Tại Sao Phương Tây Vượt Trội

Lượt đọc: 138 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần III - 11 Tại sao phương Tây thống lĩnh thế giới…
Tại sao phương Tây thống lĩnh thế giới

❊ ❊ ❊

Phương Tây thống lĩnh thế giới do vị trí địa lý. Sinh vật học cho chúng ta biết tại sao con người thúc đẩy phát triển xã hội đi lên; xã hội học cho chúng ta biết họ làm điều này như thế nào (trừ khi họ không làm); và địa lý cho chúng ta biết lý do tại sao phương Tây, thay vì là một vùng nào khác, trong 200 năm trở lại đây đã thống lĩnh toàn cầu. Sinh vật học và xã hội học cung cấp những quy luật phổ quát, áp dụng cho tất cả con người ở mọi thời đại và mọi nơi chốn; địa lý giải thích những khác biệt.

Sinh vật học cho chúng ta biết rằng chúng ta là động vật, và giống như mọi sinh vật khác, chúng ta tồn tại chỉ vì nắm giữ được năng lượng từ môi trường xung quanh. Khi thiếu năng lượng, chúng ta sẽ trở nên lờ đờ chậm chạp rồi chết; khi lấp đầy năng lượng, chúng ta nhân bội và phát triển thêm. Giống như các động vật khác, chúng ta hay tò mò nhưng cũng tham lam, lười biếng, và sợ hãi; chúng ta chỉ không giống các loài động vật khác do sở hữu các công cụ để theo đuổi những tính khí này – bộ óc nhanh hơn, cổ họng dễ uốn hơn và những ngón tay có khả năng cầm nắm mà sự tiến hóa đã ban cho chúng ta. Sử dụng chúng, con người chúng ta đã áp đặt ý chí của mình lên môi trường bằng những phương cách hoàn toàn khác biệt với các loài động vật khác, thu nạp và tổ chức năng lượng nhiều hơn, trải rộng các làng mạc, thành phố, đất nước và đế quốc trên khắp hành tinh.

Vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, rất nhiều người phương Tây nghĩ rằng sinh vật học là câu trả lời toàn diện cho lý do tại sao phương Tây lại thống lĩnh thế giới. Họ kiên định rằng chủng tộc châu Âu da trắng đã tiến hóa xa hơn bất kỳ chủng tộc nào khác. Họ đã nhầm lẫn. Một mặt, những bằng chứng về di truyền và khung xương mà tôi đã thảo luận trong Chương 1 là rõ ràng: Có một loài con người, tiến hóa dần dần ở châu Phi cách đây khoảng 100.000 năm và sau đó lan rộng khắp toàn cầu khiến những chi người cổ xưa hơn bị tuyệt chủng. Những khác biệt về di truyền giữa con người hiện đại ở các vùng khác nhau trên thế giới là không đáng kể.

Mặt khác, nếu người phương Tây thực sự là chủng người thượng đẳng về mặt di truyền so với các chủng người khác, thì những đồ thị về phát triển xã hội đầy rẫy ở Chương 4 đến Chương 10 hẳn phải rất khác. Sau khi dẫn đầu rất sớm, phương Tây đáng lẽ tiếp tục dẫn đầu. Nhưng dĩ nhiên điều này đã không xảy ra (Hình 11.1). Phương Tây có một khởi điểm ở vị trí đứng đầu vào cuối Thời đại Băng hà, nhưng sự dẫn đầu của nó lúc thì kéo giãn, lúc thì co lại. Đến khoảng năm 550 thì nó hoàn toàn biến mất, và trong 1.200 năm tiếp đó, phương Đông dẫn đầu thế giới về phát triển xã hội.

Ngày nay rất ít học giả tuyên truyền các học thuyết phân biệt chủng tộc cho rằng người phương Tây có đặc tính di truyền cao hơn mọi chủng tộc khác, nhưng bất cứ ai quả thực muốn theo tuyến này cần phải chứng minh rằng mọi tính chất ưu việt xuất phát từ người châu Âu vào thế kỷ VI sau đó quay trở lại trong thế kỷ XVIII; hoặc người phương Đông tự nuôi dưỡng tính chất ưu việt ở thế kỷ VI và rồi mất đi vào thế kỷ XVIII. Điều đó, theo một cách nói không hề phóng đại, sẽ là một công việc nan giải. Tất cả đều cho thấy rằng nhìn bất cứ nơi nào chúng ta cũng thấy mọi người – ở các nhóm lớn – đều giống như nhau.

Hình 11.1. Dạng hình của lịch sử được xem xét lại: Phát triển xã hội phương Đông và phương Tây và ngưỡng cứng, năm 14000 TCN-2000, thể hiện trên thang tuyến tính Logarit.

Chúng ta cũng không thể giải thích lý do phương Tây thống lĩnh thế giới dựa trên sinh vật học, vì sinh vật học chỉ giải thích lý do tại sao phát triển xã hội tiếp tục tiến lên; nhưng tự thân nó không phải là câu trả lời. Bước tiếp theo liên quan đến xã hội học, vì nó giúp chúng ta biết được làm thế nào mà phát triển xã hội gia tăng nhiều đến thế.

Như Hình 11.1 cho thấy, đây không phải là một tiến trình suôn sẻ. Trong phần giới thiệu, tôi đã đề xuất một Định lý Morris (mở rộng ý tưởng của tiểu thuyết gia truyện khoa học viễn tưởng Robert Heinlein) để giải thích toàn bộ tiến trình lịch sử – cho rằng sự thay đổi là do con người lười biếng, tham lam, sợ hãi (những người hiếm khi biết mình đang làm gì) tìm kiếm phương cách làm việc dễ dàng hơn, sinh lợi hơn, và an toàn hơn. Tôi hy vọng rằng các chứng cứ trình bày từ Chương 2 đến Chương 10 chứng minh điều này là đúng.

Chúng ta đã chứng kiến con người liên tục cải tiến, giúp cuộc sống của họ dễ dàng hay sung túc hơn hoặc đấu tranh để giữ được những gì họ sở hữu khi hoàn cảnh thay đổi, và nói chung, trong quá trình đó phát triển xã hội từ từ đi lên. Tuy nhiên, không một chuyển đổi lớn nào trong phát triển xã hội – nguồn gốc của nông nghiệp, sự trỗi dậy của các thành phố và quốc gia, sự tạo dựng các đế quốc khác nhau, cuộc cách mạng công nghiệp – chỉ thuần là do cải tiến; mỗi chuyển đổi là kết quả của những thời kỳ tuyệt vọng đòi hỏi phải có các giải pháp sống còn. Vào cuối Thời đại Băng hà, những người săn bắt-hái lượm gặt hái nhiều thành quả đến mức họ cũng gây áp lực lên các tài nguyên cứu sống họ. Những nỗ lực tiếp theo để tìm thức ăn đã biến đổi một số loài thực vật và động vật mà họ săn bắt thành thuần hóa và chuyển đổi một số người hái lượm thành nông dân. Một số nông dân thành công đến mức họ cũng gây sức ép lên nguồn tài nguyên được hồi phục, và để tồn tại – đặc biệt khi thời tiết khắc nghiệt xảy đến – họ lại biến làng mạc của mình thành các thành phố và quốc gia. Một số thành phố và quốc gia lại gặt hái thành quả tốt đẹp đến nỗi họ cũng gặp phải vấn đề về tài nguyên nên tự biến mình thành các đế chế (đầu tiên dựa vào đất đai, sau đó thống trị các vùng thảo nguyên và đại dương). Một số đế chế lặp lại cùng một chu kỳ, gây áp lực lên tài nguyên của mình để rồi chuyển mình thành các nước có nền kinh tế công nghiệp.

Nhưng lịch sử không chỉ là sự nối tiếp những điều tồi tệ. Trên thực tế, lịch sử cũng xưa cũ như trái đất, chỉ là một tiến trình lớn và không ngừng nghỉ của sự thích nghi với thế giới, luôn tạo ra những vấn đề mới đòi hỏi những thích nghi khác. Trong suốt cuốn sách này, tôi gọi tiến trình này là nghịch lý của sự phát triển: phát triển xã hội gia tăng lại tạo ra chính những tác động ngược lại làm nó suy yếu.

Con người phải đối đầu và giải quyết những nghịch lý đó mỗi ngày, nhưng đôi khi nghịch lý đó tạo ra những ngưỡng cứng chỉ chịu đầu hàng những thay đổi có tác dụng biến đổi đích thực. Rõ ràng hiếm khi người ta biết phải làm gì, huống gì nói đến việc phải làm thế nào, và khi một xã hội tiếp cận với một trong những ngưỡng này thì lại bắt đầu một kiểu chạy đua giữa phát triển và sụp đổ. Các xã hội hiếm khi – có lẽ không bao giờ – chỉ bị mắc kẹt ở một mức trần và bị trì trệ, phát triển xã hội của chúng sẽ không có biến chuyển trong nhiều thế kỷ. Thay vào đó, nếu chúng không biết cách phá khung, thì những vấn nạn của chúng sẽ đi theo đường xoắn ốc vượt ngoài tầm kiểm soát. Một số hoặc tất cả những gì tôi gọi là năm kỵ sĩ Khải huyền sẽ được sổ lồng, và nạn đói, bệnh tật, sự di dân và sự thất bại của nhà nước – đặc biệt nếu chúng trùng hợp với một giai đoạn biến đổi khí hậu – sẽ đẩy sự phát triển đi xuống, đôi khi kéo dài trong nhiều thế kỷ, có khi đưa đến một thời kỳ đen tối.

Một trong những mức trần này là khoảng 24 điểm trên bảng chỉ số phát triển xã hội. Đây là mức độ phát triển xã hội phương Tây chững lại rồi sau đó rơi xuống sau năm 1200 TCN. Tuy nhiên, mức trần quan trọng nhất mà tôi gọi là ngưỡng cứng thì khoảng 43 điểm. Sự phát triển phương Tây đã chạm ngưỡng này ở thế kỷ đầu công nguyên, sau đó rơi xuống; phát triển ở phương Đông cũng chạm ngưỡng tương tự vào khoảng một thiên niên kỷ sau đó. Ngưỡng cứng này đặt ra một giới hạn khắt khe về những gì các đế chế nông nghiệp đã thực hiện được. Phương cách duy nhất để phá vỡ nó là khai thác năng lượng nhiên liệu hóa thạch còn được bảo tồn, như người phương Tây đã làm sau năm 1750.

Việc đưa thêm xã hội học vào sinh vật học nhằm giải thích phần lớn sự định hình lịch sử, cho chúng ta biết con người đã thúc đẩy phát triển xã hội tiến lên như thế nào, lý do tại sao có lúc nó tăng lên nhanh chóng và có lúc nó lại chậm chạp, và tại sao có khi lại rơi xuống. Tuy nhiên, ngay cả khi chúng ta kết hợp chúng với nhau, thì sinh vật học và xã hội học cũng không thể cho chúng ta biết lý do tại sao phương Tây lại vượt trội so với phần còn lại của thế giới. Để giải thích điều đó, chúng ta cần đến địa lý học.

Tôi đã nhấn mạnh mối quan hệ hai chiều giữa địa lý và phát triển xã hội: môi trường tự nhiên định hình cách thức phát triển xã hội thay đổi như thế nào, nhưng các thay đổi trong phát triển xã hội lại định hình môi trường tự nhiên có ý nghĩa gì. Cách đây 2.000 năm, sống trên một mỏ than hầu như chẳng có ý nghĩa gì, nhưng nếu cách đây 200 năm nó đã bắt đầu có nhiều ý nghĩa. Việc khai thác than thúc đẩy phát triển xã hội nhanh hơn bao giờ hết – đúng là nhanh đến nỗi chẳng bao lâu sau năm 1900, các loại nhiên liệu mới bắt đầu thay thế than. Mọi thứ đều thay đổi, bao gồm cả khái niệm địa lý.

Thế là quá đủ cho luận thuyết của tôi. Tôi muốn dành hầu hết chương này để giải quyết một số phản bác rõ ràng nhất, nhưng trước khi quay trở lại điều này thì việc tóm lược các chi tiết chính của những câu chuyện nằm đầy trong các Chương 2-10 có thể hữu ích hơn.

Vào cuối Thời đại Băng hà, khoảng 1500 năm trước đây, sự ấm lên toàn cầu đã tách ra một dải đất gọi là Miền Ân Sủng (khoảng 20-35 độ Bắc ở Cựu Thế giới và 15 độ Nam đến 20 độ Bắc ở Tân Thế giới), nơi nhiều loài thực vật và động vật có khả năng thuần hóa được đang dần tiến hóa. Trong phạm vi dải đất rộng lớn này, có một vùng, gọi là Hilly Flanks nằm ở Tây Nam Á, là may mắn nhất, do có mật độ đông, thực vật dễ thuần dưỡng dày đặc nhất nên những cư dân ở đó dễ trở thành nông dân hơn là ở bất kỳ nơi nào khác. Do đó, dù con người (ở các nhóm lớn) tất cả đều giống nhau, nhưng cư dân vùng Hilly Flanks là những người đầu tiên định cư thành làng và thuần hóa các loài thực vật và động vật, bắt đầu trước năm 2000 TCN. Các xã hội phương Tây hình thành từ những người nông dân đầu tiên này. Khoảng 2.000 năm sau, chủng người ở Trung Hoa bây giờ – nơi những loài có thể thuần hóa cũng dồi dào, dù không bằng ở vùng Hilly Flanks – cũng di chuyển theo cùng một cách thức; và từ họ lan rộng thành các xã hội phương Đông. Và trong vòng vài nghìn năm sau đó, con người bắt đầu thuần hóa các loài thực vật và/hoặc động vật ở nửa tá khu vực khác trên thế giới, và cứ mỗi lần như thế lại khởi đầu một truyền thống khu vực khác.

Do người phương Tây là những người đầu tiên canh tác đất đai, và bởi vì con người (ở các nhóm lớn) đều giống nhau, nên người phương Tây cũng là những người đầu tiên cảm nhận được nghịch lý của sự phát triển một cách nghiêm túc và là những người đầu tiên học được những điều mà tôi gọi là thuận lợi của sự lạc hậu. Phát triển xã hội gia tăng cũng đồng nghĩa với việc các quần thể dân cư đông đúc hơn, lối sống phức tạp hơn, giàu có hơn và sức mạnh quân sự lớn hơn. Thông qua những kết hợp giữa thuộc địa hóa và sự tranh đua, các xã hội có phát triển xã hội tương đối cao đã bành trướng và phát triển trên mồ hôi nước mắt của những dân tộc phát triển kém hơn, và nền nông nghiệp cứ thế mà lan rộng. Để canh tác ở các vùng đất mới như những lưu vực sông nước nóng bức của vùng Mesopotamia, nông dân buộc phải tạo ra phiên bản nông nghiệp mới qua thực tiễn, và trong quá trình hình thành nền nông nghiệp tưới tiêu họ đã phát hiện ra những lợi thế khiến vùng biên địa khá lạc hậu này thậm chí còn thành công hơn so với vùng lõi nông nghiệp ban đầu ở vùng Hilly Flanks. Và một thời gian sau năm 9000 TCN, trong khi dân cư ở vùng Hilly Flanks đông đúc đang cố gắng quản lý những ngôi làng nông nghiệp lớn nhất của mình, thì chính người dân vùng Mesopotamia đã biết làm thế nào để tự tổ chức thành những thành phố và quốc gia. Khoảng 2.000 năm sau, quá trình này cũng diễn ra ở phương Đông cùng với những nghịch lý phát triển để lộ một số thuận lợi của sự lạc hậu hơi tương tự ở các châu thổ kết nối với lưu vực Hoàng Hà.

Các quốc gia mới phải tương tác với các nước láng giềng theo những phương cách mới, càng tạo ra những nghịch lý của phát triển, thậm chí nhiều hơn, dọc theo các vùng biên giới. Họ phải học cách xử lý chúng khi gặp vấn đề bất ổn – như có thể đã từng xảy ra ở thời kỳ Uruk thuộc vùng Lưỡng Hà khoảng năm 3100 TCN và ở di chỉ Đào Tự vào khoảng năm 2300 TCN, và chắc chắn đã xảy ra ở phương Tây sau các năm 2000 và 1750 TCN – thì chúng sụp đổ trong hỗn loạn. Mỗi lần sụp đổ đều trùng khớp với một thời kỳ thay đổi khí hậu, mà theo tôi, được xem là kỵ sĩ Khải huyền thứ năm thêm vào cho tứ kỵ sĩ Khải huyền, là những thảm họa do con người tạo ra.

Phát triển xã hội gia tăng cũng tạo ra những trì trệ và sụp đổ nghiêm trọng hơn, nhưng đồng thời nó cũng phát sinh nhiều khả năng và sức mạnh lớn hơn để hồi phục. Sau năm 1550 TCN, các thành phố và quốc gia phương Tây hồi phục nhanh chóng sau các thảm họa, đồng thời bành trướng quanh vùng bờ đông Địa Trung Hải. Tương phản lớn thứ hai về mặt địa lý giữa phương Đông và phương Tây sau đó cũng trở thành một nhân tố quan trọng; ở phương Đông không có gì giống như một thứ biển nội địa đặc biệt này, cung cấp vận chuyển giá rẻ và dễ dàng. Nhưng như nhiều vùng khác, vùng Địa Trung Hải cũng là một nghịch lý, đem lại những cơ hội đồng thời cả những thách thức. Khi phát triển xã hội đạt đến 24 điểm, các thế lực chia rẽ trên vùng biên giới rộng lớn này vượt ngoài tầm kiểm soát, và khoảng năm 1200 TCN, những kỵ sĩ Khải huyền lại tung vó (hay giương buồm, kết hợp với phép ẩn dụ). Vùng lõi phương Tây tan vỡ thậm chí còn nhiều kịch tính hơn trước đây, mở ra một thời kỳ đen tối kéo dài hàng thế kỷ.

Nhờ nghịch lý của phát triển, việc dẫn đầu trong phát triển xã hội mà vị trí địa lý đã ban tặng cho phương Tây vào cuối Thời đại Băng hà là dài hạn nhưng không bị chốt khóa. Những sụp đổ là điều không thể dự đoán được. Đôi khi một vài quyết định khác nhau hay một chút may mắn có thể làm trì hoãn, giảm bớt, hoặc thậm chí thoát khỏi thảm họa; những lựa chọn của chúng ta có thể tạo ra sự khác biệt. Để phá vỡ ngưỡng 24 điểm, các quốc gia phải tự tái cơ cấu và triển khai một đường lối suy nghĩ hoàn toàn mới về thế giới, tạo ra thứ mà chúng ta có thể gọi là tư duy Trục thuộc làn sóng đầu tiên. Khoảng năm 1200 TCN, do người phương Tây không thực hiện việc tái cơ cấu và thay đổi tư duy nên sự dẫn đầu của họ trước phương Đông trong phát triển xã hội đã bị thu hẹp; rồi ở thiên niên kỷ thứ nhất TCN, do người phương Tây và người phương Đông thành công trong việc đưa ra những điều chỉnh cần thiết khi sự phát triển gia tăng, nên điểm số của họ vẫn so kè nhau trong 1.000 năm.

Người phương Tây và người phương Đông cùng tạo ra các nhà nước tập quyền hơn và tiếp đó là các đế chế phát triển mạnh mẽ, và sau năm 200 TCN đã đạt đến một quy mô bắt đầu thay đổi lại ý nghĩa địa lý. Ở phương Tây, Đế quốc La Mã đặt vùng Địa Trung Hải sóng gió dưới quyền kiểm soát và phát triển xã hội đã tăng quá 40 điểm. Đến thế kỷ I, nó cũng lấn được ngưỡng cứng. Đồng thời, sự trỗi dậy của các Đế quốc La Mã và nhà Hán cũng làm thay đổi ý nghĩa những không gian rộng lớn ngăn cách Đông và Tây. Với sự thịnh vượng ở mỗi đầu đại lục Á-Âu, thương nhân và những người du mục trên thảo nguyên tìm thấy những lý do mới để di chuyển, thăm dò việc kết nối các vùng lõi và mở đầu cho Sự Trao đổi lần đầu ở Cựu Thế giới. Những tiếp xúc đã giúp thúc đẩy phát triển của phương Đông và phương Tây ở mức cao, nhưng chúng cũng tạo ra những gãy đổ chưa từng thấy. Lần đầu tiên, năm kỵ sĩ Khải huyền cùng kết nối các vùng lõi, trao đổi vi trùng cũng như hàng hóa và tư tưởng cho nhau. Và thay vì phá vỡ ngưỡng cứng, Đế quốc La Mã và nhà Hán đều tan rã sau năm 150.

Cả phương Đông lẫn phương Tây đều rơi vào những thời kỳ đen tối mới, trong đó tư tưởng Trục thuộc làn sóng thứ hai (Ki-tô giáo, Islam giáo, và các hình thái mới của Phật giáo) thay thế những tư tưởng Trục cũ kỹ thuộc làn sóng đầu tiên, nhưng mặt khác, sự sụp đổ của hai đế chế này hoàn toàn khác nhau. Ở phương Tây, những kẻ xâm lăng người German đã làm tan tác vùng đất kém phát triển của Đế quốc La Mã quanh Bờ Tây Địa Trung Hải, và vùng lõi này phải lùi vào vùng đất trung tâm phát triển hơn trước đó, quanh bờ đông Địa Trung Hải. Ở phương Đông, những kẻ xâm lăng từ vùng Nội Á đã phá vỡ vùng đất cũ và phát triển hơn của Đế chế nhà Hán trước đây quanh lưu vực Hoàng Hà, và vùng lõi phải lùi về những vùng đất kém phát triển hơn nằm bên ngoài sông Dương Tử.

Sự tương phản về mặt địa lý đã tạo ra một thế giới khác biệt. Đến năm 450, một biên giới mới thuộc nền nông nghiệp lúa gạo bắt đầu bùng phát quanh lưu vực sông Dương Tử; và đến năm 600, Trung Hoa lại tái thống nhất, và vào thế kỷ tiếp theo, Đại Vận Hà, nối liền sông Dương Tử và Hoàng Hà, đã ban tặng cho Trung Hoa một hệ thống đường thủy nội địa có chức năng tương tự như Địa Trung Hải của Đế quốc La Mã cổ đại. Tuy nhiên, ở phương Tây, nơi những kẻ xâm lăng người Ả Rập đủ sức mạnh để phá vỡ vùng lõi Địa Trung Hải cũ nhưng lại không đủ sức để tạo dựng lại, phát triển xã hội vẫn tiếp tục rơi xuống mãi cho đến năm 700.

Khoảng năm 541, phát triển của phương Đông đã vượt lên phương Tây (chứng tỏ một cách chắc chắn rằng việc phương Tây thống lĩnh thế giới chưa bao giờ là một mặc định) và đến năm 1100 thì nó chạm ngưỡng cứng. Do sự phát triển kinh tế vượt quá nguồn tài nguyên nên các nhà sản xuất đồ sắt phải sử dụng nhiên liệu hóa thạch, các nhà phát minh tạo ra những máy móc mới và giới trí thức thời nhà Tống lao vào một cuộc phục hưng Trung Hoa thực sự. Nhưng cũng giống như thành Rome 1.000 năm trước, người Trung Hoa đời Tống không thể phá vỡ được ngưỡng cứng.

Trong một chừng mực nào đó, những sự kiện ở đầu thiên niên kỷ thứ hai TCN cũng tương đồng với những sự kiện ở thiên niên kỷ I, nhưng tình trạng giữa Đông và Tây đảo ngược. Với đà phát triển ngày càng tăng, một Sự Trao đổi lần hai ở Cựu Thế giới đã hình thành và giải phóng năm kỵ sĩ Khải huyền một lần nữa. Phát triển xã hội ở cả hai vùng lõi đều rơi xuống, nhưng phương Đông lại rơi lâu nhất và xa nhất. Ở phương Tây, vùng trung tâm Islam giáo ở phía đông Địa Trung Hải phát triển nhất cũng gánh chịu nhiều nhất, và đến năm 1400, một vùng lõi mới đã hình thành và tạo được sự phục hưng riêng ở Tây Âu.

Những vùng đất châu Âu trước nằm ở vùng ngoại vi bị chia tách giờ đây đã phát hiện được những thuận lợi ngay trong sự lạc hậu của mình. Công nghệ đóng tàu và chế tạo đại pháo mà người Tây Âu đã học được từ phương Đông trong cuộc Trao đổi lần hai ở Cựu Thế giới cho phép họ biến Đại Tây Dương thành một tuyến đường, một lần nữa làm chuyển đổi ý nghĩa của vị trí địa lý. Mong muốn khai thác sự giàu có của phương Đông, những thủy thủ phương Tây tỏa ra kiếm tìm, và rồi – trong sự ngạc nhiên của mình – họ đã tình cờ phát hiện ra châu Mỹ.

Người phương Đông có thể đã khám phá ra châu Mỹ vào thế kỷ XV (một số người tin điều này) nhưng vị trí địa lý lại giúp người phương Tây có khả năng đến đó trước. Người phương Đông thu hoạch được nhiều hơn bằng việc dong buồm đến những vùng giàu có ở Ấn Độ Dương thay vì vào vùng Thái Bình Dương trống trải và đẩy vùng nội địa vào sâu trong vùng thảo nguyên, vốn từng là mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh của họ trong gần 2.000 năm.

Vào thế kỷ XVII, việc mở rộng các vùng lõi làm thay đổi ý nghĩa địa lý nhiều hơn bao giờ hết. Những đế quốc tập quyền với súng hỏa mai và đại pháo đã đóng lại Tuyến đường Thảo nguyên vùng Đông Bắc Á kết nối giữa Đông và Tây, chấm dứt những cuộc di dân của người du mục và triệt được một trong số những kỵ sĩ Khải huyền một cách hiệu quả. Ngược lại, thủy lộ Đại Tây Dương mà những thương nhân Tây Âu mở ra đã thúc đẩy sự gia tăng các thị trường mới và đặt ra những câu hỏi hoàn toàn mới về cách thức thế giới tự nhiên vận hành. Vào năm 1700, phát triển xã hội lại một lần nữa áp sát ngưỡng cứng, nhưng lần này lực lượng kỵ sĩ Khải huyền không thể tung vó được, thảm họa được kiềm chế đủ lâu để các nhà buôn Tây Âu đáp ứng các ưu đãi của tuyến đường đại dương với việc giải phóng sức mạnh tuyệt vời của than đá và hơi nước.

Nếu đủ thời gian, người phương Đông cũng có thể thực hiện được những phát minh như thế và đã có được cuộc cách mạng công nghiệp của riêng mình, nhưng vị trí địa lý lại tạo điều kiện dễ dàng hơn cho người phương Tây – điều này có nghĩa là con người (ở các nhóm lớn) ai cũng đều giống nhau, nhưng người phương Tây lại có cuộc cách mạng công nghiệp trước tiên. Chính vị trí địa lý đã đem chú chó Looty đến Balmoral thay vì Hoàng thân Albert đến Bắc Kinh.

Không phải lý do tại sao phương tây thống lĩnh

Thế nhưng bạn có thể thắc mắc, yếu tố con người thì sao? Những trang trong cuốn sách này đầy rẫy nhân vật vĩ đại (kể cả phụ nữ), những kẻ ngốc nghếch vụng về, những niềm tin và mâu thuẫn dai dẳng của họ; rốt cùng có những điểm nào trong số đó có tầm quan trọng gì không?

Câu trả lời là có và cũng là không. Tất cả chúng ta đều có ý chí tự do, và như tôi đã nhấn mạnh nhiều lần, những lựa chọn của chúng ta đúng là cũng làm thay đổi thế giới, chỉ có điều hầu hết các lựa chọn của chúng ta không thay đổi thế giới nhiều lắm. Chẳng hạn ngay bây giờ tôi có thể quyết định dừng viết cuốn sách này, bỏ việc và trở thành một người săn bắt-hái lượm. Chắc chắn điều này sẽ tạo ra sự khác biệt. Tôi sẽ mất nhà và do không biết gì nhiều về săn bắt hay hái lượm, tôi có thể bị ngộ độc hoặc chết đói. Một số người quanh tôi sẽ bị tác động mạnh, và khá nhiều người sẽ bị tác động nhẹ. Và phần bạn chẳng hạn, sẽ phải tìm thứ gì khác để đọc. Nhưng mặt khác, thế giới vẫn tiếp diễn. Không thể hình dung được có quyết định nào tôi đưa ra sẽ làm thay đổi việc phương Tây có thống lĩnh thế giới hay không.

Tất nhiên, nếu hàng triệu người Mỹ khác cũng quyết định rời bỏ công việc 8 tiếng đồng hồ mỗi ngày và chọn cuộc sống lang thang, thì quyết định cá nhân kỳ quặc của tôi sẽ được chuyển hóa từ một lầm lạc cá nhân điên cuồng thành một phần của phong trào đại chúng (dù vẫn còn kỳ quặc), điều rõ ràng sẽ tạo sự khác biệt. Có rất nhiều dẫn chứng về những quyết định mang tính tập thể đó. Ví dụ như ở cuối Thế chiến II, có đến nửa tỉ phụ nữ quyết định kết hôn sớm hơn mẹ mình và sinh thêm nhiều con. Dân số tăng vọt. Rồi 30 năm sau, trọn một tỉ con gái của họ lại quyết định làm ngược lại, thế là tăng trưởng dân số chậm lại. Nói chung, những lựa chọn này đã làm thay đổi tiến trình lịch sử hiện đại.

Tuy nhiên, chúng không phải là những ý tưởng bốc đồng. Cách đây một thế kỷ rưỡi, Karl Marx đã nói thẳng vào vấn đề, ông cho rằng: “Đàn ông [và phụ nữ] tạo ra lịch sử riêng của họ, nhưng họ không tạo ra nó theo như ý muốn của mình, và cũng không tạo ra nó trong hoàn cảnh do họ chọn lựa.”❖ Phụ nữ thế kỷ XX có những lý do chính đáng trong việc quyết định có nhiều con hơn (rồi ít hơn) đến nỗi họ luôn cảm thấy thực sự không có lựa chọn nào về vấn đề đó – cũng giống như những con người quyết định chọn làm nông nghiệp 10.000 năm trước đó, hay chuyển đến sống ở các thành phố cách đây 5.000 năm, hoặc kiếm việc làm ở các nhà máy 200 năm trước đây ắt hẳn luôn cảm thấy không còn sự lựa chọn nào khác.

Tất cả chúng ta đều chịu những áp lực mạnh mẽ trong việc đưa ra những lựa chọn phù hợp với thực tế. Dù sao đi nữa, tất cả chúng ta đều biết có người bỏ qua những áp lực này và đưa ra những quyết định bất thường. Thường thì chúng ta ngưỡng mộ những con người cấp tiến, nổi loạn và lãng mạn, nhưng hiếm khi chúng ta đi theo sự dẫn dắt của họ. Hầu hết chúng ta cũng đều biết rằng những kẻ tuân thủ tập tục có xu hướng tạo được cuộc sống tốt đẹp hơn (ý của tôi ở đây là dễ có cơ hội kiếm được thực phẩm, chỗ ở và bạn bè) hơn là những người như Anna Karenina. Sự tiến hóa chọn lọc cho điều mà chúng ta gọi là lẽ thường.

Thật ra, những lựa chọn khác thường đôi khi cũng có thể đạt được những kết quả phi thường. Hãy lấy trường hợp của Muhammad làm dẫn chứng. Thương nhân người Ả Rập này đúng ra có thể đã chọn trở nên khôn khéo, lấy cớ cho cuộc gặp gỡ với Tổng lãnh thiên thần Gabriel khoảng năm 610 là do nghìn nguyên nhân hợp lý khác. Nhưng thay vì thế, ông ta lại chọn lắng nghe người vợ cứ khăng khăng cho rằng cuộc viếng thăm đó là có thật. Trong nhiều năm, Muhammad dường như có vẻ dễ theo con đường của hầu hết các nhà tiên tri, vốn thường bị chế giễu và lãng quên, nhưng thay vì thế, ông lại hợp nhất được người Arab, và các caliph kế nghiệp ông đã hủy diệt Ba Tư, làm tan vỡ Đế quốc Byzantine và chia tách phương Tây thành hai mảnh.

Mọi người đều đồng ý rằng Muhammad là một nhân vật vĩ đại. Rất ít người có tác động đến lịch sử nhiều đến thế. Nhưng nếu quả vậy, thì việc chuyển đổi vùng lõi phương Tây trong và sau thế kỷ VII cũng không thể nào quy cho một mình ông. Người Ả Rập đã phát kiến các phiên bản mới của thuyết độc thần và hình thành nên các vương quốc riêng của họ trên sa mạc trước khi Gabriel xuất hiện trước mặt Muhammad. Đế quốc Byzantine và Ba Tư đang trong tình trạng rối loạn trầm trọng trước khi các toán quân Islam giáo bắt đầu tràn sang biên giới của những nước này, còn vùng Địa Trung Hải thì đã phân ly kể từ thế kỷ III.

Nếu Muhammad đưa ra những lựa chọn khác, thì người Ki-tô giáo thế kỷ VII chỉ có thể gây chiến lẫn nhau thay vì để người Islam giáo xâm lăng. Có thể nếu không có Muhammad, phát triển xã hội phương Tây sẽ hồi phục nhanh hơn sau năm 750, nhưng cũng có thể không, nhưng chắc chắn nó vẫn phải mất hàng thế kỷ để bắt kịp phương Đông. Vùng lõi phương Tây có thể vẫn nằm lại ở phía đông Địa Trung Hải dù Muhammad có làm gì đi chăng nữa, người Turk vẫn có thể tràn ngập nó vào thế kỷ XI và người Mông Cổ sau thế kỷ XIII (và một lần nữa khoảng năm 1400); và vùng lõi vẫn sẽ chuyển về phía tây hướng đến Italy rồi sau đó là Đại Tây Dương ở thế kỷ XV trở đi. Nếu Muhammad mực thước hơn thì có lẽ hình ảnh thập tự giá, chứ không phải trăng lưỡi liềm, giờ đây có thể truyền cảm hứng cho đức tin từ Morocco đến Malaysia – một điều không nhỏ chút nào, nhưng không có lý do gì để nghi ngờ việc người châu Âu vẫn chinh phục châu Mỹ hay phương Tây giờ đây thống lĩnh thế giới.

Những gì là đúng về Muhammad có lẽ còn đúng hơn với những con người vĩ đại khác mà chúng ta đã biết. Tiglath-Pileser III của Đế quốc Assyria và Tần Thủy Hoàng đều tạo ra những đế quốc cổ đại cấp cao, tập quyền và khủng khiếp, dòng họ Habsburg ở châu Âu và Hideyoshi ở Nhật Bản đều không thể tạo dựng các đế chế lãnh thổ lớn trong thế kỷ XVI; cuộc Cách mạng Vinh quang của nước Anh năm 1688 và cái chết của Mao Trạch Đông năm 1976 đều đưa đẩy các thế lực cải cách nắm lấy quyền lực. Ngoài ra, hầu hết những gì các nhân vật vĩ đại hay ngốc nghếch vụng về tạo ra chỉ để tăng tốc hoặc làm chậm lại những tiến trình vốn đã vận hành sẵn. Không ai có thể bẻ lái lịch sử sang một con đường hoàn toàn mới. Thậm chí Mao Trạch Đông cũng chỉ có thể trì hoãn sự cất cánh của nền công nghiệp Trung Hoa, tạo cơ hội cho Đặng Tiểu Bình được nhớ đến như một con người vĩ đại làm đất nước Trung Hoa khởi sắc. Nếu chúng ta có thể chiếu lại quá khứ như một thử nghiệm, giữ lại tất cả mọi thứ giống nhau nhưng thay thế những kẻ ngốc nghếch vụng về bằng những nhân vật vĩ đại (và ngược lại), mọi điều hẳn sẽ diễn ra giống hệt nhau, thậm chí nếu chúng có chuyển động với tốc độ hơi khác nhau. Những con người vĩ đại (gồm cả nữ giới) rõ ràng muốn nghĩ rằng chỉ bằng sức mạnh ý chí của mình, họ đang thay đổi thế giới, nhưng họ đã sai lầm.

Điều này cũng áp dụng cho cả bên ngoài phạm vi chính trị cũng như bên trong. Chẳng hạn như Matthew Boulton và James Watt chắc chắn là những con người vĩ đại, người sau thì phát minh và người trước thì tiếp thị những máy móc làm thay đổi thế giới. Nhưng họ không phải là những nhân vật vĩ đại duy nhất, chẳng khác gì Alexander Graham Bell là người duy nhất khi nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho điện thoại mới phát minh của mình vào ngày 14 tháng 2 năm 1876 – cũng cùng ngày Elisha Gray nộp một bằng sáng chế cho điện thoại mới được phát minh của ông ta. Boulton và Watt cũng không độc đáo hơn người quen của họ là Joseph Priestley, người phát hiện oxy vào năm 1774, một năm sau khi một nhà hóa học người Thụy Điển (Carl Wilhelm Scheele) phát hiện ra nó. Hay độc đáo hơn so với bốn người châu Âu riêng lẻ cùng phát hiện ra những vệt đen trên mặt trời vào năm 1611.

Các nhà sử học thường ngạc nhiên trước xu hướng trùng lặp của những phát minh, phải chăng bóng đèn ở một số bộ não con người bật sáng hầu như cùng một thời điểm. Những ý tưởng lớn dường như ít khi là kết quả của tài hoa so với kết quả hợp lý từ một nhóm các nhà tư tưởng chia sẻ cùng những câu hỏi và phương pháp tương tự. Điều này rơi vào trường hợp các trí thức châu Âu ở đầu thế kỷ XVII; một khi có người phát minh ra kính viễn vọng (có đến chín người khác khẳng định mình đã phát hiện ra nó) thì điều đáng gọi là khác thường chính là nếu nhiều nhà thiên văn học không kịp thời phát hiện những vệt đen trên mặt trời.

Có một số phát minh hiện đại trùng lặp nhiều lần đến nỗi nhà thống kê học Stephen Stigler còn đề xuất một đạo luật quy định không phát minh nào được lấy tên người phát hiện ra nó (Luật của Stigler, theo khảo chứng của ông ta, thực ra đã được phát hiện bởi nhà xã hội học Robert Merton 25 năm trước đó). Boulton và Watt đã đi trước một nhóm, nhưng đã có một nhóm trước đó, và nếu như Boulton và Watt không tung ra thị trường một động cơ hơi nước có hiệu suất nhiên liệu tương đối hiệu quả vào thập niên 1770, thì chắc hẳn một trong những đối thủ của họ không sớm thì muộn cũng sẽ làm như thế. Thực ra, các nhóm khác có thể còn nhanh tay hơn nếu như Watt không bịa ra một bằng sáng chế khác thường để loại bỏ mọi đối thủ cạnh tranh ở lĩnh vực này.

Những nam/nữ nhân vĩ đại và những kẻ ngốc nghếch vụng về đều là những người sống trong thời đại của họ. Vậy chúng ta có nên kết luận rằng một kiểu tinh thần thời đại, chứ không phải là những cá nhân cụ thể, đã đặt định khuôn mẫu lịch sử bằng cách đôi khi tạo ra một bầu khí tạo ra sự vĩ đại và khi khác lại khởi phát một nền văn hóa thô vụng? Một số nhà sử học cũng nghĩ như vậy, chẳng hạn, họ cho lý do thực sự khiến phương Tây thống lĩnh thế giới là do ở thế kỷ XIV nền văn hóa Trung Hoa chuyển sang hướng nội mà đoạn tuyệt với thế giới, trong khi nền văn hóa châu Âu lại có tính hướng ngoại, thúc đẩy các nhà thám hiểm vượt muôn trùng đại dương cho đến khi họ trôi dạt vào châu Mỹ.

Tôi cũng dành chút thời gian cho ý tưởng này ở Chương 8, cho rằng nó không có ý nghĩa gì nhiều đối với các sự kiện. Văn hóa vốn ít có trọng lượng trong việc bày biểu chúng ta phải làm gì hơn là khi ở tòa thị chính để tranh cãi về các lựa chọn của chúng ta. Mỗi thời đại đều có những tư tưởng cần thiết được sai khiến bởi những vấn đề mà địa lý và phát triển xã hội áp đặt lên nó.

Điều này giải thích lý do tại sao lịch sử tư tưởng phương Đông và phương Tây lại có sự tương đồng đến thế trong suốt 5.000 năm qua. Ở cả hai vùng lõi, sự trỗi dậy của các nhà nước đầu tiên, khoảng năm 3500 TCN ở phương Tây và sau năm 2000 TCN ở phương Đông, đặt ra những tranh luận về bản chất và giới hạn của vương quyền thần thánh. Sau năm 750 TCN ở phương Tây và năm 500 TCN ở phương Đông, do các nhà nước ở cả hai vùng lõi trở nên quan liêu hơn, nên những tranh luận này nhường chỗ cho tư tưởng Trục thuộc làn sóng đầu tiên, tranh cãi về bản chất của sự siêu việt cá nhân và mối quan hệ của nó với thế quyền. Khoảng năm 200, khi triều đại nhà Hán và La Mã vĩ đại bị sụp đổ thì đến lượt những câu hỏi này chuyển sang tư tưởng Trục thuộc làn Sóng thứ hai, tranh cãi về việc những giáo hội có tổ chức có thể cứu rỗi tín đồ như thế nào trong một thế giới đầy biến động và hiểm nguy. Rồi khi phát triển xã hội hồi phục vào năm 1000 ở Trung Hoa và năm 1400 Italy, thì những vấn nạn Phục hưng nảy sinh – làm thế nào vượt qua quá khứ đầy thất vọng gần đây để phục hồi sự minh triết đã mất đi của Thời kỳ Trục đầu tiên – trở nên được quan tâm hơn.

Tôi ngờ rằng tư tưởng phương Đông và phương Tây phát triển giống nhau trong một thời gian dài vì chỉ có một lộ trình duy nhất để phát triển xã hội có thể tiếp tục gia tăng. Để vượt qua ngưỡng 24 điểm, các quốc gia phương Đông và phương Tây phải thực thi chính sách trung ương tập quyền, điều này chắc chắn sẽ dẫn các nhà trí thức đến với tư tưởng Trục thuộc làn sóng đầu tiên. Rồi sự suy thoái của những nhà nước này đã thúc đẩy con người hướng đến tư duy Trục thuộc làn sóng thứ hai, và rồi sự hồi sinh của chúng hầu như chắc chắn sẽ dẫn đến những phục hưng. Mỗi thay đổi lớn đều thúc đẩy con người nghĩ đến những tư tưởng mà thời đại cần đến.

Nhưng khác biệt lớn vào khoảng năm 1600 là những gì khi Tây Âu tiến đến tư duy khoa học trong khi các nước phương Đông (cùng với những người phương Tây sống ngoài vùng lõi quanh bờ Đại Tây Dương) lại không? Có phải sự chuyển đổi tư duy có ý nghĩa trọng đại này phản ánh những khác biệt văn hóa sâu sắc giữa người phương Đông và người phương Tây thay vì chỉ đơn thuần là do thời đại đó tiếp thu tư tưởng mà nó cần đến?

Một số nhà xã hội học (phương Tây) nghĩ như thế. Khi những nhà tâm lý học buộc người ta vào máy chụp cộng hưởng từ và yêu cầu họ giải quyết các vấn đề, những nhà tâm lý này đã chỉ ra rằng, các vùng phía trước và vùng đỉnh của não bộ các đối tượng là người phương Tây sẽ sáng hơn (chỉ ra rằng chúng vận động nhiều hơn để duy trì sự tập trung) nếu câu hỏi yêu cầu đặt thông tin trong một bối cảnh rộng lớn, so với khi yêu cầu những dữ kiện riêng lẻ về thông tin cơ bản của họ và xử lý chúng một cách độc lập. Đối với người phương Đông thì ngược lại.

Sự khác biệt này có ý nghĩa gì? Việc tách riêng các dữ kiện và xử lý chúng độc lập với bối cảnh của chúng là những dấu hiệu của khoa học hiện đại (như trong mẫu điều kiện được ưa chuộng “nếu như mọi thứ đều như nhau…”); có thể khi vận hành một lý thuyết, sự tương phản trong chức năng não bộ đồng nghĩa với việc người phương Tây thiên về luận lý và khoa học hơn người phương Đông.

Nhưng cũng có thể không. Các thí nghiệm không chỉ ra rằng người phương Đông không thể tách rời các sự kiện khỏi kinh nghiệm và hoàn cảnh của họ, hay người phương Tây không thể cân nhắc sự việc một cách thận trọng, chỉ có điều mỗi nhóm hầu như không quen với cách nghĩ như vậy, và phải nỗ lực nhiều hơn để đạt được thành quả. Cả hai nhóm đều có khả năng, và thường xuyên thực hiện cả hai loại công việc trên.

Ở mọi thời kỳ và trên mọi vùng đất, chúng ta đều tìm thấy những nhà duy lý và những nhà thần bí, những người thích tách sự kiện khỏi chi tiết và những người ham mê những điều phức tạp, và thậm chí một số người thực hiện tất cả những điều này ngay tức thì. Điều thay đổi là những thách thức đối với họ. Khi người châu Âu bắt đầu tạo ra nền kinh tế Đại Tây Dương khoảng năm 1600, họ cũng tạo ra những vấn đề mới cho chính mình, và các khuôn mẫu thực tiễn của khoa học và cơ khí đã trở thành mô hình xử lý chúng hiệu quả nhất. Trong 400 năm kế tiếp, những phương cách tư duy này được gắn vào giáo dục phương Tây và ngày càng trở thành một phương thức tư duy mặc định. Trong khi đó, ở phương Đông, nơi những kiểu thách thức do nền kinh tế Đại Tây Dương tạo ra dường như ít cấp thiết hơn cho đến lúc bước vào thế kỷ XIX thì tiến trình này vẫn chưa đi đến đâu.

Gần đây, vào thập niên 1960, một số nhà xã hội học phương Tây lập luận rằng văn hóa phương Đông – đặc biệt là Nho giáo – đã ngăn cản những người chìm đắm trong nó phát triển tinh thần cạnh tranh và đổi mới doanh nghiệp, vốn cần thiết cho sự thành công về kinh tế. Vào thập niên 1980, chứng kiến sự thành công về mặt kinh tế của Nhật Bản, một thế hệ mới các nhà xã hội học đã kết luận rằng các giá trị Nho giáo về sự tôn trọng quyền lực và hy sinh cho tập thể không hạn chế chủ nghĩa tư bản; nói đúng hơn, các giá trị này nhằm giải thích thành công của Nhật Bản. Có thể đưa ra một kết luận hợp lý hơn, đó là con người khế hợp nền văn hóa của họ với nhu cầu phát triển xã hội, nên vào cuối thế kỷ XX đã hình thành những nhà tư bản Khổng giáo và cộng sản cũng như nhà tư bản tự do.

Kết luận cho rằng chúng ta có được những tư duy cần thiết cũng có thể giải thích được một hiện tượng kỳ lạ khác mà các nhà tâm lý học gọi là Hiệu ứng Flynn. Kể từ khi có các bài kiểm tra chỉ số thông minh (IQ test), điểm số trung bình đã tăng dần lên (khoảng 3 điểm mỗi thập niên). Việc cho rằng tất cả chúng ta trở nên thông minh hơn có thể gây phấn khích cho mọi người, nhưng có khả năng chúng ta chỉ khá hơn ở tư duy theo đường lối phân tích hiện đại mà những kiểm tra này lượng định. Việc đọc sách khiến chúng ta hiện đại hơn lối kể chuyện truyền thống, và (điều làm nhiều nhà giáo dục hoảng sợ) chơi các trò chơi trên máy tính dường như làm cho chúng ta hiện đại hơn.

Điều hiển nhiên là không phải tất cả các nền văn hóa đều phản ứng như nhau với những hoàn cảnh thay đổi. Chẳng hạn, ở các vùng đất Islam giáo hiếm khi sản sinh những thể chế dân chủ nổi bật, những nhà khoa học đoạt giải Nobel, hay những nền kinh tế hiện đại đa dạng. Từ đó, một số người không theo Islam giáo kết luận rằng Islam giáo hẳn phải là một tín điều tăm tối, nhấn chìm hàng triệu người trong sự mê tín. Nhưng nếu quả đúng như thế, thì lại khó giải thích lý do tại sao 1.000 năm trước đó nhiều nhà khoa học, triết gia, và kỹ sư giỏi nhất thế giới lại là người Islam giáo hay tại sao cho đến thế kỷ XVI, các nhà thiên văn học của thế giới Islam giáo vẫn tài giỏi hơn bất kỳ ai.

Tôi cho rằng lời giải thích thực sự là do từ năm 1700 nhiều người Islam giáo đã hướng nội nhằm phản ứng lại những thất bại quân sự và chính trị, cũng giống như nhiều sĩ phu Trung Hoa đã làm ở thế kỷ XIII và XIV, Islam giáo vẫn là một căn lều rộng rãi. Ở một cực xa nhất là Thổ Nhĩ Kỳ, đất nước được hiện đại hóa hiệu quả đến nỗi trở thành một ứng viên thích hợp để gia nhập Liên minh châu Âu; nhưng ở cực kia, chúng ta lại thấy những người như nhóm Taliban sẵn sàng giết phụ nữ vì phô bày khuôn mặt trước công chúng. Dù sao, nhìn chung thì khi thế giới Islam giáo mất đi vị thế vùng lõi của phương Tây để biến thành một vùng ngoại vi bị khai thác, phát triển xã hội của nó cũng đình trệ ở khía cạnh nạn nhân. Việc đó là một gánh nặng lớn lao của thế giới Islam giáo hiện đại; và rồi ai mà biết được thế giới Islam giáo sau đó sẽ phát hiện được những thuận lợi gì trong sự lạc hậu của nó.

Văn hóa và ý chí tự do là những nhân tố khó lường, làm phức tạp thêm định lý Morris vốn cho rằng sự thay đổi được tạo ra bởi những con người lười biếng, tham lam, sợ hãi (những người hiếm khi biết rõ mình đang làm gì) muốn tìm kiếm những phương thức làm việc dễ dàng hơn, sinh lợi hơn và an toàn hơn. Văn hóa và ý chí tự do sẽ chỉ đẩy nhanh hoặc làm chậm lại phản ứng của chúng ta đối với những hoàn cảnh thay đổi. Chúng làm chệch hướng và khuấy đục bất kỳ lý thuyết đơn giản nào. Nhưng – như câu chuyện phơi bày rõ ràng ở Chương 1 đến Chương 10 – về lâu về dài, văn hóa và ý chí tự do sẽ không bao giờ loại bỏ được sinh vật học, xã hội học, và địa lý học.

Trở lại tương lai

Những nguyên nhân về sự vượt trội của phương Tây có cả dài hạn lẫn ngắn hạn, nằm trong tác động qua lại chuyển đổi liên tục của vị trí địa lý và phát triển xã hội, nhưng sự vượt trội của phương Tây không bị chốt khóa và cũng không ngẫu nhiên. Sẽ dễ hiểu hơn nếu gọi nó là khả năng được chọn, kết quả rất có thể xảy ra, thông qua phần lớn tiến trình lịch sử, trong một trò chơi mà vị trí địa lý đặt định cho khả năng thành công nghiêng về phương Tây. Có thể nói rằng sự vượt trội của phương Tây luôn là một khả năng chắc chắn.

Để giải thích cho những nhận xét khá khó hiểu này, tôi muốn mượn một phương pháp từ bộ phim hài Back to the Future (Trở về tương lai) năm 1985 của đạo diễn Robert Zemeckis. Gần đầu bộ phim, một giáo sư điên kết hợp bộ khuếch đại đàn guitar, chất plutonium bị đánh cắp và một chiếc xe hiệu DeLorean để tạo ra một cỗ máy thời gian. Khi những kẻ khủng bố giết vị giáo sư này, chàng thiếu niên Marty McFly (do Michael J. Fox đóng) đuổi theo và cỗ máy/xe thời gian đã phóng anh ta trở lại năm 1955. Ở đó, chàng thiếu niên này gặp được cha mẹ tương lai của mình lúc còn ở độ tuổi anh ta. Thế là bùng nổ tai họa – thay vì yêu người sẽ là cha của anh ta, mẹ của Marty lại phải lòng Marty. Chúng ta có thể cho rằng nó chỉ là một mũi thêu nhỏ nhặt trong tấm thảm lịch sử, nhưng đối với Marty nó rất quan trọng: nếu anh ta không thể sửa đổi quá khứ trước khi bộ phim kết thúc thì anh ta sẽ chẳng bao giờ được sinh ra.

Thay vì đi theo phương pháp bình thường của một nhà sử học về việc khởi sự một câu chuyện ngay từ đầu và tường thuật nó cho đến thời đại của chúng ta, tôi nghĩ kiểu nhảy cóc như McFly về quá khứ có khi lại hữu ích, và rồi, giống như trong phim, dừng lại để tư vấn xem điều gì có thể xảy ra trong tương lai để phòng ngừa – giả dụ như lấy năm 2000 làm mốc – bằng cách ít nhiều cũng quay về thời quá khứ như trong phim đã làm.

Tôi sẽ khởi đầu hai thế kỷ trước đó, vào năm 1800. Đáp xuống vào đúng thời đại của Jane Austen, chúng ta sẽ thấy rằng đã có nhiều khả năng phương Tây tiến đến thống lĩnh thế giới vào năm 2000. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh đang được tiến hành, khoa học đang phát triển và sức mạnh quân sự của châu Âu lấn lướt mọi thế lực khác trên thế giới. Tất nhiên, không có điều gì là bất biến; với một chút may mắn hơn, Napoléon có thể đã chiến thắng trong mọi cuộc chiến, hay nếu ít may mắn hơn các nhà cầm quyền Anh có thể làm bung bét những thách thức của nền công nghiệp hóa. Hay nói cách khác, sự cất cánh của Anh có thể xảy ra chậm hơn, hay – như tôi đã nêu ra ở Chương 10 – cuộc cách mạng công nghiệp có thể đã chuyển sang phía bắc nước Pháp. Mọi khả năng đều có thể xảy ra. Tuy nhiên, rất khó nhận ra điều gì khả dĩ xảy ra sau năm 1800 để ngăn cản cuộc cách mạng công nghiệp phương Tây hoàn toàn. Và một khi quá trình công nghiệp hóa diễn ra, thật khó thể tưởng tượng được điều gì khả dĩ hợp lý xảy ra sau năm 1800 ngăn cản được cuộc cách mạng công nghiệp ở phương Tây nói chung. Và một khi nền công nghiệp hóa đã vận hành thì cũng khó hình dung được điều gì sẽ chặn đứng được những thị trường béo bở của nó khỏi lan tràn khắp thế giới. Khi triều đình Trung Hoa khước từ sứ đoàn thương mại của Anh vào năm 1793, Bá tước Macartney đã tuôn ra những lời lẽ như sau: “Thật là… vô vọng khi cố cầm giữ sự tiến bộ của tri thức nhân loại.”❖ – có thể đó chỉ là một cách nói khoa trương, nhưng phát ngôn của ông ta cũng có điểm đúng.

Cho dù chúng ta có dàn xếp những bất lợi cho phương Tây bao nhiêu chăng nữa, chẳng hạn như hình dung nền công nghiệp hóa của nó muộn mất 100 năm và sự bành trướng đế quốc của châu Âu còn ít ỏi cho đến tận thế kỷ XX, vẫn không có lý do cụ thể nào để nghĩ rằng trước đó sẽ có một cuộc cách mạng công nghiệp tự chủ ở phương Đông. Một sự cất cánh như thế ở phương Đông có lẽ cũng đòi hỏi sự trỗi dậy của một nền kinh tế vùng đa dạng như kiểu người phương Tây đã tạo ra quanh bờ Đại Tây Dương, và hẳn phải mất vài thế kỷ để xây dựng được nó. Sự vượt trội của phương Tây vào năm 2000 dù có không chốt khóa vào năm 1800, theo nghĩa chắc chắn 100%, theo tôi thì ít ra nó cũng có khả năng đến 95%.

Nếu chúng ta nhảy lùi thêm 150 năm nữa, từ năm 1800 lui về năm 1650, khi Newton vẫn còn là một cậu bé, thì sự vượt trội của phương Tây vào năm 2000 ít chắc chắn hơn, nhưng vẫn có thể xảy ra. Súng ống đã chặn các vùng thảo nguyên và tàu thuyền đang tạo ra nền kinh tế Đại Tây Dương. công nghiệp hóa vẫn chưa được mơ tưởng đến, nhưng những điều kiện tiên quyết của nó đã hình thành ở Tây Âu. Nếu người Hà Lan chiến thắng trong chiến tranh với Anh vào thập niên 1650, nếu cuộc đảo chính ở Anh năm 1688 với sự hậu thuẫn của Hà Lan bị thất bại, hay nếu vào năm 1689, cuộc xâm lăng của người Pháp vào nước Anh thành công, thì các thiết chế làm bà đỡ cho Boulton và Watt có thể không bao giờ định hình; và trong trường hợp đó thì theo nhận xét của tôi cuộc cách mạng công nghiệp có thể phải mất thêm vài thập niên hay xảy ra tại một nơi khác ở Tây Âu. Nhưng một lần nữa vẫn khó thấy những điều nào hợp lý có thể xảy ra sau năm 1650 để ngăn chặn nó. Có lẽ nếu nền công nghiệp hóa Tây phương chậm lại và các nhà cai trị Thanh triều cũng ứng xử khác đi, thì Trung Hoa ở thế kỷ XVII và XVIII sẽ bắt kịp khoa học châu Âu nhanh hơn, nhưng như chúng ta đã thấy ở Chương 9, phương Đông cần nhiều hơn thế nữa để được công nghiệp hóa trước. Sự vượt trội của phương Tây vào năm 2000 ít được chốt khóa vào năm 1650 hơn là năm 1800, nhưng vẫn cho kết quả hợp lý nhất – có lẽ xác suất lên đến 80%?

Lùi thêm 150 năm trước đó, đến năm 1500, thì dự đoán vẫn còn mơ hồ. Các nước Tây Âu đã đóng được tàu thuyền có thể đến Tân Thế giới, nhưng bản năng đầu tiên của họ đơn giản chỉ là cướp bóc. Nếu dòng họ Habsburg may mắn hơn (có lẽ nếu Luther chưa bao giờ sinh ra đời hay nếu Charles V thu nhận ông ta, hoặc hạm đội Tây Ban Nha chiến thắng trong cuộc hải chiến với nước Anh vào năm 1588 và cuộc nổi dậy của Hà Lan sau đó đã được xếp lại), thì có thể họ đã trở thành những người chăn cừu của các quốc gia theo Ki-tô giáo – trong trường hợp đó, tòa án dị giáo của Tây Ban Nha có thể đã làm câm nín những tiếng nói cấp tiến như Newton và Descartes, và nền thuế má độc đoán có thể hủy diệt nền thương mại của Hà Lan, Anh và Pháp theo cách đã phá hủy nền thương mại Tây Ban Nha trong lịch sử. Dù có nhiều giả định được đề xuất, nhưng với mọi điều chúng ta biết được thì đế chế Habsburg cũng có thể tạo ra tác động trái chiều, thúc đẩy nhiều tín đồ Thanh giáo vượt Đại Tây Dương để xây dựng thành phố trên các ngọn đồi, đẩy mạnh nền kinh tế Đại Tây Dương và cuộc cách mạng khoa học từ phía bên kia đại dương.

Còn một khả năng khác, dòng họ Habsburg dễ vấp phải tình trạng tồi tệ hơn trong thực tế. Nếu Đế quốc Ottoman đánh bại hoàn toàn đất nước Ba Tư thuộc dòng Shiite, thì người Thổ có thể đã chiếm luôn Vienna vào năm 1529; các mái vòm thánh đường Islam giáo có thể đã đâm thủng bầu trời nước Anh cùng các giáo sĩ báo giờ cầu kinh, và như Gibbon đã nói, việc diễn giải Kinh Koran giờ đây hẳn có thể được giảng ở các ngôi trường tại Đại học Oxford. Một chiến thắng của người Thổ sẽ giữ trọng tâm của phương Tây ở lại Địa Trung Hải và để nền kinh tế Đại Tây Dương tàn lụi dần – nhưng về mặt khác, giống như chiến thắng của dòng họ Habsburg tôi vừa mới hình dung, nó cũng có thể thúc đẩy một thế giới vùng Đại Tây Dương mạnh mẽ hơn. Cũng còn một khả năng khác: nếu ở thế kỷ XVII Đế quốc Ottoman và người Nga đánh nhau dữ dội hơn, thì tiềm lực quân sự của họ sẽ yếu đi đến mức không thể phong bế vùng thảo nguyên phía Tây trước những bộ tộc du mục. Trong trường hợp đó, những chiến thắng của nhà Thanh thế kỷ XVII và XVIII có thể thúc đẩy người Mông Cổ tràn vào châu Âu, biến cuộc khủng hoảng của phương Tây ở thế kỷ XVIII trở nên u ám chẳng khác gì những ngày cuối cùng của thành Rome. Và với một thời kỳ đen tối mới ở phương Tây, biết đâu Trung Hoa lại có thể, sau một chặng đường vài thế kỷ, đạt được những cuộc cách mạng khoa học và công nghiệp của riêng nó khi phát triển xã hội đã chạm đến ngưỡng cứng. Ai mà biết được chứ? Dù sao, có một điều rõ ràng là: vào năm 1500, tỉ lệ cược cho sự vượt trội của phương Tây vào năm 2000 sẽ thấp hơn nhiều so với năm 1650, có lẽ không nhiều hơn 50/50.

Rồi chúng ta về lại thêm 150 năm nữa, đến năm 1350, đúng vào thời kỳ đen tối của Cái Chết Đen, và từ vị trí thuận lợi này thì sự thống lĩnh của phương Tây vào năm 2000, thẳng thắn mà nói, xem ra khó có khả năng xảy đến. Nhân tố khó lường nhất ở tương lai gần là Thiết Mộc Nhi, nhà chinh phục người Mông Cổ, đã bung khỏi khu vực Trung Á để tàn phá Ấn Độ và Ba Tư, rồi tiếp đó làm tan vỡ Đế quốc Ottoman năm 1402. Ở thời điểm đó, Thiết Mộc Nhi lại quyết định quay về phía đông để trả thù sự khinh miệt từ vị hoàng đế Trung Hoa mà ông tưởng tượng ra, nhưng ông ta lại chết trên đường hành quân trước khi đạt được mục đích của mình. Nếu thay vào đó, ông ta cứ tiếp tục tiến về phía tây sau năm 1402, thì có thể đã tàn phá nước Italy, kết thúc sớm thời kỳ Phục hưng của nó và cản trở sự phát triển của phương Tây đến hàng thế kỷ. Mặt khác, nếu năm 1405 ông ta chưa chết trong chuyến hành quân về phía đông mà còn sống thêm vài năm nữa, thì biết đâu ông có thể lặp lại cuộc chinh phục tàn bạo của Hốt Tất Liệt đối với Trung Hoa, kiềm hãm sự phát triển của phương Đông, chứ không phải phương Tây, thêm nhiều thế kỷ.

Mọi tình huống đều có thể diễn ra theo nhiều cách khác nhau. Nếu Hồng Vũ⦾, người khai sáng triều Minh, thất bại trong việc thống nhất Trung Hoa sau những cuộc nội chiến, để lại một đất nước phân ly với các chiến quốc thay vì một đế quốc vĩ đại trong vùng lõi phương Đông thế kỷ XV, thì những hậu quả của nó sẽ như thế nào? Có thể đã xảy ra hỗn loạn, nhưng có lẽ việc loại bỏ chính sách nghiêm khắc của chế độ chuyển quyền triều Minh có khả năng sẽ thúc đẩy nền thương mại hàng hải mạnh mẽ hơn nữa. Tôi đã đề xuất trong Chương 8 rằng Trung Hoa dưới triều Minh chưa bao giờ có khả năng tạo ra một phiên bản phương Đông như nền kinh tế Đại Tây Dương ở phương Tây sau đó – do điều kiện địa lý bất lợi – nhưng nếu không có nhà Minh thì những thực dân và thương nhân phương Đông có khả năng đã tạo dựng được một nền kinh tế nhỏ hơn mang phong cách Đại Tây Dương ở vùng Đông Nam Á và Quần đảo Gia Vị (quần đảo Maluku). Tuy vậy, những điểm mấu chốt là các tình huống lựa chọn vào năm 1350 mở rộng hơn so với năm 1500. Sự thống lĩnh của phương Tây vào năm 2000 chỉ còn là một trong nhiều khả năng, có thể chỉ đạt không quá 25%.

Tôi còn có thể tiếp tục kiểu trò chơi thú vị “điều gì sẽ xảy ra nếu như…” Nhưng sự việc có lẽ đã quá rõ ràng. Việc phương Tây thống lĩnh thế giới vào năm 2000 là một vấn đề về xác suất chứ không phải những chốt khóa hay ngẫu nhiên, và nếu chúng ta càng lùi xa thời gian thì những nhân tố khó lường càng nhiều. Vào năm 1800, rất khó có khả năng những quyết định, xu thế văn hóa, hay tình huống ngẫu nhiên khác nhau gây cản trở cho sự vượt trội của phương Tây cho đến sau năm 2000; vào năm 1350 kết luận đó là hoàn toàn hợp lý. Dù sao chăng nữa cũng khó thể nghĩ ra được tình huống gì xảy ra sau năm 1350 có thể dẫn đến việc phương Đông sẽ công nghiệp hóa trước phương Tây hay hoàn toàn ngăn chặn việc công nghiệp hóa.

Để lục tìm một quá khứ có khả năng hợp lý dẫn đến sự thống lĩnh của phương Đông vào năm 2000, chúng ta phải quay trở về chín thế kỷ trước đó, đến năm 1100. Nếu vào thời điểm đó triều đại Tống Huy Tông xử lý những bộ tộc Nữ Chân tốt hơn, cứu vãn được thành Khai Phong năm 1127, hay nếu cha mẹ của cậu bé Thiết Mộc Chân bỏ quên cậu bé trên thảo nguyên đến chết thay vì lớn lên trở thành Thành Cát Tư Hãn, thì chuyện về sau ai mà biết được: Khoảng cách và công nghệ hàng hải có thể loại trừ một phiên bản Thái Bình Dương trên lộ trình tiến tới công nghiệp hóa mà châu Âu tiếp nối ở thế kỷ XVIII thông qua nền kinh tế Đại Tây Dương, nhưng có khả năng một nền kinh tế tương tự được dựng bằng các phương tiện khác. Nếu Trung Hoa thoát được sự tàn phá của người Nữ Chân và Mông Cổ thì nền văn hóa Phục hưng của nó có thể nở rộ thành một cuộc cách mạng khoa học thay vì bị lụi tàn bởi sự tự mãn và tục bó chân. Nhu cầu nội tại của 100 triệu thần dân Trung Hoa, giao thương giữa vùng nông nghiệp phía nam với vùng công nghiệp phía bắc, và việc thực dân hóa ở vùng Đông Nam Á thời đó có thể tạo ra cơ hội chuyển biến. Mặt khác, điều này cũng có thể không xảy ra; cho đến khi sở hữu súng ống và quân đội đủ khả năng đóng lại vùng thảo nguyên, Trung Hoa vẫn phải để ngỏ những cuộc di cư gây tàn phá. Có lẽ hơi lạc quan khi cho rằng giới quan lại đầu triều hoàn toàn có thể làm được nhiều điều trong cùng lúc. Tôi cho rằng những xung đột đối nghịch với sự cất cánh của phương Đông vào thế kỷ XII còn rất dài.

Nếu chúng ta thực hiện chuyến đi cuối cùng với cỗ máy thời gian lùi về 1.000 năm trước đời Tống, thì câu hỏi lớn lại thay đổi một lần nữa. Giờ đây chúng ta không phải đặt câu hỏi liệu phương Đông có đi đến thống lĩnh thế giới vào năm 2000 hay không mà phải hỏi liệu Đế quốc La Mã có thể vượt qua được ngưỡng cứng tại thời điểm 1700 năm trước khi phương Tây thực sự làm được điều này. Thành thật mà nói, tôi thấy không có cách nào xảy ra được. Cũng như nhà Tống, Đế quốc La Mã không chỉ cần tìm một giải pháp để vượt ngưỡng cứng không có nền kinh tế Đại Tây Dương mà còn cần một điều may mắn kỳ diệu để tránh được năm kỵ sĩ Khải huyền. Khi Đế chế nhà Hán ở Trung Hoa sụp đổ vào thế kỷ III, thì Đế quốc La Mã cũng bị rối ren trong tình trạng yếu ớt và đến thế kỷ V thì tan vỡ. Hẳn nhiên cũng có những phương cách để La Mã thắng thế các bộ tộc người Goth và đế chế đồng tông với mình cùng với việc xử lý những rối ren, nhưng rồi đế chế này có thể xử lý được cuộc khủng hoảng vào thế kỷ VII hay không? Và ngay cả khi một Đế quốc La Mã rộng lớn hơn vẫn tồn tại, thì liệu nó làm thế nào để thoát khỏi sự tuột dốc lâu dài của phát triển xã hội phương Tây? Một cuộc cách mạng công nghiệp của Đế quốc La Mã sau năm 100 thậm chí còn ít có khả năng xảy ra hơn cả một bước đột phá của nhà Tống sau năm 1100.

Với tất cả những dẫn chứng thêm vào này, chúng ta có thể đưa ra kết luận rằng sự thống lĩnh của phương Tây vào năm 2000 không phải là một chốt khóa dài hạn, cũng không phải một ngẫu nhiên ngắn hạn mà đúng hơn phải là một xác suất dài hạn. Sẽ không bao giờ có khả năng, ngay cả ở năm 1100, phương Đông sẽ công nghiệp hóa đầu tiên, đạt được khả năng phóng chiếu sức mạnh của nó trên toàn cầu và biến sự dẫn đầu về phát triển xã hội của nó thành sự thống lĩnh theo cách phương Tây đã làm sau này. Dù vẫn luôn có khả năng một ai đó cuối cùng sẽ phát triển súng ống và đế chế đủ khả năng đóng chặt vùng thảo nguyên, cùng với tàu thuyền và thị trường có khả năng mở ra các đại dương, nhưng một khi điều đó xảy ra thì lại càng có nhiều khả năng những lợi thế địa lý mới cũng vẫn dẫn dắt phương Tây đến với cuộc cách mạng công nghiệp trước phương Đông. Theo suy nghĩ của tôi, điều duy nhất có thể ngăn cản được nó chính là một thời khắc Hoàng hôn thực sự, một kiểu thiên tai mà Isaac Asimov đã miêu tả trong truyện ngắn cùng tên (Nightfall) mà tôi đã đề cập ở Chương 2: một thảm họa khủng khiếp áp đảo mọi câu trả lời, hủy diệt nền văn minh và ném nhân loại trở lại từ lúc khởi đầu.

Nightfall (hoàng hôn)

Nhưng cũng không bao giờ có khả năng đó. Thời kỳ thế giới tiến đến giai đoạn hoàng hôn gần nhất xảy ra trước kỷ nguyên phương Tây thống lĩnh thế giới vào khoảng năm 10800 TCN, khi một hồ băng rộng lớn thoát vào Bắc Đại Tây Dương làm hạ nhiệt độ đủ để làm nghẽn dòng hải lưu Gulf Stream. Thời đại Băng hà Nhỏ kéo dài 1.200 năm sau đó, gọi là thời kỳ Dryas Trẻ, đã kết thúc phát triển xã hội và làm tắt ngúm những thử nghiệm đầu tiên về đời sống làng định cư và canh tác sớm ở vùng Hilly Flanks. Thời kỳ Dryas Trẻ khiến cho mọi giai đoạn lạnh lên toàn cầu kể từ đó dường như chẳng thấm vào đâu, chỉ cần khoác áo ấm là xong.

Nghĩ đến những hậu quả của một sự kiện như trên quy mô của thời kỳ Dryas Trẻ nếu xảy ra ở thời điểm nào trong vài nghìn năm qua thì quả là khủng khiếp. Những vụ mùa trên thế giới sẽ thất bát năm này sang năm khác. Hàng trăm triệu người sẽ bị đói ăn. Cuộc di dân tập thể có thể làm trống rỗng phần lớn châu Âu, Bắc Mỹ và vùng Trung Á. Những cuộc chiến tranh, thất bại của nhà nước và dịch bệnh sẽ làm mọi thứ được biết đến trở nên khô kiệt. Diễn tiến xảy ra như thể năm kỵ sĩ Khải huyền đổi chiến mã lấy xe tăng. Một cộng đồng dân cư co cụm, run sợ có thể túm tụm trong các ngôi làng quanh Miền Ân Sủng, cầu cho mưa xuống và bởi tìm thức ăn từ những mảnh đất khô cằn để tồn tại. Hàng nghìn năm phát triển xã hội hẳn sẽ bị xóa sạch khỏi biểu đồ.

Chúng ta cũng có thể hình dung những hướng đi khác giống như trong bộ phim Nightfall. Các nhà thiên văn học ưa phóng đại tính toán rằng nếu một tiểu hành tinh có đường kính trên dưới 1,5km va vào trái đất, vụ nổ sẽ tương đương với 100 tỉ tấn TNT nổ cùng một lần. Có nhiều ý kiến khác nhau về mức độ tàn phá của nó. Chắc chắn bầu khí quyển nhất thời sẽ phủ đầy bụi, ngăn ánh sáng mặt trời và khiến hàng triệu người phải đói ăn. Nó có thể giải phóng đủ nitrogen oxide để làm suy thoái tầng ozone khiến những người sống sót phải phơi mình ra trước bức xạ mặt trời gây chết chóc. Nếu là một tiểu hành tinh rộng khoảng 3km thì dễ hình dung hơn. Nó chẳng khác gì kích nổ một khối chất nổ 2.000 tỉ tấn, có khả năng tận diệt cả nhân loại.

Hiển nhiên, tin tốt lành là không có những khối đá như thế nằm trên con đường của chúng ta, do vậy, hà cớ gì chúng ta phải buồn phiền với những suy đoán về những điều tồi tệ sẽ xảy đến trong tương lai. Sự va chạm của tiểu hành tinh và các Thời đại Băng hà không giống như những cuộc chiến tranh và văn hóa: chúng (hay có lẽ chúng ta nên nói rằng cho đến gần đây) nằm ngoài sự kiểm soát của con người. Không một kẻ xuẩn ngốc vụng về, xu hướng văn hóa, hay sự ngẫu nhiên nào có thể gợi lên một khối băng đủ lớn để làm nghẽn dòng hải lưu Gulf Stream, điều này có nghĩa là một thời kỳ Dryas Trẻ mới không thể xảy ra, và ngay cả những nhà thiên văn học bi quan nhất cũng nghĩ xác suất hành tinh chúng ta va chạm với những tiểu hành tinh chỉ vài trăm nghìn năm mới xảy ra một lần.

Trên thực tế, những kẻ xuẩn ngốc vụng về hay những điều đại loại như vậy hầu như không có khả năng làm được điều gì có thể gây ra một khoảnh khắc Hoàng hôn ở bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử loài người. Ngay cả những cuộc chiến tranh đẫm máu nhất mà chúng ta tự gây ra, những cuộc chiến tranh thế giới ở thế kỷ XX đơn thuần là để khẳng định những xu hướng đã và đang diễn ra. Vào năm 1900, Hoa Kỳ, một kiểu đế chế tiểu lục địa mới với một vùng lõi công nghiệp, đã thách thức các đế quốc đại dương ở Tây Âu. Những cuộc Chiến tranh Thế giới phần lớn là những cuộc đấu tranh để xem ai có thể thế chỗ các nước Tây Âu. Bản thân Hoa Kỳ chăng? Hay Liên Xô, đất nước nhanh chóng công nghiệp hóa vào thập niên 1930? Hay nước Đức cố chinh phục đế quốc tiểu lục địa của mình vào thập niên 1940? Ở phương Đông, Nhật Bản cũng nỗ lực chinh phục và công nghiệp hóa một đế quốc tiểu lục địa và đánh bật phương Tây vào những thập niên 1930-1940; và khi nỗ lực đó thất bại, thì Trung Hoa lại công nghiệp hóa đế chế tiểu lục địa vốn đã có sẵn của mình, gây tai ương thảm khốc trong những thập niên 1950 và 1960 và phát triển ngoạn mục từ những năm 1980. Thật khó biết được liệu các đế chế đại dương của châu Âu có thể tồn tại với sự cạnh tranh này như thế nào, đặc biệt khi chúng ta bổ sung thêm trào lưu dân tộc chủ nghĩa mới nảy sinh từ châu Phi đến bán đảo Đông Dương và sự sụt giảm dân số và công nghiệp ở Tây Âu so với các nước đang thách thức nó.

Nếu các cường quốc châu Âu không tự ném mình vào vách đá vào năm 1914 và năm 1939 thì các đế chế đại dương của họ chắc chắn sẽ còn kéo dài lâu hơn; nếu Hoa Kỳ không trốn tránh trách nhiệm toàn cầu của mình vào năm 1919 thì các đế quốc đại dương cũng có thể sụp đổ nhanh hơn. Nếu Hitler đánh bại Churchill và Stalin, mọi thứ có thể đã xoay vần theo một cách khác, hay sau đó vẫn vậy. Cuốn tiểu thuyết Fatherland (Tổ Quốc) của Robert Harris đã cung cấp một minh họa tuyệt vời cho điều này. Nó là một tác phẩm trinh thám lấy bối cảnh năm 1964 ở Đức, nhưng đây là một nước Đức giành chiến thắng trong Thế chiến II. Mọi thứ trông khác biệt một cách kỳ lạ. Hitler giết hết tất cả người Do Thái ở châu Âu chứ không chỉ là hầu hết như trong thực tế. Kiến trúc sư Albert Speer đã biến những ý tưởng kỳ quặc của chủ nhân ông ta thành hiện thực, tái thiết Berlin với một Đại lộ Chiến thắng dài gấp đôi đại lộ Champs Elysées ở Paris, dẫn đến toà nhà lớn nhất thế giới, nơi Führer đứng phát biểu dưới một mái vòm cao đến nỗi những đám mây có thể hình thành ở bên trong. Chưa hết, khi câu chuyện mở ra, bối cảnh lại dẫn đến một điều quen thuộc còn kỳ quặc hơn. Một cuộc chiến tranh lạnh đang diễn ra giữa Hoa Kỳ và một đế quốc độc tài toàn trị khổng lồ nhưng đang lung lay đặt nền tảng ở Đông Âu. Cả hai đế chế đang gườm nhau sau các hàng rào tên lửa hạt nhân, lao vào những cuộc chiến tranh ủy nhiệm và thao túng các nước khách hàng ở Thế giới Thứ ba, đồng thời đang hướng đến giảm trừ căng thẳng. Trong một số trường hợp, mọi thứ không khác gì lắm so với thực tế đã diễn ra.

Cách duy nhất để hai cuộc chiến tranh thế giới ở thế kỷ XX có thể gây ra một kết quả khác cực kỳ tàn khốc là biến chúng trở thành cuộc chiến tranh hạt nhân toàn diện. Nếu Hitler phát triển bom nguyên tử, chắc chắn ông ta đã sử dụng chúng, nhưng do ông ta hủy bỏ chương trình hạt nhân vào năm 1942 nên điều đó không bao giờ xảy ra. Điều này khiến Hoa Kỳ tự do thả hai quả bom vào Nhật Bản mà không bị trừng phạt. Nhưng khi Liên Xô thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên vào năm 1949, thì một tình huống Hoàng hôn ngày càng trở nên khả thi. Dù ngay khi ở mức đỉnh vào năm 1986, tất cả các đầu đạn của thế giới cộng lại cũng chỉ bằng ⅛ sức mạnh hủy diệt do va chạm của một khối thiên thạch có chiều ngang 3,22km, nhưng vẫn thừa sức xóa sổ nền văn minh hiện đại.

May mắn cho tất cả chúng ta, những người thực sự đưa ra các quyết định ở Liên Xô và Hoa Kỳ vào những năm 1950 nhận ra rằng cách duy nhất để xử lý vũ khí hạt nhân là qua lý thuyết Song phương cùng bị tận diệt, một học thuyết không thỏa hiệp khi một bên hành động sai lầm sẽ dẫn đến hủy diệt tất cả. Các chi tiết về trò chơi này vẫn còn mờ mịt đầy gay cấn, và lúc đó đã xảy ra những nguy hiểm cận kề trong gang tấc, đặc biệt khi John F. Kennedy và Nikita Khrushchev đều cố gắng áp đặt luật chơi vào mùa thu năm 1962. Khrushchev, do lo ngại sự đe dọa của người Mỹ, cho lắp đặt tên lửa của Liên Xô trên đất Cuba, và Kennedy, cũng vì lo lắng, đã phong tỏa hòn đảo này. Tàu chiến Liên Xô tiến sát lãnh hải nước Mỹ; Kennedy liền cho một tàu sân bay chặn lại. Ở thời điểm đó Kennedy cho rằng tỉ lệ thảm họa chiến tranh đã lên đến ⅓, thậm chí ½. Và rồi, khoảng mười giờ sáng thứ Tư, ngày 24 tháng 10, tình hình trở nên tồi tệ hơn. Khi Kennedy và các cố vấn thân cận ngồi trong im lặng căng thẳng, có tin một tàu ngầm Liên Xô phong tỏa hướng đi của tàu sân bay Mỹ. Ý định này là gì nếu không phải để tấn công? Người em của John F. Kennedy nhớ lại “Tổng thống đưa tay lên mặt và che miệng. Anh liên tục nắm tay. Khuôn mặt cau lại, đôi mắt đau khổ, gần như ảm đạm.”❖ Hành động kế tiếp của Kennedy hẳn là sẽ cho phóng 4.000 đầu đạn hạt nhân. Nhưng tàu ngầm Liên Xô không khai hỏa. Tiếng kim đồng hồ tiếp tục kêu tích tắc; và đến 10 giờ 25 phút tàu chiến Liên Xô chạy chậm lại, rồi quay đầu. Màn đêm đã không buông xuống.

Trong suốt 30 năm, chính sách bên miệng hố chiến tranh và những sai lầm đã tạo ra một chuỗi những thoáng chốc gây khổ sở về bóng tối bên ngoài, nhưng điều tồi tệ nhất vẫn chưa bao giờ xảy ra. Kể từ năm 1986, số lượng đầu đạn hạt nhân trên thế giới đã giảm ⅔, kèm theo đó là hứa hẹn cắt giảm nhiều hơn nữa từ thỏa thuận ký kết vào năm 2010. Hàng nghìn đầu đạn còn lại của người Mỹ và người Nga, với sức nổ bằng hàng triệu tấn TNT, vẫn có thể giết chết tất cả mọi người trên trái đất, nhưng giờ đây Hoàng hôn của loài người đã ít có khả năng xảy ra hơn trước đó trong suốt 40 năm lý thuyết Song phương đều bị tận diệt. Sinh vật học, xã hội học và địa lý vẫn tiếp tục đan dệt mạng lưới của chúng, lịch sử vẫn tiếp diễn.

Nền móng

Truyện ngắn Nightfall của Asimov, ít nhất cho đến nay, vẫn chưa cung cấp một mô hình hoàn hảo để giải thích bước tiến của lịch sử, nhưng có lẽ bộ tiểu thuyết Foundation (Nền móng) của ông có thể làm tốt hơn. Ở một thời điểm xa vời trong tương lai, Asimov viết, một nhà toán học trẻ tuổi, Hari Seldon, đi tàu vũ trụ đến Trantor, thủ phủ hùng mạnh của Đế chế Thiên Hà, tồn tại trong suốt 12.000 năm. Ở đó, ông trình bày một bài nói mang tính học thuật tại Hội nghị Toán học lần thứ 10, giải thích cơ sở lý thuyết cho một bộ môn khoa học mới gọi là lịch sử tâm lý. Seldon tuyên bố rằng về nguyên tắc, nếu kết hợp lịch sử thông thường, tâm lý học đám đông và môn thống kê hiện đại, chúng ta có thể xác định được các thế lực thúc đẩy nhân loại và sau đó phóng chiếu chúng nhằm hướng đến dự đoán tương lai.

Từ hành tinh quê nhà được thăng chức vị giáo sư ở trường đại học lớn nhất hành tinh Trantor, Seldon nghiên cứu các phương pháp luận của bộ môn lịch sử tâm lý. Kết luận chính của ông là Đế chế Thiên Hà sắp sụp đổ, dẫn đến thời kỳ đen tối kéo dài 30.000 năm trước khi Đế chế Thứ hai trỗi dậy. Vị hoàng đế liền đề bạt Seldon làm Bộ trưởng thứ nhất, từ vị trí vinh quang này, ông ta hình thành một tổ chức tư vấn gọi là Foundation. Trong khi tập hợp mọi kiến thức trong cuốn Encyclopedia Galactica (Bách khoa Thiên Hà), các học giả của nó sẽ lập một kế hoạch bí mật nhằm khôi phục đế chế chỉ sau 1.000 năm.

Tập truyện Foundation đã làm say sưa những người hâm mộ truyện khoa học viễn tưởng trong suốt nửa thế kỷ, nhưng đối với các sử gia chuyên nghiệp biết đến cuốn sách này thì Hari Seldon chỉ là một trò giễu cợt. Họ cho rằng việc biết được những gì đã xảy ra có thể giúp thấy trước những điều sắp tới chỉ có trong óc tưởng tượng sôi nổi của Isaac Asimov. Nhiều nhà sử học phủ nhận việc có những mẫu hình để tìm kiếm trong quá khứ, trong khi những người nghĩ rằng có thể có những mẫu hình như vậy lại thường thấy rằng việc phát hiện ra chúng vượt quá những khả năng của chúng ta. Chẳng hạn Geoffrey Elton, người không chỉ giữ cương vị giáo sư về Lịch sử Hiện đại do Hoàng gia Anh bổ nhiệm ở Đại học Cambridge mà còn có những quan điểm mạnh mẽ về mọi vấn đề lịch sử, có lẽ là người nói thay cho nhóm đa số. Ông phát biểu như sau: “Lịch sử được ghi chép lại chỉ mới không quá 200 thế hệ. Thậm chí nếu có một thu thập rộng lớn hơn trong lịch sử, thì phải nói rằng chúng ta thực sự không thể mong đợi có thể rút ra điều gì từ cái vốn lịch sử khá ít ỏi mà chúng ta có được.”❖

Trong cuốn sách này, tôi đã cố chỉ ra rằng các sử gia đang đánh giá thấp bản thân mình. Chúng ta không việc gì phải tự giới hạn vào 200 thế hệ con người ghi chép văn bản. Nếu chúng ta mở rộng tầm nhìn để bao quát cả khảo cổ học, di truyền học và ngôn ngữ học – những loại bằng chứng chiếm vai trò chi phối ở những chương đầu tiên trong cuốn sách này – chúng ta sẽ nắm được một lịch sử tổng thể hơn. Thực ra chúng có thể đưa chúng ta quay trở lại đến 500 thế hệ. Tôi cho rằng với một lượng thời gian đồ sộ như thế, chúng ta có thể rút ra được một số mẫu hình; và giờ đây, cũng như Seldon, tôi muốn đề xuất rằng một khi làm được điều này, chúng ta thực sự có thể dùng quá khứ để dự đoán tương lai.

Người dịch Nguyễn Thanh Xuân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.