Vào những năm 1960, trong khi nghiên cứu lịch sử núi lửa của Công viên Quốc gia Yellowstone, Bob Christiansen thuộc Ban Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ kinh ngạc về một điều chưa từng khiến ai băn khoăn trước đó: ông không thể tìm thấy ngọn núi lửa của công viên này. Từ lâu người ta đã biết, về bản chất Yellowstone là một ngọn núi lửa – đây là lý do giải thích cho những mạch nước phun trào và hơi nước bốc lên – các ngọn núi lửa đều khá dễ thấy. Tuy nhiên, Christiansen không thể tìm thấy ngọn núi lửa Yellowstone ở bất cứ đâu. Đặc biệt, ông không thể tìm thấy một cấu trúc được gọi là miệng núi lửa.
Đa số chúng ta khi nghĩ tới núi lửa sẽ thường hình dung tới hình chóp kinh điển của núi Phú Sĩ hay Kilimanjaro, vốn được tạo thành do magma phun trào và tích tụ lại thành một gò cao cân xứng. Chúng có thể hình thành rất nhanh. Năm 1943 tại Paricutín, Mexico, một nông dân kinh ngạc nhận thấy khói bốc lên từ một mảnh ruộng trên cánh đồng của mình. Sau một tuần, ông bất ngờ trở thành chủ sở hữu của một gò đất cao 152m. Sau hai năm, nó cao đến gần 430m và có chiều ngang 800m. Tổng cộng, có khoảng 1.000 ngọn núi lửa có thể nhìn thấy được trên bề mặt Trái Đất nhưng chỉ vài trăm ngọn trong đó vẫn chưa tắt. Còn có một loại núi lửa khác, ít được biết đến hơn vì chúng không trở thành những ngọn núi cao. Loại núi lửa này mạnh đến mức khi nổ, chúng sẽ nổ một lần thật khủng khiếp và để lại vết lõm khổng lồ, đó chính là miệng núi lửa. Rõ ràng, Yellowstone thuộc loại thứ hai; nhưng Christiansen không thể tìm thấy miệng của nó ở bất cứ đâu.
Tình cờ, ngay lúc này NASA quyết định sẽ thử một số máy ảnh tầm cao bằng cách chụp một số hình ảnh của Yellowstone. Một quan chức tốt bụng đã chuyển cho ban giám đốc công viên các bản sao với hy vọng chúng sẽ được trưng bày rộng rãi. Khi Christiansen nhìn thấy các bức ảnh, ông thấy ngay lý do mình không thể tìm thấy miệng núi lửa: sự thật là toàn bộ công viên – với diện tích 9.000km2 – là một miệng núi lửa. Vụ nổ đã để lại một miệng núi lửa rộng gần 65km bề ngang – quá rộng để có thể cảm nhận được khi đứng trên mặt đất. Tại một thời điểm nào đó trong quá khứ, Yellowstone hẳn đã phát nổ với quy mô khủng khiếp hơn bất cứ thứ gì con người từng biết.
Hóa ra Yellowstone là một siêu núi lửa. Nó nằm trên một điểm nóng khổng lồ, một hồ chứa đá nóng chảy có độ sâu ít nhất 200km dưới lòng đất và dâng cao gần tới mặt đất, tạo ra một khối đất đá nóng chảy trồi lên (được gọi là superplume). Nhiệt độ từ điểm nóng này là nguồn năng lượng cho tất cả các lỗ thông hơi, mạch nước, suối nước nóng và bùn sôi của Yellowstone. Bên dưới bề mặt là một bể magma có bề rộng khoảng 72km – gần như cùng kích thước với công viên – với độ dày lớn nhất có thể đạt tới 13km. Hãy tưởng tượng một kho thuốc nổ có kích thước bằng một quận của Anh, cao tới 13km, gần bằng chiều cao của các đám mây ti cao nhất, bạn sẽ hình dung được thứ mà các du khách tới Yellowstone đang đi dạo bên trên. Áp lực của bể magma này lên phần vỏ Trái Đất đã nâng Yellowstone và khu vực phụ cận lên khoảng một nửa kilômét so với độ cao thông thường. Nếu nó phát nổ, thảm họa sẽ vượt quá khả năng tưởng tượng. Theo giáo sư Bill McGuire, Đại học London, nếu ngọn núi lửa này phun trào, “bạn sẽ không thể tới gần nó trong bán kính 1.000km”. Nó sẽ kéo theo những thứ tồi tệ hơn nữa.
Loại superplume phía dưới Yellowstone khá giống một ly martini – phần dưới nhỏ và nở rộng khi tiến lên gần bề mặt, tạo thành một trong những chiếc bát khổng lồ chứa magma lưu động. Một số chiếc bát như vậy có thể có bề ngang lên đến 1.900km. Theo các lý thuyết hiện nay, chúng không phải luôn phun trào mà đôi khi vỡ ra tạo thành một đợt tuôn đổ liên tục – một trận lũ – đá nóng chảy, giống như những gì đã xảy ra với các Bẫy Deccan ở Ấn Độ 65 triệu năm trước. Chúng trải trên diện tích hơn 500,000km2, và có thể đã góp phần gây ra sự tuyệt chủng của loài khủng long do sự thoát ra các loại khí độc hại. Các superplume cũng có thể là nguyên nhân gây ra các vết nứt khiến các lục địa đứt gãy.
Các dòng đá nóng (hay còn gọi là plume) như vậy không hiếm. Có khoảng 30 dòng hiện đang hoạt động trên Trái Đất và chịu trách nhiệm về sự ra đời của những hòn đảo và quần đảo nổi tiếng nhất – Iceland, Hawaii, Azores, Canaries và quần đảo Galápagos, đảo Pitcairn nhỏ ở giữa Nam Thái Bình Dương và nhiều đảo khác – trừ Yellowstone, chúng đều nằm ngoài đại dương. Không ai lý giải được tại sao Yellowstone lại nằm trên một mảng lục địa. Chỉ có hai điều chắc chắn: phần vỏ Trái Đất ở Yellowstone mỏng và bên dưới đó là một thế giới nóng bỏng. Nhưng liệu phần vỏ mỏng do điểm nóng này, hay điểm nóng này xuất hiện tại đây vì phần vỏ mỏng là một vấn đề gây tranh cãi gay gắt. Bản chất lục địa của phần vỏ tạo ra khác biệt lớn cho sự phun trào của nó. Trong khi các siêu núi lửa khác có xu hướng xì hơi dần theo cách tương đối an toàn, Yellowstone sẽ nổ tung. Điều này không thường xảy ra, nhưng khi đó, hẳn bạn sẽ muốn trốn đi thật xa.
Kể từ lần phun trào đầu tiên cách đây 16,5 triệu năm, nó đã nổ khoảng 100 lần. Tuy nhiên, ba lần gần đây nhất là những lần thường được nhắc đến. Lần cuối cùng có quy mô bằng vụ ở núi St Helens; lần trước đó lớn hơn thế 280 lần và lần trước đó nữa thì lớn tới mức không ai biết chính xác nó lớn đến mức nào. Ít nhất là gấp 2.500 lần nhưng có lẽ là một con số khổng lồ hơn − 8.000 lần.
Chúng ta hoàn toàn không có gì để so sánh với nó. Vụ gần nhất trong thời cận đại là của núi lửa Krakatau ở Indonesia vào tháng Tám năm 1883, với một tiếng nổ vang dội khắp thế giới trong suốt chín ngày, khiến nước bị xô đến tận eo biển Manche. Song, nếu hình dung lượng vật chất phun ra từ Krakatau có kích thước như một quả bóng golf thì vụ nổ lớn nhất của Yellowstone sẽ có kích thước như một khối cầu đủ để bạn nấp đằng sau. Với thang đo này, vụ phun trào của núi St Helens chỉ có quy mô không quá một hạt đậu.
Vụ phun trào Yellowstone hai triệu năm trước đã thải ra lượng tro đủ để chôn vùi bang New York dưới độ sâu 20m hoặc California dưới độ sâu 6m. Đây chính là tro ở khu hóa thạch của Mike Voorhies ở phía đông Nebraska. Vụ nổ xảy ra ở nơi mà ngày nay là bang Idaho, nhưng qua hàng triệu năm, với tốc độ khoảng 2,5cm mỗi năm, vỏ Trái Đất đã trượt qua đó, vì thế ngày nay nó đang nằm ngay bên dưới vùng tây bắc Wyoming. (Điểm nóng vẫn nằm yên một chỗ như một ngọn đuốc axêtylen hướng lên trần nhà.) Sau khi thức giấc, nó sẽ để lại một loại đồng bằng núi lửa màu mỡ, lý tưởng để trồng khoai tây, như nông dân Idaho từ lâu đã phát hiện ra. Trong hai triệu năm nữa, rất có thể Yellowstone sẽ cung cấp khoai tây chiên cho McDonald’s và người dân vùng Billings, Montana, sẽ đi dạo quanh các mạch nước nóng của nó (các nhà địa chất học vốn ưa đùa).
Số tro rơi xuống từ lần phun trào gần nhất của nó phủ lên toàn bộ hoặc một phần của 19 bang phía tây (và thêm một phần Canada và Mexico) – gần như toàn bộ lãnh thổ phía tây sông Mississippi của Mỹ. Nên nhớ đây là vựa lúa mì của đất nước này, và là nơi sản xuất ra gần một nửa lượng ngũ cốc của thế giới. Cũng nên nhớ tro không giống như tuyết sẽ tan vào mùa xuân. Nếu muốn trồng cấy lại, bạn sẽ phải tìm nơi để dọn tro đi. Hàng nghìn công nhân đã phải mất tới 8 tháng để dọn sạch 1,8 tỷ tấn mảnh vụn sau thảm họa tại Trung tâm Thương mại Thế giới có diện tích 6,5 héc-ta ở New York. Thử hình dung sẽ mất bao nhiêu thời gian để dọn sạch cả Kansas.
Đó là còn chưa xét tới các hệ quả về mặt khí hậu. Vụ phun trào siêu núi lửa gần nhất trên Trái Đất xảy ra tại Toba, phía bắc Sumatra khoảng 74.000 năm trước. Không ai biết nó lớn cỡ nào nhưng chắc hẳn là khổng lồ. Các lõi băng ở Greenland cho thấy rằng vụ nổ Toba kéo theo ít nhất sáu năm “mùa đông núi lửa”1 và chỉ có Chúa mới biết sau đó là bao nhiêu mùa thất bát. Người ta cho rằng đây có thể là nhân tố đã đẩy loài người tới bờ vực tuyệt chủng, làm giảm dân số toàn cầu xuống chỉ còn vài nghìn cá thể. Điều này đồng nghĩa với việc loài người hiện đại vốn phát triển từ một cơ số dân rất nhỏ, và nó lý giải cho sự thiếu đa dạng gen của chúng ta. Có bằng chứng cho thấy rằng trong suốt 2.000 năm tiếp theo, tổng số cư dân trên Trái Đất không có lúc nào nhiều hơn vài nghìn người. Rõ ràng, điều không cần nói thêm nữa là loài người hẳn đã mất một thời gian rất dài để trở lại bình thường chỉ sau một vụ nổ núi lửa.
1. Hiện tượng những đám mây tro bụi từ núi lửa sẽ đẩy ngược những tia nắng mặt trời lên cao và ngăn không cho chúng chiếu xuống mặt đất, khiến mặt đất trở nên băng giá.
Tất cả những điều này chỉ là một giả thuyết thú vị cho đến tận năm 1973, khi một sự kiện lạ lùng khiến nó đột nhiên trở nên nghiêm trọng: nước ở hồ Yellowstone, nằm ở trung tâm của công viên, bắt đầu tràn qua bờ hồ phía nam làm ngập một bãi cỏ, trong khi ở bờ bên kia, nước hồ biến mất một cách bí ẩn. Các nhà địa chất đã gấp rút điều tra và phát hiện rằng một phần rộng lớn của công viên đã phình lên một cách đáng ngại. Nó nâng đất ở một đầu của hồ lên khiến nước chảy ra ở đầu kia, tương tự như khi bạn nghiêng một chậu nước. Đến năm 1984, toàn bộ vùng trung tâm của công viên – với diện tích khoảng 100km2 – đã cao hơn 1m so với vị trí đo được trong lần khảo sát chính thức gần nhất vào năm 1924. Sau đó, vào năm 1985, khu vực trung tâm này đã hạ xuống khoảng 20cm. Tuy nhiên hiện nay, nó có vẻ lại sắp trồi lên.
Các nhà địa chất học nhận ra rằng chỉ một nhân tố có thể gây ra hiện tượng này – một bể magma bất ổn. Yellowstone không phải là di chỉ của một siêu núi lửa cổ đại; mà là một siêu núi lửa đang hoạt động. Cũng chính thời gian này, họ đã tính ra được chu kỳ phun trào của Yellowstone, trung bình một vụ nổ lớn sẽ diễn ra sau 600.000 năm. Lần cuối cùng là cách đây 630.000 năm. Có lẽ đã sắp đến lúc Yellowstone gây ra một đại thảm họa.
“Có vẻ không phải thế nhưng anh đang đứng trên ngọn núi lửa lớn nhất còn đang hoạt động trên thế giới,” Paul Doss, nhà địa chất học của Công viên Quốc gia Yellowstone, nói với tôi ngay sau khi nhảy xuống từ chiếc xe Harley-Davidson và bắt tay tôi tại trụ sở của Công viên ở Mammoth Hot Springs vào một sáng tháng Sáu đẹp trời. Sinh ra và lớn lên ở Indiana, Doss là một người dễ mến, ăn nói nhỏ nhẹ và cực kỳ chu đáo, với bề ngoài không khác gì một nhân viên phục vụ ở Công viên Quốc gia. Ông có hàng râu xám và tóc buộc kiểu đuôi ngựa, một tai ông đeo chiếc khuyên saphia nhỏ. Một chút mỡ bụng làm căng bộ đồng phục Công viên còn làm ông trông rất bảnh bao. Trông ông giống một nhạc công blues hơn là một viên chức nhà nước. Thật ra, ông đúng là một nhạc công harmonica. Nhưng chắc chắn ông am hiểu và yêu thích ngành địa chất. “Tôi đã có dịp thực hành nó ở nơi tốt nhất trên thế giới,” ông nói khi chúng tôi lên một chiếc xe điện bốn bánh, xóc nẩy, hướng về Old Faithful. Ông đã đồng ý cho tôi đi theo suốt một ngày để quan sát ông đi lại và thực hiện các nhiệm vụ của một nhà địa chất học làm việc tại Yellowstone. Công việc đầu tiên của ngày hôm đó là trò chuyện với một lứa hướng dẫn viên du lịch mới.
Yellowstone, tôi không cần phải nói nhiều, thật tuyệt đẹp với những ngọn núi trang nghiêm, đàn bò rừng nhởn nhơ trên đồng cỏ, những con suối sục sôi, mặt hồ xanh màu da trời và vô số loài sinh vật hoang dã. “Với một nhà địa chất, chẳng có gì đẹp hơn thế nữa” Doss nói. “Phía trên Beartooth Gap là những tảng đá với độ tuổi gần ba tỷ năm – ba phần tư quãng thời gian kể từ khi Trái Đất hình thành – và ở đây anh có những suối nước khoáng” – ông chỉ vào dòng nước nóng chứa lưu huỳnh mà từ đó thắng cảnh được đặt tên Mammoth – “nơi anh có thể quan sát các viên đá đang được sinh ra. Nằm giữa chúng là tất cả những gì anh có thể tưởng tượng. Tôi chưa từng thấy ở đâu ngành khoa học địa chất lại cụ thể và đẹp đẽ hơn thế.”
“Vậy ông thích nó chứ?” tôi hỏi.
“Ồ không, đúng ra là tôi yêu nó,” ông trả lời bằng sự chân thành tự đáy lòng. “Tôi muốn nói rằng tôi yêu mọi thứ ở đây. Tuy mùa đông rất khắc nghiệt và lương thì không quá hấp dẫn, nhưng đối với một nơi đẹp đến thế này, những thứ đó chỉ là…”
Ông tự ngắt lời để chỉ cho tôi thấy một khoảng trống giữa một dãy núi nằm về phía tây vừa mới hiện lên trong tầm mắt. Ông cho tôi biết dãy núi này có tên là Gallatins. “Khoảng trống kia có thể rộng tới 60 hoặc 70 dặm. Suốt một thời gian dài không ai biết tại sao nó lại tồn tại cho đến khi Bob Christiansen nhận ra rằng nó phải như vậy vì cả dãy núi đang dần bị xóa sổ. Khi thấy 60 dặm của một dãy núi bị thổi bay, bạn có thể hiểu rằng mình đang đối diện với một lực lượng đầy quyền năng. Phải mất sáu năm để Christiansen hiểu ra mọi việc.”
Tôi hỏi ông điều gì từng khiến Yellowstone nổ tung. “Tôi không biết. Không ai biết cả. Núi lửa là các thực thể kì lạ. Chúng ta không thể hiểu hết về chúng. Núi lửa Vesuvius ở Ý đã hoạt động suốt 300 năm cho đến khi nó phun trào vào năm 1944 rồi từ đó bỗng ngừng lại, không có bất cứ động tĩnh nào kể từ đó. Một số nhà khoa học núi lửa cho rằng nó đang tự nạp năng lượng một cách ngoạn mục, và đây là mối lo lớn đối với hai triệu người sống quanh nó. Song, không ai thật sự biết điều gì sẽ xảy ra.”
“Ông sẽ nhận được những tín hiệu cảnh báo nào nếu Yellowstone sắp nổ tung?”
Ông nhún vai. “Không ai sống gần nó vào lần phát nổ gần nhất nên cũng không ai biết các dấu hiệu cảnh báo như thế nào. Có thể anh sẽ thấy một chuỗi các trận động đất, mặt đất bị nâng cao đôi chút, và cũng có thể là một vài thay đổi trong hoạt động của các mạch nước và hơi nóng, song không ai dám chắc về điều này.”
“Nghĩa là nó hoàn toàn có thể phát nổ mà không báo trước?”
Ông thành thật gật đầu. Ông giải thích rằng vấn đề là ở một mức độ nào đó, gần như tất cả những gì có thể tạo ra dấu hiệu cảnh báo đều có ở Yellowstone. “Các trận động đất nhìn chung là sứ giả của các vụ núi lửa phun trào, và chúng không phải của hiếm tại công viên này – 1.260 trận trong năm trước. Đa số chúng rất nhỏ nên con người không cảm nhận được, song dù sao đó vẫn là động đất.”
Sự thay đổi trong cách thức phun của các mạch nước, theo ông, cũng là một dấu hiệu, nhưng chúng cũng biến đổi ngoài khả năng dự đoán. Một trong các mạch nước nổi tiếng nhất tại đây là Excelsior. Nó từng phun thường xuyên và với độ cao hết sức ngoạn mục của một cột nước lên tới 100m, nhưng đến năm 1890 đột nhiên nó ngừng phun. Năm 1985, nó hoạt động trở lại nhưng các cột nước chỉ đạt độ cao 25m. Steamboat Geyser là mạch nước lớn nhất trên thế giới khi phun với độ cao cột nước đạt tới 120m. Nhưng khoảng cách giữa mỗi lần phun của nó là từ bốn ngày cho tới gần 50 năm. “Nếu hôm nay nó phun và tuần sau lại thế, điều đó không cho chúng ta biết trước điều gì sẽ xảy ra trong tuần sau, tuần sau nữa hoặc thậm chí 20 năm nữa,” Doss nói. “Toàn bộ công viên đều luôn bất ổn đến mức không thể rút ra bất cứ kết luận nào từ các hiện tượng xảy ra.”
Sơ tán khỏi Yellowstone chắc chắn không phải là một việc đơn giản. Công viên đón khoảng ba triệu lượt du khách mỗi năm, đỉnh điểm là các tháng mùa hè. Có rất ít con đường trong công viên, và chúng được thiết kế hẹp một cách có chủ ý, một phần để hạn chế tốc độ, một phần để bảo tồn cảnh quan và một phần do hạn chế địa hình. Vào mùa hè, có thể phải mất nửa ngày để đi ngang qua công viên và mất hàng giờ để tới được bất cứ điểm nào trong đó. “Bất cứ khi nào du khách nhìn thấy các loài động vật, họ sẽ dừng ngay lại dù họ đang đứng ở đâu,” Doss nói. “Đường bị tắc vì gấu, vì bò rừng và vì chó sói.”
Mùa thu năm 2000, các đại diện từ cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ và Công viên Quốc gia cùng với một số học giả đã gặp gỡ và xây dựng Đài quan sát Núi lửa Yellowstone. Bốn cơ quan tương tự thực chất đã tồn tại – ở Hawaii, California, Alaska và Washington – nhưng điều kỳ lạ là ngay tại khu vực núi lửa lớn nhất thế giới lại không có. Đài quan sát này thực chất là một ý tưởng hơn là một công trình – nó thể hiện sự đồng thuận trong việc phối hợp nghiên cứu và phân tích hệ địa chất đa dạng của công viên. Doss nói với tôi rằng một trong những nhiệm vụ đầu tiên của nó là đưa ra sơ thảo kế hoạch cho hiểm họa động đất và núi lửa – một kế hoạch hành động cho tình huống khẩn cấp.
“Vậy là chúng ta chưa từng có kế hoạch nào như thế?” tôi hỏi.
“Chưa. Rất tiếc là vậy. Nhưng sẽ sớm thôi.”
“Không phải như thế là hơi chậm sao?”
Ông mỉm cười. “Ồ, hãy nghĩ rằng việc chuẩn bị không hề là quá sớm.”
Khi kế hoạch được hoàn tất, dự kiến ba người – Christiansen ở Menlo Park, California, giáo sư Robert B. Smith tại Đại học Utah và Doss tại Yellowstone – sẽ đánh giá mức độ nguy hiểm của bất cứ nguy cơ thảm họa nào và tham mưu cho giám đốc công viên. Giám đốc sẽ ra quyết định có sơ tán khỏi công viên hay không cho các trường hợp. Tuy vậy, không có kế hoạch nào dành cho các vùng lân cận. Bạn sẽ phải tự lực cánh sinh một khi rời cánh cổng công viên – do đó kế hoạch sẽ không mấy hữu ích nếu Yellowstone thật sự phun trào trên quy mô lớn.
Tất nhiên, có thể phải hàng chục nghìn năm nữa mới đến ngày đó. Doss cho rằng ngày đó cũng có thể không bao giờ xảy ra. “Việc từng xảy ra không có nghĩa là nó vẫn vậy,” ông nói. “Một số bằng chứng cho thấy có thể là sau một chuỗi vụ nổ nghiêm trọng sẽ là một quãng thời gian yên lặng kéo dài. Chúng ta có lẽ đang sống trong giai đoạn đó. Bằng chứng cho thấy bể magma đang nguội đi và kết tinh. Tính bất ổn của nó đang giảm xuống; trong khi tính bất ổn này phải duy trì mới có một vụ tuôn trào bùng nổ.”
Trong lúc đó, có rất nhiều hiểm nguy khác trong và xung quanh Yellowstone, với dấu hiệu đã hết sức rõ ràng, vào tối ngày 17 tháng Tám năm 1959, tại hồ Hebgen, ngay bên ngoài công viên. Hai mươi phút trước nửa đêm cùng ngày, hồ Hebgen trải qua một trận động đất dữ dội. Cường độ của trận động đất là 7,5 độ nhưng không ảnh hưởng rộng như các trận động đất khác mà đột ngột vặn xoắn và kéo sụp hẳn một sườn núi. Lúc đó đang là cao điểm mùa hè, nhưng may mắn là vào thời đó chưa có nhiều người tới thăm Yellowstone như ngày nay. Tám mươi triệu tấn đá lăn xuống với tốc độ hơn 160kmgiờ và lao đi với một sức mạnh đến mức phần rìa của số đất đá lở đã lăng tới tận độ cao 120m trên một ngọn núi bên kia thung lũng. Dọc đường di chuyển, chúng quét qua một phần khu cắm trại núi Rock Creek; 28 người chết, trong đó 19 người vĩnh viễn không tìm thấy xác. Sự tàn phá diễn ra chóng vánh nhưng cũng rất khó hiểu. Có ba anh em ngủ chung sống sót, trong khi cha mẹ họ ngủ ở lều bên cạnh đã bị cuốn đi và không bao giờ tìm thấy xác.
“Một trận động đất lớn – tôi nhấn mạnh là lớn – có thể xảy ra bất kỳ lúc nào,” Doss nói với tôi. “Anh hãy tin điều này. Đây là một khu vực dễ xảy ra động đất.”
Bất chấp vụ động đất ở hồ Hebgen và các nguy cơ rõ ràng khác, Yellowstone không được trang bị các máy đo địa chấn thường xuyên mãi cho tới những năm 1970.
Nếu bạn cần một trường hợp để đánh giá mức độ vĩ đại và không thể lay chuyển được của các quá trình địa chất, hãy chọn Teton, dãy núi lởm chởm ở ngay phía nam Công viên Quốc gia Yellowstone. Chín triệu năm trước, Teton không hề tồn tại. Vùng xung quanh hố Jackson chỉ là đồng cỏ cao. Nhưng một phay địa chất dài 64km đã mở ra trong lòng đất và kể từ đó, cứ khoảng 900 năm một lần, dãy Teton lại phải chứng kiến một trận động đất đủ lớn để nâng nó cao thêm hai mét. Chính những cú đẩy liên tục qua thời gian đã đem lại cho các ngọn núi của dãy Teton độ cao đến 2.000m.
Con số 900 năm là con số trung bình – và có phần dễ gây nhầm lẫn. Theo Robert B. Smith và Lee J. Siegel trong cuốn Windows into the Earth [tạm dịch: Cửa sổ vào lòng đất], một biên niên sử về vùng đất này, trận động đất lớn cuối cùng của Teton xảy ra vào khoảng 5.000 tới 7.000 năm trước. Nói tóm lại, Teton có lẽ là khu vực động đất chậm nhất hành tinh.
Các vụ nổ thủy nhiệt cũng là một nguy cơ đáng kể. Chúng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, gần như ở mọi nơi và không thể dự đoán. “Anh biết đấy, do thiết kế nên chúng tôi đang dồn du khách vào các bể nhiệt,” Doss nói với tôi sau khi chúng tôi xem mạch nước Old Faithful phun. “Đó là thứ họ tới để chiêm ngưỡng. Anh có biết Yellowstone có số mạch nước và suối nước nóng nhiều hơn tất cả phần còn lại của thế giới cộng lại không?”
“Tôi không biết điều này.”
Ông gật đầu. “Khoảng 1.000. Và không ai biết khi nào một lỗ mới lại mở ra.”
Chúng tôi lái xe tới hồ Duck, rộng chừng 200m bề ngang. “Trông nó có vẻ hoàn toàn vô hại,” ông nói. “Nó trông chỉ như một cái ao lớn. Trước kia, nó từng không có mặt tại đây. Vào một thời điểm nào đó trong 15.000 năm qua, nó đã phát nổ rất lớn. Hẳn đã có hàng chục triệu tấn đất đá và nước siêu nóng bắn tung lên với tốc độ siêu âm. Anh có thể tưởng tượng điều gì nếu chuyện này xảy tại khu để xe ở Old Faithful hay một trong các trung tâm dành cho du khách.” Vẻ mặt ông trở nên không vui.
“Liệu có dấu hiệu cảnh báo nào không?”
“Có thể là không. Vụ nổ lớn nhất trong công viên xảy ra tại mạch Pork Chop vào năm 1989. Nó để lại một miệng rộng chừng 5m – không hề lớn nhưng đủ lớn nếu anh tình cờ đứng cạnh nó vào lúc nó hoạt động. May mắn thay, khi đó không có ai ở cạnh nó, và vì thế không có bất cứ thương vong nào, nhưng tất cả đã xảy ra mà không có bất cứ dấu hiệu báo trước nào. Vào thời xa xưa, đã có những vụ nổ để lại những hố rộng một dặm. Không ai dám chắc khi nào chuyện đó tái diễn. Chỉ có thể hy vọng rằng không ai đứng gần đó khi điều tồi tệ xảy ra.”
Những trận lở đá lớn cũng rất nguy hiểm. Một vụ lở đá đã xảy ra tại Gardiner Canyon vào năm 1999 nhưng thật may mắn vì không ai bị thương. Chiều muộn hôm đó, Doss và tôi dừng trước một mỏm đá treo lơ lửng trên một con đường luôn đông đúc. Vết nứt rất dễ dàng nhận thấy. “Nó có thể sập bất cứ lúc nào,” Doss nói với giọng đầy suy tư.
“Ông không đùa đấy chứ?” – tôi hỏi. Không có phút nào phía dưới mỏm đá vắng xe cộ qua lại, và nơi này chật kín du khách.
“Ồ, không phải là sắp sửa,” ông nói thêm. “Tôi chỉ nói rằng có thể. Tương tự, nó có thể sẽ ở nguyên chỗ đó suốt hàng thập kỷ. Không ai nói trước được điều gì. Người ta phải chấp nhận rủi ro khi tới đây. Tất cả chỉ có thế.”
Khi chúng tôi lên xe để quay về Mammoth Hot Springs, Doss nói thêm, “Vấn đề là, thường thì những điều tồi tệ không xảy ra. Đá không lở. Đất không động. Các mạch nước mới không bất ngờ phun lên. Trái ngược với sự bất ổn, mọi thứ thường tĩnh lặng một cách đáng kinh ngạc.”
“Giống như chính bản thân Trái Đất,” tôi nhận xét.
“Chính xác,” ông đồng tình.
Các nhân viên ở Yellowstone cũng đối diện với rủi ro không kém gì du khách. Doss cảm nhận được điều kinh hoàng đó trong tuần làm việc đầu tiên của ông tại đây 5 năm trước. Vào một tối muộn, ba nhân viên trẻ làm việc vào mùa hè đã làm một việc trái quy định, đó là tắm nước nóng – họ bơi lội trong những hồ nước ấm. Dù công viên, vì những lý do hiển nhiên, không công bố điều này, song không phải tất cả hồ nước ở Yellowstone đều nóng đến mức nguy hiểm. Một vài hồ nước nóng ở đây có thể tắm và các nhân viên này quen ngâm mình một chút vào đêm muộn, dù như thế là phạm quy.
Điều ngu ngốc là, họ đều đã quên mang theo đèn pin, thật quá nguy hiểm vì phần lớn đất xung quanh các hồ nước ấm đó rất xốp và mỏng, do đó, người ta dễ dàng bị rơi xuống một chiếc hố nóng bỏng. Dù thế nào, khi quay trở lại khu nhà ở, họ đi ngang qua con suối mà trước đó họ đã nhảy qua. Lùi lại vài bước, cầm tay nhau và đếm đến ba, họ cùng nhảy. Thực ra đó không phải là con suối. Đó là một hồ nước đang sôi sùng sục. Trong đêm tối, họ đã nhầm phương hướng. Không ai trong số ba người này sống sót.
Tôi đã nghĩ về điều này vào sáng hôm sau khi trên đường ra khỏi công viên, tôi dừng lại để gọi điện thoại ở hồ Emerald, gần Upper Geyser Basin. Hôm qua Doss không có thời gian để đưa tôi tới đây nhưng tôi nghĩ ít nhất nên ngắm qua nó bởi đây là một thắng cảnh lịch sử.
Năm 1965, một cặp vợ chồng, cũng là hai nhà sinh vật học, Thomas và Louise Brock, khi đang thực hiện một chuyến nghiên cứu thực địa vào mùa hè, đã làm một việc không bình thường. Họ đã vớt một ít váng màu vàng nâu quanh hồ và kiểm tra xem có khả năng có sự sống trong đó hay không. Điều khiến họ và sau này là cả thế giới ngạc nhiên là trong đó chứa đầy các vi khuẩn sống. Họ đã phát hiện ra các vi khuẩn chịu cực hạn [extremophile] đầu tiên trên thế giới – đó là các sinh vật có thể tồn tại trong môi trường nước trước đó bị cho là quá nóng hay nhiễm axít và lưu huỳnh quá nặng để tồn tại sự sống. Điều đáng chú ý là hồ Emerald mang tất cả các đặc điểm này, nhưng ít nhất hai sinh vật, sau này được gọi là sulpholobus acidocaldarius và thermophilus aquaticus, lại xem đây là môi trường thân thiện. Người ta từng tin rằng không loài nào có thể tồn tại ở nhiệt độ cao hơn 50oC, nhưng tại đây các sinh vật này thoải mái tận hưởng làn nước hôi hám, chứa đầy axít và nóng gần gấp đôi mức này.
Trong gần 20 năm, một trong hai loài vi khuẩn mới mà nhà Brock phát hiện ra, thermophilus aquaticus, vẫn chỉ gây tò mò trong phòng thí nghiệm – mãi cho đến khi một nhà khoa học ở California là Kary B. Mullis phát hiện ra rằng các enzym chống nóng của nó có thể được dùng để tạo ra một thứ ma thuật hóa học có tên là phản ứng chuỗi polymerase, cho phép các nhà khoa học tạo ra nhiều ADN từ một lượng siêu nhỏ – chỉ cần một phân tử trong điều kiện lý tưởng, một kiểu sao chép di truyền về sau trở thành nền tảng của ngành khoa học di truyền, có ý nghĩa lớn với cả giới học thuật và ngành pháp y. Nhờ đó, Mullis được trao giải Nobel Hóa học vào năm 1993.
Cùng lúc đó, các nhà khoa học đã phát hiện các vi khuẩn mạnh hơn, ngày nay được gọi là hyperthermophile, có thể sống ở nhiệt độ cao hơn 80oC. Sinh vật chịu nóng tốt nhất được phát hiện cho đến nay, theo Frances Ashcroft trong cuốn Life at the Extremes [tạm dịch: Sự sống tại cực hạn], là pyrolobus fumarii, chúng sống trên thành các lỗ thông hơi dưới đáy đại dương, nơi nhiệt độ có thể lên tới 113oC. Giới hạn trên cho sự sống được dự đoán là khoảng 120oC dù không ai dám chắc. Dù sao các phát hiện của vợ chồng Brock cũng đã thay đổi hoàn toàn quan niệm của chúng ta về sự sống. Như Jay Bergstralh, một nhà khoa học NASA, đã nói: “Dù chúng ta đi tới đâu trên Trái Đất – kể cả những nơi có môi trường khủng khiếp nhất – chỉ cần ở đó có nước ở thể lỏng và một chút năng lượng hóa học, chúng ta sẽ tìm thấy sự sống.”
Hóa ra sự sống trên Trái Đất thông minh và có khả năng thích nghi cao hơn chúng ta tưởng rất nhiều. Đây là một tin tốt, vì như bạn sắp được thấy, chúng ta đang sống trong một thế giới mà dường như không hề muốn chấp nhận sự tồn tại của chúng ta.