Quân đội Mãn Thanh xuất quan, quân Cần vương khải hoàn. Tuy nhiên, khi hãy còn trên đường, chiến sự chống giặc rợ lần này vốn khởi từ tháng mười năm Sùng Tôn thứ mười một vào quan, những tổn thất đại khái cũng đã được thống kê xong.
Quân đội Mãn Thanh tung hoành hơn hai ngàn dặm, tàn phá tỉnh Hà Bắc, phủ Thuận Thiên, vùng phía tây và bắc Sơn Đông. Ngoài việc hạ được phủ Tế Nam ra, còn có ba châu, năm mươi lăm huyện, hai cửa ải Vạn Lý Trường Thành bị phá thủng. Tổng đốc Kế Liêu Ngô A Hành bị giết, bắt sống Đức vật Chu Hữu Sơ, Quận vương Chu Từ Dĩnh, Phụng quốc tướng quân Chu Từ Thưởng, Giám quân thái giám Phùng Hứa Hứa, v.v., cùng với Tôn Thừa Tông cáo lão về quê, cả nhà hơn trăm nhân khẩu đều chiến đấu anh dũng chống Mãn Thanh mà tuẫn tiết. Vô số bách tính nhà tan người mất, trong đó, tính riêng số bách tính Đại Minh bị cướp đi Liêu Đông đã lên tới gần hai mươi vạn người. Vàng bạc châu báu thì lại càng không cần phải bàn tới.
Sau trận chiến này, những nơi bị giặc Hồ giày vò cần phải được tái thiết; gần hai mươi vạn bách tính được giải cứu cần phải được an trí lại; còn có vô số lưu dân nữa cũng cần được sắp xếp thỏa đáng. Chiến sự tuy đã kết thúc, nhưng những việc cần phải làm thì vẫn còn rất nhiều.
Nhưng dù thế nào đi nữa, dẫu sao cũng đã đánh thắng vài trận đại thắng, lại cứu về được không ít bách tính. So với mấy lần trước đây chỉ có thể trơ mắt nhìn lũ thát tử cướp bóc một phen rồi xuất quan, thì thế này rốt cuộc cũng đã có tiến bộ rồi.
Điểm mấu chốt hơn là, Sùng Trưng hoàng đế rất cần chiến thắng này, cần dùng nó để tuyên truyền nhằm cổ vũ sĩ khí bách tính toàn quốc, nâng cao uy vọng của triều đình, nâng cao uy vọng của chính vị hoàng đế là hắn. Do đó, đối với quân Cần vương khải hoàn, nhất định phải long trọng đón tiếp.
Thế nhưng, nơi nào có con người, nơi đó có giang hồ; trên triều đình, vĩnh viễn tồn tại những cuộc đấu tranh.
Chiến sự vừa mới kết thúc, trong triều đã có kẻ nhảy ra yêu cầu truy cứu trách nhiệm về việc để mất tông thất các phiên vương! Đây là chuyện lớn, được đặt ngay lên mặt bàn, cho dù là Sùng Trưng hoàng đế cũng phải đối phó thật nghiêm turh.
Không biết có phải là trùng hợp hay không, tông thất các phiên vương ở khắp nơi cũng lần lượt dâng sớ lên triều đình, khóc lóc kêu oan cho Đức vương.
Trong lịch sử nguyên thủy, Sùng Trưng hoàng đế vì chuyện này mà bắt đầu chém đầu người ta rồi. Vào tháng tám năm Sùng Trưng thứ mười hai, đem bọn lưu thủ tổng binh như Nhan Kế Tổ, Tổ Khoan, Nghê Sủng, Đặng Hy Chiếu, Tôn Mậu Lâm cùng một loạt đại thần văn võ tổng cộng ba mươi sáu người, bị áp giải tập thể đến phía tây kinh sư, đem ra giữa phố trảm quyết.
Danh sách của những kẻ này được định đoạt, cùng với kẻ xử quyết bọn họ, chính là Dương Tự Xương.
Đối mặt với khí thế hung hăng đòi lại công đạo cho Đức vương, Sùng Trưng hoàng đế đương nhiên phải thuận theo "dân ý". Ngay trong buổi nghị sự tại điện Văn Hoa, hắn tức giận bày tỏ: "Việc này, từ khi đại Minh ta khai quốc đến nay, hầu như chưa từng xảy ra. Chuyện chấn động lòng người như thế này, trẫm mà không trị thật nặng những kẻ phải chịu trách nhiệm về việc này, trẫm sẽ hổ thẹn với Đức vương, hổ thẹn với Thái tổ Thành tổ!"
Nghe thấy lời này, Nội các phụ thần Dương Tự Xương mỉm cười. Xem ra chiến sự đã đánh xong, Sùng Trưng hoàng đế chung quy lại vẫn biến thành vị Sùng Trưng hoàng đế của ngày xưa. Lư Tượng Thăng đã dùng xong, cũng đến lúc phải thu thập hắn rồi. Ha ha, tự trách mình trước đây còn tưởng rằng hoàng hạ đã đổi tính, lại cứ che chở cho Lư Tượng Thăng mãi. Hóa ra chỉ là muốn dùng hắn để đánh giặc mà thôi!
Trên triều đình, hầu như tất cả các quan viên đều có suy nghĩ này. Dù sao trong mắt bọn họ, Lư Tượng Thăng là kẻ thống lĩnh quân Cần vương lần này. Lúc hắn thống lĩnh quân Cần vương đánh nhau với giặc Hồ, kết quả lại để mất tông thất các phiên vương, nếu hắn không phải là kẻ chịu trách nhiệm đầu tiên thì ai mới là kẻ chịu trách nhiệm đầu tiên? Nếu muốn trừng phạt kẻ khác, thì Lư Tượng Thăng nhất định phải bị trừng phạt trước tiên!
Chính vì dựa vào lý do này, bọn họ cho rằng, đợi khi Lư Tượng Thăng dẫn quân Cần vương về đến kinh sư, giao nộp binh quyền rồi, chính là lúc hắn xộ khám.
Đối với việc này, Dương Tự Xương thậm chí còn "tốt bụng" nhắc nhở Sùng Trưng hoàng đế rằng: "Bệ hạ, nay Lư Thượng thư nắm giữ binh quyền, theo ý kiến của vi thần, việc truy cứu trách nhiệm tốt nhất vẫn nên tạm thời hoãn lại!"
“Đúng đúng đúng, việc này cần phải bàn bạc lâu dài!”
“Bệ hạ, thần cũng xin phụ họa!”
“……”
Lắng nghe đám bề tôi bên dưới từng kẻ một đều bày tỏ thái độ như thế này, dường như đã chắc mẩm rằng hắn muốn xử lý Lư Tượng Thăng, Sùng Trưng hoàng đế không khỏi thầm cười lạnh trong lòng.
Ha ha, kẻ chủ mưu tội lỗi mà trẫm nhắc đến, tội danh làm mất tông thất phiên vương mà trẫm muốn truy cứu, tuyệt đối không phải là tìm Lư Tượng Thăng, mà chính là Dương Tự Xương, Trần Tân Giáp, Bát đại Tấn thương cùng với những kẻ có liên quan khác. Nếu không phải vì đám người các ngươi, giặc Hồ sao đến nỗi kiêu ngạo nhường này! Lại sao đến nỗi mất đi tông thất phiên vương!
Cứ đợi đấy, đợi khi trẫm cải chế quân Cần vương, chỉnh biên xong quân đội dưới quyền Ngự Mã Giám, có được một đội ngũ đáng tin cậy rồi, trẫm sẽ dùng khí thế như sấm sét để quét sạch tất cả các ngươi!
Thế nhưng để hoàn thành công cuộc cải biên này, thực ra vẫn có một độ khó nhất định.
Bởi vì bộ khúc của Tôn Truyền Đình thì còn khá hơn một chút, chính sách "Thanh đồn sung hưởng" (dọn đồn điền sung vào quân lương) của ông đã giúp ông có đủ tiền lương thực. Thêm vào đó, binh lính Tần binh dưới quyền ông là do ông mới chiêu mộ sau khi nhậm chức Thiểm Tây tuần phủ. Cho nên binh mã dưới quyền ông đều là chính binh, hoàn toàn không có chế độ gia đinh vốn có ở các quân đội khác.
Còn dưới quyền của Tam biên tổng đốc Hồng Thừa Trù thì không có luyện binh mã mới, toàn là điều động các vị tổng binh tướng lĩnh có khả năng chiến đấu ở các hạt thuộc quyền để đánh giặc. Mà vào thời kỳ cuối nhà Minh này, hầu như tất cả các tổng binh đều theo chế độ gia đinh. Kể cả Tào Biến Giao, Hạ Nhân Long vạn người, tất cả đều như vậy. Mà tình hình này, sau khi cải biên thành thuộc quyền Ngự Mã Giám rồi, tự nhiên là không thể tiếp tục có nữa.
Đương nhiên, sở hữu chế độ gia đinh, cũng không thể nói Tào Biến Giao và những người khác là những tướng lĩnh tham nhũng. Bởi vì sự hình thành của chế độ gia đinh này thực ra có nguyên nhân lịch sử của nó, chứ không phải vì Tào Biến Giao hay những người khác muốn bớt xén quân lương để nuôi gia đinh.
Kể từ khi Minh Hiếu Tông phế bỏ Khai trung pháp, dự trữ lương thực biên giới phía bắc đã chịu sự tàn phá mang tính thảm họa, sức chiến đấu của biên quân giảm sút lớn. Mà người Mông Cổ thường xuyên đến cướp phá, thậm chí có lúc quy mô rất lớn, lại càng làm trầm trọng thêm tình trạng bỏ hoang của đồn điền, đồng thời cũng làm lớn mạnh thêm người Mông Cổ. Tình hình này kéo dài một thời gian, biên quân bên này tự nhiên phải có biện pháp đối phó tương ứng.
Bắt đầu từ thời vua Gia Tĩnh, biên quân đã bắt đầu tiến hành cải biên. Cuộc cải biên này chính là nhắm vào đặc điểm của người Mông Cổ.
Mà đặc điểm của người Mông Cổ, chính là trước tiên tập trung binh lực phá vỡ tường biên giới. Sau khi phá vỡ biên tường, liền dựa vào tính cơ động cao của kỵ binh để chia thành các nhóm kỵ binh quy mô chừng ngàn người tản ra khắp nơi cướp bóc.
Mà người Mông Cổ có một đặc điểm, chính là nghèo khó; do đó trang bị và sức chiến đấu của kỵ binh bọn họ thực ra không phải ai cũng ở cùng một cấp độ; mà chỉ có một số ít kỵ binh là quân thường trực, có giáp trụ tinh xảo và binh khí chất lượng cao, thường xuyên luyện tập, có sức chiến đấu rất cao.
Còn những kẻ mục dân kia, thực ra cũng chỉ biết cưỡi ngựa bắn cung mà thôi. Một đội quân, muốn trở thành cường quân, thì bắt buộc phải có kỷ luật quân đội thật tốt, ít nhất là phải nghe theo quân lệnh, hiểu rõ các quy củ trong quân đội, có thể hiệp đồng tác chiến, có ý chí chiến đấu kiên cường, v.v.. Mục dân bình thường, chẳng qua chỉ là chăn cừu mà thôi, làm sao có chuyện ra trận là tự khắc biết đánh giặc ngay được. Nói khó nghe một chút, lúc xâm phạm Đại Minh, cũng chỉ là đám mục dân được vũ trang lên, vẫn cứ là mục dân mà thôi.
Chính trong hoàn cảnh như vậy, đội kỵ binh ngàn người của người Mông Cổ thường chỉ là một nhúm kỵ sĩ tinh nhuệ dẫn theo một đám đông lớn mục dân được vũ trang đi cướp bóc mà thôi.
Ngoài ra, nhân khẩu của người Mông Cổ và tình trạng thiếu thốn vật tư của bọn họ v.v., lại quyết định rằng bọn họ rất khó chịu đựng được tổn thất quá lớn về lực lượng tinh nhuệ. Do đó, biên quân Đại Minh liền nhắm vào tình hình này, chỉ cần đánh bại hoặc tiêu diệt những kỵ binh Mông Cổ tinh nhuệ đó, thì phần lớn những mục dân được vũ trang kia sẽ tự động hoảng sợ bỏ chạy.
Từ đó, quân Minh liền đồng thời tổ chức ra một đội kỵ binh tinh nhuệ. Đội kỵ binh này đòi hỏi phải đánh thắng được kỵ binh tinh nhuệ của Mông Cổ, đương nhiên số lượng người không thể nhiều cho lắm. Mà những kỵ binh này lại chắc chắn hành động theo tướng lĩnh, thế là rất dễ biến chất thành thân binh cận vệ của tướng lĩnh, tức là gia đinh.
Chế độ gia đinh mới xuất hiện ban đầu thì không sai, dù sao dưới tiền đề quân lượng không đủ, không thể huấn luyện toàn quân thành tinh nhuệ, thì bắt buộc phải có một đội quân có khả năng chiến đấu mới được.
Nhưng theo sự trôi qua của thời gian, tệ nạn của chế độ quân sự này liền lộ rõ. Tài nguyên trong quân đội không thể tránh khỏi việc nghiêng lệch về phía gia đinh, khiến cho một triệu quân biên giới của Đại Minh về cơ bản trở thành vật trang trí.
Đối với tình hình này, thực ra khi chiến thần Đại Minh Thích Kế Quang đến miền bắc, cũng đã nhìn ra tệ nạn và dâng sớ lên triều đình. Lúc bấy giờ, ông có chỗ dựa trong triều, chính là ôm được đùi Trương Cư Chính, cho nên mới được trao quyền buông tay làm, biên soạn quân đội mới không có chế độ gia đinh.
Chỉ là rất tiếc, sau khi Trương Cư Chính đổ đài, ông là người thuộc phe phái của Trương Cư Chính, cũng bị người ta thanh toán. Quân đội do ông huấn luyện cuối cùng cũng vì sự rời đi của ông mà quay trở lại như cũ. Thậm chí đến thời Thiên Khải, ngay cả chút huyết mạch cuối cùng là đội quân nhà họ Thích do Thích Kim dẫn dắt, cũng đã bị tiêu diệt hoàn toàn trong trận chiến ở sông Côn Hầu.
Lúc Sùng Trưng hoàng đế đang nghĩ ngợi những chuyện này, Ngự sử Dương Chi Khởi lại bước ra tấu rằng: "Bệ hạ, vi thần nghe nói, đám lưu manh quân bĩ kia đã đem phần lớn sức kéo mà hoàng thượng trưng tập cho bọn chúng dùng để giết thịt. Bọn chúng hoàn toàn không màng đến sự quý giá của sức kéo, hành vi như vậy, có thể thấy là dựa vào việc đánh thắng mấy trận thắng, có biểu hiện kiêu binh hãn tướng. Vi thần cho rằng, lần này đến kinh sư, nên cho bọn chúng một bài học để bọn chúng biết được uy nghiêm của triều đình!"
Sùng Trưng hoàng đế nghe xong, nhất thời ngẩn người, không ngờ lại vẫn có kẻ nói ra những lời thế này.
"Thần xin phụ họa!" Một vị ngự sử khác là Liêu Quốc Lân cũng nhảy chồm lên nói, "Triều đình đã bỏ ra cái giá lớn như vậy, cấp cho bọn chúng hàng triệu lạng bạc, lại còn trưng tập vô số sức kéo, đám kiêu binh hãn tướng kia không chừng cái đuôi đã vểnh lên tận trời rồi, nhất định phải dằn mặt bọn chúng một chút. Ba vị thống lĩnh quân đội, không quản lý cho tốt ba quân, dung túng cho sự kiêu ngạo của bọn chúng, cũng nên truy cứu trách nhiệm của họ."
“Bệ hạ, thần thấy không thỏa đáng.” Lúc này, Thủ phụ Tiết Quốc Quan đứng ra tấu rằng, “Đại quân vừa mới đánh thắng trận, cho dù chỉ ăn chút thịt mà thôi, thì có gì phải kinh ngạc. Các vị ở trong kinh sư, chẳng phải ngày nào cũng ăn thịt đó sao?”
“……”
Lời nói này của hắn khiến cho đại điện lập tức lạnh ngắt đi không ít. Cái miệng của Tiết man tử đúng là hôi thối thật, quả không hổ danh!
Ngẩn người ra một chút, Tiết Quốc Quan tuy là Thủ phụ, nhưng ngay lập tức lại gây ra sự phản kháng dữ dội.
Không ít đại thần vốn dĩ đang đứng xem kịch vui, biết rằng các đồng liêu của mình đang ghen tỵ đố kỵ với công lao chưa từng có của quân Cần vương nên muốn đàn áp, bọn họ cũng vui lòng làm thế. Nhưng không ngờ, một câu nói của Tiết Quốc Quan lại phun trúng cả bọn họ, tự nhiên bọn họ phải phản kích lại.
Thế là, có người nói chính Tiết Quốc Quan ngày nào cũng ăn thịt, có người lại nói đám quân bĩ kia sao có thể đem ra so sánh với bọn họ? Thậm chí có người còn ép hỏi Tiết Quốc Quan rằng, nếu quân Cần vương đến mà không có hiềm nghi kiêu binh hãn tướng, không cậy công kiêu ngạo thì bọn họ coi như thua; còn nếu có hiềm nghi cậy công kiêu ngạo, thì Tiết Quốc Quan phải nuốt lại lời nói đó...
Trong đại điện, chỉ vì một câu nói của Tiết Quốc Quan mà cãi nhau tung trời.
Sùng Trưng hoàng đế lạnh lùng đứng xem cuộc chiến này, hắn muốn xem thử xem rốt cuộc còn bao nhiêu kẻ sẽ nhảy ra chỉ trích các tướng sĩ vừa mới từ chiến trường liều chết chém giết trở về.
Hắn không phủ nhận, quân Cần vương có khả năng vì đánh thắng trận lớn nên có lẽ sẽ có chút biểu hiện cậy công kiêu ngạo. Dù sao lần này, trước tiên là Tần binh vây hãm tiêu diệt khoảng năm ngàn bộ binh của Mãn Thanh; sau đó trong trận chiến ở bờ bắc Vệ Hà Thiên Tân, lại tiêu diệt hơn một vạn bộ kỵ binh của quân đội Mãn Thanh. Trong trận chiến tiêu hao ở Vệ Hà sau đó, cũng đã tiêu diệt và sát thương hơn năm ngàn tên thát tử. Trận chiến Thiên Tân này, đám thát tử ít nhất cũng tổn thất khoảng hai vạn nhân mã.
Tính tổng cộng lại, đám thát tử lần này vào quan, mười vạn đại quân chết bị thương chắc cũng phải có ba vạn nhân mã. Kể từ khi Mãn Thanh quật khởi giữa vùng Bạch Sơn Hắc Thủy đến nay, khi nào từng chịu tổn thất đại bại nặng nề nhường này? Quân đội Đại Minh, lại có đội quân nào từng lập được chiến tích huy hoàng nhường này? Nếu như không có chút kiêu ngạo nào, ngược lại mới là chuyện kỳ lạ đấy!
Có lẽ đám văn quan này chính là đã đoán trước được điểm này, cho nên mới bấu víu lấy điểm này để tấn công quân Cần vương khải hoàn đây mà!
Con người ai cũng có tư tâm, những văn quan này trơ mắt nhìn người ta lập đại công, tự nhiên là đỏ mắt rồi. Một mặt nhấn mạnh tội danh để mất tông thất các phiên vương, mặt khác lại bắt đầu lôi bản thân quân Cần vương ra để nói chuyện. Nếu Sùng Trưng hoàng đế bị thuyết phục, công tội bù trừ, cho dù công lao cuối cùng không thể bù đắp nổi tất cả, thì ít nhất cũng sẽ không có quá nhiều ban thưởng cất nhắc.
Từ bản tính con người mà nói, Sùng Trưng hoàng đế thực ra cũng dựa vào điểm này để suy xét, nên mới cảm thấy quay đầu cải chế quân đội sẽ gặp khó khăn. Dù sao từ chế độ gia đinh biến thành mô hình chính binh như trước đây, chẳng khác nào lột sạch những mối lợi của các tướng lĩnh. Những tướng lĩnh này vừa mới đánh thắng trận, lợi ích cá nhân bị tổn thất, liệu có vui vẻ nổi không?
Thế nhưng, hắn lại không biết rằng, có những lúc, những phỏng đoán thông thường về bản tính con người cũng thường bị ảnh hưởng bởi không ít sự việc mà đoán không chuẩn. Giống như quân Cần vương lần này, Sùng Trưng hoàng đế đã đoán sai, thậm chí cả triều văn võ đều đoán sai.
Tuy nhiên lúc này Sùng Trưng hoàng đế đương nhiên không biết, trong lòng hắn còn nhận được một kết luận khác, chính là Tiết Quốc Quan hoàn toàn không có sự khôn khéo uyển chuyển như vị Thủ phụ quá cố Ôn Thể Nhân, uy tín cũng không đủ, không thể phục chúng. Sau này về mặt này, vẫn phải chú ý một chút mới được.
Hắn đang suy nghĩ, vẫn đợi cho đến khi trong điện Văn Hoa dần dần yên tĩnh trở lại, tất cả các đại thần đều đang chờ đợi cái nhìn của hắn, hắn mới lạnh lùng quát lên: "Đều bảo quân Cần vương cậy công kiêu ngạo, đều thành kiêu binh hãn tướng rồi. Đó là bởi vì bọn chúng có tư cách đó! Trẫm không ngờ, các ngươi lại còn muốn đàn áp bọn chúng, vậy lần sau nếu giặc Hồ lại lần nữa vào quan, chi bằng để các ngươi đi giết giặc báo quốc, các ngươi có bằng lòng đi không? Các ngươi có làm tốt hơn bọn họ không?"
Những lời này của Sùng Trưng hoàng đế nói ra khiến cho cả đại điện im phăng phắc, không một ai ngờ rằng, hoàng đế lại chẳng bị bọn họ ảnh hưởng dù chỉ một chút ít. Xem ra, chủ kiến của hoàng thượng hình như ngày càng trở nên kiên định hơn, không phải là thứ mà bọn họ có thể lay động được nữa rồi ư?
Lúc bọn họ đang suy nghĩ, Sùng Trưng hoàng đế lại lạnh lùng nói tiếp: "Cho dù các ngươi không giỏi võ sự, thế còn việc trị quốc thì sao? Các ngươi có đều làm tốt chức trách của mình chưa? Đã tạo ra thành tích gì chưa? Lại đây, cho trẫm xem, công lao của các ngươi nằm ở đâu? Nếu như cũng có công lao tương tự như quân Cần vương lần này, trẫm sẽ cho phép các ngươi đi dạo phố khoe công, rồi lại hưởng thụ vinh quang của Trạng nguyên lang xem có được không? Các ngươi mau cho trẫm thấy công lao như thế đi!"
Cả đại điện tĩnh lặng, không một ai lên tiếng, đương nhiên không một ai cảm thấy thành tích của bản thân có thể đem ra phản bác lại lời nói của hoàng đế.
Sùng Trưng hoàng đế lạnh lùng đảo mắt nhìn đám người bên dưới. Kỳ thực, vị Sùng Trưng hoàng đế nguyên thủy từ lâu đã nhận thức được đám đông văn quan này rốt cuộc có đức hạnh gì. Ông từng vạch trần rõ ràng sự tăm tối của quan trường trong bản chiếu nhận lỗi thứ hai ban hành vào năm Sùng Trưng thứ mười.
"Làm quan chỉ cốt mưu thân, tại vị chẳng khác gì buôn bán. Hối tiền lương trước bận hỏa hao, thu chính ngạch lại ham thặng dư. Thậm chí đã miễn cẩn, còn làm trái chiếu chỉ tự ý thu bừa; vừa bàn tu sửa, liền nhân cơ hội tự béo bẫy mình. Hoặc mua sắm không trả giá trị, hoặc dọc đường mượn cớ dùng kiệu khiêng. Hoặc phân phái thì bán giàu tha nghèo, hoặc xét xử thì lấy ngay làm cong. Tiền tài trái ý, thì roi vọt tùy tâm; túi gấm đã đầy, thì gian ác mặc tình. Sơ hở tiến cử hạch tội của quan tuần án không đúng sự thật, khen chê ở chốn yếu đạo bị đảo lộn. Lại như huân thích không biết chừng mực, dung túng tham lam hoành hành nơi kinh kỳ. Hương hoạn vứt bỏ kỷ cương, mặc sức càn quấy chốn xóm làng. Dùng kẻ vô lại làm vây cánh, nhận dân gian dối đến đầu kê. Quan lại bất tiếu sợ uy mà hùa theo, nha đũi tạo chuyện gây sự rồi móc nối. Thương thay cho trăm họ tiểu dân này, ai được yên giấc ngủ ngon!"
Đương nhiên, bản chiếu nhận lỗi này tuyệt đối không thể do một tay Sùng Trưng hoàng đế tự viết ra, mà là do vị Thủ phụ quá cố Ôn Thể Nhân chắp bút. Ôn Thể Nhân cũng chính là không lâu sau khi viết xong bản chiếu nhận lỗi này thì bị cách chức, buồn bã trở về quê cũ.
Đối với nạn tham nhũng quan trường, vị Sùng Trưng hoàng đế nguyên thủy không có năng lực trị lý, thế nhưng Sùng Trưng hoàng đế hiện tại lại có lòng tin. Ít nhất, bước thứ nhất, thanh đao Xưởng Vệ đã được mài sắc; bước thứ hai, về phần binh quyền, cũng sẽ nhanh chóng đạt được mục tiêu. Từng bước từng bước một như thế này, đều sẽ dần dần thực hiện được.
Nghĩ đến những điều này, Sùng Trưng hoàng đế chợt đứng phắt dậy, lạnh lùng nói: "Quân Cần vương ngày mai sẽ đến kinh sư, các ngươi đều theo trẫm ra nghênh đón, trẫm muốn cho các tướng sĩ quân Cần vương biết rằng, việc bọn họ xả thân đổ máu, trẫm đều thu hết vào trong mắt! Cậy công kiêu ngạo một chút thì đã làm sao? Nếu ngày nào cũng có đại công lao như thế này, Đại Minh ta từ lâu đã được an cư lạc nghiệp, uy áp tứ phương rồi!"
Nói xong, hắn vung tay áo bước đi tại chỗ, rõ ràng quyết định trong lòng đã định đoạt, không cho phép đám bề tôi bên dưới phản bác, cứ quyết định như vậy đi!
Tiết Quốc Quan thấy thế, cũng phất tay áo bỏ đi. Để lại Dương Tự Xương và những người khác nhìn nhau đầy bất lực. Hoàng đế một khi đã cường thế, lại còn chiếm lý, bọn họ liền chẳng có cách nào khác.
Ngày hôm sau, quân Cần vương khải hoàn, đã đến vùng ngoại ô kinh sư.