Lược Sử Vạn Vật

Lượt đọc: 109 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
25. Quan điểm khác thường của darwin

❊ ❊ ❊

Đầu mùa thu năm 1859, Whitwel Elwin, biên tập viên của tờ tạp chí uy tín của Anh Quarterly Review, nhận được bản in thử một cuốn sách mới của nhà tự nhiên học Charles Darwin. Elwin say mê đọc cuốn sách và đồng ý rằng đây là một tác phẩm có giá trị, tuy nhiên ông e rằng chủ đề này quá hẹp để thu hút được sự quan tâm của đông đảo độc giả. Thay vào đó, ông đề nghị Darwin viết một cuốn sách về bồ câu. “Ai cũng quan tâm tới bồ câu,” ông nhận xét đầy thành ý.

Lời khuyên thông thái của Elwin không được chú ý tới và cuốn Nguồn gốc các loài được xuất bản cuối tháng Mười một năm 1859 và được bán với giá 15 si-linh. Bản đầu tiên với 1.250 cuốn được bán hết ngay trong ngày đầu tiên. Nó được tái bản liên tục và hiếm khi thoát khỏi tranh cãi kể từ đó – không phải một thành quả tồi đối với một người đàn ông có sở thích chính là giun đất, và nếu không vì một quyết định bốc đồng mà giong buồm vòng quanh thế giới thì hẳn đã qua đời như một mục sư nông thôn vô danh được biết đến nhờ nghiên cứu giun đất.

Charles Robert Darwin sinh ngày 12 tháng Hai năm 1809 tại Shrewsbury, một thị trấn nhỏ thanh bình ở phía tây Midlands. Cha của ông là một nhà vật lý giàu có và uy tín. Mẹ ông, qua đời khi ông mới lên tám, là con gái của Josiah Wedgwood, một nghệ nhân làm gốm tài hoa.1

1. Đây là một ngày tốt lành trong lịch sử vì cùng ngày này tại Kentucky, Abraham Lincoln cũng chào đời.

Darwin có được mọi lợi thế về giáo dục, nhưng luôn làm đau lòng người cha với kết quả học tập không cao. “Mày không quan tâm tới thứ gì ngoài bắn súng, chó và bắt chuột, rồi mày sẽ phải hổ thẹn với bản thân và cả gia đình,” cha Darwin đã viết một dòng sẽ luôn xuất hiện trong mọi tiểu sử về giai đoạn đầu đời của ông. Dù có thiên hướng khoa học tự nhiên, nhưng để làm đẹp lòng cha, ông đã theo học dược tại Đại học Edinburgh, nhưng lại không thể chịu nổi máu và những cơn đau đớn. Trải nghiệm chứng kiến một cuộc phẫu thuật – tất nhiên, thời đó chưa có thuốc giảm đau – khi còn là một đứa trẻ đã khiến ông vĩnh viễn tổn thương. Ông thử học luật nhưng rột cuộc thấy nó vô cùng nhàm chán, và cuối cùng cũng chật vật để lấy được một tấm bằng thần học từ Đại học Cambridge.

Cuộc đời của một cha xứ nông thôn dường như đã được dọn sẵn để chào đón ông, nhưng ông bất ngờ nhận được một lời mời hấp dẫn hơn nhiều. Darwin được mời tham gia tàu thăm dò hải quân HMS Beagle, chủ yếu để làm bạn ăn tối với thuyền trưởng Robert FitzRoy, bởi địa vị của ông ngăn cản ông giao thiệp với bất cứ ai không thuộc dòng dõi quý tộc. FitzRoy, vốn rất lập dị, chọn Darwin một phần bởi hình dáng chiếc mũi của Darwin. (Nó cho thấy chiều sâu của tính cách, ông ta tin vậy.) Darwin không phải là lựa chọn đầu tiên của FitzRoy, nhưng đã được quyết định khi người bạn đồng hành mà FitzRoy ưu ái bỏ cuộc. Từ góc nhìn của thế kỷ XXI, đặc điểm chung nổi bật nhất của hai người đàn ông này là sự trẻ trung. Tại thời điểm họ khởi hành, FitzRoy mới 23 tuổi còn Darwin chỉ 22 tuổi.

Nhiệm vụ chính thức của FitzRoy là đo đạc mực nước ven biển, song sở thích, đúng hơn là đam mê, lại là tìm kiếm sự chứng thực cho thuyết sáng thế trong Kinh Thánh. Việc Darwin được đào tạo làm mục sư là nguyên do khiến FitzRoy muốn có ông trên tàu. Sau này, khi Darwin tỏ ra là một người có quan điểm tự do hơn là trung thành với các giáo lý cơ bản của Ki-tô giáo, hai người đã bất hòa trong một thời gian dài.

Quãng thời gian Darwin ở trên tàu Beagle từ năm 1831 tới năm 1836 là trải nghiệm định hình cuộc đời ông, song cũng là khoảng thời gian khó khăn nhất. Ông và thuyền trưởng cùng chung một căn buồng nhỏ, thật không hề thoải mái bởi FitzRoy là người rất dễ nổi nóng và thù dai. Hai người thường xuyên tranh cãi, trong đó một số lần “gần như khiến họ phát điên”, theo những gì Darwin sau này nhớ lại. Các chuyến hải trình dễ trở thành quãng thời gian u sầu nhất – thuyền trưởng tiền nhiệm của tàu Beagle đã tự bắn vào đầu trong một phút cô độc – và FitzRoy xuất thân từ một gia đình nổi tiếng với bản tính dễ trầm cảm. Người chú Viscount Castlereagh của FitzRoy đã tự cắt cổ trước đó một thập kỷ khi đang là Bộ trưởng Tài chính. (FitzRoy cũng sẽ tự tử theo cùng cách này vào năm 1865.) Ngay cả với tâm trạng bình thường, FitzRoy vẫn là một người kín tiếng đến lạ lùng. Đến cuối hải trình, Darwin kinh ngạc khi FitzRoy đột ngột kết hôn với một cô gái trẻ mà ông ta đính hôn từ lâu. Trong 5 năm trên biển cùng nhau, Darwin chưa một lần thấy FitRoy ám chỉ về mối quan hệ này hay đơn giản là nhắc đến tên cô ta.

Tuy nhiên, trên mọi khía cạnh khác, chuyến hải trình của Beagle là một thắng lợi lớn. Darwin đã trải nghiệm một cuộc phiêu lưu đủ cho cả cuộc đời và tích lũy được một kho mẫu vật đủ khiến ông nổi tiếng và bận rộn suốt nhiều năm. Ông tìm được một kho tàng hóa thạch cổ khổng lồ, trong đó có hóa thạch của loài lười đất hoàn chỉnh nhất được tìm thấy cho tới nay. Ông sống sót sau một trận động đất ở Chile, tìm thấy loài cá heo mới (được ông trân trọng đặt tên là delphinus fitzroyi). Ông cần mẫn tiến hành các khảo sát địa chất hữu ích trên dãy Andes và đưa ra một lý thuyết mới về sự hình thành của các đảo san hô vòng rất được tán dương, theo đó, ông cho rằng chúng không thể hình thành trong ít hơn một triệu năm – dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự gắn bó lâu dài của ông với các quá trình sự sống cực kỳ cổ xưa diễn ra trên Trái Đất. Năm 1836, ở tuổi 27, ông trở về sau khi đi xa 5 năm 2 ngày. Từ đó, ông không bao giờ rời xa nước Anh nữa.

Một điều Darwin không làm trên chuyến đi là đưa ra thuyết tiến hóa (hay bất cứ học thuyết nào nói chung). Ban đầu, tiến hóa xét như một khái niệm đã có từ hàng chục năm trước vào thập kỷ 1830. Chính ông của Darwin, Erasmus, là người đã vinh danh các nguyên tắc tiến hóa trong một bài thơ không mấy nổi bật The Temple of Nature [tạm dịch: Ngôi đền của Tự nhiên] từ nhiều năm trước khi Charles ra đời. Cho đến tận khi chàng trai Darwin trở về Anh và đọc được tác phẩm Essay on the Principle of Population [tạm dịch: Luận về các nguyên tắc của dân số] của Thomas Malthus (theo đó sự gia tăng về nguồn cung thực phẩm không bao giờ đủ để bù đắp cho sự gia tăng dân số do các nguyên nhân toán học), ý tưởng này mới bắt đầu ngấm vào tâm trí ông. Ông bắt đầu nhận thấy sự sống là một cuộc đấu tranh lâu dài, và lựa chọn tự nhiên là phương thức qua đó một số loài sẽ phát triển hay diệt vong. Đặc biệt, điều Darwin nhận ra là mọi sinh vật đều cạnh tranh để có được tài nguyên, và loài nào có lợi thế bẩm sinh sẽ phát triển rồi truyền lại lợi thế đó cho hậu duệ của mình. Nhờ đó, các loài liên tục phát triển.

Đây có vẻ là một ý tưởng vô cùng đơn giản, thế nhưng nó lý giải rất nhiều điều, và Darwin sẵn sàng dành cả đời cho nó. “Thật ngu ngốc khi tôi không nghĩ ra điều này!” T. H. Huxley đã khóc khi đọc Nguồn gốc các loài. Quan điểm này từ đó đã có tiếng vang. Điều thú vị là Darwin không sử dụng cụm từ “sự tồn tại của cái phù hợp nhất” trong bất cứ trước tác nào (dù ông thể hiện sự ngưỡng mộ điều đó). Cụm từ này do Herbert Spencer đưa ra vào năm 1864, 5 năm sau khi Nguồn gốc các loài được xuất bản, trong cuốn sách Principles of Biology [tạm dịch: Các nguyên lý sinh học]. Ông cũng không sử dụng thuật ngữ “tiến hóa” cho đến tận lần tái bản thứ 6 của tác phẩm (khi đó nó đã được sử dụng rộng rãi đến mức không thể cản lại) mà thích dùng cụm từ “truyền lại có cải biến”. Trên hết, các kết luận của ông cũng không hề bắt nguồn từ những gì ông quan sát được trong thời gian ở quần đảo Galápagos, nơi có các loại mỏ chim sẻ rất đa dạng. Câu chuyện vẫn được kể lại (hoặc ít nhất thường được ghi nhớ) là Darwin, trong khi du ngoạn từ đảo này sang đảo khác, nhận thấy mỏ của loài sẻ được điều chỉnh để phù hợp với nơi cư trú – ở đảo này, mỏ của chúng cứng và ngắn để đập vỡ các loại hạt, trong khi ở đảo kia mỏ của chúng lại dài và nhỏ để lôi thức ăn ra khỏi các khe nứt – điều đó làm ông nghĩ có thể không phải chúng được tạo hình sẵn như vậy mà vì một nguyên nhân nào đó đã tự điều chỉnh như thế.

Thực ra, đúng là chúng đã tự tạo ra điều này, nhưng Darwin không phải người nhận ra. Khi lên tàu Beagle, Darwin chỉ vừa tốt nghiệp đại học và chưa phải là một nhà tự nhiên học thực sự, vì thế ông không nhận thấy sự đa dạng của các loài chim trên quần đảo Galápagos. Chính John Gould, nhà điểu học bạn ông, thấy rằng Darwin đã tìm được rất nhiều chim sẻ với những kiểu mỏ khác nhau. Điều đáng tiếc là Darwin không ghi lại con chim nào đến từ đảo nào. (Ông mắc sai lầm tương tự với loài rùa biển.) Ông phải mất nhiều năm để gỡ xong mớ bòng bong này.

Do những thiếu sót này và do cần sắp xếp hết thùng này tới thùng khác chứa các mẫu vật khác thu được từ hành trình Beagle, nên mãi tới năm 1842, 5 năm sau khi ông về Anh, Darwin mới vạch ra những nguyên lý cơ bản của một lý thuyết mới. Từ đây, sau hai năm, ông phát triển thành một bản thảo dài 230 trang. Sau đó, ông làm một việc khác thường là cất những ghi chép của mình đi và khiến bản thân bận rộn với những việc khác. Ông trở thành cha của 10 đứa trẻ, và dành gần 8 năm để viết một tác phẩm đầy đủ về loài hàu. (“Tôi ghét loài hàu hơn bất cứ ai,” ông thở dài một cách dễ hiểu khi kết thúc tác phẩm), rồi mắc một chứng rối loạn kỳ lạ khiến ông thường xuyên bơ phờ, yếu ớt và dễ xúc động như chính ông kể lại. Các triệu chứng này gần như luôn đi kèm với việc buồn nôn khủng khiếp, đánh trống ngực, đau nửa đầu, mệt mỏi, run rẩy, có đốm trước mắt, khó thở, đầu óc lâng lâng và, không có gì đáng ngạc nhiên, cả trầm cảm nữa.

Nguyên nhân của tình trạng này đến nay vẫn chưa được làm rõ. Có lẽ thuyết phục nhất trong số rất nhiều khả năng được đưa ra là ông đã mắc Chagas, một loại sốt nhiệt đới dai dẳng do vết cắn của loài bọ benchuga ở Nam Mỹ. Một lý giải tầm thường hơn: ông mắc bệnh tâm thần. Dù thế nào, nỗi đau khổ của ông cũng không hề dễ chịu. Lúc bình thường, ông không thể làm việc một mạch quá 20 phút, đôi khi thậm chí còn ít hơn thế.

Phần lớn thời gian còn lại của ông dành cho hàng loạt biện pháp điều trị càng lúc càng vô vọng: ngâm mình trong nước đá, trong dấm, tự sốc điện nhẹ. Ông trở thành một kiểu ẩn sĩ không bao giờ ra khỏi ngôi nhà ở Kent, Down House. Một trong những việc đầu tiên ông làm khi tới đây là lắp một chiếc gương bên ngoài cửa sổ phòng làm việc để nhận diện và nếu cần thì tránh mặt những người ghé thăm.

Darwin giữ học thuyết cho riêng mình bởi ông biết rõ nó sẽ gây ra nhiều tranh cãi. Năm 1844, khi ông cất những ghi chép của mình đi, một cuốn sách mang tựa đề Vestiges of the Natural History of Creation [tạm dịch: Dấu tích lịch sử tự nhiên của tạo hóa] đã khiến giới học thuật giận dữ bởi nó cho rằng con người có thể đã tiến hóa từ các loài linh trưởng thấp kém hơn mà không có sự hỗ trợ của một Đấng sáng thế thiêng liêng. Dự đoán được điều này, tác giả đã che dấu thân phận một cách bí mật ngay cả với những người bạn thân nhất trong suốt 40 năm tiếp theo. Một số người băn khoăn liệu có phải chính Darwin là tác giả hay không. Một số khác cho rằng đó là Hoàng tử Albert. Sự thật, tác giả là chủ một nhà xuất bản thành công ít ai ngờ tới là Robert Chambers, một người Scotland. Ông miễn cưỡng phải cho mọi người biết một khía cạnh thực tế và riêng tư: hãng của ông là nhà xuất bản Kinh Thánh hàng đầu.1 Cuốn sách không chỉ bị giới tăng lữ trên khắp nước Anh phỉ báng, mà còn gặp phải cơn lôi đình từ giới học thuật. Tờ Edinburgh Review đã dành gần như cả một ấn phẩm – 85 trang – để phê phán nó. Ngay cả T. H. Huxley, một người tin vào thuyết tiến hóa, cũng tấn công cuốn sách bằng những lời độc địa mà không biết rằng tác giả chính là bạn mình.

1. Darwin là một trong số ít người đoán đúng. Ông tình cờ tới thăm Chambers vào ngày bản in thử của ấn bản lần thứ sáu của Vestiges [tạm dịch: Dấu tích] được gửi tới. Sự chăm chú của Chambers khi biên tập đã phần nào cho thấy điều này, cho dù hai người đàn ông không hề thảo luận về nó.

Bản thảo của chính Darwin có thể sẽ bị lãng quên cho đến tận khi ông qua đời nếu thiếu một báo động đến từ vùng Viễn Đông vào đầu mùa hè năm 1858, dưới hình thức một gói nhỏ trong đó có lá thư thân thiện của nhà tự nhiên học trẻ, Alfred Russel Wallace, và bản thảo một báo cáo có nhan đề On the Tendency of Varieties to Depart Indefinitely from the Original Type [tạm dịch: Bàn về xu hướng xa rời nguyên gốc của các loài]. Công trình này đưa ra một lý thuyết chọn lọc tự nhiên giống một cách không tưởng với các ghi chép bí mật của Darwin. Thậm chí ngôn từ ở một số đoạn gần như lặp lại. “Tôi chưa bao giờ thấy một sự trùng hợp nào đáng kinh ngạc hơn thế,” Darwin thuật lại đầy thảng thốt. “Nếu Wallace có được bản phác thảo do tôi viết ra năm 1842, anh ta sẽ không thể nào viết được một phần tóm tắt tốt hơn.”

Wallace không bước vào đời Darwin một cách bất ngờ như ai đó nhận định. Hai người đã thư từ qua lại, và Wallace hơn một lần hào phóng gửi cho Darwin những mẫu vật vì cho là có thể ông quan tâm. Trong quá trình trao đổi này, Darwin kín đáo cảnh báo Wallace rằng ông xem chủ đề sáng tạo muôn loài là lãnh địa đặc quyền của mình. “Mùa hè này đánh dấu năm thứ 20 (!) kể từ khi tôi mở cuốn sổ ghi chép đầu tiên về câu hỏi như thế nào và bằng cách nào các giống loài lại khác biệt với nhau,” ông từng viết trước đó cho Wallace. “Giờ đây, tôi đang chuẩn bị xuất bản công trình của mình,” ông nói thêm, cho dù sự thật không phải vậy.

Wallace không hiểu được điều mà Darwin đang cố giải thích – và tất nhiên trong bất cứ trường hợp nào ông cũng không thể biết rằng lý thuyết của mình lại giống hệt với lý thuyết mà Darwin đã và đang phát triển suốt hai thập kỷ.

Darwin bị đặt vào một tình huống khó xử và đau đớn. Nếu vội vàng xuất bản tác phẩm của mình để bảo vệ bản quyền ý tưởng, ông sẽ lợi dụng sự tin cậy của một người ngưỡng mộ ông từ xa. Nếu bước sang một bên, rồi hành động cao thượng như một quý ông, ông sẽ mất đi danh tiếng có được từ một học thuyết mà ông đã xây dựng độc lập. Lý thuyết của Wallace, theo chính lời Wallace thú nhận, là kết quả của một tia chớp tư duy; trong khi công trình của Darwin là sản phẩm của nhiều năm suy nghĩ một cách thận trọng, công phu. Đây thật sự là một bất công khủng khiếp.

Nỗi đau khổ càng đè nặng khi con trai út của ông, cũng mang tên Charles, bị sốt phát ban và ốm nặng. Cuộc khủng hoảng lên tới đỉnh điểm vào ngày 28 tháng Sáu khi đứa trẻ qua đời. Dù đau đớn vì bệnh tật của con trai, nhưng Darwin vẫn dành thời gian viết thư cho hai người bạn, Charles Lyell và Joseph Hooker, để nói rằng ông sẽ giữ im lặng, song điều đó cũng đồng nghĩa với việc mọi công trình của ông, “dù có thể có giá trị đến nhường nào cũng sẽ bị hủy”. Lyell và Hooker đưa ra giải pháp thỏa hiệp là công bố tổng hợp đồng thời các ý tưởng của Darwin và Wallace. Thời điểm họ lựa chọn là tại một cuộc họp của Hội Linnaean, khi đó đang nỗ lực tìm lại vị thế nổi bật trong giới khoa học. Vào ngày 1 tháng Bảy năm 1858, học thuyết của Darwin và Wallace được công bố với thế giới. Darwin không có mặt vì khi cuộc họp diễn ra, ông đang cùng vợ chôn cất con trai mình.

Bài trình bày về lý thuyết của Darwin-Wallace là một trong 7 bài của buổi tối ngày hôm đó – một trong các bài khác nói về hệ thực vật ở Angola – và nếu khoảng 30 cử tọa biết rằng họ đang chứng kiến một sự kiện khoa học mang tính thế kỷ, thì họ cũng không để lộ điều này. Không có cuộc thảo luận nào sau đó. Sự kiện cũng không thu hút nhiều sự chú ý ở những nơi khác. Darwin vui mừng ghi chép lại rằng về sau, chỉ duy nhất giáo sư Haughton ở Dublin nhắc tới hai công trình trong tác phẩm của mình và kết luận “tất cả những gì mới mẻ trong đó đều sai, còn những gì đúng thì đã cũ.”

Wallace, vẫn ở Viễn Đông, biết về những diễn biến này rất lâu sau khi sự kiện đã xảy ra, nhưng rất điềm tĩnh và dường như hài lòng vì được cùng nêu tên. Thậm chí, mãi mãi về sau ông vẫn gọi học thuyết này là thuyết Darwin. Một người không chấp nhận tác quyền của Darwin cho lắm là một nhà làm vườn ở Scotland có tên Patrick Matthew. Đáng chú ý là Matthew đã phát hiện ra nguyên lý chọn lọc tự nhiên từ 20 năm trước đó – nghĩa là cùng năm Darwin bắt đầu hành trình trên tàu Beagle. Không may, Matthew đã trình bày những quan điểm này trong cuốn Naval Timber and Arboriculture [tạm dịch: Gỗ đóng tàu và Nghề trồng cây], vốn không được Darwin và toàn thế giới để mắt tới. Matthew bị kích động và đã gửi thư cho tờ Gardener’s Chronicle khi thấy uy tín của Darwin ở khắp nơi ngày một gia tăng nhờ vào một tư tưởng vốn thật sự là của ông. Darwin xin lỗi ngay không chút do dự, cho dù ông nhận định về sự việc như sau: “Tôi cho rằng không ai cảm thấy ngạc nhiên nếu tôi cũng như bất cứ nhà tự nhiên học nào khác không hề biết đến những quan điểm của ông Matthew, bởi lẽ chúng được trình bày quá vắn tắt, và chỉ xuất hiện trong Phụ lục của công trình về Gỗ đóng tàu và Nghề trồng cây.

Trong nửa thế kỷ tiếp theo, Wallace vẫn là một nhà tư tưởng và tự nhiên học, đôi khi rất xuất sắc, nhưng càng lúc ông càng xa rời khoa học và nuôi dưỡng niềm đam mê tâm linh cũng như khả năng tồn tại sự sống ngoài Trái Đất. Bởi thế, một cách mặc định, học thuyết này trở thành của riêng Darwin. Darwin không ngừng đau đớn, dằn vặt. Ông tự gọi mình là “Giáo sĩ của Quỷ dữ” và cho rằng việc công bố học thuyết cũng giống như “lời thú tội giết người”. Hơn hết, ông biết rằng nó khiến người vợ ngoan đạo thân yêu của mình đau đớn tận cùng. Dù vậy, ngay sau đó, ông vẫn bắt tay phát triển bản thảo thành một cuốn sách. Ban đầu, ông gọi nó là An Abstract of an Essay on the Origin of Species and Varieties through Natural Selection [tạm dịch: Tóm luận về Nguồn gốc của các giống loài thông qua chọn lọc tự nhiên] – một cái tên quá nhạt nhẽo và ỡm ờ đến mức đại diện nhà xuất bản, John Murray, định chỉ in 500 cuốn. Nhưng khi được xem bản thảo với tên sách hấp dẫn hơn một chút, Murray đã xem xét lại và tăng lượng in lần đầu lên 1.250 cuốn.

Nguồn gốc các loài đã nhanh chóng thành công về mặt thương mại, song không mấy được xem trọng. Học thuyết của Darwin gặp phải hai vấn đề nan giải. Nó đòi hỏi khoảng thời gian dài hơn để có sự sẵn sàng chấp nhận của Ngài Kelvin, và hầu như không có các bằng chứng hóa thạch hỗ trợ. Giới phê bình thấu đáo hơn đặt ra cho Darwin câu hỏi về các dạng sinh vật trung gian mà học thuyết này nêu ra hiện đang ở đâu. Nếu các loài không ngừng tiến hóa, như vậy sẽ cần nhiều dạng thức trung gian rải rác trong các hóa thạch, trong khi không phải vậy1. Thực tế, các bằng chứng khi đó (và trong khoảng thời gian rất lâu sau này) không hề cho thấy dấu hiệu của sự sống ngay trước thời điểm vụ nổ Cambri nổi tiếng.

1. Điều trùng hợp là năm 1861, khi cuộc tranh luận đang ở cao trào, một bằng chứng như thế đã xuất hiện, khi các công nhân ở Bavaria tìm thấy xương của chim thủy tổ, sinh vật nửa chim nửa khủng long, có lông vũ và răng. Đây là một phát hiện bất ngờ và hữu ích, dù tầm quan trọng của nó gây nhiều tranh cãi bởi chỉ là một phát hiện đơn lẻ thì không đủ để kết luận.

Darwin, dù không có bằng chứng gì, khăng khăng cho là các đại dương cổ đại chắc chắn phải chứa đầy sự sống, mà chúng ta chưa tìm thấy là bởi chúng không được gìn giữ cẩn thận, dù vì bất cứ nguyên nhân nào. Đơn giản là mọi thứ không thể khác, Darwin kiên định. “Vấn đề này hiện nay vẫn chưa thể làm rõ được; và có thể dùng điều này làm luận điểm chống lại các quan điểm được tôi nêu ra tại đây,” ông thẳng thắn cho phép điều đó song từ chối chấp nhận bất cứ khả năng thay thế nào. Ông suy đoán – rất sáng tạo nhưng không chính xác – rằng các đại dương thời Tiền Cambri quá trong để lắng đọng trầm tích và vì thế không để lại bất cứ hóa thạch nào.

Thậm chí, những người bạn thân nhất cũng phiền lòng trước những khẳng định trong cuốn sách của ông. Adam Sedgwick, người từng dạy Darwin tại Cambridge và đưa Darwin đi tham quan địa chất tại xứ Wales vào năm 1831, đã phát biểu rằng cuốn sách đem lại cho ông nhiều nỗi buồn hơn là niềm vui. Louis Agassiz, nhà cổ sinh vật học vĩ đại người Thụy Sĩ, xem nó như một phỏng đoán nghèo nàn. Ngay cả Lyell cũng kết luận đầy u ám: “Darwin đã đi quá xa.” T. HHuxley phản đối việc Darwin đưa ra khoảng thời gian địa chất khổng lồ, vì Huxley ủng hộ thuyết nhảy vọt, rằng các tiến hóa không diễn ra dần dần mà xảy ra một cách đột ngột. Các đại biểu của học thuyết này không thể chấp nhận ý tưởng các cơ quan phức tạp xuất hiện một cách chậm chạp theo từng giai đoạn. Một phần mười sải cánh hoặc một nửa con mắt thì có chức năng gì? Các cơ quan này, theo quan điểm của họ, chỉ thật sự có ý nghĩa khi chúng xuất hiện ở trạng thái hoàn chỉnh.

Niềm tin này thật đáng ngạc nhiên đối với một người cấp tiến như Huxley, bởi nó gợi lại một ý niệm tôn giáo bảo thủ được nhà thần học người Anh, William Paley, đưa ra lần đầu vào năm 1802. Paley lập luận rằng nếu nhìn thấy một chiếc đồng hồ bỏ túi trên mặt đất; cho dù bạn chưa từng nhìn thấy một thứ như thế trước đây, bạn cũng sẽ lập tức nhận thức được rằng nó do một thực thể thông minh tạo ra. Vì thế, ông tin rằng tính phức tạp là minh chứng cho bản thiết kế của tự nhiên. Đây là một quan điểm đầy ảnh hưởng vào thế kỷ XIX và cũng khiến Darwin gặp không ít rắc rối. “Nhãn quan ngày nay khiến tôi ớn lạnh đến rùng mình,” ông viết trong lá thư gửi cho một người bạn. Trong tác phẩm của mình, ông thừa nhận chọn lọc tự nhiên có thể dần tạo ra một bộ phận theo từng bước cho dù “thú thật, điều đó dường như cực kỳ phi lý”.

Ngay cả khi đó và trước nỗi bực tức vô tận của những người ủng hộ mình, Darwin không chỉ khẳng định rằng mọi sự thay đổi diễn ra chậm chạp, mà gần như mỗi bản Nguồn gốc các loài lại tăng thêm khoảng thời gian ông cho là cần thiết để sự tiến hóa diễn ra, điều này khiến các quan điểm của Darwin ngày càng ít được đón nhận. Theo nhà sử học Jeffrey Schwartz, “Cuối cùng, Darwin gần như mất toàn bộ mọi sự ủng hộ còn lại từ đội ngũ các nhà lịch sử tự nhiên và địa chất học đồng nghiệp.”

Điều nghịch lý là tuy Darwin đặt tên cuốn sách của mình là Nguồn gốc các loài, nhưng chính ông lại không thể lý giải được các loài bắt nguồn từ đâu. Học thuyết của Darwin giải thích cơ chế để một loài có thể trở nên mạnh hơn, tốt hơn và nhanh hơn – nói ngắn gọn là thích nghi hơn – nhưng không chỉ ra cách thức để một loài mới xuất hiện. Một kỹ sư người Scotland, Fleeming Jenkin, đã thấy vấn đề này và xem đây là một khiếm khuyết lớn trong lập luận của Darwin. Darwin tin rằng bất cứ đặc tính có lợi nào xuất hiện trong một thế hệ sẽ được truyền sang các thế hệ tiếp theo, do đó, làm cho loài trở nên mạnh hơn. Jenkin lại chỉ ra rằng một đặc tính có lợi ở bố hoặc mẹ sẽ không chiếm ưu thế ở các thế hệ con cháu, mà thực chất sẽ yếu đi sau quá trình phối ngẫu. Nếu rót rượu whisky vào một cốc nước, bạn sẽ chỉ khiến cho nó nhạt đi chứ không thể mạnh hơn. Nếu đổ tiếp dung dịch pha loãng này vào một cốc nước khác, nó sẽ càng nhạt nữa. Tương tự, một đặc tính có lợi xuất hiện ở cha mẹ sẽ được truyền theo cơ chế pha loãng cho đến khi nó biến mất. Bởi thế, học thuyết của Darwin là công thức cho sự bất biến chứ không phải sự thay đổi. Những đặc tính ưu thế có thể xuất hiện lúc này hay lúc khác, nhưng chúng sẽ sớm biến mất dưới sự thôi thúc chung vốn đưa mọi thứ trở lại trạng thái trung bình ổn định. Để cơ chế chọn lọc tự nhiên có thể xảy ra, nhất định phải có một cơ chế khác chưa được biết đến.

Dù không được Darwin và tất cả mọi người biết đến, nhưng cách đó 1.200km tại một góc nhỏ yên tĩnh thuộc Trung Âu, một tu sĩ khiêm nhường là Gregor Mendel đang tìm ra lời giải đáp.

Mendel sinh năm 1822 trong một gia đình nông dân khiêm tốn, tại một thuộc địa của đế quốc Áo, ngày nay là Cộng hòa Séc. Các cuốn sách giáo khoa từng mô tả ông như một tu sĩ tỉnh lẻ giản dị nhưng khá có óc quan sát với những khám phá phần lớn mang tính ăn may – kết quả của việc quan sát một vài đặc điểm di truyền thú vị khi đi lang thang trong vườn đậu của tu viện. Thực chất, Mendel là một nhà khoa học có chuyên môn – ông theo học vật lý và toán học tại Viện Triết học Olmütz và Đại học Vienna – và ông đưa các nguyên tắc khoa học vào mọi việc. Hơn nữa, tu viện ở Brno nơi ông sống từ năm 1843 vốn là một tổ chức học thuật. Nó có một thư viện với 20.000 cuốn sách và một truyền thống nghiên cứu khoa học nghiêm túc.

Trước khi tiến hành các thí nghiệm, Mendel dành hai năm chuẩn bị mẫu, bảy giống đậu, để đảm bảo chúng được nuôi dưỡng đúng cách. Sau đó, nhờ sự trợ giúp của hai phụ tá, ông liên tục nhân giống và lai giống khoảng 30.000 cây đậu. Đây là một công việc tinh tế, đòi hỏi ở ba người đàn ông một độ chính xác cao để tránh sự thụ phấn chéo ngẫu nhiên, và phải lưu ý những biến đổi dù là nhỏ nhất trong quá trình phát triển và xuất hiện của hạt, vỏ, lá, rễ và hoa. Mendel thật sự hiểu rõ những thứ ông đang làm.

Ông không bao giờ sử dụng thuật ngữ “gen” – mãi cho đến năm 1913 thuật ngữ này mới được đưa ra trong một cuốn từ điển y học bằng tiếng Anh – dù ông đã sáng tạo ra các thuật ngữ “trội” và “lặn”. Kết luận của ông là mỗi hạt giống chứa hai “nhân tố” hay elemente, theo cách ông gọi chúng – một trội, một lặn – các nhân tố này khi kết hợp với nhau sẽ cho ra đời những kiểu di truyền có thể đoán trước.

Ông dùng công thức toán chính xác để mô tả kết quả nghiên cứu. Mendel đã dành tổng cộng 8 năm để tiến hành thí nghiệm, sau đó kiểm tra kết quả bằng các thí nghiệm tương tự trên hoa, ngô và các thực vật khác. Nếu có gì nên nói, thì có lẽ Mendel đã quá khoa học trong cách tiếp cận, vì thế khi ông trình bày các kết quả nghiên cứu tại các phiên họp tháng Hai và tháng Ba của Hội Lịch sử Tự nhiên Brno vào năm 1865, khoảng 40 cử tọa đã lắng nghe một cách lịch sự nhưng không bày tỏ chút cảm xúc nào, dù trồng cây là một vấn đề thuộc sở thích cá nhân của nhiều người trong số họ.

Khi báo cáo của Mendel được xuất bản lần đầu, ông háo hức gửi một bản cho nhà thực vật học vĩ đại người Thụy Sĩ, Karl-Wilhelm von Nägeli, vì sự ủng hộ của nhân vật này ít nhiều có thể đóng vai trò quyết định với vận mệnh của lý thuyết do ông xây dựng. Đáng tiếc là, Nägeli lại không nhận ra phát kiến của Mendel có tầm quan trọng đến mức nào. Ông đã đề xuất Mendel thử trồng ưng thảo. Mendel ngoan ngoãn vâng lời, nhưng nhanh chóng nhận ra loài cỏ này không có các đặc trưng cần thiết để nghiên cứu về di truyền. Rõ ràng, Nägeli đã không đọc báo cáo cẩn thận hoặc không hề đọc. Thất vọng, Mendel từ bỏ nghiên cứu về di truyền, dành phần đời còn lại trồng các loại dị thảo và nghiên cứu ong, chuột, các đốm Mặt Trời cùng nhiều thứ khác. Cuối cùng, ông trở thành cha trưởng của tu viện.

Các phát kiến của Mendel không bị lờ đi ở khắp nơi như nhiều người nói. Nghiên cứu của ông được ghi nhận một cách trân trọng trong Bách khoa toàn thư Britannica – vào thời đó được đánh giá cao hơn ngày nay với vai trò hồ sơ khoa học – và được một bài báo của Wilhelm Olbers Focke, nhà khoa học người Đức trích dẫn nhiều lần. Thực tế, vì các ý tưởng của Mendel không bao giờ biến mất khỏi tư duy khoa học, nên chúng rất dễ được hưởng ứng khi thế giới sẵn sàng đón nhận.

Dù không nhận ra điều này, nhưng Darwin và Mendel đã cùng nhau đặt nền móng cho toàn bộ các ngành khoa học về sự sống của thế kỷ XX. Darwin nhận thấy các sinh vật đều có quan hệ với nhau và cuối cùng “có thể lần ngược từ chúng về một dòng dõi chung duy nhất”; trong khi đó, nghiên cứu của Mendel đưa ra cơ chế cho thấy điều này có thể xảy ra. Hai người lẽ ra có thể giúp đỡ lẫn nhau. Mendel có một bản tiếng Đức của Nguồn gốc các loài, và ông chắc chắn đã đọc nó, vì thế chắc hẳn ông phải nhận thấy khả năng liên kết các nghiên cứu của mình với nghiên cứu của Darwin. Thế nhưng dường như ông không có chút nỗ lực liên lạc nào. Về phần Darwin, người ta biết rằng ông đã đọc bài báo có tầm ảnh hưởng của Focke, trích dẫn nhiều lần công trình của Mendel, thế nhưng ông không kết nối chúng với nghiên cứu của chính mình.

Điều mà mọi người tưởng là điểm nổi bật trong lập luận của Darwin, rằng con người là hậu duệ của vượn người, thực chất không hề nổi bật chút nào, mà chỉ được ám chỉ đôi chút. Nhưng cả khi đó, không cần bước nhảy vọt vĩ đại nào về trí tưởng tượng, người ta vẫn có thể hiểu hàm ý về sự phát triển của con người trong học thuyết này, và nó lập tức trở thành một điểm gây nhiều tranh luận.

Cuộc quyết đấu diễn ra vào thứ Bảy ngày 30 tháng Sáu năm 1860 tại Oxford trong một phiên họp của Hội Anh quốc vì sự Tiến bộ Khoa học. Huxley được Robert Chambers, tác giả của Vestiges of the Natural History of Creation yêu cầu xuất hiện, cho dù ông vẫn không biết sự liên quan của Chambers với cuốn sách này. Darwin luôn vắng mặt. Phiên họp được tổ chức tại Bảo tàng Động vật học Oxford. Hơn 1.000 người đã xúm đông trong hội trường; hàng trăm người khác bị xua đuổi. Mọi người biết rằng một biến cố lớn sắp xảy ra, cho dù trước hết phải đợi một diễn giả buồn tẻ là John William Draper đến từ Đại học New York dũng cảm trình bày chậm rãi suốt hai giờ những nhận định sơ bộ về “Sự phát triển trí tuệ châu Âu trong sự dẫn chiếu tới các quan điểm của Darwin.”

Cuối cùng, giám mục của Oxford, Samuel Wilberforce, đã đứng lên phát biểu. Nhiều người cho rằng Wilberforce đã được Richard Owen, người hăng hái bài bác thuyết Darwin, tóm lược nội dung của thuyết này trong buổi chiêu đãi tại gia tối hôm trước. Giống với hầu hết các sự việc kết thúc trong ồn ào, lời tường thuật về những gì thật sự đã xảy ra thường rất khác nhau. Câu chuyện phổ biến nhất kể rằng khi đã vào mạch, Wilberforce quay sang nhìn Huxley và nở một nụ cười khô khốc, rồi hỏi liệu có phải ông ta có mối liên hệ với loài thông qua ông bà mình hay không. Câu hỏi này chủ ý là một lời châm chích nhưng nó đã đụng phải một bức tường băng giá. Theo như chính ông thuật lại, Huxley đã quay sang người kế bên và thì thầm, “Chúa đã đặt lão ta vào tay tôi,” rồi đứng dậy với một sự thích thú.

Tuy nhiên, những người khác nhớ lại rằng Huxley đã run lên vì giận dữ và phẫn nộ. Nhưng dù thế nào, Huxley cũng tuyên bố rằng ông thà có quan hệ huyết thống với loài dã nhân, còn hơn với một người lạm dụng uy danh của ông để nói nhăng cuội không báo trước tại một diễn đàn khoa học nghiêm túc. Cách trả đòn này vừa không đúng chỗ lại vừa xúc phạm tới chức vụ của Wilberforce, vì thế, phần còn lại của phiên họp trở thành một mớ hỗn loạn. Một quý bà mang tên Brewster đã ngất xỉu. Robert FitzRoy, bạn đồng hành của Darwin trên tàu Beagle 25 năm trước, đã đi quanh hội trường, giơ cao cuốn Kinh Thánh và kêu lên, “Cuốn sách, cuốn sách!” (Ông có mặt tại hội trường để trình bày một nghiên cứu về bão trong vai trò lãnh đạo cơ quan khí tượng mới thành lập.) Điều thú vị là mỗi bên sau đó đều tuyên bố đã đánh gục bên kia.

Cuối cùng, Darwin đã chính thức thể hiện niềm tin vào mối liên hệ của chúng ta với dã nhân trong cuốn The Descent of Man [tạm dịch: Nguồn gốc của con người] được xuất bản năm 1871. Đây là một kết luận táo bạo vì không có bất cứ bằng chứng hóa thạch nào ủng hộ ý tưởng này. Vào thời đó, dấu vết duy nhất của loài người sơ khai là những chiếc xương của người Neandertal nổi tiếng được tìm thấy ở Đức và một vài mảnh xương hàm rời rạc. Nhiều chuyên gia uy tín thậm chí còn không tin vào niên đại của chúng. Cuốn sách này lẽ ra phải gây tranh cãi nhiều hơn Nguồn gốc các loài; nhưng tại thời điểm nó ra đời, thế giới đã ít bị kích động hơn và các lập luận của nó cũng ít gây xôn xao hơn.

Tuy nhiên, Darwin dành phần lớn những năm tháng cuối đời cho các dự án khác, đa số chỉ chạm hờ tới những vấn đề chọn lọc tự nhiên. Ông mất một khoảng thời gian dài đến ngạc nhiên để nhặt phân chim, nghiên cứu thành phần của chúng trong nỗ lực tìm hiểu cách thức hạt giống có thể được phát tán xuyên lục địa. Chưa kể, ông còn mất nhiều năm hơn nữa để nghiên cứu hành vi của các loài giun. Ông từng thử nghiệm chơi đàn cho chúng nghe – không phải để làm chúng vui mà để nghiên cứu phản ứng của chúng với âm thanh và rung động. Ông là người đầu tiên nhận ra sự thiết yếu của giun đối với sự màu mỡ của đất đai. “Có lẽ không nhiều loài động vật đóng vai trò quan trọng đến thế trong lịch sử thế giới,” ông đã viết như vậy trong tác phẩm kinh điển của mình về đề tài này, The Formation of Vegetable Mould Through the Action of Worms [tạm dịch: Sự hình thành đất trồng tơi xốp thông qua hoạt động của giun], năm 1881, thực tế còn nổi tiếng hơn cuốn Nguồn gốc các loài trước đây. Các cuốn sách khác của ông bao gồm On the Various Contrivances by which British and Foreign Orchids Are Fertilised by Insects [tạm dịch: Các phương thức thụ phấn đa dạng của hoa lan Anh quốc và nước ngoài nhờ côn trùng], năm 1862, Expressions of the Emotions in Man and Animals [tạm dịch: Cách biểu lộ cảm xúc ở con người và động vật], năm 1872, cuốn này bán được gần 5.300 bản ngay trong ngày đầu tiên, The Effects of Cross and Self Fertilization in the Vegetable Kingdom (tạm dịch: Ảnh hưởng của sự tự thụ phấn và thụ phấn chéo trong giới thực vật), năm 1876 – một chủ đề rất gần với nghiên cứu của Mendel nhưng không thể đạt đến mức độ sâu sắc như thế – và The Power of Movement in Plants [tạm dịch: Sức dịch chuyển của thực vật]. Cuối cùng nhưng cũng rất quan trọng, ông dụng tâm nghiên cứu về hậu quả của giao phối cận thuyết – một mối quan tâm mang tính cá nhân. Vì đã cưới một người em họ, Darwin đau khổ hoài nghi rằng sự yếu đuối nhất định về thể chất và tinh thần của các con ông bắt nguồn từ sự thiếu đa dạng trong cây gia phả.

Darwin thường xuyên được vinh danh khi còn sống, nhưng sự tôn vinh ấy không bao giờ là nhờ Nguồn gốc các loài hay Nguồn gốc của con người. Ông được Hội Hoàng gia trao tặng Huân chương Copley danh giá cho những đóng góp trong lĩnh vực địa chất, động vật học và thực vật học chứ không phải cho thuyết tiến hóa. Hội Linnaean cũng vui vẻ vinh danh Darwin, nhưng vẫn không ủng hộ quan điểm tiến bộ của ông. Darwin không bao giờ được phong tước hiệp sĩ cho dù vẫn được chôn cất tại tu viện Westminster – kế bên Newton. Ông qua đời tại Kent vào tháng Tư năm 1882. Mendel qua đời hai năm sau đó.

Học thuyết của Darwin không thật sự được chấp nhận rộng rãi cho đến tận những năm 1930-1940, nhờ sự phát triển của học thuyết chiết trung với tên gọi khá kiêu ngạo, thuyết Tổng hợp Hiện đại, kết hợp tư tưởng của Darwin, Mendel và nhiều người khác. Về phần Mendel, sự đón nhận lý thuyết của ông cũng khá muộn màng dù vẫn sớm hơn Darwin một chút. Vào năm 1900, ba nhà khoa học độc lập tại châu Âu tái phát hiện những nghiên cứu của Mendel gần như cùng một lúc. Bởi một trong số họ, nhà khoa học người Hà Lan Hugo de Vries, có lẽ muốn chiếm đoạt các kết quả của Mendel cho riêng mình, nên một đối thủ của ông ta đã chứng minh vinh dự đó thật sự thuộc về vị mục sư bị lãng quên.

Thế giới gần như đã sẵn sàng, dù vẫn chưa đủ, để bắt đầu hiểu nguyên nhân chúng ta có mặt ở đây và cách thức chúng ta tạo ra nhau. Bạn sẽ kinh ngạc nếu biết rằng cho đến đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học xuất sắc nhất trên thế giới thật sự vẫn chưa thể lý giải đầy đủ những đứa trẻ đến từ đâu.

Nếu bạn có thể nhớ lại, đây là những người đàn ông tin rằng khoa học đã gần đến cực hạn.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.