Cuối những năm 1940, một nghiên cứu sinh tại Đại học Chicago có tên Clair Patterson (sinh ra trong một gia đình nông dân ở Iowa) sử dụng một phương pháp xác định tuổi của Trái Đất mới là đo đồng vị chì. Thật không may, mọi mẫu đá của ông đều bị ô nhiễm nặng – hầu hết là cực nặng – chúng có hàm lượng chì nhiều gấp 200 lần thông thường. Nhiều năm sau, Patterson mới biết nguyên nhân của điều đó đến từ một nhà sáng chế đáng trách sống ở tiểu bang Ohio, Thomas Midgley.
Midgley là một kỹ sư được đào tạo bài bản và thế giới sẽ an toàn hơn rất nhiều nếu ông chỉ giới hạn ở công việc đó của mình, thay vì quan tâm đến các ứng dụng công nghiệp của hóa học. Năm 1921, khi làm việc cho General Motors Research ở Dayton, Ohio, ông đã điều chế được một hợp chất có tên là chì tetraethyl (như người ta vẫn thường nhầm lẫn gọi nó là tetraethyl chì) có tác dụng làm giảm đáng kể điều kiện rung xóc hay hiện tượng kích nổ trong động cơ.
Mặc dù được biết đến như một chất độc hại, nhưng chì vẫn được sử dụng rộng rãi trong những năm đầu thế kỷ XX trong mọi sản phẩm tiêu dùng. Lon đồ hộp, lớp tráng bể chứa nước đều có chì, asenat chì được dùng thay cho thuốc trừ sâu, thậm chí các thành phần của kem đánh răng cũng đưa chì vào cơ thể người tiêu dùng. Tuy nhiên, hiểm họa lớn nhất từ chì chính là từ việc thêm nó vào nhiên liệu ô tô.
Chì là một loại độc tố thần kinh. Nếu bị nhiễm nhiều, nó sẽ gây tổn thương não bộ và hệ thần kinh, với một số triệu chứng như mù lòa, mất ngủ, suy thận, mất thính giác, ung thư, liệt và co giật. Ảnh hưởng cấp tính của chì là gây ra ảo giác đột ngột và đáng sợ cho nạn nhân, sau đó sẽ là hôn mê và tử vong. Bạn sẽ không muốn nhiễm nhiều chì thế đâu.
Mặt khác, chì lại rất dễ trích xuất và sử dụng, nên nó sinh lời một cách đáng kinh ngạc khi được sản xuất công nghiệp. Chì tetraethyl giúp động cơ vận hành trơn tru. Vì vậy, vào năm 1923, ba trong số các tập đoàn lớn nhất nước Mỹ, General Motors, Du Pont và New Jersey Standard Oil, đã thành lập Công ty liên doanh Xăng Ethyl (sau này rút gọn là Công ty Ethyl) nhằm sản xuất chì tetraethyl để đáp ứng nhu cầu của cả thế giới. Ý tưởng này rõ ràng là một món lời kếch xù. Họ gọi thứ phụ gia này là ethyl vì nghe nó có vẻ thân thiện và ít độc hại hơn chì, sau đó đưa nó vào sử dụng rộng rãi từ ngày 1 tháng Hai năm 1923.
Gần như ngay lập tức, các công nhân sản xuất bắt đầu có triệu chứng đi loạng choạng và rơi vào hoảng loạn, biểu hiện ban đầu của nhiễm độc chì. Công ty Ethyl lúc này cương quyết phủ nhận trách nhiệm nhằm bảo vệ quyền lợi của mình trong nhiều thập kỷ tiếp theo. Sharon Bertsch McGrayne đã ghi lại trong cuốn sách về lịch sử hóa học công nghiệp của mình, Prometheans in the Lab [tạm dịch: Những Promete trong phòng thí nghiệm], khi các công nhân nhà máy rơi vào ảo giác không thể hồi phục, một phát ngôn viên ôn tồn thông báo với phóng viên: “Họ có lẽ đã bị rối loạn tâm thần do làm việc quá sức.” Theo báo cáo, có ít nhất 15 công nhân đã chết trong vài ngày đầu sản xuất xăng pha chì và một số không nhỏ khác bị nhiễm độc chì, thường là rất nặng. Con số chính xác vẫn còn là một bí mật vì công ty luôn che giấu thông tin về các vụ rò rỉ, tràn và nhiễm độc chì. Tuy nhiên, khi các ca nhiễm độc lên đến đỉnh điểm vào năm 1924, trong vài ngày đã có 5 công nhân tử vong và 35 người khác tàn phế vĩnh viễn do hít phải quá nhiều khí độc, tin tức về mức độ nguy hiểm của chì bắt đầu lan nhanh. Trước tình trạng đó, cha đẻ của ethyl, Thomas Midgley, quyết định tổ chức một cuộc họp báo trước đông đảo các phóng viên nhằm xoa dịu dư luận.
Để chứng minh cho cam kết an toàn của công ty, ông đổ chì tetraethyl lên khắp cánh tay mình, sau đó ghé mũi vào cốc chứa chì hít trong suốt 60 giây, với lời nói dối trơn tru rằng mình có thể lặp lại những việc đó hằng ngày mà không gặp hại gì cả. Trên thực tế, Midgley biết rõ hơn ai hết hậu quả của nhiễm độc chì, chính bản thân ông đã phải nhập viện do nhiễm độc chì cách đó vài tháng, và trừ khi biểu diễn trước cánh nhà báo, ông không bao giờ còn dám lại gần hóa chất này.
Không chỉ dừng lại ở xăng pha chì, Midgley còn tiếp tục nghiên cứu một vấn đề công nghệ đương thời khác. Tủ lạnh gia đình trong những năm 1920 bị xem là một thiết bị đầy rủi ro vì sử dụng những loại khí độc rất nguy hiểm mà thi thoảng hay rò rỉ. Một vụ rò rỉ khí tủ lạnh ở bệnh viện Cleveland, Ohio, vào năm 1929 đã giết chết hơn 100 người. Midgley bắt tay vào nghiên cứu một loại khí ổn định, không cháy, không ăn mòn và an toàn khi hít phải. Bằng thiên hướng kỳ lạ với những phát minh hai mặt, nhà khoa học này đã khai sinh ra cloflocácbon, hay còn gọi là khí CFC.
Hiếm có một sản phẩm công nghiệp nào nhanh chóng được phổ dụng như CFC. Vào đầu những năm 1930, nó xuất hiện trong hàng trăm ứng dụng từ điều hòa xe hơi đến bình xịt khử mùi, và mãi đến nửa thế kỷ sau, người ta mới phát hiện được rằng loại khí này đang ăn mòn ôzôn trong tầng bình lưu, điều mà ai cũng biết là một hiểm họa của cả nhân loại.
Ôzôn là một dạng ôxy trong đó mỗi phân tử chứa ba nguyên tử ôxy thay vì hai như bình thường. Hóa học kỳ lạ ở chỗ, khi ở trong môi trường đất, ôzôn là một chất gây ô nhiễm, nhưng ở tầng bình lưu, nó lại hút các bức xạ tia cực tím gây hại. Ôzôn chỉ tồn tại với số lượng có hạn, nếu được phân bổ đều khắp tầng bình lưu cũng chỉ có một lớp dày khoảng 2mm. Đó là nguyên nhân khiến tầng ôzôn vô giá rất dễ bị thủng.
Cloflocácbon cũng không có nhiều, chỉ chiếm khoảng một phần tỷ lượng khí trong khí quyển nhưng lại có sức tàn phá khủng khiếp. Một kilogam CFC có thể hút và triệt tiêu 70.000kg ôzôn. Nó cũng tồn tại và gây ra sự hủy hoại liên tục trong suốt vòng đời gần một thế kỷ. Hơn nữa, chúng còn là những miếng bọt biển hút nhiệt đáng sợ. Chúng ta đã biết cácbon điôxít là một khí nhà kính nguy hiểm, nhưng một phân tử CFC còn gây hiệu ứng nhà kính gấp 10.000 lần một phân tử cácbon điôxít. Không hề là phóng đại khi coi cloflocácbon là phát minh tồi tệ nhất của thế kỷ XX.
Midgley không bao giờ biết điều này vì rất lâu sau khi ông chết, người ta mới nhận ra tác hại của CFC. Bản thân cái chết của ông cũng rất lạ lùng. Trong thời gian chống chọi lại bệnh bại liệt, ông đã phát minh một hệ thống ròng rọc giúp nâng ông đứng dậy khỏi giường. Năm 1944, ông chết ngạt do bị cuốn vào hệ thống ròng rọc của chính mình.
* * *
Nếu quan tâm đến tuổi của vạn vật, thì Đại học Chicago trong những năm 1940 là địa điểm lý tưởng cho bạn. Tại đây, Willard Libby đã phát minh ra phương pháp tính tuổi bằng cácbon phóng xạ, cho phép các nhà khoa học làm được một điều không tưởng, đó là biết chính xác tuổi của xương và các di vật hữu cơ. Tính đến thời điểm đó, niên đại cổ xưa nhất mà khoa học có thể xác định mới chỉ dừng lại ở triều đại đầu tiên tại Ai Cập – khoảng 3.000 năm TCN. Ngoài ra, không ai có thể tự tin xác định thời gian mà khối băng cuối cùng tan hoặc người cổ đại Cro- Magnon đã vẽ hình trang trí những hang động Lascaux ở Pháp là khi nào.
Phương pháp hữu ích của Libby mang đến cho ông giải Nobel vào năm 1960. Ông cho rằng mọi sinh vật sống đều chứa một đồng vị cácbon được gọi là cácbon-14, và nó bắt đầu phân rã với tốc độ có thể đo được ngay sau khi vật chủ chết. Cácbon-14 có chu kỳ bán rã – tức là thời gian mà một nửa số nguyên tử của một nguyên tố bị phân rã – vào khoảng 5.600 năm. Vì vậy, bằng cách giám định số lượng cácbon-14 đã bị phân rã của một mẫu vật, Libby có thể tính khá chính xác tuổi của mẫu vật đó. Sau tám chu kỳ bán rã, lượng phóng xạ cácbon chỉ còn lại 0,39%, quá ít để có thể giúp đo chính xác, vì vậy phương pháp này chỉ được áp dụng cho các đối tượng có tuổi dưới 40.000.
Tuy nhiên, người ta sớm phát hiện những sai sót trong phương pháp này. Trước tiên là, hằng số phân rã trong công thức của Libby có sai số khoảng 3%. Lúc này trên thế giới đã có hàng nghìn cách đo niên đại, nhưng các nhà khoa học vẫn sử dụng hằng số không chính xác này, dẫn đến kết quả mà Tim Flannery nói là, “mỗi niên đại mà cácbon phóng xạ giám định được ngày nay cần được cộng thêm 3%”. Đó chưa phải là vấn đề duy nhất, mẫu cácbon-14 có thể dễ dàng bị nhiễm cácbon từ những nguồn khác, ví dụ như một mẩu thực vật nhỏ vô tình dính trên mẫu vật được thu thập. Với những mẫu có độ tuổi chỉ khoảng dưới 20.000 năm, sự ô nhiễm nhẹ không gây sai lệch lớn, nhưng với những mẫu nhiều tuổi hơn, nó có thể gây vấn đề nghiêm trọng, bởi bản thân các mẫu này không còn chứa nhiều nguyên tử để giám định được nữa. Theo Flannery, trường hợp đầu tiên giống như bạn đếm nhầm một đô-la trong xấp 1.000 tờ, còn trường hợp thứ hai thì giống như bạn đếm nhầm một đô-la trong khi bạn chỉ có hai đô-la để đếm.
Phương pháp của Libby còn dựa trên suy đoán rằng lượng cácbon-14 trong không khí, ở tốc độ hấp thụ bình thường của các sinh vật sống, không đổi xuyên suốt lịch sử. Thực tế không phải vậy. Hiện nay, người ta đã chứng minh được rằng số lượng cácbon-14 thay đổi liên tục theo thời gian, phụ thuộc vào việc các tia vũ trụ bị đổi hướng bởi từ trường của Trái Đất như thế nào. Điều này nghĩa là một số đồng vị cácbon-14 có số tuổi rất mơ hồ, đặc biệt trong giai đoạn con người mới phát hiện ra châu Mỹ. Cách xác định niên đại bằng đồng vị cácbon-14 vẫn chưa ngã ngũ cho đến tận bây giờ.
Cuối cùng, dù hơi bất ngờ nhưng việc xác định niên đại còn bị ảnh hưởng bởi những nhân tố khách quan tưởng như chẳng có chút liên quan nào − ví dụ chế độ ăn của những người có xương được giám định. Gần đây, người ta vẫn tranh cãi về việc bệnh giang mai bắt nguồn từ Tân Thế giới hay Cựu Thế giới. Những nhà khảo cổ học ở Hull đã phát hiện ra rằng các thầy tu trong nghĩa trang của tu viện cũng mắc bệnh giang mai, nhưng người ta nghi ngờ liệu họ có mắc bệnh này trước khi Columbus phát hiện châu Mỹ hay không. Điều này thật khó kết luận, bởi nếu họ ăn nhiều cá thì tuổi xương theo giám định có thể tăng rất nhiều so với thực tế. Các thầy tu có thể đã mắc giang mai, nhưng bằng cách nào và tại thời điểm nào thì vẫn là một ẩn số trêu ngươi các nhà khoa học.
Chính vì những hạn chế đó của cácbon-14, nên ta cần phải có những cách khác để xác định niên đại của các vật chất cổ, trong đó có thể kể đến nhiệt phát quang là cách đo lường điện từ trong đất, hoặc cộng hưởng tự quay điện từ, bằng cách dội sóng nam châm điện vào mẫu vật và đo các rung động điện từ. Song ngay cả phương pháp tốt nhất cũng khó xác định tuổi những mẫu vật quá 200.000 năm tuổi, và càng không thê xác định tuổi của những vật chất vô cơ như các loại đá, thành phần thiết yếu để có thể xác định tuổi của Trái Đất.
Việc xác định niên đại của đá khó đến mức hầu như tất cả mọi người trên thế giới đều muốn từ bỏ. Vấn đề hẳn đã đi vào ngõ cụt nếu không có vị giáo sư người Anh kiên cường, Arthur Holmes.
Holmes là một anh hùng đúng nghĩa không chỉ bởi những khó khăn ông đã vượt qua, mà còn vì các kết quả rực rỡ ông thu được. Vào những năm 1920, với sự lên ngôi của vật lý, ngành khảo cổ trở nên lỗi thời và phải đối mặt với khó khăn thiếu nguồn tài trợ nghiêm trọng ngay tại nước Anh, cái nôi tinh thần của ngành này. Tại Đại học Durham, trong nhiều năm, khoa Địa chất chỉ có Holmes làm việc. Để theo đuổi mục tiêu tính tuổi bức xạ của đá, ông thường phải đi mượn hoặc ghép nối các thiết bị, có thời gian công việc đình trệ cả năm để đợi trường cấp cho một chiếc máy tính [adding machine] cơ bản. Holmes thường phải dừng nghiên cứu để kiếm tiền chu cấp cho gia đình – ông từng mở một cửa hàng đồ cổ ở Newcastle – và thỉnh thoảng vẫn phải nợ khoản phí hội viên 5 bảng Anhnăm của Hội Địa chất.
Kỹ thuật mà Holmes sử dụng rất đơn giản. Năm 1904, Ernest Rutherford đã ghi lại quy trình một nguyên tố phân rã thành một nguyên tố khác với tốc độ nhất định có thể dùng làm đơn vị cơ sở. Nếu biết được thời gian để kali-40 trở thành argon-40, và tính được lượng các nguyên tố này trong mẫu thử, bạn có thể tính được tuổi của mẫu đó. Dựa trên kết quả này, Holmes cho rằng bằng cách tính tốc độ phân rã từ urani thành chì, ông có thể tính được tuổi của đá và sau đó là của Trái Đất.
Tuy nhiên, để làm được điều này, Holmes cần những thiết bị kỹ thuật phức tạp có thể đo chính xác các mẫu vật cực nhỏ. Mà như chúng ta đã biết, chỉ một chiếc máy tính cơ bản cũng buộc ông phải đợi cả năm. Vậy nên đến năm 1946, việc Holmes tự tin tuyên bố rằng Trái Đất của chúng ta đã trải qua ít nhất ba tỷ năm tuổi thực sự là một thành tựu đáng nể. Thật không may, ông lại đối mặt với một cản trở khác: đó là tư duy bảo thủ của các nhà khoa học đồng nghiệp. Dù tán dương phương pháp của Holmes, nhưng một số người cho rằng ông vốn không tính được tuổi của Trái Đất, mà chỉ là tuổi của những vật chất cấu thành nó mà thôi.
Cùng thời gian này, Harrison Brown của Đại học Chicago đã phát triển một phương pháp mới nhằm tính số đồng vị chì trong đá lửa (cần nhấn mạnh đây là loại đá được tạo ra trong quá trình đốt nóng chứ không phải từ lắng đọng trầm tích). Nhận ra rằng công việc này không mấy dễ dàng, ông đã giao cho Clair Patterson làm đề tài luận án với lời hứa hẹn rằng việc xác định tuổi Trái Đất bằng phương pháp của ông dễ như chơi. Trên thực tế, nó tốn đến hàng năm trời.
Patterson bắt đầu công việc từ năm 1948. So với những đóng góp vang dội cho nhân loại của Thomas Midgley, phát hiện về tuổi của Trái Đất của Patterson đúng là một trời một vực. Trong suốt 7 năm, từ Đại học Chicago đến Viện công nghệ California (ông chuyển đến đây vào năm 1952), ông làm việc trong một phòng thí nghiệm vô trùng, đo đếm cẩn trọng tỉ lệ chìurani trong những mẫu đá cổ được lựa chọn khắt khe.
Điểm mấu chốt trong việc xác định tuổi của Trái Đất là phải thu thập được những mẫu đá rất cổ chứa tinh thể chì và urani tương đương với số tuổi của Trái Đất. Nếu chúng ra đời muộn hơn, việc định tuổi sẽ sai lệch. Tuy nhiên, loại đá như vậy không dễ tìm. Cuối những năm 1940, con người đã bước vào kỷ nguyên vũ trụ nhưng lại không ai biết được những tảng đá cổ của Trái Đất đã đi đâu (câu trả lời là kiến tạo địa tầng, quá trình mà chúng ta sẽ nhắc đến sau). Patterson chỉ có trong tay một lượng mẫu vô cùng ít ỏi để làm sáng tỏ cả một chân lý về vũ trụ. Cuối cùng, ông cũng tìm ra được cách để thoát khỏi sự bế tắc về vật liệu, đó là định tuổi những mẫu đá ngoài Trái Đất, hay chính là các thiên thạch.
Ông đưa ra một nhận định vĩ đại và hóa ra lại vô cùng chính xác, thiên thạch chính là những vật liệu xây dựng sót lại từ thuở sơ khai của hệ Mặt Trời, do đó, chúng vẫn ít nhiều giữ được bản sắc hóa học nguyên thủy của mình. Tính được tuổi của thiên thạch sẽ giúp xác định (gần chính xác) số tuổi của Trái Đất.
Mọi việc tất nhiên không dễ dàng như các dự định ban đầu. Thiên thạch cực kỳ khó thu thập và cần phải được sàng lọc nhiều lần để áp dụng phương pháp đo tỉ mỉ của Brown. Vấn đề lớn nhất mà Patterson gặp phải là các thiên thạch luôn bị nhiễm một lượng chì lớn từ khí quyển mỗi khi chúng tiếp xúc với không khí. Vì thế, cuối cùng ông đã phải tạo ra một phòng thí nghiệm vô trùng – đây có thể là mô hình đầu tiên trên thế giới.
Patterson mất bảy năm kiên trì để tìm được những mẫu vật chất phù hợp với thử nghiệm cuối cùng. Mùa xuân năm 1953, ông mang những mẫu vật này tới Phòng Thí nghiệm Quốc gia Argonne ở Illinois, nơi đặt một chiếc máy quang phổ hiện đại có thể phát hiện và đo lượng chì và urani cực nhỏ trong một tinh thể. Khi có được kết quả, Patterson phấn khích đến độ đã lái xe thẳng về Iowa, quê hương của mình và nhờ mẹ đưa mình vào viện vì cho rằng mình bị đau tim.
Không lâu sau, trong một cuộc họp tại Wisconsin, Patterson đã công bố số tuổi của Trái Đất là 4.550 triệu năm (cộng trừ 70 triệu năm) – “một con số mà 50 năm sau chúng ta vẫn đồng tình”, McGrayne nhận xét một cách thán phục. Cuối cùng, độ tuổi của Trái Đất đã được xác định sau 200 năm nỗ lực của các nhà khoa học.
Lúc này Patterson quay lại vấn đề ông vấp phải khi nghiên cứu tuổi của Trái Đất, đó chính là lượng chì trong bầu khí quyển. Ông phát hiện ra rằng ảnh hưởng độc hại của chì lên con người hoàn toàn bị bóp méo, cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi trong suốt 40 năm, các nghiên cứu về mức độ độc hại luôn được các nhà sản xuất phụ gia chi tài trợ độc quyền.
Ví dụ, trong một nghiên cứu như vậy, một bác sỹ không chuyên về bệnh lý hóa học đã tiến hành một thí nghiệm kéo dài năm năm, trong đó các tình nguyện viên hít và nuốt chì với lượng tăng dần. Sau đó, phân và nước tiểu của họ sẽ được kiểm tra. Ông ta không biết, hoặc vờ như không biết, rằng chì không được bài tiết ra ngoài mà sẽ tích tụ trong xương và máu – đó là nguyên nhân khiến nó vô cùng nguy hiểm. Nhờ cách này, chì vẫn tiếp tục được khẳng định là an toàn với sức khỏe con người.
Patterson sớm nghi ngờ rằng có rất nhiều chì trong không khí – thậm chí đến tận bây giờ, vì chì không thể tự biến mất – khoảng 90% lượng chì được thải ra từ ống xả xe hơi, nhưng ông không thể tìm được cách chứng minh. Do vậy, ông tìm cách so sánh lượng chì trong không khí tại thời điểm đó và trước năm 1923, khi chì tetraethyl bắt đầu được sản xuất để phục vụ mục đích thương mại. Câu trả lời được Patterson tìm thấy trong các lõi băng.
Ở Greenland, mỗi năm tuyết rơi lại tích tụ thành một lớp riêng biệt (sự thay đổi nhiệt độ theo mùa khiến chúng chuyển màu). Bằng cách đếm ngược theo các lớp tuyết này và đo lượng chì trong mỗi lớp, ông có thể tính được lượng chì trong không khí ở bất kỳ thời điểm nào trong khoảng vài trăm, thậm chí vài nghìn năm. Phát hiện này đã tạo tiền đề cho rất nhiều nghiên cứu khí hậu hiện đại sau này.
Kết luận của Patterson là trước năm 1923, chì hầu như không tồn tại trong không khí, và từ thời điểm đó nó tăng liên tục với tốc độ báo động. Từ đây, việc loại bỏ chì ra khỏi xăng đã trở thành mục tiêu cả cuộc đời của nhà khoa học này, ông tuyên chiến với cả ngành công nghiệp chì khổng lồ cũng như các lợi ích của nó.
Ethyl lúc bấy giờ là một tập đoàn toàn cầu với những mối quan hệ cấp cao. (Trong số những giám đốc của tập đoàn này có cả Thẩm phán Tòa án Tối cao Lewis Powell và Gilbert Grosvenor của Hội Địa lý Quốc gia.) Patterson thấy ngay hậu quả là nguồn tài trợ nghiên cứu sẽ bị cắt hoặc khó xin cấp vốn. Viện Dầu khí Hoa Kỳ và Dịch vụ Y tế Công cộng Hoa Kỳ, những cơ quan chính phủ được cho là trung lập, lập tức hủy hợp đồng với ông.
Thậm chí các ủy viên quản trị của Học viện Công nghệ California, nơi Patterson làm việc, cũng bị gây sức ép từ các quan chức ngành công nghiệp chì. Theo Jamie Lincoln Kitman trong cuốn The Nation [tạm dịch: Quốc gia] năm 2000, Ethyl còn sẵn sàng cho Học viện một ghế trong ban điều hành “với điều kiện Patterson phải cuốn gói”. Trước những áp lực đó, Patterson bị loại ra khỏi Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia vào năm 1971, vốn được bầu ra để điều tra nghi vấn nhiễm độc chì, mặc dù vào thời điểm đó, ông là chuyên gia nghiên cứu về chì hàng đầu của Mỹ.
Với lòng quả cảm vĩ đại, Patterson không hề lùi bước. Cuối cùng, những nỗ lực của ông cũng đã dẫn đến Đạo luật Không khí Sạch năm 1970 và sau đó là lệnh cấm bán xăng pha chì trên toàn nước Mỹ vào năm 1986. Lập tức, lượng chì trong máu người Mỹ giảm đến 80%. Tuy nhiên, vì chì không bao giờ mất đi, nên người Mỹ ngày nay vẫn đang phải mang trong mình lượng chì nhiều gấp 625 lần những người sống ở thế kỷ trước. Lượng chì trong không khí vẫn tiếp tục tăng khoảng 100.000 tấn một năm, hoàn toàn hợp pháp, do các hoạt động khai mỏ, luyện kim và sản xuất công nghiệp. Mỹ đã cấm dùng chì trong các loại sơn, theo McGrayne là “chậm hơn hầu hết các nước châu Âu đến 44 năm”. Đáng chú ý là, dù độc đến mức kinh ngạc, nhưng các mối hàn chì trong đồ hộp của Mỹ mới chỉ bị cấm từ năm 1993.
Còn Tập đoàn Ethyl vẫn phát triển mạnh mẽ dù GM, Standard Oil và Du Pont không còn giữ cổ phần (họ bán lại cho công ty giấy Albemarle năm 1962). Theo McGrayne, cho đến tháng 2 năm 2001, Ethyl vẫn tiếp tục khẳng định “các nghiên cứu chưa chứng minh được rằng xăng pha chì đe dọa đến sức khỏe của con người”. Trên website, công ty không hề đề cập đến chì hoặc Thomas Midgley mà chỉ đơn giản nhắc đến sản phẩm gốc chứa “một số hợp chất hóa học” trong lịch sử của mình.
Dù Ethyl không còn sản xuất xăng pha chì nhưng theo các báo cáo của công ty, trong năm 2000, chì tetraethyl (còn được biết đến như là TEL) vẫn chiếm 25,1 triệu đô-la trong tổng doanh thu 795 triệu đô-la (tăng so với 24,1 triệu đô-la năm 1999, nhưng giảm đáng kể so với 117 triệu đô- la năm 1998). Công ty này tuyên bố quyết tâm “tối đa hóa lượng tiền mặt tạo ra bởi TEL trong khi nhu cầu sử dụng nhiên liệu này vẫn tiếp tục giảm trên toàn thế giới”. Ethyl tiếp tục quảng bá TEL trên phạm vi toàn cầu thông qua hợp đồng ký kết với công ty Octel của Anh.
Còn về những tai họa khác mà Thomas Midley đã để lại, cloflocácbon (CFC) bị cấm vào năm 1974 tại Mỹ song chúng vẫn tồn tại như những kẻ sát nhân ngoan cố. Chỉ một lượng nhỏ CFC được xả ra trước đó (trong chất khử mùi hoặc bình xịt tóc) vẫn tiếp tục lơ lửng và phá hủy tầng ôzôn, cho đến rất lâu nữa sau khi cả bạn và tôi đều đã lìa đời. Tin buồn là một lượng lớn CFC vẫn đang thải vào bầu khí quyển mỗi năm. Theo Wayne Biddle, hơn 27.000 tấn chất này, trị giá khoảng 1,5 tỷ đô-la, vẫn đang chảy ra thị trường mỗi năm. Ai đang sản xuất nó? Vẫn chính là con người. Các tập đoàn lớn vẫn cho sản xuất CFC trong các nhà máy của họ ở thế giới thứ ba, có lẽ là cho đến tận năm 2010.
Clair Patterson qua đời vào năm 1995, và cũng như các nhà địa chất khác, ông không bao giờ được đề cử giải Nobel. Ông cũng không có được chút danh tiếng nào sau nửa thế kỷ đóng góp quên mình. Ít ra, người ta cũng nên phong cho ông danh hiệu Nhà địa chất có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX. Song, sự thật là chẳng ai biết đến Clair Patterson, ngay cả sách giáo khoa địa chất cũng không nhắc đến. Hai cuốn sách địa chất nổi tiếng gần đây về xác định tuổi của Trái Đất thậm chí còn viết sai tên ông. Đầu năm 2001, một bài viết trên tạp chí Nature còn mắc thêm một sai lầm đáng kinh ngạc, khi cho rằng Patterson là một phụ nữ.
Trên tất cả, nhờ Clair Patterson mà cuối cùng Trái Đất được xác định tuổi vào năm 1953. Vấn đề duy nhất bây giờ là Trái Đất lại già hơn cả vũ trụ đã sinh ra nó.