Đây đó trong Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên tại London, trong những hốc tường dọc theo những hành lang tối tăm hoặc giữa những giá thủy tinh đặt khoáng vật, trứng đà điểu hay những mớ lộn xộn có độ tuổi gần một thế kỷ khác, là những cánh cửa bí mật – ít nhất là bí mật theo nghĩa bề ngoài rằng chúng không có gì thu hút du khách. Đôi khi bạn có thể thấy một người có phong thái và dáng dấp của một học giả ló ra từ một cánh cửa, vội vã đi đến cuối hành lang, để rồi lại biến mất trong một cánh cửa khác cách đó không xa. Hầu hết mọi cánh cửa đều đóng, và ít ai ngờ rằng, song song đằng sau chúng là một Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên khác cũng to lớn và thậm chí còn tuyệt vời hơn cả bảo tàng mà công chúng vẫn biết đến và ngưỡng mộ.
Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên chứa khoảng 70 triệu mẫu vật từ mọi lĩnh vực của cuộc sống và mọi ngóc ngách của hành tinh, với khoảng 100.000 mẫu vật mới được bổ sung vào bộ sưu tập mỗi năm. Chỉ ở trong hậu trường bạn mới cảm nhận được rõ tòa nhà này thật sự là một kho báu. Trong các rương, tủ và các phòng dài chứa đầy những giá xếp san sát, nơi lưu giữ hàng chục nghìn mẫu động vật ngâm trong bình, hàng triệu côn trùng gắn thẻ vuông. Các ngăn kéo có những động vật thân mềm lấp lánh, xương khủng long, xương sọ người tối cổ và vô số tiêu bản thực vật được xếp gọn gàng. Chỉ riêng những chiếc bình ngâm chồng lên nhau đã dài tới 15 dặm, bên trong là các động vật được bảo quản bằng cồn metylic.
Nơi đây chứa những mẫu vật được Joseph Banks thu thập tại Australia, Alexander von Humboldt thu thập ở Amazonia và Darwin tìm được trong hải trình Beagle, cùng nhiều mẫu vật khác rất hiếm hoặc có giá trị lịch sử, hoặc cả hai. Nhiều người sẽ muốn chạm tay lên chúng. Thật sự rất ít người có được may mắn đó. Năm 1954, bảo tàng đã tiếp nhận bộ sưu tập chim của một nhà sưu tầm tận tụy Richard Meinertzhagen, tác giả cuốn Birds of Arabia [tạm dịch: Các loài chim ở Ả rập] bên cạnh nhiều công trình nghiên cứu khác. Meinertzhagen là một khách trung thành của bảo tàng suốt nhiều năm, gần như ông đã có mặt hằng ngày ở đây để viết các ghi chú phục vụ việc viết sách và soạn các tài liệu chuyên khảo. Khi các thùng hàng được chuyển đến nơi, các nhà quản lý hồi hộp mở ra xem và kinh ngạc vì phát hiện rằng rất nhiều mẫu vật mang nhãn của chính bảo tàng. Thì ra Meinertzhagen đã bỏ túi nhiều thứ thuộc bộ sưu tập của bảo tàng trong nhiều năm. Điều đó lý giải về việc ông ta luôn mặc áo khoác rộng ngay cả khi thời tiết ấm áp.
Vài năm sau, một khách tham quan thường xuyên, có tuổi – “một quý ông khả kính”, như tôi được biết – bị bắt quả tang tại khu trưng bày động vật thân mềm khi đang nhét vài vỏ sò quý giá vào các chân rỗng của chiếc nạng.
“Tôi không tin có thứ gì ở đây lại không khiến người ta không thèm muốn,” Richard Fortey nói với tôi khi dẫn tôi đi một vòng quanh thế giới kỳ thú phía sau hậu trường bảo tàng. Chúng tôi đi giữa các căn phòng nơi người ta ngồi suy tư bên dãy bàn rộng, nghiên cứu những động vật chân đốt, những chiếc lá cọ hay những hộp xương đã ố vàng. Ở đâu bạn cũng có thể cảm nhận được không khí khoan thai của những con người đang thực hiện một công việc đòi hỏi nỗ lực phi thường, không bao giờ thật sự hoàn thành và cũng không cần phải vội. Năm 1967, theo một tài liệu tôi đã đọc, bảo tàng phát hành một báo cáo về chuyến thám hiểm khảo sát Ấn Độ Dương của John Murray, và đó là 44 năm sau khi cuộc thám hiểm này kết thúc. Đây là một thế giới nơi mọi thứ di chuyển theo tốc độ riêng, kể cả chiếc thang máy nhỏ có Fortey, tôi và một người đàn ông lớn tuổi có vẻ ngoài của một học giả. Fortey thân thiện nói chuyện với ông ta khi chúng tôi đang đi lên với tốc độ bằng tốc độ lắng đọng của trầm tích.
Khi người đàn ông đi ra, Fortey nói với tôi: “Ông già Norman tốt bụng này đã dành 42 năm để nghiên cứu về một loài thực vật, cỏ ban của Thánh John. Ông ấy nghỉ hưu năm 1989 nhưng vẫn đến đây hàng tuần.”
“Làm sao người ta có thể dành 42 năm cho chỉ một loài thực vật?” – tôi hỏi.
“Thật đáng nể phải không?” Fortey tỏ ý đồng tình và suy nghĩ vài giây. “Rõ ràng ông ấy đã rất tận tâm.” Cánh cửa thang máy mở ra cho thấy một lối vào đã bị bịt lại bằng gạch. “Thật kỳ lạ,” ông nói. “Trước kia đây là khu thực vật.” Ông nhấn một nút lên tầng khác và cuối cùng đã tìm thấy đường tới khu thực vật bằng cầu thang hậu và những ngõ ngách kín đáo đi qua nhiều căn phòng khác, nơi các nhà nghiên cứu đang nỗ lực nghiên cứu những mẫu vật từng là sinh vật sống. Tôi được giới thiệu với Len Ellis và thế giới yên tĩnh của bryophyte – chỉ có nghĩa là rêu đối với đa số chúng ta.
Khi Emerson nói một cách nên thơ rằng rêu thường mọc ở phía bắc của các thân cây (“Rêu phong trên vỏ cây rừng là vì sao dẫn đường khi đêm tối”), thực chất ông nói về địa y, vì vào thế kỷ XIX, người ta không phân biệt được rêu và địa y. Những loài rêu thật sẽ không hề kén chọn nơi chúng mọc lên, vì thế chúng không phải là những chiếc la bàn tự nhiên. Trên thực tế, rêu không mang lại bất cứ lợi ích nào. “Có lẽ không có nhóm thực vật lớn nào lại ít giá trị sử dụng, kinh tế và thương mại như rêu,” Henry S. Conard đã viết trong cuốn How to Know the Mosses and Liverworts [tạm dịch: Cách nhận biết rêu và rêu tản], xuất bản năm 1956 và vẫn đang nằm trên giá sách của nhiều thư viện, đây gần như là nỗ lực duy nhất để quảng bá cho chúng.
Dù sao, chúng rất đa dạng. Ngay cả khi đã loại bỏ địa y, rêu vẫn chiếm một lãnh địa đông đúc với hơn 10.000 loài, thuộc khoảng 700 chi. Cuốn sách dày và nghiêm túc Moss Flora of Britain and Ireland [tạm dịch: Hệ rêu ở Anh và Ireland] của A. J. E. Smith dài đến 700 trang, và cả Anh lẫn Ireland đều không phải những nơi nhiều rêu nhất. “Bạn sẽ thấy chúng nhiều nhất ở những xứ nhiệt đới,” Len Ellis nói với tôi. Là một người giản dị, trầm tĩnh, ông đã làm việc tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên 27 năm và phụ trách bộ phận này từ năm 1990. “Anh có thể tới các khu rừng nhiệt đới ở Malaysia và tìm thấy các loài mới tương đối dễ dàng. Tôi từng tự làm điều đó trước đây rất lâu. Tôi chỉ cần nhìn xuống là thấy một loài chưa được ghi nhận.”
“Vậy là còn rất nhiều loài chưa được ai phát hiện?”
“Ồ, không. Không ai biết cả.”
Bạn sẽ không tin nổi lại có nhiều người trên thế giới sẵn sàng dành cả cuộc đời để nghiên cứu một thứ mù mịt đến vậy, nhưng thực tế là những người đam mê rêu lên tới hàng trăm, và họ cảm thấy thật sự yêu thích lĩnh vực này. “Ồ, vâng,” Ellis nói với tôi, “đôi khi các buổi họp hết sức sôi động.”
Tôi đã hỏi ông về một vấn đề gây tranh cãi.
“Đây là điều mà một trong các đồng hương của anh đã giáng lên đầu chúng tôi,” ông nói, khẽ mỉm cười và mở ra một công trình tham khảo nặng nề bao gồm những hình minh họa rêu, với những đặc điểm gần như hoàn toàn tương đồng khi nhìn bằng cặp mắt không chuyên. “Đây,” ông nói, gõ vào một bức hình, “từng là một chi, Drepanocladus. Giờ đây nó đã được xếp lại thành ba chi: Drepanocladus, Warnstorfia và Hamatacoulis.”
“Có phải điều đó đã gây bất ngờ lớn?” tôi hỏi với một chút hy vọng.
“Ồ, việc đó có ý nghĩa rất lớn. Nhưng nó đồng nghĩa với việc phải tái sắp xếp các bộ sưu tập, và nó khiến mọi cuốn sách bỗng trở nên lạc hậu, vì thế, bạn biết đấy, cũng có vài tiếng lầm bầm.”
Ông nói với tôi rằng rêu cũng ẩn chứa những điều bí mật. Một trường hợp nổi tiếng – nghĩa là nổi tiếng với giới rêu học – là về một loài rất hiếm, được phát hiện trong khuôn viên Đại học Stanford ở California có tên Hyophila stanfordensis, và sau đó cũng được phát hiện ở một lối đi tại Đại học Cornwall, nhưng chưa bao giờ được tìm thấy ở đâu khác. Vì sao nó lại xuất hiện ở hai nơi cách xa nhau như vậy vẫn là câu hỏi không lời đáp. “Hiện nó được gọi là Hennediella stanfordensis,” Ellis nói. “Người ta đã điều chỉnh lại pháp danh khoa học của nó.”
Chúng tôi cùng gật đầu đầy tư lự.
Khi một loài rêu mới được phát hiện, nó phải được so sánh với mọi loài rêu khác để đảm bảo rằng nó chưa được ghi nhận. Sau đó, một bản mô tả chính thức đi kèm hình ảnh minh họa phải được soạn và công bố trên một tạp chí uy tín. Toàn bộ quá trình đó thường mất ít nhất sáu tháng. Thế kỷ XX không phải là thời hoàng kim của việc phân loại rêu. Đa số công việc của thế kỷ này chỉ nhằm gỡ rối những nhầm lẫn và trùng lặp do thế kỷ XIX để lại.
Đây là thời hoàng kim của sưu tầm rêu. (Bạn hãy nhớ lại rằng cha của Charles Lyell là một nhà nghiên cứu rêu nổi tiếng.) Một người Anh có tên George Hunt đã săn tìm các loài rêu ở nước Anh siêng năng đến mức có lẽ ông đã góp phần gây ra sự tuyệt chủng của một vài loài. Nhưng chính nhờ nỗ lực đó mà bộ sưu tập của Len Ellis thuộc loại đầy đủ nhất thế giới. Tất cả 780.000 mẫu của ông đều được ép trong những tờ giấy nặng được gập đôi, trong đó có những mẫu rất cũ với lối chữ viết tay ngoằn ngoèo của thời Victoria. Một số, theo những gì chúng ta được biết, có thể đã từng thuộc về Robert Brown, nhà thực vật học vĩ đại thời Victoria, người khám phá ra chuyển động Brown và nhân của tế bào, cũng là người sáng lập và điều hành phòng thực vật của bảo tàng trong 31 năm đầu tiên cho đến khi qua đời vào năm 1858. Tất cả số mẫu vật, được giữ trong những chiếc tủ gỗ gụ cũ bóng loáng, đều tốt đến mức tôi phải chú ý.
“Ồ, những thứ này thuộc về ngài Joseph Banks, lấy từ nhà của ông ấy ở quảng trường Soho,” Ellis nói đơn giản như thể nhắc đến một món đồ IKEA mới mua. Ông đặt làm những chiếc tủ này để lưu giữ các mẫu vật thu được từ hành trình Endeavour. Ông nhìn những chiếc tủ đầy suy tư, như thể đây là lần đầu ông nhìn chúng lâu đến vậy. “Tôi không rõ vì sao cuối cùng chúng tôi lại có được chúng để phục vụ cho ngành nghiên cứu rêu,” ông nói thêm.
Đây là một tiết lộ bất ngờ. Joseph Banks là nhà thực vật học vĩ đại nhất của nước Anh và hải trình Endeavour – chuyến đi đã giúp thuyền trưởng Cook vẽ lại lần sao Kim di chuyển ngang qua Trái Đất vào năm 1769 và tuyên bố Australia thuộc về triều đình, cùng nhiều sự kiện trọng đại khác – là chuyến thám hiểm thực vật học vĩ đại nhất trong lịch sử. Ông đã chi ra 10.000 bảng Anh, tương đương với khoảng 600.000 bảng theo thời giá hiện nay, để ông và một nhóm chín người – một nhà tự nhiên học, một thư ký, ba họa sĩ và bốn người hầu – khởi hành một cuộc phiêu lưu dài ba năm vòng quanh thế giới. Không ai biết thuyền trưởng Cook chất phác đã phải làm thế nào với một nhóm người quần là áo lượt, quen được nuông chiều như thế, nhưng có lẽ ông đã khá thích Banks và không thể không ngưỡng mộ tài năng của Ngài trong lĩnh vực thực vật học – một cảm xúc chung của hậu thế.
Trước và sau sự kiện này, chưa một nhóm nghiên cứu thực vật nào đạt được thành công lớn đến vậy. Một phần bởi chuyến đi đưa ông tới nhiều nơi mới mẻ và ít được biết đến – Tierra del Fuego, Tahiti, New Zealand, Australia, New Guinea, nhưng chủ yếu vì Banks là một nhà sưu tầm sáng tạo và sắc sảo. Khi không được phép cập cảng Rio de Janeiro vì vấn đề kiểm dịch, ông đã nấp trong một thùng thức ăn gia súc được gửi lên bờ để mua thức ăn cho các vật nuôi trên tàu, nhờ đó thực hiện nhiều khám phá mới. Dường như không có gì thoát khỏi tầm chú ý của ông. Tổng cộng, ông mang về 30.000 mẫu thực vật, trong đó có 1.400 loài chưa ai từng thấy trước đây – đủ để tăng số loài thực vật được biết đến trên thế giới lên khoảng một phần tư.
Song bộ sưu tập khổng lồ của Banks mới chỉ là một phần của thời đại mà con người ham lưu trữ đến phi lý. Sưu tầm thực vật gần như là một cơn sốt toàn cầu vào thế kỷ XVIII. Vinh quang và tiền bạc đều chờ đợi những người có thể tìm ra các loài mới, điều đó khiến các nhà thực vật học cũng như các nhà thám hiểm nỗ lực thỏa mãn một thế giới luôn đói khát sự mới lạ trong nghề làm vườn. Thomas Nuttall, người đặt tên wisteria cho hoa tử đằng để tưởng nhớ Caspar Wistar, đã tới Mỹ với vai trò một thợ in có trình độ, nhưng đã phát hiện niềm đam mê dành cho thực vật, nên đã đi khắp nước Mỹ để thu thập hàng trăm loài cây vốn chưa từng được phát hiện. John Fraser, tên ông được đặt cho loài thông Fraser, đã bỏ nhiều năm sống ở nơi hoang dã để sưu tầm theo lệnh của Catherine Đại đế, và đến khi ông trở về, thì nước Nga đã có Sa hoàng mới. Vị Sa hoàng này nghĩ rằng ông bị điên và từ chối thực hiện giao kèo. Fraser mang mọi thứ tới Chelsea, tại đây ông lập một vườn ươm và sống dư dả nhờ bán cây đỗ quyên, mộc lan, dây leo Virginia, cúc tây và các loài kỳ hoa dị thảo khác cho một nhà quý tộc người Anh hào phóng.
Nếu tìm ra đúng loại, người ta có thể kiếm được rất nhiều tiền. John Lyon, một nhà thực vật học nghiệp dư, đã dành hai năm đầy khó khăn, nguy hiểm để sưu tầm thực vật. Đổi lại, những nỗ lực đó mang lại cho ông 125.000 bảng Anh theo thời giá hiện nay. Tuy vậy, cũng có nhiều người theo đuổi sưu tầm chỉ vì tình yêu thực vật. Nuttall tặng phần lớn những gì ông tìm thấy cho các vườn thực vật ở Liverpool. Cuối cùng, ông là giám đốc Vườn Thực vật Harvard và là tác giả của bách khoa toàn thư Genera of North American Plants [Các chi thực vật tại Bắc Mỹ], trong đó, ông không chỉ viết mà còn sắp chữ gần như toàn bộ.
Đây mới chỉ là về thực vật. Còn có vô số động vật của tân thế giới – kangaroo, kiwi, gấu mèo, linh miêu, muỗi và rất nhiều loài khác gây tò mò ngoài sức tưởng tượng. Các chủng loài của sự sống trên Trái Đất dường như vô hạn, như Jonathan Swift đã viết:
Các nhà tự nhiên học quan sát con bọ chét
Biến những con bọ chét nhỏ hơn thành con mồi;
Và chúng lại có những con nhỏ hơn nữa để cắn;
Cứ thế cho đến tận cùng.
Mọi thông tin mới lại cần được phân loại, sắp xếp, đối chiếu với những thứ đã được biết đến. Thế giới rất cần một hệ thống phân loại hiệu quả. May mắn thay, một người Thụy Điển đã đứng lên, sẵn sàng làm ra nó.
Ông là Carl Linné (về sau được đổi một cách hợp pháp sang cái tên quý tộc hơn, von Linné), song ngày nay người ta nhớ tới ông chủ yếu qua cái tên viết theo tiếng Latin, Carolus Linnaeus. Ông sinh năm 1707 ở ngôi làng Råshult miền nam Thụy Điển, là con của một cha phó dòng Luther nghèo nhưng tham vọng. Ông từng là một học sinh chậm hiểu đến nỗi bị người cha nổi nóng của mình bắt đi học (hoặc suýt bị bắt đi học, theo một số tài liệu) nghề đánh giày. Sợ hãi với viễn cảnh phải đem cả cuộc đời để đóng đinh vào da, Linné cầu xin cha một cơ hội khác và được chấp thuận. Từ đó về sau, ông không bao giờ xa rời vị trí nổi bật trong học thuật. Ông học dược tại Thụy Điển và Hà Lan, dù có đam mê với thế giới tự nhiên. Trong thập kỷ 1730, khi mới khoảng 20 tuổi, ông bắt đầu lập ra các danh mục động vật và thực vật, sử dụng hệ thống do chính mình sáng tạo ra và dần trở nên nổi tiếng.
Ông dành phần lớn thời gian rảnh để tự họa những bức chân dung ca ngợi bản thân, tuyên bố rằng chưa từng có “một nhà thực vật học hay động vật học nào vĩ đại hơn”, và rằng hệ thống phân loại của ông là “một trong những thành tựu khoa học vĩ đại nhất”. Một cách khiêm tốn, ông đề xuất rằng bia mộ của ông nên mang dòng chữ Princeps Botanicorum [Hoàng tử Thực vật học]. Thắc mắc về cách tự đánh giá bản thân đầy kiêu hãnh của ông là điều không hề khôn ngoan. Những ai dại dột làm vậy sẽ sớm thấy tên mình bị đặt cho các loài cỏ dại.
Một đặc điểm nổi bật khác của Linnaeus là nỗi ám ảnh thường trực – đôi lúc có thể xem như sự háo hức – về tính dục. Ông đặc biệt lưu ý sự giống nhau giữa thực vật hai lá mầm và âm hộ của phụ nữ. Với các bộ phận của một loài sò, ông đã đặt cho chúng những cái tên như âm hộ, môi âm hộ, lông, hậu môn và màng trinh. Ông nhóm các thực vật theo tính chất của cơ quan sinh sản và gán cho chúng sự hiếu sắc của con người. Ông mô tả các loài hoa và hành vi của chúng với các từ ngữ như giao phối lăng nhăng, thê thiếp già nua và giường cưới. Vào mùa xuân, ông đã viết một đoạn văn thường được trích dẫn như sau:
Đến cả cây cối cũng có tình yêu. Nam và nữ… tiến hành hôn phối… qua cơ quan sinh dục cho thấy đâu là nam, đâu là nữ. Đài hoa đóng vai trò như chiếc giường cưới mà tạo hóa đã khéo léo sắp đặt, trang trí bằng những tấm trải giường sang trọng và xức thêm các mùi hương dịu dàng để cho chú rể và cô dâu ăn mừng lễ thành thân của họ trong sự trang nghiêm hơn. Khi giường cưới đã sẵn sàng, đây là lúc chú rể ôm người vợ thân yêu vào lòng và hiến dâng mình cho nàng.
Ông đã đặt tên cho một chi thực vật là Clitoria (âm vật). Không ngạc nhiên khi nhiều người cho rằng ông lập dị, nhưng dù sao hệ thống phân loại của ông thì thật khó chê trách. Linnaeus đặt cho thực vật những cái tên mô tả rất dài dòng. Loài anh đào đất thông dụng được đặt tên là Physalis amno ramosissime ramis angulosis glabris foliis dentoserratis. Linnaeus rút ngắn lại thành Physalis angulata, và tên này được dùng cho đến ngày nay. Thế giới thực vật cũng lộn xộn không kém vì sự thiếu nhất quán trong cách đặt tên. Một nhà thực vật học sẽ không dám chắc liệu Rosa sylvestris alba cum rubore, folio glabro có phải chính là loài được nhiều người gọi là Rosa sylvestris inodora seu canina hay không. Linnaeus đã giải quyết vấn đề bằng cách gọi nó đơn giản là Rosa canina. Để việc rút gọn trở nên hữu dụng và được mọi người chấp nhận, không chỉ cần sự quyết đoán đơn thuần. Nó đòi hỏi một bản năng, đúng hơn là thiên tài, để chỉ ra các đặc tính nổi bật của một loài.
Hệ thống Linnaeus chặt chẽ đến mức chúng ta khó có thể hình dung một giải pháp thay thế. Nhưng trước Linnaeus, các hệ thống phân loại thường rất dễ thay đổi. Có thể phân loại động vật dựa trên việc chúng sống hoang dã hay được thuần dưỡng, dưới nước hay trên cạn, to hay nhỏ, thậm chí theo tầm quan trọng của chúng. Buffon đã sắp xếp động vật dựa trên sự hữu ích đối với con người. Hầu như không ai xem xét theo đặc tính cấu tạo thân thể. Linnaeus đã dành trọn cuộc đời khắc phục thiếu sót này bằng cách sắp xếp tất cả sinh vật sống theo đặc tính vật lý của chúng. Ngành khoa học phân loại bắt đầu từ đó.
Tất nhiên, tất cả đều rất tốn thời gian. Bản đầu tiên của tác phẩm Systema Naturae [tạm dịch: Hệ thống Tự nhiên] vĩ đại xuất bản năm 1735 chỉ dài 14 trang. Nó ngày một dày hơn và đến khi ấn bản thứ 12 ra đời – bản cuối cùng mà Linnaeus được thấy khi còn sống – nó đã lên đến ba tập với 2.300 trang. Cuối cùng, ông đã đặt tên và ghi nhận khoảng 13.000 loài thực vật và động vật. Có những công trình khác đầy đủ hơn – 3 tập Historia Generalis Plantarum [tạm dịch: Lịch sử các chi thực vật] do John Ray xuất bản ở Anh trước đó một thế hệ đã chỉ ra ít nhất 18.625 loài tính riêng thực vật – nhưng điều chỉ Linnaeus làm được là sự nhất quán, trật tự, đơn giản và kịp thời. Dù ông bắt đầu làm việc từ những năm 1730, nhưng phải đến những năm 1760 công trình của ông mới nổi tiếng ở Anh, rất đúng lúc để đưa Linnaeus trở thành một tiền bối trong giới thực vật học tại đây. Anh cũng là nơi hệ thống của ông được đón nhận nồng nhiệt nhất (đó là vì sao Hội Linnaean có trụ sở ở London chứ không phải Stockholm).
Linnaeus không phải lúc nào cũng đúng. Ông tin những chuyện hoang đường về quái vật và người khổng lồ do các thủy thủ và nhiều du khách giàu trí tưởng tượng khác kể lại. Trong số đó phải kể đến những miêu tả về một giống người hoang dã, Homo ferus, đi bằng bốn chân, chưa biết giao tiếp bằng lời nói và Homo caudatus, người có đuôi. Nhưng bạn đừng quên đây là một thời đại mà ai cũng cả tin như thế. Ngay cả Joseph Banks vĩ đại cũng quan tâm và tin vào loạt báo cáo về việc nhìn thấy tiên cá ngoài khơi Scotland vào cuối thế kỷ XVIII. Về cơ bản, các sai sót của Linnaeus đều được bù đắp bởi một hệ thống phân loại hữu ích và thông minh. Trong nhiều thành tựu, ông nhận thấy rằng cá voi giống với bò, chuột và các động vật trên cạn khác thuộc lớp động vật bốn chân (về sau đổi thành lớp thú), điều trước đây chưa ai làm được.
Ban đầu, Linnaeus dự định đặt tên mỗi loài thực vật với một chi và gắn với một con số – chẳng hạn, Convolvulus 1, Convolvulus 2, vv… – nhưng ông sớm nhận ra cách làm này không ổn và quyết định sử dụng danh pháp hai phần. Đây vẫn là linh hồn của cả hệ thống cho đến ngày nay. Ông có ý định dùng hệ thống hai phần này cho mọi thứ – đá, khoáng chất, bệnh tật, gió hay tất cả những gì tồn tại trong tự nhiên. Không phải ai cũng nhiệt tình đón nhận hệ thống này. Nhiều người thấy không hài lòng với xu hướng khiếm nhã của nó, trong khi thật mỉa mai là trước thời Linnaeus, tên gọi thông dụng của nhiều loài động vật và thực vật vốn rất thô tục. Bồ công từng được biết đến rộng rãi với cái tên “tiểu trên giường” do đặc tính lợi tiểu của nó cùng nhiều cái tên khác được sử dụng trong cuộc sống hằng ngày. Một vài tên gọi trần tục cho đến nay vẫn tồn tại trong ngôn ngữ hiện đại. Chẳng hạn, maidenhair moss (cỏ đuôi chồn – trong tiếng Anh, maiden nghĩa là gái đồng trinh, hair là lông hay tóc) hoàn toàn không ám chỉ tóc của một cô gái. Vì từ lâu người ta tưởng rằng khoa học tự nhiên được tôn lên nhờ các tên gọi cổ điển, vì thế hẳn nhiều người sẽ thất vọng khi biết Hoàng tử Thực vật học tự phong đã đưa vào các công trình của mình những từ ngữ như Clitoria (âm vật), Fornicata (thông dâm) và Vulva (âm hộ).
Suốt nhiều năm, rất nhiều tên gọi đã bị loại bỏ một cách lặng lẽ (dù không phải tất cả: loài ốc đá quen thuộc vẫn được gọi là crepidula fornicata trong một số dịp trọng đại). Bên cạnh đó, còn có nhiều điều chỉnh do đòi hỏi ngày càng chuyên biệt của khoa học. Đặc biệt, hệ thống được củng cố bằng cách đưa thêm vào các thứ bậc bổ sung. Chi và loài đã được các nhà tự nhiên học sử dụng cả thế kỷ trước Linnaeus, còn lớp, bộ và họ theo nghĩa sinh học đều đã được sử dụng từ thập kỷ 1750-1760. Tuy nhiên, ngành chưa được đưa ra cho đến tận năm 1876 (bởi nhà khoa học người Đức, Ernst Haeckel). Họ và bộ được xem là các khái niệm thay thế nhau cho đến tận đầu thế kỷ XX. Suốt một thời gian dài, các nhà động vật học sử dụng thuật ngữ họ trong khi các nhà thực vật học dùng bộ, điều này thường gây nhầm lẫn cho nhiều người.1
1. Lấy ví dụ, chúng ta thuộc vực nhân chuẩn, giới động vật, ngành động vật có dây sống, phân ngành động vật có cột sống, lớp động vật có vú, bộ linh trưởng, họ người, chi người và loài người hiện đại. (Theo tôi được biết, truyền thống là viết in nghiêng chi và loài và viết thường đối với các thứ bậc cao hơn.) Một số nhà phân loại học còn sử dụng các cách phân chia chi tiết hơn: tông, phân bộ, phân thứ bộ, tiểu bộ và nhiều thuật ngữ khác.
Linnaeus đã chia thế giới động vật thành sáu nhóm: động vật có vú, bò sát, chim, cá, côn trùng và giun, và giun là nhóm gồm để chỉ mọi thứ không thể xếp vào năm nhóm đầu tiên. Ngay từ đầu, người ta đã nhận ra rằng việc xếp tôm hùm vào cùng một nhóm với giun thật bất hợp lý, và vì thế nhiều nhóm khác như động vật thân mềm và giáp xác được tạo ra. Thế nhưng, những cách phân loại này được áp dụng không giống nhau giữa các nước. Trong nỗ lực nhằm tái thiết quy tắc chuẩn, vào năm 1842, người Anh công bố bộ Quy tắc Stricklandian; nhưng vì người Pháp nhận thấy đây là một hành động cao tay, nên Hội Động vật học đã đưa ra một bộ quy tắc trái ngược. Trong khi đó, Hội Điểu học Hoa Kỳ, vì những lý do chưa rõ, quyết định sử dụng bản Hệ thống Tự nhiên năm 1758 làm cơ sở cho việc phân loại thay vì phiên bản 1766 được sử dụng ở những nơi khác, điều đó đồng nghĩa với việc nhiều loài chim ở Mỹ trong thế kỷ XIX thuộc chi khác với họ hàng của chúng ở châu Âu. Mãi đến năm 1902, tại một trong những hội nghị đầu tiên của Ủy ban Động vật học Thế giới, các nhà tự nhiên học mới thể hiện tinh thần thỏa hiệp và chấp nhận một bộ quy tắc quốc tế.
Phân loại đôi khi được xem như một ngành khoa học, đôi lúc là một nghệ thuật, nhưng nó luôn là một bãi chiến trường. Thậm chí hệ thống này ngày nay vẫn lộn xộn hơn nhiều so với suy nghĩ của đa số. Hãy xem xét ngành, cấp độ mô tả cấu trúc cơ thể cơ bản của sinh vật. Một số ngành khá quen thuộc như động vật thân mềm (sò và ốc sên), động vật chân đốt (côn trùng và các loài thân giáp) và động vật có dây sống (con người và các loài động vật khác có xương sống hoặc tiền xương sống); sau đó mọi thứ lập tức chuyển sang hướng tối tăm. Trong số đó, chúng ta có thể liệt kê ra các ngành gnathostomulida (các loài sâu biển), ruột khoang (sứa, hải quỳ và san hô) và ngành priapulida rất nhạy cảm (hay còn gọi là sâu dương vật). Chúng đều là các nhóm cơ bản, dù quen thuộc hay không. Điều đáng ngạc nhiên là có rất ít sự đồng thuận xung quanh việc có hoặc phải có bao nhiêu ngành. Đa số các nhà sinh vật học đồng ý với con số khoảng 30, nhưng cũng có một số người lựa chọn một con số khoảng 20. Cá biệt, Edward O. Wilson khi viết cuốn The Diversity of Life [tạm dịch: Sự sống đa dạng] đã đưa ra con số lớn đến bất ngờ: 89. Điều này phụ thuộc vào cách bạn tiến hành phân loại – bạn là người thích cộng gộp hay thích phân chia, theo ngôn ngữ sinh vật học.
Ở cấp độ được sử dụng phổ biến hơn, đó là loài, vấn đề bất đồng thậm chí còn gay gắt hơn. Dù việc một loài cỏ có tên là aegilops incurva, aegilops incurvata hay aegilops ovata sẽ không khiến những người ngoại đạo phải bận tâm, nó lại có thể trở thành nguồn gốc của những tranh cãi nảy lửa giữa các nhà thực vật học. Vấn đề là có 5.000 loài cỏ và nhiều loài giống nhau đến mức hoàn hảo ngay cả với những người am hiểu chúng. Do đó, một số loài đã được phát hiện và đặt tên ít nhất đến 20 lần, và có lẽ không có loài nào chưa từng được đặt tên độc lập ít nhất hai lần. Hai tập Sổ tay các loài cỏ ở Hoa Kỳ đã dành 200 trang liên tục liệt kê ra tất cả các tên gọi đồng nghĩa, mà các nhà thực vật học gọi là trùng lặp phổ biến nhưng không chủ ý. Đó mới chỉ là cỏ ở một quốc gia.
Để xử lý những bất đồng ở cấp độ quốc tế, Hội Phân loại Thực vật quốc tế chịu trách nhiệm phán xử về những vấn đề liên quan tới quyền ưu tiên về đặt pháp danh hoặc cách giải quyết những trùng lặp. Thỉnh thoảng, họ sẽ ban hành những quyết định, như tuyên bố zauschneria californica (một loài thực vật phổ biến ở các bãi đá) từ nay trở đi phải được gọi là epilobium canum; hay aglaothamnion tenuissimum nên được xem là cùng loài với aglaothamnion byssoides chứ không phải là aglaothamnion pseudobyssoides. Thông thường đây là các vấn đề nhỏ không thu hút nhiều sự chú ý; nhưng khi chúng động chạm tới những loài cây trồng được yêu quý, sẽ xuất hiện những tranh cãi nảy lửa. Trong cuối thập kỷ 1980, loài hoa cúc phổ biến có tên chrysanthemum đã bị loại bỏ (dựa vào những nguyên tắc khoa học hết sức rõ ràng) khỏi chi cùng tên và giáng xuống chi dendranthema tương đối buồn tẻ và ít được ưa chuộng.
Số người trồng hoa cúc rất đông và đầy kiêu hãnh, họ đệ trình phản đối lên Ủy ban Thực vật có hạt. (Ngoài ra còn có các ủy ban chuyên về dương xỉ, rêu và nấm, bên cạnh nhiều ủy ban khác, tất cả đều báo cáo lên cho người phụ trách hay còn gọi là báo cáo viên trưởng; đây thật sự là một tổ chức đáng mến.) Dù các nguyên tắc của danh mục phải được tuân thủ chặt chẽ, nhưng các nhà thực vật học cũng không thể thờ ơ trước tình cảm này, nên vào năm 1995, quyết định đã bị đảo ngược. Những sự điều chỉnh tương tự đã giúp dạ yến thảo, dây gối và loài loa kèn đỏ quen thuộc không bị giáng bậc. Tuy nhiên, nhiều loài hoa phong lữ vài năm trước, dù vấp phải sự phản đối, đã bị chuyển sang chi mỏ hạc. Những tranh luận này được khảo sát và ghi lại một cách hết sức lý thú trong cuốn The Potting-Shed Papers [tạm dịch: Hồ sơ Nhà ươm].
Những tranh chấp và sắp xếp lại kiểu như vậy có thể thấy ở mọi lĩnh vực của sự sống, chính vì thế, việc duy trì hoạt động kiểm đếm tổng thể không hề đơn giản. Do đó, thật đáng ngạc nhiên là chúng ta không hề biết gì – “kể cả khi tiệm cận với nó” như lời của Edward O. Wilson – về số sinh vật đang sống trên hành tinh. Con số ước đoán dao động từ 3 triệu tới 200 triệu. Kỳ lạ hơn, theo một bài báo trên tờ The Economist, có đến 97% các loài thực vật và động vật trên thế giới có thể vẫn đang chờ được phát hiện.
Về các sinh vật mà chúng ta đã biết, hơn 99% chỉ được phác họa sơ sài – “với một cái tên khoa học, vài mẫu vật trong một viện bảo tàng, một vài đoạn giới thiệu trên các tạp chí khoa học” đó là những gì Wilson nói về tình trạng kiến thức của chúng ta. Trong cuốn The Diversity of Life, ông ước đoán số loài đã được biết đến – thực vật, côn trùng, vi khuẩn, tảo và tất cả những thứ khác – rơi vào khoảng 1,4 triệu, nhưng cũng nói thêm đây chỉ là suy đoán. Một số tác giả khác đưa ra con số cao hơn một chút, từ 1,5 đến 1,8 triệu loài; song vì không có cơ chế ghi chép tập trung nên không có cách nào để kiểm chứng số liệu. Tóm lại, tình thế của chúng ta hiện nay là: chúng ta không hề biết rằng mình thật sự biết những gì.
Theo nguyên tắc, bạn phải gặp các chuyên gia ở từng lĩnh vực chuyên môn, rồi hỏi họ xem có bao nhiêu loài trong lĩnh vực của họ, sau đó tính tổng số. Thực tế, nhiều người đã làm như vậy. Vấn đề là ít khi có hai người đưa ra cùng một kết quả. Một số tài liệu cho rằng số loài nấm là 70.000, trong khi các tài liệu khác đưa ra con số 100.000 – gần gấp rưỡi. Một số người khẳng định đầy tự tin rằng tổng số loài giun là 4.000 và một số người khác cũng tự tin không kém khi đưa ra con số 12.000. Với côn trùng, con số dao động từ 750.000 đến 950.000 loài. Bạn nên nhớ đây có lẽ chỉ là số các loài đã được biết đến. Đối với thực vật, con số được chấp nhận phổ biến nằm trong khoảng từ 248.000 tới 265.000. Đây có vẻ là một chênh lệch không quá lớn nhưng nó nhiều gấp 20 lần tổng số loài thực vật có hoa trên toàn Bắc Mỹ.
Sắp xếp mọi thứ theo trật tự không phải là nhiệm vụ dễ dàng nhất. Đầu những năm 1960, Colin Groves đến từ Đại học Quốc gia Australia đã bắt đầu khảo sát một cách hệ thống về hơn 250 loài linh trưởng đã được biết đến. Ông nhận thấy, hóa ra một số loài đã được mô tả nhiều hơn một lần – đôi khi là một vài lần – và những người phát hiện ra chúng không hề nhận ra là mình đang nghiên cứu một động vật đã được khoa học biết đến. Phải mất bốn thập kỷ, Groves mới gỡ rối được tất cả, và đây mới chỉ là về một nhóm tương đối nhỏ gồm các sinh vật tương đối dễ phân biệt và thường không gây tranh cãi. Không biết kết quả sẽ ra sao nếu ai đó cố gắng làm điều tương tự với khoảng 20.000 loài địa y, 50.000 loài thân mềm và hơn 400.000 loài bọ cánh cứng.
Chắc chắn là sự sống ngoài kia rất đa dạng, dù số lượng các loài thực tế vẫn chỉ là những ước đoán dựa trên phép ngoại suy – đôi khi lại là những phép ngoại suy quá rộng. Trong một thí nghiệm nổi tiếng được tiến hành vào thập niên 1980, Terry Erwin đến từ Viện Smithsonia đã phun thuốc diệt côn trùng ở 19 khu rừng nhiệt đới ở Panama, sau đó thu gom tất cả những gì rơi vào những tấm lưới mà ông đã giăng sẵn. Những gì ông thu được từ đó (thực ra là nhiều mẻ lưới, vì ông lặp đi lặp lại thí nghiệm theo mùa để đảm bảo bắt được các loài di cư) là 1.200 loài bọ cánh cứng. Dựa trên sự phân bổ của bọ cánh cứng ở nơi khác, số loài khác cư trú trên cây trong rừng, số rừng trên thế giới, số loài côn trùng khác, nghĩa là một danh sách rất dài, ông ước tính con số 30 triệu loài côn trùng trên khắp hành tinh – một con số mà về sau ông cho là quá thận trọng. Những người khác sử dụng số liệu giống hệt hoặc tương tự đã đưa ra con số 13 triệu, 80 triệu hoặc 100 triệu loài côn trùng. Tuy vậy, cần thấy rằng những con số trên, dù được tính toán cẩn thận đến đâu, tính khoa học của chúng cũng không nhiều hơn tính giả định.
Theo tờ Wall Street Journal, trên thế giới có “khoảng 10.000 nhà phân loại đang hoạt động” – đây không phải là con số lớn nếu bạn nghĩ tới khối lượng công việc họ phải đảm nhận. Song, tờ báo cũng nói thêm rằng do chi phí (khoảng 1.250 bảng Anh mỗi loài) và các công việc giấy tờ, nên chỉ khoảng 15.000 loài được ghi nhận mỗi năm.
“Đây không phải cuộc khủng hoảng đa dạng sinh học mà là cuộc khủng hoảng phân loại!” Koen Maes đã thốt lên. Nhà khoa học gốc Bỉ này phụ trách lĩnh vực động vật không xương sống tại Bảo tàng Quốc gia Kenya, tôi có dịp gặp gỡ ông chốc lát trong chuyến viếng thăm đất nước này vào mùa thu năm 2002. Khắp châu Phi không có bất cứ nhà phân loại nào có chuyên môn sâu. “Ở Bờ Biển Ngà có một người, nhưng tôi nghĩ ông ấy đã về hưu,” Maes nói. Phải mất tám tới mười năm để đào tạo một nhà phân loại, nhưng không ai muốn phải đến châu Phi. “Họ là của hiếm thực sự,” Maes nói thêm. Ông cho biết chính mình cũng sẽ buộc phải ra đi vào cuối năm. Sau bảy năm làm việc ở Kenya, hợp đồng của ông sẽ không được tiếp tục. “Vì không có tiền,” Maes giải thích.
Trong một bài viết trên tạp chí Nature vài tháng trước đó, nhà sinh vật học người Anh, G. H. Godfray, nhận định rằng có “một sự thiếu thốn quá kéo dài về uy tín và nguồn lực” phân loại ở mọi nơi. Kết quả là “nhiều loài vẫn chỉ được mô tả rất sơ sài trong các ấn phẩm xuất bản biệt lập, trong khi không có nỗ lực nào nhằm so sánh một đơn vị phân loại mới với các loài bằng cách phân loại hiện có.” Hơn nữa, phần lớn thời gian của các nhà phân loại vốn không dành để mô tả các loài mới mà đơn giản hơn, chỉ là sắp xếp những loài đã biết. Theo Godfray, nhiều người “dành gần như toàn bộ sự nghiệp để diễn giải công việc của các nhà phân loại thế kỷ XIX: giải mã những đoạn mô tả không thỏa đáng đã được xuất bản, hoặc ở lì trong các bảo tàng trên thế giới để nghiên cứu các tài liệu in ấn trong tình trạng rất tồi tệ”. Godfray đặc biệt nhấn mạnh việc người ta vẫn chưa chú ý tới tiềm năng dùng Internet để hệ thống hóa các phân loại. Sự thật là ngành phân loại nhìn chung vẫn gắn bó một cách kỳ lạ với giấy tờ.
Trong nỗ lực nhằm đưa mọi thứ theo kịp kỷ nguyên hiện tại, vào năm 2001, Kevin Kelly, đồng sáng lập tạp chí Wired, đã thiết lập một tổ chức tên là Quỹ Các Loài với mục đích tìm kiếm và ghi lại thông tin về mọi loài sinh vật sống vào một cơ sở dữ liệu. Chi phí cho công việc này được dự tính là vào khoảng từ 1,3 tỷ tới 30 tỷ bảng Anh. Tới đầu năm 2002, quỹ này mới chỉ có ngân sách 750.000 bảng Anh và bốn nhân việc làm việc toàn thời gian.
Theo các con số, nếu còn có khoảng 100 triệu loài côn trùng chưa được phát hiện và tốc độ phát hiện vẫn như hiện nay, chúng ta sẽ biết chính xác số loài côn trùng trong khoảng 15.000 năm nữa. Sẽ mất nhiều thời gian hơn đối với giới thực vật. Vậy vì sao chúng ta lại biết ít như vậy? Số lý do có lẽ cũng nhiều không kém gì số động vật còn cần phải đếm, nhưng sau đây là một vài nguyên do.
Hầu hết các sinh vật đều nhỏ và dễ bị bỏ qua. Về mặt thực tế, đây không phải luôn là điều xấu. Bạn chắc sẽ khó mà ngủ ngon nếu biết trên đệm của mình có khoảng hai triệu con mạt siêu nhỏ chỉ chờ để hút những chất nhờn bạn tiết ra và xâu xé những mẩu da bong ra khi bạn ngủ gà gật hay trở mình. Riêng gối ngủ của bạn có thể là nơi cư trú của bốn vạn sinh vật như vậy (đối với chúng, đầu bạn chỉ là một nguồn chất nhờn khổng lồ). Bạn đừng nghĩ rằng chiếc vỏ gối sạch sẽ tạo ra khác biệt. Với các sinh vật bằng cỡ với những con mạt trên giường, loại sợi dệt nhỏ nhất của con người cũng lớn ngang dây chão trên tàu. Thực tế, nếu gối của bạn đã dùng được sáu năm – mức thời gian sử dụng trung bình của một chiếc gối – thì ước chừng một phần mười khối lượng của nó là “da chết, mạt còn sống, mạt đã chết và phân của chúng”, theo lời tiến sĩ John Maunder thuộc Trung tâm Côn trùng học Y tế Anh quốc, người đã tiến hành đo đạc điều này. (Nhưng ít ra đây còn là những con mạt của bạn. Thử tưởng tượng xem bạn sẽ rúc vào thứ gì mỗi khi leo lên một chiếc giường khách sạn.)1 Lũ mạt này đã sống cùng chúng ta từ xa xưa, nhưng phải đến năm 1965 mới được phát hiện.
1. Tình hình đang trở nên tồi tệ hơn do một số vấn đề về vệ sinh. Tiến sĩ Maunder cho rằng xu hướng sử dụng bột giặt với máy giặt nhiệt độ thấp đã khuyến khích các loài mạt sinh sôi. Như ông đã nói: “Nếu bạn giặt quần áo bẩn ở nhiệt độ thấp, thứ bạn nhận được là những con mạt sạch hơn.”
Nếu các sinh vật gắn chặt với con người như những con mạt giường còn không được chú ý cho đến tận thời đại của ti-vi màu, không có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta mù mờ về đa phần thế giới nhỏ bé còn lại. Hãy đi vào rừng – bất cứ khu rừng nào – cúi xuống và bốc lên một nắm đất, vậy là bạn đang nắm khoảng 10 tỷ con vi khuẩn trong tay, và phần lớn chúng đều chưa được khoa học biết đến. Nắm đất ấy cũng có thể chứa khoảng một triệu nấm men, 200.000 cây nấm nhỏ như sợi tóc gọi là mốc, và khoảng 10.000 sinh vật đơn bào (trong đó, chủ yếu là amip); ngoài ra còn có các loại luân trùng, giun dẹp, giun tròn và các loài vi sinh vật khác. Một tỷ lệ lớn trong đó cũng chưa hề được biết đến.
Một trong những cuốn sách đầy đủ nhất về vi sinh vật, Bergey’s Manual of Systematic Bacteriology [tạm dịch: Sổ tay của Bergey về vi khuẩn học hệ thống], liệt kê khoảng 4.000 loài vi khuẩn. Vào thập niên 1980, Jostein Goksøyr và Vigdis Torsvik, hai nhà khoa học người Na Uy, đã lấy ngẫu nhiên một gam đất từ khu rừng sồi gần phòng thí nghiệm của họ ở Bergen và phân tích cẩn thận lượng vi khuẩn trong đó. Họ nhận thấy mẫu rất nhỏ này chứa từ 4.000-5.000 loài vi khuẩn khác nhau, nhiều hơn tổng số vi khuẩn được đưa ra trong Sổ tay của Bergey. Sau đó, họ đi tới vùng duyên hải cách đó vài dặm, lấy một gam đất khác và phát hiện thấy nó chứa 4.000-5.000 loài khác. Edward O. Wilson nhận xét: “Nếu có đến 9.000 loài vi khuẩn tồn tại chỉ trong hai nhúm đất lấy từ hai nơi cùng ở Na Uy, liệu còn bao nhiêu loài nữa đang chờ chúng ta phát hiện ở những nơi khác?” Theo một dự đoán, con số có thể lên đến 400 triệu.
Chúng ta không tìm đúng chỗ. Trong The Diversity of Life, Wilson kể lại chuyện một nhà thực vật học dành một vài ngày cuốc bộ quanh một khu rừng rộng 10 héc- ta ở Borneo và phát hiện được 1.000 loài thực vật có hoa mới – nhiều hơn số loài được tìm thấy trên khắp Bắc Mỹ. Các loài này không hề khó tìm. Vấn đề là trước đó chưa có ai ngó ngàng tới khu vực này. Koen Maes tại Bảo tàng Quốc gia Kenya cho biết ông đã tới những khu rừng mây, vì Kenya nổi tiếng với những khu rừng trên đỉnh núi, và trong nửa giờ tìm kiếm không mấy chăm chú, ông đã tìm ra bốn loài động vật nhiều chân mới, trong đó có ba loài thuộc các chi mới; và một loài cây mới. “Đó là cây to,” ông nói thêm, và vòng tay như thể sắp ôm một bạn nhảy rất lớn. Rừng mây hình thành trên đỉnh các cao nguyên và đôi khi bị lãng quên suốt hàng triệu năm. “Chúng cung cấp môi trường tuyệt vời cho sinh vật nhưng hầu như chưa từng được nghiên cứu,” ông nói.
Xét tổng thể, rừng nhiệt đới chỉ chiếm khoảng 6% diện tích bề mặt Trái Đất nhưng chúng lại là nơi cư trú của hơn một nửa số loài động vật và khoảng hai phần ba số loài thực vật có hoa – trong đó đa số vẫn là ẩn số với con người vì quá ít nhà nghiên cứu bỏ thời gian đến đây. Không phải ngẫu nhiên, rất nhiều trong số này có thể rất có giá trị. Ít nhất 99% loài thực vật có hoa chưa từng được kiểm tra dược tính. Vì không thể chạy trốn kẻ thù, nên thực vật phải xoay xở tìm ra phương pháp phòng vệ hóa học, và do đó chúng tạo ra nhiều hợp chất hấp dẫn. Đến nay, gần 25% thuốc men có nguồn gốc từ 40 loài cây, 16% khác đến từ vi khuẩn và động vật, do đó, một nguy cơ nghiêm trọng đi cùng nạn chặt phá rừng là sự suy giảm nguồn dược liệu thiết yếu. Bằng phương pháp tổ hợp hóa học, các nhà hóa học có thể lập tức tạo ra 40.000 hợp chất trong phòng thí nghiệm, nhưng các sản phẩm này mang tính ngẫu nhiên và thường là vô dụng. Trong khi đó, bất cứ phân tử nào trong tự nhiên cũng đều đã trải qua thứ mà tờ The Economist gọi là “chương trình chọn lọc tối cao: hơn 3,5 tỷ năm tiến hóa”.
Tuy vậy, tìm kiếm các loài chưa được biết đến không chỉ đơn giản là đi đến những nơi xa xôi, biệt lập. Trong cuốn Life: An Unauthorised Biography, Richard Fortey đã lưu ý việc người ta đã tìm thấy một loài cổ khuẩn trên tường một quán rượu ở nông thôn, “nơi những người đàn ông tiểu tiện lên trong nhiều thế hệ” – một phát hiện có lẽ đòi hỏi tỷ lệ may mắn hiếm hoi và sự tận tâm cùng một phẩm chất nào đó khác mà chúng ta chưa biết.
Không có đủ chuyên gia. Số lượng sinh vật cần được phát hiện, kiểm tra và ghi nhận vượt xa số nhà khoa học sẵn có để đảm nhận công việc này. Hãy xem xét các sinh vật kiên cường và ít được biết đến như là bdelloid rotifer. Đây là những sinh vật nhỏ bé có thể sống sót trong bất cứ điều kiện nào. Khi gặp hoàn cảnh không thuận lợi, chúng co lại trong hình dáng bé nhỏ, ngừng trao đổi chất, và chờ thời cơ tốt hơn. Trong tình trạng này, bạn có thể thả chúng vào nước sôi hoặc đóng băng chúng ở độ 0 tuyệt đối – tại nhiệt độ này, ngay cả các nguyên tử cũng ngừng hoạt động – khi mọi khó khăn đã qua, trong môi trường dễ chịu hơn, chúng sẽ nở ra và sống tiếp như thể chưa có gì xảy ra. Cho tới nay, khoảng 500 loài đã được nhận diện (có nguồn đưa ra con số 360), song không ai biết, dù biết rất mơ hồ, tổng số có thể lên đến bao nhiêu. Suốt nhiều năm, gần như tất cả những gì con người biết về chúng đều nhờ một nhà khoa học nghiệp dư tận tâm, nhân viên văn phòng David Bryce ở London. Ông nghiên cứu về chúng trong thời gian rảnh rỗi. Bdelloid rotifer có mặt ở khắp mọi nơi, nhưng các chuyên gia về chúng trên thế giới thì lại không có nhiều.
Ngay cả những sinh vật quan trọng và phổ biến như nấm cũng không thu hút nhiều sự chú ý. Nấm có mặt ở mọi nơi dưới nhiều dạng khác nhau – nấm ăn, mốc, minđiu, nấm men, nấm trứng vv… – và chúng tồn tại với số lượng cực lớn. Nếu tập hợp tất cả số nấm được tìm thấy trong một héc-ta đất trồng điển hình, bạn sẽ thu được 2.800kg các loại. Chúng chắc hẳn không phải sinh vật hiếm. Nếu không có nấm, sẽ không có các vết nám khoai tây, bệnh cây du Hà Lan hay những đôi chân mẩn ngứa; thế nhưng, chúng ta cũng sẽ không có sữa chua, bia hoặc pho-mát. Tổng cộng có khoảng 70 nghìn loài nấm đã được phát hiện, nhưng người ta cho rằng con số phải lên đến 1,8 triệu hoặc nhiều hơn. Nhiều nhà nấm học làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, chẳng hạn sản xuất pho-mát hoặc sữa chua, vì thế rất khó để nói thật sự có bao nhiêu người tích cực tiến hành nghiên cứu, nhưng chúng ta dám chắc rằng số loài nấm còn chờ được phát hiện nhiều hơn hẳn số người đang tìm kiếm chúng.
Thế giới là một nơi thật sự rộng lớn. Vận tải bằng đường hàng không và các phương tiện giao thông liên lạc khác khiến chúng ta lầm tưởng rằng thế giới không quá rộng lớn, nhưng ở dưới mặt đất, nơi các nhà khoa học phải làm việc, thì nó thật sự khổng lồ – đủ để chứa đầy những điều bất ngờ. Ngày nay, người ta biết hươu đùi vằn, họ hàng gần nhất của hươu cao cổ, sống với số lượng lớn trong các khu rừng nhiệt đới ở Zaire – ước tính có đến 30.000 con – thế nhưng sự tồn tại của chúng chưa từng được quan tâm cho đến tận thế kỷ XX. Loài chim lớn, không biết bay sống ở New Zealand có tên là takahe suốt 200 năm bị xem là đã tuyệt chủng trước khi được tìm thấy đang sống tại một vùng gồ ghề ở đảo South của nước này. Năm 1995, một nhóm các nhà khoa học Pháp và Anh mất tích tại Tây Tạng trong cơn bão tuyết xảy ra ở một thung lũng hoang vu đã tìm thấy giống ngựa có tên Riwoche, vốn chỉ được biết đến qua các bức vẽ trong các hang động thời tiền sử. Các cư dân của thung lũng kinh ngạc khi biết rằng giống ngựa này được đa phần thế giới xem là hiếm hoi.
Một số người cho là thậm chí những điều ngạc nhiên lớn hơn vẫn đang chờ đợi chúng ta. “Một nhà sinh học dân tộc [ethno-biology] hàng đầu”, tờ The Economist viết năm 1995, “cho rằng megatherium, một loài lười đất khổng lồ, khi đứng có thể cao hơn hươu cao cổ… có khả năng ẩn nấp tại lưu vực nơi sông Amazon chảy xiết.” Quan trọng là ông ta không được nêu tên, và có lẽ quan trọng hơn nữa là người ta không biết gì hơn về cả ông và con lười khổng lồ này. Thế nhưng cũng không ai dám khẳng định không có con vật nào như thế, cho tới lúc từng mảng rừng được lục soát kỹ, trong khi ngày đó vẫn còn quá xa.
Ngay cả khi chúng ta trang bị cho hàng nghìn nhân viên hiện trường và đưa họ tới những nơi xa xôi nhất của thế giới, nỗ lực này vẫn là không đủ, bởi sự sống xuất hiện ở bất cứ nơi nào có thể. Sức sinh sôi của sự sống thật đáng ngạc nhiên và tự hào, nhưng cũng là một rắc rối lớn. Để nghiên cứu nó, bạn phải lật từng viên đá, thọc tay qua lớp rác rưởi trên mỗi tấc đất, sàng lọc khối lượng đất cát khổng lồ, leo lên mỗi tán lá rừng và tạo ra nhiều phương pháp hữu hiệu hơn để nghiên cứu các đại dương. Ngay cả khi đó, bạn vẫn có thể bỏ quên các hệ sinh thái. Vào thập niên 1980, các nhà khám phá hang động nghiệp dư đã đi vào một hang đá sâu ở Rumani, vốn bị ngăn cách với thế giới bên ngoài rất lâu nhưng không rõ từ bao giờ, và phát hiện ra 33 loài côn trùng cùng các sinh vật nhỏ khác – nhện, rết, rệp – tất cả đều bị mù, không màu và đều mới mẻ với khoa học. Chúng sống nhờ các vi khuẩn trên váng của các vũng nước, còn các vi khuẩn này sống nhờ khí hiđro và lưu huỳnh tiết ra từ các mạch nước nóng.
Bản năng con người có thể khiến chúng ta thấy việc không thể hiểu hết vạn vật thật đáng xấu hổ, thậm chí là kinh khủng; song ngược lại cũng nên xem đó là điều vô cùng thú vị. Chúng ta đang sống trên một hành tinh nơi những điều bất ngờ luôn là vô hạn. Liệu con người còn muốn lý luận theo cách nào khác?
Một trong những điều thú vị nhất lúc ngao du trong thế giới khoa học hiện đại là khi bạn nhận ra có bao nhiêu người sẵn sàng dành cả đời để trả lời những câu hỏi bí mật nhất. Trong một bài viết của mình, Stephen Jay Gould đã kể lại chuyện một người anh hùng là Henry Edward Crampton đã dành 50 năm, từ năm 1906 đến khi qua đời năm 1956, lặng lẽ nghiên cứu chi ốc sên đất partula ở Polynesia. Năm này qua năm khác, Crampton đã đo đạc tới cấp độ nhỏ nhất – tới tám chữ số thập phân – những vòng xoáy và đường cong nhẹ nhàng của vô số cá thể partula, tổng hợp kết quả nghiên cứu thành các bảng biểu chi tiết đến mức nhàm chán. Mỗi dòng trong một bảng biểu của Crampton có thể là kết quả của hàng tuần đo đạc và tính toán.
Một người ít tận tụy hơn một chút và chắc chắn ít được nghĩ tới là Alfred C. Kinsey, vốn nổi tiếng nhờ các nghiên cứu về tình dục trong thập niên 1940-1950. Trước khi tâm trí bị tình dục choán đầy, Kinsey là một nhà côn trùng học kiên trì. Trong một chuyến du thám kéo dài hai năm, ông đã leo lên tổng số 4.000km để hoàn thiện một bộ sưu tập 300 nghìn con ong bắp cày. Không ai biết ông đã bị ong đốt bao nhiêu lần để làm được điều đó.
Điều luôn khiến tôi băn khoăn là làm sao có thể đảm bảo sự tiếp nối trong các lĩnh vực gian nan này. Rõ ràng không thể có nhiều tổ chức trên thế giới tiếp nhận hoặc sẵn sàng hỗ trợ các chuyên gia nghiên cứu về hàu hay ốc sên châu Phi. Khi chúng tôi tạm biệt nhau tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London, tôi hỏi Richard Fortey bằng cách nào giới khoa học dám chắc khi một người ra đi, sẽ có người khác kế thừa.
Ông cười khá thân thiện trước sự ngây thơ của tôi. “Tôi e rằng mọi thứ không giống như việc chúng ta có các các cầu thủ dự bị đợi sẵn trên băng ghế. Mỗi khi một chuyên gia nghỉ hưu, hoặc tệ hơn là qua đời, điều đó có thể gây ra sự gián đoạn với mọi thứ trong lĩnh vực này, đôi khi trong một thời gian rất dài.”
“Tôi đoán rằng đây là lý do ông đánh giá cao một người dành 42 năm chỉ để nghiên cứu một loài thực vật, dù điều đó có thể không đem lại thứ gì thật sự mới mẻ?”
“Chính xác là như thế,” ông nói, và có lẽ thật sự nghĩ như vậy.