Tại Sao Phương Tây Vượt Trội

Lượt đọc: 138 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
10 Thời kỳ phương Tây
Những gì thế giới khao khát

❊ ❊ ❊

Đôi khi lại có một năm nào đó làm thay đổi quan điểm của chúng ta. Ở phương Tây, năm 1776 là một khoảnh khắc như thế. Ở châu Mỹ một cuộc nổi dậy chống thuế lại trở thành một cuộc cách mạng; ở Glasgow, Adam Smith hoàn thành cuốn Wealth of Nation (Của cải của các dân tộc), tác phẩm đầu tiên và vĩ đại nhất về kinh tế chính trị; ở London, cuốn Sự Suy tàn và Sụp đổ của Đế quốc La Mã của Edward Gibbon được lên kệ các cửa hàng sách và nhanh chóng nổi tiếng. Những người vĩ đại đang làm những điều vĩ đại. Chưa hết, vào ngày 22 tháng 3, James Boswell – chủ đất đời thứ chín của vùng Auchinleck, học giả dở dang, nhân vật theo đóm ăn tàn đầy tham vọng quanh những người giàu có và nổi tiếng – không có mặt ở những phòng khách đầy những bộ óc sắc sảo, nhưng lại đang ở trong chiếc xe ngựa chạy lõm bõm qua bùn lầy đến Soho, một điền trang bên ngoài Birmingham ở miền Trung nước Anh (Hình 10.1).

Nhìn từ xa, tháp đồng hồ Soho, lối xe chạy và mặt tiền theo kiến trúc Palladian làm nó trông giống một kiểu nhà ở vùng quê mà Boswell có thể muốn đến dùng trà và đưa ra những lời đùa giỡn, nhưng khi tiếp cận gần hơn thì tiếng ầm ào loảng xoảng của búa đập, tiếng rít của máy tiện và tiếng chửi thề của những người lao động đã xua tan bất kỳ ảo tưởng nào. Đây không phải là bối cảnh cho một cuốn tiểu thuyết của Jane Austen; nó chính là một nhà máy. Và Boswell, bất chấp những đặc quyền đặc lợi và tính tự phụ của mình, muốn tận mắt chứng kiến, vì không có nơi nào khác trên thế giới có được một điều đang xảy ra ở Soho.

Hình 10.1. Năng lượng được rao bán: cái nôi của cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XIX.

Mọi thứ ở Soho đáp ứng được kỳ vọng của Boswell – hàng trăm người thợ, “tính chất rộng lớn và thiết bị của một loại máy móc,” và trên hết là người chủ sở hữu của nó, Matthew Boulton (Boswell gọi ông ta là một thủ lĩnh sắt). Boswell kể lại trong nhật ký của mình: “Tôi sẽ không bao giờ quên câu nói của ông Bolton [sic] với tôi:”Thưa ngài, ở đây tôi bán một thứ mà cả thế giới khao khát để có – NĂNG LƯỢNG.”❖

Chính những người như Boulton đã chứng minh những dự đoán đầy u ám của các nhà kinh tế chính trị học là sai lầm. Khi Boswell và Boulton gặp nhau vào năm 1776, phát triển xã hội phương Tây chỉ mới đạt mức 45 điểm kể từ thời những người săn bắt-hái lượm Thời đại Băng hà còn lang thang trên vùng lãnh nguyên để tìm kiếm bữa ăn; nhưng trong vòng 100 năm tới, nó đã tăng vọt thêm 100 điểm. Sự chuyển đổi vượt quá kỳ vọng. Nó làm đảo lộn thế giới. Năm 1776, phương Đông và phương Tây vẫn không hơn nhau chút nào, chỉ trên ngưỡng cứng cũ 43 điểm; một thế kỷ sau, việc bán năng lượng đã biến sự đi đầu của phương Tây thành sự thống lĩnh. Nhà thơ Wordsworth viết vào năm 1805:

Thành thật trong một giờ

Náo động toàn cầu; những người đằm đệ nhất cũng bị kích động và những ồn ào, cãi cọ

trong nhiệt cuồng và ý kiến tràn ngập các bức tường

của những ngôi nhà yên tĩnh với âm thanh náo nhiệt.

Vùng đất của đời thường vào lúc đó

Quá nóng để giẫm lên; rồi tôi nói, và không phải chỉ sau đó, “đây quả là một sự nhạo báng

Đối với lịch sử; trong quá khứ và những gì sẽ đến trong tương lai

Hình 10.2. Sự náo động toàn cầu: phát triển xã hội trong suốt 2.000 năm qua, thể hiện sự cất cánh do phương Tây dẫn đầu từ năm 1800 đã giễu cợt mọi tấn kịch lịch sử thế giới trước đó.

Thật là một sự nhạo báng, ít nhất cũng đối với quá khứ; nhưng thực ra không phải đối với điều sắp xảy đến. Sự náo động toàn cầu chỉ vừa mới bắt đầu, và trong suốt thế kỷ tiếp theo, phát triển của phương Tây đã diễn ra theo quy mô. Bất kỳ đô thị nào (như Hình 10.2) có thể hợp với 906 điểm của phương Tây hiện nay trên trục tung sẽ giảm trừ tất cả những thăng trầm, những dẫn đầu và tụt hậu, những chiến thắng và bi kịch tràn ngập chín chương đầu của cuốn sách này đến mức không còn ý nghĩa gì. Và tất cả đều nhờ vào những gì Boulton đã bán ra.

Niềm vui đến từ hơi nước

Tất nhiên thế giới đã có năng lượng trước thời Boulton. Nhưng thứ mà ông ta đang rao bán chính là năng lượng tốt hơn. Trong hàng triệu năm hầu như toàn bộ năng lượng để di chuyển mọi thứ đều xuất phát từ cơ bắp; và trong khi cơ bắp còn được xem là vượt trội – người ta đã xây dựng các kim tự tháp, đào Đại Vận Hà và sơn Nhà thờ Sistine – thì chúng vẫn có những giới hạn. Điều rõ ràng nhất, cơ bắp là một bộ phận của động vật, và động vật cần thức ăn, nơi trú ẩn, và thường cũng cần nhiên liệu và quần áo. Tất cả những thứ này đều lấy từ thực vật hay loài động vật khác, vốn cũng cần thức ăn, chỗ trú, v.v.; và suy cho cùng thì mọi thứ trong chuỗi này đều đòi hỏi đất đai. Vì vậy, khi đất đai trở nên khan hiếm ở các vùng lõi vào thế kỷ XVIII, cơ bắp trở nên đắt đỏ.

Trong nhiều thế kỷ, năng lượng gió và nước đã làm tăng sức mạnh cơ bắp, giúp đẩy thuyền đi nhanh và chạy cối xay. Nhưng gió và nước cũng có giới hạn. Chúng chỉ tận dụng được ở những nơi nhất định; suối có thể đóng băng vào mùa đông hay khô cạn vào mùa hè; và bất cứ khi nào không khí trở nên nặng nề thì cánh cối xay gió cũng ngừng quay.

Điều cần thiết là năng lượng phải vận chuyển được, có thế thì con người mới đem nó đến với công việc thay vì phải đưa công việc đến với nó; có thế mới không phụ thuộc vào thời tiết, đồng thời trung tính với không gian để khỏi tốn kém hàng trăm hecta cây cối và đồng ruộng. Những nhà sản xuất đồ sắt ở Khai Phong thế kỷ XI thấy rằng than đá đã mang lại một giải pháp, nhưng điều này cũng có giới hạn. Nó chỉ mới giải phóng năng lượng thành nhiệt năng.

Rồi sự đột phá – biến nhiệt năng thành động năng – đã xuất hiện ở thế kỷ XVIII và bắt đầu tại các mỏ than. Lũ lụt là một vấn nạn thường xuyên, và nếu như cơ bắp và xô chậu có thể làm khô ráo những hầm mỏ (một chủ hầm mỏ khéo léo ở Anh phải sử dụng đến 500 con ngựa để vận chuyển một dãy xô chậu), thì chúng vẫn quá đắt đỏ. Nếu nhìn lại, thì giải pháp xem ra quá rõ: tháo nước ra từ chính những máy móc đang lấy than từ mỏ chứ không phải từ những động vật phải tiêu tốn thực phẩm. Nhưng suy nghĩ thì dễ hơn thực hiện.

Các vùng lõi phương Đông và phương Tây ở thế kỷ XVIII đều cần than, và cả hai đều phải đối mặt với những hầm mỏ ngập nước, nhưng chính những nhà chế tạo máy móc người Anh mới tìm ra được câu trả lời. Như đã thấy ở Chương 9, tại vùng rìa xa nhất ở tây bắc châu Âu, nền kinh tế Đại Tây Dương đã đặc biệt được ân thưởng về công việc cải tiến bán khoa học này. Điều đó chỉ rơi vào những người gặp vấn đề đòi hỏi, kết hợp sự nhạy bén kinh doanh với kinh nghiệm thực tiễn về kim loại và một số kiến thức cơ bản về vật lý. Những người như thế Trung Hoa và Nhật Bản cũng có, nhưng rất hiếm, và đến lúc đó, theo như chúng ta được biết, không một ai trong số họ thử cải tiến những máy móc vận hành bằng than cả.

Chiếc máy bơm đầu tiên của phương Tây, người bạn của thợ mỏ, được cấp bằng sáng chế ở Anh vào năm 1698. Nó đốt than đá để đun sôi nước và làm ngưng hơi ở chế độ chân không, sau đó những người vận hành mở van và chân không hút nước lên từ mỏ. Bây giờ đóng van lại, công nhân lại thổi lửa để đun sôi số nước này thành hơi; và sau đó cứ lặp đi lặp lại quá trình bay hơi của đun sôi và ngưng tụ.

Người bạn của thợ mỏ vận hành còn chậm, chỉ có thể hút được nước ở độ sâu 12m, và có bất lợi là dễ nổ, nhưng vẫn rẻ hơn phải nuôi ăn hàng trăm con ngựa. Nó cũng tạo thêm cảm hứng cho việc cải tiến, nhưng ngay cả những máy móc cải tiến vẫn hao tổn khủng khiếp. Do họ chỉ dùng cùng một xi-lanh để đun sôi nước rồi làm mát nó để tạo ra chân không, rồi phải đun nóng lại xi-lanh cho mỗi lần đẩy piston. Ngay cả những máy móc tốt nhất cũng chỉ chuyển đổi được dưới 1% năng lượng than thành năng lượng để bơm nước.

Trong nhiều thập niên, điều bất tiện này đã giới hạn năng lượng hơi nước chỉ trong phạm vi bơm nước ở các mỏ than, và chỉ với công việc đó, một chủ mỏ phải than thở: “Việc sử dụng rộng rãi nhiên liệu cho các máy móc này là một hạn chế to lớn đối với lợi nhuận từ những hầm mỏ của chúng tôi… Số tiền thuế nặng nề này hầu như cũng tương đương với việc cấm đoán.”❖ Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào phải vận chuyển than từ mỏ đến nhà máy thì động cơ hơi nước quá đắt đỏ.

Tuy nhiên, máy móc lại là thú vui cho những giáo sư. Đại học Glasgow đã mua một mẫu máy thu nhỏ, nhưng do không một ai trong số các giáo sư có thể khiến nó vận hành nên vào năm 1765 nó lại lọt vào cơ xưởng của James Watt, người thiết kế công cụ toán học cho nhà trường. Watt đã làm nó vận hành, nhưng tính năng thiếu hiệu quả của nó lại khiến tâm trí của một người khéo léo như ông phải suy nghĩ. Giữa bộn bề công việc, ông vẫn luôn bị ám ảnh về những phương cách tốt hơn để làm nước bốc hơi và ngưng tụ, cho đến khi, như ông kể lại:

Tôi đang đi dạo vào một buổi chiều đẹp trời dịp lễ Sabbath… rồi đột nhiên ý tưởng nảy ra trong đầu, do hơi nước là một thể đàn hồi, nó sẽ tràn vào một chân không, và nếu tạo ra một kết nối giữa xi-lanh (được đun nóng với một ống đã rút hết không khí, nó sẽ tràn vào đó, và có thể ngưng tụ mà không cần làm mát xi-lanh… Tôi chưa đi quá sân golf thì tâm trí đã sắp xếp xong toàn bộ công việc.

Do hôm đó là Chủ nhật nên ngài Watt kính Chúa không vội làm gì, nhưng vào sáng thứ Hai, ông nhanh chóng thực hiện một mẫu mới, tách bình ngưng hơi khỏi xi-lanh bay hơi. Thay vì phải liên tục đốt và làm mát một xi-lanh, nồi hơi giờ đây vẫn nóng và bình ngưng hơi vẫn mát, giảm được gần ⅘ lượng than sử dụng.

Điều này cũng làm nảy sinh một loạt những vấn đề mới, nhưng Watt vẫn miệt mài năm này qua năm khác. Vợ ông qua đời; người hỗ trợ của ông bị phá sản; và ông vẫn chưa thể làm cho động cơ hoạt động ổn định. Nhưng vào năm 1774, ngay khi Watt sắp từ bỏ việc cải tiến để tìm kiếm một việc làm ổn định hơn thì thủ lĩnh sắt Matthew Boulton xuất hiện kịp thời, mua lại món nợ chất chồng của người hỗ trợ Watt và đưa ông đến Birmingham. Boulton đồng thời tung cả tiền bạc và chuyên gia đúc kim loại lành nghề Wilkinson Cuồng Sắt vào lĩnh vực này. (Wilkinson tin rằng mọi thứ phải được làm bằng sắt, kể cả quan tài của ông ta).

Chỉ sáu tháng sau, Watt viết thư cho người cha – trong đó, gây ấn tượng với tôi là câu nói khiêm nhường vĩ đại thứ hai trong mọi thời đại (tôi sẽ nhắc đến câu nói vĩ đại nhất trong chương này) – ông cho rằng động cơ của ông bây giờ “khá thành công.”❖ Trong một buổi biểu diễn lớn trước công chúng vào tháng 3 năm 1776, Watt và Boulton đã bơm nước từ độ sâu 18m từ một hầm mỏ trong đúng 60 phút, lượng than đốt chỉ bằng ¼ so với những máy cũ.

Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên khi Boulton cảm thấy khả năng phát triển của nó khi Boswell viếng thăm Soho vào tháng đó. Giờ đây, với những động cơ có chi phí-hiệu quả nằm ngoài các hầm mỏ thì chỉ còn không gian là giới hạn. Boulton viết thư cho Watt: “Nếu thực hiện được… 100 động cơ nhỏ… và 20 động cơ lớn, chúng ta có thể dễ dàng xử lý được tất cả. Khi có cơ hội, chúng ta hãy nắm bắt lấy nó.”❖

Và họ đã làm thế, dù có thể họ sẽ ngỡ ngàng với một số khách hàng đến cơ xưởng của mình. Những nhà sản xuất đầu tiên nắm lấy năng lượng hơi nước là những người sản xuất vải bông. Ở Tây Âu không trồng bông vải, và cho đến thế kỷ XVII, người Anh quanh năm suốt tháng chỉ mặc đồ len dễ bị xước và đẫm đầy mồ hôi, mà không có đồ lót. Nên có thể thấy trước rằng khi thương nhân bắt đầu nhập khẩu loại vải bông in màu nhẹ và sáng từ Ấn Độ, nó liền trở thành một món hàng được ưa chuộng rộng rãi. Daniel Defoe nhớ lại vào năm 1708: “Nó tràn vào các ngôi nhà, tủ quần áo, phòng ngủ của chúng tôi. Rèm, đệm, ghế, và cuối cùng là giường ngủ, đủ kiểu vải in hoa hay vải có chất liệu từ Ấn Độ.”❖

Các nhà nhập khẩu kiếm được bộn tiền, nhưng tiền chi cho bông vải Ấn Độ tất nhiên không phải là tiền bỏ ra cho len Anh. Vì vậy, các nhà buôn len vận động Nghị viện cấm nhập vải bông, và thế là những nhà nhập khẩu chỉ nhập sợi bông thô (vẫn còn hợp pháp) để dệt thành vải. Không may là họ không rành nghề dệt này như người Ấn, và mãi đến thập niên 1760, thị trường vải bông vẫn chỉ bằng 1/30 thị trường len ở Anh.

Dù vậy, bông sợi cũng có thuận lợi: Công việc se sợi khó nhọc phải nhờ đến cơ giới hóa. Trong suốt 10.000 năm, công việc sản xuất hàng dệt phụ thuộc vào những người phụ nữ có đôi tay nhanh nhẹn (hiếm khi là nam giới) để quấn những bó len hay sợi vào con suốt. Ở Chương 7 chúng ta đã thấy rằng vào năm 1300, những người quay tơ Trung Hoa đã sử dụng máy móc vận hành bằng sức nước và động vật để gia tăng năng suất. Những loại máy móc này ngày càng phổ biến trong những thế kỷ tiếp theo, giúp tăng sản lượng đều đặn, nhưng sự chuyển đổi sang cơ giới hóa của người Anh đột ngột khiến mọi kỹ năng cổ xưa trở nên thừa thãi. Vào năm 1700, một phụ nữ quay tơ dùng xe quay có bàn đạp phải cần đến 200 giờ mới quay được gần 0,5kg tơ,⦾ thì vào năm 1800, các thiết bị kỳ lạ với những tên gọi còn kỳ lạ hơn – máy se nhiều sợi của Hargreaves, máy kéo chỉ của Arkwright, máy kéo sợi của Crompton – làm công việc tương tự như thế chỉ trong ba tiếng đồng hồ (máy kéo sợi tự hành của Roberts, được phát minh ra năm 1824, mất chỉ 1 giờ 20 phút). Những chuyển động lặp đi lặp lại của máy cũng là điều kiện lý tưởng cho việc áp dụng năng lượng hơi nước và tập trung các nhà máy lớn, và nhà máy đánh sợi đầu tiên vận hành hoàn toàn bằng động cơ hơi nước (dĩ nhiên do Boulton và Watt cung cấp) được khai trương vào năm 1785.

Máy móc đã làm cho vải bông ở Anh rẻ hơn, tốt hơn, bền hơn và đồng nhất hơn cả Ấn Độ và xuất khẩu vải thành phẩm của Anh cũng tăng lên gấp trăm lần giữa những năm 1760 và 1815, biến bông vải từ một ngành công nghiệp nhỏ trở thành nguồn thu nhập chiếm gần 1/12 thu nhập quốc dân. Hàng trăm nghìn người, đàn ông, phụ nữ và (đặc biệt) trẻ em phải lao động từ 12 giờ trở lên mỗi ngày, sáu ngày một tuần trong các nhà máy, làm tràn ngập thị trường bông vải đến nỗi giá sợi giảm từ 38 shilling cho 0,5kg vào năm 1786 xuống còn dưới 7 shilling vào năm 1807. Dù giá thành giảm, thị trường vẫn mở rộng, và lợi nhuận vẫn tiếp tục tăng vọt.

Vị trí địa lý biến bông vải trở thành một ngành công nghiệp hoàn hảo cho nước Anh. Do nguyên liệu được trồng ở nước ngoài nên cây bông vải không gặp phải cạnh tranh về đất đai ở quê nhà. Trong khi đó, người Mỹ, do ham muốn đồng bảng Anh, đã biến hàng trăm hecta đất thành đồn điền trồng bông và nhập vào hàng trăm nghìn nô lệ da đen làm việc cho họ. Sản lượng tăng từ 3.000 kiện bông vào năm 1790 lên 178.000 kiện vào năm 1810 và 4,5 triệu vào năm 1860. Những cải tiến của người Anh trong việc đánh sợi đã thúc đẩy các cải tiến của người Mỹ trên các đồn điền, chẳng hạn như máy tuốt bông sợi của Eli Whitney (Eli Whitney’s cotton gin), tách sợi bông khỏi hạt với chi phí rẻ hơn bàn tay của những nô lệ. Mức cung ứng bông vải ở Mỹ cũng gia tăng để đáp ứng nhu cầu của người Anh, giúp giữ giá thấp, làm giàu cho các chủ nhà máy và đồn điền, đồng thời tạo ra những đội quân lao động mới đông đảo ở cả hai bờ Đại Tây Dương.

Trở lại nước Anh, công nghệ đã nhảy từ ngành công nghiệp này sang ngành công nghiệp khác, thúc đẩy thêm nhiều công nghệ mới. Bước nhảy vọt quan trọng nhất là luyện kim, ngành công nghiệp sản xuất những vật liệu mà các ngành công nghiệp mới phải sử dụng. Những nhà sản xuất đồ sắt ở Anh đã biết cách luyện sắt bằng than cốc từ năm 1709 (7 thế kỷ sau các nhà luyện kim Trung Hoa), nhưng gặp khó khăn trong việc giữ cho lò nung đủ nóng để luyện than cốc. Sau năm 1776, máy móc của Boulton và Watt đã giải quyết được vấn đề này bằng cách tạo ra những luồng hơi nóng ổn định, và chỉ trong vòng một thập niên, quy trình luyện gang và cán thép của Henry Cort (cũng có tên gọi kỳ dị như các loại máy đánh sợi) đã giúp giải quyết được những khó khăn về mặt kỹ thuật còn tồn tại. Đi theo hướng đi như bông vải, những nhà chế tạo đồ sắt thấy chi phí lao động giảm hẳn trong khi việc làm, năng suất và lợi nhuận lại bùng nổ.

Boulton và các đối thủ cạnh tranh của mình đã mở nắp vung cho một sự hấp thu năng lượng. Mặc dù cuộc cách mạng của họ phải mất vài thập niên để đâm chồi nảy lộc (vào năm 1800, các nhà sản xuất Anh mới chỉ tạo ra năng lượng gấp ba lần từ bánh xe nước cũng như tự động cơ hơi nước), nhưng dù sao đó cũng là sự chuyển đổi lớn và nhanh nhất trong toàn bộ lịch sử thế giới. Chỉ trong ba thế hệ, sự thay đổi công nghệ đã phá vỡ ngưỡng cứng. Vào năm 1870, các động cơ hơi nước ở Anh đã sản sinh được bốn triệu mã lực, tương đương với công việc của 40 triệu người, mà nếu ngành công nghiệp vẫn phụ thuộc vào cơ bắp, ngốn hơn gấp ba lần tổng sản lượng lúa mì ở Anh. Nhiên liệu hóa thạch đã làm cho những điều bất khả biến thành khả thi.

Năng lượng tốt nhất

Người dân địa phương gọi quê hương của tôi, Stoke-on-Trent miền Trung nước Anh, là cái nôi của cuộc cách mạng công nghiệp. Khẳng định nổi tiếng đó đến từ trung tâm Kỹ nghệ làm gốm sứ, nơi Josiah Wedgwood cơ giới hóa việc chế tác bình gốm vào những năm 1760. Nghề làm bình gốm ở quy mô công nghiệp tràn ngập khắp vùng Stoke. Ngay cả những kinh nghiệm khảo cổ sớm nhất của tôi khi còn là một thiếu niên tại thời điểm gần hai thế kỷ sau vẫn tiếp tục nằm dưới cái bóng của Wedgwood khi nghiên cứu những bình gốm nung bị lỗi chất thành một đống lớn phía sau nhà máy Whieldon, nơi Wedgwood đã từng học nghề.

Stoke được xây dựng trên than đá, sắt và đất sét, và khi tôi còn trẻ, hầu hết những công nhân ở đó vẫn thức dậy trước bình minh và đi đến hầm mỏ, nhà máy thép, hay xưởng gốm. Ông của tôi là một công nhân ngành thép; cha tôi bỏ học trước ngày sinh nhật thứ 14 để đi làm mỏ. Trong những ngày còn cắp sách đến trường, chúng tôi luôn được nghe kể rằng đức tính gan dạ, bền bỉ và khéo léo của tổ tiên chúng tôi đã làm nước Anh trở nên vĩ đại và thay đổi thế giới như thế nào. Nhưng theo như những gì tôi còn nhớ, không ai kể cho chúng tôi lý do tại sao chính những ngọn đồi và thung lũng của chúng tôi, chứ không phải của ai khác ở một nơi nào đó, đã từng ẵm bồng nền công nghiệp còn trong trứng nước này.

Dù vậy, câu hỏi này lại đứng đầu trong các tranh luận về sự phân rẽ lớn lao giữa Tây và Đông. Có phải cuộc cách mạng công nghiệp xảy ra ở Anh (trong thực tế là ở Stoke-on-Trent và xung quanh vùng này) chứ không phải nơi nào khác ở phương Tây là điều không tránh khỏi? Còn nếu không, liệu nó tất yếu phải xảy ra ở phương Tây chứ không phải ở nơi khác hay không? Hay – nếu đúng thế – liệu nó có xảy ra hay không?

Tôi đã nói đi nói lại trong phần giới thiệu cho cuốn sách này rằng mặc dù những câu hỏi đặt ra đúng là liệu sự thống lĩnh của phương Tây đã được chốt khóa trong quá khứ xa xôi hay không, nhưng các chuyên gia đưa ra câu trả lời hiếm khi nhìn lại quá khứ hơn 400 hay 500 năm. Hy vọng giờ đây tôi đã đưa ra được một kết luận rõ ràng và thuyết phục rằng việc đặt cuộc cách mạng công nghiệp vào một viễn cảnh lịch sử lâu dài phác họa trong chín chương đầu tiên của cuốn sách này sẽ cung cấp những câu trả lời tốt hơn.

Cuộc cách mạng công nghiệp độc đáo trong việc nó thúc đẩy phát triển xã hội được bao nhiêu và nhanh như thế nào, còn nếu không thì nó cũng giống như mọi tăng tiến trong lịch sử trước đó. Giống như tất cả những giai đoạn phát triển (tương đối) nhanh chóng trước đây, nó diễn ra trong một khu vực mà cho đến mới đây vẫn được xem là không quan trọng đối với câu chuyện chính yếu này. Do những căn nguyên từ nông nghiệp, các vùng lõi chính đã được mở rộng thông qua những kết hợp khác nhau giữa thực dân hóa và bắt chước, với những quần thể dân cư ở các vùng ngoại vi tiếp nhận ảnh hưởng từ vùng lõi và đôi khi làm nó thích ứng với các môi trường rất khác nhau ở vùng rìa. Đôi khi quá trình này cho thấy những thuận lợi trong sự lạc hậu, như khi những người nông dân năm thiên niên kỷ trước đây thấy rằng phương cách duy nhất để kiếm sống ở vùng Mesopotamia là tưới tiêu, rồi từ đó biến Mesopotamia thành một vùng lõi mới; hay khi các đô thị và thành bang bành trướng vào khu vực Địa Trung Hải ở thiên niên kỷ thứ nhất TCN, phát triển các mô hình thương mại hàng hải mới; hoặc khi người nông dân Trung Hoa ở miền Bắc chạy về phía nam và biến khu vực nằm ngoài sông Dương Tử thành một biên giới mới chuyên canh lúa sau năm 400.

Khi vùng lõi phương Tây từ vùng đất trung tâm Địa Trung Hải mở rộng về phía bắc và phía tây vào thiên niên kỷ thứ hai, thì người Tây Âu cuối cùng cũng phát hiện rằng công nghệ hàng hải mới có thể biến sự cô lập về mặt địa lý, vốn dĩ từ lâu đã là cội nguồn của sự lạc hậu, thành một lợi thế. Do ngẫu nhiên hơn là đặt định, người Tây Âu đã tạo dựng các đế chế đại dương mới, và do nền kinh tế vùng Đại Tây Dương mới lạ thúc đẩy phát triển xã hội, nên nó cũng đưa ra những thách thức hoàn toàn mới.

Không có gì bảo đảm rằng người châu Âu xử lý được những thách thức này, dù là người La Mã (thế kỷ I) hay người Trung Hoa đời Tống (thế kỷ I) đều không tìm ra phương cách vượt qua ngưỡng cứng. Mọi dấu hiệu đều cho thấy rằng cơ bắp vẫn là nguồn năng lượng cơ bản, không quá 10-15% dân số biết chữ, những đô thị và quân đội chưa bao giờ phát triển vượt quá một triệu người, và do đó chỉ số phát triển xã hội không bao giờ có thể vượt qua ngưỡng 40 điểm. Nhưng ở thế kỷ XVIII, người phương Tây đã gạt những giới hạn sang một bên; bằng cách bán năng lượng, họ đã giễu cợt mọi điều xảy ra trước đó.

Người Tây Âu lại thành công trong khi người La Mã và người đời Tống thất bại do có ba điều thay đổi.

Thứ nhất, công nghệ đã đi vào giai đoạn tích lũy. Một số kỹ năng mất đi mỗi lần phát triển xã hội thất bại, nhưng hầu hết thì không, và qua nhiều thế kỷ những cái mới lại được thêm vào. Nguyên lý tắm-hai-lần-trên-cùng-dòng-sông vẫn tiếp tục vận hành: mỗi xã hội muốn vượt khỏi ngưỡng cứng giữa thế kỷ I và thế kỷ XVIII đều khác biệt với những xã hội trước đó. Họ đều biết cách và có thể làm được tốt hơn những xã hội trước.

Thứ hai, phần lớn là do công nghệ tích lũy được, các đế chế nông nghiệp giờ đây đã có những loại súng công hiệu hơn, cho phép các Sa hoàng dòng Romanov và nhà Thanh đóng lại con đường vùng thảo nguyên. Do đó, khi phát triển xã hội bắt đầu vượt ngưỡng cứng vào thế kỷ XVII, thì kỵ sĩ Khải huyền thứ năm – sự di dân – không thể tung vó. Đó cũng là một cuộc đấu tranh, và rồi cũng như các vùng lõi đã thành công trong việc đương đầu với bốn kỵ sĩ Khải huyền kia và ngăn chặn được sự sụp đổ. Nếu không có sự thay đổi này, thế kỷ XVIII hẳn cũng là một thảm họa như ở thế kỷ III và thế kỷ XIII.

Thứ ba, phần lớn là do công nghệ đã tích lũy được, tàu thuyền bây giờ có thể đi đến hầu như bất cứ nơi nào họ muốn, cho phép các nước Tây Âu tạo ra một nền kinh tế Đại Tây Dương không giống như những gì đã thấy trước đó. Người La Mã và người đời Tống đều không có khả năng xây dựng một guồng máy phát triển thương mại to lớn như vậy, và do đó họ cũng không phải đối mặt với các loại vấn đề buộc người Tây Âu ở thế kỷ XVII và XVIII phải quan tâm. Newton, Watt, và các đồng nghiệp của họ có lẽ cũng không xuất sắc hơn Cicero, Thẩm Quát và những đồng hương của họ, nhưng họ chỉ tập trung suy nghĩ về những điều khác biệt.

Tây Âu thế kỷ XVIII được đánh giá tốt hơn bất kỳ xã hội nào trước đó trong việc giải trừ ngưỡng cứng trong phạm vi Tây Âu, vùng tây bắc – với các vị vua yếu ớt hơn và thương nhân được tự do hơn – được đánh giá tốt hơn so với vùng tây nam; và ở vùng tây bắc thì nước Anh lại được đánh giá tốt nhất. Vào năm 1970, nước Anh không chỉ có mức lương cao hơn, than đá nhiều hơn, nền tài chính mạnh hơn và thể chế cũng được cho là cởi mở hơn (dù chỉ đối với tầng lớp trung lưu và thượng lưu) so với các nước khác, nhưng còn – nhờ cuối cùng là kẻ chiến thắng trong chiến tranh với người Hà Lan và người Pháp – có nhiều thuộc địa, giao thương và tàu chiến hơn.

Cuộc cách mạng công nghiệp tại Anh dễ xảy ra hơn bất kỳ nơi nào khác, nhưng nước Anh vẫn không hẳn được đặt định cho sự công nghiệp hóa. Nếu như – điều rất dễ xảy đến – những chiếc chuông cũ rích của người Pháp, chứ không phải của người Anh, rung lên báo tin mừng chiến thắng vào năm 1759, và nếu Pháp tước đoạt hải quân và thuộc địa và giao thương của nước Anh, thay vì ngược lại, thì hẳn là những bậc cao niên đã không nuôi dưỡng tôi bằng những mẩu chuyện về việc Stoke-on-Trent trở thành bà mụ cho cuộc cách mạng công nghiệp, mà có thể các bậc cao niên đang quay sợi ở một số thành phố nước Pháp cũng bị bám đen khói bụi, như thành phố Lille chẳng hạn. Xét cho cùng, nước Pháp cũng có nhiều nhà phát minh và doanh nhân, thậm chí có cả một chuyển biến nhỏ trong những hiến dâng đối với đất nước hay các quyết định của các vị vua và tướng lĩnh đã có thể tạo ra một khác biệt to lớn.

Xét ra, cũng còn nhiều điều phải bàn về những con người vĩ đại, những kẻ ngốc nghếch vụng về, hay vận may ngẫu nhiên để giải thích lý do tại sao cuộc cách mạng công nghiệp lại do người Anh thực hiện chứ không phải người Pháp, dù họ không liên can gì nhiều đến việc phương Tây có cuộc cách mạng công nghiệp trước nhất. Để giải thích điều đó, chúng ta phải nhìn vào các thế lực lớn hơn, bởi vì một khi đã có đủ công nghệ tích lũy, một khi con đường vùng thảo nguyên đã đóng lại, và một khi các tuyến đường đại dương đã mở ra, cho là khoảng năm 1650 hay 1700 – thì thật khó hình dung ra điều gì có thể ngăn chặn được một cuộc cách mạng công nghiệp sẽ diễn ra ở một nơi nào đó tại Tây Âu. Nếu Pháp hay các quốc gia vùng Hạ châu Âu (đa phần đất đai thấp hơn mực nước biển) trở thành cơ xưởng của thế giới chứ không phải Anh quốc thì cuộc cách mạng công nghiệp có thể bùng nổ chậm hơn, có lẽ bắt đầu ở những năm 1870 chứ không phải thập niên 1770. Thế giới chúng ta đang sống ngày nay hẳn sẽ rất khác, dù Tây Âu vẫn có cuộc cách mạng công nghiệp độc đáo và phương Tây vẫn sẽ thống lĩnh, và tôi vẫn sẽ viết cuốn sách này, nhưng có thể bằng tiếng Pháp chứ không phải tiếng Anh.

Trừ phi, nếu như phương Đông tự thân công nghiệp hóa trước. Điều đó có thể xảy ra hay không nếu công nghiệp hóa phương Tây chậm hơn? Tất nhiên, ở đây tôi đang sắp xếp những câu hỏi ưu tiên cho điều-gì-sẽ-xảy-ra, nhưng tôi nghĩ rằng câu trả lời vẫn khá rõ ràng: Có lẽ không. Mặc dù điểm số phát triển xã hội phương Đông và phương Tây vẫn ngang bằng nhau cho đến năm 1800, nhưng có rất ít dấu hiệu cho thấy phương Đông, nếu cứ để mặc nó, đang tiến tới quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng để khởi sự cất cánh vào thế kỷ XIX.

Phương Đông có thị trường rộng lớn và nền giao thương mạnh, nhưng những điều đó không có tác dụng như nền kinh tế Đại Tây Dương của phương Tây, và trong khi những thường dân ở phương Đông không nghèo như Adam Smith khẳng định trong cuốn Của cải của các dân tộc (“Sự nghèo đói của những giai tầng thấp kém ở Trung Hoa còn vượt xa các quốc gia cơ cực nhất ở châu Âu”❖), thì Hình 10.3 cho thấy họ cũng chẳng giàu có gì. Người dân Bắc Kinh⦾ không nghèo hơn người dân Florence nhiều lắm, nhưng lại quá nghèo so với người dân London. Với nguồn lao động quá rẻ ở Trung Hoa và Nhật Bản (và cả Nam Âu), thì những động cơ thúc đẩy họ đầu tư vào máy móc để thay cho nguồn lực địa phương như Boulton còn yếu. Đến năm 1880, tổn phí dự chi để khai thác một mỏ có 600 lao động Trung Hoa ước tính là 4.272 đô-la – gần bằng mức giá của một máy bơm bằng hơi nước thông thường. Nên ngay cả khi có giải pháp lựa chọn, các nhà đầu tư hiểu biết ở Trung Hoa vẫn thích chọn cơ bắp giá rẻ hơn hơi nước đắt tiền.

Với việc đạt được thành quả ít ỏi trong việc cải tiến, những doanh nhân, và cả học giả ở các học viện hoàng gia ở phương Đông hầu như không quan tâm gì đến các nồi hơi và bình ngưng hơi, nói gì đến những máy se nhiều sợi, máy suốt chỉ và kỹ thuật luyện gang trong luyện kim. Để có được một cuộc cách mạng công nghiệp riêng, phương Đông cần phải tạo ra một số điểm tương đương với nền kinh tế Đại Tây Dương để có thể tạo ra mức lương cao hơn và những thách thức mới, thúc đẩy toàn bộ các ý tưởng khoa học, cải tiến máy móc và năng lượng giá rẻ.

Hình 10.3. Lực lượng lao động của thế giới chia ra: mặc dù gặp tai họa, công nhân Anh thu nhập nhiều hơn những công nhân nước khác trong khoảng thời gian 1780-1830 và sau năm 1830 vẫn duy trì sự chênh lệch đó. Biểu đồ này so sánh mức lương thực tế của những người không có tay nghề ở London, Florence (thành phố điển hình cho mức lương thấp ở miền Nam châu Âu), và Bắc Kinh (đại diện cho tiền lương của nhân công Trung Hoa và Nhật Bản).

Giả sử thời gian có lặp lại một lần nữa, điều đó hẳn vẫn sẽ xảy ra. Ở thế kỷ XVIII đã nở rộ hiện tượng người Trung Hoa phân tán khắp khu vực Đông Nam Á; với những điều kiện ngang bằng nhau, kiểu tương thuộc về mặt địa dư vốn là đặc trưng của nền kinh tế Đại Tây Dương, có thể đã trỗi dậy vào thế kỷ XIX. Nhưng những thứ khác lại không ngang bằng nhau. Người phương Tây phải mất 200 năm để chuyển từ Jamestown⦾ sang James Watt. Nếu phương Đông cũng để ở tình trạng cô lập tuyệt vời, nếu nó cũng chuyển dịch theo cùng con đường như phương Tây qua các thế kỷ XIX và XX, hướng đến việc tạo ra một nền kinh tế đa dạng về mặt địa lý, và nếu nó dịch chuyển giống như nhịp độ phát triển của phương Tây, thì ắt hẳn chính thời điểm đó đã có một nhân vật Watt khác ở Trung Hoa hay một Boulton của Nhật Bản công bố động cơ hơi nước đầu tiên của mình ở Thượng Hải hay Tokyo. Nhưng những giả định trên vẫn không dẫn đến kết quả nào khác, vì một khi cuộc cách mạng công nghiệp của phương Tây bắt đầu, nó đã nuốt chửng cả thế giới.

Những Gradgrind ngoài đời thực

Vào năm 1750, những điểm tương đồng giữa các vùng lõi Đông và Tây vẫn còn nổi bật. Cả hai đều là những nền kinh tế nông nghiệp tiên tiến với những phân chia lao động phức tạp, các mạng lưới giao thương mở rộng và các lĩnh vực sản xuất phát triển. Ở cả hai đầu lục địa Á-Âu, các tầng lớp tinh hoa sở hữu đất đai giàu có đều tin vào sự ổn định, các truyền thống và giá trị, vốn là những yếu tố điều khiển mọi sự vật mà họ khảo sát. Mỗi tầng lớp tinh hoa đều bảo vệ vị thế của mình bằng các quy tắc chặt chẽ về sự tôn trọng và phép tắc xã giao, và mỗi tầng lớp đều hấp thu và sản sinh nền văn hóa tinh tế và tao nhã. Phía sau tất cả những khác biệt hiển nhiên về phong cách và chuyện kể, khó mà không thấy được một sự giống nhau nào đó giữa những cuốn tiểu thuyết về lề thói đầy rẫy ở thế kỷ XVIII, như cuốn Clarissa của Samuel Richardson và Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần.

Nhưng đến năm 1850 thì tất cả những điểm tương đồng này đã bị cuốn trôi bởi một sự khác biệt lớn lao: sự trỗi dậy ở phương Tây của một tầng lớp thủ lĩnh mới trong lĩnh vực công nghệ sắt vận hành bằng hơi nước, mà theo các nhà phê bình nổi tiếng nhất phương Tây, “đã xé toạc thành từng mảnh không thương tiếc những mối ràng buộc phong kiến pha tạp đã trói chặt con người với những kẻ bề trên bẩm sinh của họ.” Marx và Engels tiếp tục diễn giải giai cấp mới này: “đã nhấn chìm những cảm giác thăng hoa nhất của lòng nhiệt thành tôn giáo, nhiệt tình hào hiệp, tính đa cảm thuần vật chất trong dòng nước lạnh lẽo của sự tính toán ích kỷ.”❖

Các quan điểm đều thể hiện sự bất đồng kịch liệt với những gì giai cấp mới này đã tạo ra, nhưng hầu hết đều đồng ý rằng bất kể là gì, nó cũng đang thay đổi mọi thứ. Đối với một số người, những nhà triệu phú khai thác và bán năng lượng là những người hùng mà “nghị lực và tính kiên trì của họ, được dẫn dắt bởi óc phán đoán đúng đắn, [hiển nhiên] có được phần thưởng theo lẽ thường,” Samuel Smiles, tác giả của cuốn Self-Help (Tự Lực) kinh điển thời Victoria đã viết như thế. Smiles giải thích: “Vào thời kỳ đầu, các sản phẩm của ngành công nghiệp lành nghề đa phần là những món hàng xa xỉ dành cho một số người, trong khi giờ đây” – nhờ những thuyền trưởng của ngành công nghiệp – “các công cụ và máy móc tinh vi nhất được sử dụng trong sản xuất các sản phẩm tiêu dùng thông thường cho đại đa số người dân trong cộng đồng.”❖

Tuy nhiên, đối với những người khác, các nhà công nghiệp là những kẻ nhẫn tâm chuyên mặc áo choàng dài có bộ mặt khó ưa, giống như nhân vật Gradgrind của Dickens trong truyện Hard Times (Thời gian khổ). Gradgrind thường nhấn mạnh: “Chỉ có sự kiện mới cần thiết trong cuộc sống, nó không trồng thêm gì nhưng lại triệt hạ mọi thứ.”❖ Dickens đã trải qua kinh nghiệm gian khó về cuộc cách mạng công nghiệp này khi làm việc trong một nhà máy sản xuất xi đánh giày trong khi cha ông mòn mỏi trong nhà tù giam giữ những người mắc nợ, bởi vậy ông có quan điểm mạnh mẽ về những Gradgrind trong đời thực. Trong cái nhìn của ông, họ đã lọc lấy cái đẹp từ đời sống, lùa công nhân vào các thành phố hủy-diệt-linh-hồn như thành phố Coketown tưởng tượng của ông, “một thắng lợi của sự kiện… một thành phố của máy móc và những ống khói cao vút không ngừng tuôn ra những con rắn khói bụi cuốn theo nhau mãi mãi.”❖

Chắc chắn cũng có rất nhiều Gradgrinds trong đời thực. Chàng trai trẻ Friedrich Engels đã diễn tả cuộc đối mặt với một người như thế ở Manchester những năm 1840 và giảng giải cho ông ta về hoàn cảnh khó khăn của những người lao động ở thành phố Coketown này. Engels nói: “Ông ta kiên nhẫn lắng nghe, và khi chúng tôi chia tay ở một góc phố, ông ta nhận xét:”Nhưng ở đây làm ra rất nhiều tiền, thưa ngài. Tạm biệt ngài!”❖

Lời lẽ của người doanh nhân này là đúng: bằng cách khai thác năng lượng giam hãm trong nhiên liệu hóa thạch, động cơ của Boulton và Watt đã gây ra một cơn bão kiếm tiền. Tuy nhiên, Engels cũng đúng: những công nhân kiếm tiền từ đó lại thấy nó ít quý giá. Những năm 1780-1830 sản lượng mỗi lao động làm ra tăng hơn 25%, nhưng đồng lương tăng không tới 5%. Phần còn lại được xem là lợi nhuận. Giận dữ bùng phát ở các khu nhà ổ chuột. Người lao động thành lập công đoàn và đòi hỏi một Hiến chương Nhân dân; những người cấp tiến lên kế hoạch bất tín nhiệm chính phủ. Những người làm nông, do sinh kế bị đe dọa bởi những máy đập lúa, đã đập phá máy móc và đốt hết rơm rạ vào năm 1830, gửi thư đe dọa những người có địa vị, ký tên trong thư với cái tên đầy mùi cướp biển: “Thuyền trưởng Swing.” Khắp nơi, các quan tòa và hàng giáo phẩm thấy được mùi chủ nghĩa Jacobin⦾, thuật ngữ chỉ cuộc cách mạng Pháp, và những người có tài sản uy hiếp họ với sự hỗ trợ của nhà nước. Kỵ binh giẫm đạp những người biểu tình; các thành viên nghiệp đoàn bị tống giam; những kẻ đập phá máy móc bị phạt lưu đày đến những vùng thuộc địa xa nhất của Đế quốc Anh.

Đối với Marx và Engels, tiến trình này có vẻ rõ ràng: nền công nghiệp hóa của phương Tây đã thúc đẩy phát triển xã hội tiến nhanh hơn bao giờ hết nhưng đồng thời cũng góp phần thúc đẩy nghịch lý phát triển đến sự mất cân đối giàu nghèo.⦾ Với việc biến con người thành những bàn tay thuần túy, những bánh răng bằng xương bằng thịt, trong các cơ xưởng và nhà máy, các nhà tư bản đã vô tình tạo cho họ một lý tưởng chung và biến họ thành những nhà cách mạng. Marx và Engels kết luận: “Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là những gì mà giai cấp tư sản tạo ra sẽ khiến họ tự đào huyệt chôn lấy chính mình… Hãy làm các tầng lớp cai trị run sợ với một cuộc cách mạng cộng sản. Những người vô sản không có gì để mất ngoài xiềng xích nô lệ. Họ có cả một thế giới để chiến thắng. Vô sản toàn thế giới, hãy đoàn kết lại!”❖

Marx và Engels tin rằng các nhà tư bản đã tạo ra điều này bằng cách phong tỏa vùng nông thôn và ép buộc những người bị tước đoạt quyền sở hữu vào các thành phố để trở thành nô lệ làm công ăn lương, nhưng có lẽ họ đã lầm ở các dữ kiện. Những chủ đất giàu có không đẩy người dân khỏi đất đai; mà chính tình dục đã làm điều này. Nền nông nghiệp thâm canh ở thế kỷ XIX thực sự cần thêm bàn tay lao động trên đồng ruộng chứ không giảm đi, và lý do thực sự khiến người ta bỏ trang trại lên thành phố chính là sinh sản. Tuổi thọ tăng thêm khoảng ba năm giữa những năm 1750 và năm 1850, và mặc dù các nhà sử học chưa thống nhất về nguyên nhân tại sao điều này lại xảy ra (Dịch bệnh ít xảy ra hơn? Nhiều thực phẩm dinh dưỡng hơn? Hệ thống cung cấp nước và thoát nước tốt hơn? Các phương pháp nuôi dạy con khéo léo hơn? Đồ lót bằng bông? Hay do những nguyên nhân hoàn toàn khác?), những năm có tỉ lệ sinh để tăng vọt này có nghĩa là nếu phụ nữ không kết hôn muộn, quan hệ tình dục theo những cách khác nhau, hay bỏ rơi/bỏ đói con trẻ, họ phải nuôi thêm nhiều con hơn. Có một thực tế là phụ nữ đã thay đổi cách ăn ở, nhưng chưa đủ để gây nguy hại cho tuổi thọ của họ, và dân số nước Anh đã tăng gấp đôi (lên khoảng 14 triệu) giữa những năm 1780-1830. Khoảng một triệu trong số những người dôi dư này vẫn ở lại với đất đai, nhưng sáu triệu người bỏ lên thành phố để kiếm việc làm.

Những dữ kiện về sinh sản không thể bác bỏ này tạo cái nhìn lạc quan đối với cuộc cách mạng công nghiệp thay vì bi quan: nền công nghiệp hóa gây sang chấn nhưng các giải pháp thay thế lại còn tồi tệ hơn. Vào thế kỷ XVIII, đồng lương sụp đổ trên khắp phương Tây khi dân số gia tăng, nhưng đồng lương ở Anh lại tăng lên sau năm 1775 và kéo theo đời sống của tất cả mọi người (Hình 10.3). Khi người Anh chết đói hàng loạt trong nạn đói kinh hoàng ở Ireland vào những năm 1840, nguyên nhân là do những chủ đất tham lam và các chính trị gia ngu xuẩn hơn là do ngành công nghiệp (lúc đó còn khan hiếm ở Ireland).

Điều trớ trêu là xu thế chuyển sang đáp ứng lợi ích của người lao động lại diễn ra ngay đúng những năm tháng Marx và Engels xây dựng học thuyết của mình. Từ năm 1780, các nhà tư bản đổ phần lớn lợi nhuận vào những căn nhà nông thôn, tước vị quý tộc, và áo mũ cân đai với dáng vẻ những kẻ mới phất, nhưng họ cũng tái đầu tư còn nhiều hơn thế vào máy móc và cơ xưởng mới. Vào khoảng năm 1830, những khoản đầu tư này làm công việc lao động của mỗi công nhân bẩn thỉu, thiếu ăn và ít học gia tăng về mặt cơ học phát sinh lợi nhuận đến mức các ông chủ thường thương thảo với những người đình công hơn là sa thải họ, đồng thời cạnh tranh với những người chủ khác để tìm thêm công nhân mới. Trong 50 năm tiếp theo, tiền lương cũng tăng nhanh theo lợi nhuận, và vào năm 1848, khi Marx và Engels công bố Bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, mức lương của công nhân Anh cuối cùng cũng đạt đến mức cao như thời kỳ hậu Cái Chết Đen.

Cũng như mọi thời kỳ khác, thập niên 1830 có được tư tưởng cần thiết, và khi những người lao động trở nên có giá trị hơn thì các tầng lớp trung lưu mới nhận ra mối đồng cảm – có một không hai – đối với những kẻ bị áp bức. Một mặt, thất nghiệp được xem là cực kỳ khủng khiếp, và những người nghèo cần cứu tế được lùa vào trại tế bần (vì quyền lợi của họ, theo suy nghĩ của tầng lớp trung lưu); mặt khác, hình ảnh mà Dickens mô tả về những nhà tế bần này đã khiến Oliver Twist trở thành cuốn sách bán chạy nhất và cải cách trở thành đề tài thời sự nóng bỏng. Các ủy ban chính quyền phê phán tình trạng bẩn thỉu ở đô thị; Nghị viện thì cấm trẻ em dưới chín tuổi vào làm ở các nhà máy và giới hạn trẻ em dưới 18 tuổi chỉ làm việc 48 giờ mỗi tuần; và đã có những bước đi đầu tiên trong việc phổ cập giáo dục. Những nhà cải cách đầu tiên thời kỳ Victoria ngày nay dễ bị cho là đạo đức giả, nhưng chính ý tưởng thực hiện các bước thiết thực để cải thiện cuộc sống của người nghèo lại mang tính cách mạng.

Sự tương phản vùng lõi phương Đông lại mạnh mẽ khác thường: ở Trung Hoa, nơi những Gradgrind, Coketown và công nhân nhà máy vẫn còn hiếm thấy, những học giả vẫn tiếp tục truyền thống hàng thế kỷ gửi các bản tấu chương về các kế hoạch cải cách không tưởng đến các quan chức triều đình, những người cũng duy trì truyền thống tương tự là xếp bỏ chúng sang một bên. Những nhà cải cách tương lai vẫn chủ yếu xuất thân từ số bên lề giới tinh hoa. Hồng Lượng Cát (Hong Liangji) (bị kết án tử hình vì tội cực kỳ khiếm nhã sau khi phê phán sự trì trệ của triều đình đối với các vấn đề xã hội) và Cung Tự Trân (Gong Zizhen) (một nhân vật lập dị ăn mặc kỳ lạ, sử dụng nghệ thuật thư pháp phóng túng và ham mê bài bạc), có thể cho là những nhà phê phán xã hội xây dựng nhất, cả hai đều thi trượt nhiều lần và cũng không tạo được tác động gì lắm. Ngay cả những kế hoạch thiết thực, chẳng hạn như kế hoạch vận chuyển gạo bằng đường biển đến Bắc Kinh để tránh bị mục rã và tình trạng tham nhũng dọc theo Đại Vận Hà, cũng phải chờ đợi sự chấp thuận đến mỏi mòn.

Chính ở phương Tây, chứ không phải nơi nào khác, một thế giới mới đầy gan dạ của than đá và sắt đã được khai sinh, và lần đầu tiên trong lịch sử, những khả năng hiện thực dường như vô hạn. Tờ tạp chí Anh The Economist tán dương nó vào năm 1851 như sau:

Chúng ta xem đó là một niềm hạnh phúc và cũng là một đặc ân khi bốc được lá thăm may mắn trong 50 năm đầu của thế kỷ này, thời kỳ 50 năm vừa qua… đã chứng kiến sự tiến bộ nhanh chóng và đáng ngạc nhiên hơn tất cả những thế kỷ trước đó. Ở một số điểm quan trọng đối với một châu Âu văn minh, thì sự khác biệt giữa thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX lớn hơn nhiều so với khoảng cách từ thế kỷ đầu tiên đến thế kỷ XVIII.

Thời gian đang tăng tốc ở phương Tây và bỏ phần còn lại của thế giới ở phía sau.

Một thế giới

London, ngày 2 tháng 10 năm 1872, 7 giờ 45 phút chiều.

Đây là một cảnh nổi tiếng: “Tôi ở đây, thưa quý ông!”❖, Phileas Fogg tuyên bố khi anh sải chân bước vào câu lạc bộ của mình. Dù bị nhầm với một tên cướp ngân hàng ở Ai Cập, bị người da đỏ Sioux tấn công ở Nebraska, và bị kéo vào cuộc giải cứu một góa phụ xinh đẹp bị ép buộc phải tự vẫn ở Ấn Độ (Hình 10.4), Fogg đã làm những gì anh hứa sẽ thực hiện. Anh đã đi vòng quanh thế giới trong 80 ngày, còn dư được một giây.

Đây chỉ là một cảnh hư cấu, nhưng cũng như mọi truyện kể của Jules Verne, Around the world in Eighty Days (Vòng quanh thế giới trong tám mươi ngày) thực ra đã được khẳng định chắc chắn. Một nhân vật nhanh nhẹn tên George Train thực sự đã du lịch vòng quanh thế giới trong 80 ngày vào năm 1870, và mặc dù nhân vật Fogg hư cấu quay lại đi voi, xe trượt tuyết, và thuyền buồm khi công nghệ làm anh thất vọng,⦾ cả anh và George Train đều không thể thực hiện chuyến đi của mình nếu không có những thành tựu công nghệ mới – kênh đào Suez (mở năm 1869), tuyến đường sắt San Francisco-New York (hoàn thành cùng năm), và tuyến đường sắt Bombay-Calcutta⦾ (hoàn thành năm 1870). Thế giới, như Fogg nhận xét trước khi lên đường, đã không còn rộng lớn như trước đây.

Phát triển xã hội gia tăng và vùng lõi bành trướng luôn song hành với nhau khi những người thực dân đem theo lối sống mới ra bên ngoài và con người sinh sống ở vùng ngoại vi sao chép, đề kháng, hay trốn chạy. Thế kỷ XIX cũng chỉ khác về quy mô và tốc độ, nhưng những khác biệt này đã làm thay đổi tiến trình lịch sử. Trước thế kỷ XIX, các đế chế lớn thống lĩnh phần này hoặc phần kia của thế giới, uốn nắn nó theo ý muốn của họ, nhưng những công nghệ mới đã gỡ bỏ mọi giới hạn. Lần đầu tiên, một sự dẫn đầu trong phát triển xã hội có thể biến thành thống lĩnh toàn cầu.

Việc chuyển hóa năng lượng nhiên liệu hóa thạch thành động năng đã giúp loại trừ khoảng cách. Ngay từ năm 1804, một kỹ sư người Anh đã cho thấy những động cơ nhẹ với áp suất cao có thể đẩy xe ngựa chạy dọc theo các thanh ray sắt, và vào thập niên 1810, những động cơ tương tự được dùng để đẩy tàu thủy chạy bằng bánh guồng. Sau một thế hệ với những cải tiến nhỏ nhặt, đầu máy hơi nước Rocket nổi tiếng của George Stephenson đã nhả khói trên tuyến đường sắt Liverpool-Manchester với vận tốc gần 47km/giờ⦾, và những chiếc tàu chạy bằng bánh guồng đã vượt Đại Tây Dương. Phát triển xã hội biến đổi bản đồ địa lý nhanh hơn bao giờ hết: không còn chịu tác động của gió và sóng, tàu thuyền có thể ra khơi ở bất kỳ đâu cũng như bất kỳ lúc nào, và cứ ở đâu có đường xe lửa mọc lên thì hàng hóa có thể được vận chuyển trên đất liền với giá rẻ gần như bằng vận chuyển theo đường biển.

Hình 10.4. Vòng quanh thế giới: Sự thống lĩnh của phương Tây làm thế giới co lại.

Công nghệ đã làm biến đổi sự thực dân hóa. Hơn năm triệu người Anh (trong số 27 triệu dân) di cư trong những năm 1851-1880, chủ yếu là đến biên giới mới cuối cùng ở Bắc Mỹ. Giai đoạn 1850-1900, bệnh dịch da trắng❖ này, như nhà sử học Niall Ferguson gọi, đã san bằng hơn 67 triệu hecta đất rừng ở châu Mỹ, gấp 10 lần diện tích đất canh tác ở Anh. Năm 1799, một khách lữ hành đã ghi nhận rằng những người tiên phong ở châu Mỹ “có một ác cảm không tránh khỏi với cây cối… họ chặt đi mọi thứ trước mặt họ không thương tiếc… tất cả đều cùng chung số phận và đều bị tàn phá.”❖ Một trăm năm sau, mối ác cảm của họ lại được phát triển và nuôi dưỡng bằng các loại máy hạ gốc cây, súng phun lửa và thuốc nổ.

Một sự bùng nổ nông nghiệp chưa từng thấy đồng thời cũng tạo ra những thành phố lớn đáng kinh ngạc. Năm 1800, ở New York có 79.000 người dân thì đến năm 1890 đã lên đến 2,5 triệu người. Trong khi đó, Chicago lại trở thành kỳ quan của thế giới. Từ một thị trấn đồng cỏ với 30.000 dân vào năm 1850, đến năm 1890 nó trở thành thành phố lớn thứ sáu trên thế giới với hơn một triệu cư dân. Chicago đã khiến Coketown trông ra vẫn còn nhã nhặn. Một nhà phê phán ngạc nhiên nhận định:

Với nó, tất cả các bang ở miền Trung, toàn vùng Tây Bắc rộng lớn đều rộ lên các phương tiện vận chuyển và nền công nghiệp; tiếng gầm rít từ các nhà máy cưa; tiếng loảng xoảng và luôn rực lửa của các nhà máy phun khói đen nghịt cả bầu trời, những hệ thống răng bánh, những piston dập đều đặn trong xi-lanh; bánh răng khớp trong bánh răng, những đai truyền kẹp chặt những thùng chứa hình ống của các bánh xe khổng lồ; và các lò chuyển ở các xưởng luyện kim nhả ra không khí mờ mịt hơi thở bão giông mùi kim loại nóng chảy.

Đó chính là Đế chế.

Sự bắt chước đã làm tốt hơn việc thực dân hóa trong việc truyền bá công nghiệp sang phía đông châu Âu. Năm 1860, nước Anh vẫn là nền kinh tế công nghiệp triệt để duy nhất, sản xuất đến một nửa sắt thép và hàng dệt may của thế giới, nhưng lần đầu tiên ở Bỉ (cũng có than và sắt tốt) và rồi dọc theo một vòng cung từ miền Bắc nước Pháp qua Đức và Áo, thời đại hơi nước và than đá bắt đầu cất cánh. Đến năm 1910, các nước ngoại vi trước đây, Đức và Hoa Kỳ, phát hiện được những lợi thế trong sự lạc hậu của mình và vượt xa người thầy của họ.

Người Đức, do ít may mắn hơn về than đá so với nước Anh, đã học cách sử dụng nhiên liệu hiệu quả hơn, và do thiếu lao động có trình độ nhạy bén – được nuôi dưỡng từ các thế hệ đào tạo tại chỗ – nước Đức đã thay thế bằng kiến thức kỹ thuật chỉ để biết khi nào thì đóng van hay siết ống chỉ. Người Mỹ, do thiếu các công ty gia đình truyền thống có vốn tích luỹ, đã phát hiện một lợi thế khác. Bán cổ phần để tăng vốn cho các doanh nghiệp hiện đại khổng lồ, tách biệt chủ sở hữu khỏi các nhà quản lý được tuyển dụng để họ toàn quyền thử nghiệm các nghiên cứu về thao tác giúp tăng năng suất, dây chuyền lắp ráp, và khoa học quản lý mới. Mọi kiến thức sách vở này bị người Anh xem là khá ngớ ngẩn, nhưng ở các ngành công nghệ cao mới mẻ như quang học và hóa học, biết một chút khoa học và lý thuyết quản lý sản xuất sẽ cho ra những kết quả tốt hơn so với việc chỉ cảm nhận. Khoảng năm 1900, thì chính nước Anh, với niềm tin vào sự ứng biến, xử lý được mọi rối rắm, và những kẻ nghiệp dư có năng lực sáng tạo, mới bắt đầu trông có vẻ ngớ ngẩn.

Đức và Hoa Kỳ đi đầu trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai, như các sử gia thường gọi, áp dụng khoa học vào công nghệ có hệ thống hơn. Họ đã nhanh chóng tạo ra những điều mà các kỳ công của Phileas Fogg có vẻ như đã quá cũ xưa, biến thế kỷ XX sang thời kỳ dầu lửa, ô tô và máy bay. Năm 1885, Gottlieb Daimler và Karl Benz tìm ra cách đốt nhiên liệu xăng (cho đến thời điểm đó còn là một phụ phẩm có giá trị thấp của dầu hỏa thắp đèn) một cách hiệu quả với động cơ đốt trong, và trong cùng năm, một thợ máy người Anh hoàn thiện chiếc xe đạp. Việc sử dụng những động cơ mới và nhẹ cùng với khung gầm mới mạnh mẽ giúp phát triển xe hơi và máy bay. Vào năm 1896, xe hơi vẫn chạy còn chậm đến mức những người hay vặn vẹo còn hét lên “Kiếm con ngựa cho rồi!”❖ trong cuộc đua xe hơi đầu tiên của Mỹ, nhưng đến năm 1913, các nhà máy của Mỹ đã sản xuất được một triệu xe. Cũng vào thời điểm đó, anh em nhà Wright, hai thợ cơ khí xe đạp từ Ohio, đã bắt chốt bu-loong đôi cánh lên một động cơ chạy xăng và bay lên trời.

Dầu lửa đang chuyển đổi vị trí địa lý. Một nhà kinh doanh dầu lửa người Anh vào năm 1911 đã tán dương: “Sự phát triển của động cơ đốt trong là điều vĩ đại nhất mà thế giới từng chứng kiến, nó sẽ thay thế hơi nước và cũng nhanh chóng gây ra bi kịch.”❖ Vì dầu lửa nhẹ hơn than, sản sinh nhiều năng lượng hơn, và làm mọi thứ chạy nhanh hơn, nên những người còn bị mắc kẹt với hơi nước sẽ chịu thua thiệt những người đầu tư vào các động cơ mới. Vào năm 1911, viên cố vấn hàng đầu của Hải quân Hoàng gia Anh nhấn mạnh rằng “Điều tiên quyết của mọi nhu cầu thiết yếu chính là TỐC ĐỘ,”❖ và chịu khuất phục trước điều không thể tránh khỏi, viên bộ trưởng hải quân trẻ tuổi đầu tiên – Winston Churchill – đã chuyển đổi Hải quân Hoàng gia từ than đá sang sử dụng dầu. Trữ lượng than vô tận của nước Anh bắt đầu ít quan trọng hơn so với việc tiếp cận các vùng khai thác dầu ở Nga, Ba Tư, Đông Nam Á, và trên hết là ở châu Mỹ.

Truyền thông cũng thay đổi nhanh chóng. Vào năm 1800, cách nhanh nhất để gửi một tin nhắn quanh thế giới là gửi thư bằng thuyền, nhưng vào năm 1851, người Anh và người Pháp có thể trao đổi thông điệp bằng tín hiệu điện truyền bằng cáp ngầm dưới biển. Năm 1858, Nữ hoàng Anh và Tổng thống Hoa Kỳ trao đổi điện tín qua Đại Tây Dương, và trong cuốn Vòng quanh thế giới trong tám mươi ngày, hơn một lần mọi thứ đều phụ thuộc vào một bức điện tín kịp thời. Giữa những năm 1866 và năm 1911, phí tổn gửi điện tín xuyên Đại Tây Dương giảm 99,5%, nhưng vào lúc đó khoản tiết kiệm này được xem là đương nhiên. Điện thoại đầu tiên bắt đầu rung chuông vào năm 1876, chỉ ba năm sau khi cuốn sách của Jules Verne ra đời; năm 1895 đã có điện báo vô tuyến; và năm 1906 là radio.

Giao thông và truyền thông nhanh hơn đã thúc đẩy sự tăng trưởng bùng nổ ở các thị trường. Trở lại thập niên 1770, Adam Smith nhận ra rằng sự thịnh vượng phụ thuộc vào quy mô thị trường và phân chia lao động. Nếu thị trường lớn, con người có thể sản xuất ra những gì rẻ nhất và tốt nhất, sau đó bán nó, rồi dùng lợi nhuận của mình để mua bất cứ thứ gì cần thiết. Smith lý luận rằng điều đó sẽ làm cho mọi người giàu thêm nếu họ cố gắng tạo ra mọi thứ cho chính họ. Ông cho rằng chìa khóa cho điều này chính là để nó tự do: logic kinh tế đòi hỏi phải đạp đổ những bức tường ngăn cách mọi người và để họ thỏa mãn “xu hướng buôn bán, đổi chác và trao đổi thứ này lấy thứ khác.”❖ .

Nhưng nói thì dễ hơn làm. Những người sản xuất hàng hóa giá rẻ trên thế giới, chẳng hạn như các nhà công nghiệp Anh, đều muốn hướng đến tự do thị trường, nhưng những người tạo ra sản phẩm giá cao và không phải cạnh tranh – như người nông dân Anh – lại nghĩ rằng vận động Nghị viện để đánh thuế xuất nhập khẩu vào những đối thủ có khả năng cạnh tranh thì tốt hơn là phải chuyển sang những ngành nghề mới. Việc này gây ra hiệu ứng gây đổ máu, sụp đổ của chính phủ và bóng ma của nạn đói để thuyết phục các nhà lãnh đạo Anh từ bỏ chủ nghĩa bảo hộ, nhưng khi họ làm như vậy (và do thuế nhập khẩu trung bình giảm từ trên 50% khoảng năm 1825 xuống còn dưới 10% 50 năm sau đó), thị trường toàn cầu đã khởi phát.

Đối với một số người, cơn sốt tự do thị trường trông như điên loạn. Các nhà sản xuất Anh xuất khẩu tàu hỏa, tàu thủy và máy móc, trong khi các nhà tài chính Anh cho người nước ngoài vay tiền để mua chúng. Trên thực tế, nước Anh đang xây dựng các ngành công nghiệp ở nước ngoài có thể thách thức sự thống lĩnh kinh tế của nó. Tuy nhiên, đối với các doanh nhân tự do, trong sự điên cuồng cũng có phương pháp. Bằng cách bán và cho vay ở mọi nơi, kể cả với những đối thủ của mình, nước Anh đã tạo ra một thị trường lớn đến mức nó có thể tập trung vào những kỹ năng công nghiệp đó (kể cả kỹ năng tài chính) để đem lại lợi nhuận lớn nhất. Và không chỉ thế, máy móc của Anh đã giúp người Mỹ và người châu Âu sản xuất thực phẩm mà người Anh cần mua, và lợi nhuận do người nước ngoài kiếm được bằng cách bán thực phẩm cho nước Anh cũng cho phép họ mua thêm hàng hóa của người Anh.

Các doanh nhân tự do lập luận rằng mọi người – dù không phải ai cũng sẵn sàng tin vào logic mở rộng tự do theo thuyết vị lợi kiên định – đều thắng. Rất ít quốc gia nhiệt tình như nước Anh (Đức và Hoa Kỳ đặc biệt bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ của mình khỏi sự cạnh tranh của Anh), nhưng vào thập niên 1870 thì vùng lõi phương Tây lại gắn liền với một hệ thống tài chính. Các loại tiền tệ khác nhau của nó được ghìm giữ ở những tỉ lệ cố định so với vàng, khiến nền thương mại dễ dự đoán hơn và cam kết các chính phủ phải chơi theo các nguyên tắc của thị trường.

Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu. Việc mở rộng tự do sẽ không dừng lại ở các biên giới, nó quét sạch mọi rào cản giữa các quốc gia trong khi vẫn giữ nguyên những rào cản trong nội bộ. Mở rộng tự do là một giao dịch trọn gói, như Marx và Engels đã nhận thấy rõ nhất:

Việc cách mạng hóa liên tục trong sản xuất, sự xáo trộn không ngừng của mọi điều kiện xã hội, tính bất định và khích động hỗn loạn không dứt chỉ ra sự khác biệt giữa giai đoạn tư sản với mọi thời kỳ trước đó. Tất cả những mối quan hệ cố định được gìn giữ, với một chuỗi những thiên kiến và quan điểm cổ xưa của chúng, đều bị cuốn phăng, mọi quan hệ mới hình thành sẽ cũ kỹ ngay trước khi chúng có thể trở thành lỗi thời. Tất cả những gì là vững bền rồi sẽ tan thành không khí, tất cả những điều linh thiêng sẽ biến thành trần tục, và cuối cùng con người buộc phải đối mặt với nhận thức tỉnh táo về những điều kiện sống thực sự của mình và những mối quan hệ của mình với đồng loại.

Nếu các nguyên tắc và quy định cũ xưa về cách thức ăn mặc của con người, họ phải thờ phụng ai, và những công việc họ làm thể can thiệp vào năng suất và sự tăng trưởng của thị trường, những truyền thống đó sẽ phải đội nón ra đi. Lý thuyết gia theo chủ nghĩa tự do John Stuart Mill kết luận: “Cùng đích duy nhất mà nhân loại được đảm bảo, dù là cá nhân hay tập thể, đối với việc cản trở tự do hành động của bất kỳ cá nhân nào chính là cá nhân có toàn quyền bảo vệ chính bản thân mình, về cả tâm hồn lẫn thể xác.”❖ Mọi thứ khác đều có đủ cho mọi người.

Giai cấp nông nô, các phường hội, và các hạn chế pháp lý khác về di chuyển và nghề nghiệp đều đổ sụp. Phải mất một cuộc chiến tranh mới chấm dứt được chế độ nô lệ của Mỹ vào năm 1865, nhưng trong phạm vi một thế hệ, các quốc gia còn giữ chế độ nô lệ ở phương Tây đều xây dựng luật pháp để chấm dứt một cách hòa bình (và thường có lợi) thiết chế cổ xưa này. Những người chủ ngày càng thỏa hiệp với công nhân, và sau năm 1870, hầu hết các quốc gia đều hợp pháp hóa các công đoàn và các đảng xã hội, cho phép nam giới có quyền phổ thông đầu phiếu, và cung cấp một nền giáo dục phổ thông bắt buộc. Khi đồng lương tăng, một số chính phủ áp dụng những chính sách tiết kiệm dành cho người hưu trí, các chương trình y tế công cộng, và bảo hiểm thất nghiệp. Đổi lại, người lao động đồng ý phục vụ đất nước trong quân đội và hải quân; nói cho cùng, với nhiều thứ để bảo vệ như thế, ai lại không sẵn sàng chiến đấu cơ chứ?

Sự mở rộng tự do đã gặm nhấm ngay cả những định kiến cổ xưa nhất. Trong gần 2.000 năm, người Ki-tô giáo bức hại người Do Thái và những người tin theo Chúa Jesus theo cách thức không phù hợp, nhưng rồi đột nhiên mọi đức tin của những người khác xem ra là chuyện riêng của họ, và hiển nhiên không có lý do gì để ngăn cản họ sở hữu tài sản hoặc đi bầu. Thực ra, với những chỉ số phát triển ngày càng tăng, đức tin dường như không còn là một vấn đề nữa, và những tín điều mới như chủ nghĩa xã hội, thuyết tiến hóa, và chủ nghĩa quốc gia đã lấp đầy những nơi mà tôn giáo lâu nay vẫn nắm giữ. Và như thể việc hạ bệ Thiên Chúa còn chưa đủ, thiên kiến kiên định nhất cho rằng mọi phụ nữ đều thấp kém cũng bị tấn công. J. S. Mill viết như sau: “Nguyên tắc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội hiện tại giữa hai giới tính – sự phụ thuộc về mặt pháp lý của một giới tính đối với giới tính kia – là một sai lầm từ nội tại và giờ đây là một trong những trở ngại chính đối với sự tiến bộ của nhân loại, không một nô lệ nào là một nô lệ trọn vẹn, và theo ý nghĩa đầy đủ của từ này, như một người vợ.”❖

Phim ảnh và tiểu thuyết thường phô diễn thời đại Victoria như một thế giới ấm cúng của đèn nến, của những gia đình sung túc, và những con người luôn biết rõ vị thế của họ, nhưng người đương thời trải nghiệm nó khác nhau. Marx và Engels nghĩ rằng phương Tây thế kỷ XIX “giống như một phù thủy không còn khả năng kiểm soát những thế lực cõi âm mà ông ta dùng thần chú triệu hồi lên.”❖ Nghệ sĩ và trí thức say sưa với điều này, những người bảo thủ thì cố gắng đề kháng. Các nhà thờ thì chống lại (một số thô thiển, một số tinh vi) chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa vật chất và khoa học; những quý tộc sở hữu đất đai thì bảo vệ đặc quyền đặc lợi theo thứ bậc của họ; đồng thời chủ thuyết bài Do Thái và chế độ nô lệ lại rục rịch ngóc đầu trở lại, đôi khi ẩn sau những tấm mặt nạ mới. Những cuộc đối đầu có thể biến thành bạo lực; Marx và Engels thực ra chỉ kết hợp những ý tưởng đó vào Bản Tuyên ngôn Cộng sản năm 1848 vì các cuộc cách mạng đang làm rung chuyển hầu hết các quốc gia châu Âu vào năm đó và giờ tận thế dường như đang ở trong tầm tay.

Xã hội phương Tây nhanh chóng rơi vào các đặc điểm mà gần đây là năm 1750 khiến nó rất giống phương Đông. Và như thông lệ, không có gì phơi bày điều này rõ ràng như tiểu thuyết. Sẽ vô ích nếu muốn tìm trong văn học Trung Hoa đầu thế kỷ XIX kiểu nhân vật nữ đầy tự tin vốn đầy rẫy trong những trang tiểu thuyết ở châu Âu. Thứ gần nhất với một phản kháng về sự nô dịch của phụ nữ chỉ có thể là tác phẩm trào phúng kỳ lạ Kính Hoa Duyên của Lý Nhữ Trân (Li Ruzhen), trong đó một thương nhân buộc phải đổi giới tính, thậm chí đến mức phải bỏ chân. [Lý Nhữ Trân diễn tả như sau: “Bàn chân anh ấy bị mất đi hình dạng ban đầu, máu và thịt bị vắt nhão… phần còn lại trên bàn chân chỉ còn xương và da khô bị co lại ở một kích cỡ nhỏ nhắn”❖]. Khó mà tìm ra được một nhân vật nam chính dễ biến đổi như trên trong các tác phẩm của Dickens, kể cả những nhân vật tự thành đạt của Samuel Smiles cũng còn hiếm thấy. Phong cách như trong cuốn tự truyện đầy đau khổ Phù Sinh Lục Ký của Thẩm Phục (Shen Fu) – lãng mạn và đầy cảm xúc, nhưng bị nghiền nát bởi một hệ thống tôn ti trật tự cứng nhắc – lại phổ biến hơn.

Tuy vậy, điều thực sự mới mẻ về phương Tây chính là nó càng tăng tốc và chạy đua theo những con đường hoàn toàn không giống với phần còn lại trên thế giới đang lững thững dạo bước, thì nó càng buộc phần còn lại này phải đi theo hướng của nó cùng với nhịp độ điên cuồng. Thị trường không thể ngủ yên; nó phải bành trướng, tích hợp hoạt động ngày càng nhiều hơn, nếu không, con thú công nghiệp thèm khát sẽ chết. Chất acid tự do gây xói mòn của phương Tây đã nuốt trọn các rào cản bên trong các xã hội cùng những rào cản giữa các xã hội này, và không một phong tục tập quán hay chỉ dụ hoàng đế nào có thể bảo toàn được thứ trật tự cổ xưa đã từng áp chế Thẩm Phục. Đó là một thế giới, dù bạn có sẵn sàng chấp nhận hay chưa.

Tàu hơi nước Nemesis

Toàn cầu hóa đã khai mở bí mật của thời đại – rằng trong thế giới mới này, nói phương Tây chỉ dẫn đầu thế giới về phát triển xã hội là vô lý. Trong hàng nghìn năm, các vùng lõi nông nghiệp ban đầu phần lớn đã phát triển độc lập ở một số nơi trên hành tinh, nhưng xu thế phát triển xã hội dần dần biến đổi vị trí địa lý và liên kết các vùng lõi của thế giới lại với nhau.

Ngay ở thế kỷ XVI, các loại tàu thuyền mới đã giúp người châu Âu thống trị thổ dân Aztec và Inca, biến các vùng lõi độc lập trước đây của Tân Thế giới thành một vùng ngoại vi cách xa phương Tây đang mở rộng. Vào thế kỷ XVIII, người châu Âu bắt đầu biến vùng lõi Nam Á thành một vùng ngoại vi như thế, và ở thế kỷ XIX, tàu chạy bằng hơi nước, đường sắt và điện báo đã cho phép Tây phương tiếp cận toàn thế giới để chuyển đổi vị trí địa lý một lần nữa. Nước Anh, siêu cường của phương Tây, có thể áp đặt ý chí của nó ở bất cứ đâu trên hành tinh này, và khi người phương Tây thu được nhiều năng lượng hơn từ môi trường, thì họ biến tỉ lệ thu nạp này sang quy mô chiến tranh tăng vọt. Thu nạp năng lượng của phương Tây tăng gấp 2,5 lần từ năm 1800 đến năm 1900, nhưng năng lực quân sự của nó lại tăng gấp 10 lần. Cuộc cách mạng công nghiệp đã biến sự dẫn đầu của phương Tây trong phát triển xã hội thành sự thống lĩnh của phương Tây.

Do đó, điều đáng quan ngại là các cường quốc phương Đông đã chọn cách lờ đi điều này bằng cách hạn chế thương nhân phương Tây đến những vùng đất nhỏ bé ở Quảng Châu và Nagasaki. Như tôi đã đề cập ở Chương 9, khi sứ đoàn Anh do Bá tước Macartney dẫn đầu đến Bắc Kinh năm 1793 để đòi Trung Hoa mở cửa thị trường, Hoàng đế Càn Long đã dứt khoát cự tuyệt – mặc dù, như Macartney đã nhận xét gay gắt trong nhật ký của ông, thường dân Trung Hoa “tất cả đều buôn bán bất hợp pháp, và có vẻ như ở các cảng biển nơi chúng tôi dừng lại không có gì làm họ vui mừng hơn việc được thấy tàu bè của chúng ta thường xuyên ghé cảng của họ.”❖

Vào thập niên 1830, mọi chuyện trở nên căng thẳng. Suốt trong ba thế kỷ, các thương nhân phương Tây chỉ đi thuyền đến Quảng Châu để đổi bạc, thứ duy nhất họ có mà các quan lại Trung Hoa rất ưa chuộng, lấy trà và lụa. Vào thập niên 1780, mỗi năm có đến gần 700 tấn bạc phương Tây chảy vào Quảng Châu. Tuy nhiên, công ty Đông Ấn của Anh đã phát hiện rằng dù giới quan lại có nói gì chăng nữa, thì cũng có rất nhiều người Trung Hoa đam mê thuốc phiện, loại thuốc diệu kỳ trồng ở Ấn Độ. Những nhà buôn phương Tây (đặc biệt là người Anh) liền thúc đẩy việc buôn loại thuốc này; đến năm 1832, thuốc phiện dồn vào Quảng Châu – gần 12 tấn – đủ để phục vụ hai đến ba triệu người nghiện quanh năm (Hình 10.5). Việc chi trả cho chất ma tuý này đã khiến dòng chảy của bạc đổ vào Trung Hoa thất thoát ròng gần 400 tấn. Số lượng này đồng nghĩa với rất nhiều thuốc phiện và cũng rất nhiều tiền.

Hình 10.5. Chỉ để xác thực: Số lượng thuốc phiện của công ty Đông Ấn bán ra tăng vọt ở Quảng Châu, năm 1730-1832.

Các nhà buôn cho rằng thuốc phiện “đơn giản chỉ dành cho tầng lớp thượng lưu trong xã hội Trung Hoa, cũng như rượu brandy và sâm-panh đối với giai cấp thượng lưu ở Anh,”❖ nhưng điều đó không đúng, và họ cũng biết thế. Thuốc phiện để lại dấu vết trên những mảnh đời tan vỡ cũng u sầu như những gì xảy ra bên trong các thành phố lớn ngày nay. Nó cũng làm hại nông dân, những người thậm chí chưa bao giờ nhìn thấy bàn đèn thuốc phiện, do dòng bạc thất thoát vào tay các ông vua thuốc phiện làm tăng giá trị của kim loại này, buộc nông dân phải bán nhiều hoa màu để thu gom bạc trả thuế. Vào năm 1832, thuế má cao gấp hai lần so với 50 năm trước.

Một số cận thần của Hoàng đế Đạo Quang đã đề xuất một giải pháp thị trường bất kể đạo lý: hợp pháp hóa thuốc phiện để cây anh túc trồng tại chỗ giúp cắt giảm hàng nhập khẩu từ người Anh, khống chế sự thất thoát bạc đồng thời cũng tăng doanh thu từ thuế. Nhưng Đạo Quang là một nhà Nho học thuần thành, nên thay vì nhượng bộ những thúc hối thiếu đạo đức của thần dân, ông lại muốn cứu vớt họ. Năm 1839, ông tuyên chiến với thuốc phiện.

Tôi đã có vài lời về cuộc Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất trong phần giới thiệu. Lúc đầu mọi việc tiến triển tốt. Viên khâm sai đại thần của Đạo Quang tịch thu hàng tấn thuốc phiện, đốt cháy rồi đổ xuống biển (sau khi viết một bài thơ cổ phong tạ lỗi thần biển vì trót làm ô nhiễm vương quốc của ông ta). Nhưng sau đó sự việc diễn tiến xấu đi. Viên ủy viên thương mại Anh nhận thấy ở nơi nào mà phép thuật của thị trường không hiệu quả thì phép thuật của súng ống lại hiệu quả hơn, thế nên ông ta lôi kéo bên quê nhà, vốn còn lừng khừng, vào một cuộc chiến bắn phá với Trung Hoa.

Điều tiếp theo là một sự thể hiện sức mạnh chiến tranh thời đại công nghiệp gây chấn động. Vũ khí bí mật của Anh là Nemesis, một chiếc tàu hơi nước được chế tạo thuần bằng sắt mới xuất xưởng. Ngay cả Hải quân Hoàng gia cũng có những lời lẽ dè dặt về một vũ khí được đổi mới triệt để đến thế; như thuyền trưởng con tàu thừa nhận, chỉ _“phần nổi_ bằng gỗ, không kể gì đến hình dáng và kiểu cách, là vật liệu tự nhiên nhất để đóng tàu, nhưng phần chìm bằng sắt nên ngay khi nhìn thấy con tàu, trông nó khó thích nghi cho một mục đích tương tự.”❖

Những lo lắng này có vẻ xác đáng. Thân tàu bằng sắt làm la bàn không sử dụng được; tàu Nemesis thậm chí còn va phải một mỏm đá trước khi rời Anh; và gần như bị vỡ đôi ngoài khơi mũi Hảo Vọng. Chỉ bằng cách chạy nghiêng mạn tàu trong một trận bão dữ dội và kẹp những tấm gỗ và sắt thừa vào mạn tàu, thuyền trưởng mới giữ cho nó nổi được. Nhưng khi đến được Quảng Châu thì tất cả đã được bỏ qua. Tàu Nemesis sống lại như cái tên của nó, chạy ngược theo dòng nước nông, vốn không tàu gỗ nào có thể qua được, và thổi tung mọi tàu địch thành mảnh vụn.

Năm 1842, tàu chiến của Anh phong tỏa Đại Vận Hà, đẩy Bắc Kinh đến bờ vực đói kém. Tổng đốc Kỳ Anh, người chịu trách nhiệm đàm phán hòa bình, bảo đảm với vị hoàng đế rằng ông vẫn có thể “vượt qua những vấn đề nhỏ bé này để đạt được kế hoạch lớn hơn của chúng ta,”❖ nhưng trong thực tế ông đã chuyển giao cho người Anh – sau đó là người Mỹ, rồi người Pháp, và các nước phương Tây khác – quyền tiếp cận các cảng Trung Hoa theo yêu cầu của họ. Và khi sự thù địch của Trung Hoa đối với những con quỷ nước ngoài này (Hình 10.6) khiến những nhượng bộ này ít lợi ích hơn so với mong đợi, người phương Tây đã gây áp lực để được nhiều hơn.

Hình 10.6. Bất đồng văn hóa: một bản phác họa của người Trung Hoa vẽ một thủy thủ người Anh đang thở ra lửa, năm 1839.

Người phương Tây cũng kèn cựa nhau do sợ rằng việc một đối thủ thương mại đạt được một số nhượng bộ sẽ khiến thương nhân của họ mất đi những thị trường mới. Năm 1853 sự ganh đua của họ lan sang Nhật Bản. Phó Đô đốc Matthew Perry cho tàu hơi nước vào Vịnh Edo và yêu cầu được quyền cho các tàu Mỹ đến Trung Hoa tiếp nhiên liệu đó. Ông chỉ mang theo bốn chiếc tàu hiện đại, nhưng hỏa lực của chúng còn mạnh hơn tất cả súng ống ở Nhật Bản gom lại. Các con tàu của ông là “những lâu đài di chuyển tự do trên vùng biển,” một nhân chứng kinh ngạc nhận xét. “Những gì chúng tôi cho là một đám cháy lớn trên biển hóa ra là khói đen tỏa ra từ ống khói của chúng.”❖ Nhật Bản cho phép người Mỹ có quyền buôn bán ở hai hải cảng của họ; nước Anh và nước Nga liền nhanh chóng yêu cầu, và cũng nhận được sự chấp thuận tương tự.

Mánh khóe để giành vị trí không dừng lại ở đó. Trong một phụ lục của hiệp ước năm 1842 với Trung Hoa, những luật sư Anh đã đưa ra một quan hệ pháp lý mới, tối huệ quốc (most favored nation), có nghĩa là nếu Trung Hoa ban tặng điều gì cho một đất nước phương Tây khác, nó cũng phải được ban tặng cho nước Anh. Hiệp ước mà Hoa Kỳ ký kết với Trung Hoa năm 1843 cũng bao gồm một điều khoản cho phép tái thương thảo sau 12 năm, do đó vào năm 1854 các nhà ngoại giao Anh cũng tuyên bố có quyền tương tự. Nhà Thanh trì hoãn nên nước Anh gây chiến trở lại.

Ngay cả Nghị viện Anh cũng cho rằng điều này là hơi quá đáng nên chỉ trích thủ tướng Palmerston; chính phủ của ông bị đổ, nhưng cử tri đã bầu ông trở lại với đa số phiếu gia tăng. Năm 1860, Anh và Pháp chiếm Bắc Kinh, đốt cháy Di Hòa Viên, và gửi Looty về Balmoral. Không chịu để vượt mặt trong việc tái thương lượng, tổng lãnh sự Mỹ uy hiếp Nhật Bản phải ký một hiệp định mới bằng cách dọa rằng khả năng lựa chọn chỉ giúp các tàu Anh mở đường cho thuốc phiện tràn vào đất nước này.

Phương Tây thống lĩnh thế giới như một tượng đài khổng lồ vào năm 1860, có vẻ như nó đã đạt đến mức không còn giới hạn nào. Vùng lõi phương Đông cổ xưa, chỉ một thế kỷ trước đây hãnh diện là vùng có phát triển xã hội cao nhất thế giới, giờ đang trở thành khu vực ngoại biên mới cho vùng lõi phương Tây, giống như các vùng lõi cũ ở Nam Á và châu Mỹ; và Bắc Mỹ, bây giờ là vùng định cư đông đúc của người châu Âu, đang tự mình phát triển vùng lõi của nó. Để đáp ứng việc tái sắp xếp vị trí địa lý rộng lớn này, người châu Âu tiếp tục mở rộng biên giới. Tàu hơi nước của họ đem theo bệnh dịch trắng, người định cư, tới Nam Phi, Australia và New Zealand, và trở về với các khoang đầy ắp ngũ cốc và cừu. Châu Phi, phần lớn vẫn còn là một vùng trống trên bản đồ phương Tây vào cuối năm 1870, thì gần như hoàn toàn nằm dưới sự thống trị của châu Âu vào năm 1900.

Nhìn lại thời điểm này, vào năm 1919, nhà kinh tế học John Maynard Keynes nhớ lại chúng như một thời hoàng kim khi

đối với… các tầng lớp trung lưu và thượng lưu phương Tây, cuộc sống cung cấp, với chi phí thấp và ít phiền hà nhất, những tiện lợi, tiện ích và tiện nghi vượt tầm những vị vua giàu có và quyền lực nhất mọi thời đại. Người dân London có thể đặt hàng qua điện thoại, nhấm nháp bữa trà sáng trên giường, các sản phẩm khác nhau trên toàn thế giới… và chờ nhận hàng sớm ngay trước cửa nhà; anh ta có thể cùng lúc và cùng tiềm lực đầu cơ tài sản của mình vào những tài nguyên thiên nhiên và các doanh nghiệp mới ở bất kỳ nơi nào trên thế giới;… Anh ta có thể kiếm được ngay lập tức, nếu muốn, phương tiện vận chuyển giá rẻ và tiện lợi đến bất kỳ quốc gia hoặc vùng khí hậu nào mà không cần hộ chiếu hay bất kỳ thủ tục nào khác… và sau đó có thể ra nước ngoài để đến các miền xa lạ mà không cần có hiểu biết về tôn giáo, ngôn ngữ, hay phong tục tập quán ở những nơi đó, chỉ cần đem theo một số tiền lớn trong túi, đồng thời cho là mình bị tổn thương nặng nề và ngạc nhiên vì quá ít sự phiền hà.

Nhưng đối với tiểu thuyết gia Joseph Conrad thì mọi điều trông khác đi sau khi ông dành phần lớn năm 1890 ở lưu vực sông Congo. “Việc chinh phục trái đất, chủ yếu là cướp nó khỏi tay những người có màu da khác hay mũi tẹt hơn chúng ta không phải là một điều tốt đẹp khi bạn nhìn kỹ lại,”❖ ông nhận xét trong tác phẩm kinh điển Heart of Darkness (Giữa lòng tăm tối) của mình.

Congo rõ ràng là một trường hợp cực đoan: Vua Leopold nước Bỉ nắm giữ nó như tài sản cá nhân của mình và trở thành tỉ phú bằng cách tra tấn, xâm hại và giết chết năm triệu người Congo hay hơn thế để buộc những người còn lại cung cấp cao su và ngà voi cho ông. Tuy nhiên, điều này không phải là duy nhất. Ở Bắc Mỹ và Australia, những người định cư da trắng hầu như cũng tận diệt những người bản địa, và một số nhà sử học đổ lỗi cho chủ nghĩa đế quốc châu Âu đã biến những đợt gió mùa yếu ớt vào các năm 1876-1879 và 1896-1902 thành thảm họa. Mặc dù mùa màng thất bát, các chủ đất vẫn duy trì xuất khẩu thực phẩm sang các thị trường phương Tây, và từ Trung Hoa đến Ấn Độ, rồi Ethiopia đến Brazil, sự thiếu ăn đã trở thành nạn đói. Kiết lỵ, đậu mùa, dịch tả, và bản thân Cái Chết Đen thức tỉnh trở lại, cướp đi sinh mạng khoảng 50 triệu người. Một số người phương Tây quyên góp viện trợ cho những con người đói ăn; một số thì vờ như không có gì xảy ra; và một số khác, theo Tạp chí The Economist, càm ràm rằng việc cứu tế nạn đói chỉ dạy cho những người đói ăn một bài học là “nhiệm vụ của Chính phủ là giữ cho họ được sống.”❖ Nên ta cũng không lấy gì làm ngạc nhiên khi tiếng thì thào lúc hấp hối của ông Kurtz, một thiên tài độc ác đã tạo ra vương quốc riêng cho mình trong rừng rậm, cũng là tấm văn bia cho chủ nghĩa đế quốc châu Âu, như Conrad đã khắc họa, là: “Nỗi kinh hoàng! Nỗi kinh hoàng!”❖⦾

Phương Đông tránh được những điều tồi tệ nhất, nhưng vẫn chịu sự thất bại, sỉ nhục và bóc lột từ những bàn tay phương Tây. Trung Hoa và Nhật Bản phân rã khi đội ngũ các nhà ái quốc pha tạp, những nhà bất đồng chính kiến, và đám tội phạm, đổ lỗi cho những chính phủ của mình về mọi thứ, đồng loạt nắm lấy vũ khí. Những kẻ cuồng tín tôn giáo và dân quân giết hại những người phương Tây đi rải rác bên ngoài các khu vực có công sự bảo vệ của họ, trong khi giới quan lại vẫn nhân nhượng những kẻ xâm lấn; hải quân phương Tây bắn phá các thành phố ven biển để trả đũa; còn các phe phái kình địch lại sử dụng con bài phương Tây để chống phá nhau. Vũ khí châu Âu tràn ngập Nhật Bản, nơi một phe phái do Anh hậu thuẫn đã lật đổ chính phủ hợp pháp vào năm 1868. Cuộc nội chiến ở Trung Hoa đã cướp đi 20 triệu sinh mạng trước khi các nhà tài phiệt phương Tây cho rằng việc thay đổi chế độ sẽ làm tổn thương đến lợi nhuận, và đội Thường Thắng Quân⦾ do các sĩ quan Mỹ và Anh chỉ huy và chiến hạm đã giúp giải cứu nhà Thanh.

Người phương Tây bày biểu các chính phủ phương Đông những điều cần làm, nắm giữ tài sản, và cài cắm cố vấn trong mọi phòng họp hội đồng chính phủ. Nên không có gì ngạc nhiên khi giá biểu thuế quan đối với hàng nhập khẩu của phương Tây và giá cả hàng hóa cung ứng cho phương Tây luôn ở mức thấp. Đôi khi tiến trình này cũng khiến người phương Tây bất mãn. Tổng thống Ulysses S. Grant bày tỏ với hoàng đế Nhật Bản năm 1879 như sau: “Tôi đã chứng kiến những thứ làm máu tôi sôi lên vì lề thói các cường quốc châu Âu làm suy thoái những nước châu Á.”❖

Tuy nhiên, đa số người phương Tây kết luận rằng mọi thứ đều xảy ra như một tất yếu, và phản bác một bối cảnh sụp đổ cho phương Đông, khiến những lý thuyết chốt khóa về sự thống lĩnh của phương Tây thêm phần kiên định. Trong khi đó phương Đông, với các vị hoàng đế đồi bại, giới sĩ phu chỉ biết khom lưng uốn gối, và hàng tỉ phục dịch đói khổ, có vẻ như luôn bị đặt định phải chịu khuất phục trước một phương Tây năng động. Thế giới dường như đang tiến đến hình thái tất định cuối cùng.

Cuộc chiến của phương Đông

Những con người đầy tự mãn bênh vực các lý thuyết chốt khóa dài hạn ở thế kỷ XIX đã bỏ qua một điều quan trọng – logic của chủ nghĩa đế quốc định hướng thị trường của riêng chúng. Cũng như khi thị trường dẫn dắt các nhà tư bản Anh xây dựng cơ sở hạ tầng công nghiệp cho các đối thủ tồi tệ nhất của họ ở Đức và Hoa Kỳ, bây giờ nó lại ban thưởng cho người phương Tây đổ vốn liếng, phát minh và kiến thức thực tiễn vào phương Đông. Người phương Tây mưu đồ lợi ích riêng cho mình bất kỳ lúc nào có thể, nhưng việc không ngừng đổ nguồn vốn hầu tìm kiếm lợi nhuận cũng tạo cơ hội cho người phương Đông sẵn sàng nắm bắt.

Tốc độ nắm bắt của người phương Đông quả là đáng kinh ngạc. Vào thập niên 1860, các trào lưu tự cường của Trung Hoa và văn minh và tỉnh thức của Nhật Bản hình thành, sao chép những gì họ thấy là tốt nhất của phương Tây, dịch các sách phương Tây về khoa học, chính phủ, luật pháp và y học sang tiếng Trung và tiếng Nhật, đồng thời gửi nhiều phái đoàn sang phương Tây để học hỏi. Người phương Tây đổ xô bán các tiện ích mới nhất của mình cho người phương Đông, và rồi những Gradgrind ở Trung Hoa và Nhật Bản nhanh chóng làm ô nhiễm nông thôn bằng các nhà máy.

Về mặt nào đó, điều này không có gì phải ngạc nhiên. Khi người phương Đông nắm bắt được các công cụ giúp đẩy mạnh phát triển xã hội phương Tây, họ đã lập lại điều mà người phương Tây đã làm sáu thế kỷ trước đó với các công cụ phương Đông như la bàn, gang thép và súng. Nhưng mặt khác thì lại rất đáng ngạc nhiên. Phản ứng của phương Đông đối với sự thống lĩnh của phương Tây rõ ràng khác với những phản ứng tại các vùng lõi trước đó ở Tân Thế giới và Nam Á vốn được gắn kết như các vùng ngoại vi của phương Tây ba thế kỷ trước.

Người Mỹ bản địa không bao giờ phát triển các ngành công nghiệp bản địa và người Nam Á lại chậm hơn nhiều so với người Đông Á. Một số nhà sử học cho rằng chính văn hóa giải thích điều này, cho rằng trong khi văn hóa phương Tây khuyến khích công việc và tính hợp lý, thì văn hóa Đông phương chỉ làm thế một cách yếu ớt, và nền văn hóa Nam Á thậm chí còn ít hơn, và các nền văn hóa khác thì lại không hề. Nhưng di sản của các tư tưởng thực dân này không đúng.

Khi nhìn vào những phản ứng với sự thống lĩnh của phương Tây trong phạm vi một khung thời gian dài hơn, thực ra chúng ta sẽ thấy hai mối tương quan nổi bật. Đầu tiên, những khu vực có sự phát triển xã hội tương đối cao trước khi có sự thống lĩnh của phương Tây, như ở vùng lõi phương Đông, có khuynh hướng tự công nghiệp hóa nhanh hơn những vùng có điểm số phát triển tương đối thấp; thứ hai, những khu vực tránh được sự xâm chiếm trực tiếp của châu Âu có xu hướng công nghiệp hóa nhanh hơn so với những vùng đã trở thành thuộc địa. Nhật Bản có phát triển xã hội cao trước năm 1853 và không bị xâm chiếm; sự hiện đại hóa của nó diễn ra vào thập niên 1970. Trung Hoa có phát triển cao và được xem là thuộc địa phần nào và sự hiện đại hóa diễn ra vào thập niên 1950. Ấn Độ có sự phát triển vừa phải và đã hoàn toàn là thuộc địa; sự hiện đại hóa của nó mãi đến thập niên 1990 mới bắt đầu cất cánh. Còn châu Phi vùng Hạ Sahara phát triển thấp và là một vùng thuộc địa đầy đủ, và chỉ mới bắt đầu bắt kịp.

Do phương Đông ở thế kỷ XIX (theo các chuẩn mực tiền công nghiệp) là một thế giới nông nghiệp tiên tiến, có các thành phố lớn, người dân biết chữ rộng rãi và quân đội hùng mạnh, nên nhiều cư dân tìm các phương cách để thích ứng với phương pháp phương Tây. Người phương Đông thậm chí cũng bắt chước các tranh luận của phương Tây về chủ nghĩa công nghiệp. Mỗi nhà tư bản phương Đông, đều có một samurai già cỗi luôn càu nhàu “Tuy vẻ đẹp vô dụng vẫn có một vị thế trong cuộc sống cũ, nhưng cái mới chỉ yêu cầu sự hữu ích xấu xí,”❖ và mặc dù tiền lương thực sự ở các thành phố vẫn đang tăng vào thập niên 1900, những người Trung Hoa và Nhật Bản bất mãn vẫn nhiệt thành xây dựng các đảng xã hội. Đến năm 1920, một trong các thành viên của họ có cả chàng trai trẻ Mao Trạch Đông.

Các cuộc tranh cãi ở phương Đông về công nghiệp hóa lại có khác biệt ở mỗi quốc gia. Cũng như những gì đã xảy ra ở phương Tây, những nhân vật vĩ đại, những kẻ ngốc nghếch, nền văn hóa hay sự may mắn thầm lặng đóng góp rất ít hay không làm gì để ngăn chặn nền công nghiệp cất cánh một khi khả năng này xuất hiện, nhưng – cũng tương tự như phương Tây – những thế lực này có đủ mọi điều kiện để quyết định đất nước mình đi theo đường hướng của quốc gia nào.

Khi W. S. Gilbert và Arthur Sullivan trình diễn vở hài kịch The Mikado ở London năm 1885, họ xem Nhật Bản là khuôn mẫu Đông phương kỳ lạ, một kiểu đất nước nơi những chú chim nhỏ chết vì tình yêu và những kẻ xử tử các lãnh chúa phải chặt đầu của họ. Dù vậy trong thực tế Nhật Bản đã công nghiệp hóa nhanh hơn bất kỳ xã hội nào trước đó trong lịch sử. Khéo léo giật dây vị hoàng đế trẻ mới được đưa lên ngôi vào năm 1868 sau cuộc nội chiến, các nhà điều hành đất nước sáng suốt ở Tokyo cố gắng tránh chiến tranh với các cường quốc phương Tây, cung cấp tài chính để kỹ nghệ hóa phần lớn từ nguồn vốn trong nước, và ngăn chặn những người giận dữ khiêu khích tấn công người nước ngoài. Ngược lại, các nhà điều hành vụng về ở Bắc Kinh lại dung dưỡng, thậm chí khuyến khích bạo lực chống lại các nhà truyền giáo, đồng thời sai lầm gây ra chiến tranh với Pháp vào năm 1884 (mất hầu hết các hạm đội mới của họ chỉ trong một giờ), rồi phải vay mượn – và tham nhũng – trên quy mô tàn phá.

Giới tinh hoa Nhật Bản đối mặt với thực tế tự do hóa là một thỏa thuận trọn gói. Họ đội mũ cao hay mặc váy phồng; một số đề nghị sử dụng mẫu tự Latin, số khác lại muốn người Nhật Bản nói tiếng Anh. Họ sẵn sàng xem xét bất kỳ điều gì có thể làm việc. Tuy nhiên, các nhà cai trị nhà Thanh ở Trung Hoa lại ở tình trạng phe phái. Trong 46 năm, Từ Hy Thái hậu thay chồng buông màn cai trị đất nước, chống lại bất kỳ sự hiện đại hóa nào có thể gây nguy hiểm cho triều đại của mình. Cám dỗ duy nhất của bà với những ý tưởng phương Tây là dùng kinh phí xây dựng lại hạm đội để đóng một con thuyền cẩm thạch giống như những con thuyền chạy bằng guồng trên dòng Mississippi đặt trong Di Hòa Viên của mình (hiện vẫn còn ở đó và rất đáng thưởng ngoạn). Khi cháu trai của bà, Hoàng đế Quang Tự (Guangxu), thúc đẩy một chương trình cải cách 100 ngày vào năm 1898 (sắp xếp lại guồng máy hành chính, cập nhật các kỳ thi, lập trường học và trường cao đẳng hiện đại, phối hợp sản xuất trà và tơ lụa để xuất khẩu, thúc đẩy khai mỏ, mở đường sắt, đồng thời Tây hóa quân đội và hải quân), Từ Hy liền ra cáo thị rằng Quang Tự yêu cầu bà trở lại làm nhiếp chính, sau đó nhốt vị hoàng đế này trong cung và xử tử các đại thần chủ trương hiện đại hóa. Quang Tự vẫn là một nhà cải cách cho đến cuối cuộc đời cay đắng của mình, bị đầu độc bằng chất arsen khi Từ Hy đã nằm trên giường bệnh vào năm 1908.

Trong khi Trung Hoa bị vấp ngã khi hướng đến hiện đại hóa thì Nhật Bản lại tăng tốc. Năm 1889, Nhật Bản công bố hiến pháp cho phép những người giàu quyền bỏ phiếu, thành lập các đảng phái chính trị phong cách phương Tây, và tạo ra các bộ trưởng chính phủ hiện đại. Còn Trung Hoa chỉ phê chuẩn hiến pháp khi Từ Hy Thái hậu đã hấp hối, cho phép nam giới được quyền bỏ phiếu nhưng hạn chế, vào năm 1909; trong khi đó Nhật Bản đã ưu tiên cho nền giáo dục phổ cập. Đến năm 1890, ⅔ số bé trai và ⅓ bé gái ở Nhật Bản được học tiểu học miễn phí, trong khi Trung Hoa hầu như chưa làm gì để giáo dục quần chúng. Cả hai quốc gia đều đặt đường sắt đầu tiên vào năm 1876, nhưng viên Toàn quyền ở Thượng Hải lại cho gỡ bỏ đường ray vào năm 1877 vì sợ phiến quân sử dụng chúng. Năm 1896, Nhật Bản đã có 3.700km đường sắt trong khi Trung Hoa chỉ có 595km. Nhiều chuyện tương tự cũng xảy ra với các ngành luyện kim, than, hơi nước hay điện báo.

Xuyên suốt lịch sử, việc mở rộng những vùng lõi thường đặt ra các cuộc chiến tranh khốc liệt ở các vùng ngoại vi để quyết định phần nào của vùng rìa dẫn đến sự đề kháng (hoặc đồng hóa) với các đế chế lớn. Chẳng hạn vào thiên niên kỷ thứ nhất TCN, Athens, Sparta, và Macedon gây chiến tranh ở các vùng rìa thuộc Đế quốc Ba Tư trong suốt một thế kỷ rưỡi; và các tiểu quốc Sở, Ngô, và Việt cũng làm điều tương tự ở miền Nam Trung Hoa khi vùng lõi ở thung lũng Hoàng Hà phát triển. Đến thế kỷ XIX, tiến trình này lại tái lập khi phương Đông trở thành một vùng ngoại vi của phương Tây.

Kể từ khi nỗ lực nhằm chinh phục Trung Hoa của Nhật Bản vào thập niên 1590 bị thất bại, các nhà cai trị ở vùng lõi phương Đông cho rằng chi phí chiến tranh giữa các nước còn nặng nề hơn cả những lợi ích, nhưng việc người phương Tây xuất hiện đã làm thay đổi điều này. Bất kỳ đất nước phương Đông nào nếu được công nghiệp hóa, tái tổ chức, và tái vũ trang nhanh nhất thì không những có khả năng tránh được nguy cơ từ các đế quốc phương Tây mà còn khắc chế được phần còn lại của phương Đông.

Chính nền công nghiệp hóa của Nhật Bản, chứ không phải những chiếc tàu chiến Anh, mới là kẻ trừng phạt tối hậu của Trung Hoa. Nhật Bản thiếu tài nguyên trong khi Trung Hoa lại phong phú. Nhật Bản cần thị trường trong khi đất nước Trung Hoa lại rộng lớn. Những tranh cãi ở Tokyo về những gì cần làm gây ra lắm giận dữ, thậm chí cả giết chóc, nhưng qua hai thế hệ, đất nước này dần dần buộc phải dùng vũ lực để thâm nhập vào tài nguyên và thị trường Trung Hoa. Đến thập niên 1930, các quan chức hiếu chiến nhất của Nhật Bản quyết định chiếm toàn bộ vùng lõi phương Đông, biến Trung Hoa và vùng Đông Nam Á thành thuộc địa, và trục xuất các đế quốc phương Tây. Một cuộc chiến bắt đầu diễn ra ở phương Đông.

Hình 10.7. Hiểm họa Da vàng, một bản vẽ năm 1895 dựa trên một phác thảo của Hoàng đế Đức Wilhelm II, mà ông giải thích nhằm mục đích khuyến khích người châu Âu “đoàn kết để phòng ngừa sự xâm nhập của Phật giáo, các tà giáo và những kẻ man rợ, để bảo vệ cây Thập giá.”❖

Tuy nhiên, điều khác biệt lớn giữa cuộc chiến này ở phương Đông và chiến tranh ở phương Tây vào thế kỷ XVIII chính là chiến tranh của phương Đông diễn ra trong một thế giới mà phương Tây đã thống lĩnh. Điều này gây phức tạp đủ điều. Vì vậy, vào năm 1895, khi Nhật Bản quét sạch sức kháng cự của Trung Hoa nhằm ngăn trở bước tiến của họ ở Triều Tiên, Hoàng đế Wilhelm II của Đức đã phản ứng bằng cách gửi cho người anh em họ Sa hoàng Nicholas II của Nga một bản vẽ khá khủng khiếp gọi là Hiểm họa Da vàng (Hình 10.7), thúc giục vị Sa hoàng “khai thác lục địa châu Á và bảo vệ châu Âu khỏi sự xâm nhập của Đại chủng vàng.”❖ Nicholas hồi đáp bằng cách tịch thu phần lớn vùng đất mà Nhật Bản chiếm giữ từ tay Trung Hoa.

Tuy nhiên, các nước phương Tây khác lại thấy thuận lợi khi làm ăn với Nhật Bản, sử dụng thế lực đang phát triển của nước này để kiểm soát phương Đông giúp họ. Cơ hội đầu tiên là vào năm 1900, khi Nghĩa Hòa Đoàn (còn gọi là quyền phỉ), một hội kín Trung Hoa, nổi dậy chống chủ nghĩa đế quốc phương Tây (họ tin rằng chỉ luyện võ thuật trong 100 ngày là thành viên của tổ chức này không hề hấn gì khi bị đạn bắn). Phải mất đến 20.000 binh lính nước ngoài mới đàn áp được cuộc nổi dậy này, và mặc dù chúng ta không tìm thấy nguồn tư liệu nào từ phương Tây, nhưng hầu hết số lính này là của Nhật Bản (được nhắc đến trong bộ phim bom tấn Hollywood vào năm 1963 – 55 ngày ở Bắc Kinh). Nước Anh hài lòng với thành quả này đến nỗi vào năm 1902, đã ký một liên minh hải quân công nhận quyền lực của Nhật Bản ở phương Đông. Tự tin về tính trung lập của Anh, vào năm 1904, Nhật Bản rửa hận, đánh chìm hạm đội Viễn Đông của Nga và áp đảo quân đội Nga trong trận chiến lớn nhất trên đất liền. Khi Sa hoàng Nicholas gửi hạm đội chính của ông đi vòng qua Cựu Thế giới để lập lại trật tự về sức mạnh hiển nhiên của mình, hạm đội Nhật Bản cũng đánh chìm nốt hạm đội này tại eo biển Tsushima (eo Đối Mã).

Chỉ chưa đầy 50 năm trôi qua kể từ khi chú chó Looty được đưa đến London mà vùng lõi phương Đông cũ kỹ đã đáp trả một cách năng động đến mức có thể đánh bại một đế chế phương Tây. Aleksei Nikolaevich Kuropatkin, viên tướng chỉ huy quân đội Nga bị cách chức trong cuộc chiến Nga-Nhật, kết luận: “Những gì đã xảy ra… vào các năm 1904-1905 là cuộc đụng độ với một đội quân tiên tiến… Chỉ với một nhận thức chung rằng giữ cho châu Á được hòa bình là một điều quan trọng đối với tất cả châu Âu… giúp chúng ta kiểm soát không để hiểm họa da vàng đến gần.”❖ Nhưng châu Âu đã phớt lờ lời khuyên của ông ta.

Những cuộc chiến tranh thế giới

Từ năm 1914 đến 1991 vùng lõi phương Tây đã đụng độ với nhau ở các cuộc chiến tranh lớn nhất trong lịch sử: Thế chiến I, từ năm 1914 đến 1918, để xác định liệu Đức có tạo dựng một đế chế lãnh thổ châu Âu hay không; Thế chiến II, từ năm 1939 đến 1945, cũng cùng một câu hỏi như thế; và cuộc Chiến tranh Lạnh, từ năm 1947 đến 1991, để giải quyết việc phân chia vùng ảnh hưởng giữa Hoa Kỳ và Liên Xô (Hình 10.8). Tất cả đã thêm vào một cuộc chiến tranh mới của phương Tây, làm cho phiên bản thế kỷ XVIII trở nên nhỏ bé. Gộp thêm cuộc chiến ở phương Đông, nó đã làm 100 triệu người thiệt mạng, và đe dọa sự sinh tồn của loài người. Năm 1991, phương Tây vẫn thống lĩnh, nhưng dường như với nhiều người nỗi sợ bại trận của tướng Kuropatkin cuối cùng cũng trở thành sự thật: Phương Đông đã sẵn sàng để vượt qua nó.

Câu chuyện về cuộc Đại Chiến mới ở phương Tây nổ ra thường được kể lại là do sự suy thoái kéo dài của Đế quốc Ottoman đã khiến vùng Balkan đầy rẫy những tay khủng bố/chiến binh tự do; do mớ hỗn độn và sự xui rủi mà một băng đảng có tên Bàn Tay Đen (Black Hand) giết chết người kế vị ngôi vua của dòng tộc Habsburg ở Áo vào tháng 6 năm 1914 (quả bom do kẻ có khả năng là sát thủ ném ra đập vào chiếc xe của quận công nước Áo, khiến người tài xế rẽ nhầm đường, lùi xe và dừng lại ngay trước mặt sát thủ thứ hai, lần này không mắc sai lầm nữa); và làm thế nào một loạt các hiệp ước được hoạch định để duy trì nền hòa bình ở châu Âu lại cùng lôi kéo mọi thứ vào sự bế tắc.

Hình 10.8 Thế giới thời kỳ chiến tranh, 1914-1991. Màu xám thể hiện Hoa Kỳ và đồng minh khoảng năm 1980. Liên Xô và các đồng minh lớn được biểu hiện bằng các đường gạch chéo.

Những gì theo sau được phơi bày rõ ràng qua cách thức những quốc gia hiện đại hóa ở châu Âu huy động thanh niên trai trẻ nước mình với số lượng chưa từng thấy, vũ trang cho họ bằng các loại vũ khí chưa từng thấy và đẩy các nguồn lực to lớn của họ đến cuộc tàn sát cũng chưa từng thấy. Trước năm 1914, một số trí thức lập luận rằng cuộc chiến tranh giữa các cường quốc không thể xảy ra vì kinh tế thế giới bấy giờ đã liên kết với nhau đến mức nếu có chiến tranh nổ ra, tất cả các nước này sẽ sụp đổ, kết thúc mọi xung đột. Tuy nhiên, đến năm 1918, bài học này dường như lại cho thấy chỉ những quốc gia có thể khai thác hiệu quả các tiềm năng kinh tế lớn lao, phức tạp của mình mới có thể tồn tại qua các cuộc chiến tranh tổng lực ở thế kỷ XX.

Cuộc chiến dường như đã chỉ ra rằng lợi thế nằm ở các quốc gia tự do, dân chủ, mà công dân của họ đã hoàn toàn đồng lòng chiến đấu. Trở lại thiên niên kỷ thứ nhất TCN, người phương Đông và người phương Tây đều học được rằng các đế chế vương quyền là tổ chức hiệu quả nhất để tiến hành chiến tranh; bây giờ, chỉ trong khoảng thời gian một thập niên, tất cả lại biết rằng những đế chế vương quyền này – hình thức thống trị lâu dài nhất trong lịch sử, với một di sản không gián đoạn từ các đế quốc Assyria, Ba Tư và Tần – không còn phù hợp với chiến tranh nữa.

Đầu tiên là triều đại nhà Thanh ở Trung Hoa. Lâm vào tình cảnh khó khăn vì nợ nần, thất trận và hỗn loạn, các đại thần của vị hoàng đế nhỏ tuổi Phổ Nghi mất quyền kiểm soát quân đội vào năm 1911, nhưng khi viên tướng nổi loạn Viên Thế Khải tự xưng hoàng đế năm 1916 – như các vị tướng nổi loạn khác đã làm trong suốt 2.000 năm qua – ông ta thấy mình cũng không thể hàn gắn được đất nước. Một nhóm tướng lĩnh quân đội khôi phục lại triều đại Phổ Nghi vào năm 1917, nhưng cũng không có kết quả. Lịch sử vương triều Trung Hoa kết thúc vài ngày sau đó, nếu không bởi tiếng khóc thút thít của vị hoàng đế thiếu niên thì cũng bởi một tiếng nổ rất nhỏ: một chiếc máy bay thả một quả bom vào Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh, Phổ Nghi lại bị phế truất, và đất nước này rơi vào tình trạng vô chính phủ.

Tiếp đó là triều đại Romanov của Nga. Việc bị Nhật Bản đánh bại vào năm 1905 gần như lật đổ chế độ của Nga hoàng Nicholas, và Thế chiến I đã kết thúc điều này. Năm 1917, những người theo chủ nghĩa tự do buộc gia đình của ông phải rời khỏi quyền lực và vào năm 1918 những người Bolshevik đã bắn chết họ. Hoàng tộc Hohenzollern của Đức và hoàng tộc Habsburg của Áo nhanh chóng tiếp nối, họ chỉ tránh được số phận của dòng họ Romanov bằng cách trốn khỏi quê hương. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, triều đại Ottoman vẫn còn duy trì, nhưng chỉ được đến năm 1922.

Mặc dù gây tàn phá, Thế chiến I vẫn tăng cường sự thống lĩnh của phương Tây bằng cách xóa sạch các đế chế vương quyền cổ xưa của châu Âu và khiến Trung Hoa yếu ớt hơn bao giờ hết. Những kẻ thắng lớn có lẽ là nước Pháp và trên hết là nước Anh, không chỉ thâu tóm các thuộc địa của Đức và còn mở rộng các đế quốc đại dương của họ sâu hơn vào châu Phi, Thái Bình Dương và các mỏ dầu của Đế quốc Ottoman cũ, đồng thời cũng bắt đồng minh phương Đông của họ là Nhật Bản chuyển giao hầu hết các thuộc địa Đức mà nước này chiếm được. Vào năm 1919, hơn ⅓ phần lãnh thổ và gần ⅓ dân số của thế giới đều do London hoặc Paris thống lĩnh.

Tuy nhiên, những vệt màu to lớn đánh dấu các đế chế này trong các tập bản đồ cũ khi tôi còn là một cậu học sinh đã sai lạc. Cùng với việc tăng cường sức mạnh phương Tây, cuộc chiến này đã phân phối lại nó. Châu Âu đã chiến đấu vượt quá tiềm lực của nó và chi phí chiến tranh thậm chí còn vượt mặt số tín dụng ngân hàng của nước Anh. Lạm phát lên đến 22% vào năm 1920; đến năm sau, tỉ lệ thất nghiệp đã vượt ngưỡng 11%. Tám mươi sáu triệu ngày công bị mất đi do đình công. Mặt trời vẫn không bao giờ lặn trên Đế quốc Anh, nhưng nó đang phải vật lộn để duy trì công việc kinh doanh.

Để trả các khoản nợ, nước Anh phải chảy máu nguồn vốn, phần lớn sang Đại Tây Dương. Chiến tranh đúng là địa ngục, nhưng Hoa Kỳ lại tạo ra một địa ngục cho chiến tranh, nó trỗi dậy thành một công xưởng kiêm chủ ngân hàng của cả thế giới. Trở lại thế kỷ XV, vùng lõi phương Tây chuyển từ Địa Trung Hải sang Tây Âu và vào thế kỷ XVII, nó lại dịch chuyển sang các đế quốc đại dương ở vùng tây bắc. Bây giờ, thế kỷ XX, nó lại một lần nữa chuyển sang một đế quốc Bắc Mỹ khi các đế quốc đại dương của Tây Âu bị phá sản.

Hoa Kỳ trở thành một loại tổ chức mới, một kiểu mà chúng ta gọi là đế quốc tiểu lục địa. Không giống các đế chế vương triều truyền thống, nó không có tầng lớp quý tộc cổ xưa thống trị nông dân bị áp bức; cũng không như các đế chế đại dương châu Âu, nó không có vùng đất mẹ tự do, công nghiệp hóa và nhỏ bé nắm quyền thống trị các vùng đất trên địa cầu. Thay vào đó, sau khi tiêu diệt nhóm dân cư bản địa, đẩy đất nước vào một cuộc nội chiến đẫm máu, và đẩy hàng triệu nô lệ trước đó vào thân phận nông nô thực sự, người Mỹ gốc châu Âu truyền bá quyền công dân dân chủ từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương, với những nông dân giàu có nuôi sống một trung tâm công nghiệp rộng lớn ở khu vực phía đông bắc và vùng thượng Trung Tây, đồng thời mua lại hàng hóa của nó. Khoảng năm 1914, Đế chế tiểu lục địa Mỹ đã sánh với các cường quốc đại dương của châu Âu, và sau năm 1918, những doanh nhân của nó đã vươn ra khắp thế giới.

Sức hút tài sản khổng lồ của châu Âu đổ vào Hoa Kỳ gây ngạc nhiên cho những người đương thời. Một ngoại trưởng Mỹ nhận xét: “Trung tâm tài chính của thế giới, vốn cần đến hàng nghìn năm để chuyển từ hai bên bờ sông Euphrates đến sông Thames và sông Seine, dường như dịch chuyển đến sông Hudson chỉ trong vòng một ngày.”❖ Vào năm 1929, người Mỹ nắm giữ hơn 15 tỉ đô-la đầu tư nước ngoài, gần bằng số tiền người Anh sở hữu vào năm 1913, và nền thương mại toàn cầu của họ còn có giá trị hơn gần 50% như thế nữa.

Thời đại hoàng kim của chủ nghĩa tư bản toàn cầu dường như đã tái sinh dưới sự lãnh đạo của Mỹ, nhưng vẫn còn một sự khác biệt rất quan trọng. Trước năm 1914, Keynes, nhà kinh tế học người Anh, nghĩ rằng: “Ảnh hưởng của London lên các điều kiện tín dụng trên toàn thế giới đã trở nên nổi trội đến mức Ngân hàng Anh hầu như có thể tuyên bố là nhạc trưởng của dàn nhạc quốc tế,”❖ nhưng sau năm 1918, Hoa Kỳ lại không muốn đảm nhận công việc đó. Tránh khỏi những tranh chấp và chiến tranh khốc liệt ở châu Âu, các chính khách Mỹ để trống bục nhạc trưởng, lui vào thế cô lập về chính trị như Trung Hoa hoặc Nhật Bản ở thế kỷ XVIII. Vào những thời điểm thuận lợi thì dàn nhạc ứng biến và xử lý tình trạng rối ren rất tốt, nhưng vào những thời điểm tồi tệ thì dàn âm thanh của nó lại không ăn khớp.

Vào tháng 10 năm 1929, một chút vụng về cộng thêm nhiều điều rủi ro và sự vắng mặt của một nhạc trưởng đã biến bong bóng thị trường chứng khoán Mỹ thành một thảm họa tài chính quốc tế. Tác động xấu lan nhanh trong thế giới tư bản: các ngân hàng ngừng hoạt động, tín dụng ngân hàng bốc hơi, và các hệ thống tiền tệ sụp đổ. Dù ít người bị đói ăn, nhưng vào lễ Giáng sinh năm 1932, cứ bốn người Mỹ thì có một người thất nghiệp. Ở Đức, gần đến mức cứ hai người lại có một người thất nghiệp. Những dòng người thất nghiệp mặt mày xám ngắt trải dài, nhà báo Anh George Orwell nghĩ rằng, “họ đang nhìn chằm chằm vào vận mệnh của mình với nỗi ngạc nhiên câm lặng như những con vật nằm trong bẫy. Đơn giản là họ không hiểu được những gì đang xảy ra với mình.”❖

Ít nhất cho đến giữa thập niên 1930, những nền dân chủ tự do đã làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Có vẻ như không chỉ nghịch lý của sự phát triển đã khiến vùng lõi phương Tây rơi vào mức thấp, mà nó còn tạo điều kiện cho những thuận lợi của tình trạng lạc hậu bắt đầu phát huy hiệu lực ở nơi khác. Nước Nga, trong nhiều thế kỷ là một vùng ngoại vi khá lạc hậu, đã tái tổ chức thành Liên bang các nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết. Cũng như Hoa Kỳ, nó nhập một vùng lõi công nghiệp đang phát triển vào một vùng đất nông nghiệp rộng lớn, nhưng không giống Hoa Kỳ, nó thúc đẩy quyền sở hữu nhà nước, nông nghiệp tập thể, và hoạch định tập trung. Liên Xô huy động nhân dân như một nhà nước Tây phương hiện đại hơn là một đế quốc cũ, tuy nhiên, lãnh đạo của họ lại ít giống tổng thống thể chế dân chủ.

Liên bang Xô viết là một kiểu nhà nước đối kháng với Mỹ. Tuy Stalin thuyết giảng về sự bình đẳng nhưng lại xây dựng một nền kinh tế tập trung. Các nhóm thiểu số có nghi vấn về ý thức hệ và những kẻ thù giai cấp (thường như nhau) đều bị loại trừ. Khác với các nền kinh tế tư bản còn khuyết điểm, một đất nước Liên Xô thành công nhưng vẫn còn người đói. Thế nhưng Stalin rõ ràng cũng làm được đôi điều đúng đắn, vì trong khi ngành công nghiệp tư bản sụp đổ giữa những năm 1928 và 1937, thì sản lượng của Liên Xô đã tăng gấp bốn lần. Nhà báo Lincoln Steffens kể lại với những đồng hương người Mỹ sau chuyến viếng thăm Liên Xô như sau:⦾ “Tôi đã nhìn thấy tương lai, và nó đang phát triển tốt đẹp.”❖

Cho đến năm 1930, đối với nhiều người, bài học thực sự của Thế chiến I có vẻ không phải nền dân chủ tự do là mô hình của tương lai: đó chỉ là chiến thắng của liên minh Anh-Pháp-Mỹ chứ không phải vì chủ thuyết tự do của nó. Câu trả lời thực sự là đế quốc tiểu lục địa, và càng ít tự do thì càng tốt. Nhật Bản, vốn hưởng lợi nhiều từ các mô hình tự do, đã bỏ rơi chúng khi thị trường toàn cầu và nền kinh tế định hướng thương mại của nó rơi vào tình trạng suy thoái. Với tình hình thất nghiệp gia tăng, nền dân chủ bất ổn, và sự phát triển của chủ thuyết cộng sản, quân đội phải nhảy vào can thiệp, kêu gọi sự tồn tại của đế chế Nhật Bản. Quân đội, đặc biệt là các sĩ quan cấp dưới thuộc đảng cấp tiến, mất bình tĩnh, khai thác sự hỗn loạn của các nền dân chủ phương Tây và nội chiến ở Trung Hoa để sáp nhập vùng đất Mãn Châu và nhắm đến Bắc Kinh. Một trung tá Nhật Bản giải thích: “Chỉ bằng cách tạo ra sự hợp tác Nhật Bản-Mãn Châu và tình hữu nghị Nhật-Trung, người Nhật Bản mới có thể thống lĩnh châu Á và chuẩn bị tiến hành cuộc chiến tranh quyết định cuối cùng chống lại các chủng tộc da trắng khác.”❖

Ở mức độ nào đó, chủ nghĩa quân phiệt đã thành công. Nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng 72% vào thập niên 1930; sản lượng thép tăng 18 lần. Nhưng một lần nữa phí tổn lại gia tăng. Hợp táchữu nghị thực chất lại đồng nghĩa với nô dịch và thảm sát, thậm chí với các chuẩn mực thấp, thiếu trung thực ở thập niên 1930, sự tàn bạo của người Nhật Bản đã gây sốc. Hơn nữa, vào năm 1940, sự chinh phục rõ ràng không giải quyết được vấn đề của Nhật Bản, vì chiến tranh làm tiêu tốn nhiều tài nguyên còn nhanh hơn cả việc chiếm hữu nó. Cứ mỗi 19 lít xăng dầu mà tàu chiến và máy bay ném bom tiêu thụ, thì hết 15 lít phải mua từ các nước phương Tây. Kế hoạch của quân đội – tiếp tục chinh phục – không mang lại lợi ích nào, và với Trung Hoa nó lại trở thành một tình trạng sa lầy, thậm chí một kế hoạch hải quân để giành thể chủ động còn đáng báo động hơn nữa: tấn công vào Đông Nam Á để tránh lệ thuộc nguồn dầu lửa và cao su từ các đế quốc phương Tây, dù điều này cũng đồng nghĩa với việc phải gây chiến với Mỹ.

Nhưng hiểm họa đáng báo động nhất là kế hoạch vượt khó của nước Đức. Sự thua trận, nạn thất nghiệp và sụp đổ tài chính đã hằn vết sẹo lên những truyền nhân của Goethe và Kant sâu sắc đến mức họ sẵn sàng nghe lời một kẻ điên khùng nguyền rủa người Do Thái và bán rao phương thuốc chữa bách bệnh: sự chinh phục. Adolf Hitler quả quyết với viên bộ trưởng tài chính khi ông ta đàn áp và trục xuất tầng lớp kinh doanh Do Thái và ném các đoàn viên công đoàn vào nhà tù, như sau: “Mục tiêu đầu tiên cho sự ổn định tiền tệ của chúng ta là trại tập trung.”❖ Tuy nhiên, sự điên rồ của Hitler cũng tạo ra một giải pháp: chính sách chi tiêu bằng tiền vay mượn, quyền sở hữu nhà nước và tái trang bị vũ khí lại giúp xóa sạch nạn thất nghiệp và sản lượng công nghiệp tăng gấp đôi trong thập niên 1930.

Hitler công khai loan báo kế hoạch bảo vệ sườn Tây nước Đức bằng cách đánh bại các đế quốc đại dương rồi sau đó thay thế người gốc Slav và người Do Thái ở Đông Âu bằng những nông dân thuần chủng Aryan. Tầm nhìn của ông về một đế quốc tiểu lục địa tập trung vào nước Đức vượt khỏi sự hạn hẹp để biến thành sự diệt chủng công khai; nhưng ít người phương Tây nào lại tin rằng ông thực sự có ý đó. Chính sự tự dối mình của họ đã đưa đến một điều mà họ muốn tránh nhất, một cuộc chiến tranh tổng lực khác. Chỉ trong một vài tháng đen tối – lần đầu tiên kể từ năm 1812 – tưởng như một đế quốc lục địa có thể thống nhất châu Âu, nhưng theo một âm vang huyền bí từ thời Napoléon, Hitler lại quay đầu về eo biển Manche, tuyết giá ở Moscow, và sa mạc ở Ai Cập. Dài tay hơn, ông ta cố nhập cuộc chiến phương Đông của Nhật Bản vào cuộc chiến phương Tây của mình, nhưng thay vì loại được nước Anh khỏi vòng chiến, điều này chỉ khiến Hoa Kỳ nhập cuộc. Chiến tranh đã biến nước Mỹ tự do và Liên bang Xô viết thành đồng minh, và mặc dù cướp bóc tài nguyên khoáng sản và sức lao động của châu Âu và phương Đông, Đức và Nhật Bản cũng không thể chống trả được nguồn kinh phí, nhân lực, và nền sản xuất do hai cường quốc này kết hợp lại.

Tháng 4 năm 1945, quân đội Hoa Kỳ và Liên Xô bắt tay nhau ở Đức, cùng nhau ăn uống nhảy múa; vài ngày sau, Hitler tự tử và Đức đầu hàng. Vào tháng 8, khi cơn mưa lửa bùng lên từ bầu trời và bom nguyên tử biến hai thành phố Hiroshima và Nagasaki thành tro tàn, vị hoàng đế thần linh của Nhật Bản đã phá vỡ mọi truyền thống để tuyên bố trực tiếp với thần dân của ngài. Tôi cho rằng uyển ngữ ông sử dụng trong tuyên bố này là vĩ đại nhất trong lịch sử, ông phát ngôn như sau: “Tình hình chiến tranh đã phát triển đến mức không còn thuận lợi cho đất nước Nhật Bản.”❖ Và dù những tướng lĩnh ngoan cố còn cố tiến hành một cuộc đảo chính với hy vọng được tiếp tục chiến đấu, thì cuối cùng vào ngày 2 tháng 9 cùng năm, Nhật Bản cũng tuyên bố đầu hàng.

Năm 1945 cùng lúc chấm dứt nỗ lực của Nhật Bản để giành chiến thắng trong cuộc Chiến tranh phương Đông, trục xuất các đế quốc phương Tây, và nỗ lực của Đức nhằm thành lập một đế chế tiểu lục địa châu Âu, đồng thời nó cũng kết liễu các đế quốc đại dương Tây Âu. Quá đỗi kiệt quệ do cuộc chiến tranh tổng lực ngăn chặn những trỗi dậy của phong trào chủ nghĩa dân tộc trên toàn thế giới, chỉ trong vòng một thế hệ, những đế quốc này tan biến, để lại một châu Âu vỡ vụn. Theo suy ngẫm của một quan chức Mỹ năm 1945 thì “sự sụp đổ về mặt kinh tế, xã hội và chính trị của châu Âu dường như chưa từng có trong lịch sử, trừ phi đem so sánh nó với sự sụp đổ của Đế quốc La Mã.”❖

Tuy nhiên, phát triển xã hội phương Tây cũng không sụp đổ vào năm 1945 do vùng lõi này giờ đây lớn đến nỗi thậm chí cuộc chiến tranh lớn nhất thế giới cũng không thể làm sụp đổ tất cả. Liên Xô đã xây dựng lại ngành công nghiệp của họ vượt xa mức độ của nước Đức, nhưng những quả bom cũng chưa chạm đến nước Mỹ.⦾ Ngược lại, sự tàn phá mà Nhật Bản giáng xuống Trung Hoa và sự hủy diệt của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản đã phá hủy nội lực của vùng lõi phương Đông, hậu quả là Thế chiến II – giống như Thế chiến I – khiến sự thống lĩnh của phương Tây còn mạnh mẽ hơn. Có vẻ gần như chắc chắn là sự thống lĩnh của phương Tây ở thời điểm đó là không còn nghi ngờ gì nữa, nhưng câu hỏi đặt ra là giữa Liên Xô và Mỹ, ai là người thống lĩnh.

Hai cường quốc này cùng phân chia vùng lõi châu Âu cũ, chia tách nước Đức làm hai. Các nhà đầu tư Mỹ đạt được thỏa thuận về một hệ thống tài chính quốc tế mới cho chủ nghĩa tư bản và lập ra kế hoạch Marshall, có lẽ đây là khoản tư lợi minh bạch nhất được ghi nhận. Người Mỹ lý luận rằng nếu người châu Âu sẵn tiền trong túi, họ phải mua thực phẩm của Mỹ, nhập khẩu máy móc thiết bị của Mỹ để xây dựng lại ngành công nghiệp, và – điều quan trọng nhất – ngăn họ chọn theo con đường Cộng sản; do đó Mỹ đã chi cho họ 13,5 tỉ đô-la, bằng 1/20 tổng sản lượng Mỹ năm 1948.

Các nước Tây Âu nhanh chóng vồ lấy hầu bao của nước Mỹ, chấp nhận vai trò lãnh đạo quân sự của nước này, đồng thời gia nhập hay hướng đến một liên minh châu Âu dân chủ và tự do thương mại⦾ (điều trớ trêu là việc nước Mỹ thuyết phục các quốc gia châu Âu tiến đến một phiên bản mờ nhạt của một đế quốc lục địa dưới sự thống trị của nền kỹ nghệ Tây Đức lại không tổn hao chút hơi sức nào). Trong khi đó các nước Đông Âu chấp nhận vai trò lãnh đạo quân sự của Liên Xô và một Hội đồng Tương trợ Kinh tế mang tính cục bộ, còn Liên Xô, thay vì bơm thêm nguồn lực vào Đông Âu và thúc đẩy nền dân chủ, lại hút thêm các nguồn lực và loại bỏ các đối thủ của mình, tuy nhiên, đến năm 1949, sản lượng Đông Âu cũng phục hồi được ở mức ngang với thời kỳ trước chiến tranh. Đối với khu vực chịu ảnh hưởng Mỹ, mọi thứ trở nên khả quan hơn, ngoại trừ một số vụ bắt bớ hay bắn giết, sản lượng tăng gấp đôi giữa những năm 1948-1964.

Cường quốc Mỹ và Liên Xô không phải là những kẻ đầu tiên phân chia vùng lõi phương Tây, nhưng vũ khí nguyên tử làm họ khác với tất cả những kẻ đi trước. Liên Xô thử nghiệm quả bom đầu tiên vào năm 1949 và vào năm 1954 cả hai bên đều chế tạo được bom khinh khí có sức công phá mạnh gấp 1.000 lần so với thứ vũ khí đã tàn phá Hiroshima – Churchill viết trong nhật ký của mình như sau: “nó bỏ xa bom nguyên tử, chẳng khác gì so chính bom nguyên tử với cung tên.”❖ Một báo cáo của điện Kremlin từng kết luận rằng chiến tranh có thể “gây ra sự hủy diệt môi trường sống trên toàn cầu.”❖

Tuy nhiên trong cái rủi của đám mây hình nấm này cũng có cái may, theo lời Churchill tuyên bố trước Nghị viện Anh: “điều này trông có vẻ kỳ lạ, nhưng chính do tính chất phổ biến về tiềm năng hủy diệt của nó mà tôi nghĩ chúng ta có thể hy vọng, thậm chí còn tin tưởng.”❖ Thế là học thuyết Song phương cùng bị tận diệt (Mutual Assured Destruction) ra đời, và mặc dù một loạt sai lầm khủng khiếp vài lần đã đưa thế giới đến bờ vực của Ngày Tận thế (Armageddon), nhưng cuối cùng phương Tây vẫn không nổ ra Thế chiến III.

Thay vào đó, nó đã gây ra một cuộc chiến ở Thế giới thứ Ba trên những tàn tích của các đế quốc Tây Âu và Nhật Bản, phần lớn tiến hành thông qua những cuộc ủy nhiệm (thường là các nhà cách mạng nông dân theo Liên Xô và các nhà độc tài hung hăng theo Mỹ). Mới nhìn thoáng qua, điều này có vẻ là một chiến thắng dễ dàng của nước Mỹ khi nó chi phối toàn cầu thậm chí còn quy mô hơn cả nước Anh một thế kỷ trước đó. Đặc biệt, ở phương Đông, Washington rõ ràng nắm thế thượng phong. Bơm một nửa tỉ đô-la Mỹ vào Nhật Bản, Mỹ đã tạo ra một đồng minh trung thành và giàu có; đồng thời hỗ trợ một khoản viện trợ hào phóng cho một quân đội theo chủ nghĩa dân tộc tưởng chừng sắp đánh bại những người theo chủ nghĩa cộng sản của Mao Trạch Đông để kết thúc cuộc nội chiến ở Trung Hoa.

Nhưng rồi sự sụp đổ đột ngột của những người theo chủ nghĩa dân tộc vào năm 1949 đã làm thay đổi mọi thứ, biến phương Đông thành điểm nóng nhất trong cuộc Chiến tranh Lạnh của phương Tây. Stalin ủng hộ Bắc Triều Tiên xâm nhập Hàn Quốc, một nước đồng minh của Mỹ, và khi mọi sự trở nên tồi tệ Mao Trạch Đông liền nhập cuộc. Vào thời điểm chiến tranh chấm dứt năm 1953 với tổn thất lên đến bốn triệu nhân mạng (trong đó có một người con của Mao Trạch Đông) và các cuộc chiến tranh du kích bùng nổ ở Philippines, Mã Lai, và Đông Dương. Những người được Mỹ ủy nhiệm giành chiến thắng hai nước đầu tiên, cũng như ở Indonesia, nhưng đến năm 1968, dù có đến nửa triệu lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam – họ vẫn thua trận.

Những cuộc chiến này vừa là tuyến đầu trong cuộc chiến Xô-Mỹ ở phương Tây vừa là những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, nhưng không có nghĩa là một cuộc chiến tranh kiểu mới của phương Đông. Sau năm 1945, Trung Hoa và Nhật Bản, những cường quốc ở phương Đông, thấy khó đạt được mộng bành trướng. Trung Hoa gặp đủ khó khăn ở ngay trên đất nước mình, trong khi Nhật Bản – trớ trêu thay lại đạt được mọi thứ như những thành quả của Tây Đức ở châu Âu – còn bận bịu gặt hái những thành quả một cách yên bình mà trước đó, vào năm 1941, nó cố tìm kiếm bằng bạo lực. Tận dụng một cách sáng tạo sự hỗ trợ của Mỹ, Nhật Bản khai thác sự tàn phá các ngành công nghiệp cũ của mình để tổ chức lại, cơ giới hóa và tìm kiếm thêm thị trường tạo lợi nhuận cho mình. Vào năm 1969, nền kinh tế Nhật Bản đã vượt qua Tây Đức, và đến những năm 1970, nó đuổi sát Mỹ.

Đến lúc đó, nước Mỹ mới cảm nhận được sự căng thẳng trong cuộc Chiến tranh Lạnh ở nhiều mặt trận. Mặc dù số lượng bom ném xuống Việt Nam còn nhiều hơn ở Đức, Mỹ vẫn phải hứng chịu thất bại bẽ bàng, gây chia rẽ dư luận trong nước và làm tổn thương ảnh hưởng của nó ở nước ngoài. Những người được Liên Xô ủy nhiệm bắt đầu giành thắng lợi ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latin và biến những thành quả của Mỹ thành tro bụi. Trong khi đó, các đồng minh phương Đông mà nước Mỹ tích cực vun đắp giờ đây lại vận hành hiệu quả đến nỗi xâm chiếm luôn thị trường Mỹ, đồng thời những đồng minh châu Âu mà Mỹ bảo vệ với chi phí tốn kém đến thế lại bàn đến việc giải trừ quân bị và tiến đến việc không liên kết. Qua việc biến Israel thành đồng minh của mình, Washington đã đẩy các chính phủ thuộc khối Ả Rập về phía Liên Xô; và khi Israel đẩy lùi các cuộc xâm lấn của khối Ả Rập vào năm 1973, thì việc cấm vận dầu của khối Ả Rập và giá cả tăng đột xuất đã giải phóng con quái vật lạm phát đình đốn mới – tình trạng trì trệ và lạm phát xảy ra cùng một lúc.

Khi tôi còn là một thiếu niên ở Anh vào thập niên 1970, tôi và những người bạn tình cờ bàn về sự sụp đổ đang đến gần của Mỹ khi vẫn mặc quần jean Mỹ, xem phim Mỹ và chơi đàn guitar của Mỹ. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ, không một ai trong chúng tôi nhận ra sự mâu thuẫn trong vấn đề này, và tôi khá chắc rằng trong đầu óc của chúng tôi chưa bao giờ nảy sinh ý nghĩ phải chứng kiến sự kết thúc của đế quốc Mỹ, chúng tôi thực sự còn mong đóng góp vào chiến thắng của Washington trong cuộc Chiến tranh phương Tây. Mặt trận quyết định sẽ sớm nổi lên, không phải ở Việt Nam hay Angola, mà chính là ở các trung tâm mua sắm.

Thời đại của mọi thứ

Năm 1957, Thủ tướng Anh nói với cử tri của mình: “Chúng ta hãy thẳng thắn thừa nhận một điều là hầu hết người dân chúng ta chưa bao giờ có được một cuộc sống tốt đẹp như hiện nay?”❖ Người Anh có thể mất đi một đế quốc và không còn giữ được vai trò của mình, nhưng giống như việc dân số thế giới gia tăng, ít nhất họ cũng đạt được nhiều thứ. Vào những năm 1960, những thứ xa xỉ thậm chí còn chưa tồn tại trong một thế kỷ trước, như tivi, máy ghi âm, ô tô, tủ lạnh, điện thoại, đèn điện (và, những gì tôi nhớ rõ nhất, đồ chơi bằng nhựa) – nay đã trở thành những vật dụng hằng ngày ở vùng lõi phương Tây (Hình 10.9).

Một số người ngỡ ngàng với thời đại thông tục này, một thế giới, như một nhà thơ mô tả, nơi

… cư dân sống trong những căn nhà thô kệch, quên đi

Dặm đường chết tiệt bằng cách lấy xe đẩy,

Đẩy qua những cánh cửa kính để thỏa mãn những khát khao –

Những bộ vét giá rẻ, đồ dùng nấu bếp màu đỏ, đôi giày sắc sảo, những que kem

Máy xay chạy điện, máy nướng bánh mì, máy giặt, máy sấy –

Vô số thứ giảm giá, hợp với đời sống đô thị giản đơn,

nằm ở nơi chỉ có nhân viên bán hàng và những mối quan hệ đi tới.

Các vùng ngoại ô và thị trấn vệ tinh mở ra khắp mọi ngõ ra và đường vòng thành phố, từ Levittown của Mỹ tới Telford của Anh, xúc phạm các nhà thẩm mỹ với những khối nhà hình hộp đơn điệu, nhưng chúng lại cho con người những gì chúng ta muốn – một không gian nhỏ, hệ thống ống nước trong nhà và garage cho những chiếc xe Ford sáng bóng.

Hình 10.9. Chưa có thời kỳ nào tốt đẹp đến thế: Tác giả và đống đồ chơi trong dịp Giáng sinh năm 1964.

Thế kỷ XX là thời đại của đủ mọi tiện nghi, của dư thừa vật chất vượt ngoài những ước mơ của tính tham lam. Giá than và dầu rẻ cung cấp điện cho mọi thứ, khởi động máy móc và thắp sáng ngôi nhà chỉ qua việc bật nhẹ công tắc. Hơn 2.000 năm trước, Aristotle thấy rằng những người nô lệ luôn phải ở bên chúng ta, trừ khi con người có automata (thiết bị tự động) – máy móc tự vận hành – để làm việc thay cho họ. Giờ đây trí tưởng tượng của ông đã trở thành sự thật, điện năng đem lại cho đến cả những người bình thường nhất trong chúng ta hàng tá nô lệ để đáp ứng bất kỳ nhu cầu nào về giải trí, sưởi ấm, và đặc biệt là thực phẩm.

Cuộc cách mạng năng lượng đã biến những câu chuyện cổ tích về hội hè bất tận của thế kỷ XVI thành hiện thực. Khoảng những năm 1500-1900 sản lượng lúa mì tăng gần gấp đôi ở vùng lõi phương Tây nhờ công việc đồng áng được tổ chức tốt hơn cùng nhiều gia súc kéo và phân bón; nhưng đến thập niên 1890, nông dân đã đạt đến giới hạn của sự khéo léo. Việc tăng cường thêm gia súc chỉ có thể tăng năng suất đến một mức nào đó, và đến năm 1900, ¼ diện tích đất nông nghiệp Bắc Mỹ được tận dụng để nuôi ngựa. Sau đó, chính xăng dầu đã giải cứu. Nhà máy chế tạo máy kéo đầu tiên của Mỹ mở ra vào năm 1905, và vào năm 1927, máy kéo đã cung cấp nhiều năng lượng cho các trang trại ở Mỹ ngang bằng sức ngựa.

Nỗ lực đã đem lại thành quả. Vào năm 1875, một nửa người dân Mỹ làm nông nghiệp, nhưng một thế kỷ sau đó chỉ còn 1/50 làm công việc này. Máy móc đã nuốt chửng con người, kéo toàn bộ cộng đồng dân cư ra khỏi đất đai có thể gia tăng lợi nhuận hơn chỉ với một ít công nhân được thuê và các động cơ diesel. Tiểu thuyết gia John Steinbeck đã gọi những chiếc máy kéo này là “những con quái vật mũi hếch chạy ầm ào thọc mõm vào đất, thẳng xuống miền quê, khắp đất nước, băng qua hàng rào, qua sân trước, đào xới rãnh luống theo hàng lối thẳng tắp.”❖

Steinbeck dự đoán số người nghèo khổ của trái đất sẽ tăng lên trong cuộc cách mạng này, nhưng khi những ngọn triều truất hữu xua các di dân thừa thãi vùng Oklahoma về phía tây và những thợ hái bông người da đen về phía bắc rút xuống, thì phần lớn người di cư tìm được việc làm ở thành phố tốt hơn so với công việc cực nhọc ở nông thôn mà họ phải tháo chạy. Những doanh nhân nông nghiệp từng thải hồi họ giờ đây lại bán lương thực giá rẻ cho họ và đầu tư lợi nhuận vào các loại phân bón hóa học, thuốc diệt cỏ, động cơ điện để bơm nước vào những cánh đồng khô hạn, và cuối cùng chỉ có những giống cây trồng biến đổi gen mới có thể hấp thụ được các chất trên. Đến năm 2000, cứ khoảng 4.000 mỏ đất nông nghiệp Mỹ đã hấp thụ năng lượng nhiều hơn 80 lần so với năm 1900 và sản lượng lương thực tăng gấp bốn lần.

Ở nơi nước Mỹ xuất phát ngày hôm nay, thì ngày mai thế giới sẽ đi theo. Cuộc cách mạng xanh đã làm tăng sản lượng lương thực toàn cầu gấp bốn lần giữa những năm 1950-2000. Giá cả sụt giảm đều đặn, thịt thay thế ngũ cốc trong thực đơn hằng ngày, và – trừ khi thảm họa, sự ngu dốt và tàn bạo xen vào – nạn đói nghèo dần bị loại trừ.

Như mọi sinh vật khác, con người chuyển năng lượng dư thừa sang con cháu, và dân số thế giới cũng tăng gấp gần bốn lần theo cùng sự gia tăng nguồn thức ăn được cung ứng ở thế kỷ XX. Nhưng ở phương diện khác, con người lại xa rời chuẩn mực. Thay vì biến toàn bộ năng lượng trời cho của mình thành những năng lượng mới, họ lại tích trữ một phần trong cơ thể mình. Tính bình quân, vào năm 2000, người trưởng thành to lớn thêm 50% so với năm 1900. Họ cao thêm hơn 10cm, trở nên đầy đủ và có nhiều năng lượng hơn để đáp ứng cho công việc. Việc phát triển các cơ quan mạnh mẽ hơn và gia tăng chất béo hơn (ở các nước giàu lại quá dư thừa chất béo) giúp những con người to lớn hơn này có thể đề kháng bệnh tật và chấn thương.

Người Mỹ và người Tây Âu hiện đại sống lâu hơn ông bà họ 30 năm và tận hưởng cuộc sống thêm một hoặc hai thập niên trước khi mắt, tai và các cơ quan khác suy giảm, và chứng viêm khớp làm các khớp xương của họ khô cứng. Trong phần lớn khu vực còn lại của thế giới, bao gồm Trung Hoa và Nhật Bản, tuổi thọ cũng kéo dài thêm gần 40 năm. Ngay cả ở châu Phi, nơi AIDS và sốt rét lan tràn, vào năm 2009 tuổi thọ trung bình cũng tăng thêm 20 năm so với năm 1900.

Cơ thể con người đã biến đổi nhiều trong 100 năm qua so với 50.000 năm trước, và – đặc biệt ở các nước giàu có – người dân học được cách can thiệp để điều chỉnh những nhược điểm còn lại. Người châu Âu dùng kính đeo mắt từ năm 1300, và hiện nay nó đã lan rộng khắp toàn cầu. Bác sĩ đã phát minh các kỹ thuật mới để cứu vãn thính giác, làm trái tim tiếp tục đập, lắp lại chân tay và thậm chí can thiệp vào tế bào. Các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng đã xóa bỏ bệnh đậu mùa và bệnh sởi, vốn được xem là những kẻ giết người hàng loạt; việc thu gom rác thải và cải thiện nguồn nước sạch vẫn đang tiến triển.

Hình 10.10 cho thấy những loại bệnh mãn tính gây khổ sở cho các cựu binh trong Quân đội Hoa Kỳ, đồng thời nói lên mức độ cải thiện sức khỏe. Cựu binh có thể không phải là một tập hợp nhỏ lý tưởng của con người nhằm nghiên cứu do tính bạo lực trong công việc của họ, nhưng nhờ vào hồ sơ lưu trữ trong quân đội nên họ là tập hợp tốt nhất mà chúng ta có được, và những mức độ cải thiện sức khỏe đúng là đầy ấn tượng.

Những cựu chiến binh này chủ yếu là nam giới, nhưng đời sống của phụ nữ cũng thay đổi còn nhiều hơn. Xuyên suốt dòng lịch sử, phụ nữ chỉ là những máy đẻ. Do một nửa số trẻ chết trong năm đầu tiên (trên thực tế hầu hết là ở tuần đầu tiên) và chỉ một nửa số trẻ còn lại sống qua tuổi thơ ấu đến tuổi 40, việc duy trì dân số ổn định (nuôi dưỡng hai người con đến tuổi trưởng thành để thế chỗ một người mẹ và người bạn đời) đòi hỏi người phụ nữ trung bình phải sinh nở khoảng năm lần, mất phần lớn thời gian trưởng thành của họ vào việc mang thai và/hoặc chăm sóc con cái. Nhưng trong thế kỷ XX, thế giới công nghệ thấp và tử suất cao đã sụp đổ.

Hình 10.10. Trở thành những gì bạn có thể: tình trạng sức khỏe của cựu binh Mỹ, 1910-1988.

Ngay cả trước năm 1900, những phụ nữ to lớn, béo tốt và mạnh khỏe sinh con cứng cáp hơn, chăm chút hơn và giữ chúng sạch sẽ hơn. Rất ít trẻ chết sớm, vì vậy dân số bùng phát dữ dội – cho đến khi phụ nữ kiểm soát được khả năng sinh sản. Con người luôn có những phương cách để tránh thụ thai (theo truyền thuyết vào thế kỷ XVIII Casanova đã tự mình làm bao chống thụ thai bằng cách cắt trái chanh làm hai) và đến năm 1900, tỉ lệ sinh đẻ ở các nước giàu nhất đã giảm, và ở thế kỷ XX công nghệ của Mỹ cũng có thể đối phó với thách thức này. Năm 1920 xuất hiện bao cao su; năm 1960 xuất hiện thuốc tránh thai; và ở các nước giàu tỉ lệ sinh đẻ giảm xuống dưới mức hai con cho mỗi cặp vợ chồng.

Khi những đứa trẻ khỏe mạnh hơn và thuốc viên tránh thai giải phóng phụ nữ khỏi những thời gian sinh sản, thì đồng thời dây điện giá rẻ dùng cho bàn ủi và máy nướng bánh cùng các động cơ nhỏ bé dùng cho máy giặt và máy hút bụi cũng giải phóng họ khỏi công việc nhà vất vả. Chỉ cần nhấn nút là giải quyết được những công việc vốn trước đây phải cần đến nhiều giờ lao động tẻ nhạt. Có những công việc mà phụ nữ vẫn chưa bao giờ thực hiện, nhưng đến năm 1960, họ có thể nhảy lên xe hơi (hầu như mỗi gia đình Mỹ đều có một chiếc) lái đến siêu thị (nơi ⅔ lượng thực phẩm của đất nước này được bày bán), cất giữ thực phẩm trong tủ lạnh (98% căn hộ đều có), và giặt xong quần áo trước khi hai hoặc ba đứa con nhỏ đi học về, rồi ngồi trước tivi.

Những thay đổi này đã giải phóng phụ nữ để làm việc bên ngoài trong một nền kinh tế nhanh chóng chuyển từ sản xuất sang dịch vụ, làm giảm công nhân lao động chân tay nhưng rất cần phụ nữ làm công việc văn phòng hay dịch vụ chăm sóc như y tá, giáo viên, v.v. Ở các nước giàu nhất, tỉ lệ phụ nữ làm công ăn lương và thụ hưởng nền giáo dục đại học tăng đều sau năm 1960, và giống như mọi thời kỳ trước đó, thời đại này đã tìm được lời giải. Những cuốn sách như The Feminine Mystique (Bí ẩn tính nữ) và Sexual Politics (Chính trị học giới tính) đã thúc đẩy tầng lớp phụ nữ trung lưu Mỹ tìm kiếm sự thành đạt ngoài vai trò truyền thống của họ. Năm 1968, 100 người phản đối đã phá vỡ cuộc thi Hoa hậu Mỹ ở thành phố Atlantic. Vào thập niên 1990, đàn ông thực sự phải chia sẻ việc nhà và nuôi dạy con cái (mặc dù vợ hay bạn gái của họ vẫn thường làm nhiều hơn).

Ngay từ năm 1951, nhà xã hội học Mỹ David Riesman đã nhìn thấy mọi thứ đang hướng về phía trước. Trong một câu chuyện có tên Cuộc chiến Nylon, vừa tán dương vừa giễu cợt chủ nghĩa tiêu thụ Mỹ, ông tưởng tượng các nhà cố vấn chiến lược khuyên Tổng thống là “nếu được cho phép dùng thử hàng Mỹ, người dân Nga sẽ không còn dung thứ những ông chủ chỉ cho họ xe tăng và gián điệp thay vì máy hút bụi.”❖ Nước Mỹ chỉ cần thả tất dài và thuốc lá lên đất Liên Xô là Liên Xô sẽ đổ.

Thực tế hầu như cũng kỳ lạ như tiểu thuyết. Vào năm 1958, Liên Xô và Hoa Kỳ, mỗi nước đều tin tưởng vào việc làm đối phương phải nể nang qua sức mạnh công nghiệp của mình, đã đồng ý tổ chức các triển lãm qua lại giữa hai nước. Triển lãm đầu tiên ở New York, Liên Xô gửi sang máy kéo, xe tải và các mô hình tên lửa để thuyết phục các nhà tư bản rằng việc đối kháng với họ là vô ích. Vào năm 1959, nước Mỹ trả đũa một cách thông minh, họ cử Richard Nixon (hồi đó là phó tổng thống) đến Moscow để giám sát một cuộc triển lãm thiết bị gia dụng Mỹ trên diện tích khoảng 4.700 m2, bao gồm một bản sao chính xác một kiểu nhà cư xá mới ở Long Island. Trong khi người dân Moscow ngỡ ngàng đứng ngắm, thì Nixon và Khrushchev lại công kích nhau về một chiếc máy giặt hiệu Westinghouse.

Nixon mở lời: “Bất cứ thứ gì giúp phụ nữ làm việc ít hơn đều tốt.” Nhưng Khrushchev đã sẵn sàng đáp trả. Ông ta phản bác: “Thế các ngài muốn giữ phụ nữ trong bếp hay sao. Chúng tôi không nghĩ về phụ nữ theo kiểu đó. Chúng tôi nghĩ tốt hơn về họ.” Có thể như vậy; ở Liên Xô nhiều phụ nữ làm việc bên ngoài hơn ở Mỹ. Tuy nhiên, ở mặt khác, phải mất thêm một thập niên nữa thì ½ hộ gia đình ở Liên Xô mới sở hữu được máy giặt. Sau khi đáp xe buýt từ nhà máy về nhà, một người vợ điển hình của Liên Xô phải làm thêm công việc nhà đến 28 giờ mỗi tuần. Chỉ có jjjkfekkfkk căn hộ có máy hút bụi.

Nixon đáp trả bằng một bài ca tụng việc để doanh nghiệp được tự do. Ông giải thích: “Chúng tôi không đưa ra một quyết định nào xuất phát từ trên cao bởi một văn phòng chính phủ. Chúng tôi có nhiều nhà sản xuất khác nhau và nhiều loại máy giặt để các bà nội trợ có thể lựa chọn… Không phải là tốt hơn khi cạnh tranh về các giá trị cân xứng của máy giặt thay vì cạnh tranh về sức mạnh của tên lửa hay sao?… Chúng tôi không áp đặt nó lối sống của chúng tôi] lên các ông,” ông kết luận, “nhưng cháu chắt của các ông sẽ thấy được nó.”❖

Nixon đã nói đúng. Vào năm 1959, Khrushchev phủ nhận việc những người lao động Mỹ sống trong những ngôi nhà như vậy, nhưng vào thập niên 1980, những người cháu của ông thấy sẽ được sai lầm. Theo một cách nào đó, nghịch lý của sự phát triển lại tái diễn: hầu hết công dân Liên Xô hiện đã có máy giặt và máy hút bụi, ngoài ra họ còn có cả radio, ti vi, và đĩa nhạc rock bán trên thị trường chợ đen. Họ có thể thấy rằng người Mỹ đang tiến xa hơn.

Điều trớ trêu là người dân Xô viết có thể bật tivi và thấy những người như tôi với những cây đàn guitar và quần jeans, nhưng tệ hại hơn lại là việc họ có thể chứng kiến một giai đoạn hoàn toàn mới của cuộc cách mạng công nghiệp đã bắt đầu, được khởi phát bằng công nghệ thông tin và tạo ra sự giàu có còn lớn hơn cho những người ở phía bên kia Bức màn sắt. Máy tính đầu tiên của Mỹ, Máy tích hợp điện tử và Máy tính (ENIAC), đã được giới thiệu công khai vào năm 1946. Nó nặng 30 tấn và tiêu tốn nhiều điện năng đến nỗi khi khởi động nó, đèn điện trên toàn thành phố Philadelphia đều bị mờ đi. Trong 30 năm sau đó, công ty IBM bán ra những cỗ máy móc nhỏ hơn nhưng vẫn còn khá đồ sộ cho các tập đoàn phương Tây, nhưng chuyển đổi thực sự chỉ đến sau khi bộ vi xử lý được sáng chế vào năm 1971.

Như chúng ta thường thấy, các nhà đổi mới đều đến từ những vùng ngoại vi của tầng lớp tinh hoa – trong trường hợp này cũng vậy, không phải từ các công ty khả kính như IBM nhưng, như Steve Wozniak, từ các nhà để xe ở những nơi như thành phố vùng ngoại ô Menlo Park ở California. Bắt đầu với khoản vốn nhỏ nhoi 91.000 đô-la và một vài người bạn đam mê máy vi tính, Wozniak và đối tác kinh doanh Steve Jobs đã cho ra mắt chiếc máy vi tính Apple I trên thế giới năm 1976. Đến năm 1982, doanh thu của Apple đã đạt 583 triệu USD và hãng IBM cũng phát minh ra Máy tính Cá nhân (Personal Computer) để cạnh tranh. Vào lúc đó, hai sinh viên bỏ học Đại học Harvard, Bill Gates và Paul Allen thành lập hãng Microsoft và chuyển đến Bờ Tây. Máy tính đi vào mọi văn phòng và gia đình, mỗi năm mỗi rẻ hơn và tiện dụng hơn. Thậm chí nó càng lúc càng trở nên thú vị.

Máy tính đã thay đổi phương thức giải trí, kinh doanh và chiến tranh của vùng lõi phương Tây. Đến năm 1985 không có một lĩnh vực nào trong đời sống phương Tây mà máy tính không chạm đến – ngoại trừ ở cường quốc Xô viết. Việc “giả vờ như con tàu vẫn đang di chuyển”❖ không còn là một giải pháp nữa.

Thiên đường của người dân

Nó cũng không phải là một lựa chọn ở phương Đông, nơi mà các nước bạn hàng của Mỹ nhanh chóng tránh xa Trung Hoa lục địa. Nhật Bản, tiếp theo là Đài Loan và Hàn Quốc, nhanh chóng thúc đẩy chuỗi thức ăn kinh tế từ những đồ chơi bằng nhựa mà tôi rất thích thú trong những năm 1960 sang ngành công nghiệp nặng và điện tử, và khi họ làm thế, các quốc gia Đông Nam Á khác (Singapore, Malaysia, Thái Lan) lại thế chỗ họ ở bậc thang dưới cùng. Trên khắp phương Đông tiền công được tăng lên. Cuộc sống kéo dài; trẻ em được đủ đầy thức ăn; các căn hộ lớn hơn chứa đầy những món đồ điện tử. Ở Trung Hoa có ít tivi hơn Liên Xô, nhưng các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh đã nhìn thấy rõ ràng mối đe dọa gây ra từ các tiền đồn thịnh vượng quanh bờ biển phía đông nước này. Những con hổ châu Á, danh xưng gán cho các nước này, quả là một sỉ nhục cho họ. Tất cả các nước này ít nhiều đều theo nguyên tắc một đảng lãnh đạo và cùng chia sẻ nền tảng Khổng giáo và Phật giáo của Trung Hoa. Vì vậy, nếu chế độ toàn trị lẫn truyền thống văn hóa phương Đông không ngăn được sự phát triển, thì vấn đề này còn nằm ở đâu khác?

Thế kỷ của nội chiến và đấu tranh phe phái giữa những năm 1840 và 1940 đã ngăn cản Trung Hoa nối gót nền công nghiệp hóa nhanh chóng của Nhật Bản, nhưng sau chiến thắng năm 1949, Mao Trạch Đông nhanh chóng áp dụng khuôn mẫu của Xô viết và tái tổ chức lại đất nước của ông như một đế chế lục địa. Hòa bình đem lại những khoản lãi khổng lồ và nền kinh tế lại hồi sinh, như từng xảy ra khi triều đại nhà Tùy nhất thống Trung Hoa ở thế kỷ VI, nhà Tống ở thế kỷ X và nhà Minh ở thế kỷ XIV. Kế hoạch Ngũ niên theo kiểu Liên Xô mà Mao Trạch Đông đưa ra khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc ít hiệu quả hơn kinh tế tư bản của nhóm những con hổ châu Á, nhưng nó vẫn làm tăng gấp đôi sản lượng công nghiệp và đẩy mức lương tăng thêm ⅓. Tuổi thọ bình quân từ khi sinh ra đã tăng vọt từ 36 tuổi năm 1950 lên 57 tuổi vào năm 1957.

Có lý do chính đáng để nghĩ rằng nền kinh tế Trung Hoa sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong các thập niên 1960 và 1970 nếu Mao Trạch Đông cứ giữ nguyên trạng, nhưng cũng giống như nhiều vị hoàng đế Trung Hoa trước đây, Mao Trạch Đông không tin tưởng vào bộ máy quan liêu của mình. Ông cho rằng những quy luật kinh tế giả tạo phải nhường chỗ cho những quy luật đúng đắn hơn của chủ nghĩa Marx, nhưng các nhà hoạch định của ông – vốn đã quen với các quy luật và biểu đồ – lại trông ra vẻ những nhà tư sản đáng ngờ. Mao Trạch Đông nhấn mạnh rằng chỉ khi nào ý chí không gì lay chuyển của quần chúng được giải phóng thì lúc đó thiên đường của nhân dân mới được thiết lập.

Mao Trạch Đông đã đến tuổi hiểu biết vào những năm 1910, từng đọc Marx (và cả Spencer); ông là một lý thuyết gia theo thuyết chốt khóa dài hạn, tin rằng sự tụt hậu của phương Đông đã được đặt định từ nhiều thế kỷ trước. Ông quyết định lời giải của vấn đề này là phải dẹp bỏ Bốn cái cũ – phong tục cũ, thói quen cũ, văn hóa cũ, và tư tưởng cũ. Khởi xướng một bước Đại Nhảy vọt nhằm để Trung Hoa bắt kịp phương Tây, Mao Trạch Đông đã đưa 99% dân số vào các nông trang tập thể với hàng nghìn thành viên. Ở một số nơi, chủ nghĩa cộng sản không tưởng thoải mái phát triển:

Bí thư Đảng bộ thị trấn Paoma tuyên bố vào tháng 10 năm 1958 rằng chủ nghĩa xã hội sẽ kết thúc vào ngày 7 tháng 11 và chủ nghĩa cộng sản sẽ khởi đầu vào ngày 8 tháng 11 năm đó. Sau cuộc họp, mọi người ngay lập tức xuống đường và bắt đầu giành giật hàng hóa khỏi cửa hàng. Khi những kệ hàng trống rỗng, họ đến nhà người khác lấy gà vịt rau quả đem về nhà mình. Người ta thậm chí còn chấm dứt sự phân biệt xem những đứa trẻ là con của ai. Chỉ những người vợ mới tránh được sự chia sẻ này vì Bí thư Đảng ủy không chắc lắm về điều này.

Nhưng ở những nơi khác thì chủ nghĩa hoài nghi chiếm ưu thế. Một số người gọi đây là Thời kỳ Thống-trị-tư-tưởng: Việc tước đoạt mọi động lực làm việc và dành dụm khiến nhiều người không làm gì cả.

Bị áp lực từ cấp trên đòi hỏi phải báo cáo các vụ mùa bội thu ngay cả khi sản lượng sút giảm, các quan chức lãnh đạo đã làm theo và sau đó sung công những phần lương thực sản xuất lớn hơn để chứng minh cho số liệu của họ. Một ủy viên nhân dân nhấn mạnh rằng: “Không phải là không có thức ăn, lúa gạo vẫn nhiều, nhưng 90% người dân gặp vấn đề với hệ tư tưởng.”❖

Vấn đề càng trở nên tồi tệ hơn khi Mao Trạch Đông bất hòa với Khrushchev. Bị cắt đứt viện trợ từ Liên Xô, Mao Trạch Đông cố đuổi kịp việc sản xuất thép của phương Tây bằng cách kéo 40 triệu nông dân ra khỏi ruộng đất để xây dựng các xưởng đúc sau nhà, nấu chảy bất kỳ loại quặng nào tìm thấy ở địa phương, thậm chí cả nồi niêu xoong chảo để luyện thép tại nhà. Rất ít sản phẩm họ sản xuất ra có thể sử dụng được, nhưng không ai dám nói ra điều này.

Bức tranh nông thôn ngày càng trở nên siêu thực. Một phóng viên nói rằng: “Không khí đầy những giai điệu lanh lảnh của các vở nhạc kịch địa phương phát ra từ loa khuếch đại trên hiện trường, kèm theo tiếng kêu vo vo của ống bễ lò rèn, tiếng gầm gào của động cơ chạy xăng, tiếng còi của xe tải hàng nặng nề và tiếng kêu rộng của những con bò vận chuyển quặng và than.”❖

Hồi ức sau đây đúng là không bình thường chỉ vì âm giọng lãnh đạm của nó:

Không ai trong gia đình tôi chết cả. Đến tháng 2 năm 1960, chân của ông nội sưng hẳn. Tóc ông rụng, toàn thân lở loét, ông yếu đến nỗi không mở miệng được. Một người bạn đến thăm giúp làm khô một số vết loét và điều này giúp ông rất nhiều. Chúng tôi vẫn còn ba con dê con và một người cô đã bí mật giết hết hai con để giúp ông. Thật không may, những cán bộ phát hiện ra và đem xác đi.

Dù sao, người ông vẫn còn may mắn. Theo một người cung cấp thông tin khác:

Điều tồi tệ nhất xảy ra trong nạn đói là: cha mẹ sẽ quyết định để người già và người trẻ chết trước… một bà mẹ nói với con gái rằng: “Con phải đi gặp bà của con trên thiên đường.” Họ ngừng cho các bé gái ăn mà chỉ cho uống nước… Một phụ nữ bị báo cáo về việc này và bị Cục Công an bắt giữ. Nhưng không một ai trong làng phê phán khi bà trở về nhà từ một trại lao động vài năm sau đó.

Khoảng 20 triệu người bị chết đói từ năm 1958 đến năm 1962. Dù sau cái chết của Mao Trạch Đông, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Hoa chính thức kết luận rằng Người cầm lái vĩ đại đã làm đúng 70% và sai 30% trong thời gian cầm quyền, nhưng người ta vẫn ít tin vào điều này. Một nhóm những nhà kỹ trị đã để Mao Trạch Đông sang một bên và đưa ra một số quyền sở hữu riêng tư. Đến năm 1965 thì các vụ mùa đã quay trở lại mức ở năm 1957.

Trung Hoa, giống như phương Tây, cũng chứng kiến một sự bùng nổ trẻ em thời hậu chiến, sinh ra một đám đông thanh thiếu niên mất kiên nhẫn. Lớp trẻ giàu có ở vùng lõi phương Tây tự do tận dụng sức mua của mình để định hướng lại sở thích qua âm nhạc, quần áo và hành vi tính dục, nhưng ở Trung Hoa, Mao Trạch Đông lại định hướng thị hiếu của lớp trẻ theo ý mình. Rao giảng một cuộc Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản lâu dài, vào năm 1966, ông kích động họ đả phá mọi thứ.

Chối bỏ trường học và đại học, hàng triệu thanh thiếu niên biến thành những Hồng Vệ Binh cuồng nộ, đầu tiên là lăng nhục các giáo viên của mình rồi sau đó là bất kỳ ai trông có vẻ phản động. Trong khi lớp trẻ phương Tây hát về cách mạng, thì lớp trẻ Trung Hoa lại sống với nó. Một sinh viên ngành văn học tự hào viết trên áp phích như sau: “Chính hận thù giai cấp khiến tôi tố cáo [bạn học] Lý Kiến Bình (Li Jianping):

và điều đó đã thúc đẩy đám đông đến mức cuồng loạn. Họ dùng gậy đánh đập cô ta – một nhân tố phản cách mạng được đảng ủy cũ của thành phố che chở trong nhiều năm – đến chết. Đó chính là một sự kiện vô cùng mãn ý, để trả thù cho những người cách mạng, để trả thù cho những liệt sĩ đã ngã xuống. Tiếp theo tôi sẽ trả thù những kẻ khốn kiếp che chở cho bọn phản bội.

Mao Trạch Đông cố gắng hướng cơn cuồng nộ này nhằm vào các đối thủ của mình nhưng lại không thực sự kiểm soát được nó. Do không một ai được an toàn nếu bị tố cáo là phản cách mạng, nên mọi người cứ giành phê phán trước tiên. Đối với nhiều người, điều đó thật sự gây hoang mang: một công nhân dọn nhà vệ sinh than thở rằng anh ta bị mất việc làm do có quá nhiều người bị buộc phải dọn dẹp nhà vệ sinh khi cải tạo. Tuy nhiên, đa số lại thấy phấn khích. Những công nhân trẻ tuổi cũng đổ xô đi tham gia với học sinh sinh viên khiến nhà máy phải ngừng hoạt động. Hồng Vệ Binh cũng mời các đoàn làm phim quay những cảnh họ đập phá tượng Phật, đền thờ Khổng Tử và các di tích của triều đại nhà Hán. Một nhóm thậm chí còn chiếm đóng Bộ Ngoại giao và chỉ định các nhà ngoại giao chuyên chính vô sản của mình.

Vào năm 1969, những sự kiện xem chừng gây chao đảo dẫn đến thảm họa trên bối cảnh của cuộc Đại Nhảy vọt khiến ngay cả Mao Trạch Đông cũng cảm thấy sợ hãi. Hàng nghìn người chết, hàng triệu người bị hủy hoại cuộc sống. Những con hổ châu Á cũng dần lánh xa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Mối quan hệ với Liên Xô trở nên tồi tệ đến nỗi 800 lính Trung Hoa đã bị loại trong các cuộc đụng độ biên giới. Mao Trạch Đông tách khỏi đám cực đoan một cách muộn màng và nhìn quanh để tìm một dây cứu sinh.

Và rồi Mao Trạch Đông được một trong những người có lẽ ít được mong chờ nhất trên trái đất này ném cho một tấm phao, đó chính là Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon nổi tiếng chống Cộng. Nixon xem một thỏa thuận với Trung Hoa là một cú thọc sườn Liên Xô trong cuộc Chiến tranh Lạnh, và năm 1972, sau nhiều cuộc đi đêm theo kênh ngoại giao, ông bay đến Bắc Kinh và bắt tay Mao Trạch Đông. Nixon vui mừng phát biểu: “Đây là tuần lễ làm thay đổi thế giới,”❖ và về phương diện nào đó, lời của ông ta là đúng. Triển vọng của một trục Washington-Bắc Kinh khiến Liên Xô e ngại đến nỗi chỉ trong vòng ba tháng sau khi đến Trung Hoa, Nixon đã ngồi ở Moscow để thực hiện các thương thảo.

Mao Trạch Đông được hưởng lợi hầu như rất nhiều. Qua cuộc gặp gỡ Nixon, ông bật tín hiệu ủng hộ những người theo chủ nghĩa thực dụng khao khát đi theo công nghệ phương Tây và phản đối những kẻ cực đoan đã triệt hạ tầng lớp trí thức Trung Hoa. Ở một trường hợp nổi tiếng, một sinh viên đã giành được một vị trí đại học đáng thèm muốn bằng cách viết lên bài kiểm tra để trống những dòng tuyên bố rằng thuần túy cách mạng có giá trị hơn “những đám mọt sách trong nhiều năm cứ làm những công việc vô bổ chứ không làm được gì hữu ích.”❖ Trong một động thái đầy kiêu ngạo mà những kẻ thiếu suy nghĩ ở Liên Xô có thể đồng cảm, những nhân vật (được cho là) có quyền lực thuộc phe cực đoạn lập luận rằng “một con tàu xã hội chủ nghĩa trễ thời hạn còn tốt hơn một con tàu theo chủ nghĩa xét lại chạy đúng kế hoạch.”❖

Sau năm 1972, những người theo chủ nghĩa thực dụng phản ứng lại, mặc dù chỉ sau cái chết của Mao Trạch Đông vào năm 1976, xu thế mới trở lại ủng hộ họ. Đặng Tiểu Bình, hai lần bị hạ bệ như một kẻ thiên tả dưới quyền Mao Trạch Đông và hai lần được phục hồi, giờ đây gạt các đối thủ của ông sang một bên và để lộ chân tướng của mình. Chọn câu thần chú cũ của Mao Trạch Đông “tìm chân lý từ thực tiễn” làm khẩu hiệu cho mình, Đặng Tiểu Bình phải đối mặt với sự thật bất lợi nhất ở Trung Hoa: dân số tăng nhanh hơn nền kinh tế. Để nuôi những cái dạ dày trống rỗng tham gia thị trường lao động mỗi năm, nền kinh tế Trung Hoa cần phải tăng trưởng 7% mỗi năm trong ít nhất một thế hệ. Phương án lựa chọn có thể gây ra nạn đói khiến Đại Nhảy vọt trở nên còi cọc.

Mọi kinh nghiệm cho thấy rằng dựa vào nền hòa bình và một chính phủ thống nhất – vốn hầu như thiếu vắng kể từ thập niên 1840 – Trung Hoa cũng có thể thịnh vượng trong phạm vi nền kinh tế toàn cầu do phương Tây thống lĩnh, nhưng Đặng Tiểu Bình còn đi xa hơn, tích cực thúc đẩy Trung Hoa hội nhập. Để giảm áp lực lên nguồn tài nguyên, ông đã thúc đẩy Chính sách Một con (về mặt lý thuyết) yêu cầu phụ nữ có hai con phải triệt sản, và để gia tăng nguồn lực sẵn có, ông theo đuổi một nền kinh tế toàn cầu. Trung Hoa gia nhập Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund), mở các Đặc khu kinh tế để thu hút các nhà tư bản từ Ma Cao, Hong Kong và Đài Loan, thậm chí cho mở một nhà máy Coca-Cola ở Thượng Hải.

Đến năm 1983, Đặng Tiểu Bình dẹp bỏ các công xã của Mao. Nông dân được làm thêm các nghề phụ để thu lợi cá nhân và doanh nhân được giữ lại một phần lợi nhuận. Đất nông nghiệp vẫn thuộc về hợp tác xã nhưng các gia đình bây giờ có thể thuê đất trong 30 năm để canh tác riêng. Bất động sản ở thành phố được cho thuê dài hạn hơn, thậm chí có thể được thế chấp. Sản lượng tăng cao, và mặc dù việc tự do hóa làm cánh bảo thủ lo ngại, nhưng không còn quay đầu lại được nữa. Đặng Tiểu Bình tuyên bố:

Trong cuộc Cách mạng Văn hóa, có một quan điểm cho thấy chủ nghĩa xã hội nghèo đói được ưa chuộng hơn chủ nghĩa tư bản giàu có… Do tôi bác bỏ quan điểm đó nên bị hạ bệ… [nhưng] nhiệm vụ chính yếu của chủ nghĩa xã hội là phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống của người dân, và tiếp tục gia tăng sự giàu có vật chất của xã hội… Làm giàu không phải là tội lỗi.

Tư duy tương tự cũng được những người Cộng sản ở Moscow cách xa gần 6.500km theo đuổi. Sau cú sốc với chuyến đi của Nixon đến Trung Hoa vào thập niên 1970, Liên Xô đã phát triển khá tốt. Khi các nước Ả Rập tăng giá dầu, Liên Xô, một nước xuất khẩu lớn, cũng được hưởng lợi, và với số tiền lớn kiếm được, Moscow đã tài trợ và giành thắng lợi ở hàng loạt cuộc chiến ủy nhiệm và vượt mặt Mỹ về vũ khí hạt nhân vào năm 1978. Nhưng đó chỉ là một cao trào nhất thời. Sự can thiệp của Liên Xô nhằm tạo ra một chế độ thân hữu ở Afghanistan đã khiến một cuộc chiến kéo dài suốt thập niên 1980. Cùng lúc, giá dầu giảm ⅔, và Hoa Kỳ gia tăng chi tiêu quân sự, đặc biệt là trong lĩnh vực vũ khí công nghệ cao.

Ban lãnh đạo Liên Xô lo rằng người dân Nga bình thường có thể thấy được con tàu của họ đang đứng bất động. Nền kinh tế chỉ huy của nó chỉ có thể sản xuất đại trà xe tăng và súng trường tự động Kalashnikov chứ không phải máy tính hay xe hơi (một chuyện của Liên Xô như sau – “Làm thế nào để tăng gấp đôi giá trị của xe Lada⦾?” Câu trả lời là: “Cứ đổ đầy xăng vào thùng xe.”❖). Bất đồng quan điểm nổi lên ầm ĩ khắp nơi. Ý nghĩ về một cuộc chạy đua vũ trang mới làm các lãnh đạo Xô viết lo ngại.

Mikhail Gorbachev đã phải thú nhận với vợ ông, bà Raisa, khi họ đi dạo trong vườn vào năm 1985: “Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này mãi được.”❖ Vài tiếng đồng hồ sau, Gorbachev trở thành người đứng đầu Liên bang Xô viết, nhưng chỉ ở khu vườn mới là nơi ông ta có thể tránh được sự rình mò của mật vụ. Giống như Đặng Tiểu Bình, Gorbachev biết mình phải đối mặt với thực tế. Vụ nổ lò phản ứng hạt nhân cũ kỹ ở Chernobyl năm 1986 cho thấy Liên Xô không chỉ bị tụt hậu mà thực sự đang tan rã, và Gorbachev phải thúc đẩy mạnh mẽ chính sách cải tổ (perestroika) và công khai (glasnost) – chỉ để điều chỉnh lại những quan điểm Marx và Engels đưa ra một thế kỷ rưỡi trước đó: sự mở rộng tự do còn quét sạch mọi mối quan hệ bị đóng băng cố hữu chứ không chỉ những gì chúng ta không thích.

Đặng Tiểu Bình và Gorbachev biết rằng tự do kinh tế có thể kích thích lòng ham muốn tự do về mặt chính trị. Có lúc Đặng Tiểu Bình nhìn nhận những người đối kháng là đồng minh có lợi để đối đầu với những người kiên định; có lúc ông ta lại thẳng tay áp chế họ. Trong khi đó, Gorbachev cho rằng việc sử dụng vũ lực có thể khiến toàn bộ thể chế sụp đổ. Ông cho phép Đại hội đại biểu nhân dân bầu cử công khai vào vào mùa xuân năm 1989 và các đại biểu đáp lại điều này bằng cách chế nhạo ông trên truyền hình trực tiếp, nhưng ông từ chối đình chỉ Đại hội. Thay vào đó, Gorbachev bay đến Bắc Kinh, nơi những người phản đối chế độ đã tung hô ông. Một bích chương của sinh viên viết như sau: “Ở Liên Xô, họ có Gorbachev, vậy ở Trung Hoa chúng ta có ai?”❖

Đặng Tiểu Bình không thích thú điều này chút nào, ông tuyên bố tình trạng thiết quân luật một ngày sau khi Gorbachev về nước. Vào đầu tháng 6 năm 1989, một triệu người chống đối đổ về quanh quảng trường Thiên An Môn, một số nhảy múa và ca hát, một số thì tuyệt thực. Đặng Tiểu Bình đã gán cho họ là “những cặn bã của xã hội,” những kẻ muốn “thiết lập một nước Cộng hòa tư sản phụ thuộc hoàn toàn vào phương Tây,”❖ đồng thời đưa quân đội vào cuộc. Những hình ảnh được phát đi khắp thế giới về cảnh tượng ở quảng trường.

Việc áp chế đã giành được thắng lợi ở Trung Hoa, nhưng ngay cả khi Hungary và Ba Lan tuyên bố bầu cử đa đảng, Gorbachev vẫn chống lại cách thức lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình. Theo đường lối mà một bộ trưởng của ông gọi là học thuyết Sinatra⦾, ông vẫn để các nước vệ tinh của Liên Xô làm theo cách của họ khiến vị thủ tướng Ba Lan tân cử ngạc nhiên đến nỗi bị choáng trong thời gian diễn ra buổi lễ nhậm chức của mình. Để thử nghiệm các giới hạn của nó, quân đội Hungary gỡ hết hàng rào thép gai dọc theo biên giới Áo-Hung. Hàng nghìn người Đông Đức đang đi nghỉ ở Hungary bỏ lại xe hơi vượt biên giới tìm tự do.

Và Gorbachev vẫn không có động thái gì. Khi ông đi thăm Berlin vào tháng 10 năm đó, đám đông lại tung hô ông và nài xin ông ở lại. Chỉ trong vài tuần tiếp theo, người dân Đông Đức bắt đầu nhảy múa trên Bức tường Berlin và đập vỡ nó thành từng mảng bằng búa và đục. Khi thấy chính quyền không nổ súng, hàng nghìn người đã vượt qua Tây Berlin. Lúng túng và bất lực, chế độ Đông Đức tan rã. Chỉ trong vài tháng sau đó, các nước xã hội chủ nghĩa trên khắp Đông Âu cũng đi theo cùng cách đó, và các nước thuộc Liên bang Xô viết bắt đầu tuyên bố độc lập. Và ngay cả khi vị chủ tịch mới của Liên bang Nga tuyên bố ý định từ bỏ liên minh này, Gorbachev vẫn được giữ lại làm tổng thống của một thể chế chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa. Vào lễ Giáng sinh năm 1991, ông nhượng bộ áp lực để ký một sắc lệnh giải tán Liên bang Xô viết. Sự kết thúc gần như hoàn chỉnh: Cây bút của Gorbachev không viết được và ông phải mượn một cây khác từ một nhân viên quay phim của hãng CNN.

Gió Đông, gió Tây

Khi các đế chế vương triều không chứng minh được khả năng đối phó với cuộc chiến tranh tổng lực và hầu như biến mất khỏi trái đất trong khoảng thời gian từ năm 1917 đến 1922, Hoa Kỳ chỉ chứng tỏ là một cường quốc bất đắc dĩ, nhưng giữa những năm 1989 và 1991, khi phía xã hội chủ nghĩa không chứng tỏ được sự tương xứng ngang bằng, người Mỹ đã sẵn sàng lấp đầy khoảng trống. Cứ hai năm một lần, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (United State Department of Defense) đều xem xét lại chiến lược tổng thể của mình trong một báo cáo gọi là Hướng dẫn Hoạch định Chính sách Quốc phòng (the Defense Planning Guidance). Bản dự thảo đầu tiên của báo cáo được đưa ra vào tháng 3 năm 1992, chỉ ba tháng sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ, đưa ra một tầm nhìn mới mẻ, rõ nét:

Mục tiêu đầu tiên của chúng ta là ngăn chặn sự tái trỗi dậy của một đối thủ mới, dù trên lãnh thổ Liên Xô cũ hay bất kỳ nơi nào, gây ra một mối đe dọa trật tự thế giới như Liên Xô trước đây gây ra. Điều này… đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực ngăn chặn bất kỳ thế lực thù địch nào muốn thống lĩnh một khu vực mà các nguồn lực của họ, dưới sự kiểm soát thống nhất, đủ để tạo ra sức mạnh toàn cầu. Các khu vực này bao gồm Tây Âu, Đông Á, lãnh thổ của Liên Xô cũ, và Tây Nam Á.

Khi “một quan chức tin tưởng cuộc tranh luận chiến lược hậu Chiến tranh Lạnh nên được tiến hành công khai”❖ (dẫn theo Tạp chí New York Times) làm rò rỉ bản dự thảo này, chính phủ đã nhanh chóng biểu lộ sự hòa dịu, nhưng có điều gì đó trông rất giống phiên bản gốc của một thế giới với Hoa Kỳ được xem là siêu cường duy nhất qua mặt tất cả.

Liên Xô cũ tan rã từ bên trong với sự tranh giành các tài sản và nguồn lực của nó. Sự đổ vỡ tuy không tồi tệ như cuộc nội chiến xảy ra sau sự sụp đổ của dòng họ Romanov, nhưng nước Nga, quốc gia kế thừa chính, vẫn phải chứng kiến sản lượng giảm sút 40% trong thập niên 1990 và đồng lương thực tế giảm 45%. Vào năm 1970, tuổi thọ bình quân của công dân Xô viết là 68 tuổi, chỉ kém 4 năm so với tuổi bình quân của Tây Âu; nhưng đến năm 2000, bình quân người Nga chết ở tuổi 66, sớm hơn dân cư ở Liên minh châu Âu đến 12 năm. Nước Nga vẫn còn rộng lớn, giàu tài nguyên và có sức mạnh hạt nhân lớn nhất thế giới, đến năm 2008 sự xuất hiện trở lại một chính quyền mạnh mẽ và giá năng lượng tăng đã khuyến khích nước này lấn ép các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ và vòi vĩnh Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, như bản báo cáo Hướng dẫn Hoạch định Chính sách Quốc phòng kỳ vọng, nước Nga không ở vị thế giống như mối đe dọa của Liên Xô cũ.

Liên minh châu Âu cũng không thách thức sự thống trị của Mỹ đối với vùng lõi phương Tây. Theo một số nhà quan sát, những chao đảo của châu Âu trong hội nhập kinh tế và chính trị (sau đó lại tránh né) cũng giống như các bước nhằm tiến tới một đế quốc tiểu lục địa hùng mạnh, cuối cùng cũng đạt được trong hòa bình, trái với những thất bại của các dòng họ Habsburg, Bourbon, Napoléon và Hitler khi sử dụng bạo lực để thực hiện tham vọng của mình, nhưng trên thực tế, những chia rẽ tiếp diễn, tăng trưởng kinh tế chậm lại, dân số già đi, và quân sự yếu kém của châu Âu đã khiến nó khó trở lại vị trí siêu cường.

Vùng Tây Nam Á cũng nằm trong tư tưởng của các nhà hoạch định chính sách Mỹ vào năm 1992, chủ yếu là vì họ lo sợ một quốc gia thù địch nắm giữ các mỏ dầu trong khu vực, như Iraq đã thử làm vào năm 1990. Họ lờ đi chủ nghĩa cực đoan Islam giáo vốn trỗi dậy từ thập niên 1970, và nước Mỹ (như hầu hết mọi nước khác) đã bị đột kích bất ngờ với sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001. Nhưng chính phương Đông lại là nơi giả thuyết của các nhà hoạch định chính sách được chứng minh là sai lầm ngoạn mục nhất. Chỉ trong vòng vài tuần sau khi bản báo cáo Hướng dẫn Hoạch định Chính sách Quốc phòng bị rò rỉ trên báo chí, đồng minh chính của nước Mỹ, Nhật Bản, rơi vào tình trạng suy thoái, và Trung Hoa, đối thủ chính của nước này ở phương Đông, lại cất cánh.

Một trăm năm mươi năm trôi qua kể từ khi phương Tây bắt đầu biến vùng lõi phương Đông cũ thành một vùng ngoại vi của mình, và những bài học là quá rõ ràng cho tất cả những ai có mặt để chứng kiến. Nếu có được nền hòa bình, chính phủ có trách nhiệm, và bằng lòng dựa dẫm vào sức mạnh của phương Tây, phương Đông có thể biến nền kinh tế thế giới tư bản thành những cùng đích của họ, chuyển đổi một cộng đồng khổng lồ và những tầng lớp tinh hoa học thức đủ để con người phương Tây ở thế kỷ XIX phải ngỡ ngàng như bằng chứng về sự lạc hậu của phương Đông đối với các phương tiện tăng trưởng kinh tế. Kể từ thập niên 1840, Trung Hoa hiếm khi có được sự yên bình, tính trách nhiệm hay sự linh hoạt, nhưng vào thập niên 1990, nó đã bắt đầu chiếm vị trí chính đáng trong trật tự toàn cầu.

Đứng ở bục chiếc xe sử dụng trên sân golf giữa một công viên giải trí, Đặng Tiểu Bình tuyên bố rằng cải cách kinh tế không còn “tiến triển chậm như những phụ nữ bị bó chân, nhưng… [sẽ] tiến nhanh và tiếp tục một cách mạnh mẽ.”❖ Những chướng ngại đối với chủ nghĩa tư bản đã hoàn toàn sụp đổ. Khi Mao Trạch Đông và Nixon gặp nhau vào đầu những năm 1970, công nhân Mỹ điển hình có năng suất gần gấp 20 lần năng suất của người lao động Trung Hoa đói vốn, và Mỹ sản xuất đến 22% số hàng hóa trên thế giới so với 5% của Trung Hoa. Qua 30 năm tiếp theo, năng suất của người dân Mỹ vẫn tiếp tục gia tăng, nhưng các khoản đầu tư đã thúc đẩy Trung Hoa tăng gấp ba lần. Đến năm 2000, công nhân Mỹ có năng suất thấp hơn người Trung Hoa đến bảy lần. Tỉ lệ sản xuất của Mỹ trên thế giới hầu như không thay đổi, ở mức 21%, nhưng Trung Hoa đã tăng gần gấp ba, lên tới 14%.

Nhưng Trung Hoa cũng phải trả giá khủng khiếp cho sự tăng trưởng này. Hầu như các nhà máy không được kiểm soát đều xả thải theo ý mình, đầu độc các con sông lớn. Tỉ lệ mắc bệnh ung thư dọc theo các tuyến đường thủy thường gấp đôi mức trung bình toàn quốc. Những con sông khác, do việc khai thác nông nghiệp không được kiểm soát, bị khô cạn hoàn toàn. Việc khai thác gỗ bừa bãi và tình trạng sa mạc hóa lan rộng nhanh gấp đôi so với trước thập niên 1970. Các cuộc phản kháng chính sách đã làm gia tăng bạo lực; hầu hết những năm, tính từ năm 2000, ngành an ninh ghi nhận khoảng 25.000 sự cố quần chúng, và các vụ phá rối trật tự nhỏ lẻ còn nhiều hơn nữa.

Nhưng đổi lại, chương trình của Đặng Tiểu Bình đã dẹp bỏ được tình trạng đói nghèo đồng thời gặt hái được những thành quả lớn. Dân quê, vốn còn chiếm đến ⅔ dân số Trung Hoa, chứng kiến mức lương thực của họ tăng khoảng 6% mỗi năm. Tuy nhiên, những thành quả đạt được chỉ tập trung dọc theo bờ biển phía đông. Ở các vùng làng mạc bần cùng trong nội địa, sự suy sụp của chính sách giáo dục và chăm sóc sức khỏe sơ đẳng nhưng miễn phí của Mao Trạch Đông thường kéo giảm hiệu quả của chúng. Kết quả hiển nhiên là việc xảy ra cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử: kể từ thập niên 1990, 150 triệu người đã chuyển đến các thành phố lớn, bình quân mỗi năm lại tạo ra một thành phố Chicago mới. Việc chuyển đến sống ở thành phố thường tăng thu nhập của nông dân lên 50%, đồng thời cũng cung cấp nguồn lao động cho các nhà sản xuất với chi phí thấp hơn so với các nước giàu có.

Trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến năm 2007, xuất khẩu của Trung Hoa tăng gấp 12 lần và thặng dư thương mại với Hoa Kỳ tăng vọt từ 18 tỉ đô-la Mỹ lên 233 tỉ đô-la. Năm 2008, trong các cửa hàng giảm giá của Mỹ như Wal-Mart, hàng hóa Trung Hoa chiếm đến 90% diện tích kệ hàng: hiếm có người Mỹ nào mà không mặc ít nhất một bộ quần áo may ở Trung Hoa mỗi sáng. Tạp chí Business Week cho biết giá cả Trung Hoa đã trở thành “những từ đáng sợ nhất của nền kỹ nghệ Mỹ.”❖ Các công ty không cạnh tranh nổi đều bị phá sản.

Giống như Vương quốc Anh ở thế kỷ XIX và Mỹ ở thế kỷ XX, Trung Hoa đã trở thành cơ xưởng của thế giới. Nhà báo chuyên về tài chính James Kynge mô tả một câu chuyện mà ông tình cờ nghe được giữa hai doanh nhân người Hoa trên một chuyến tàu lửa ở Italy, nghe có vẻ như một cặp nhân vật Gradgrind được lôi ra từ các trang sách của Dickens:

Người chủ nhận xét rằng họ đã đi được một tiếng rưỡi đồng hồ nhưng hầu như không nhìn thấy một nhà máy nào cả. Người đồng hành trẻ tuổi nhận xét: “Người nước ngoài chỉ thích nhìn phong cảnh.” Người chủ suy nghĩ giây lát rồi hỏi: “Phong cảnh hay sản xuất, điều nào quan trọng hơn?”… Rồi người chủ tò mò đặt câu hỏi với nhiều chủ đề khác nhau… Tại sao người nước ngoài lại lười biếng quá thể: Châu Âu sẽ làm gì khi không còn nhiều ngành công nghiệp nữa? Liệu thực sự có thể điều hành nền kinh tế chuyên về dịch vụ được không? Có phải đúng là bò châu Âu tiêu thụ hai đô-la một ngày trong trợ cấp nông nghiệp không?

Nửa thế kỷ trước đó, Mao Trạch Đông từng tuyên bố: “Hướng gió trên thế giới đã thay đổi… Hiện nay, không phải gió tây thổi bạt gió đông mà chính là gió đông thổi bạt gió tây.”❖ Vào thời điểm đó, ông đã tự huyễn hoặc mình; ở thập niên 1950, phương Đông hầu như bị phương Tây kiểm soát, bị phân chia giữa tầm ảnh hưởng của Liên Xô và Mỹ. Nhưng đến năm 2000 những lời của Mao Trạch Đông đã trở thành hiện thực, mặc dù không theo những phương cách mà ông dự tính. Phát triển xã hội phương Tây vẫn dẫn trước phương Đông hơn bao giờ hết, trên 300 điểm, nhưng ngược lại, tỉ lệ điểm số giữa phương Tây và phương Đông vào năm 1900 là gần 2,4/1 vào năm 1900, thì đến năm 2000 chỉ còn hơn 1,6/1. Thế kỷ XX vừa là đỉnh cao nhất của thời kỳ phương Tây và cũng vừa là khởi đầu cho sự kết thúc của nó.

Hình 10.11. Biết ngọn gió đổi theo chiều nào: Thế kỷ XX có phải là điểm đỉnh đồng thời là điểm kết thúc sự thống lĩnh của phương Tây? Sự dẫn đầu của phương Tây trong phát triển xã hội đã tăng từ 101 điểm năm 1900 lên 336 điểm vào năm 2000, nhưng tỉ lệ điểm số giữa phương Tây và phương Đông rút xuống ⅓, từ 2,4/1 vào năm 1900 xuống còn 1,6/1 vào năm 2000.

Người dịch Nguyễn Thanh Xuân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.