Năm 1787, có ai đó tại New Jersey – chính xác là ai thì không rõ – tìm thấy một khúc xương đùi khổng lồ chìa ra bờ suối ở Woodbury Creek. Khúc xương đó không thuộc về bất cứ loài sinh vật nào còn sống, nhất là ở New Jersey. Với những gì ít ỏi chúng ta biết được ngày nay, thì có lẽ đó là xương của một con khủng long mỏ vịt khổng lồ. Tại thời điểm đó, người ta chưa biết tới các loài khủng long.
Khúc xương được gửi tới tiến sĩ Caspar Wistar, một nhà giải phẫu hàng đầu của cả nước, và ông đã mô tả về nó tại cuộc họp của Hội Triết học Hoa Kỳ ở Philadelphia vào mùa thu năm đó. Không may, Wistar đã không thể nhận ra được điểm nổi bật của khúc xương nên chỉ có thể đưa ra được vài nhận định thận trọng và không mấy hấp dẫn rằng nó thật sự khổng lồ. Vì thế, ông đã bỏ lỡ cơ hội vượt trước bất cứ ai nửa thế kỷ để trở thành người phát hiện ra khủng long. Thực ra, khúc xương thu hút được ít sự quan tâm đến nỗi nó bị bỏ xó trong một kho lưu trữ và cuối cùng đã biến mất. Điều đó có nghĩa là xương khủng long đầu tiên được phát hiện đã biến mất.
Việc khúc xương không gây được chú ý thật là kỳ lạ, bởi nó xuất hiện vào đúng thời điểm nước Mỹ đang phát sốt vì những gì còn sót lại của các sinh vật cổ xưa to lớn. Cơn sốt đó là do một khẳng định của nhà tự nhiên học người Pháp, Bá tước Buffon – người đã đốt nóng những khối cầu trong chương trước – rằng mọi sinh vật sống ở Tân Thế giới đều hạ cấp ở mọi khía cạnh so với ở Cựu Thế giới1. Nước Mỹ, Buffon viết trong tác phẩm vĩ đại và đầy tự tôn Histoire naturelle [tạm dịch: Lịch sử tự nhiên], là một vùng đất nơi nguồn nước thì cạn kiệt, đất đai thì cằn cỗi, động vật thì vừa nhỏ thó lại thiếu sức sống, thể trạng của chúng yếu đuối bởi hơi độc bốc lên từ những đầm lầy thối rữa và những khu rừng không có ánh sáng mặt trời. Trong một môi trường như vậy, ngay cả những người Anh-điêng bản địa cũng thiếu nam tính. “Họ không có tóc, râu hay lông trên cơ thể,” Buffon nêu lên một cách thông thái, “và không hấp dẫn đối với phụ nữ”. Cơ quan sinh dục của họ “nhỏ và yếu ớt”.
1. Tân Thế giới chỉ châu Mỹ. Cựu Thế giới chỉ những nơi đã được người châu Âu biết đến trước năm 1492.
Những quan sát của Buffon nhận được sự ủng hộ đầy bất ngờ từ các tác giả khác, nhất là những người mà các kết luận của họ không bị phức tạp hóa bởi đã quá quen thuộc với đất nước này. Một người Hà Lan là Corneille de Pauw đã công bố công trình nổi tiếng Recherches philosophiques sur les Américains [tạm dịch: Những nghiên cứu triết học về người Mỹ] cho rằng đàn ông Mỹ không chỉ không có khả năng duy trì nòi giống mà còn “thiếu nam tính đến mức họ có sữa trong bầu ngực”. Những quan điểm đó có sức sống lâu đến mức không tưởng và bạn sẽ dễ dàng thấy chúng được lặp đi lặp lại trong các tài liệu châu Âu cho đến gần cuối thế kỷ XIX.
Không có gì bất ngờ khi những lời nhạo báng đó đã được tiếp nhận một cách phẫn nộ tại Mỹ. Thomas Jefferson đã phản bác một cách dữ dội (và cũng khá bối rối, trừ khi mọi người hiểu được ngữ cảnh) trong tác phẩm Notes on the State of Virginia [tạm dịch: Các ghi chú về Bang Virginia] và thuyết phục bạn của ông ở New Hampshire, tướng John Sullivan, phái 20 lính vào các khu rừng phía Bắc nhằm tìm một con nai sừng tấm to bằng con bò để đặt ra trước Buffon như một bằng chứng về tầm vóc và sự uy nghiêm của động vật bốn chân ở Mỹ. Họ mất hai tuần để tìm thấy một đối tượng phù hợp. Con nai sừng tấm khi bị bắn hạ không may lại thiếu mất cặp sừng mà Jefferson đã yêu cầu, nhưng Sullivan đã nhanh trí đề xuất lấy gạc của một con hươu hay một con nai khác thế vào. Đằng nào thì ở Pháp cũng đâu có ai biết được việc này?
Cùng lúc đó, tại Philadelphia – thành phố của Wistar – các nhà tự nhiên học đã bắt đầu sắp xếp xương của một sinh vật khổng lồ giống như con voi, ban đầu được gọi là “sinh vật bí ẩn của nước Mỹ”, nhưng về sau được xác định, dù không thật sự chính xác, là một con voi ma mút. Những chiếc xương đầu tiên được phát hiện ở một nơi gọi là Big Bone Lick tại Kentucky, nhưng sau đó được tìm thấy ở khắp nơi. Nước Mỹ rõ ràng đã từng là quê hương của một loài sinh vật quan trọng – nó chắc chắn sẽ phủ nhận những luận điểm ngớ ngẩn của Buffon ở xứ Gô Loa.
Trong nỗ lực làm sáng tỏ tầm vóc và sức mạnh của sinh vật bí ẩn, các nhà tự nhiên học Mỹ dường như đã đi quá xa. Họ đánh giá kích cỡ của nó lớn hơn đến 6 lần và gán cho nó những móng vuốt đáng sợ, trong khi thật ra chúng thuộc về một con Megalonyx, tức con lười đất khổng lồ, được phát hiện gần đó. Đáng chú ý là họ tự thuyết phục rằng con vật có “sự nhanh nhẹn và tàn bạo của loài hổ”, và được minh họa bằng hình ảnh: từ những tảng đá, nó tấn công con mồi bằng sự khéo léo của loài mèo. Khi nanh được phát hiện, chúng được gắn lên đầu con vật này theo mọi cách sáng tạo có thể. Một nhà phục chế còn gắn các nanh theo chiều ngược, như nanh của một con mèo răng kiếm, điều đó thật sự gây ấn tượng về sự hung tợn. Một người khác lại sắp xếp các nanh để chúng khum xuống dựa theo một giả thuyết đầy hấp dẫn rằng sinh vật này từng sống dưới nước và đã sử dụng nanh để neo mình vào các thân cây khi ngủ lơ mơ. Nhận định đúng nhất về sinh vật bí ẩn này là việc nó có lẽ đã tuyệt chủng – một chi tiết mà Buffon vui mừng tóm lấy làm bằng chứng về tính chất thoái hóa không phải bàn cãi của thiên nhiên nơi đây.
Buffon qua đời năm 1788, nhưng cuộc tranh luận thì vẫn tiếp tục. Vào năm 1795, một số xương được lựa chọn để gửi sang Paris, nơi chúng được ngôi sao của ngành cổ sinh vật học, một chàng quý tộc trẻ là Georges Cuvier, kiểm tra. Cuvier đã khiến nhiều người ngưỡng mộ vì biệt tài xếp những đống xương rời rạc thành các hình dạng. Người ta cho rằng anh có thể mô tả bề ngoài và đặc trưng của một con vật chỉ nhờ một chiếc răng hay mảnh xương hàm của nó và dễ dàng gọi tên giống loài của nó. Nhận thấy rằng không có ai ở Mỹ có ý định đưa ra một mô tả chính thức về con thú khổng lồ này, Cuvier đã làm vậy, nhờ đó được công nhận là người đã phát hiện ra nó. Ông gọi nó là mastodon (voi răng mấu, thật bất ngờ, ý nghĩa của tên gọi này là “răng hình núm vú”).
Được tạo cảm hứng bởi cuộc tranh luận, vào năm 1796, Cuvier đã viết một công trình rất quan trọng, Note on the Species of Living and Fossil Elephants [tạm dịch: Ghi chép về các loài voi đang sống và đã hóa thạch], trong đó, lần đầu tiên ông đưa ra một lý thuyết chính thống về sự tuyệt chủng. Ông cho rằng có đôi lần Trái Đất đã trải qua những thảm họa toàn cầu, trong đó có các nhóm sinh vật sẽ bị loại bỏ. Với những người theo đạo, trong đó có Cuvier, ý tưởng này đem lại những hàm ý không mấy thoải mái vì nó ám chỉ vô số lần vô trách nhiệm của Thiên Chúa. Ngài tạo ra muôn loài làm gì để cuối cùng chỉ nhằm chấm dứt sự tồn tại của chúng. Ý niệm này trái ngược với niềm tin vào Chuỗi sống vĩ đại [Great Chain of Being], theo đó thế giới có một trật tự chính xác và mọi sinh vật tồn tại đều có không gian và mục đích riêng, luôn và mãi mãi là như thế. Jefferson ban đầu không thể chấp nhận rằng cả một loài được phép biến mất (hay, gần như thế là tiến hóa). Vì thế, khi nhận thấy việc đưa một đoàn thám hiểm vào sâu trong nước Mỹ ở vùng Mississippi vừa mang ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa chính trị, ông đã đồng ý ngay và hy vọng họ sẽ tìm thấy những con voi răng mấu hoặc các sinh vật ngoại cỡ khác đang gặm cỏ trên những đồng bằng mênh mông. Thư ký riêng của Jefferson và cũng là người bạn tin cẩn của ông, Meriwether Lewis, được chọn là đồng chỉ huy cuộc viễn thám cùng William Clark, cùng một nhà tự nhiên học hàng đầu. Người được chọn để đưa ra lời khuyên về việc phải tìm kiếm điều gì liên quan tới các loài động vật còn sống và đã chết không ai khác chính là Caspar Wistar.
Cùng năm đó – thực ra là cùng tháng – chàng quý tộc Cuvier trứ danh đã đưa ra các lý thuyết về tuyệt chủng của mình ở Paris, còn ở đầu kia của eo biển Anh, một người Anh kém nổi bật hơn đã hiểu rõ giá trị của các hóa thạch vốn bị phân tầng từ rất lâu. William Smith là một giám sát xây dựng còn trẻ tại Kênh đào Mỏ than Somerset. Vào tối ngày 5 tháng Một năm 1796, khi đang ngồi trong nhà lưu trú tại Somerset, ông chợt nảy ra một ý tưởng mà về sau sẽ làm nên tên tuổi của ông. Để giải mã các loại đá, cần phải dựa vào một công cụ thích hợp nào đó nhằm xác định đá chứa than từ kỷ Devon trẻ hơn đá từ kỷ Cambri từ xứ Wales. Smith đã nhận ra rằng câu trả lời nằm ở các hóa thạch. Với mỗi thay đổi trong địa tầng, một số loại hóa thạch nhất định biến mất trong khi các loại khác vẫn lưu lại trong các lớp sau. Bằng cách ghi chú xem các loài nào xuất hiện ở lớp đá nào, bạn có thể tính tuổi tương đối của các lớp đá. Dựa vào kiến thức của một nhà khảo sát, Smith lập ngay được một bản đồ địa tầng nước Anh, tài liệu này được xuất bản vào năm 1815 sau rất nhiều nỗ lực và trở thành nền tảng của địa chất học hiện đại. Câu chuyện này được ghi lại đầy đủ trong cuốn sách nổi tiếng của Simon Winchester – The map that changed the world [tạm dịch: Tấm bản đồ làm thay đổi thế giới].
Nhưng dù đã có ý tưởng này, Smith lại không mấy hứng thú với việc tìm hiểu nguyên nhân khiến các địa tầng đã được sắp xếp như vậy. “Tôi không còn băn khoăn về nguồn gốc của địa tầng và tự nhủ rằng bởi lẽ nó phải là như vậy,” ông thuật lại. “Những câu hỏi tại sao và do đâu không thể xuất hiện trong lĩnh vực của một nhà giám sát khai khoáng.”
Phát hiện của Smith về địa tầng càng khiến mặt đạo Đức trong vấn đề tuyệt chủng thêm đen tối. Trước hết, nó khẳng định rằng Chúa đã xóa bỏ các sinh vật dù không thường xuyên nhưng lặp lại nhiều lần. Điều này khiến Ngài không chỉ vô tâm mà còn không thân thiện. Nó cũng khiến việc giải thích tại sao một số loài bị loại trừ trong khi một số loài vẫn bình an vô sự cho đến niên đại sau trở nên vô cùng cần thiết. Rõ ràng có nhiều sự tuyệt chủng hơn là được nhắc đến trong trận Đại hồng thủy của Noah, trận Đại hồng thủy được nhắc đến trong Kinh Thánh. Cuvier đã giải thích vấn đề này theo một cách để tự làm mình hài lòng rằng Sáng thế ký chỉ nhắc tới trận lụt gần đây nhất. Dường như Chúa không muốn làm rối trí hoặc cảnh báo Moses về những lần tuyệt chủng trước đó, bởi chúng không mấy quan trọng.
Vào những năm đầu của thế kỷ XIX, hóa thạch thật sự đóng một vai trò khá quan trọng, điều này khiến việc Wistar không nhận thấy ý nghĩa của đoạn xương khủng long trở nên đáng tiếc hơn bao giờ hết. Đột nhiên, trong rất nhiều hoàn cảnh khác nhau, các mẩu xương được phát hiện ở khắp mọi nơi. Có một vài cơ hội để người Mỹ giành lại vinh quang phát hiện khủng long, nhưng tất cả đều bị lãng phí. Vào năm 1806, đoàn thám hiểm của Lewis và Clark đi qua Hell Creek Formation ở Montana, đó là nơi những người săn tìm hóa thạch sau này thật sự dẫm phải các mẩu xương khủng long, thậm chí kiểm tra một mẩu xương khủng long nằm trong đá nhưng không cắt nghĩa nổi nó. Những đoạn xương và các dấu chân hóa thạch khác được tìm thấy ở thung lũng sông Connecticut vùng New England sau khi một mục đồng tên là Plinus Moody lần theo những dấu vết cổ xưa trên một mỏm đá tại South Hadley, Massachusetts. Ít nhất là một trong số các dấu vết này thật sự tồn tại – đáng chú ý là còn có các mẩu xương của một con khủng long Anchisaurus, hiện thuộc bộ sưu tập của Bảo tàng Peabody, tại Yale. Được phát hiện vào năm 1818, chúng là một trong những khúc xương khủng long đầu tiên được kiểm tra và lưu giữ, nhưng đáng tiếc là mãi đến năm 1855 chúng mới được nhận dạng. Cũng vào năm 1818 này, Caspar Wistar qua đời, nhưng thật bất ngờ, ông đã trở nên bất tử khi nhà thực vật học Thomas Nuttall dùng tên ông để đặt cho một loại cây leo. Một số nhà thực vật học thuần túy vẫn nhất quyết đánh vần nó là wistaria.
Tuy nhiên, vào thời gian này, động lực của ngành cổ sinh vật học đã chuyển sang Anh. Vào năm 1812, tại Lyme Regis ở bờ biển Dorset, một đứa trẻ khác thường có tên là Mary Anning – tầm 11-13, tùy từng tài liệu – đã tìm thấy hóa thạch của một con quỷ biển lạ lùng, dài 17ft (khoảng 5,9m) và ngày nay được biết đến như loài giao long ichthyosaurus, ẩn trong những mỏm đá nguy hiểm và dốc dọc eo biển Manche.
Đây là khởi đầu của một sự nghiệp đáng kể. Anning dành 35 năm tiếp theo thu thập các mẫu hóa thạch để bán cho du khách. (Bà thường được xem là người đã nói một câu líu lưỡi nổi tiếng: “She sells sea–shells on the seashore,” [tạm dịch: Cô ấy bán vỏ sò bên bờ biển]). Bà cũng là người đầu tiên tìm thấy hóa thạch thằn lằn đầu rắn plesiosaurus, một loại quái vật biển khác, và đó là một trong số những hóa thạch thằn lằn ngón cánh đầu tiên và hoàn chỉnh nhất. Cho dù về bản chất thì chúng đều không phải là khủng long, nhưng điều này không mấy quan trọng, vì vào thời điểm đó chưa ai biết khủng long là gì. Thế đã là quá đủ để nhận ra rằng trên thế giời từng có những sinh vật hoàn toàn khác với bất cứ thứ gì chúng ta có thể thấy ngày nay.
Anning không chỉ giỏi tìm kiếm các hóa thạch – dù thật sự thì bà không có đối thủ trong lĩnh vực này – bà còn có khả năng bóc tách chúng một cách nhẹ nhàng nhất để không gây bất cứ hư tổn nào. Nếu bạn có cơ hội đi thăm phòng trưng bày bò sát biển cổ đại ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London, đúng hơn là tôi rất mong bạn đến đó, vì không có cách nào khác có thể đánh giá được tầm vóc và vẻ đẹp của những gì mà người phụ nữ trẻ này đã làm được, bởi bà hoàn toàn không được hỗ trợ mà chỉ sử dụng những công cụ đơn giản nhất trong hoàn cảnh làm việc gần như bất khả thi. Chỉ riêng con thằn lằn đầu rắn đã khiến bà mất 10 năm kiên nhẫn khai quật. Dù không được đào tạo nhưng Anning có thể cung cấp những bản vẽ và mô tả hết sức đáng tin cậy cho các học giả. Nhưng dù có lợi thế kỹ năng, nhưng những phát hiện lớn thường rất hiếm hoi, và bà đã phải sống gần như cả cuộc đời trong nghèo túng.
Khó có thể tưởng tượng được việc có ai đó trong lịch sử ngành cổ sinh vật học bị quên lãng như Mary Anning, nhưng đúng là có một người gần như vậy. Tên ông là Gideon Algernon Mantell, một bác sĩ ở vùng nông thôn Sussex.
Mantell là một người tập hợp nhiều khuyết điểm – vô dụng, vị kỷ và lơ là gia đình – nhưng lại là một nhà cổ sinh vật học không chuyên cần mẫn hơn bất cứ ai. Ông cũng may mắn vì có một người vợ tận tụy và tinh tường. Vào năm 1822, trong khi ông đang đến nhà một bệnh nhân ở Sussex, bà Mantell đi dạo trên một con đường mòn gần đó và bà đã thấy một vật thể lạ lùng, một mẩu xương màu nâu uốn cong, có kích cỡ bằng một quả óc chó nhỏ, trong một đống đổ nát được dùng để lấp các ổ gà. Biết chồng mê các hóa thạch, và cho rằng đây có thể là một trong số chúng, bà đã mang về cho ông. Mantell có thể nhìn thấy ngay rằng đây là một chiếc răng hóa thạch, và sau một hồi xem xét ông chắc rằng nó thuộc về một loài bò sát ăn thực vật có kích cỡ cực kỳ lớn – dài hàng chục foot – sống vào kỷ Phấn trắng. Ông đã đúng về mọi khía cạnh; nhưng đây là những kết luận táo bạo vì chưa từng có gì tương tự được nhìn thấy hoặc tưởng tượng ra.
Nhận thấy rằng phát hiện của ông sẽ thay đổi cực lớn những hiểu biết thông thường của mọi người về lịch sử, và nhờ sự thúc bách của bạn ông, mục sư William Buckland – người đàn ông của áo choàng và các thí nghiệm – về việc phải tiến hành một cách thận trọng, Mantell đã hy sinh 3 năm gian khổ để tìm kiếm bằng chứng bổ sung cho các kết luận của mình. Ông đã gửi chiếc răng tới Cuvier ở Paris để tham khảo ý kiến, nhưng người Pháp vĩ đại này đã nhầm nó là răng của một con hà mã. (Sau này Cuvier đã gửi lời xin lỗi về sự nhầm lẫn không mấy điển hình này). Một ngày nọ, trong khi đang nghiên cứu tại Bảo tàng Hunterian tại London, Mantell đã thảo luận với một đồng nghiệp, người cho rằng chiếc răng đó rất giống răng của một loài vật ông đã và đang nghiên cứu, kỳ nhông Nam Mỹ. Một so sánh vội vàng đã xác nhận sự giống nhau này. Vì thế sinh vật của Mantell trở thành khủng long iguanodon, đặt theo một loài thằn lằn nhiệt đới hay phơi nắng không hề liên quan ở bất cứ khía cạnh nào.
Mantell chuẩn bị một bài báo để gửi tới Hội Hoàng gia. Không may, có một vấn đề nảy sinh, đó là một con khủng long khác đã được tìm thấy ở một mỏ đá tại Oxfordshire và đã được mô tả chính thức, bởi chính mục sư Buckland, người đã khuyên ông không nên vội vàng. Đó là một con khủng long megalosaurus, hay còn gọi là thằn lằn vĩ đại, và tên của nó thực ra được tiến sĩ James Parkinson đề xuất với Buckland. Cần nhớ lại rằng, Buckland trước hết là một nhà địa chất học, và ông đã chứng tỏ điều này trong công trình về thằn lằn vĩ đại. Trong báo cáo gửi Văn kiện của Hội Địa chất London, ông lưu ý rằng bộ răng của sinh vật này không gắn trực tiếp vào xương hàm như thằn lằn mà nằm trong các hốc như cá sấu. Dù biết điều này, Buckland vẫn không nhận thấy ý nghĩa của nó: chẳng hạn, thằn lằn vĩ đại là một loài hoàn toàn mới. Tuy vậy, dù báo cáo đó không mấy sắc sảo hay sâu sắc, nó vẫn là mô tả đầu tiên được xuất bản về khủng long – và Buckland, chứ không phải người xứng đáng hơn nhiều là Mantell, đã vinh dự trở thành người phát hiện dòng sinh vật cổ đại này.
Không biết rằng sự thất vọng sẽ còn bám lấy mình suốt cuộc đời còn lại, Mantell tiếp tục săn các hóa thạch – ông tìm thấy một loài khổng lồ khác, khủng long hylaeosaurus, vào năm 1833 – và mua những hóa thạch khác từ các phu mỏ và nông dân cho đến khi ông có bộ sưu tập thuộc loại lớn nhất ở Anh. Mantell là một bác sĩ xuất sắc và cũng là một nhà sưu tầm hóa thạch có năng khiếu, nhưng ông không thể cùng lúc hỗ trợ cả hai tài năng của mình. Khi đam mê sưu tầm ngày càng lớn, ông bỏ bê nghề thầy thuốc. Chẳng mấy chốc, các hóa thạch gần như đã lấp đầy ngôi nhà của ông ở Brighton và ngốn hết phần lớn thu nhập của ông. Đa số phần còn lại được ông dùng để trả cho việc xuất bản những cuốn sách chẳng được mấy ai quan tâm. Cuốn Illustrations of the Geology of Sussex [tạm dịch: Minh họa địa chất học về Sussex], xuất bản năm 1827, chỉ bán được 50 bản và khiến ông bị lỗ 400 bảng Anh – một con số không nhỏ thời đó.
Trong tuyệt vọng, Mantell nảy ra ý tưởng biến ngôi nhà của mình thành bảo tàng và thu phí, nhưng lại nhận ra rằng hành động này sẽ gây tổn hại hình ảnh quý ông của mình, chưa kể hình ảnh của một nhà khoa học – vì thế ông cho phép mọi người đến tham quan miễn phí. Khách kéo đến từng nhóm hàng trăm người, hết tuần này qua tuần khác, quấy rầy cả công việc và cuộc sống gia đình ông. Cuối cùng, ông đành phải bán phần lớn bộ sưu tập để trả nợ. Không lâu sau đó, vợ ông rời bỏ ông, mang theo bốn đứa trẻ.
Nhưng tai họa của ông mới chỉ bắt đầu.
Tại quận Sydenham ở Nam London, ở Công viên Crystal Palace, có một cảnh quan lạ lùng bị quên lãng: những mô hình khủng long có kích cỡ như thật đầu tiên trên thế giới. Ngày nay không có nhiều người tới, nhưng đây đã từng là một trong những điểm du lịch nổi tiếng nhất của London – và vì thế, như Richard Fortey từng nhận xét, đây là công viên theo chủ đề đầu tiên trên thế giới. Có khá nhiều điểm chưa thật chính xác về các mẫu vật. Ngón cái chi trước của con khủng long iguanodon đã được đặt lên mũi như một kiểu sừng nhọn, và nó đứng trên bốn chân vững chãi, thành ra nó trông khá giống một con chó mập mạp quá khổ đến mức ngớ ngẩn. (Trong thực tế, khủng long iguanodon không đứng bằng bốn chân mà là hai chân.) Ngày nay khi nhìn chúng, bạn hầu như không thể nghĩ rằng những con quái vật ì ạch và kỳ lạ này lại là nguyên nhân gây ra những nỗi sợ hãi và thù oán, nhưng đúng là thế. Có lẽ không có gì trong lịch sử tự nhiên lại là tâm điểm của sự căm ghét lâu dài và sâu sắc hơn dòng giống những loài quái vật cổ đại có tên gọi khủng long.
Vào thời điểm xây dựng các mô hình khủng long, Sydenham ở vùng rìa của London, công viên rộng lớn của nó được xem như một nơi tuyệt vời để tái dựng kết cấu Crystal Palace nổi tiếng, được cấu thành bằng gang và thủy tinh, từng là trung tâm của cuộc Đại Triển lãm năm 1851, và do đó công viên mới được đặt tên là Crystal Palace một cách đương nhiên. Những con khủng long được xây dựng bằng bê-tông lại là một kiểu thu hút được thêm vào. Đêm giao thừa năm 1853, một bữa tối nổi tiếng dành cho 21 nhà khoa học nổi bật đã được tổ chức trên tượng con khủng long iguanodon đang xây dở. Gideon Mantell, người đã tìm thấy và nhận dạng loài khủng long này, không có mặt. Ngồi ở đầu bàn là ngôi sao sáng nhất của ngành khoa học cổ sinh vật học non trẻ. Tên ông là Richard Owen, và đến lúc đó, ông đã cống hiến một vài năm hết sức hiệu quả để biến cuộc đời Gideon Mantell thành địa ngục.
Owen lớn lên ở Lancaster, miền Bắc nước Anh, nơi ông được đào tạo để làm bác sĩ. Ông sinh ra để làm một nhà giải phẫu và vì thế ông cống hiến tâm sức cho các nghiên cứu của mình đến mức đôi khi ông mang về nhà tay chân, nội tạng và các bộ phận khác từ các thi thể một cách bất hợp pháp để giải phẫu một cách nhàn nhã. Một lần, khi đang xách một chiếc túi đựng đầu của một thủy thủ người châu Phi mà mình đã cắt ra, Owen đã sẩy chân trượt ngã trên nền sỏi ẩm ướt, và kinh hoàng nhìn chiếc đầu lăn xuống đường mòn rồi lọt vào cái cửa đang mở của một ngôi nhà, và chỉ dừng lại khi đã vào đến phòng khách. Gia chủ đã vô cùng bàng hoàng khi thấy một chiếc đầu người lăn lông lốc và dừng lại dưới chân mình. Người ta đoán rằng họ còn chưa kịp hoàn hồn, thì ngay lập tức có một người đàn ông trẻ với gương mặt đầy đặn xông vào, không nói một lời, nhặt lấy chiếc đầu và lao ra ngoài.
Vào năm 1825, ở tuổi 21, Owen chuyển tới London và được trường Phẫu thuật Hoàng gia phân công hỗ trợ tổ chức sắp xếp bộ sưu tập đa dạng nhưng không mấy ngăn nắp các mẫu vật y tế và giải phẫu. Hầu hết chúng được John Hunter, một bác sĩ phẫu thuật danh tiếng và là người sưu tầm không biết mệt mỏi những mẫu vật kỳ lạ trong ngành y, trao lại cho nhà trường nhưng lại chưa bao giờ được đánh số và sắp xếp, phần lớn bởi những tài liệu giải thích tầm quan trọng của mỗi mẫu vật đã thất lạc sau khi Hunter mất.
Owen nhanh chóng tự làm mình nổi bật với năng lực sắp xếp và suy luận. Đồng thời, ông thể hiện là một nhà phẫu thuật vô song với khả năng tái tạo gần như ngang với Cuvier vĩ đại. Ông trở thành một chuyên gia về phẫu thuật động vật và được ưu tiên tiếp cận với bất cứ con vật nào chết tại Sở thú London. Chúng sẽ được mặc định chuyển tới nhà ông để phục vụ giám định. Ông nhanh chóng trở thành chuyên gia hàng đầu về mọi loài động vật còn sống và đã tuyệt chủng – từ thú mỏ vịt, thú lông nhím và các loài thú có túi mới được phát hiện khác cho đến các loài như chim cưu và một loài chim khổng lồ đã tuyệt chủng có tên là moas – chúng từng sống ở New Zealand cho đến tận khi bị tuyệt chủng do người Maoris ăn thịt. Ông là người đầu tiên mô tả chim thủy tổ [archaeopteryx] sau khi nó được phát hiện ở Bavaria vào năm 1861, và cũng là người đầu tiên viết lời ai điếu cho loài chim cưu. Tổng cộng ông viết khoảng 600 trang về giải phẫu, một con số không hề nhỏ.
Nhưng Owen được nhớ đến chủ yếu là nhờ những nghiên cứu của ông về khủng long. Ông đưa ra thuật ngữ dinosaurian (khủng long) vào năm 1841. Nó có nghĩa là “thằn lằn khủng khiếp”, một cái tên rất không phù hợp. Khủng long, như chúng ta biết, không phải tất cả đều khủng khiếp – một số không to hơn những con thỏ và có lẽ cực kỳ hiền lành – và điều rõ ràng nhất là chúng không phải thằn lằn, mà trên thực tế thuộc một tuyến sinh vật cổ xưa hơn rất nhiều (khoảng 30 triệu năm). Owen biết rất rõ các sinh vật này thuộc loài bò sát và có toàn quyền chọn một từ tiếng Hy Lạp hết sức phù hợp, herpeton [loài khủng khiếp], nhưng vì một lý do nào đó đã không dùng nó. Một lỗi khác dễ tha thứ hơn (xét đến việc thiếu mẫu vật vào thời điểm đó) chính là ông không nhận thấy rằng khủng long không chỉ bao gồm một mà là hai dòng bò sát: dòng ornithischian mỏ chim và dòng saurishchian mõm thằn lằn.
Owen không phải là người hấp dẫn cả về ngoại hình lẫn tính cách. Một bức ảnh của ông ở tuổi trung niên cho thấy một người hốc hác và nham hiểm, giống kiểu nhân vật phản diện trong các vở kịch tình ái thời Victoria với tóc dài rủ xuống và đôi mắt lồi – một gương mặt có thể khiến trẻ con chết khiếp. Về mặt tính cách, ông lạnh lùng, hống hách và không hề do dự trong việc thực hiện các tham vọng của mình. Chúng ta được biết rằng ông là người duy nhất mà Charles Darwin căm ghét. Ngay cả con trai của Owen (tự sát khi còn rất trẻ) cũng nhắc đến “trái tim lạnh lùng đến đáng thương” của cha mình.
Tài năng không thể nghi ngờ của một nhà giải phẫu cho phép ông thoát khỏi trách nhiệm từ những lời dối trá trắng trợn nhất của ông. Vào năm 1857, nhà tự nhiên học T. H. Huxley đang lật qua một ấn bản mới của bộ Churchill’s Medical Directory [tạm dịch: Danh mục Y khoa Churchill] và thấy Owen được nhắc đến với chức danh Giáo sư Giải phẫu học so sánh và Sinh lý học tại trường Mỏ Chính phủ [Government School of Mines], và Huxley đã hết sức kinh ngạc vì chính ông đang giữ chức danh này. Khi hỏi tại sao Churchill lại mắc phải sai lầm sơ đẳng này, ông được biết chính Tiến sĩ Owen đã tự cung cấp thông tin. Còn nữa, một nhà tự nhiên học khác tên là Hugh Falconer đã bắt quả tang Owen tự nhận về mình một trong số các phát hiện của ông. Nhiều người khác cáo buộc Owen đã mượn họ các mẫu vật rồi sau đó chối bay chối biến. Owen cũng vướng vào một cuộc tranh luận gay gắt với nha sĩ của Nữ hoàng về công trạng đối với một lý thuyết liên quan tới sinh lý của răng.
Ông không ngần ngại trù dập những người mà ông không ưa. Khi mới bắt đầu sự nghiệp, Owen đã dùng ảnh hưởng của mình tại Hội Hoàng gia để đánh một chàng trai trẻ là Robert Grant, người chỉ mang tội duy nhất là tỏ ra có triển vọng trở thành một nhà giải phẫu học. Grant hết sức kinh ngạc khi biết mình đột nhiên không còn được tiếp cận các mẫu vật giải phẫu mà anh rất cần cho nghiên cứu của mình. Không thể theo đuổi công việc này nữa, anh chìm đắm trong chán nản và chẳng mấy chốc bị quên lãng. Nhưng không ai khổ sở vì sự ghen ghét của Owen nhiều hơn Gideon Mantell, người vốn đã không may mắn lại ngày càng trở nên bi đát. Sau khi mất vợ con, nghề thầy thuốc và hầu hết bộ sưu tập hóa thạch của mình, Mantell chuyển tới London. Vào năm 1841 – năm định mệnh mà Owen đạt được vinh quang chói lọi nhất là đặt tên và nhận dạng được khủng long – Mantell đã gặp phải một tai nạn khủng khiếp. Khi băng qua Clapham Common bằng xe ngựa, không hiểu vì sao ông bị ngã, rồi vướng vào dây cương và bị kéo lê nước đại trên mặt đất cứng bởi lũ ngựa hoảng hốt. Vụ tai nạn khiến ông bị gù, đi khập khiễng, tổn thương cột sống vĩnh viễn.
Lợi dụng thể trạng yếu ớt của Mantell, Owen bắt đầu xóa bỏ một cách có hệ thống các đóng góp của ông bằng cách tái định danh các loài mà Mantell đã đặt tên nhiều năm trước đó và giành lấy vinh quang phát hiện ra chúng cho mình. Mantell vẫn cố gắng thực hiện nghiên cứu, nhưng Owen đã sử dụng tầm ảnh hưởng của mình tại Hội Hoàng gia để đảm bảo rằng hầu hết các bài viết của ông bị từ chối. Năm 1852, không thể chịu đựng được thêm bất cứ đau đớn và sự trù dập nào nữa, Mantell đã tự sát. Cột sống bị biến dạng của ông đã được giải phẫu rồi gửi tới Trường Phẫu thuật Hoàng gia, và thật mỉa mai, nó được đặt dưới sự quản lý của Richard Owen, giám đốc Bảo tàng Hunterian.
Nhưng sự phỉ báng không kết thúc tại đây. Ngay sau khi Mantell qua đời, một cáo phó cay nghiệt đã xuất hiện trên tờ Literary Gazette. Trong đó, Mantell được mô tả là một nhà giải phẫu học bình thường và những đóng góp khiêm tốn của ông cho lĩnh vực cổ sinh vật học chỉ giới hạn ở “mong muốn có kiến thức chuẩn xác”. Bài cáo phó thậm chí còn xóa bỏ việc Mantell đã phát hiện khủng long iguanodon, và trao công trạng này cho Cuvier, Owen cùng nhiều người khác. Dù không ghi tên tác giả nhưng phong cách viết này đích xác là của Owen và không ai trong giới khoa học tự nhiên nghi ngờ điều này.
Tuy nhiên, vào giai đoạn này, những tội lỗi của Owen đã bắt đầu vượt quá giới hạn. Sự mất uy tín bắt đầu khi một ủy ban của Hội Hoàng gia – mà ông tình cờ là chủ tịch – đã quyết định tặng thưởng ông vinh dự cao quý nhất, Huân chương Hoàng gia, cho một công trình về một loài nhuyễn thể đã tuyệt chủng tên là belemite. “Tuy nhiên,” như Deborah Cadbury viết trong thiên sử ký xuất sắc Terrible Lizard [tạm dịch: Thằn lằn khủng khiếp] về giai đoạn này, “công trình này không thật sự là một phát hiện đầu tiên như bề ngoài”. Belemite thực ra đã được phát hiện bốn năm trước đó bởi một nhà tự nhiên học nghiệp dư là Chaning Pearce, và điều này đã được báo cáo trong một cuộc họp của Hội Địa chất. Owen đã tham dự cuộc họp nhưng lại không đề cập việc này khi ông trình bày báo cáo trước chính Hội Hoàng gia – nơi mà ông đã công bố tên cho sinh vật này một cách không hề ngẫu nhiên, belemnites owenii, để vinh danh chính mình. Dù Owen được phép giữ Huân chương Hoàng gia nhưng vụ này để lại tiếng xấu lâu dài đối với uy tín của ông, ngay cả với số ít những người còn lại vẫn đang ủng hộ ông. Cuối cùng, Huxley đã làm với Owen điều mà Owen từng làm với rất nhiều người khác: bỏ phiếu loại Owen ra khỏi các Hội Hoàng gia và Động vật học. Để sự trả thù được trọn vẹn, Huxley trở thành Giáo sư mới của Bảo tàng Hunterian tại trường Giải phẫu Hoàng gia.
Owen không bao giờ thực hiện thêm các nghiên cứu quan trọng nữa, nhưng ông dành phần còn lại trong sự nghiệp của mình để cống hiến cho một điều mà tất cả chúng ta đều hàm ơn. Vào năm 1856, ông được bổ nhiệm là trưởng bộ phận lịch sử tự nhiên của Bảo tàng Anh, và ở cương vị này, ông đã trở thành động lực thúc đẩy việc thành lập Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London. Tòa nhà khổng lồ đẹp đẽ với lối kiến trúc gothic nằm ở nam Kensington, mở cửa từ năm 1880, là minh chứng cho tầm nhìn của ông.
Trước Owen, các bảo tàng được thiết kế chỉ để phục vụ cho giới tinh hoa, và thậm chí rất khó để được vào tham quan những nơi này. Vào những ngày Bảo tàng Anh mới đi vào hoạt động, các vị khách tiềm năng phải viết đơn và trải qua một cuộc phỏng vấn ngắn để xem có đủ tiêu chuẩn được vào hay không. Họ sẽ phải trở lại lần thứ hai để nhận vé – điều này đồng nghĩa với việc họ đã vượt qua vòng phỏng vấn – và trở lại lần thứ ba để chiêm ngưỡng những kho báu của bảo tàng. Thậm chí cả khi đó, họ cũng phải đi theo nhóm và không được nán lại lâu. Kế hoạch của Owen là chào đón tất cả mọi người, thậm chí đến mức khuyến khích người lao động bình dân tham quan bảo tàng vào buổi tối, và dành phần lớn không gian của bảo tàng để trưng bày công khai. Điều rất đáng lưu ý là ông thậm chí còn đề xuất dán nhãn lên mỗi mẫu trưng bày để người xem có thể hiểu được họ đang chiêm ngưỡng cái gì. Về vấn đề này, thật bất ngờ, T. H. Huxley lại phản đối. Huxley cho rằng các bảo tàng chỉ nên đóng vai trò như các viện nghiên cứu. Nhờ biến Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên thành nơi dành cho đại chúng, Owen đã thay đổi suy nghĩ của chúng ta về mục đích của các bảo tàng.
Tuy nhiên, sự ghen tị với các đồng nghiệp khiến ông không thể thoát ra khỏi những cuộc ganh đua cá nhân. Một trong những hành động chính thức cuối cùng của ông là cuộc vận động hành lang phản đối việc dựng tượng Charles Darwin. Ông đã thất bại dù rằng cũng đạt được một chiến thắng vô tình, muộn màng nào đó. Ngày nay, tượng của ông chiếm lĩnh tầm nhìn chủ đạo từ sảnh chính của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, trong khi Darwin và T. H. Huxley phải ẩn mình sau quán cà phê của bảo tàng, nơi họ nhìn thẳng vào những vị khách đang nhấm nháp trà và bánh mứt.
Có thể cho rằng những mối thù vặt của Richard Owen đánh dấu giai đoạn thoái trào của ngành cổ sinh vật học thế kỷ XIX, nhưng thực ra thì điều tồi tệ hơn vẫn chưa xảy đến, và lần này nó đến từ nước ngoài. Ở nước Mỹ, vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XIX, một cuộc chiến vô cùng nham hiểm đã xảy ra, nếu không muốn nói rằng nó có sức tàn phá rất lớn. Nó xảy ra giữa hai người đàn ông kì lạ và tàn nhẫn, Edward Drinker Cope và Othniel Charles Marsh.
Cả hai đều hư hỏng, cương quyết, tự si, lắm lời, hay ghen tị, đa nghi và không bao giờ vui vẻ. Đồng thời, họ cũng thay đổi cả ngành cổ sinh vật học.
Ban đầu, họ là bạn tốt, rất tôn trọng nhau, thậm chí người này còn đặt tên các hóa thạch mà mình phát hiện theo tên người kia và dành hẳn một tuần vui vẻ làm việc với nhau vào năm 1868. Tuy nhiên, có điều gì đó không hay đã xảy ra – không ai biết rõ là gì – và ngay năm tiếp theo, họ đã biến thành kẻ thù và căm ghét nhau suốt ba thập kỷ tiếp theo. Có thể nói rằng không có hai cá nhân nào trong các ngành khoa học tự nhiên từng khinh miệt nhau đến thế.
Marsh lớn hơn Cope 8 tuổi, là một người khiêm tốn và ham đọc, có một hàng ria gọn gàng và tính cách chỉn chu. Ông dành rất ít thời gian ở thực địa và không phải là người xuất sắc trong việc phát hiện điều gì mới. Trong một lần đi tham quan các điểm phát hiện hóa thạch khủng long ở Como Bluff, Wyoming, ông không nhận ra tại đây có rất nhiều xương “nằm ngổn ngang khắp nơi như những khúc gỗ,” theo lời thuật của một nhà sử học. Tuy vậy, ông biết cách mua được hầu hết tất cả những gì ông muốn. Dù xuất thân bình thường, có cha là nông dân ở ngoại ô New York, nhưng Marsh lại có một ông chú cực kì giàu có – đó chính là nhà tài phiệt vô cùng hào phóng George Peabody. Khi Marsh thể hiện niềm đam mê lịch sử tự nhiên, Peabody đã xây cho ông một bảo tàng ở Yale và cung cấp đủ tiền để ông lấp đầy nó với gần như tất cả những gì khiến ông thích thú.
Cope có gia cảnh khá giả hơn – cha của ông là một thương nhân giàu có ở Philadelphia – và có lẽ là người ưa phiêu lưu hơn Marsh. Mùa hè năm 1876 tại Montana, trong khi George Armstrong Custer và đoàn tìm kiếm của mình đang ở Little Big Horn, thì Cope cũng đang săn tìm xương ở gần đó. Khi nhận thấy rằng có thể đó không phải là thời điểm khôn ngoan nhất để tìm kho báu ở vùng đất Anh-điêng, Cope có cân nhắc nhưng rồi ra quyết định tiếp tục. Ông đang có một mùa quá tốt. Có lúc ông đã gặp phải một toán thổ dân Anh-điêng Crow nghi ngờ ông, nhưng ông đã thuyết phục được họ bằng cách liên tục lấy ra và cho hàm răng giả vào miệng.
Trong khoảng một thập kỷ, việc Marsh và Cope không ưa nhau chỉ gây ra vài việc nhỏ, nhưng vào năm 1877, nó nổ ra với quy mô hoành tráng. Vào năm này, một giáo viên ở Colorado là Arthur Lakes đã phát hiện các mẩu xương gần Morrison trong khi đi dạo với một người bạn. Nhận thấy những mẩu xương này là của một con “thằn lằn khổng lồ”, Lakes thận trọng gửi mẫu cho cả Marsh và Cope. Cope vui mừng gửi cho Lakes 100 đô-la và đề nghị anh ta không tiết lộ với ai về phát hiện đó, nhất là Marsh. Cảm thấy bối rối, Lakes đã yêu cầu Marsh chuyển xương sang cho Cope. Marsh làm theo, nhưng đó là một nỗi nhục mà ông không bao giờ quên.
Đây cũng là điểm khởi đầu của một cuộc chiến ngày càng gay gắt giữa hai người, một cuộc chiến ám muội và thường là khôi hài. Đôi khi nó gay gắt đến mức các phu đào bới của đội này ném đá vào đội kia. Cope bị bắt quả tang khi đang cạy nắp những chiếc thùng thuộc về Marsh. Họ lăng mạ nhau bằng những trang viết và ném sự khinh miệt vào kết quả nghiên cứu của người kia. Hiếm khi – có lẽ là chưa bao giờ – khoa học lại được thúc đẩy nhanh và thành công đến thế nhờ sự đố kỵ. Trong suốt vài năm sau đó, công việc của cả hai người đều làm gia tăng số lượng loài khủng long được phát hiện ở Mỹ từ 9 lên gần 150. Gần như tất cả những loài khủng long mà một người bình thường có thể kể tên – stegosaurus, brontosaurus, diplodocus, triceratops – đều do một trong hai ông phát hiện.1 Không may, họ làm việc trong tình trạng vội vàng liều lĩnh đến mức thường không nhận ra rằng có những phát hiện không có gì mới mẻ.
1. Ngoại lệ đáng chú ý nhất là khủng long tyrannosaurus rex, được phát hiện vào năm 1902 bởi Barnum Brown.
Cả hai đã cố gắng “phát hiện” ra một loài khủng long gọi là uintatheres anceps không dưới 22 lần. Phải mất hàng năm mới có thể tiến hành phân loại sơ bộ đống hổ lốn của họ. Thậm chí một số cho đến nay vẫn chưa được phân loại. Trong hai người, gia tài khoa học của Cope có nhiều thành tựu hơn. Trong suốt sự nghiệp cần mẫn đến kinh ngạc, ông đã viết khoảng 140 công trình và mô tả khoảng 1.300 loài sinh vật hóa thạch mới (của rất nhiều loài) – gấp hơn hai lần kết quả của Marsh ở cả hai tiêu chí. Cope có thể còn làm được nhiều hơn thế, nhưng không may ông đã sa sút một cách nhanh chóng trong những năm cuối đời. Được thừa kế một gia tài khổng lồ vào năm 1875, ông đầu tư thiếu khôn ngoan vào kinh doanh bạc và trắng tay. Cuối cùng, ông sống trong một phòng trọ nhỏ ở Philadelphia, giữa bộn bề tài liệu và các mẩu xương. Ngược lại, Marsh sống trong một biệt thự lộng lẫy ở New Haven cho tới cuối đời. Cope mất năm 1897 còn Marsh mất hai năm sau đó.
Trong những năm cuối đời, Cope đã nảy sinh một nỗi ám ảnh thú vị khác. Mong muốn tha thiết nhất của ông là trở thành tiêu bản cho loài Homo sapiens, nghĩa là dùng xương của mình để làm mẫu cho loài người hiện đại. Thông thường tiêu bản của một loài sẽ là bộ xương đầu tiên được tìm thấy, nhưng vì chưa bộ xương nào làm tiêu bản cho người hiện đại nên sẽ có một chỗ trống mà Cope muốn lấp vào. Đó là một mơ ước kì quặc và vô ích, nhưng không ai nghĩ ra được lý do nào để phản đối. Vì thế, Cope đã viết di chúc tặng xương của mình cho Học viện Wistar, một Hội học thuật ở Philadelphia, được sáng lập bởi các hậu duệ của Caspar Wistar. Không may là, sau khi xương của ông chuẩn bị được đưa vào lắp ghép, người ta phát hiện ông có dấu hiệu mắc giang mai giai đoạn đầu, và không ai muốn giữ đặc điểm này trong một tiêu bản của chính giống loài mình. Vì thế cả di nguyện và bộ xương của Cope được lặng lẽ xếp lại. Cho đến nay vẫn không có tiêu bản nào về loài người hiện đại.
Về những nhân vật khác trong tấn kịch này, Owen mất năm 1892, một vài năm trước Cope và Marsh. Buckland về già bị mất trí nhớ và qua đời trong một nhà thương điên tại Clapham, không xa nơi Mantell gặp phải tai nạn thảm khốc. Cột sống cong vẹo của Mantell được lưu giữ tại Bảo tàng Hunterian trong gần một thế kỷ rồi bị xóa sổ không thương tiếc bởi một quả bom của người Đức trong trận Blitz. Những gì còn lại của Mantell là bộ sưu tập đã được chuyển giao cho các con sau khi ông mất, và phần lớn trong số đó đã được con trai ông là Walter mang tới New Zealand vì anh di cư tới đây vào năm 1840. Walter trở thành một người New Zealand xuất chúng, và làm đến Bộ trưởng Nội vụ. Vào năm 1865, Walter đã tặng các tiêu bản hàng đầu trong bộ sưu tập đó, gồm cả chiếc răng nổi tiếng của khủng long iguanodon, cho Bảo tàng Thuộc địa (nay là Bảo tàng New Zealand) ở Wellington, nơi chúng yên vị cho tới nay. Ngày nay, chiếc răng iguanodon từng là khởi đầu của mọi câu chuyện – có lẽ là chiếc răng quan trọng nhất của ngành cổ sinh vật học – đã không còn được trưng bày nữa.
Tất nhiên, cuộc săn tìm khủng long không dừng lại sau khi những thợ săn vĩ đại của thế kỷ XIX qua đời. Thực tế, đáng ngạc nhiên là tất cả chỉ mới bắt đầu. Vào năm 1898, một năm nằm giữa các năm Cope và Marsh ra đi, một kho báu lớn chưa từng thấy tính tới thời điểm đó đã được phát hiện ở một nơi được gọi là Bone Cabin Quarry [Túp Lều Xương], chỉ cách khu vực tìm kiếm chủ yếu của Marsh ở Como Bluff, Wyoming, vài dặm. Ở đó, người ta bắt gặp hàng trăm bộ xương hóa thạch trồi lên mặt những ngọn đồi. Xương nhiều đến mức ai đó đã dùng chúng để xây dựng một túp lều, vì thế nó có tên gọi này. Chỉ trong hai mùa đầu tiên, 100.000 pound các mẩu xương cổ đã được khai quật từ đây, và hàng chục nghìn pound nữa được tìm thấy cứ mỗi sáu năm tiếp theo.
Kết quả là, vào đầu thế kỷ XX, các nhà cổ sinh vật học thật sự đã có hàng tấn xương để nghiên cứu. Vấn đề là họ vẫn không thể biết tuổi thọ của những chiếc xương này. Tệ hơn, mức tuổi của Trái Đất đã được đồng thuận không khớp với những đại, kỷ, thế như trước đây được đưa ra. Nếu Trái Đất đúng là chỉ mới khoảng 20 triệu tuổi, như Lord Kelvin vĩ đại khẳng định, thì toàn bộ các sinh vật cổ đại đều phải xuất hiện và biến mất trong cùng một niên đại địa chất. Điều này rõ ràng là phi lý.
Các nhà khoa học khác ngoài Kelvin đã chú ý tới vấn đề này và đưa ra những kết quả chỉ đào sâu hơn nữa sự không chắc chắn. Samuel Haughton, một nhà địa chất học khả kính tại trường Trinity ở Dublin, đã ước tính rằng Trái Đất khoảng 2.300 triệu năm tuổi – lớn hơn bất cứ con số nào từng được đưa ra. Kelvin đã chú ý tới điều này và tính toán lại, sử dụng cùng một nguồn dữ liệu và cho ra kết quả 153 triệu năm. John Joly, cũng đến từ Trinity, quyết định khơi lại ý tưởng về độ mặn nước biển của Edmond Halley, nhưng phương pháp của ông dựa trên quá nhiều giả định sai lầm đến mức khó lòng đứng vững. Ông tính rằng Trái Đất ở vào khoảng 89 triệu năm tuổi – một con số đủ phù hợp với các giả thuyết của Kelvin nhưng đáng tiếc là không đúng với thực tế.
Chính vì sự nhầm lẫn này mà đến cuối thế kỷ XIX, tùy vào nguồn tài liệu tham khảo, bạn có thể thấy rằng khoảng cách giữa chúng ta và buổi bình minh của các dạng sống phức tạp ở kỷ Cambri là 3 triệu, 18 triệu, 794 triệu hoặc 2,4 tỷ năm – và nhiều con số khác nằm trong khoảng đó. Cuối thập niên 1910, một ước tính được ủng hộ nhất do một người Mỹ là George Becker đưa ra đã cho rằng Trái Đất có lẽ chỉ mới 55 triệu năm tuổi.
Chỉ khi các vấn đề trở nên vô cùng khó giải quyết, mới xuất hiện một nhân vật đặc biệt với cách tiếp cận mới mẻ. Đó là một cậu bé nhà quê thông minh và chất phác ở New Zealand, Ernest Rutherford, người đã đưa ra những bằng chứng không thể chối cãi rằng Trái Đất ít nhất đã vài trăm triệu năm tuổi và có lẽ còn già hơn thế.
Đáng chú ý là các bằng chứng của Rutheford dựa trên thuật giả kim – dù rất tự nhiên, đáng tin cậy về mặt khoa học và không có gì huyền bí, nhưng đó vẫn là giả kim thuật. Cuối cùng thì hóa ra Newton đã không sai. Còn chính xác điều đó là như thế nào, tất nhiên lại là một câu chuyện khác.