Lược Sử Vạn Vật

Lượt đọc: 116 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
18. Biển cả cuộn sóng

❊ ❊ ❊

Hãy tưởng tượng việc sống trong một thế giới bị dihiđro ôxít thống trị, một hợp chất không mùi, không vị và mang tính chất bất định đến mức bình thường tuy nó rất hiền hòa nhưng đôi lúc lại có thể gây chết người ngay tức khắc. Tùy thuộc vào trạng thái của nó mà bạn sẽ bị phỏng rộp hay đóng băng. Khi xuất hiện một số phân tử hữu cơ nhất định, nó có thể tạo ra axítcácbonic đủ mạnh để khiến lá cây lìa cành và ăn mòn những tác phẩm điêu khắc. Với lượng lớn, khi bị kích thích, nó có thể tấn công đầy giận dữ đến mức không công trình nào của con người tồn tại được. Thậm chí với những người đã học cách sống chung với nó, thì đôi khi nó vẫn là một chất có thể giết người. Chúng ta gọi nó là nước.

Nước có mặt khắp mọi nơi. Tám mươi phần trăm của một củ khoai tây, 74% của một con bò, 75% của một con vi khuẩn đều là nước. Trong một quả cà chua chỉ có 5% không phải là nước. Trong cơ thể người, nước chiếm tới 65%, khiến cơ thể chúng ta giống chất lỏng hơn là chất rắn với tỷ lệ 2:1. Nước là một chất kỳ lạ trong suốt, không hình dáng nhưng chúng ta vẫn muốn ở bên nó. Nước không có vị nhưng chúng ta vẫn thích vị của nó. Chúng ta thường đi du lịch rất xa và chi trả một khoản nho nhỏ để được nhìn thấy nó lúc bình minh. Dù biết nó nguy hiểm, nhấn chìm hàng chục nghìn người mỗi năm, chúng ta vẫn háo hức nô đùa với nó.

Bởi nước có mặt ở khắp nơi, chúng ta dễ quên mất rằng nó là một chất kỳ lạ. Nó gần như không giúp chúng ta đưa ra được tiên đoán gì về đặc tính của các chất lỏng khác và ngược lại. Nếu bạn không biết gì về nước mà chỉ phỏng đoán đặc tính của nó dựa vào phản ứng của các hợp chất giống với nó nhất, chẳng hạn hiđro selenua hoặc hiđro sunphua, có thể bạn sẽ đoán rằng nước sôi ở -93oC và bay hơi tại nhiệt độ phòng.

Đa số chất lỏng khi đông lạnh sẽ co lại khoảng 10%. Nước cũng vậy nhưng chỉ đến một mức nhất định. Khi gần chạm đến mức đóng băng, nó bắt đầu nở ra một cách bất ngờ. Khi ở thể rắn, thể tích của nó gần như tăng thêm một phần mười so với trước đó. Chính sự nở ra này khiến băng nổi trên mặt nước – “một đặc tính hết sức kỳ quặc” theo lời John Gribbin. Nếu thiếu đi sự ương ngạnh tuyệt vời này, băng sẽ chìm, các hồ và đại dương sẽ bị đóng băng từ dưới lên. Nếu thiếu lớp băng trên bề mặt để giữ nhiệt, hơi ấm của nước sẽ bị tản đi, khiến nước lạnh hơn và tạo ra nhiều băng hơn. Chẳng bao lâu, biển cũng sẽ đóng băng và gần như chắc chắn sẽ giữ nguyên trạng thái đó trong suốt một thời gian dài, có thể là mãi mãi – đương nhiên đó không phải là điều kiện lý tưởng cho sự sống. May mắn cho chúng ta là nước dường như không biết được các quy luật vật lý và hóa học.

Mọi người điều biết công thức hóa học của nước là H2O, nghĩa là một nguyên tử ôxy lớn và hai nguyên tử hiđro nhỏ liên kết với nhau. Các nguyên tử hiđro bám chặt vào vật chủ là nguyên tử ôxy, nhưng cũng thường liên kết ngẫu nhiên với các phân tử nước khác. Bản chất của một phân tử nước giúp nó có thể chơi đùa, kết đôi và rồi lại rời các phân tử nước khác nhanh chóng như việc đổi cặp trong điệu vũ cađri, theo cách nói hoa mỹ của Robert Kunzig. Một ly nước bề ngoài trông không sống động lắm, nhưng mỗi phân tử nước trong nó đều đổi cặp hàng tỷ lần mỗi giây. Đó là nguyên nhân các phân tử nước có thể dính vào nhau để tạo thành các thực thể như ao hồ nhưng lại không đủ chặt chẽ đến mức không thể bị chia tách, chẳng hạn như khi bạn nhảy xuống bể bơi. Tại bất kỳ thời điểm nào, chỉ 15% số phân tử nước đang thật sự liên kết nhau.

Theo một nghĩa nào đó, mối liên kết này rất mạnh – đây là nguyên nhân các phân tử nước có thể chảy ngược lên dốc trong các đường ống dẫn và những giọt nước trên nắp ca-pô xe hơi lại quyết tâm tìm đến nhau như vậy. Nó cũng lý giải cho sức căng bề mặt của nước. Các phân tử trên bề mặt bị thu hút mạnh mẽ bởi các phân tử cùng loại ở dưới và bên cạnh hơn là các phân tử khí phía trên. Điều này tạo ra một kiểu màng đủ chắc để giúp cho các loài côn trùng và các viên sỏi có thể lướt trên mặt nước, và khiến bạn thấy rát khi nhảy sấp xuống nước.

Chắc không cần phải chỉ ra rằng chúng ta sẽ chết nếu thiếu nó. Khi không được cung cấp nước, cơ thể người sẽ nhanh chóng rã rời. Theo một nghiên cứu, sau vài ngày, nếu thiếu nước đôi môi sẽ biến mất “như thể bị cắt, nướu răng thâm đen, mũi quắt lại chỉ còn một nửa và da quanh mắt cũng co lại để tránh nháy mắt”. Nước thiết yếu với chúng ta đến mức chúng ta quên hẳn rằng phần lớn nước trên Trái Đất đều độc hại – độc hại đến chết người – vì chứa muối.

Chúng ta cần muối để sống nhưng chỉ là một lượng rất nhỏ, trong khi nước biển lại chứa quá nhiều – gấp 70 lần mức cơ thể con người có thể chuyển hóa một cách an toàn. Một lít nước biển thông thường sẽ chỉ chứa khoảng 2,5 muỗng cà phê muối ăn – loại mà chúng ta vẫn thường rắc lên thức ăn – nhưng chúng cũng chứa một hàm lượng lớn hơn các nguyên tố, hợp chất và chất rắn không tan khác gọi chung là muối. Tỷ lệ các muối và khoáng chất trong tế bào của chúng ta tương đồng một cách kỳ lạ với nước biển – chúng ta khóc và đổ mồ hôi ra nước biển, như Margulis và Sagan đã nhận xét – nhưng điều khó hiểu là chúng ta không thể dung nạp nó ở đầu vào. Nếu đưa thật nhiều muối vào cơ thể, khi đó cơ chế chuyển hóa của bạn sẽ lập tức bị khủng hoảng. Từ mỗi tế bào, các phân tử nước lao đi như những lính cứu hỏa tình nguyện nhằm pha loãng và xử lý lượng muối gia tăng đột ngột. Điều này khiến các tế bào thiếu nước nghiêm trọng và không thực hiện được các chức năng bình thường. Nói ngắn gọn là chúng bị mất nước. Trong những trường hợp nghiêm trọng, sự mất nước làm co giật, bất tỉnh và tổn thương tới não. Trong khi đó, các tế bào máu phải làm việc quá sức để đưa muối tới thận, cơ quan này cuối cùng sẽ quá tải và ngừng hoạt động. Khi thận không hoạt động, bạn sẽ chết. Vì thế chúng ta không uống nước biển.

Có khoảng 1,3 tỷ km3 nước trên Trái Đất. Đây là một hệ thống đóng: nói một cách đơn giản là, không thể thêm hay bớt. Nước bạn uống vào đã thực hiện chức năng của nó từ buổi sơ khai của Trái Đất. Khoảng 3,8 tỷ năm trước, các đại dương đã có thể tích như hiện nay (có thể hơn kém đôi chút).

Thế giới của nước được gọi là thủy quyển và nó đang chiếm lĩnh các đại dương. Chín mươi bảy phần trăm lượng nước trên Trái Đất thuộc về biển, và phần lớn nhất trong đó nằm ở Thái Bình Dương, đại dương rộng hơn tất cả diện tích đất liền cộng lại. Nhìn chung, Thái Bình Dương chiếm khoảng một nửa lượng nước biển (51,6%); Đại Tây Dương chiếm 23,6% và Ấn Độ Dương là 21,2%, chỉ để lại 3,6% để phân chia cho các biển khác. Độ sâu trung bình của đại dương là 3,86km, trong đó trung bình Thái Bình Dương sâu hơn Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương khoảng 300m. Phần đại dương có độ sâu trên 1,6km chiếm tới 60% diện tích bề mặt. Như Philip Ball nhận xét, con người nên gọi hành tinh của mình là Trái Nước thay vì Trái Đất.

Trong 3% nước sạch trên Trái Đất, đa số tồn tại dưới dạng các tảng băng. Chỉ một lượng rất nhỏ, 0,036%, là ở sông hồ và các đập chứa nước, thậm chí phần có trong các đám mây dưới dạng hơi nước còn ít hơn nữa – chỉ 0,001%. Gần 90% băng trên hành tinh nằm ở Nam Cực và phần còn lại chủ yếu ở Greenland. Nếu như ở Nam Cực, bạn đang đứng trên lớp băng dày gần hai dặm, thì ở Bắc Cực, băng dày chưa tới 5m. Thể tích băng ở Nam Cực nói riêng đã lên tới sáu triệu dặm khối – đủ để mực nước ở các đại dương dâng lên hơn 60m nếu chúng tan hết. Nếu tất cả nước trong khí quyển rơi xuống dưới dạng mưa, dù là ở mọi nơi, mực nước ở các đại dương sẽ chỉ tăng một vài xentimét.

Tuy vậy, mực nước biển gần như là một khái niệm danh nghĩa vì không có mức cụ thể nào. Thủy triều, gió, lực Coriolis và các tác nhân khác làm mực nước biển khác biệt đáng kể giữa các đại dương, thậm chí ngay trong cùng một đại dương. Mực nước biển ở rìa phía tây Thái Bình Dương cao hơn bên kia gần 1,5ft – hệ quả của lực ly tâm hình thành khi Trái Đất quay. Cũng như khi bạn đổ nước vào bồn, nước có xu hướng cuộn về phía bên kia, như thể nó không hề muốn đến gần bạn. Vì Trái Đất quay theo hướng đông nên nước biển dồn về rìa phía tây.

Xét đến tầm quan trọng của biển đối với con người, thật ngạc nhiên khi phải rất lâu các nhà khoa học mới chú ý nhiều tới chúng. Cho đến thế kỷ XIX, hầu như những gì người ta biết về các đại dương đều dựa trên những thứ trôi dạt vào bờ hoặc do lưới đánh cá bắt được và gần như tất cả những gì được viết ra đều dựa trên các giai thoại và giả định hơn là bằng chứng vật lý. Vào những năm 1830, nhà tự nhiên học người Anh, Edward Forbes, đã nghiên cứu các đáy biển trên khắp Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, đồng thời tuyên bố không có sự sống dưới độ sâu 600m. Có vẻ đây là một giả định hợp lý. Không có ánh sáng tại độ sâu này, vì thế sẽ không có thực vật, và ai cũng biết là áp lực nước ở độ sâu này rất khủng khiếp. Vì thế, vào năm 1860, người ta kinh ngạc khi thấy một trong số những đường cáp điện tín xuyên đại dương đầu tiên bám đầy san hô, sò và các sinh vật sống khác sau khi kéo nó lên từ độ sâu hơn 3km.

Công cuộc nghiên cứu đại dương một cách có tổ chức đầu tiên được tiến hành vào năm 1872 khi một đoàn khảo sát phối hợp giữa Bảo tàng Anh quốc, Hội Hoàng gia và Chính phủ Anh khởi hành từ Portsmouth trên một con tàu chiến cũ có tên là HMS Challenger. Suốt ba năm rưỡi, họ dong buồm đi khắp thế giới lấy mẫu vật. Trong số 240 nhà khoa học và thủy thủ, một phần tư đã bỏ cuộc, tám người chết hoặc phát điên – “mất trí sau nhiều năm nạo vét chán chường”, theo lời của nhà sử học Samantha Weinberg. Tuy nhiên, họ đã đi qua gần 70.000 hải lý, thu thập được hơn 4.700 loài sinh vật biển mới, tập hợp đủ thông tin để viết một bản báo cáo dày 50 tập (trong tổng cộng 19 năm) và đem lại cho thế giới một ngành khoa học mới: hải dương học. Bằng phương pháp đo độ sâu, họ nhận thấy dường như có những đỉnh núi chìm giữa lòng Đại Tây Dương, khiến một số nhà quan sát hào hứng suy đoán rằng con người đã tìm được lục địa Atlantis mất tích.

Bởi giới hàn lâm gần như không để ý đến các đại dương, nên chính nhờ các nhà khoa học nghiệp dư đầy tâm huyết mà chúng ta biết được có gì dưới đó. Nghiên cứu tầng nước sâu thời hiện đại bắt đầu với Charles William Beebe và Otis Barton vào năm 1930. Dù họ là cộng sự của nhau, nhưng cái tên Beebe đầy màu sắc luôn nhận được nhiều sự chú ý hơn. Sinh năm 1877 trong một gia đình khá giả ở New York, Beebe theo đuổi ngành động vật học tại Đại học Columbia, sau đó làm một người trông chim tại Hội Động vật học New York. Khi đã chán ngấy công việc, ông quyết định chọn cuộc sống phiêu lưu, và trong suốt một phần tư thế kỷ tiếp theo, ông đã du ngoạn khắp châu Á và Nam Mỹ với sự hỗ trợ của hàng loạt những nữ thư ký hấp dẫn đảm nhận công việc của một “sử gia kiêm kỹ thuật viên” hoặc “trợ lý về các vấn đề liên quan tới cá”. Ông trang trải cho niềm đam mê của mình bằng việc cho ấn hành loạt sách ăn khách Edge of the Jungle [tạm dịch: Tận cùng của rừng rậm] và Jungle Days [Tạm dịch: Những ngày trong rừng rậm], dù ông cũng viết một vài cuốn sách có giá trị về động vật hoang dã và điểu học.

Giữa thập niên 1920, trong một chuyến đi tới quần đảo Galápagos, ông nhận ra “thú vui đung đưa”, như cách ông mô tả về việc lặn sâu xuống biển. Ngay sau đó, ông lập nhóm với Barton, vốn xuất thân trong một gia đình giàu có hơn, cũng từng theo học tại Đại học Columbia và đang khao khát phiêu lưu. Dù Beebe hầu như luôn được vinh danh, nhưng chính Barton là người đã thiết kế ra chiếc tiềm thủy cầu đầu tiên cũng như bỏ ra 12.000 đô-la Mỹ chi phí để chế tạo nó. Tiềm thủy cầu là một khối nhỏ, vô cùng bền với lớp gang dày 1,5in với hai ô cửa nhỏ bằng thạch anh dày 3in. Nó có thể chứa tối đa hai người, nhưng chỉ khi họ được chuẩn bị để thực sự thích ứng được hoàn cảnh đó. Kể cả theo tiêu chuẩn của thời đó, công nghệ chế tạo tiềm thủy cầu cũng không phức tạp. Khối cầu không có tính cơ động – nó đơn giản được treo vào đầu một sợi dây cáp dài – và sử dụng cơ chế thông khí nguyên thủy nhất: để trung hòa cácbon điôxít, họ đặt các lon soda chanh mở sẵn; còn để hút ẩm, họ mở một bình nhỏ chứa canxi clorua, rồi thỉnh thoảng vẫy những tán lá trên đó để kích thích phản ứng hóa học.

Nhưng chiếc tiềm thủy cầu nhỏ bé chưa có tiếng tăm này lại đã thực hiện tốt những gì mà người ta kỳ vọng ở nó. Trong lần lặn đầu tiên, tháng Sáu năm 1930 tại Bahamas, Barton và Beebe đã lập kỷ lục thế giới nhờ lặn sâu 183m. Năm 1934, họ đẩy kỷ lục lên hơn 900m và con số này không bị phá vỡ cho đến tận sau Thế chiến II. Barton tin tưởng rằng máy lặn của ông đủ an toàn để lặn xuống khoảng 1.400m, cho dù sức ép lên các đinh tán và bu-lông có thể cảm nhận được rõ ràng bằng tai mỗi khi xuống sâu thêm một thước. Ở mọi độ sâu, đây đều là một việc nguy hiểm và đòi hỏi lòng dũng cảm. Tại độ sâu 900m, khe cửa nhỏ của họ phải chịu áp suất 19 tấn trên 1in2. Nếu lặn quá mức chịu đựng của kết cấu, cái chết sẽ đến lập tức, đây là điều Beebe không bao giờ quên nhắc tới trong nhiều cuốn sách, bài báo và các cuộc phỏng vấn trên đài. Tuy nhiên, điều họ lo ngại nhất là tời, do quá căng để giữ một quả cầu kim loại và hai tấn dây cáp bằng thép, có thể đứt bất kỳ lúc nào và ném hai người thẳng xuống đáy biển. Nếu tình huống đó xảy ra, sẽ không gì cứu được họ.

Song những chuyến lặn sâu của họ không có giá trị gì về mặt khoa học. Dù họ gặp nhiều sinh vật chưa ai từng thấy trước đây, nhưng sự hạn chế về tầm nhìn và việc cả hai thợ lặn can đảm này đều không phải là những nhà hải dương học được đào tạo bài bản lại đồng nghĩa với việc họ thường không thể mô tả lại các phát hiện của mình đủ chi tiết để hấp dẫn các nhà khoa học thực thụ. Khối cầu không có đèn bên ngoài mà chỉ có một bóng đèn 250 oát để gần cửa sổ, nên khi xuống sâu quá 150m, nước biển tối đen đến mức không thể nhìn thấy gì, và họ đã phải quan sát qua một khối thạch anh dày 3 inch, nên hẳn là bất cứ thứ gì họ hy vọng có thể nhìn thấy thì họ cũng phải tỏ ra thích thú nó. Do đó, gần như tất cả những gì họ có thể kể lại chỉ là có rất nhiều điều kỳ lạ ở dưới đó. Trong một chuyến lặn vào năm 1934, Beebe kinh ngạc dõi theo một con rắn khổng lồ “dài hơn 20 thước và rất lớn”. Nó lướt qua rất nhanh nên những gì ông nhìn thấy chỉ là một cái bóng đen. Dù đây là gì, kể từ đó không có ai nhìn thấy thứ gì tương tự. Chính vì sự mơ hồ này, các báo cáo của họ không được giới hàn lâm để mắt tới.

Sau chuyến tự phá kỷ lục của hai người vào năm 1934, Beebe không còn hứng thú lặn và tiếp tục những cuộc phiêu lưu khác, còn Barton vẫn rất kiên trì. Về vinh quang của mình, Beebe luôn nói với tất cả những người hỏi ông rằng Barton mới là bộ óc đứng sau việc làm táo bạo này, nhưng dường như Barton không thể thoát khỏi cái bóng của người đồng hành. Barton cũng viết lại những câu chuyện ly kỳ kể về những chuyến phiêu lưu dưới biển, thậm chí còn tham gia vào một bộ phim của Hollywood mang tên Titans of the Deep [tạm dịch: Những gã khổng lồ dưới biển sâu], kể về một chiếc tiềm thủy cầu và những cuộc chạm trán phần lớn là giả tưởng với, chẳng hạn, những con mực khổng lồ. Ông thậm chí còn quảng cáo cho thuốc lá Camel. Năm 1948, sau chuyến lặn sâu 1.370m ở vùng Thái Bình Dương gần California, ông tăng kỷ lục lên 50%, nhưng có lẽ thế giới nhất định không chú ý tới ông. Một tờ báo khi bình luận về Titans of the Deep còn đinh ninh rằng ngôi sao trong phim là Beebe. Ngày nay, thật may mắn khi Barton có cơ hội được nhắc đến.

Nhưng dù thế nào, ông cũng sắp bị lu mờ trước hai cha con người Thụy Sĩ, Auguste và Jacques Piccard. Những người đang thiết kế một loại máy thăm dò là tàu ngầm. Trieste, được đặt theo tên một thành phố ở Ý nơi nó được chế tạo, là một loại máy mới có thể vận hành độc lập, dù những gì nó làm được cũng không nhiều hơn việc lên xuống. Ngay từ những lần lặn đầu tiên vào đầu năm 1954, nó đã xuống sâu hơn 4.000m, gấp gần ba lần độ sâu kỷ lục mà Barton thực hiện sáu năm trước đó. Mặc dù vậy, lặn biển đòi hỏi nguồn tài chính dồi dào, vì thế cha con nhà Piccard dần khánh kiệt.

Năm 1958, họ ký kết thỏa thuận với Hải quân Hoa kỳ, theo đó quyền sở hữu chiếc tàu lặn thuộc về Hải quân, nhưng họ được giữ quyền điều khiển. Lúc này, khi đã dư dả, cha con nhà Piccard cải tiến con tàu, gia cố những bức tường dày gần 13cm và thu hẹp đường kính cửa sổ xuống chưa đầy 5cm – chỉ lớn hơn lỗ nhòm trên cửa một chút. Giờ đây, nó đủ kiên cố để đối phó với áp suất khổng lồ, nên vào tháng Một năm 1960, Jacques Piccard và Lt Don Walsh của Hải quân Hoa Kỳ đã lặn chầm chậm xuống đáy của một trong những hẻm núi sâu nhất dưới biển, rãnh Mariana, cách đảo Guam chừng 400km về phía tây Thái Bình Dương (Harry Hess phát hiện ra nó nhờ sử dụng máy dò độ sâu). Họ mất chưa tới bốn giờ để xuống tới độ sâu 10.918m. Dù áp suất ở độ sâu này là gần 8 tấn trên 1 inch vuông, nhưng họ kinh ngạc khi nhận thấy mình đã quấy rầy một con cá mình dẹt cư ngụ tại đây khi chạm đáy. Vì không có thiết bị chụp ảnh, nên sự kiện này không được ghi lại.

Sau chưa đầy hai mươi phút ở điểm sâu nhất thế giới, họ trở lại mặt nước. Đây là lần duy nhất con người từng xuống sâu đến vậy.

Bốn mươi năm sau, câu hỏi bỗng được đặt ra: tại sao không có ai trở lại nơi này kể từ đó? Đầu tiên, việc lặn tiếp bị Phó Đô đốc Hyman G. Rickover phản đối kịch liệt. Hyman là một người sôi nổi, cứng rắn và quan trọng nhất là ông nắm giữ ngân sách của Hải quân. Ông cho rằng việc thám hiểm dưới nước là lãng phí nguồn lực và chỉ ra rằng Hải quân không phải một viện nghiên cứu. Hơn nữa, nước Mỹ khi đó đang say sưa du hành vũ trụ và đưa con người lên Mặt Trăng, nên việc nghiên cứu đại dương gần như không mấy được xem trọng và có phần lỗi thời. Tuy vậy, lý do chủ yếu là lần lặn này của Trieste không thu được nhiều kết quả. Như một quan chức Hải quân giải thích nhiều năm sau đó: “Chúng ta không thu được gì nhiều từ đó, trong khi có những cách khác để đạt mục đích. Vậy lại tiến hành lặn để làm gì?” Nói tóm lại, chúng ta đã đi một chặng đường dài và tốn kém chỉ để thấy một con cá mình dẹt. Nếu ngày nay người ta thực hiện một lần lặn tương tự, hẳn sẽ ngốn ít nhất 100 triệu đô-la Mỹ.

Khi các nhà khoa học nhận thấy Hải quân không có ý định tiếp tục chương trình nghiên cứu như đã hứa hẹn, một cuộc phản đối kịch liệt đã nổ ra. Để xoa dịu dư luận, Hải quân đã cấp ngân sách cho một tàu ngầm tiến bộ hơn được Viện Hải dương học Woods Hole thuộc Học viện Kỹ thuật Massachusetts vận hành. Được đặt tên là Alvin, một cách gọi tắt để vinh danh nhà hải dương học Allyn C. Vine, nó là một tàu ngầm mini tự vận hành, dù nó sẽ không xuống được sâu như tàu Trieste. Vấn đề duy nhất là các nhà thiết kế không tìm được ai muốn chế tạo nó. Theo lời William J. Broad trong cuốn The Universe Below [tạm dịch: Vũ trụ bên dưới]: “Không công ty lớn nào như General Dynamics, vốn chuyên chế tạo tàu ngầm cho hải quân, muốn đảm nhận một dự án bị miệt thị bởi cả Cục Tàu biển và Đô đốc Rickover, những vị thần bảo trợ của Hải quân.” Cuối cùng, Alvin đã được công ty thực phẩm General Mills chế tạo tại một xưởng chuyên tạo ra những chiếc máy chế biến ngũ cốc.

Con người thật sự biết rất ít về việc liệu còn có gì dưới đáy đại dương hay không. Cho đến thập niên 1950, những tấm bản đồ tốt nhất dành cho các nhà hải dương học cũng chủ yếu dựa trên một vài thông tin sau những cuộc khảo sát lẻ tẻ kể từ năm 1929, kết hợp với vô số suy đoán. Hải quân Hoa Kỳ nắm giữ những hải đồ tuyệt vời có thể chỉ dẫn tàu ngầm đi qua các hẻm vực và tránh các miệng núi lửa, song họ không muốn những thông tin này lọt vào tay Liên Xô nên đã xếp chúng vào dạng mật. Bởi vậy, các học giả đã phải tiến hành những cuộc khảo sát sơ sài và lỗi thời, hoặc dựa trên những phỏng đoán đầy hy vọng. Cho đến nay, hiểu biết của chúng ta về đáy đại dương vẫn rất mơ hồ. Nếu nhìn lên Mặt Trăng với một chiếc kính viễn vọng tiêu chuẩn, bạn sẽ nhìn thấy những miệng núi lửa lớn – Fracastorious, Blancanus, Zach, Planck và nhiều cái tên khác quen thuộc với bất cứ nhà khoa học vũ trụ nào – song chúng sẽ không được biết đến nếu nằm dưới đáy đại dương. Nhiều bản đồ sao Hỏa còn chi tiết hơn cả những bản đồ đáy biển của chính chúng ta.

Ở cấp độ đơn giản nhất, các kỹ thuật nghiên cứu cũng vẫn rất vặt vãnh. Năm 1994, 34.000 đôi găng tay hockey bị cuốn khỏi một tàu chở hàng của Hàn Quốc do một cơn bão trên Thái Bình Dương. Việc chúng bị cuốn từ Vancouver đến tận Việt Nam giúp các nhà hải dương học có thể lần theo các dòng hải lưu chính xác hơn trước đây.

Ngày nay, dù đã được thiết kế gần 40 năm trước nhưng Alvin vẫn là tàu nghiên cứu hàng đầu thế giới. Vẫn chưa có chiếc tàu ngầm nào có thể xuống tới độ sâu của rãnh Mariana, và chỉ có 5 chiếc, bao gồm cả Alvin, có thể đạt tới độ sâu của “đồng bằng dưới biển sâu” – đáy đại dương – vốn chiếm hơn một nửa bề mặt Trái Đất. Một tàu ngầm điển hình tiêu tốn 25.000 đô-la Mỹ cho mỗi ngày vận hành, vì thế, không thể thả chúng xuống theo ý thích và lại càng không được đưa chúng xuống biển với hy vọng ngẫu nhiên chạm phải một thứ gì đó thú vị. Nó không khác gì việc khám phá bề mặt Trái Đất mà chỉ dựa vào công việc của 5 người lái máy kéo sau khi trời đã tối. Theo Robert Kunzig, có lẽ con người đã nghiên cứu được khoảng “một phần triệu hoặc một phần tỷ biển sâu mịt mùng”.

Nhưng các nhà hải dương học là những người cần cù, và họ đã khám phá ra những điều quan trọng dù bị giới hạn về nguồn lực, trong đó có một phát hiện lớn lao và gây sửng sốt nhất thế kỷ XX trong lĩnh vực sinh học. Vào năm 1977, Alvin phát hiện lãnh địa của các sinh vật to lớn cư trú quanh một lỗ thông hơi dưới đáy biển ngoài quần đảo Galápagos – những con giun ống dài 3m, những con sò với bề ngang 30cm, vô số tôm và trai biển cùng sâu biển bò lổm ngổm như mì Ý. Sự tồn tại của chúng đều nhờ vào các loại vi khuẩn giúp tổng hợp năng lượng và chất dinh dưỡng từ hiđro sunphua – một hợp chất cực kỳ độc hại đối với các sinh vật trên bề mặt – tuôn ra đều đặn từ các lỗ thông hơi. Đây là một thế giới không phụ thuộc vào ánh mặt trời, ôxy hay bất cứ thứ gì thường được cho là đem lại sự sống. Tại đây, sự sống không dựa trên quang hợp mà dựa vào hóa hợp, điều mà các nhà sinh vật học sẽ cho là hoang đường và không ai đủ trí tưởng tượng để nghĩ đến.

Nhiệt lượng và năng lượng lớn được giải phóng từ các lỗ thông hơi. Chỉ cần hai tá lỗ thông hơi như vậy là có thể sinh ra năng lượng ngang với một trạm điện lớn, và sự chênh lệch nhiệt độ xung quanh chúng rất khủng khiếp. Nhiệt độ ở một điểm trên dòng phun có thể lên tới 400oC, song cách đó vài mét, nước chỉ cách ngưỡng đóng băng vài ba độ. Người ta phát hiện loài sâu biển alvinellid sống ở rìa lỗ với nhiệt độ lên tới 78oC, với phần đầu nóng hơn phần đuôi. Trước đây, người ta cho rằng không sinh vật nào có thể sinh sống trong nước ở nhiệt độ cao hơn 54oC, và đây là một bằng chứng về sự sống ở nhiệt độ cao và còn khắc nghiệt hơn nhiều. Phát hiện này đã thay đổi nhận thức của chúng ta về điều kiện sống.

Nó cũng lý giải một trong những khúc mắc của ngành hải dương học – điều mà nhiều người trong chúng ta thậm chí không hề thấy đó là vấn đề – đó là tại sao nước biển không mặn lên theo thời gian. Rõ ràng, có rất nhiều muối trong biển – đủ để chôn vùi từng tấc đất trên hành tinh này dưới độ sâu 150m. Trong nhiều thế kỷ, người ta đã biết rằng các dòng sông mang khoáng chất tới biển cả, các khoáng chất này kết hợp với các ion trong nước biển và tạo thành muối. Nếu chỉ có vậy, thì không thành vấn đề. Nhưng điều khó hiểu là tại sao nồng độ muối trong nước biển lại ổn định. Hàng triệu gallon nước tinh khiết bốc hơi khỏi các đại dương mỗi ngày, để phần muối ở lại, vì thế về mặt logic nước biển phải mặn lên theo thời gian, trong khi sự thật lại không phải vậy. Có thứ gì đó đã đưa một lượng muối ra khỏi nước biển tương đương với lượng được bổ sung. Suốt một thời gian dài, không ai lý giải được vấn đề này.

Phát hiện của Alvin về các lỗ thông hơi dưới đáy biển đã mang lại câu trả lời. Các nhà địa vật lý nhận thấy các lỗ thông hơi này đóng vai trò khá giống thiết bị lọc trong bể cá. Khi nước được hút vào vỏ Trái Đất, muối sẽ bị giữ lại và cuối cùng chỉ có nước sạch phun trở lại. Quá trình này diễn ra rất chậm – có thể phải mất tới 10 triệu năm để làm sạch một đại dương – nhưng nếu bạn không vội, thì đây là một quá trình cực kỳ hiệu quả.

Có lẽ không có gì thể hiện rõ sự thờ ơ của chúng ta đối với đại dương hơn là mục tiêu của các nhà hải dương học trong Năm Địa Vật lý Quốc tế, 1957-1958: nghiên cứu “các tầng sâu của đáy biển và mục đích chôn chất thải phóng xạ”. Bạn có thể thấy đó không phải là một công việc bí mật, mà được ngang nhiên công bố. Thực chất, dù không công khai rộng rãi, nhưng việc xả phóng xạ ra biển đã diễn ra từ trước đó với quy mô kinh hoàng trong suốt một thập kỷ. Từ năm 1946, Hoa Kỳ đã chở những chiếc thùng cỡ 55 gallon chứa chất thải phóng xạ ra quần đảo Fallarone, cách bờ California gần San Francisco chừng 50km, tại đây chúng được ném xuống biển.

Chúng là một loại rác thải rất kỳ lạ. Đa số đều trông như những chiếc thùng hoen rỉ phía sau các trạm xăng hoặc được chất bên ngoài các nhà máy, hoàn toàn không có bất cứ loại lót bảo vệ. Khi chúng không chìm được, thường là như vậy, các tay súng hải quân sẽ cho chúng một loạt đạn để nước tràn vào (và tất nhiên plutoni, urani và stronti sẽ trào ra). Trước khi việc xả thải này ngừng lại vào thập niên 1990, nước Mỹ đã đổ hàng trăm nghìn thùng xuống khoảng 50 địa điểm khác nhau trên biển – trong đó riêng khu vực quần đảo Fallarones đã có tới 50.000 thùng. Tuy vậy, Mỹ cũng không đơn độc. Còn có những quốc gia xả nhiệt tình như Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, New Zealand và gần như tất cả các nước châu Âu.

Liệu việc này ảnh hưởng như thế nào đến sự sống dưới lòng đại dương? Chúng ta hy vọng là không đáng kể, song không ai thật sự biết chắc. Chúng ta mù tịt về thế giới dưới đáy đại dương. Thậm chí, chúng ta biết rất ít về các sinh vật biển cơ bản nhất – trong đó có loài mạnh mẽ nhất, cá voi xanh khổng lồ, với “chiếc lưỡi nặng bằng một con voi, trái tim to bằng một chiếc xe hơi, và một vài mạch máu đủ rộng để bạn có thể bơi trong đó”, theo lời của nhà tự nhiên học người Anh, David Attenborough. Nó là con quái vật vĩ đại nhất mà Trái Đất từng sản sinh ra, thậm chí còn to hơn đa số các loài khủng long cồng kềnh. Thế nhưng, phần lớn cuộc sống của cá voi xanh vẫn là một bí mật với con người. Chúng ta không biết phần lớn thời gian chúng ở đâu – ví dụ, chúng tới đâu để sinh sản, hay bơi theo tuyến nào để tới đó. Điều ít ỏi mà chúng ta biết chủ yếu nhờ nghe trộm những bài hát của chúng, dù ngay cả điều này cũng là một bí ẩn. Cá voi xanh thỉnh thoảng ngừng hát rồi lại tiếp tục chính xác ở đoạn đó sau sáu tháng. Đôi khi chúng hát một bài mới mà chưa thành viên nào trong đàn từng nghe nhưng tất cả đều đã biết. Bằng cách nào và tại sao chúng làm như vậy thì còn rất lâu chúng ta mới có thể hiểu. Đây mới chỉ là một loài động vật phải thường xuyên ngoi lên mặt nước để thở.

Với những loài không bao giờ ngoi lên mặt nước, thì còn mơ hồ hơn nữa. Hãy xem hiểu biết của chúng ta về loài mực ống khổng lồ huyền thoại. Dù không cùng cỡ với cá voi xanh, nhưng nó hẳn là một loài vật to lớn, với đôi mắt bằng trái bóng đá và các xúc tu có thể dài tới 18m. Nó nặng gần một tấn và là loài động vật không xương sống lớn nhất hành tinh. Nếu bạn thả một con vào trong một bể bơi nhỏ, sẽ không còn nhiều chỗ trống cho bất cứ thứ gì khác. Thế nhưng không một nhà khoa học nào – không một ai, theo những gì chúng ta biết – từng thấy một con mực ống còn sống. Nhiều nhà động vật học đã dành cả sự nghiệp hòng bắt được hoặc thoáng nhìn thấy một con mực ống khổng lồ còn sống, nhưng họ luôn thất bại. Chúng được biết đến sau khi đã bị đánh dạt vào bờ – đặc biệt, vì những lý do chưa rõ, thường là bãi biển của các quần đảo phía nam New Zealand. Chúng chắc chắn phải sống thành bầy rất lớn bởi chúng là thức ăn chính của cá nhà táng, một loài cá ngốn rất nhiều thức ăn.1

1. Những phần không tiêu hóa được của những con mực ống khổng lồ, nhất là phần răng của chúng, sẽ tích lại trong dạ dày của cá nhà táng và trở thành một chất gọi là long diên hương, được sử dụng làm chất tạo mùi trong nước hoa. Lần tới nếu bạn dùng một lọ Chanel số 5, hãy nhớ rằng bạn đang xịt lên mình sản phẩm chưng cất từ một con quái vật biển vô hình.

Theo một đánh giá, có thể có tới 30 triệu loài động vật đang sống dưới biển, đa số vẫn chưa được khám phá. Dấu hiệu cho thấy tính phong phú của sự sống dưới biển sâu thực ra không rõ ràng lắm, phải mãi cho tới những năm 1960, nhờ việc chế tạo ra máy dò đáy – một thiết bị nạo vét – người ta không chỉ bắt được các sinh vật trên hoặc gần đáy biển, mà cả những sinh vật bị vùi dưới lớp trầm tích. Chỉ sau một giờ rà dọc thềm lục địa ở độ sâu khoảng 1,5km, các nhà hải dương học là Howard Sandler và Robert Hessler của viện Woods Hole đã tìm được 25.000 sinh vật – sâu biển, sao biển, hải sâm, vv… – đại diện cho 365 loài. Thậm chí ở độ sâu gần 5km, họ đã có được khoảng 3.700 sinh vật đại diện cho gần 200 loài. Thế nhưng, thiết bị này chỉ bắt được các loài quá chậm chạp hoặc ngốc nghếch đến mức không biết tránh đường. Cuối những năm 1960, một nhà hải dương học là John Isaacs đã nảy ra ý định thả một chiếc camera gắn một miếng mồi và còn phát hiện thêm nhiều sinh vật nữa, đặc biệt là những đàn cá mút đá (một loài sinh vật cổ giống lươn) đông nhung nhúc, cùng những đàn cá lựu đạn nhanh như tên bắn. Khi một nguồn thức ăn đột ngột xuất hiện – ví dụ, khi một con cá voi chết và chìm xuống đáy – có đến 390 loài sinh vật biển sẽ lao tới thưởng thức. Ngạc nhiên hơn nữa, có rất nhiều sinh vật trong số chúng đến từ các lỗ thông hơi cách đó khoảng 1.600km, bao gồm cả những loài như trai và sò, vốn chưa từng được biết đến như những lữ khách cừ khôi. Giờ đây, người ta cho rằng ấu trùng của một số loài nhất định có thể trôi trong nước cho đến khi, nhờ các cơ chế hóa học bí mật, chúng bắt được tín hiệu của nguồn thức ăn và sẽ rơi vào đó.

Nếu các đại dương mênh mông như thế, tại sao chúng ta lại dễ dàng khai thác chúng cạn kiệt? Trước hết, các đại dương trên thế giới không phải đều hào phóng như nhau. Tổng cộng, chưa đến một phần mười diện tích biển được xem là dồi dào một cách tự nhiên. Đa số các loài thủy sinh thích sống ở vùng nước nông, nơi có nhiều ánh sáng, hơi ấm và thức ăn hữu cơ. Ví dụ, các rặng san hô chiếm chưa tới 1% không gian của biển nhưng lại là nơi cư trú của khoảng 25% số cá.

Ở những vùng khác, đại dương không phong phú đến vậy. Hãy xem xét trường hợp của Australia, với bờ biển dài 36.735km và chừng 23 triệu km2 mặt biển thuộc lãnh hải, đây là quốc gia sở hữu nhiều biển nhất trên thế giới. Tuy nhiên, như Tim Flannery nhận xét, điều này không giúp Australia lọt vào danh sách 50 quốc gia đứng đầu về ngư nghiệp. Thực tế, nước này phải nhập khẩu rất nhiều hải sản. Nguyên nhân chính là đa phần biển của Australia, cũng giống như đất liền, chủ yếu đều là một dạng sa mạc. (Một ngoại lệ đáng lưu ý là rặng san hô Great Barrier gần đảo Queensland, nơi có nguồn hải sản hết sức dồi dào). Vì đất đai nghèo nàn, nên các dòng sông đổ ra biển cũng mang theo rất ít chất dinh dưỡng.

Ngay cả ở những nơi sự sống phát triển mạnh, nó cũng rất nhạy cảm với sự xáo trộn. Vào những năm 1970, các ngư dân Australia và một số ít ngư dân New Zealand đã phát hiện một bãi cá orange roughy ít được biết đến sống ở độ sâu khoảng 800m nơi thềm lục địa. Đây là một loài cá ngon đặc biệt và sống thành những đàn lớn. Ngay lập tức, các đoàn tàu đánh cá thu về ngót nghét bốn vạn tấn mỗi năm. Sau đó, các nhà sinh vật biển phát hiện một vấn đề đáng báo động. Cá orange roughy sống rất lâu và trưởng thành chậm. Một số con có thể sống tới 150 năm, và bất cứ con nào bạn từng ăn cũng có thể được sinh ra từ thời Nữ hoàng Victoria. Cá orange roughy chọn lối sống cực kỳ chậm rãi vì vùng nước nơi chúng cư trú rất nghèo nàn. Trong điều kiện đó, có những con chỉ đẻ trứng một lần trong đời. Rõ ràng đây là một quần thể không thể chịu được sự xáo trộn quá mức. Không may là khi người ta nhận ra điều này, thì nguồn cá orange roughy đã cạn kiệt nghiêm trọng. Ngay cả khi được quản lý tốt, cũng sẽ phải mất hàng thập kỷ để quần thể này phục hồi nếu có khả năng đó.

Tuy nhiên, ở nhiều nơi khác, sự lạm dụng đại dương cho thấy sự bừa bãi hơn là sơ xuất. Nhiều ngư dân cắt lấy vây cá mập rồi thả chúng và để mặc chúng chết. Năm 1998, vây cá mập được bán ở Viễn Đông với giá hơn 110 đô-la Mỹ một kilôgam, và một bát canh vây cá mập được bán tại Tokyo với giá 100 đô-la Mỹ. Năm 1994, Quỹ Động vật Hoang dã ước tính số cá mập bị giết mỗi năm khoảng 40-70 triệu con.

Vào năm 1995, lượng cá bị đánh bắt bởi khoảng 37.000 chiếc tàu đánh cá cỡ lớn cùng gần một triệu tàu cỡ nhỏ hơn đã tăng gấp đôi sản lượng đánh bắt so với 25 năm trước. Các tàu ngư nghiệp đôi khi to như du thuyền và kéo theo những tấm lưới đủ rộng để chứa cả chục chiếc máy bay phản lực. Một số tàu thậm chí còn sử dụng máy bay trinh sát để định vị các đàn cá từ trên không.

Người ta ước tính một phần tư số cá được kéo lên trong mỗi chiếc lưới là “bắt nhầm” – đó là số cá sẽ không được đưa lên bờ vì chúng quá nhỏ, không đúng loại hoặc không đúng mùa. Một nhà quan sát đã phát biểu trên tờ The Economist: “Con người vẫn ở thời kỳ tăm tối. Chúng ta chỉ thả lưới xuống và chờ xem điều gì xảy ra.” Có lẽ có tới 22 triệu tấn cá bị bắt nhầm và được thả lại biển mỗi năm, chủ yếu dưới dạng xác chết. Cứ mỗi kg tôm thu hoạch được lại có khoảng 4kg cá và các sinh vật biển khác bị tiêu diệt.

Một phần rộng lớn của đáy Biển Bắc bị quét sạch bảy lần mỗi năm bởi các tàu đánh cá sử dụng lưới chùm, một mức độ can thiệp mà không hệ sinh thái nào chịu nổi. Theo ước tính, ít nhất hai phần ba số loài sinh vật biển tại Biển Bắc đang bị khai thác quá mức. Trên toàn Đại Tây Dương, tình hình cũng không sáng sủa hơn. Cá halibut từng lúc nhúc ngoài khơi New England đến mức những chiếc thuyền đơn lẻ cũng có thể đánh bắt về bờ hơn chín tấn cá mỗi ngày. Ngày nay, loài cá này gần như tuyệt chủng ở vùng bờ biển phía bắc nước Mỹ.

Tuy nhiên, không gì có thể so sánh với số phận của loài cá tuyết. Vào cuối thế kỷ XV, khi nhà thám hiểm John Cabot tìm thấy cá tuyết với số lượng nhiều đến khó tin ở bờ biển phía đông của Bắc Mỹ – vùng biển nước nông nổi tiếng với các loài cá sống ở tầng đáy như cá tuyết. Theo lời thuật đầy kinh ngạc của Cabot, lượng cá dồi dào đến mức các thủy thủ có thể hớt lấy chúng bằng giỏ. Ở một số bờ biển rộng như Georges ở Massachusetts, rộng hơn cả thành phố mà nó bao bọc hay bờ biển Grand ở Newfoundland, thậm chí còn rộng hơn nữa, suốt nhiều thế kỷ là nơi cá tuyết chen chúc nhau sống. Người ta tin chúng không thể tuyệt chủng. Dĩ nhiên, chúng chỉ mới gần như tuyệt chủng mà thôi.

Vào năm 1960, lượng cá tuyết có khả năng sinh sản ở bắc Đại Tây Dương theo ước tính chỉ còn 1,6 triệu tấn. Tới năm 1990, con số này là 22.000 tấn. Về mặt thương mại, cá tuyết đã tuyệt chủng. Trong cuốn sách hấp dẫn có nhan đề Cod [tạm dịch: Cá tuyết], Mark Kurlansky viết rằng “các ngư dân đã bắt sạch chúng.” Cá tuyết có thể sẽ vĩnh viễn biến mất khỏi phía tây Đại Tây Dương. Vào năm 1992, nghề đánh cá tuyết đã bị cấm trên toàn bộ bờ biển Grand, nhưng đến mùa thu năm 2002, theo một bài báo trên tạp chí Nature, nguồn cá vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi. Kurlansky nhận thấy cá, phi-lê cá hay cá viên que đầu tiên đều được chế biến từ cá tuyết, nhưng sau đó được thay bằng cá tuyết chấm đen, tiếp đó là cá hồi đỏ và gần đây nhất là cá pô-lắc Thái Bình Dương. Ông nói đầy chua chát rằng ngày nay “cá” là “bất cứ thứ gì còn sót lại”.

Điều tương tự cũng đúng khi nói về nhiều loại hải sản khác. Tại các ngư trường ngoài khơi của đảo Rhode, New England, trước đây chuyện bắt được những con tôm hùm nặng tới 9kg là việc thường ngày. Đôi khi có những con lên tới 13kg. Nếu không bị đánh bắt, tôm hùm có thể sống được nhiều thập kỷ – có thể đến 70 năm – và sẽ không ngừng lớn lên. Ngày nay, rất ít khi người ta bắt được tôm hùm nặng hơn 1kg. Theo tờ New York Times, “các nhà sinh vật học cho biết 90% tôm hùm bị đánh bắt trong vòng một năm ngay sau khi chúng đạt kích thước để bị đánh bắt hợp pháp ở vào khoảng sáu năm tuổi.” Dù năng suất giảm, nhưng các ngư dân New England tiếp tục nhận được ưu đãi về thuế của bang và liên bang nhằm khuyến khích – trong một số trường hợp gần như là thúc bách – họ đóng tàu lớn hơn để khai thác biển triệt để hơn nữa. Ngày nay, các ngư dân Massachusetts chỉ còn khai thác loài cá mút đá để cung cấp cho một thị trường nhỏ vùng Viễn Đông, song ngay cả loài cá gớm ghiếc này cũng đang suy giảm về mặt số lượng.

Chúng ta hầu như không biết gì về những cơ chế chi phối sự sống nơi biển cả. Trong khi các loài thủy sinh trở nên ít ỏi hơn ở những nơi bị khai thác quá mức, thì ở một vài vùng biển nghèo nàn lại có nhiều cư dân hơn mức cần thiết. Các đại dương phía nam bao quanh Nam Cực chỉ sản sinh khoảng 3% lượng sinh vật phù du của thế giới – dường như quá ít để cung cấp cho một hệ sinh thái phức tạp, nhưng nó đã làm được. Không nhiều người trong số chúng ta nghe nói đến các loài hải cẩu ăn cua, nhưng chúng thật sự là loài động vật có số lượng lớn thứ hai trên thế giới sau con người. Khoảng 15 triệu cá thể của loài này đang sống trên các tảng băng ở Nam Cực. Đồng thời tại đây cũng có khoảng hai triệu cá thể hải cẩu Weddel, ít nhất nửa triệu cá thể chim cánh cụt Hoàng đế, và có lẽ là khoảng bốn triệu cá thể chim cánh cụt Adelie. Chuỗi thức ăn bởi thế càng lên cao lại càng nặng nề tưởng như không thể duy trì nổi, song bằng cách nào đó mọi thứ lại vẫn ổn thỏa. Vấn đề là không ai hiểu vì sao.

Tất cả những điều rất vòng vo này cuối cùng chỉ để nói lên việc chúng ta biết rất ít về hệ thống lớn nhất của Trái Đất. Tuy nhiên, như bạn sẽ thấy trong những trang tiếp theo, một khi bắt đầu nói về sự sống, có rất nhiều điều chúng ta không biết – trong đó có cả việc nó đã khởi đầu ra sao.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.