Lược Sử Vạn Vật

Lượt đọc: 85 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
28. Động vật hai chân bí ẩn

❊ ❊ ❊

Ngay trước lễ Noel năm 1887, một bác sĩ người Hà Lan mang cái tên không Hà Lan chút nào, Marie Eugène François Thomas Dubois,1 đã quyết định đến Sumatra, vùng Đông Ấn Hà Lan, để tìm kiếm dấu vết của giống người cổ xưa nhất trên trái đất.

1. Mặc dù là người Hà Lan, nhưng Dubois đến từ Eijsden, một thị trấn Hà Lan giáp vùng nói tiếng Pháp của Bỉ.

Việc này gây ra không ít ngạc nhiên. Tất cả xương của người cổ đại trước đó đều chỉ được phát hiện ngẫu nhiên, hơn nữa nhìn vào lý lịch của Dubois, người ta thấy ngay ông không phải là ứng viên tiềm năng cho công việc này. Dubois vốn là một nhà giải phẫu và không hề có nền tảng cổ sinh vật học. Lý do nữa là chẳng có dấu vết nào gợi ý rằng có thể tìm thấy xương người cổ đại tại miền Đông Ấn. Theo logic thông thường, chúng thường được tìm thấy ở một miền đất rộng và đông dân lâu đời, chứ không phải một vùng khá biệt lập của một quần đảo. Những gì đưa Dubois đến đây chỉ là một linh cảm, sự rỗi rãi và kiến thức rằng ở đây có rất nhiều hang động, địa điểm lý tưởng cho các hóa thạch người. Phép màu đã xảy ra khi Dubois tìm được thứ ông muốn.

Khi Dubois bắt tay tiến hành kế hoạch của mình, toàn bộ hóa thạch người mà chúng ta có vô cùng khiêm tốn: 5 bộ xương không đầy đủ của người Neandertal, một phần xương hàm không rõ lai lịch và 6 bộ xương của người tiền sử kỷ Băng hà được các công nhân đường sắt tìm thấy trong hang động Cro-Magnon gần Les Eyzies, Pháp.1 Về các bộ xương Neandertal, các mẫu tốt nhất khi đó đang nằm trên một chiếc kệ ở London, không ai để mắt tới. Chúng được các công nhân phá đá tìm thấy trong một mỏ đá ở Gibraltar vào năm 1848, nghĩa là điều kiện bảo quản rất tuyệt vời, nhưng tiếc là không ai đánh giá đúng giá trị của chúng. Sau khi được giới thiệu ngắn gọn tại một cuộc họp Hội Khoa học Gibraltar, nó được chuyển tới Bảo tàng Hunterian và được phủ bụi suốt hơn nửa thế kỷ. Mãi đến năm 1970, người ta mới cho hóa thạch này một bản mô tả chính thức, do một nhà địa chất tên là William Sollar viết, ông chỉ được xem là “tay ngang trong ngành giải phẫu”.

1. Con người được xếp vào họ Homonidae. Các thành viên của họ này bao gồm các sinh vật (kể cả các loài đã tuyệt chủng) gần với con người hơn với các loài tinh tinh ngày nay. Còn các loài khỉ dạng người loại lớn được đưa vào một họ riêng gọi là Pongidae. Nhiều chuyên gia cho rằng tinh tinh, khỉ đột và đười ươi cũng nên được xếp vào họ Homonidae, trong đó, người và tinh tinh sẽ nằm trong phân họ Homininae. Theo sắp xếp này thì các sinh vật trước kia vẫn được gọi là hominid (thành viên của họ Homonidae) sẽ được gọi là hominin (thành viên của phân họ Homininea). Hominoidea là tên của siêu họ khỉ, bao gồm cả loài người.

Do đó, tên và vinh quang trong việc tìm ra người cổ đại đầu tiên lại thuộc về thung lũng Neander – khá trùng hợp bởi từ Neander trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là con người mới. Tại đây vào năm 1856, các công nhân mỏ đá khi đang đứng trên vách đá nhìn xuống sông Düssel đã phát hiện những mẫu xương có hình dạng kỳ lạ. Họ mang chúng đến cho một thầy giáo địa phương vì biết ông đam mê mọi thứ thuộc về tự nhiên. Bằng uy tín của mình, thầy giáo Karl Fuhlrott đã khẳng định đây là một giống người chưa từng được phát hiện. Tuyên bố này trở thành chủ đề tranh luận trong một thời gian dài.

Nhiều người không tin các xương được tìm thấy ở Neander là của người nguyên thủy. August Mayer, một giáo sư có tiếng tăm của Đại học Bonn, cho rằng đó chỉ đơn giản là xương của những người lính Cossack Mông Cổ bị thương trong khi chiến đấu ở Đức vào năm 1814, và chết trong những hang động. Tiếp ngay sau đó, nhà khoa học người Anh, T. H. Huxley, nhấn mạnh những người lính đã kiên cường thế nào khi họ dù trọng thương vẫn leo lên được vách đá cao khoảng 60ft, tự cởi bỏ quần áo và tư trang, lấp cửa hang, sau đó tự chôn mình dưới hơn 2ft đất. Một nhà nhân chủng học khác khi lý giải hình dáng lông mày nhô ra phía trước của các bộ xương còn cho rằng đó là do họ chau mày liên tục vì vết thương cẳng tay không được chữa lành gây đau đớn. (Trong nỗ lực bác bỏ chứng cứ về con người cổ, các chuyên gia đôi khi sẵn sàng viện đến các lý do hoang đường nhất. Vào thời điểm Dubois đến Sumatra, một bộ xương được tìm thấy ở Périgueux và được người ta thông báo rằng đó là xương người Eskimo. Tất nhiên, người Eskimo thì có thể làm gì ở miền tây nam nước Pháp. Thực ra, đó chính là xương của người Cro-Magnon cổ đại.)

Dù vấp phải những khó khăn này, nhưng Dubois vẫn kiên trì tìm kiếm xương người nguyên thủy. Ông không tự mình đào bới mà sử dụng 50 tù nhân mượn từ chính phủ Hà Lan. Trong suốt một năm, họ đã tìm kiếm ở Sumatra, sau đó chuyển đến Java. Đến năm 1891 thì Dubois, hay nói đúng ra là đội của Dubois (vì bản thân ông hiếm khi đến thực địa), đã tìm thấy một phần hộp sọ cổ mà ngày nay gọi là Hộp sọ Trinil. Dù chỉ là một phần nhỏ, nhưng nó cũng cho thấy rằng chủ nhân của nó có các đặc điểm rõ ràng không phải của loài người, nhưng lại có bộ não lớn hơn nhiều lần bất cứ loài dã nhân nào. Dubois gọi đó là giống người Anthropithecus đứng thẳng, (sau này, vì lý do kỹ thuật nên đã đổi thành Pithecanthropus đứng thẳng), và tuyên bố đó chính là gạch nối giữa loài vượn và loài người. Nó nhanh chóng được biết đến với cái tên người Java và ngày nay được gọi là Homo erectus (Người đứng thẳng).

Năm tiếp theo, những công nhân của Dubois tiếp tục tìm thấy một khúc xương đùi gần như hoàn chỉnh, và trông rất giống của người hiện đại. Thực tế, nhiều nhà nhân chủng học nghĩ rằng nó là của người hiện đại chứ không phải của người Java. Nó không hề giống với mẫu xương nào của người đứng thẳng trước đó. Tuy nhiên chỉ dựa vào khúc xương đùi, Dubois vẫn đưa ra kết luận chính xác rằng người Pithecanthropus đi thẳng. Chỉ từ một phần hộp sọ và một chiếc răng, Dubois đã tạo ra một mô hình hộp sọ hoàn chỉnh với độ chính xác đáng ngạc nhiên.

Năm 1895, Dubois trở lại châu Âu và những tưởng mình sẽ được đón chào nồng nhiệt, nhưng mọi việc lại diễn ra gần như ngược lại. Các nhà khoa học đều không thích các kết luận lẫn thái độ ngạo mạn của Dubois. Họ cho rằng đó là hộp sọ của loài dã nhân, có thể là một con vượn, chứ không phải của người cổ đại. Trong nỗ lực bảo vệ quan điểm của mình, Dubois đã cho phép một nhà giải phẫu học uy tín từ Đại học Strasbourg là Gustav Schwalbe nghiên cứu hộp sọ mà ông tìm thấy. Nằm ngoài dự đoán của Dubois, Schwalbe đã dựa vào đó viết một tài liệu chuyên khảo gây tiếng vang hơn tất cả những gì Dubois đã viết ra, và khi đi thuyết giảng khắp nơi, Schwalbe được long trọng đón tiếp như thể chính ông ta là người đào được chiếc hộp sọ. Bàng hoàng và cay đắng, Dubois rút về làm một giáo sư địa chất bình thường tại Đại học Amsterdam, và trong suốt 20 năm tiếp theo ông không cho phép ai chạm vào các hóa thạch của mình. Ông mất vào năm 1940, một người đàn ông bất hạnh.

Trong khi đó, cách nửa vòng trái đất, cuối năm 1924, người đứng đầu khoa Giải phẫu thuộc Đại học Witwatersrand ở Johannesburg, nhà khoa học gốc Australia, Raymond Dart, đã nhận được hộp sọ khá hoàn chỉnh của một đứa trẻ, với khuôn mặt còn nguyên vẹn, hàm dưới và não hóa thạch còn nguyên trạng, từ một khu mỏ đá vôi ở vùng Taung rìa sa mạc Kalahari. Dart lập tức nhận ra đây không phải là hộp sọ người đứng thẳng Java của Dubois, mà có niên đại sớm hơn rất nhiều, và là một sinh vật giống khỉ. Ông xác định nó khoảng 2 triệu năm tuổi và đặt cho nó tên khoa học là Australopithecus africanus (vượn người phía Nam châu Phi). Trong một bài viết trên tờ Nature, ông cho rằng các hóa thạch Taung giống người đến kinh ngạc, và đề xuất đặt thêm một họ hoàn toàn mới, Homo simiadae (người-vượn) sau phát hiện này.

Giới khoa học thậm chí còn thiếu thiện chí với Dart hơn cả với Dubois. Gần như mọi điểm trong lý thuyết của ông – thật vậy, gần như tất cả – đều khiến họ khó chịu. Trước tiên, Dart đã quá tự phụ khi tự mình nghiên cứu mà không hề kêu gọi sự giúp đỡ của cả cộng đồng khoa học. Ngay cả cái tên mà ông chọn, Australopithecus, cũng tỏ ra thiếu tính ứng dụng học thuật khi kết hợp từ gốc Hy Lạp và Latin. Trên tất cả, kết luận của ông như một đòn tấn công vào những phát hiện truyền thống. Ai cũng đồng ý rằng loài người và loài vượn đã phân chia từ ít nhất 15 triệu năm trước ở châu Á. Nếu thủy tổ của loài người ở châu Phi, tất cả chúng ta đều là người negroit. Nó cũng giống như việc, có ai đó ngày nay tuyên bố tìm thấy các xương của tổ tiên loài người ở Missouri chẳng hạn. Nó rõ ràng đi ngược lại những gì đã được biết đến.

Người duy nhất ủng hộ Dart là Robert Broom, một bác sĩ, đồng thời là nhà cổ sinh vật học người Scotland với trí tuệ hơn người và bản tính lập dị. Broom có thói quen khỏa thân đi nghiên cứu thực địa khi thời tiết ấm áp. Ông cũng được biết đến vì đã tiến hành các thí nghiệm giải phẫu đáng ngờ trên những bệnh nhân nghèo của mình. Khi họ chết (điều này cũng xảy ra rất thường xuyên), ông chôn thi thể họ ngay trong vườn và đào lên mỗi khi cần nghiên cứu thêm.

Vì là một nhà cổ sinh vật học tài năng và cũng đang có mặt ở Nam Phi, nên Broom là một trong số những người đầu tiên được xem xét hộp sọ Taung. Ông lập tức nhận thấy Dart đã đúng, và lớn tiếng ủng hộ quan điểm của Dart, song không hiệu quả. Trong 50 năm tiếp theo, người ta cho rằng hộp sọ Taung chỉ là của một con dã nhân. Các sách vở cũng không đề cập đến nó. Dart dành 5 năm tiếp theo để hoàn thành một chuyên khảo, song không thể xuất bản và cuối cùng đành bỏ cuộc (dù vẫn tiếp tục săn tìm hóa thạch). Trong rất nhiều năm tiếp theo, chiếc hộp sọ, mà ngày nay được xem là báu vật của nhân chủng học, chỉ nằm im lìm như một miếng chặn giấy trên bàn một đồng nghiệp của ông.

Khi Dart tuyên bố phát hiện này vào năm 1924, mới chỉ có bốn chủng người cổ đại được biết đến − Homo heidelbergensis, Homo rhodesiensis, người Neanderthal và Người Java của Dubois – nhưng ngay sau đó tất cả đã thay đổi.

Đầu tiên, tại Trung Quốc, một nhà nghiên cứu nghiệp dư người Canada, Davidson Black, bắt đầu tìm kiếm quanh vùng Núi Xương Rồng, vốn rất nổi tiếng về xương cổ. Thật không may, thay vì bảo tồn nghiên cứu xương, thì người Trung Quốc lại nghiền chúng làm thuốc. Các mảnh xương người cổ quý giá cuối cùng lại có giá trị tương đương với bột Beecham1 của Trung Quốc. Cả vùng này dường như đã xác xơ khi Black đến, nhưng ông vẫn tìm thấy một chiếc răng hàm hóa thạch và từ đó tuyên bố đã phát hiện ra Sinanthropus pekinensis, về sau được gọi là người Bắc Kinh.

1. Một loại bột kháng sinh.

Với quyết tâm của Black, việc khai quật được triển khai mạnh hơn và nhiều mẩu xương khác được tìm thấy, nhưng không may chúng đều biến mất sau cuộc tấn công Trân Châu Cảng của Nhật vào năm 1941. Khi một đội thủy quân lục chiến của Mỹ cố gắng đưa các mẫu xương (và cả bản thân họ) ra khỏi đất Trung Quốc, họ đã bị người Nhật bắt và cầm tù. Sau khi thấy những chiếc hòm trên tàu chẳng có gì ngoài xương, lính Nhật đã ném chúng xuống đường, và đó là lần cuối cùng người ta còn thấy chúng.

Quay lại câu chuyện người Java của Dubois, thời gian đó, một đội dẫn đầu bởi Ralph von Koenigswald đã tìm thấy một nhóm người cổ khác, gọi là người Solo, gần sông Solo ở Ngandong. Phát hiện của Koenigswald lẽ ra đã rất có ý nghĩa nếu không phạm một lỗi chiến thuật, và được nhận ra quá muộn. Ông đã trả giá với người dân địa phương 10 xu cho mỗi mảnh xương mà họ tìm được, sau đó kinh hoàng khi phát hiện họ đã đập vụn những mảnh xương lớn để tối đa hóa nguồn thu nhập.

Trong những năm tiếp theo, khi có nhiều xương được phát hiện và xác định, người ta ngập trong những tên gọi mới – Homo aurignacensis, Australopithecus transvaalensis, Paranthropus crassidens, Zinjanthropus boisei và vô số tên gọi khác, mỗi cái tên là một chi hoặc một loài mới. Cho đến những năm 1950, đã có đến hơn 100 tên gọi cho các loài thuộc họ người. Để khiến cho tình hình thêm rối rắm, mỗi giống riêng lẻ lại có rất nhiều tên gọi khác nhau trong quá trình tinh lọc và phân loại của các nhà cổ nhân chủng học. Người Solo còn được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như Homo soloensis, Homo primigenius asiaticus, Homo neanderthalensis soloensis, Homo sapiens soloensis, Homo erectus erectus, và cuối cùng ngắn gọn là Homo erectus.

Vào năm 1960, trong nỗ lực đưa ra một thứ bậc rõ ràng, F. Clark Howell của Đại học Chicago, theo gợi ý của Ernst Mayr và một số người khác từ thập kỷ trước, đã đề xuất cắt số lượng các chi xuống chỉ còn hai, đó là Australopithecus và Homo – sau đó hợp lý hóa các loài. Người Java và người Peking cuối cùng đều được xếp vào Homo erectus (người đứng thẳng). Thứ bậc này từng thịnh hành, song nó cũng không tồn tại được lâu.

Sau khoảng một thập kỷ khá bình lặng, các nhà cổ nhân chủng học bước vào một giai đoạn mới với các khám phá chóng vánh mà đến giờ vẫn chưa dịu đi. Những năm 1960, họ tìm ra Homo habilis (người khéo léo), được nhiều người xem như gạch nối giữa người và vượn, song nhiều người không xem nó là một loài độc lập. Sau đó là sự xuất hiện của Homo ergaster, Homo louisleakeyi, Homo rudolfensis, Homo microcranus và Homo antecessor cùng nhiều chi vượn người phương nam khác như A. afarensis, A. praegens, A. ramidus, A. walkeri, A. anamensis. Nhìn chung, có khoảng 20 loài thuộc người đã được công nhận cho đến nay. Nhưng thật không may là tập hợp 20 loài của mỗi chuyên gia lại khác nhau.

Một số vẫn tiếp tục nghiên cứu hai chi theo Howell đề xuất, song một số khác cho rằng nên xếp một số người thuộc chi Australopithecines vào một chi riêng gọi là Paranthropus, một số khác còn đề xuất thêm một chi sớm hơn gọi là Ardipithecus. Một số người lại muốn đưa praegens vào chi Australopithecus và cũng có một số muốn có một chi riêng gọi là Homo antiquus, tuy nhiên hầu hết đều không thừa nhận praegens là một loài riêng biệt. Tóm lại, không hề có sự thống nhất nào giữa các tên gọi này. Một cái tên chung cần được tất cả nhất trí, mà điều này thường rất ít khi xảy ra.

Nghịch lý ở chỗ người ta không tìm đủ bằng chứng. Từ buổi sơ khai mới chỉ có vài tỷ người (hoặc những sinh vật giống người) từng sống và đóng góp một chút biến đổi gen cho loài người. Trong tổng thể rất lớn này, tất cả những gì chúng ta biết về thời tiền sử của con người chỉ dựa trên những bộ xương, thường vô cùng rời rạc, của khoảng 5.00 cá thể. “Nếu trộn chúng lại thì thậm chí bạn có thể chất chúng lên thùng một chiếc xe tải nhỏ,” Ian Tattersall, người phụ trách mảng nhân chủng học rất thân thiện của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở New York, đã trả lời như vậy khi tôi hỏi ông về tổng lượng xương người cổ và thuộc họ người trên thế giới.

Sự thiếu hụt này sẽ không đến nỗi quá trầm trọng nếu xương được phân bố đều qua thời gian và không gian, nhưng tất nhiên là không phải vậy. Người cổ đại thường xuất hiện ngẫu nhiên theo một cách lạ kỳ. Người đứng thẳng đã đi khắp Trái Đất trong hơn một triệu năm và cư ngụ từ mép Đại Tây Dương phía châu Âu tới mép Thái Bình Dương phía Trung Quốc, tuy nhiên nếu bạn làm sống lại tất cả những người đứng thẳng mà chúng ta đã tìm được hóa thạch, thì số đó cũng không đủ đầy một chuyến xe bus. Người khéo léo thậm chí còn hiếm hơn: mới chỉ tìm được hai bộ xương không đầy đủ và một số xương sườn. Những thứ còn ít tuổi như chính nền văn minh của chúng ta thì hầu như không thể có bằng chứng hóa thạch.

Tattersall làm rõ thêm: “Ở châu Âu người ta đã tìm thấy đầu lâu vượn người ở Georgia có niên đại khoảng 1,7 triệu năm, nhưng bộ hài cốt tiếp theo được tìm thấy ở Tây Ban Nha có niên đại gần hơn tận một triệu năm, và gần hơn 300.000 năm tiếp theo là người Heidelberg ở Đức – và chúng không hề giống nhau.” Ông mỉm cười. “Từ những mảnh ghép chắp vá đó mà chúng ta cố gắng viết được lịch sử của toàn bộ nhân loại. Công việc đó rất nan giải. Chúng ta thực sự hiểu biết rất ít về mối quan hệ giữa các loài cổ đại – loài nào đã tiến hóa thành chúng ta và loài nào rơi vào ngõ cụt của sự tiến hóa. Một số thậm chí không đáng để xem là một loài riêng biệt.”

Chính tình trạng chắp vá dữ liệu này khiến mỗi loài mới được phát hiện đều gây bất ngờ và khác xa các loài khác. Nếu chúng ta có hàng chục nghìn bộ xương phân bố đều đặn suốt chiều dài lịch sử, hẳn chúng ta sẽ hiểu chúng rõ hơn. Một loài hoàn toàn mới không thể xuất hiện ngay mà phải tiến hóa dần từ các loài cũ như các hóa thạch đã chỉ ra. Bạn càng quay lại gần điểm phân kỳ, sự giống nhau sẽ càng lớn, vì vậy sẽ cực kỳ khó khăn, thậm chí là không thể phân biệt một người đứng thẳng thời cuối và một người hiện đại, đó có thể là cả hai hoặc không là loài nào cả. Sự tương đồng có thể xuất hiện trong việc xác định các hài cốt rời rạc – ví dụ xác định xem liệu một mẩu xương cụ thể là của người nữ Australopithecus boisen hay một người nam Homo habilis.

Do không có gì để minh xác, nên các nhà khoa học phải đưa ra quyết định dựa vào những vật họ tìm thấy cạnh những hóa thạch, và đây thường là những dự đoán dũng cảm. Như Alan Walker và Pat Shipman đã quan sát, nếu bạn kết hợp những công cụ với loài sinh vật thường được tìm thấy gần nó, bạn sẽ đi được đến kết luận rằng những công cụ cầm tay cổ xưa đã được loài linh dương tạo ra.

Có lẽ không có ví dụ nào điển hình cho sự nhầm lẫn này hơn các kết luận từ những chứng cứ rời rạc về người khéo léo. Nói một cách đơn giản, xương của người khéo léo không nói lên điều gì. Khi được xếp đặt có thứ tự, chúng sẽ chỉ ra rằng đàn ông và phụ nữ tiến hóa với tốc độ và hướng khác nhau – giống đực ngày càng ít giống vượn, và hướng đến giống người hơn, trong khi giống cái thì ngược lại. Một số chuyên gia không cho rằng người khéo léo là một chủng loài cố định. Tattersall và đồng nghiệp Jeffrey Schwartz cho rằng đó là một “loài sọt rác” vì tất cả các hóa thạch không xác định “đều được thoải mái vứt vào”. Ngay cả những ai xem người khéo léo như một loài độc lập cũng không dám chắc liệu chúng có cùng thuộc một chi với chúng ta, hay thuộc một nhánh phu đã rơi vào ngõ cụt.

Cuối cùng, và trên hết, bản chất con người cũng là một nhân tố trong tất cả chuyện này. Các nhà khoa học luôn có xu hướng tự nhiên giải thích những phát hiện theo một cách tâng bốc tầm vóc của chúng. Hiếm có nhà cổ sinh vật học nào lại thông báo rằng anh ta đã tìm thấy các mẩu xương, nhưng chúng chẳng mang lại thêm nhận thức gì. Như Hohn Reader đã nói trong cuốn Missing Links [tạm dịch: Những mắt xích bị mất], “những lời giải thích đầu tiên cho một chứng cứ mới được tìm thấy thường trùng khớp với định kiến của người đã phát hiện ra nó.”

Điều này tất nhiên sẽ gây ra vô số tranh cãi sau đó, và chẳng có ai thích tranh luận bằng các nhà nhân chủng học. “Trong mọi ngành khoa học, giới cổ nhân chủng học luôn có cái tôi lớn nhất,” đây là lời của nhóm tác giả cuốn Java Man [tạm dịch: Người Java] – một cuốn sách gồm nhiều đoạn văn dài, đầy những lời công kích kín đáo nhắm vào sự bất cập của một số người khác, đặc biệt là Donald Johanson, người đồng nghiệp cũ của các tác giả.

Đến 99,99999% trong lịch sử tiến hóa của con người với tư cách các sinh vật, chúng ta có cùng một tổ tiên với loài tinh tinh. Không có nhiều manh mối về thời tiền sử của loài tinh tinh, nhưng chúng ra sao thì chúng ta như vậy. Khoảng bảy triệu năm trước, một bước tiến đã xảy ra. Một nhóm sinh vật từ rừng rậm nhiệt đới châu Phi bắt đầu di chuyển đến những vùng thảo nguyên mới.

Đó chính là australopithecines (vượn người phương Nam), chi thuộc họ người sẽ thống trị Trái Đất trong 5 triệu năm tiếp theo. (Austral trong tiếng Latin có nghĩa là phương Nam và không liên quan gì đến Australia như nhiều người vẫn nghĩ.) Vượn người phương Nam có nhiều giống khác nhau, có giống thanh mảnh, như đứa bé Taung của Raymons Dart, có giống lại cường tráng và mạnh mẽ hơn, song tất cả đều có khả năng đứng thẳng. Một số loài tồn tại cả triệu năm, một số khác khiêm tốn hơn là vài trăm nghìn năm; nhưng hãy nhớ kể cả loài ít thành công nhất cũng có lịch sử dài hơn chúng ta gấp nhiều lần.

Hóa thạch họ người nổi tiếng nhất trên thế giới thuộc về một vượn người phương Nam với 3,18 triệu năm tuổi, được nhóm do Donald Johanson dẫn đầu tìm thấy tại Hadar, Ethipia vào năm 1974. Được gọi là AL. (Viết tắt của Afar Locality – vùng xa) 288-1, bộ xương này sau đó có tên là Lucy, đặt theo một ca khúc của The Beatles, Lucy in the Sky with Diamonds. Johanson chưa bao giờ nghi ngờ ý nghĩa quan trọng của Lucy. “Đó là tổ tiên sớm nhất của chúng ta, gạch nối giữa loài vượn và loài người,” ông nói.

Lucy rất nhỏ nhắn – chỉ cao khoảng 3,5ft. Nó có thể đi bằng hai chân – dù việc đi như thế nào thì vẫn là chủ đề gây tranh cãi. Hơn nữa, rõ ràng nó leo núi rất giỏi. Đó là hầu hết những gì người ta kết luận. Xương sọ của Lucy gần như không còn, nên người ta không thể đưa ra giả thiết về độ lớn của não, tuy nhiên, theo các mảnh vụn còn sót lại thì nó nhỏ. Một số tài liệu cho rằng bộ xương của Lucy chỉ còn khoảng 40%, một số khác đưa ra con số gần 50%, và một tài liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ cho rằng nó hoàn thiện đến hai phần ba. Loạt chương trình truyền hình Ape Man thậm chí còn gọi nó là một bộ xương hoàn chỉnh, mặc dù hình ảnh được đưa ra lại không được như vậy.

Cơ thể người có 206 xương, nhưng rất nhiều xương bị lặp lại. Nếu có được xương đùi trái của một mẫu vật, thì bạn không cần phải đo kích thước của xương đùi phải. Nếu loại bỏ hết các xương dư thừa, thì bạn chỉ còn 120 xương. Ngay cả với tiêu chuẩn dễ dãi này, kể cả khi đã đếm các mảnh xương vụn, Lucy cũng chỉ có 28% của một nửa bộ xương (và chỉ có khoảng 20% một bộ xương hoàn chỉnh).

Trong cuốn sách The Wisdom of Bones [tạm dịch: Trí khôn của những chiếc xương], Alan Walker nhớ lại đã từng hỏi vì sao Johanson lại có được con số 40%. Johanson hồ hởi đáp rằng ông không tính đến 106 xương tay và chân – vốn chiếm đến một nửa số xương trong cơ thể, và là một nửa quan trọng, vì thuộc tính cơ bản của Lucy là sử dụng tay và chân để thích nghi với một thế giới mới lạ. Tóm lại, hiểu biết thật sự của con người về Lucy còn ít hơn những gì chúng ta nghĩ. Thậm chí, người ta còn không biết Lucy thực ra là nam hay nữ. Giới tính của nó chỉ được suy từ vóc dáng nhỏ bé của nó.

* * *

Hai năm sau khi phát hiện ra Lucy, tại Laetoli, Tanzania, Mary Leakey đã tìm được dấu chân của hai sinh vật được cho là thuộc cùng họ người. Những dấu chân đã được tạo ra khi hai vượn người phương Nam đi qua vùng tro bùn của một vụ phun trào. Bùn sau đó đặc cứng lại, nhờ đó bảo toàn được dấu chân của họ trong vòng 23m.

Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở New York đã dựng một bức tranh lập thể mô phỏng cảnh họ đi qua. Bức mô phỏng này có kích thước như thật, trong đó một con đực và một con cái đang đi qua những đồng bằng châu Âu cổ. Chúng có nhiều lông và có kích thước như tinh tinh, song có dáng đi giống con người. Điểm nổi bật là con đực choàng tay trái qua vai con cái, tư thế này cho thấy giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ.

Bức mô phỏng khiến người ta không nghĩ rằng hầu hết mọi thứ ngoài các dấu chân đều là trí tưởng tượng. Tất cả các nhân tố bên ngoài của hai mẫu vật, lông lá, các phần trên khuôn mặt (cho dù mũi họ giống người hay vượn) đều chỉ là giả thiết. Chúng ta cũng không thể khẳng định đây là một cặp, con cái có thể lại là một con còn nhỏ. Chúng ta cho rằng đây là vượn người phương Nam chẳng qua vì không có khả năng thích hợp nào khác.

Có người kể với tôi rằng sở dĩ chúng được đặt như vậy là vì trong quá trình xây dựng mô hình này, con cái bị đổ liên tục. Tuy nhiên, Ian Tattersall phủ nhận câu chuyện này. “Chúng ta không khẳng định được con đực có ôm con cái hay không, nhưng dựa vào vị trí các dấu chân, có thể thấy chúng đi rất gần nhau, đủ để chạm vào nhau. Đó là một vùng khá rộng, nên có thể chúng đã cảm thấy lo sợ, và chúng tôi cố gắng thể hiện qua gương mặt trong mô hình.”

Tôi hỏi liệu ông có gặp rắc rối gì với những giấy phép cần thiết để tái hiện hai nhân vật này, ông tỏ ra rất đồng tình. “Đó luôn là vấn đề khi xây dựng các mô hình. Anh không tưởng tượng nổi chúng tôi phải trải qua bao nhiêu buổi thảo luận về những chi tiết rất nhỏ, ví dụ người Neandertal có lông mày hay không. Khi dựng mẫu vật Laetoli cũng vậy. Chúng tôi không thể biết rõ chi tiết nhưng chỉ cố gắng truyền tải kích thước và hình dạng được suy đoán của chúng. Nếu có thể làm lại, tôi sẽ làm chúng giống dã nhân hơn con người. Vì các sinh vật này không phải là người, chúng là loài vượn đi bằng hai chân.”

Người ta từ đó vẫn cho rằng chúng ta là hậu duệ của Lucy và Laetoli, nhưng ngày nay, các chuyên gia nghi ngờ điều này. Mặc dù có một số đặc điểm thể chất (ví dụ răng) giống nhau, một số đặc điểm giải phẫu khác của vượn người phương Nam lại phức tạp hơn rất nhiều. Trong cuốn Extinct Humans [tạm dịch: Con người tuyệt chủng], Tattersall và Schwartz chỉ ra phần xương đùi trên của loài người rất giống dã nhân, nhưng lại không giống vượn người phương Nam. Vì vậy, nếu cho Lucy là gạch nối trực tiếp giữa dã nhân và người hiện đại, có nghĩa là chúng ta đã có xương đùi của vượn người phương Nam trong xấp xỉ một triệu năm, sau đó lại có xương giống loài vượn trong giai đoạn phát triển mới. Họ còn cho rằng không những Lucy không phải là tổ tiên của chúng ta, mà thậm chí còn không phải là loài đi bằng hai chân.

Tattersall khẳng định, “Lucy và loài của nó không di chuyển giống người hiện đại. Chỉ khi loài thuộc họ người này phải di chuyển giữa các thân cây, chúng mới bắt đầu di chuyển bằng hai chân. Chúng buộc phải như vậy do cấu tạo giải phẫu”. Johanson bác lại. “Sự sắp xếp xương hông và xương chậu của Lucy khiến nó, cũng như người hiện đại, không giỏi leo trèo,” ông viết.

Các vấn đề trở nên trầm trọng hơn, khi vào năm 2001 và 2002, bốn mẫu vật đặc biệt mới được tìm thấy. Một được Meave Leaker dòng họ nổi tiếng săn tìm hóa thạch phát hiện tại vùng hồ Turkana ở Kenya, và được gọi là Kenyanthropus platyops. Giống người này sống cùng thời gian với Lucy, và làm dấy lên giả thuyết đó chính là tổ tiên của chúng ta, và Lucy chỉ là một nhánh phụ không phổ biến. Cũng được tìm thấy vào năm 2001 là Ardipithecus ramidus kadabba, khoảng 5,2 đến 5,8 triệu năm trước, và Orrorin tugenensis, khoảng 6 triệu năm trước, đây là sinh vật họ người cổ nhất được tìm thấy. Mùa hè năm 2002, một đội tìm kiếm người Pháp ở sa mạc Djurabcuar Chad (một nơi chưa từng phát hiện xương cổ), đã tìm thấy một sinh vật họ người có niên đại khoảng 7 triệu năm trước, mà họ gọi là Sahelanthropus tchadensis. (Một số nhà phê bình cho rằng đây không phải người mà là một giống vượn cổ, do đó nên gọi nó là Sahelpithecus.) Tất cả những loài này đều là các sinh vật cổ xưa và khá nguyên thủy, nhưng chúng đi thẳng đứng từ sớm hơn rất nhiều so với chúng ta nghĩ.

Đi bằng hai chân là một quá trình khó khăn và đầy rủi ro. Nó liên quan tới việc biến xương chậu thành một công cụ chịu tải. Để bảo toàn kết cấu chịu lực cần thiết, các ống sinh sản của con cái phải khá hẹp. Do đó gây ra hai ảnh hưởng tức khắc và một ảnh hưởng lâu dài. Trước tiên, nó sẽ khiến việc mang thai vô cùng đau đớn và gây nhiều nguy hiểm cho cả mẹ lẫn con. Hơn nữa, để con non có thể chui qua lỗ hẹp như vậy, nó phải được đẻ khi xương đầu còn rất nhỏ, tức là khi chúng hoàn toàn không thể tự chăm sóc bản thân. Điều này dẫn đến đòi hỏi chăm sóc con non lâu dài của con cái, cũng là đánh dấu mối quan hệ nam-nữ sâu sắc.

Dù loài người đã trở thành chúa tể về sự khéo léo trên hành tinh, nhưng chỉ điều này đã đủ khiến chúng ta đau đầu, chứ chưa nói đến loài vượn người phương Nam bé nhỏ, mong manh với bộ não bằng kích thước của một trái cam.1

1. Kích thước bộ não thực ra cũng không nói lên nhiều điều. Voi và cá voi có bộ não lớn hơn chúng ta, nhưng rõ ràng chúng không thể thông minh như con người. Người ta thường không để ý đến, chính tỷ lệ tương quan của bộ não với thân thể mới cho thấy sự khác biệt. Như Gould đã chỉ ra, một người Africanus có bộ não chỉ 450cc, nhỏ hơn một con khỉ đột. Nhưng một con đực Africanus nặng dưới 45kg, con cái còn nhẹ hơn rất nhiều, trong khi khỉ đột có thể đạt tới 150kg.

Vậy tại sao Lucy và đồng loại phải rời bỏ những thân cây và khu rừng? Có thể vì chúng không còn lựa chọn nào. Eo đất Panama trồi lên cắt dòng chảy từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương, làm chuyển hướng các dòng hải lưu nóng ra xa Bắc Cực, và dẫn đến sự khởi đầu của một giai đoạn băng hà khắc nghiệt ở phía bắc. Tại châu Phi, xuất hiện hiện tượng khô và lạnh theo mùa, dần biến các khu rừng thành thảo nguyên. John Gribbin đã viết: “Lucy và đồng loại của mình không bỏ các khu rừng, chính các khu rừng đã bỏ chúng.”

Việc phải đi xuống các thảo nguyên khiến vượn người phải có nhiều khả năng hơn. Một con vượn đứng thẳng rõ ràng sẽ nhìn xa hơn, nhưng cũng dễ bị phát hiện hơn. Ngày nay, chúng ta cũng rất dễ bị tổn thương khi ở trong thiên nhiên hoang dã. Hầu hết các sinh vật lớn đều khỏe hơn, nhanh hơn và nhiều răng hơn chúng ta. Đối mặt với những hiểm nguy, con người hiện đại chỉ có hai thế mạnh: chúng ta có bộ não để suy nghĩ và tay để ném hoặc sử dụng vũ khí. Chúng ta là những sinh vật duy nhất có thể tấn công từ một khoảng cách xa, do đó có thể tồn tại với thể chất hạn chế.

Mọi yếu tố nói trên thôi thúc sự tiến hóa nhanh chóng của một bộ não ưu việt hơn, nhưng rất tiếc nó lại không xảy ra. Trong hơn ba triệu năm, Lucy và vượn người phương Nam khác hầu như không thay đổi gì. Não chúng không lớn lên và chẳng có dấu hiệu nào cho thấy chúng biết dùng công cụ. Kỳ lạ hơn nữa, trong khoảng một triệu năm, chúng sống bên cạnh những vượn người biết sử dụng công cụ, song lại chưa từng nắm lấy cơ hội này.

Trong ba triệu đến hai triệu năm trước, có khoảng sáu nhóm thuộc họ người cùng tồn tại ở châu Phi. Tuy nhiên, chỉ có một nhóm tiếp tục tiến hóa: đó là Homo (chi Người), xuất hiện trong màn sương mù khoảng hai triệu năm trước. Chúng ta không biết rõ mối quan hệ của chi Người và vượn người phương Nam, mà chỉ biết chúng đã cùng tồn tại khoảng một triệu năm, trước khi tất cả người vượn phương Nam, cả mạnh lẫn yếu, đều biến mất khỏi Trái Đất một cách đột ngột và bí ẩn. Không ai biết tại sao, theo Matt Ridley, “có thể là tổ tiên của chúng ta đã ăn thịt chúng.”

Trong phân loại học, chi Người sẽ bắt đầu với Homo habilis, một loài mà chúng ta hầu như không biết gì và kết thúc bằng chúng ta, Homo sapiens (người hiện đại hay còn gọi là người tinh khôn). Nằm giữa khoảng đó, tùy theo quan điểm mà bạn ủng hộ, sẽ có đến nửa tá các loài khác: Homo ergaster, Homo neanderthalensis, Homo rudolfensis, Homo heidelbergensis, Homo erectus và Homo antecessor.

Homo habilis (người khéo léo) được Louis Leakey cùng các đồng nghiệp đặt tên vào năm 1964, và được gọi như vậy vì họ là những người đầu tiên biết sử dụng công cụ, dù đơn giản. Đó là một sinh vật khá nguyên thủy, giống tinh tinh nhiều hơn người, song chúng có bộ não lớn hơn của Lucy khoảng 50% với kích thước tương ứng, nhờ đó, chúng là Einstein của thời đại đó. Không có lý giải thuyết phục nào nói lên tại sao hai triệu năm trước, bộ não người đột nhiên bắt đầu phát triển. Trong một thời gian dài người ta cho rằng việc đứng thẳng và có bộ não lớn liên quan mật thiết với nhau – và việc ra khỏi rừng rậm cũng đòi hỏi những chiến lược khôn ngoan kích thích bộ não lớn dần. Vì vậy thật ngạc nhiên, sau khi phát hiện nhiều lần các loài hai chân thiếu trí tuệ, hóa ra chúng chẳng có mối liên hệ gì với nhau.

Tattersall nói: “Chúng ta không biết được tại sao não con người lại phát triển lớn đến vậy.” Đây là một cơ quan phức tạp, vì tuy chỉ chiếm 2% khối lượng cơ thể nhưng tiêu tốn hết 20% tổng năng lượng. Chúng cũng tương đối kén chọn thứ làm nhiên liệu. Nếu bạn chẳng bao giờ ăn một miếng mỡ nào, não cũng chẳng phàn nàn, vì nó không bao giờ động đến món đó. Nó chỉ muốn glucose, rất nhiều là khác, và điều đó dẫn tới sự thiếu hụt ở các cơ quan khác. Guy Brown ghi lại: “Cơ thể luôn có nguy cơ bị một bộ não quá tham lam tranh ăn, nhưng mặt khác cũng không được phép bỏ đói nó, vì điều đó sẽ dẫn tới cái chết.” Não càng lớn, nó càng cần nhiều thức ăn, và rủi ro cho cơ thể lại càng tăng.

Tattersall cũng cho rằng sự phát triển của bộ não là một tai nạn trong tiến hóa. Ông đồng tình với Stephen Jay Gould rằng nếu bạn có thể quay ngược cuộn băng sự sống, đủ để tới thuở bình minh của loài vượn người, thì khá nhiều khả năng người hiện đại hoặc bất cứ loài nào tương tự có thể sẽ không còn ở đây nữa.

Ông nói, “con người khó mà chấp nhận sự thật là chúng ta thực ra chẳng phải là thành quả của điều cao siêu gì. Loài người luôn hão huyền tưởng rằng tiến hóa là cả một quá trình, được sắp đặt trước để tạo ra họ. Đến tận thập niên 1970, các nhà nhân chủng học vẫn nghĩ như vậy.” Thực tế, đến tận năm 1991, trong cuốn sách nổi tiếng Stages of Evolution [tạm dịch: Các giai đoạn tiến hóa], C. Loring Brace vẫn kiên trì ủng hộ một quá trình tiến hóa tuyến tính, cho rằng chỉ có một ngõ cụt tiến hóa dành cho vượn người phương Nam mạnh mẽ. Những giống loài khác chỉ là một tiến trình thẳng băng – riêng loài thuộc họ người cầm trên tay một chiếc gậy tiến hóa, truyền cho các thế hệ sau trẻ, khỏe hơn. Tuy nhiên, gần như chắc chắn thường có những loài đã đi trên những con đường mòn không dẫn đến đâu.

Chúng ta đã gặp đủ mọi may mắn vì bắt đầu từ một nhóm sinh vật biết sử dụng công cụ, nguồn gốc không rõ ràng, rồi đột nhiên xuất hiện đan chéo với người khéo léo đầy tranh cãi. Đó chính là người đứng thẳng, đã được Eugène Dubois phát hiện tại Java vào năm 1891. Tùy thuộc vào nguồn số liệu tham khảo, loài này tồn tại từ khoảng 1,8 triệu năm trước cho mãi đến gần 20.000 năm về trước.

Theo tác giả cuốn Java Man, người đứng thẳng là một gạch chia: tất cả những sinh vật trước đó sẽ có đặc điểm giống vượn và sau đó sẽ giống người. Chúng là sinh vật đầu tiên biết săn bắt, sử dụng lửa và các công cụ phức tạp. Đó cũng là loài đầu tiên biết sử dụng lán trại và chăm sóc những con già yếu. So với các loài trước đó, thì loài này vừa giống người về thể chất lại vừa có nhân tính, chúng có chi dài và rất khỏe (hơn người hiện đại rất nhiều), cộng với sự thông minh đã giúp chúng phát triển mạnh mẽ trên mọi khu vực. So với các loài vượn người khác, thì người đứng thẳng rất lớn, mạnh mẽ, đông đảo và thông minh. Não của chúng phát triển đến mức độ cao nhất lúc bấy giờ.

Theo Alan Walker của Đại học Penn, người đứng thẳng là các thợ săn của thời đó. Nếu nhìn vào mắt chúng, có vẻ đó là một con người, nhưng “bạn không phải họ hàng của chúng và sẽ lập tức trở thành con mồi”. Cũng theo Walker, chúng có cơ thể của một người lớn và trí não của trẻ em.

Mặc dù người đứng thẳng đã được biết đến một thế kỷ, vẫn chỉ có các hóa thạch như các mảnh xương vụn và chưa đủ tạo thành một bộ xương hoàn chỉnh. Phải đến những năm 1980, khi có những phát hiện bất ngờ ở châu Phi, người ta mới nhận thức được đó chính là tổ tiên của loài người hiện đại. Thung lũng hẻo lánh của hồ Turkana (trước đây là hồ Rudolf) ở Kenya hiện là một trong những nơi phát hiện được nhiều xương người cổ nhất trên thế giới, song trước đó, người ta không hề chú ý đến vùng này. Chỉ vì chuyến bay của Richard Leakey đã bị đổi hướng, và bay qua vùng này, nên ông chợt nghĩ nó có thể có tiềm năng. Một đội tìm kiếm đã được cử đến, nhưng ban đầu không thấy gì. Sau đó, cuối buổi chiều, Kamoya Kimeu, thợ săn hóa thạch cừ khôi nhất của Leakey, đã tìm thấy một mảnh xương lông mày của sinh vật họ người trên một ngọn đồi cách xa hồ. Đội của ông đã tiếp tục đào bới vì tin tưởng vào bản năng của Kimeu và thật ngạc nhiên, họ tìm thấy một bộ xương người đứng thẳng gần như hoàn chỉnh. Đó là xương một cậu bé khoảng 9 đến 12 tuổi đã chết cách đây 1,54 triệu năm. Bộ xương có cấu trúc giống hệt người hiện đại, cậu bé Turkana chắc chắn là một trong số chúng ta.

KNM-ER 1808, một phụ nữ 1,7 triệu năm tuổi, cũng được Kimeu tìm thấy ở hồ Turkana, đã mang lại cho giới khoa học một cái nhìn thú vị về người đứng thẳng. Xương của người này bị biến dạng và tăng trưởng thô, hậu quả của một căn bệnh vô cùng đau đớn mà người ta gọi là rối loạn thừa vitamin A, do ăn quá nhiều gan của động vật ăn thịt. Điều này trước tiên cho thấy rằng người đứng thẳng là động vật ăn thịt. Ngạc nhiên hơn nữa, dựa vào mức tăng trưởng, người ta kết luận rằng người phụ nữ này đã sống chung với căn bệnh nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Rõ ràng đã có người chăm sóc cho cô ta. Đó là dấu hiệu đầu tiên về nhân tính trong quá trình tiến hóa của họ người.

Người ta còn phát hiện ra rằng não người đứng thẳng còn có (hoặc, có thể có) vùng Broca, một vùng ngôn ngữ ở thùy não trái. Tinh tinh không có đặc điểm này. Alan Walker tin các ống tủy sống không đủ lớn và phức tạp để tạo ra tiếng nói, và người đứng thẳng chỉ giao tiếp như loài tinh tinh hiện đại. Nhiều người khác, trong đó có Richard Leakey, thì cho rằng chúng có thể nói được.

Đã có lúc người đứng thẳng là sinh vật họ người duy nhất. Chúng mạo hiểm chưa từng thấy và phát triển với tốc độ chóng mặt. Các dấu vết hóa thạch, nếu được hiểu theo nghĩa đen, cho thấy một số cá nhân đã đến Java cùng thời điểm, hoặc trước khi các sinh vật họ người rời châu Phi. Điều này khiến một số nhà khoa học nhiều ý tưởng cho rằng loài người hiện đại có thể có nguồn gốc châu Á thay vì châu Phi, mặc dù chưa có loài tiền thân nào được phát hiện ngoài châu Phi. Họ người châu Á cũng xuất hiện đồng thời. Dù sao, gốc gác châu Á chỉ làm đảo lộn vấn đề về sự di chuyển: bạn sẽ giải thích ra sao về việc người Java lại đến được châu Phi nhanh như vậy.

Có nhiều cách giải thích hợp lý cho việc làm thế nào người đứng thẳng có thể xuất hiện ở châu Á nhanh chóng. Trước hết, có một khoảng dao động lớn trong cách xác định niên đại của người cổ. Nếu tuổi thật của xương người đứng thẳng châu Phi ở đỉnh khoảng dao động và người vượn châu Á ở đáy khoảng đó, rõ ràng người đứng thẳng châu Phi sẽ có thêm rất nhiều thời gian tìm đường đến châu Á. Cũng hoàn toàn có thể còn rất nhiều xương người đứng thẳng sớm hơn chưa được tìm thấy ở châu Phi. Hơn nữa, niên đại Java có thể không chính xác.

Chỉ có một điều chắc chắn là khoảng hơn 1 triệu năm trước, các sinh vật đứng thẳng hiện đại đã bắt đầu rời châu Phi và đi khắp thế giới. Vùng sinh sống của họ tăng trung bình 40km mỗi năm, qua rất nhiều dãy núi cao, sông sâu, sa mạc, cùng vô số trở ngại khác, cộng với sự khác biệt về khí hậu và thức ăn. Làm thế nào họ có thể di chuyển dọc theo phía Tây của Biển Đỏ, một khu vực nổi tiếng khô cằn khốc liệt, mà trong quá khứ còn khốc liệt hơn. Chính những hoàn cảnh buộc chúng phải rời châu Phi lại càng khiến cho sự ra đi trở nên khó khăn hơn. Tuy nhiên, bằng cách nào đó, họ vẫn tìm được con đường đến những vùng đất mới.

Đó là điểm dừng cho mọi tranh luận. Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo trong lịch sử loài người vẫn là một cuộc tranh luận dài, như ta sẽ thấy trong chương tiếp theo.

Trước khi ta chuyển qua câu chuyện khác, hãy nhớ rằng sau dòng chảy tiến hóa hơn 5 triệu năm đó, từ vượn người phương Nam đến loài người hiện đại, đã tạo ra một sinh vật với 98,4% gen giống loài tinh tinh. Thậm chí, sự khác biệt về gen giữa loài ngựa và ngựa vằn, loài cá heo và cá heo mỏ còn nhiều hơn giữa chúng ta và các sinh vật lông lá mà tổ tiên xa xôi của chúng ta bỏ lại phía sau khi lên đường thống trị thế giới.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.