Lược Sử Vạn Vật

Lượt đọc: 85 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
30. Tạm biệt

❊ ❊ ❊

Đầu thập niên 1680, khi Edmond Halley và những người bạn của mình, Christopher Wren và Robert Hooke, gặp nhau tại một quán cà phê ở London và lên một cỗ xe giản dị, mà đích đến của nó là cuốn Các nguyên lý của Isaac Newton, phép đo khối lượng Trái Đất của Henry Cavendish cùng nhiều công trình đáng khen ngợi và đầy cảm hứng khác đã khiến chúng ta bận rộn trong suốt mấy trăm trang sách vừa qua, thì một cột mốc ít được mong đợi hơn đã diễn ra trên đảo Mauritius ngoài khơi Ấn Độ Dương, cách bờ biển phía đông của Madagascar khoảng 1.300km.

Ở đó, một số thủy thủ bị lãng quên hoặc thú cưng của họ đang săn bắt và tàn phá đến mức gây tuyệt chủng loài chim cưu, một loài chim không biết bay nổi tiếng. Bản tính ngây ngô, thị giác kém và đôi chân ngắn cũn khiến chúng trở thành trò tiêu khiển của các thủy thủ trẻ trên bờ. Hàng triệu năm sống biệt lập trong thanh bình đã không trang bị cho chúng khả năng sống sót trước các hành vi thất thường vô cùng đáng sợ của con người.

Chúng ta không biết chính xác hoàn cảnh nào, hoặc thậm chí năm nào, đã diễn ra những khoảnh khắc cuối cùng của con chim cưu cuối cùng. Vì vậy, chúng ta không thể biết điều gì diễn ra trước, một thế giới có cuốn Các nguyên lý hay một thế giới không có chim cưu. Nhưng chúng ta biết rằng những điều ấy đã xảy ra ít nhiều cùng một thời điểm. Tôi tin là sẽ rất khó cho bạn để tìm ra một sự kiện thích hợp hơn nhằm chỉ rõ cho bản tính thiện ác của con người – một loài có khả năng làm sáng tỏ những bí mật sâu thẳm nhất của vũ trụ nhưng cũng đồng thời đẩy một loài sinh vật, vốn không hề gây bất cứ nguy hại nào cho chúng ta và thậm chí không đủ khả năng để hiểu được chúng ta đang làm gì, đến bờ vực tuyệt chủng, mà không vì một mục đích nào. Thật vậy, chim cưu cực kỳ chậm hiểu. Người ta kể rằng nếu bạn muốn tìm tất cả chim cưu ở vùng lân cận, bạn chỉ cần bắt một con và làm cho nó kêu quang quác, tất cả các con khác sẽ lập tức chạy lạch bạch tới để hóng xem chuyện gì đang xảy ra.

Sự xúc phạm đối với loài chim cưu tội nghiệp không kết thúc hoàn toàn ở đó. Vào năm 1755, khoảng 70 năm sau cái chết của con chim cưu cuối cùng, Giám đốc Bảo tàng Ashmolean ở Oxford cho rằng con chim cưu mẫu vật ở bảo tàng đã mốc meo, cũ kỹ và ra lệnh thiêu rụi nó. Đây là một quyết định gây ngạc nhiên vì ở thời điểm này, đây thật sự là con chim cưu duy nhất còn lại dù là dưới dạng mẫu vật đi chăng nữa. Một nhân viên tình cờ đi qua đã kinh ngạc trước cảnh tượng này và cố gắng cứu vãn, nhưng cũng chỉ có thể giữ lại cái đầu và một phần của một chi của con chim.

Rất đương nhiên, hậu quả của việc này là giờ đây chúng ta không hoàn toàn chắc một con chim cưu còn sống trông như thế nào. Chúng ta biết ít thông tin hơn nhiều so với chúng ta tưởng – tất cả chỉ là một vài mô tả thô sơ từ “các nhà thám hiểm phi khoa học, ba hoặc bốn bức tranh sơn dầu và một ít mảnh xương rải rác”, những câu chữ buồn bã của nhà tự nhiên học thế kỷ XIX, H. E. Strickland. Theo Strickland, chúng ta có nhiều bằng chứng cụ thể về một số quái vật biển cổ đại hay những con khủng long ì ạch, hơn là về một loài chim sống ngay ở thời hiện đại và chẳng cần gì khác để sống sót ngoài sự vắng mặt của con người.

Những gì người ta biết về chim cưu là: nó từng sống ở Mauritius, đầy đặn nhưng thịt không ngon, và là thành viên lớn nhất từ trước đến nay của họ bồ câu, mặc dù không có bằng chứng rõ ràng, vì trọng lượng của nó chưa bao giờ được ghi lại chính xác. Suy đoán từ các mảnh xương rải rác của Strickland và phần ít ỏi còn sót lại ở bảo tàng Ashmolean cho thấy chim cưu có chiều cao hơn 2,5ft một chút, và độ dài từ đầu mỏ cho đến chấm đuôi cũng vào khoảng đó. Vì không thể bay được, chúng làm tổ trên mặt đất, nên trứng và con non của chúng rất dễ trở thành mồi cho lợn, chó và khỉ được người bên ngoài đưa lên đảo. Chúng có thể đã tuyệt chủng từ năm 1683, và chắc chắn đến năm 1693 thì biến mất hoàn toàn. Ngoài điều đó ra chúng ta hầu như không biết gì thêm, dĩ nhiên trừ việc con người sẽ không thể thấy chúng một lần nào nữa. Chúng ta không biết gì về tập quán sinh sản và chế độ dinh dưỡng của chúng, nơi chúng phân bố, cách chúng phát ra những âm thanh lúc bình thường và khi muốn báo động. Chúng ta không có dù chỉ một quả trứng chim cưu.

Từ đầu đến cuối, sự quen biết của chúng ta với những con chim cưu tươi vui chỉ kéo dài trong 70 năm. Đó là một khoảng thời gian ngắn ngủi – dù phải nói rằng tính đến thời điểm này trong lịch sử loài người, chúng ta đã có hàng nghìn năm làm quen với những lần xóa bỏ không thể cứu vãn. Không ai thật sự biết rõ mức độ tàn phá của loài người, nhưng thực tế là trong hơn 50.000 năm qua, ở bất cứ nơi nào chúng ta đặt chân tới, các loài động vật đều có xu hướng biến mất, thường với số lượng lớn đến kinh ngạc.

Ở Hoa Kỳ, 30 chi động vật cỡ lớn – một số thật sự lớn – đã biến mất đột ngột sau khi con người hiện đại xuất hiện trên lục địa này trong vòng 10.000-20.000 năm trở lại đây. Toàn bộ vùng ở giữa miền bắc và miền nam châu Mỹ đã mất khoảng ba phần tư số động vật cỡ lớn khi con người – những kẻ đi săn đích thực tìm đến, mang theo những ngọn giáo sắc nhọn và kỹ năng tổ chức nhạy bén. Châu Âu và châu Á, nơi các loài vật có đủ thời gian để phát triển sự cảnh giác cần thiết với con người, đã mất từ một phần ba đến một nửa số loài động vật cỡ lớn. Châu Úc, vì hoàn cảnh ngược lại với châu Á và châu Âu, đã mất đi không dưới 95%.

Vì số lượng thợ săn ở thời kỳ đầu, còn ít một cách tương đối so với số lượng các loài động vật – chỉ riêng trong các lãnh nguyên phía bắc Siberia đã có tới khoảng mười triệu xác voi ma mút được cho là đang nằm đóng băng – một số nhà khoa học nghĩ rằng phải có nguyên nhân khác, có thể liên quan đến biến đổi khí hậu hoặc một số dịch bệnh. Ross MacPhee của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ đã nhận định, “Không có lợi ích vật chất nào thôi thúc săn bắt các loài động vật nguy hiểm nhiều hơn mức cần thiết – bạn chỉ có thể ăn một lượng thịt voi ma mút nướng nhất định.” Những người khác tin rằng việc vây bắt và giết con mồi đã từng rất dễ dàng. “Ở châu Úc và châu Mỹ,” Tim Flannery nói, “động vật có lẽ không đủ nhận thức để chạy trốn.”

Một số sinh vật đã tuyệt chủng rất to xác, và chúng sẽ ít nhiều gây náo loạn nếu ngày nay còn xuất hiện đâu đó quanh chúng ta. Hãy tưởng tượng những con lười đất có thể nhìn vào nhà bạn từ một cửa sổ trên gác mái, những con rùa cạn với kích thước gần như một chiếc Fiat nhỏ, hay thằn lằn Basking dài 6m nằm cạnh đường cao tốc trên sa mạc miền tây Australia. Ơn Chúa, chúng không còn trên đời nữa, và chúng ta đang sống trên một hành tinh thu nhỏ đi nhiều. Ngày nay, trên toàn thế giới, chỉ có bốn loài động vật trên cạn thật sự khổng lồ (nặng một tấn hoặc hơn) còn tồn tại: voi, tê giác, hà mã và hươu cao cổ. Trải qua hàng chục triệu năm, sự sống trên Trái Đất đã trở nên rất nhỏ bé và thuần hóa.

Câu hỏi được đặt ra là liệu sự biến mất của thời kỳ đồ đá và các thời kỳ gần đây hơn có phải là một phần của một sự kiện tuyệt chủng duy nhất hay không. Nói cách khác, liệu con người có phải là mối đe dọa chính với các sinh vật khác. Đáng tiếc, có lẽ đúng là vậy. Theo David Raup, nhà cổ sinh vật học Đại học Chicago, dựa vào lịch sử sinh học, có thể rút ra tốc độ tuyệt chủng căn bản trên Trái Đất: trung bình một loài sẽ biến mất sau 4 năm. Theo cuốn The Sixth Extinction [tạm dịch: Cuộc tuyệt chủng thứ sáu] của Richard Leakey và Roger Lewin, tốc độ tuyệt chủng do loài người gây ra hiện nay có thể cao gấp 120.000 lần mức này.

Vào giữa thập kỷ 1990, nhà tự nhiên học người Úc, Tim Flannery, hiện là Giám đốc Bảo tàng Nam Úc ở Adelaide, kinh ngạc nhận ra con người hiểu biết rất ít về nhiều sự tuyệt chủng, kể cả của các loài khá gần đây. “Dù nhìn vào đâu, dường như đều có khoảng trống trong hồ sơ – hoặc thông tin bị mất, chẳng hạn như trường hợp loài chim cưu, hoặc do hoàn toàn không được ghi lại,” ông nói với tôi tại Melbourne hồi đầu năm 2002.

Flannery đã tuyển dụng người bạn của mình là Peter Schouten, một nghệ sĩ, đồng thời là một nhà khoa học người Australia, để cùng bắt tay thực hiện một nhiệm vụ có chút ám ảnh: làm sáng tỏ bộ sưu tập lớn của thế giới để tìm ra những gì đã mất, những gì còn lại và những gì chưa bao giờ được biết đến. Họ đã dành bốn năm lọc lựa từng mẩu da cũ kĩ, từng mẫu vật mốc meo, từng bản vẽ cổ xưa và từng bản chép tay – bất cứ thứ gì có được. Schouten thực hiện một bộ tranh vẽ các loài động vật theo kích thước thực mà họ có thể tái tạo, và Flannery viết phần mô tả. Kết quả là một cuốn sách đặc biệt mang tên A Gap Nature [tạm dịch: Khoảng trống thiên nhiên] ra đời, đem lại danh mục đầy đủ nhất – và phải nói là sống động nhất – về các loài động vật đã tuyệt chủng trong vòng 300 năm qua.

Với một số động vật, các dữ liệu khá tốt, nhưng không có ai từng làm điều gì đáng kể với chúng, đôi khi trong vài năm, đôi khi là vĩnh viễn. Bò biển Steller, loài vật giống hải mã có họ với cá nược, là một trong những loài động vật lớn gần nhất bị tuyệt chủng. Chúng thật sự rất lớn – khi trưởng thành có thể đạt độ dài gần 9m và nặng 10 tấn – nhưng chúng chỉ được biết đến vào năm 1741 khi một đoàn thám hiểm người Nga bị đắm tàu tại nơi duy nhất mà loài vật này còn tồn tại với một số lượng lớn: quần đảo Commander hoang vu, nằm trong sương mù trên biển Bering.

Thật may khi trong đoàn thám hiểm có nhà tự nhiên học Georg Steller, một người đam mê với các loài động vật. “Ông đã ghi chép rất nhiều và tỷ mỉ,” Flannery nói. “Ông thậm chí đo cả đường kính sợi râu của nó. Thứ duy nhất ông không mô tả là cơ quan sinh dục của con đực – dù vì một vài lý do nào đó, ông rất nhiệt tình mô tả cơ quan sinh dục của con cái. Ông còn giữ lại một mảnh da, nhờ vậy chúng ta hiểu được kết cấu của nó. Không phải lúc nào chúng ta cũng gặp may như vậy.”

Điều mà Steller không làm được là cứu những con bò biển này. Bị săn bắt quá nhiều đến mức gần tuyệt chủng, chúng biến mất sau 27 năm kể từ khi được Steller phát hiện. Tuy vậy, nhiều loài động vật khác không thể đưa vào cuốn sách vì con người biết quá ít về chúng. Chuột nhảy ở Darling Downs, thiên nga ở quần đảo Chatham, gà biển không bay ở đảo Ascension, và ít nhất 5 loài rùa biển lớn cùng rất nhiều loài khác đã biến mất mà không để lại gì ngoài cái tên.

Flannery và Schouten cũng nhận thấy nhiều khi sự tuyệt chủng xảy ra không phải do sự tàn nhẫn hay bừa bãi, mà đơn thuần là do sự ngốc nghếch. Năm 1894, khi một ngọn hải đăng được xây dựng trên hòn đảo Stephens biệt lập, thuộc vùng biển giông bão giữa quần đảo Bắc và Nam của New Zealand, chú mèo của người gác hải đăng đã bắt về cho anh ta những con chim nhỏ kỳ lạ. Anh ta đã gửi một số mẫu tới bảo tàng ở Wellington. Tại đây, một người phụ trách bảo tàng đã rất vui mừng vì biết đây là một giống còn sót lại của loài chim hồng tước không biết bay, và là mẫu duy nhất của loài chim này từng được tìm thấy. Ông ngay lập tức tới hòn đảo này, nhưng khi tới nơi, con mèo đã giết sạch lũ chim. Vì thế mười hai mẫu vật chim hồng tước không biết bay của đảo Stephens ở bảo tàng này là tất cả những gì còn lại cho đến nay.

Ít nhất, chúng ta còn có những mẫu đó. Thật ra, chúng ta thường không quan tâm tới việc chăm sóc các loài động vật cho tới khi chúng tuyệt chủng. Chẳng hạn trường hợp của loài vẹt Carolina đáng yêu. Với màu xanh bích ngọc và một cái đầu màu vàng, chúng được xem là loài chim nổi bật và đẹp nhất từ trước đến nay ở Bắc Mỹ – như bạn biết đấy, loài vẹt thường không mạo hiểm đi quá xa về phía bắc – vào lúc phát triển nhất chúng từng đạt số lượng rất lớn, chỉ kém loài chim bồ câu viễn khách. Nhưng vẹt đuôi dài Carolina cũng bị xem là một nguồn dịch hại đối với nông dân, và dễ bị tìm giết vì chúng thường quần tụ với nhau và có một thói quen đặc biệt là bay lên khi nghe thấy tiếng súng (tất nhiên là như vậy), nhưng sau đó sẽ sà xuống gần như lập tức để kiểm tra những đồng loại đã ngã xuống.

Cuốn sách kinh điển có nhan đề American Ornithology [tạm dịch: Điểu học châu Mỹ] được Charles Willson Peale viết đầu thế kỷ XIX đã mô tả lần ông liên tục nổ súng vào một thân cây có những con vẹt đang kêu:

Mỗi lần xả súng liên tiếp, dù rất nhiều con rơi xuống nhưng dường như tình cảm của những con sống sót lại tăng lên. Sau khi bay vài vòng xung quanh, chúng trở lại gần tôi, nhìn xuống những đồng loại đã bị giết với biểu hiện thông cảm và quan tâm, khiến tôi thật sự chết lặng.

Vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ XX, loài chim này không ngừng bị săn bắt nên chỉ một số ít còn sống trong hoàn cảnh nuôi nhốt. Cá thể cuối cùng, tên là Inca, đã chết trong sở thú Cincinnati vào năm 1918 (chưa đầy bốn năm sau khi con bồ câu viễn khách cuối cùng cũng chết tại đây), và được trang trọng nhồi bông để bảo quản. Giờ đây, bạn sẽ phải đến đâu để được thấy chú vẹt Inca tội nghiệp ấy? Không ai biết câu trả lời, vì sở thú đã làm mất nó.

Điều gây tò mò và hoang mang nhất trong câu chuyện trên là việc Peale, một người rất yêu các loài chim, đã không ngần ngại giết hàng loạt con vẹt mà không vì lý do gì ngoài việc ông thích làm điều đó. Một sự thật gây sửng sốt là trong một thời gian rất dài, những người quan tâm nhất đến sự sống của các sinh vật trên thế giới cũng chính là những người có nhiều khả năng hủy diệt nó nhất.

Ví dụ rõ nhất cho điều này trên quy mô lớn (xét trên mọi ý nghĩa) là Lionel Walter Rothschild, người con thứ của Baron Rothschild. Là con cháu của đại gia đình ngân hàng lớn, Rothschild là một người kỳ quặc và ẩn dật. Ông sống cả đời, từ năm 1868 đến năm 1937, trong sự bao bọc của gia đình ở Tring, Buckinghamshire, sử dụng đồ nội thất từ thời thơ ấu – thậm chí ngủ trên chiếc giường thủa nhỏ, dù sau này ông nặng tới 135kg.

Với niềm đam mê lịch sử tự nhiên, ông đã cống hiến tích cực cho lĩnh vực này. Ông từng gửi những đội quân được đào tạo – có lúc lên đến 400 người – tới mọi ngõ ngách của hành tinh dù phải trèo đèo lội suối, băng rừng nhằm truy lùng những loài vật mới – nhất là những loài biết bay. Chúng được nhốt vào các lồng gỗ hoặc đóng hộp và gửi về dinh thự của Rothschild, nơi ông và một nhóm trợ lý xem xét thật kỹ lưỡng và phân tích tất cả mọi thứ được bày ra trước mặt, xuất bản vô số sách, báo, tài liệu chuyên khảo – khoảng 1.200 các loại. Tổng cộng, nhà máy lịch sử tự nhiên của Rothschild đã xử lý tốt 2 triệu mẫu và bổ sung 5.000 loài sinh vật vào kho tàng lưu trữ khoa học.

Thế nhưng, nỗ lực thu thập có quy mô lớn nhất hay được tài trợ hào phóng nhất trong thế kỷ XIX lại không phải là của Rothschild. Danh hiệu ấy thuộc về một nhà sưu tập người Anh sống trước đó một chút và cũng rất giàu có, Hugh Cuming, người bị ám ảnh với việc sưu tập mọi thứ đến nỗi đã cho đóng một con tàu đi biển lớn, sau đó thuê một đoàn thủy thủ để giong buồm khắp thế giới nhằm thu thập bất cứ thứ gì họ có thể tìm thấy được – chim, thực vật, động vật các loại, và đặc biệt là các loại vỏ. Chính ông đã chuyển bộ sưu tập hàu đồ sộ của mình cho Darwin để phục vụ các chuyên đề nghiên cứu.

Mặc dù Rothschild rất dễ dàng trở thành nhà sưu tầm đảm bảo tiêu chuẩn khoa học nhất ở thời đại của mình, nhưng đó lại đồng thời cũng là điểm chết người đáng tiếc nhất. Vào thập kỷ 1890, ông bắt đầu thấy hứng thú với quần đảo Hawaii, nơi có môi trường khá hấp dẫn và cũng dễ bị tổn thương nhất trên Trái Đất. Hàng triệu năm tách biệt đã giúp Hawaii phát triển 8.800 loài động, thực vật độc đáo. Điều khiến Rothschild hứng thú nhất là các loài chim kỳ lạ đầy màu sắc nơi đây, chúng thường quần tụ với số lượng rất ít ỏi trên các địa hình hết sức đặc thù.

Bi kịch của nhiều loài chim Hawaii là do chúng không chỉ độc đáo, hấp dẫn và quý hiếm – tổng hòa các đức tính tốt nhất khiến chúng gặp nguy hiểm – mà điều đau lòng là chúng còn rất dễ săn bắt. Loài koa lớn, một thành viên của họ chim sẻ nhỏ ăn hạt cây và côn trùng, thường sống lẩn khuất trong các tán cây koa, nhưng nếu ai đó bắt chước giọng hót của chúng, chúng sẽ lập tức rời khỏi nơi trú ngụ và sà xuống ríu rít. Những con chim koa lớn cuối cùng biến mất vào năm 1896 do bị nhà sưu tầm xuất sắc Harry Palmer của Rothschild giết hại, chỉ 5 năm sau sự tuyệt chủng của một loài rất gần với nó, chim koa nhỏ, vốn hiếm hoi đến nỗi chỉ duy nhất một con từng được nhìn thấy: khi nó bị bắn để đưa vào bộ sưu tập của Rothschild. Trong suốt thập niên mà Rothschild sưu tầm được nhiều loài nhất, ít nhất 9 loài chim Hawaii đã tuyệt chủng, thậm chí có thể nhiều hơn.

Rothschild không phải là người duy nhất có lòng say mê với việc bắt các loài chim dù phải trả bất cứ giá nào. Thực tế, có những người còn tàn nhẫn hơn. Năm 1907, khi nhà sưu tập nổi tiếng Alanson Bryan nhận thấy mình đã bắn chết ba cá thể chim mamo đen cuối cùng, một loài chim rừng mới được phát hiện trong thập kỷ trước, ông ta nói điều này khiến mình thấy “sung sướng”.

Tóm lại, đây là một thời kỳ rất khó hiểu – khi mà bất kỳ loài vật nào cũng có thể bị ngược đãi hay ít nhất là bị xâm hại. Năm 1890, bang New York đã chi ra hơn một trăm gói tiền thưởng để bắt sư tử núi phương đông, mặc dù loài sinh vật bị nhiều người quấy rầy này đang trên bờ tuyệt chủng. Đến những năm 1940, nhiều tiểu bang tiếp tục treo tiền thưởng để bắt hầu hết mọi loài động vật ăn thịt. Tây Virginia đã đưa ra một học bổng hằng năm cho bất cứ sinh viên nào mang về nhiều sinh vật gây hại nhất – tức là gần như bất cứ thứ gì không trồng trên các trang trại hay giữ làm vật nuôi.

Có lẽ số phận của loài chim chích Bachman nhỏ bé đáng yêu là bằng chứng tố cáo mạnh mẽ nhất sự kỳ quặc của giai đoạn này. Vốn có nguồn gốc từ miền nam nước Mỹ, loài chim chích này nổi tiếng về giọng hót trong trẻo khác lạ của mình, nhưng số cá thể của loài này lại không lớn, và dần thu hẹp lại cho đến khi biến mất vào năm 1930 và không xuất hiện suốt nhiều năm sau đó. Vào năm 1939, tình cờ hai người mê chim, ở những địa điểm cách xa nhau, vào hai ngày khác nhau, bắt gặp những con chim chích Bachman cô đơn còn sót lại. Cả hai đã bắn chết những con chim ấy.

Sự thôi thúc diệt chủng không chỉ có ở Mỹ. Ở Australia, người ta treo giải cho những ai bắt được hổ Tasmania (đúng hơn là chó sói Tasmania), một sinh vật giống chó nhưng lại có các sọc đen đặc trưng của hổ trên lưng, cho đến một thời gian ngắn trước khi cá thể cuối cùng của loài này chết một cách tuyệt vọng và vô danh trong vườn thú tư nhân Hobart vào năm 1936. Ngày nay, nếu tới thăm Bảo tàng Triển lãm nghệ thuật Tasmania và yêu cầu được xem cá thể cuối cùng của loài thú ăn thịt có túi lớn duy nhất của thời hiện đại, tất cả những gì họ có thể cho bạn xem là vài bức ảnh và chỉ 61 giây của một đoạn phim cũ. Sau khi chết, xác của con chó sói Tasmania cuối cùng đã bị ném vào chỗ rác được đổ đi hằng tuần của sở thú.

Tôi đề cập tất cả điều này vì muốn nói rằng nếu chọn một sinh vật để chăm nom sự sống trong vũ trụ cô đơn này, nhằm dõi theo những nơi nó đang đi tới và ghi lại những nơi nó đã đi qua, hẳn bạn sẽ không chọn con người. Nhưng điều rất quan trọng là: chúng ta đã được lựa chọn, do số phận, do tạo hóa, hay bạn muốn gọi là gì cũng được. Chỉ có thể nói rằng, chúng ta là lựa chọn tốt nhất. Cũng có thể chúng ta là lựa chọn duy nhất. Thật đáng sợ khi nghĩ rằng chúng ta chính là thành tựu tối cao còn tồn tại của vũ trụ, lại cũng là cơn ác mộng tồi tệ nhất.

Vốn vô cùng bất cẩn trong việc chăm nom mọi thứ, dù chúng còn sống hay đã chết, chúng ta không hề biết – thật sự không biết chút gì – bằng cách nào rất nhiều thứ đã biến mất vĩnh viễn, hoặc sẽ sớm như vậy, hoặc có thể không bao giờ, và con người đóng vai trò gì trong toàn bộ quá trình này. Năm 1979, trong cuốn The Sinking Ark [tạm dịch: Chiếc thuyền sắp đắm], Norman Myers cho rằng các hoạt động của con người gây ra hai sự tuyệt chủng trên hành tinh mỗi tuần. Vào những năm đầu thập kỷ 1990, ông đã nâng con số này lên 600 mỗi tuần. (Đó là sự tuyệt chủng gồm tất cả các loài: thực vật, côn trùng và các loài động vật khác). Một số người còn đưa ra con số cao hơn – trên 1.000 loài tuyệt chủng mỗi tuần. Dù vậy, một báo cáo của Liên Hợp Quốc năm 1995 cho rằng tổng số loài được biết đã tuyệt chủng trong 400 năm trở lại đây là khoảng dưới 500 loài động vật và hơn 650 loài thực vật – đồng thời lưu ý rằng con số này gần như chắc chắn ít hơn thực tế, đặc biệt với các loài nhiệt đới. Chỉ có rất ít người cho rằng hầu hết các con số về sự tuyệt chủng đã bị thổi phồng.

Thực tế là chúng ta cũng không biết. Thậm chí không có bất cứ ý tưởng nào. Chúng ta không biết mình bắt đầu những việc mà hiện nay đã hoàn thành từ khi nào. Chúng ta không biết những hành động của mình ngay lúc này sẽ ảnh hưởng đến tương lai ra sao. Những gì chúng ta biết chỉ là có một hành tinh để chúng ta làm mọi việc trên đó, và chỉ một loài duy nhất có khả năng tạo ra sự khác biệt đáng kể. Edward O. Wilson đã bày tỏ điều này theo cách không thể ngắn gọn hơn trong cuốn The Diversity of Life: “Một hành tinh, một thử nghiệm.”

Nếu cuốn sách này đem lại một bài học, thì đó là chúng ta hết sức may mắn khi có mặt ở đây – khi dùng từ “chúng ta”, tôi muốn nói tới mọi sinh vật. Để có được bất cứ sự sống nào trong vũ trụ này có lẽ thật sự là một kỳ tích. Tất nhiên, là con người, chúng ta may mắn gấp đôi. Con người không chỉ được hưởng đặc quyền tồn tại, mà còn có khả năng đặc biệt để hiểu rõ giá trị của nó và thậm chí, theo nhiều khía cạnh, để cải thiện nó. Đó là một bí quyết mà chúng ta chỉ mới bắt đầu nắm được.

Chúng ta đã đạt tới sự ưu việt này trong một thời gian rất ngắn. Loài người hiện đại xét về mặt hành vi mới tồn tại trong khoảng chưa đầy 0,01% lịch sử Trái Đất – gần như không là gì. Thế nhưng, ngay cả sự tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn ngủi đến vậy cũng đòi hỏi chuỗi may mắn gần như vô tận.

Chúng ta thật sự chỉ mới ở điểm khởi đầu. Tất nhiên, vấn đề mấu chốt là phải đảm bảo con người không bao giờ rơi vào điểm tận cùng. Điều đó, gần như chắc chắn, không thể chỉ trông chờ vào may mắn.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.