không nên cho rằng dân cư ở vùng Hilly Flanks đã phát kiến nông nghiệp bởi họ có ưu thế chủng tộc hay văn hóa. Chỉ vì họ sống giữa môi trường thực vật và động vật có khả năng thuần hóa nhiều hơn (và dễ dàng hơn) so với những nơi khác, nên họ làm chủ chúng trước. Những tập hợp thực vật và động vật hoang dã ở Trung Hoa ít thuận lợi hơn, nhưng vẫn phong phú; ở đó việc thuần hóa có lẽ diễn ra hai thiên niên kỷ sau đó. Những người chăn cừu ở vùng Sahara, chỉ có cừu và gia súc, cần thêm khoảng 500 năm nữa, và vì sa mạc không thể cung cấp cây trồng nên họ không bao giờ trở thành nông dân được. Những người vùng cao ở New Guinea lại có vấn nạn ngược lại, họ chỉ có số lượng thực vật hạn chế đồng thời không có động vật lớn thuần dưỡng được. Họ phải cần thêm 2.000 năm nữa và không bao giờ trở thành những người chăn nuôi. Những vùng lõi nông nghiệp ở Sahara và New Guinea, khác với vùng Hilly Flanks, Trung Hoa, thung lũng sông Indus, Oaxaca và Peru, không phát triển được các đô thị và nền văn minh chữ viết – không phải họ kém cỏi hơn, mà vì thiếu các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Người Mỹ bản địa (người da đỏ) có nhiều việc để làm hơn người châu Phi và người New Guinea, nhưng lại ít hơn cư dân vùng Hilly Flanks và người Trung Hoa. Người vùng Oaxaca và dãy Andes chuyển dịch nhanh chóng, canh tác cây trồng (nhưng không chăn thả súc vật) trong vòng 25 thế kỷ cuối của thời kỳ Dryas Trẻ. Với gà lôi và lạc đà không bướu, loài động vật duy nhất có thể thuần hóa của họ, thay vì loài chó, thì phải mất thêm nhiều thế kỷ.

Người Australia có nguồn tài nguyên hạn hẹp nhất trong số các vùng này. Các cuộc khai quật gần đây cho thấy họ đã thử nghiệm việc nuôi cá chình, và phải mất thêm vài nghìn năm mới có thể tạo ra lối sống canh tác thích hợp. Trong khi đó, những di dân đến châu Âu đã vượt trội họ vào thế kỷ XVIII do nhập được lúa mì và cừu, những phái sinh của cuộc cách mạng nông nghiệp đầu tiên ở vùng Hilly Flanks.

Như vậy, theo chúng ta biết, rõ ràng ở khắp nơi trên thế giới mọi người đều như nhau. Sự ấm lên toàn cầu đã cho mọi người những lựa chọn mới, giữa làm công việc ít hơn, cùng một khối lượng và ăn nhiều hơn hay sinh nhiều con hơn dù phải làm việc cực nhọc hơn. Chế độ khí hậu mới cũng tạo cho họ quyền lựa chọn sống thành các nhóm cư dân lớn hơn và ít di chuyển hơn. Ở mọi nơi trên thế giới, những người đã chọn ở lại một chỗ cố định, sinh sản nhiều hơn, và làm việc vất vả hơn sẽ lấn át những người có lựa chọn khác. Mẹ Tự nhiên chỉ làm cho toàn bộ quá trình này khởi đầu sớm hơn ở phương Tây.

Phía đông vườn địa đàng

Những người ủng hộ thuyết chốt khóa dài hạn có thể đồng ý như thế; có thể mọi người thực sự như nhau ở mọi nơi trên thế giới, và có thể vị trí địa lý đã làm cho công việc của người phương Tây trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, lịch sử có nhiều điều để bàn hơn là thời tiết và kích cỡ các loại hạt. Chắc chắn các chi tiết về những lựa chọn riêng tư của con người giữa lao động ít hơn, ăn nhiều hơn và chăm sóc những gia đình đông đảo cũng có tầm quan trọng như thế. Phần kết của một câu chuyện thường được viết ra ngay trong sự khởi đầu của nó, và có thể sự việc ngày nay phương Tây vượt trội là do nền nông nghiệp được tạo dựng ở vùng Hilly Flanks cách đây hơn 10.000 năm trước, cũng là cội nguồn sản sinh mọi xã hội phương Tây tiếp nối sau đó, có nhiều tiềm năng hơn các nền nông nghiệp hình thành ở các vùng lõi khác trên thế giới.

Kế tiếp, chúng ta hãy điểm qua nền văn minh hùng mạnh nhất, lâu đời nhất và có tài liệu dẫn chứng tốt nhất (ở thời đại chúng ta) nằm ngoài phương Tây, nền văn minh khởi đầu ở Trung Hoa. Chúng ta cần phải biết nền văn hóa canh tác sớm nhất của nó khác với những người ở phương Tây bao nhiêu và liệu những khác biệt đó có đặt ra Đông và Tây theo các quỹ đạo khác nhau, giải thích tại sao các xã hội Tây phương vượt trội hay không.

Cho đến gần đây các nhà khảo cổ học vẫn hiểu biết rất ít về nền nông nghiệp có sớm ở Trung Hoa. Nhiều học giả thậm chí còn nghĩ rằng gạo, biểu tượng ẩm thực của đất nước này trong thời đại của chúng ta, có lịch sử khởi đầu từ Thái Lan chứ không phải Trung Hoa. Việc phát hiện giống lúa hoang ở thung lũng sông Dương Tử năm 1984 cho thấy rốt cuộc gạo có thể đã được thuần hóa ở đây, nhưng khẳng định trực tiếp về mặt khảo cổ học vẫn còn chưa chắc chắn. Vấn đề là trong khi những người thợ nướng bánh mì, họ giữ lại những hạt lúa mì hoặc lúa mạch đã cháy thành than để các nhà khảo cổ tìm hiểu, hay nấu như nấu cơm, cũng hiếm khi có được kết quả như ý. Do đó, các nhà khảo cổ học rất khó khăn trong việc phục hồi hạt gạo cổ xưa này.

Tuy nhiên, với một chút khéo léo, các nhà khảo cổ học đã tìm ra phương cách giải quyết trở ngại này. Năm 1988, các nhà khai quật di chỉ Bành Đầu Sơn (Pengtoushan) ở lưu vực sông Dương Tử (Hình 2.7) nhận thấy rằng khoảng năm 7000 TCN, thợ gốm bắt đầu trộn trấu và cọng lúa vào đất sét để ngăn nồi gốm khỏi vỡ khi đun trong lò, và nghiên cứu gần đây cho thấy những dấu hiệu chắc chắn rằng những cây lúa này lúc đó đang được canh tác.

Tuy nhiên, đột phá thực sự chỉ bắt đầu vào năm 1995, khi Nghiêm Văn Minh của Đại học Bắc Kinh hợp tác với nhà khảo cổ học người Mỹ Richard MacNeish, như một chuyên gia nòng cốt làm công việc khảo sát thực địa. (MacNeish, người bắt đầu công việc khai quật ở Mexico vào thập niên 1940, đã ghi nhật ký kể lại 5.683 ngày đầy cảm hứng ở các hố khai quật – nhiều hơn gần 10 lần so với những gì tôi đã làm; và khi ông qua đời vào năm 2001 ở tuổi 82 trong một tai nạn khi đang khảo sát thực địa ở Belize, đôi bốt còn mang ở chân. Ông còn nói chuyện về khảo cổ với người lái xe cứu thương trên đường đến bệnh viện). MacNeish đã đem đến Trung Hoa không chỉ những kinh nghiệm hàng thập niên nghiên cứu về nền nông nghiệp lúc ban đầu mà còn cả nhà nghiên cứu thực vật cổ đại Deborah Pearsall, người đã đưa ra một kỹ thuật khoa học mới. Mặc dù lúa hiếm khi tồn tại trong các trầm tích khảo cổ, nhưng mọi thực vật đều hấp thụ một lượng nhỏ silica từ nước ngầm. Silica lấp đầy một số tế bào thực vật, và khi thực vật phân hủy, nó sẽ để lại trong đất những viên đá hình tế bào cực nhỏ, gọi là phytolith. Nghiên cứu tỉ mỉ về phytolith có thể cho biết lúa có được dùng làm thực phẩm hay không cũng như có được thuần dưỡng hay không.

Hình 2.7. Khởi đầu của phương Đông: những di chỉ ở Trung Hoa được nói đến ở chương này.

Nghiêm Văn Minh và MacNeish đào một hố thám sát sâu 4,9m ở động Điếu Dũng Hoàn (Diaotonghuan) gần lưu vực sông Dương Tử, và từ việc nghiên cứu phytolith, Pearsall có thể chỉ ra rằng vào khoảng năm 12000 TCN, dân cư ở đây đã nhổ lúa hoang rồi đem về hang động. Thay vì như vùng Hilly Flanks, nơi lúa mì, lúa mạch, và lúa mạch đen hoang dã phát triển khi thế giới ấm lên, đây là một thời kỳ vàng son của những người săn bắt-hái lượm. Không có dấu hiệu nào trong chất phytolith cho thấy cây lúa tiến hóa theo các hình thức thuần dưỡng như cách lúa mạch đen tiến hóa ở Abu Hureyra, nhưng rõ ràng thời kỳ Dryas Trẻ cũng đã tàn phá khu vực thung lũng sông Dương Tử như ở phương Tây. Giống lúa hoang hầu như biến mất khỏi Điếu Dũng Hoàn vào khoảng năm 10500 TCN, và chỉ xuất hiện trở lại khi thời tiết được cải thiện ở giai đoạn sau năm 9600 TCN. Đồ gốm thô mộc, có lẽ là những chiếc bình dùng để nấu chín hạt lúa, đã phổ biến khoảng thời gian đó (2.500 năm trước khi đồ gốm đầu tiên ở Hilly Flanks xuất hiện). Khoảng năm 8000 TCN, chất phytolith bắt đầu lớn hơn, một dấu hiệu chắc chắn cho thấy dân cư vùng này đã canh tác lúa hoang. Khoảng năm 7500 TCN, lúa hoang và lúa canh tác đều phổ biến ở Điếu Dũng Hoàn, và đến khoảng năm 6500 TCN thì lúa hoang hoàn toàn biến mất.

Một cụm khai quật ở đồng bằng sông Dương Tử từ năm 2001 đã hỗ trợ chứng cứ cho trình tự thời gian này, và khoảng năm 7000 TCN, dân cư ở châu thổ Hoàng Hà rõ ràng bắt đầu canh tác giống kê. Vùng Giả Hồ (Jiahu), một di chỉ nổi bật nằm giữa hai con sông Dương Tử và Hoàng Hà, đã canh tác lúa và kê và có lẽ cũng thuần dưỡng lợn vào khoảng năm 7000 TCN, và ở Từ Sơn (Cishan), một trận cháy lớn khoảng năm 6000 TCN đã làm cháy sém và lưu giữ được gần 115.000kg hạt kê ở 80 hầm chứa. Dưới đáy một số hầm, bên dưới đống kê, là những bộ xương chó và lợn còn nguyên vẹn (có lẽ dùng làm lễ vật cúng tế), một trong những chứng cứ sớm nhất về việc thuần hóa động vật ở Trung Hoa.

Cũng như ở phương Tây, việc thuần hóa liên quan đến vô số những thay đổi nhỏ trong nhiều thế kỷ trên bình diện thực vật, động vật và kỹ thuật. Mực nước ngầm dâng cao tại di chỉ Hà Mỗ Độ (Hemudu), đồng bằng sông Dương Tử, đã ban tặng các nhà khảo cổ một mạch nhỏ phong phú, bảo tồn được một lượng lớn lúa ngậm nước cùng các công cụ bằng gỗ và tre, tất cả đều có niên đại từ năm 5000 TCN trở về trước. Khoảng năm 4000 TCN, lúa đã được thuần dưỡng hoàn toàn và phụ thuộc vào thu hoạch của con người như lúa mì và lúa mạch ở phương Tây. Dân cư vùng Hà Mỗ Độ cũng bắt đầu thuần hóa trâu nước và dùng xương vai trâu để làm lưỡi mai. Các nhà khảo cổ đã chứng minh được sự chuyển đổi từ săn bắt sang nông nghiệp phát triển ở lưu vực Vị Hà, miền Bắc Trung Hoa sau năm 5000 TCN. Điều này được chứng thực rõ ràng nhất qua các công cụ sử dụng: những lưỡi mai và cuốc bằng đá thay thế rìu đá khi người ta chuyển những miếng đất khai phá nhỏ lẻ trong rừng thành những cánh đồng canh tác cố định, và những lưỡi mai cũng lớn hơn để nông dân xới đất sâu hơn. Những cánh đồng lúa ở lưu vực sông Dương Tử, được đắp bờ cao để ngăn lũ, có thể đã xuất hiện vào khoảng năm 5700 TCN.

Những ngôi làng ban sơ ở Trung Hoa, như Giả Hồ năm 7000 TCN, trông khá giống những ngôi làng đầu tiên ở vùng Hilly Flanks, với các túp lều nhỏ, tròn, thô kệch nằm nửa chìm dưới mặt đất cùng bàn đá nghiền và những ngôi mộ quanh các ngôi lều. Có khoảng 50 đến 100 cư dân ở Giả Hồ. Một căn lều hơi lớn hơn một chút so với các căn khác, nhưng sự phân bố hiện vật rất đồng bộ cho thấy giá trị tài sản và những phân biệt giới tính vẫn còn mờ nhạt đồng thời việc nấu nướng và đổ tích trữ vẫn còn mang tính cộng đồng. Đến khoảng năm 5000 TCN điều này mới thay đổi, khi một số làng có dân cư lên đến 150 người và có hào bảo vệ. Ở di chỉ Ngưỡng Thiều (Jiangzhai), nơi có dẫn chứng đầy đủ nhất ở thời kỳ này, các túp lều đối diện với một khoảnh đất rộng có hai đống tro lớn, có thể là tàn tích của những nghi lễ mang tính cộng đồng.

Những nghi lễ hiến sinh ở Ngưỡng Thiều – nếu quả thực như vậy – trông khá nhạt nhẽo so với các đền thờ mà người phương Tây đã xây dựng từ vài nghìn năm nay, nhưng có hai bộ sưu tập hiện vật nổi bật ở các ngôi mộ tại di chỉ Giả Hồ cho thấy tín ngưỡng và tổ tiên đều quan trọng không kém so với vùng Hilly Flanks. Bộ đầu tiên gồm hơn 30 cây sáo được chạm khắc từ xương cánh loài sếu đầu đỏ, tất cả đều được tìm thấy ở những nơi chôn cất nam giới giàu trên mức trung bình. Năm trong số ống sáo này vẫn còn thổi được. Những cây sáo có niên đại sớm nhất, khoảng năm 7000 TCN, có năm hoặc sáu lỗ, và mặc dù chúng không phải là những nhạc cụ tinh tế, nhưng có thể thổi được những bài hát dân gian Trung Hoa hiện đại. Đến khoảng năm 6500 TCN, ống sáo có bảy lỗ và những nghệ nhân làm sáo đã chuẩn hóa những thang âm, có thể là để các nhóm nghệ sĩ thổi sáo cùng nhau. Một ống sáo tám lỗ cũng được tìm thấy ở ngôi mộ khoảng năm 6000 TCN có khả năng chơi bất kỳ giai điệu hiện đại nào.

Mọi thứ trông rất thú vị, nhưng ý nghĩa đầy đủ của các cây sáo chỉ rõ ràng dưới ánh sáng của 24 ngôi mộ nam giới giàu có đều chôn cùng mai rùa, 14 trong số đó có vạch những ký hiệu đơn giản ở phía trên. Trong một ngôi mộ có niên đại khoảng năm 6250 TCN, đầu của người chết đã bị lấy đi (có sắc thái của vùng Çatalhöyük!) thay bằng 16 mai rùa, hai trong số đó có khắc ký hiệu. Dưới mắt của một số học giả, những ký hiệu này trông rất giống lối chữ tượng hình phát triển đầu tiên trong hệ thống chữ viết của Trung Hoa được các vị hoàng đế triều đại nhà Thương sử dụng 5.000 năm sau đó.

Tôi sẽ trở lại với những văn khắc thuộc triều đại nhà Thương ở Chương 4, nhưng ở đây tôi chỉ muốn bàn về vấn đề, trong khi khoảng thời gian ngắt quãng giữa các ký hiệu ở Giả Hồ (khoảng năm 6250 TCN) và hệ thống chữ viết đích thực đầu tiên của Trung Hoa (khoảng năm 1250 TCN) hầu như cũng dài như khoảng cách giữa các ký hiệu kỳ lạ ở Jerf al-Ahmar, Syria (khoảng năm 9000 TCN) và chữ viết đích thực đầu tiên ở vùng Mesopotamia (khoảng năm 3300 TCN), thì Trung Hoa có nhiều chứng cứ về tính liên tục hơn. Hàng tá các di chỉ đã cung cấp những nồi lẻ với ký hiệu được khắc chạm, chủ yếu là sau năm 5000 TCN. Nhưng tất cả các chuyên gia đều cương quyết không tán thành về việc cho những vết khía thô ở Giả Hồ là tổ tiên trực tiếp của hơn 5.000 ký hiệu hệ thống chữ viết đời nhà Thương.

Không ít tranh cãi ủng hộ những mối liên kết về một thực tế là rất nhiều bản văn đời nhà Thương cũng được rạch trên mai rùa. Các hoàng đế nhà Thương đã dùng những mai rùa này trong tế lễ để dự đoán tương lai, và dấu vết của việc này dứt khoát có niên đại khoảng năm 3500 TCN; bây giờ những nhà khai quật ở Giả Hỗ đặt vấn đề liệu có khả năng sự nối kết giữa mai rùa, chữ viết, tổ tiên, bói quẻ, và thế lực xã hội đã bắt đầu trước thời điểm năm 6000 TCN? Những ai đã từng đọc kinh sách Khổng Tử đều biết âm nhạc và lễ nghi đã đồng hành trong thiên niên kỷ thứ nhất TCN ở Trung Hoa; lẽ nào những cây sáo, mai rùa và chữ viết trong các ngôi mộ ở Giả Hồ chứng minh rằng các bậc thầy về lễ nghi có thể nói chuyện với tổ tiên đã xuất hiện sớm hơn 5.000 năm?

Điều đó có thể là một sự liên tục nổi bật, nhưng cũng có những địa điểm tương đương. Trước đó ở Chương 1, tôi có nói đến những bức tượng hai đầu đặc biệt với đôi mắt to trợn trừng, có niên đại khoảng năm 6600 TCN, phát hiện ở ‘Ain Ghazal, Jordan; Denise Schmandt-Besserat, một nhà sử học về nghệ thuật, đã chỉ ra rằng những mô tả về các vị thần được cho là ở vùng Mesopotamia vào khoảng năm 2000 TCN cũng rất giống những bức tượng này. Đông và Tây đều như nhau, một số yếu tố tín ngưỡng của những người nông dân đầu tiên tồn tại cực kỳ dai dẳng.

Ngay cả trước khi có những phát hiện ở Giả Hồ, Trương Quang Trực (Kwang-chih Chang) của Đại học Harvard – cha đỡ đầu của nền khảo cổ học Trung Hoa tại Mỹ từ những năm 1960 cho đến khi qua đời năm 2001 – cho rằng những người thực sự có quyền lực đầu tiên ở Trung Hoa là các pháp sư (shaman), thuyết phục người khác tin rằng họ có thể nói chuyện với thú vật và tổ tiên, bay khắp các thế giới, và giữ độc quyền liên hệ với các cõi trời. Khi Trương Quang Trực đưa ra giả thuyết này, vào thập niên 1980, bằng chứng sẵn có chỉ cho phép ông lần theo dấu vết các shaman này ngược về năm 4000 TCN, ở giai đoạn xã hội Trung Hoa đang thay đổi nhanh chóng và một số làng mạc đã biến thành thị trấn. Khoảng năm 3500 TCN, một số cộng đồng đã có 2.000-3.000 cư dân giống như ở Çatalhöyük hay ‘Ain Ghazal trước đó hơn 3.000 năm, và một số cộng đồng có thể huy động hàng nghìn người lao động để xây dựng các pháo đài bằng từng lớp đất nện chồng lên nhau (đá dùng cho xây dựng ở Trung Hoa rất hiếm). Bức tường ấn tượng nhất, ở Tích Sơn (Xishan), dày đến 3-4,5m và trải dài gần 2km. Ngay cả ngày nay ở một số địa điểm còn cao đến 2,4m. Những bộ xương trẻ em để trong những chiếc hũ đất sét dưới móng nên có thể là tế vật, và rất nhiều hố tro nằm trong khu định cư có cả xương người trưởng thành ở các tư thế như đang chiến đấu, đôi khi có trộn lẫn cả xương động vật. Đây có thể là những vụ giết người theo nghi thức hiến sinh như các nghi lễ ở Çayönü, Thổ Nhĩ Kỳ, và có một số bằng chứng cho thấy các nghi thức tế lễ rùng rợn như vậy cũng đã xảy ra ở Trung Hoa vào khoảng năm 5000 TCN.

Nếu luận cứ của Trương Quang Trực cho rằng vào khoảng năm 3500 TCN, các shaman đảm nhận vai trò lãnh đạo, thì có khả năng họ sống trong những ngôi nhà bề thế rộng đến hơn 370m2, lúc đó đã xuất hiện ở một số thành phố (các nhà khảo cổ thường gọi chúng là cung điện để thêm phần hoành tráng). Những ngôi nhà này có sàn nhà được tô trát, lò sưởi lớn ở giữa và hố tro chứa xương động vật (được hiến tế?). Ở một ngôi nhà còn có một hiện vật bằng cẩm thạch trắng trông giống cây quyền trượng. Cung điện thú vị nhất, ở Anban (thuộc văn hóa Long Sơn), được xây trên nền đất cao ở ngay giữa thành phố. Nó có những cột trụ bằng đá và bao quanh là các hồ chứa đầy tro, một số hố còn chứa các bộ hàm lợn được sơn đỏ, xương sọ của những con khác được bọc vải, và một số hố khác vẫn còn những bức tượng nhỏ bằng đất sét với mũi to, có râu cắm gắn thêm những chiếc mũ nhọn kỳ cục (giống như các phù thủy trong lễ Halloween).

Có hai điều về những bức tượng nhỏ này làm các nhà khảo cổ hứng thú. Thứ nhất, truyền thống chế tác chúng đã kéo dài hàng nghìn năm, và một hình mẫu tương tự được phát hiện ở một cung điện có niên đại khoảng năm 1000 TCN có ký tự wu (trong vu thuật) sơn trên nón. Wu có nghĩa là người đứng trung gian giữa con người và thần linh, thế là một số nhà khảo cổ kết luận rằng tất cả những bức tượng nhỏ này, kể cả những tượng ở Anban, hẳn phải tiêu biểu cho các shaman. Thứ hai, nhiều bức tượng trông rất giống chủng người Caucasoid (Đại chủng Âu) (các dân tộc ở châu Âu, Bắc Phi, Tây Âu, Ấn Độ) chứ không phải người Trung Hoa. Các khuôn mẫu tương tự cũng được tìm thấy suốt từ vùng Anban đến Turkmenistan ở Trung Á dọc theo con đường sau này trở thành Con đường Tơ lụa, nối Trung Hoa với thành Rome. Shaman giáo ngày nay vẫn hoạt động mạnh ở vùng Siberia; ở đó, với một mức giá nhất định, những người nhập đồng sẽ triệu hồi thần linh và đoán vận mệnh cho khách du lịch thích khám phá. Các bức tượng nhỏ vùng Anban có thể chỉ ra rằng vào khoảng năm 4000 TCN, các shaman từ những vùng hoang vu miền Trung Á đã kết hợp với các truyền thống quyền lực tôn giáo ở Trung Hoa, thậm chí một số nhà khảo cổ học còn cho rằng điều này có nghĩa là từ khoảng năm 10000 TCN, các pháp sư ở vùng Hilly Flanks đã có một số ảnh hưởng từ xa đối với vùng đất phương Đông.

Những mảng chứng cứ khác cho thấy điều này hoàn toàn có thể xảy ra. Điều đặc biệt khác thường nhất là bộ xác ướp ở lòng chảo Tarim, gần như hoàn toàn vô danh đối với người phương Tây cho đến khi tạp chí Discover, National Geographic, ArcheologyScientific American đưa ra một công bố chớp nhoáng giữa thập niên 1990. Không nghi ngờ gì nữa, những đặc trưng của chủng Caucasoid ở các xác ướp cho thấy rằng con người thực sự đã di chuyển từ vùng Trung Á, thậm chí cả Tây Á, đến những vùng ngoại vi tây bắc Trung Hoa khoảng năm 2000 TCN. Thêm một trùng hợp ngẫu nhiên nữa có vẻ là quá đủ để xác định đúng sự thật, những người được chôn ở lòng chảo Tarim không chỉ có râu cằm và mũi lớn như những bức tượng nhỏ của Anban, họ cũng mê những chiếc mũ chỏm nhọn (một ngôi mộ có đến mười mũ len như thế).

Thật dễ bị khích động quá mức với một số phát hiện bất thường, nhưng thậm chí khi để sang một bên những lý thuyết thiếu đắn đo cân nhắc, thì xem chừng quyền lực tôn giáo ở Trung Hoa và ở vùng Hilly Flanks lúc ban đầu đều cùng quan trọng như nhau. Và nếu có bất kỳ tồn nghi nào thì cũng sẽ được xua tan với hai phát hiện nổi bật vào thập niên 1980. Các nhà khảo cổ học khai quật di chỉ Tây Thủy Ba (Xishuipo) (ở Bộc Dương, Hà Nam) thuộc Thời kỳ Đồ đá mới rất ngạc nhiên khi tìm thấy một ngôi mộ niên đại khoảng năm 3600 TCN của một người đàn ông đã trưởng thành, hai bên sườn người chết là hình ảnh một con rồng và một con hổ sắp xếp từ các vỏ sò. Còn có thêm những trang trí bằng vỏ sò xung quanh ngôi mộ. Một kiểu thể hiện con hổ đầu hình rồng với một con nai trên lưng và một con nhện trên đầu; kiểu kia là hình ảnh một người đàn ông cưỡi rồng. Trương Quang Trực cho rằng người chết là một pháp sư và các trang trí thể hiện linh hồn các con thú là phương tiện giúp ông ta đi lại giữa trời và đất.

Một phát hiện ở vùng Mãn Châu, đông bắc Trung Hoa, làm các nhà khảo cổ học thêm bất ngờ. Giai đoạn năm 3500-3000 TCN, một cụm di chỉ tôn giáo trong khoảng 5km được khai quật ở Ngưu Hà Lương (Niuheliang) (thuộc tỉnh Liêu Ninh). Trung tâm của nó được các nhà khai quật gọi là Nữ thần miếu, một hành lang nửa chìm nửa nổi kỳ dị, dài khoảng 18m với những phòng chứa tượng người, sinh vật lai giữa lợn và rồng cùng những động vật khác làm bằng đất sét. Ít nhất có sáu bức tượng thể hiện những phụ nữ khỏa thân, kích thước bằng người thật hoặc lớn hơn, ngồi xếp bằng; bức tượng được bảo quản tốt nhất có đôi môi sơn đỏ và mắt màu xanh nhạt khảm ngọc bích, một loại đá quý, khó khắc chạm, là mặt hàng xa xỉ kén chọn trên khắp lãnh thổ Trung Hoa. Ở Trung Hoa, sự xuất hiện của những đôi mắt xanh là điều bất bình thường nên dễ gợi lên mối liên kết giữa những bức tượng này với những nhân tượng nhỏ giống chủng người Caucasoid tìm thấy Anban và các xác ướp ở lòng chảo Tarim.

Dù Ngưu Hà Lương là một vùng tách biệt, nhưng có đến nửa tá cụm mồ mả chôn rải rác khắp những ngọn đồi xung quanh ngôi đền. Những gò đồi cách nhau hàng chục mét đánh dấu một số ngôi mộ, và đồ tùy táng gồm cả những đồ trang sức bằng ngọc bích, một trong số chúng được khảm vào một con lợn-rồng khác. Các nhà khảo cổ đã lập luận, dù khéo léo nhưng thiếu chứng cứ để tạo ấn tượng cho chúng ta, rằng những người đàn ông và phụ nữ được chôn ở đây đều là những tu sĩ hay thủ lĩnh, hay rất có thể là cả hai. Tuy nhiên, dù họ là bất kỳ ai, ý tưởng chôn cất một thiểu số người chết – thường là đàn ông – cùng với những đồ tùy táng bằng ngọc bích cũng được ưa chuộng ở khắp Trung Hoa, và ở khoảng năm 4000 TCN, việc thờ phụng người chết mới thực sự bắt đầu ở một số nghĩa trang. Có vẻ như cư dân ở vùng lõi phía Đông cũng quan tâm đến tổ tiên như cư dân vùng Hilly Flanks, nhưng thể hiện mối quan tâm của họ bằng nhiều cách khác nhau, đó là việc lấy đi hộp sọ của người chết và lưu giữ chúng trong cộng đồng người sống ở thế giới phương Tây, và bày tỏ sự tôn kính người chết tại các nghĩa trang ở thế giới phương Đông. Nhưng những đầu tư năng lượng lớn nhất ở cả hai đầu vùng đất Âu-Á này đều tập trung vào các buổi lễ liên quan đến các vị thần và tổ tiên, và những cá nhân có quyền lực thực sự đầu tiên có vẻ là những người kết nối được với thế giới vô hình của tổ tiên và quỷ thần.

Khoảng năm 3500 TCN, lối sống nông nghiệp ở đây khá giống lối sống hình thành ở phương Tây một vài thiên niên kỷ trước đó – cũng liên quan đến công việc nặng nhọc, bảo quản thực phẩm, lập công sự, nghi lễ thờ phụng tổ tiên, và sự phụ thuộc của phụ nữ và lớp trẻ vào đàn ông và người già – lối sống này dường như đã được thiết lập vững chắc vùng lõi phía Đông rồi từ đó lan rộng ra. Việc gieo rắc lối sống nông nghiệp ở phía Đông có vẻ cũng tiến triển tương tự như ở phương Tây hay ít nhất, theo lập luận của các chuyên gia, cũng có những hình thức giống nhau ở cả hai phần của thế giới. Một số nhà khảo cổ cho rằng những người từ vùng lõi nằm giữa hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử đã đem theo nền nông nghiệp của họ di cư sang vùng Đông Á; số khác lại nghĩ rằng những nhóm người hái lượm bản địa đã sống định cư, thuần dưỡng các loài thực vật và động vật, trao đổi với nhau và phát triển các nền văn hóa ngày càng giống nhau trên các khu vực rộng lớn. Những chứng cứ ngôn ngữ cũng gây ra nhiều tranh cãi tương tự như ở châu Âu, đồng thời chưa có đủ dữ liệu về mặt di truyền để giải quyết mọi vấn đề. Tất cả những gì chúng tôi có thể trình bày một cách tự tin là ở giai đoạn khoảng năm 5000 TCN, những người hái lượm vùng Mãn Châu đã sống trong những ngôi làng lớn và trồng kê. Lúa thì được canh tác ở đồng bằng sông Dương Tử ở khoảng năm 4000 TCN, Đài Loan và vùng xung quanh Hong Kong vào khoảng năm 3000 TCN, và ở Thái Lan và Việt Nam khoảng năm 2000 TCN. Đến thời điểm đó nó cũng lan rộng xuống bán đảo Mã Lai và vượt qua Biển Đông đến Philippines và đảo Borneo (Hình 2.8).

Hình 2.8. Ra đi và nhân rộng, phiên bản 2: phát triển nông nghiệp từ vùng lưu vực hai con sông Hoàng Hà-Dương Tử, năm 6000-1500 TCN.

Cũng như sự bành trướng nông nghiệp ở phương Tây, phiên bản phương Đông cũng bị chậm lại. Chất phytolith cho thấy lúa đã xuất hiện ở Triều Tiên vào khoảng năm 4400 TCN và kê khoảng năm 3600 TCN, giống kê đến Nhật Bản vào khoảng năm 2000 TCN, nhưng người Triều Tiên và Nhật Bản thời tiền sử hầu như bỏ qua những giống thực vật mới lạ này trong suốt 2.000 năm. Cũng như vùng Bắc Âu, nguồn thủy sản dồi dào ở vùng duyên hải Triều Tiên và Nhật Bản có nguồn tài nguyên biển phong phú là nguồn sống của những ngôi làng lớn, cố định được bao bọc bởi những động lớn vỏ sò thải ra. Những người hái lượm dư dả này đã phát triển việc trồng trọt một cách đa dạng và dường như không cảm thấy có nhu cầu phải chọn canh tác nông nghiệp. Cũng giống như những người săn bắt-hái lượm vùng Baltic trong hàng nghìn năm, năm 5200-4200 TCN, họ có đủ số lượng dân cư đông đúc (và cương quyết) tống khứ những người đi tìm vùng đất mới cố chiếm đất đai của họ, nhưng cũng không quá đông đúc để khiến sự thiếu đói buộc họ phải canh tác để nuôi sống bản thân.

Ở cả Triều Tiên và Nhật Bản, việc đột ngột chuyển đổi sang nông nghiệp có liên quan đến sự xuất hiện của vũ khí kim loại-đồng ở Triều Tiên khoảng năm 1500 TCN và sắt ở Nhật Bản khoảng năm 600 TCN. Cũng giống như các nhà khảo cổ châu Âu tranh luận về việc nhân tố lôi kéo hay thúc đẩy đã kết thúc các xã hội hái lượm thịnh vượng ở vùng Baltic, một số học giả châu Á nghĩ rằng những vũ khí này thuộc về những kẻ xâm lược đã mang đến nền nông nghiệp cùng với họ, trong khi những người khác lại cho rằng những thay đổi trong nội bộ đã biến đổi các xã hội hái lượm khiến nông nghiệp và vũ khí kim loại đột nhiên trở nên thu hút.

Khoảng năm 500 TCN, những cánh đồng lúa đã xuất hiện rộng rãi trên đảo Kyushu phía nam Nhật Bản, nhưng sức lan tỏa của nông nghiệp lại gặp trở ngại ở hòn đảo chính Honshu; và phải mất thêm 1.200 năm nữa mới có chỗ đứng ở đảo Hokkaido, phía bắc Nhật Bản, nơi những cơ hội tìm kiếm thức ăn đặc biệt dễ dàng. Nhưng rốt cục thì nông nghiệp cũng hoàn toàn thay thế nền văn minh hái lượm ở phương Đông cũng như ở phương Tây.

Nấu nướng, sọ người và mồ mả

Chúng ta sẽ nhận thức tất cả những điều này như thế nào? Phương Đông và phương Tây chắc chắn là khác biệt, từ thực phẩm đến thần linh. Không ai có thể nhầm Giả Hồ với Jericho. Nhưng liệu những tương phản trong nông nghiệp có lớn đến mức chúng có thể biện giải cho lý do phương Tây lại vượt trội? Hay những truyền thống nông nghiệp này chỉ là những phương cách khác nhau để thực hiện những điều tương tự:

Bảng 2.1 tóm lược các bằng chứng. Tôi nghĩ có ba điểm nảy sinh.

Thứ nhất, nếu nền nông nghiệp hình thành từ vùng Hilly Flanks cách đây 10.000 năm và từ đó các xã hội phương Tây kế tiếp trỗi dậy thực sự có tiềm năng phát triển xã hội hơn nền nông nghiệp được tạo dựng ở phương Đông, thì chúng ta đã có thể thấy được một số điểm khác biệt lớn lao giữa hai phía trên Bảng 2.1. Nhưng chúng ta không thấy điều đó. Trên thực tế, hầu như cả phương Đông và phương Tây đều xảy ra những điều tương tự. Cả hai khu vực đều chứng kiến sự thuần hóa chó, canh tác thực vật và thuần hóa động vật lớn (ý tôi là những động vật nặng hơn 45kg); cả hai đều chứng kiến sự phát triển tiệm tiến của việc canh tác nông nghiệp trọn vẹn (ở đây tôi muốn nói đến những hệ thống thâm canh lao động, cho sản lượng cao cùng với việc thuần dưỡng đầy đủ các loại thảo mộc, giá trị tài sản và hệ thống phân biệt giới tính), sự trỗi dậy của các ngôi làng lớn (ý tôi là nơi có trên 100 người), và sau 2.000-3.000 năm là các thành phố (ý tôi là có trên 1.000 người). Ở cả hai khu vực đều xây dựng các công trình và công sự phức tạp, thử nghiệm các ký hiệu chữ viết sơ khai, sơn các mẫu trang trí xinh xắn trên bình gốm, xây dựng những ngôi mộ cầu kỳ để làm tổ tiên hài lòng, hiến tế con người, và dần mở rộng lối sống nông nghiệp (ban đầu còn chậm, nhưng tăng tốc sau khoảng 2.000 năm, và cuối cùng phổ cập đến cả những người hái lượm giàu có nhất).

Bảng 2.1. Đối chiếu những mốc khởi nguyên của phương Đông và phương Tây.

Thứ hai, không chỉ có những điều giống nhau xảy ra ở cả phương Đông và phương Tây, mà dù ít dù nhiều chúng cũng đã xảy ra theo cùng một trình tự. Tôi đã minh họa điều này trong Bảng 2.1 bằng các vạch nối những phát triển song song ở từng vùng. Hầu hết các vạch này đều có độ dốc giống nhau, với những phát triển đầu tiên ở phương Tây, và khoảng 2.000 năm sau đó ở phương Đông.⦾ Điều này rõ ràng cho thấy rằng những phát triển ở phương Đông và phương Tây đều chia sẻ một logic về nông nghiệp; các nguyên nhân giống nhau cũng đều có những hậu quả tương tự ở cả hai đầu Âu-Á. Khác biệt duy nhất là tiến trình này khởi đầu ở phương Tây sớm hơn 2.000 năm.

Thứ ba, tuy nhiên cả hai điểm đầu tiên tôi nêu ra đều không hoàn toàn đúng, vẫn có những ngoại lệ đối với các quy luật này. Gốm thô xuất hiện ở phương Đông sớm hơn phương Tây ít nhất cũng 7.000 năm, và những ngôi mộ cầu kỳ cũng sớm hơn 1.000 năm. Trong khi theo chiều hướng khác, người phương Tây đã xây dựng các đền thờ nguy nga ít nhất cũng trước người phương Đông 6.000 năm. Bất cứ ai tin rằng những khác biệt này đã nêu bật những hướng đi nông nghiệp riêng giữa phương Đông và phương Tây nhằm giải thích lý do phương Tây vượt trội cần phải chỉ ra vì sao đồ gốm, mồ mả và đền thờ lại quan trọng đến thế, trong khi những ai (như tôi chẳng hạn) tin rằng chúng không thực sự quan trọng cũng cần phải giải thích tại sao chúng lại khác biệt với mẫu hình phổ biến.

Hầu như các nhà khảo cổ đều đồng ý về lý do tại sao đồ gốm xuất hiện sớm ở phương Đông: vì các loại thực phẩm có sẵn ở đó phải được nấu chín, nên người phương Đông cần những vật dụng chứa đựng thực phẩm để đặt lên lửa, và do đó họ tinh thông việc chế tác đồ gốm rất sớm. Nếu điều này đúng thì thay vì tập trung vào đồ gốm, có lẽ chúng ta nên đặt câu hỏi liệu có phải sự khác nhau trong việc sơ chế thức ăn đã kéo phương Đông và phương Tây vào những quỹ đạo phát triển khác nhau. Chẳng hạn, có thể cách nấu ăn của phương Tây cung cấp nhiều dưỡng chất hơn, làm họ mạnh mẽ hơn. Dù vậy điều đó cũng không có sức thuyết phục lắm. Những nghiên cứu về khung xương cho thấy một hình ảnh khá thất vọng về đời sống ở cả hai vùng lõi nông nghiệp phương Đông và phương Tây: đó là, như triết gia người Anh Thomas Hobbes ở thế kỷ XVII mô tả, nghèo đói, bẩn thỉu và ngắn ngủi (dù không nhất thiết là đần độn). Ở phương Đông cũng như phương Tây, những người nông dân đầu tiên đều bị suy dinh dưỡng và còi cọc, mang trong mình đầy ký sinh trùng, hàm răng xấu xí và thường chết trẻ; nhưng rồi ở cả hai khu vực, những cải tiến trong nông nghiệp dân dần cải thiện chế độ ăn uống, và rồi sau cùng ở cả hai khu vực, các món nấu nướng cao cấp ngon lành hơn xuất hiện. Sự phụ thuộc vào việc đun sôi nấu chín ở phương Đông chỉ là một trong số nhiều điểm khác biệt trong nấu ăn, nhưng nhìn chung, những tương đồng về mặt dinh dưỡng ở phương Đông và và phương Tây có giá trị nhiều hơn những khác biệt.

Hay có thể những cách thức khác nhau trong việc chuẩn bị thức ăn đã dẫn đến các kiểu cách ăn uống và cấu trúc gia đình khác nhau kèm theo những hệ quả lâu dài. Dù vậy, một lần nữa, điều này khác xa với thực tế xảy ra. Ở cả phương Đông và phương Tây, những người nông dân ban đầu có vẻ đã tích trữ, chuẩn bị, và có thể ăn uống theo hình thức cộng đồng, chỉ đến vài thiên niên kỷ sau đó họ mới chuyển sang cấp độ gia đình. Một lần nữa, sự giống nhau giữa Đông và Tây lại vượt lên trên những khác biệt. Việc phương Đông phát kiến đồ gốm hẳn nhiên là một sự khác biệt thú vị, nhưng dường như nó không liên quan gì đến việc giải thích lý do phương Tây vượt trội.

Điểm nổi bật ban đầu của các ngôi mộ tinh xảo ở phương Đông và trước cả đó của các đền thờ công phu ở phương Tây là những gì? Tôi đồ rằng những phát triển này thực sự là những hình ảnh phản chiếu của nhau. Như chúng ta đã thấy, cả hai đều liên kết mật thiết với tình trạng ám ảnh đối với tổ tiên hình thành vào thời điểm nông nghiệp làm cho sự thừa kế từ người chết trở thành sự kiện quan trọng nhất trong đời sống kinh tế. Vì những lý do chúng ta có thể không bao giờ hiểu được, người phương Tây và người phương Đông đã nghĩ ra những phương cách khác nhau để tỏ lòng biết ơn và để tiếp xúc với tổ tiên. Một số người phương Tây hình như nghĩ rằng việc di truyền hộp sọ người thân, lấp đầy những công trình xây dựng bằng đầu bò đực và trụ chống, đồng thời hiến tế con người trong cộng đồng, sẽ giúp họ đạt được những mong muốn; trong khi đó người phương Đông thường cảm thấy vui sướng khi chôn theo tượng thú vật bằng ngọc bích được chạm khắc cùng với người thân của mình, thờ phụng mồ mả, và sau cùng là chặt đầu những người khác rồi ném vào mộ. Mỗi nơi mỗi kiểu nhưng kết quả thì giống nhau.

Tôi nghĩ chúng ta có thể rút ra hai kết luận từ Bảng 2.1. Thứ nhất, những phát triển sớm ở các vùng lõi phương Tây và phương Đông hầu như khá giống nhau. Tôi không muốn giấu giếm những khác biệt thực sự về mọi thứ, từ kiểu cách các loại công cụ bằng đá cho đến những thực vật và động vật làm thức ăn cho con người, nhưng rõ ràng không có sự khác biệt nào trên đây hỗ trợ cho lý thuyết chốt khóa dài hạn mà chúng ta đang bàn đến, theo đó cách thức nền nông nghiệp phương Tây phát triển sau Thời đại Băng hà đã tạo cho nó tiềm năng lớn hơn nền nông nghiệp phương Đông để từ đó giải thích tại sao phương Tây lại dẫn đầu. Điều đó có vẻ trái với sự thật.

Nếu bất kỳ lý thuyết chốt khóa dài hạn nào cũng có thể tồn tại dù mâu thuẫn với những chứng cứ ở Bảng 2.1, thì chỉ còn một biện giải đơn giản nhất, đó là nhờ có vị trí địa lý thuận lợi, phương Tây có ưu thế phát triển sớm hơn 2.000 năm, và duy trì ưu thế đó đủ lâu để tiến tới công nghiệp hóa đầu tiên và do đó thống trị cả thế giới. Nhằm kiểm chứng lý thuyết này, chúng ta cần phải mở rộng đối chiếu phương Đông-phương Tây đến những giai đoạn gần đây hơn để xem liệu điều này có thực sự xảy ra hay không.

Điều đó nghe có vẻ đơn giản, nhưng bài học thứ hai ở Bảng 2.1 là việc đối sánh về giao thoa văn hóa rất phức tạp. Việc liệt kê các phát triển quan trọng theo hai cột đối xứng chỉ là một bước khởi đầu, vì để hiểu được những điểm bất thường trong Bảng 2.1, đòi hỏi chúng ta phải đưa thêm thông tin về việc nấu nướng, sọ người và mồ mả để tìm ra ý nghĩa của chúng trong xã hội tiền sử. Và điều đó đã đẩy chúng ta vào một trong những vấn đề trung tâm của ngành nhân học, ngành chuyên nghiên cứu đối sánh các xã hội loài người.

Khi các nhà truyền giáo và chức sắc châu Âu ở thế kỷ XIX bắt đầu thu thập thông tin về các dân tộc trong phạm vi đế chế thực dân của họ, những báo cáo của họ về các phong tục kỳ lạ đã làm các học giả phải ngạc nhiên. Những nhà nghiên cứu nhân học đã liệt kê các hoạt động này, nghiên cứu về mức độ khuếch tán của chúng trên toàn cầu và những gì chúng có thể cho chúng ta biết về sự tiến hóa của các hành vi văn minh hơn (theo đó chúng rất giống châu Âu). Họ đã gửi những nghiên cứu sinh nhiệt tình đến những đất nước xa lạ để thu thập thêm nhiều tư liệu. Một trong những thanh niên sáng giá này là Bronislaw Malinowski, người Ba Lan, học tập ở London. Năm 1914, khi Thế chiến I nổ ra, ông đang ở quần đảo Trobriand; không thể kiếm được tàu trở lại quê nhà, Malinowski đã làm điều hợp lý duy nhất; sau một thời gian ngắn chìm đắm trong buồn sầu ở lều của mình, ông đã tìm cho mình một cô bạn gái. Do đó, đến năm 1918, ông đã hiểu biết rành rẽ về nền văn hóa của cư dân đảo Trobriand. Ông nắm bắt được những điều mà những giáo sư của mình còn thiếu sót trong các trang sách nghiên cứu của họ: đó là ngành nhân học thực sự phải giải thích được những phong tục tương hợp với nhau như thế nào. Những đối chiếu phải là giữa các nền văn hóa có chức năng hoàn chỉnh, chứ không phải là những thói quen riêng lẻ tách biệt, bởi vì dù cũng cùng một hành vi như nhau nhưng có thể có những ý nghĩa khác nhau ở các bối cảnh khác nhau. Chẳng hạn như tục xăm mặt có thể khiến bạn bị xem là một kẻ nổi loạn ở Kansas, nhưng nó lại là một chỉ dấu cho thấy bạn là một người tuân thủ tập tục ở New Guinea. Tương tự như thế, ý tưởng giống nhau có thể có các hình thức thể hiện khác biệt ở những nền văn hóa khác nhau, như các sọ người luân chuyển và ngọc bích được chôn phương Tây và phương Đông thời tiền sử, cả hai đều dùng để bày tỏ sự tôn kính đối với tổ tiên.

Malinowski hẳn sẽ không ưa gì Bảng 2.1. Ông ta sẽ khăng khăng cho rằng chúng ta không thể cho vào một túi mọi phong tục tập quán từ hai nền văn hóa đang vận hành rồi đưa ra đánh giá về nền văn hóa nào là ưu việt hơn. Và chắc chắn chúng tôi cũng không thể viết những cuốn sách với tiêu để các chương kiểu như Phương Tây dẫn đầu. Hẳn ông sẽ hỏi chúng tôi có ý gì khi dùng từ dẫn đầu. Làm thế nào chúng ta có thể chứng minh những thói quen riêng biệt có thể gỡ rối được từ mạng lưới phức tạp liên lạc của cuộc sống để rồi so sánh chúng với nhau? Và thậm chí nếu có thể gỡ rối được thì làm sao chúng ta biết được những mặt nào để so sánh: Tất cả đều là những câu hỏi hay, và chúng ta cần phải giải đáp chúng nếu chúng ta còn muốn giải thích lý do tại sao phương Tây lại dẫn đầu thế giới – ngay cả khi việc tìm kiếm những câu trả lời đã xâu xé ngành nhân học thành nhiều mảnh trong vòng 10 năm qua. Giờ đây tôi sẽ lao vào vùng nước xoáy này với cảm giác kích thích cực độ.

Người dịch Nguyễn Thanh Xuân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.