Lược Sử Vạn Vật

Lượt đọc: 109 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
13. Bang!

❊ ❊ ❊

Manson, bang Iowa từ lâu đã được biết đến là một vùng đất với rất nhiều điều lạ kỳ. Năm 1912, một người đàn ông trong khi khoan giếng cho đường cung cấp nước trong thị trấn đã phát hiện nhiều tảng đá biến dạng – “những mảnh đá kết tinh với chất nền tan chảy”1 và “dăm kết trầm tích”, như một báo cáo sau đó đã ghi lại. Nước ở vùng này cũng rất kỳ lạ, nó dịu như nước mưa. Chưa từng có thứ nước mềm2 tự nhiên như thế được thấy ở Iowa trước đó.

1. Nguyên văn: melt matrix. (ND)

2. Nước không chứa muối canxi và magiê. (ND)

Mặc dù hiện tượng đá lạ và nước mềm ở Manson gây ra nhiều sự hiếu kỳ, nhưng phải đến 41 năm sau, một nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Iowa mới tới thị sát vùng này, lúc bấy giờ chỉ là một thị trấn 2.000 dân nằm ở phía tây bắc của tiểu bang. Năm 1953, sau nhiều thí nghiệm, các nhà địa chất mới có câu trả lời, nguyên nhân của biến dạng địa tầng là do hoạt động chưa được xác định của các núi lửa cổ. Kết luận này có thể làm hài lòng mọi người, nhưng từ góc độ địa chất thì chưa đủ.

Sự tổn thương trong lòng đất ở Manson đã không đến từ Trái Đất mà từ một nơi cách xa chúng ta ít nhất một trăm triệu dặm. Vào thời cổ đại, khi Manson vẫn còn nằm bên rìa của một bờ biển nông, một thiên thạch có đường kính khoảng một dặm rưỡi, nặng 10 tỷ tấn và bay với vận tốc của âm thanh đã rạch ngang bầu khí quyển, lao thẳng vào Trái Đất với một lực lớn và bất ngờ đến mức khó tưởng tượng, tạo thành một lỗ sâu ba dặm và rộng 20 dặm. Vùng đá vôi tạo nước khoáng cứng cho Iowa đã bị xóa sạch và thay thế bởi các mảnh vụn đá ngầm bị xô lệch, loại đá mà người thợ đào đường nước đã phát hiện vào năm 1912.

Vụ va chạm Manson là tác động địa chất lớn nhất từng xảy ra trên lục địa của Mỹ. Nó lớn chưa từng có, theo mọi nghĩa. Hố va chạm mà nó để lại rộng đến nỗi nếu đứng ở rìa bên này, bạn chỉ có thể thấy được rìa bên kia trong những ngày đẹp trời. So với nó thì hẻm núi Grand Canyon chẳng nhằm nhò gì. Nhưng thật không may cho những người yêu khung cảnh hùng vĩ này, sau 2,5 triệu năm, những tảng băng trôi đã lấp đầy miệng hố Manson và mài mòn nó, đến nỗi ngày nay cảnh quan ở Manson và nhiều dặm xung quanh phẳng như một mặt bàn. Đó cũng là lý do giờ đây chúng ta không còn được nghe nhiều về hố Manson.

Tại các thư viện ở Manson, họ sẽ rất vui mừng cho bạn xem các bài báo cũng như các mẫu vật trong chương trình khoan cắt năm 1991-1992 – chỉ khi bạn yêu cầu. Không còn gì để trưng bày và cũng không có một dấu vết lịch sử nào về vụ va chạm còn lại trong thị trấn này.

Đối với hầu hết người dân ở Manson, biến cố lớn nhất từng xảy ra với họ là cơn lốc xoáy đã phá nát khu vực sầm uất Phố Main vào năm 1979. Một trong những thuận lợi của địa hình bằng phẳng là bạn có thể nhìn thấy trước hiểm nguy từ một khoảng cách khá xa. Toàn bộ thị trấn tại đầu bên kia Phố Main có cả nửa giờ đứng nhìn cơn lốc tiến về phía họ, với hy vọng nó sẽ chuyển hướng, rồi sau đó nhốn nháo hoảng loạn khi nó “quyết không đổi ý”. Bốn người trong số họ đã chạy không đủ nhanh và thiệt mạng trong cơn bão. Ngày nay vào tháng 6, ở Manson, người ta vẫn tổ chức tưởng nhớ sự kiện này suốt cả tuần lễ. Tuần Miệng Hố này được tổ chức để giúp mọi người quên đi ký ức không vui trong quá khứ, chứ tuyệt đối không liên quan đến miệng hố va chạm. Người ta đã thôi không nhớ đến một vùng không còn tồn tại.

“Thỉnh thoảng cũng có những vị khách muốn đến xem miệng hố lớn, chúng tôi phải cho họ biết chẳng còn gì để xem cả,” Anna Schlapkohl, một thủ thư thân thiện của thị trấn cho biết. “Họ vẫn đi và rồi thất vọng trở về.” Tuy nhiên, hầu hết mọi người, kể cả người dân Iowa, không biết gì về núi miệng hố Manson, ngay cả những nhà địa chất cũng hiếm khi cho nó dù chỉ một dòng chú thích. Nhưng ở một giai đoạn ngắn ngủi trong những năm 1980, Manson đã từng là một vùng địa chất sôi động.

Câu chuyện bắt đầu từ những năm 1950, khi một nhà địa chất trẻ là Eugene Shoemaker ghé thăm miệng hố lớn Meteor ở Arizona. Ngày nay, Meteor là một hố va chạm nổi tiếng thế giới và cũng là một địa điểm du lịch. Tuy nhiên, vào những năm đó rất ít người biết đến Meteor và nó vẫn được gọi là miệng núi lửa Barringer, sau khi kỹ sư mỏ giàu có Daniel M. Barringer đặt cược gia tài của mình vào đây vào năm 1903. Ông cho rằng miệng núi lửa này được tạo ra bởi một thiên thạch nặng 10 triệu tấn chứa cả sắt và niken, và ông sẽ kiếm được bộn tiền nhờ đào bới nó. Không nghĩ ra được việc các thiên thạch và tất cả thành phần của chúng sẽ mất đi khi gặp tác động, Barringer đầu tư toàn bộ tiền của và bỏ 26 năm tiếp theo để đào các đường hầm mà không thu được gì.

Nói không quá thì so với tiêu chuẩn ngày nay, những nghiên cứu về miệng núi lửa vào đầu những năm 1900 chỉ là trò vặt vãnh. Nhà nghiên cứu hàng đầu thời đó, G. K. Gilbert của Đại học Columbia, đã mô phỏng các va chạm vũ trụ bằng cách ném bi vào những chảo bột yến mạch. (Vì những lý do mà tôi không hiểu được, ông không thực hiện chúng trong phòng thí nghiệm đại học mà trong phòng khách sạn.) Tuy nhiên, từ những thí nghiệm này Gilbert kết luận rằng các hố trên mặt trăng được tạo ra từ những va chạm – một phát hiện mới mẻ vào thời đó – còn những hố trên Trái Đất thì không. Hầu hết các nhà khoa học không đồng tình với kết luận này. Theo họ, các hố trên mặt trăng chính là dấu vết của các núi lửa cổ không hơn không kém. Còn các hố vẫn được nhìn thấy trên Trái Đất ngày nay (đa số đã bị bào mòn), nhìn chung là do những nguyên nhân khác hay những biến đổi địa chất bất thường.

Trước khi Shoemaker tới đây, người ta tin hố Meteor được hình thành sau một vụ nổ hơi ngầm. Shoemaker không biết gì về vụ nổ hơi này – làm sao ông biết được khi chúng vốn chẳng hề tồn tại – nhưng ông biết về các khu vực gây nổ. Một trong những công việc đầu tiên ông làm sau khi rời trường đại học là nghiên cứu vành đai núi lửa tại điểm thử hạt nhân Bình địa Yucca ở Nevada. Ông cũng kết luận giống như Barringer rằng không có dấu vết nào của hoạt động núi lửa tại miệng hố Meteor, nhưng có vô số dấu vết khác – chủ yếu là silicat và quặng sắt từ – chứng tỏ rằng từng có một vụ va chạm thiên thạch.

Cùng với đồng nghiệp là Eleanor Helin, sau đó là vợ ông, Carolyn và cộng sự David Levy, Shoemaker bắt đầu nghiên cứu kỹ lưỡng hệ Mặt Trời. Họ dành một tuần mỗi tháng ở đài thiên văn Palomar, California để tìm kiếm những đối tượng, chủ yếu là các tiểu hành tinh, có đường đi băng qua quỹ đạo Trái Đất.

Shoemaker kể lại trong một chương trình truyền hình rằng: “Khi chúng tôi bắt đầu, chỉ có khoảng hơn một chục đối tượng như vậy được phát hiện ở tất cả các đài thiên văn. Các nhà thiên văn học thế kỷ XX dường như đã bỏ quên hệ Mặt Trời mà chỉ quan tâm đến các ngôi sao và các thiên hà.”

Shoemaker và cộng sự phát hiện rằng vũ trụ còn chứa đựng nhiều nguy cơ hơn những gì người ta vẫn tưởng.

* * *

Các tiểu hành tinh, như hầu hết mọi người đều biết, là những kết cấu đá có quỹ đạo thuộc một hệ thống lỏng lẻo trên vành đai giữa sao Hỏa và sao Mộc. Chúng thường được minh họa như một mớ bòng bong, nhưng trên thực tế hệ Mặt Trời khá rộng và các tiểu hành tinh trung bình sẽ cách xa hàng xóm của mình khoảng 1,5 triệu kilômét. Không ai tính được chính xác có bao nhiêu tiểu hành tinh trong hệ Mặt Trời nhưng có lẽ là không dưới một tỷ. Chúng đáng lẽ đã hợp thành một hành tinh, nếu như không có lực kéo của sao Mộc, vốn đã và đang khiến các tiểu hành tinh không hợp nhất được.

Những năm 1800, khi các tiểu hành tinh bắt đầu được tìm kiếm – tiểu hành tinh đầu tiên được phát hiện vào ngày đầu tiên của thế kỷ này bởi một người Sicily tên là Giuseppi Piazzi – người ta cho rằng chúng là các hành tinh và đặt tên chúng là Ceres và Pallas. Sau đó, nhà thiên văn William Herschel đã phát hiện rằng chúng có kích cỡ nhỏ hơn một hành tinh rất nhiều, nên ông gọi chúng là asteroid – trong tiếng Latin có nghĩa là hình ngôi sao – dù chúng không hề giống các ngôi sao chút nào. Ngày nay, chúng được gọi với cái tên chính xác hơn là các tiểu hành tinh.

Việc tìm kiếm các tiểu hành tinh trở thành một hoạt động khoa học tiêu biểu của thế kỷ XIX, và đến cuối thế kỷ này đã có khoảng 1.000 tiểu hành tinh được phát hiện. Vấn đề là không có ai ghi lại chúng một cách hệ thống. Đầu thế kỷ XX, khi một tiểu hành tinh xuất hiện, người ta thường không chắc liệu nó vừa mới được tìm thấy hay chỉ là một đối tượng đã được phát hiện và mất dấu trước đó. Cũng vào thời điểm này, vật lý thiên văn đã tiến triển đến mức ít có nhà thiên văn nào muốn cống hiến cả cuộc đời cho những đối tượng trần tục như các tiểu hành tinh bằng đá. Chỉ còn một số người, nổi bật trong đó là nhà thiên văn học gốc Hà Lan, Gerard Kuiper, tên ông được đặt cho vành đai sao chổi Kuiper, vẫn giữ được hứng thú với hệ Mặt Trời. Từ những nghiên cứu của ông tại Đài Thiên văn McDonald ở Texas, sau đó nhờ những nhà khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu Tiểu hành tinh tại Cincinnati và Dự án Nghiên cứu Vũ trụ ở Arizona, một danh sách dài các tiểu hành tinh đã mất dần được khôi phục – tới cuối thế kỷ XX chỉ còn một tiểu hành tinh duy nhất chưa được thấy lại, nó được gọi là 719 Albert. Lần cuối cùng người ta nhìn thấy nó là tháng 10 năm 1911, sau đó đến năm 2000, tiểu hành tinh này mới được ghi nhận là xuất hiện lại sau 89 năm.

Như vậy, trong công cuộc nghiên cứu các tiểu hành tinh thì cả thế kỷ XX thực chất là một màn khởi động dài. Chỉ gần đây các nhà thiên văn học mới bắt đầu ghi lại và chú ý đến hệ thống các tiểu hành tinh còn sót lại. Tính đến tháng 7 năm 2001, có tất cả 26.000 tiểu hành tinh đã được phát hiện và đặt tên, một nửa trong số đó được tìm ra vào hai năm gần nhất. So với số hàng tỷ đối tượng, rõ ràng việc xác định các tiểu hành tinh mới chỉ bắt đầu.

Theo một cách nào đó, sự chậm trễ này cũng không quan trọng lắm vì việc xác định một tiểu hành tinh cũng không giúp nó được an toàn. Ngay cả khi mọi tiểu hành tinh trong hệ Mặt Trời đều đã được đặt tên và xác định quỹ đạo, không ai có thể dự đoán được sự tác động nào sẽ khiến một trong số chúng đổi hướng và bay vút về phía chúng ta. Con người thậm chí không thể dự đoán được sự biến đổi địa chất trên chính Trái Đất, nên tốt nhất hãy cứ để những tảng đá đó trôi trong không gian và đừng cố dự báo những gì chúng có thể gây ra. Vì tất cả những tiểu hành tinh đã được con người đặt tên ngoài kia chắc sẽ không có một cái tên khác được.

Hãy xem quỹ đạo của Trái Đất như một con đường cao tốc mà trên đó chúng ta là phương tiện duy nhất, nhưng thỉnh thoảng chúng ta lại bị cắt ngang bởi những khách bộ hành chẳng thèm nhìn trước ngó sau. Ít nhất 90% trong số họ hoàn toàn xa lạ với chúng ta. Ta không biết họ sống ở đâu, sinh hoạt theo múi giờ nào và khi nào họ sẽ đi ngang đường ta. Tất cả những gì ta có thể biết là vào bất kỳ thời điểm không thể báo trước nào đó, họ có thể cắt ngay con đường mà chúng ta đang đi với vận tốc 100.000kmgiờ. Như Steven Ostro ở đài quan sát Jet Propulsion ví von, “nếu chúng ta có thể bấm nút để thắp sáng tất cả các tiểu hành tinh có đường kính hơn 10 mét đang bay qua Trái Đất, sẽ có khoảng hơn 100 triệu đốm sáng như vậy trên bầu trời.” Tóm lại, bạn sẽ thấy không chỉ vài nghìn ngôi sao lấp lánh phía xa, mà là hàng triệu triệu đối tượng đang tới gần – “có thể thấy chúng di chuyển trên bầu trời với các hướng và vận tốc khác nhau nhưng tất cả đều có khả năng lao vào Trái Đất. Cảnh tượng này có thể khiến bạn cảm thấy sợ hãi vô cùng.” Nhưng dù sao, bạn cũng đừng mất bình tĩnh, vì thực tế thì chúng ta không thể nhìn thấy chúng.

Dựa trên phép ngoại suy từ tỷ lệ hố va chạm trên mặt trăng, người ta tính rằng có khoảng 2.000 tiểu hành tinh đủ lớn để đe dọa Trái Đất thường bay ngang qua quỹ đạo của chúng ta. Tuy nhiên, các tiểu hành tinh với kích cỡ nhỏ hơn – bằng một ngôi nhà chẳng hạn – cũng có thể tàn phá cả một thành phố. Số lượng những mảnh vụn có quỹ đạo qua Trái Đất là khoảng hàng trăm nghìn đến hàng triệu, và ta không thể nào theo dõi chúng.

Đối tượng đầu tiên được phát hiện vào năm 1991, chỉ sau khi nó đã bay qua chúng ta. Có tên là BA 1991, tiểu hành tinh này được phát hiện khi đã bay xa Trái Đất 170.000km – theo cách lý giải của vũ trụ học thì giống như một viên đạn xuyên qua ống tay áo mà không chạm vào cơ thể. Ba năm sau, một tiểu hành tinh khác lớn hơn cũng bay sượt qua và cách Trái Đất 104.000km – khoảng cách gần nhất từng được ghi nhận. Tiểu hành tinh này chỉ được phát hiện khi đã đi qua chúng ta và cũng xuất hiện mà không hề báo trước. Theo Timothy Ferris ở tờ New Yorker, những tiểu hành tinh bay qua với khoảng cách rất gần như vậy xảy ra từ hai đến ba lần một tuần nhưng không hề được phát hiện.

Không thể phát hiện một vật thể có đường kính khoảng 100m bằng những kính viễn vọng đặt trên Trái Đất cho đến khi nó chỉ còn cách chúng ta một vài ngày, đó là trong trường hợp các kính viễn vọng chuyên nghiệp tập trung quan sát. Nhưng điều này khó có thể thực hiện vì số lượng những người theo dõi các tiểu hành tinh thời đó có lẽ chỉ bằng số nhân viên trong một cửa hàng McDonald’s trung bình. (Ngày nay thì có thể cao hơn. Nhưng không hơn nhiều.)

Trong khi Gene Shoemaker cố cảnh báo mọi người về những nguy cơ trong hệ Mặt Trời, thì một nghiên cứu khác – xét về bề ngoài thì hoàn toàn không liên quan – được âm thầm tiến hành ở Ý bởi một nhà địa chất từ Phòng thí nghiệm Lamont Doherty, Đại học Columbia. Đầu thập kỷ 1970, Walter Alvarez đang làm nghiên cứu thực địa tại hẻm núi Bottaccione Goerge, gần thị trấn Umbrian ở vùng Gubbio, khi ông phát hiện một phiến đất sét đỏ ngăn cách hai lớp đá vôi cổ đại – một từ kỷ Phấn trắng, một từ kỷ Đệ tam. Đây là thời điểm được biết đến với tên gọi ranh giới KT1, có niên đại khoảng 65 triệu năm trước, khi khủng long và một nửa thế giới động vật đột nhiên biến mất khỏi các hóa thạch. Avelrez phân vân điều gì trong một phiến trầm tích chỉ dày 6mm này có thể giải thích cho một thời kỳ đầy biến động của lịch sử Trái Đất.

1. Một số nguồn tài liệu có thể gọi là Ranh giới C-T. Tuy nhiên, chữ C thường được dùng để chỉ kỷ Cambri. Chữ K ở đây vốn là từ Kreta trong tiếng Hy Lạp hoặc Kreide trong tiếng Đức. Cả hai đều mang nghĩa là Phấn trắng hoặc Cretaceous trong tiếng Anh.

Vào thời điểm đó, tất cả những gì con người biết về khủng long không hơn gì so với thời kỳ Charles Lyell một thế kỷ trước đó. Đó là, loài khủng long đã bị tuyệt chủng từ hàng triệu năm trước. Nhưng độ dày của phiến đất sét cho thấy rõ ràng rằng ở Umbria đã từng xảy ra một thay đổi vô cùng đột ngột, chỉ có điều vào những năm 1970, không có cuộc xét nghiệm nào được thực hiện nhằm xác định xem một trầm tích như vậy mất bao lâu để hình thành.

Thật may mắn vì Alvarez đã không đầu hàng, ông đã cầu cứu cha mình – Luis Alvarez, một nhà vật lý hạt nhân nổi tiếng từng được trao giải Nobel. Alvarez cha luôn không tán thành đam mê của con trai mình với địa chất, tuy nhiên vấn đề này lại hấp dẫn ông. Ông cho rằng câu trả lời có thể nằm ở bụi không gian.

Hằng năm, Trái Đất tích tụ khoảng 30.000 tấn “khối cầu vũ trụ” – nói một cách dễ hiểu là bụi không gian – những thứ bạn chỉ có thể thấy khi chúng được vun thành một đống, nhưng sẽ không thấy khi chúng bay rải rác khắp vũ trụ. Chúng chứa các hạt iriđi [iridium], nguyên tố có nhiều trong không gian gấp vài nghìn lần trong vỏ Trái Đất (bởi hầu hết các iriđi trên Trái Đất đã chìm xuống lõi hành tinh từ thuở sơ khai).

Một đồng nghiệp của Luis Alvarez ở Phòng Thí nghiệm Lawrence Berkeley, bang California, Frank Asaro, đã phát triển kỹ thuật đo lường chính xác thành phần hóa học của đất sét bằng một quá trình gọi là phân tích neutron hoạt hóa. Ông dùng neutron bắn phá các mẫu vật trong một lò phản ứng hạt nhân nhỏ và cẩn thận tính số tia gamma phát ra. Đây là một phương pháp vô cùng khó khăn mà trước đó Asaro đã từng sử dụng để phân tích các mảnh gốm. Dựa trên nghiên cứu này, Alvarez lập luận rằng nếu họ định lượng được một trong các yếu tố ngoại lai trong mẫu đất của con trai ông và so sánh nó với tốc độ lắng đọng hằng năm, thì họ sẽ tính được mẫu vật đó đã mất bao lâu để hình thành. Một buổi chiều tháng 10 năm 1977, cha con Luis và Walter Alvarez ghé thăm Asaro và nhờ ông tiến hành các thí nghiệm cần thiết.

Đây là một đề nghị khá táo bạo. Nói cách khác, họ muốn Asaro dành nhiều tháng để thực hiện các phép đo địa chất phức tạp chỉ nhằm xác nhận một điều hiển nhiên, phiến đất sét được hình thành trong thời gian rất ngắn. Chắc chắn chẳng ai ngờ được rằng nghiên cứu này lại đơm hoa kết trái.

“Họ rất dễ ưa và đã thuyết phục được tôi”, Asaro kể lại trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2002. “Tôi đã đồng ý với thử thách thú vị đó, nhưng do còn quá nhiều việc cần làm nên phải đến tám tháng sau tôi mới bắt tay thực hiện được.” Ông đã ghi chép cụ thể về giai đoạn này. “Vào lúc 13 giờ 45 phút ngày 21 tháng 6, chúng tôi đặt một mẫu thử vào máy dò. Sau khi máy chạy được 224 phút, chúng tôi dừng máy để xem kết quả.”

Kết quả bất ngờ đến nỗi cả ba nhà khoa học nghĩ rằng họ nhầm. Hàm lượng iriđi trong mẫu của Alvarez nhiều gấp 300 lần mức bình thường. Trong các tháng tiếp theo, Asaro và đồng nghiệp Helen Michel đã làm việc không nghỉ suốt 30 giờ để phân tích mẫu vật (như chính Asaro đã chia sẻ: “Khi đã bắt đầu, bạn sẽ không thể dừng lại”) và chúng luôn cho ra kết quả giống nhau.

Các thí nghiệm với các mẫu vật khác – từ Đan Mạch, Tây Ban Nha, Pháp, New Zealand, Nam Cực – đều chỉ ra rằng quặng iriđi có trên toàn thế giới có tỷ lệ cao, đôi khi hơn mức thông thường đến 500 lần. Rõ ràng là có một điều gì đó lớn lao và đột ngột, có thể là một trận đại hồng thủy, đã gây ra sự tăng vọt này.

Sau rất nhiều cân nhắc, cha con Alvarez đã đưa ra một giải thích hợp lý nhất – từ mọi góc độ – rằng Trái Đất đã va chạm với một tiểu hành tinh hoặc sao chổi. Từ trước tới nay, người ta vẫn luôn bàn về khả năng Trái Đất có thể là nạn nhân của những cú va chạm hủy diệt. Trở lại năm 1942, một nhà vật lý thiên văn ở Đại học Northwestern là Ralph B. Baldwin đã đề cập khả năng này trên tạp chí Popular Astronomy (bởi không có nhà xuất bản học thuật nào sẵn sàng in bài báo này). Có ít nhất hai nhà khoa học nổi tiếng, nhà thiên văn học Ernst Öpik và nhà hóa học đạt giải Nobel, Harold Urey, nhiều lần lên tiếng ủng hộ quan điểm này. Ngay trong cộng đồng cổ sinh vật học cũng tồn tại quan điểm này. Năm 1956, một giáo sư của Đại học Oregon, M. W. De Laubenfels, trong một bài viết trên tờ Journal of Paleontology, dường như đã tiên liệu được thuyết của Alvarez khi cho rằng loài khủng long có thể đã bị giáng cú đòn tuyệt diệt từ vũ trụ, và trong năm 1970, Chủ tịch Hội cổ sinh vật học Mỹ, Dewey J. McLaren, đã đề xuất tại hội nghị thường niên của hội này về khả năng một tác động ngoài Trái Đất đã gây ra sự kiện được biết đến với tên gọi là nạn tuyệt chủng Frasnian.

Để nhấn mạnh tính thực tế của quan điểm này, một hãng phim Hollywood đã sản xuất một bộ phim có tên Meteor [tạm dịch: Sao băng] vào năm 1979, (nó rộng tới 5 dặm… bay với vận tốc 30.000 dặm một giờ – và không có nơi nào để trú ẩn!) với sự tham gia của các diễn viên Henry Fonda, Natalie Wood, Karl Malden, và tất nhiên là cả một khối đá khổng lồ.

Do vậy, vào tuần đầu tiên của năm 1980, khi Hiệp hội vì sự Tiến bộ Khoa học Hoa Kỳ tổ chức một cuộc họp, Alvarez công bố giả thuyết rằng việc loài khủng long tuyệt chủng không phải là một quá trình diễn ra trong hàng triệu năm mà chỉ gói gọn trong một vụ nổ bất ngờ, điều này lẽ ra đã không gây bất ngờ gì đối với các thành viên.

Nhưng nó quả thật đã gây chấn động. Giả thuyết này được đón nhận ở khắp nơi, chỉ trừ trong giới cổ sinh học thì nó bị xem là một sự sỉ nhục ngỗ nghịch.

Asaro nhớ lại: “Chúng tôi hoàn toàn là những kẻ nghiệp dư trong lĩnh vực này. Walter là nhà địa chất chuyên về cổ từ học, Luis là nhà vật lý còn tôi là nhà hóa học hạt nhân. Chúng tôi tuyên bố với các nhà cổ sinh vật học rằng chúng tôi đã giải quyết được vấn đề mà họ chịu thua trong suốt hơn một thế kỷ. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi họ không chấp nhận nó ngay được.” Luis Alvarez còn hài hước so sánh: “Cứ như là chúng tôi bị tóm khi đang hành nghề địa chất không giấy phép vậy.”

Tuy nhiên, có rất nhiều chuyện để nói về thuyết va chạm. Ngay từ thời Lyell, người ta đã có một niềm tin bất diệt rằng các quá trình trên mặt đất phải diễn ra từng bước. Đến thập kỷ 1980, thuyết va chạm đã lỗi thời đến mức chẳng ai còn nghĩ đến. Với các nhà địa chất, ý tưởng về một vụ va chạm khủng khiếp, như Eugene Shoemaker ghi lại là, “chống lại tôn giáo khoa học của họ”.

Việc Luis Alvarez công khai tỏ ra khinh thường các nhà cổ sinh vật học và những đóng góp của họ cũng không giải quyết được việc gì. “Thực sự mà nói, họ chẳng giống các nhà khoa học chút nào. Họ giống những người sưu tầm tem hơn,” ông công kích trên tờ New York Times.

Những người phản đối thuyết Alvarez nghĩ ra nhiều giải thích khác về quặng iriđi – ví dụ việc chúng được hình thành do núi lửa phun trào kéo dài ở một vùng thuộc Ấn Độ, hay còn gọi là khu vực Deccan Traps. (“trap” nghĩa là một loại nham thạch trong tiếng Thụy Điển, “Deccan” là tên của khu vực này) – và trên hết, họ nhấn mạnh rằng theo những hồ sơ hóa thạch tại ranh giới iriđi, không chứng cứ nào cho thấy rằng loài khủng long đã biến mất đột ngột khỏi Trái Đất. Một trong những người phản đối mạnh mẽ nhất là Charles Officer đến từ Đại học Dartmouth. Mặc dù không có bằng chứng cụ thể, ông vẫn kiên quyết khẳng định lượng iriđi lắng đọng là do hoạt động của núi lửa. Cuối năm 1988, trong một cuộc khảo sát, hơn một nửa các nhà cổ sinh vật học Mỹ vẫn cho rằng sự tuyệt chủng của khủng long không liên quan gì đến sự va chạm với các tiểu hành tinh.

Cha con Alvarez dù sao cũng thiếu thứ họ cần để chứng minh thuyết của mình – chính là một vùng va chạm. Lẽ ra họ nên gặp Eugene Shoemaker. Con dâu của Shoemaker giảng dạy tại Đại học Iowa − và ông đã biết đến Miệng hố Manson trong những nghiên cứu của chính mình. Nhờ có ông, giới nghiên cứu bắt đầu hướng về Iowa.

* * *

Địa chất luôn thay đổi theo vùng. Ở một nơi bằng phẳng và có địa tầng ổn định như Iowa, địa chất cũng có xu hướng ổn định. Tại đây không có những đỉnh núi cao hoặc sông băng, không có mỏ dầu hoặc quý kim hay bất cứ dấu hiệu nào khác về một dòng nham thạch. Nếu làm địa chất ở Iowa, công việc chủ yếu của bạn là đánh giá kế hoạch quản lý phân bón, tài liệu mà những hộ khai thác động vật của tiểu bang – hay ta còn gọi là những người nuôi heo − phải nộp định kỳ. Có đến 15 triệu con heo ở Iowa, vì vậy có rất nhiều chất thải cần quản lý. Tôi không hề có ý chế giễu công việc này, nó rất quan trọng để bảo đảm nguồn nước sạch cho Iowa. Tuy nhiên, nó không phải là công việc nghiên cứu cách tránh bom nham thạch trên núi Pinatubo hay đào bới ở các khe nứt trên những dải băng Greenland để tìm thạch anh mang nguồn sống từ thời cổ đại. Nói như vậy để chúng ta có thể hình dung niềm vui sướng vô bờ chảy qua Sở Tài nguyên Iowa khi giữa thập kỷ 1980, cả thế giới địa chất hướng về Manson và miệng hố lớn trên nó.

Hội trường Trowbridge ở thành phố Iowa là một tòa nhà gạch đỏ lâu đời, nơi đặt văn phòng của Phòng Khoa học Trái Đất, Đại học Iowa – trên tầng áp mái là nơi làm việc của các nhà địa chất Sở Tài nguyên Iowa. Không ai có thể nhớ khi nào và tại sao người ta lại phân cho các nhà địa chất nơi này, nhưng có vẻ như nó được chấp nhận một cách miễn cưỡng, vì văn phòng thì chật hẹp với trần thấp và lại rất khó tìm. Khi được chỉ đường đến đây, chắc chắn bạn sẽ tưởng tượng rằng mình phải đi trên gờ mái và vào bằng lối cửa sổ.

Ray Anderson và Brian Witzke làm việc ở đây giữa cả núi giấy tờ, tạp chí, các cuộn bảng biểu và những mẫu đá nặng trịch. (Các nhà địa chất không bao giờ thiếu chặn giấy.) Trong không gian đó, nếu muốn tìm thứ gì – ghế, cốc cà phê, hoặc điện thoại đang đổ chuông – bạn cũng phải bới giữa hàng đống tài liệu xung quanh.

“Đột nhiên chúng tôi lại trở thành tâm điểm chú ý, đó là một khoảng thời gian tuyệt vời,” mắt Anderson lấp lánh niềm vui khi tôi gặp ông và Witzke trong văn phòng vào một buổi sáng mưa tháng 6 ảm đạm.

Khi tôi hỏi họ về Eugene Shoemaker, Witzke cho hay: “Đó là một người đàn ông tuyệt vời mà nếu không có ông, toàn bộ vấn đề sẽ không bao giờ sáng tỏ. Ngay cả với sự trợ giúp của ông, chúng tôi cũng mất hai năm để tiến hành. Việc khoan đục rất đắt đỏ với giá khoảng 35 đô-la cho 1ft vào thời đó, bây giờ còn đắt hơn, mà chúng tôi thì phải khoan đến 3.000ft.”

“Đôi khi còn sâu hơn ấy chứ,” Anderson tiếp lời.

“Đúng vậy. Khoan sâu hơn, tại một số điểm. Vì thế chúng tôi cần rất nhiều tiền, chắc chắn là vượt xa ngân sách cho phép,” Witzke xác nhận.

Do đó, Hội Khảo sát địa chất Iowa đã hợp tác với Hội Khảo sát địa chất Mỹ. “Ít nhất thì chúng tôi đã nghĩ nó là một sự hợp tác,” Anderson mỉm cười cay đắng.

“Đó là một bài học đắt giá cho chúng tôi. Trong giai đoạn đó, có rất nhiều kết luận khoa học được vội vàng đưa ra”, Witzke nói. Một trong số những sự kiện đó là trong cuộc họp thường niên của Hội Địa lý Hoa Kỳ năm 1985, khi Glenn Izett và C. L. Pillmore của Ban Khảo sát Địa chất thông báo rằng miệng núi lửa Manson có liên quan đến sự tuyệt chủng của loài khủng long. Thông báo này nhanh chóng thu hút sự chú ý của báo giới nhưng rất tiếc lại chết yểu vì rất nhanh sau đó, các nghiên cứu kỹ lưỡng chứng minh miệng Manson không chỉ quá nhỏ, mà còn được tạo ra trước đó cả chín triệu năm.

Anderson và Witzke khi đi dự hội thảo ở Nam Dakota, thấy mọi người nhìn mình bằng ánh mắt cảm thông: “Nghe nói các anh mất cái miệng núi lửa ấy rồi.” Lúc đó, họ mới được biết rằng Izett và những nhà khoa học của Hội Vật lý Hoa Kỳ đã chứng minh rằng Manson hoàn toàn không thể là miệng núi lửa của sự tuyệt chủng.

“Thật là choáng váng,” Anderson nghĩ lại, “chúng tôi đã nghĩ rằng đó chính là vùng va chạm, nhưng rồi tất cả vụt mất. Điều tệ hơn là bạn phải thấy rằng những người mà bạn từng xem là cộng sự lại không mảy may ủng hộ bạn.”

“Tại sao không?”

Ông nhún vai. “Ai mà biết được? Dù sao tôi cũng nhận ra khoa học sẽ trở nên khắc nghiệt đến thế nào khi bạn chỉ là tay chơi tầm trung.”

Cuộc tìm kiếm khu vực va chạm giữa Trái Đất và tiểu hành tinh bắt đầu chuyển hướng. Vô tình vào năm 1990, một trong những người tìm kiếm, Alan Hilderbrand của Đại học Arizona gặp một phóng viên của tờ Houston Chronicle và được biết về một vành đai những hố lớn hình thành không rõ nguyên nhân, dài 193km và sâu 48km, dưới bán đảo Yucatán ở Chicxulub, Mexico, gần thành phố Progeso, cách khoảng 950km về phía nam New Orleans. Công ty dầu Pemex của Mexico tìm ra năm 1952 – cùng năm Eugene Shoemaker lần đầu đến thăm hố va chạm Meteor ở Arizona – nhưng các nhà địa chất của công ty đã kết luận rằng đây là một núi lửa, phù hợp với lối nghĩ thời đó. Hildebrand đã đi đến tận nơi và nhanh chóng đưa ra khẳng định đó chính là những miệng hố va chạm họ đang tìm. Đầu năm 1991, người ta tuyên bố Chicxulub là vùng va chạm.

Nhiều người vẫn chưa hiểu một vụ va chạm có thể gây ra những gì. Như Stephen Jay Gould ghi lại: “Tôi đã từng có những nghi ngờ dữ dội… Làm sao một vật thể có đường kính sáu dặm lại có sức tàn phá đủ để tạo ra một chiếc hố với đường kính tám nghìn dặm?”

Chúng ta đã có một thử nghiệm tự nhiên về một vụ va chạm vũ trụ, đó là khi Shoemaker và Levy phát hiện ra sao chổi Shoemaker Levy 9 đang lao về phía sao Mộc. Đây là lần đầu tiên con người chứng kiến hai thiên thể trong hệ Mặt Trời va vào nhau – và xem rất rõ, nhờ có kính thiên văn Hubble hiện đại. Theo Curtis Peebles, sao chổi lúc đó không phải một khối cầu mà chỉ là một chuỗi thiên thạch gồm 21 mảnh, nên hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng “sao Mộc sẽ nuốt chửng sao chổi đó”. Một tuần trước vụ va chạm, tờ Nature đã giật tít: “Cậu bé khổng lồ đang đến”, dự đoán rằng vụ va chạm sẽ chẳng là gì ngoài một trận mưa thiên thạch.

Vụ va chạm xảy ra vào ngày 16 tháng 7 năm 1994, kéo dài cả một tuần và khủng khiếp hơn những gì mà tất cả mọi người – có lẽ trừ Eugene Shoemaker – có thể tưởng tượng ra. Một mảnh trong đó, được gọi là Nhân G, đã tạo ra cú va đập với một lực khoảng 6 triệu mega tấn – gấp 75 lần tổng số vũ khí hạt nhân hiện nay. Nhân G chỉ có kích thước của một ngọn núi nhỏ nhưng lại gây ra các vết thương trên bề mặt sao Mộc kích cỡ bằng với Trái Đất. Vụ va chạm khủng khiếp này là cú hạ đo ván những nhà phê bình lý thuyết Alvarez.

Luis Alvarez chẳng bao giờ biết đến sự phát hiện hố va chạm Chicxulub hoặc sao chổi Shoemaker Levy vì ông đã qua đời vào năm 1988. Shoemaker cũng đoản mệnh. Vào dịp kỉ niệm lần thứ ba của vụ va chạm sao Mộc, ông cùng vợ đang ở một vùng hẻo lánh của Australia, nơi họ đến hàng năm để tìm vùng va chạm. Trên con đường bụi mù ở sa mạc Tanami – một trong những nơi vắng vẻ nhất trên Trái Đất – xe của họ đã đâm vào một chiếc xe khác, Shoemaker chết tại chỗ còn vợ ông bị thương. Một phần tro của ông được gửi lên Mặt Trăng theo tàu Lunar Prospector, phần còn lại được rải quanh miệng núi lửa Meteor.

* * *

Anderson và Witzke không có được miệng hố va chạm đã tiêu diệt các loài khủng long, “song chúng tôi vẫn còn miệng hố va chạm lớn và được bảo tồn tốt nhất trên lục địa Mỹ,” Anderson cho biết. (Cần nói thêm một chút về vị trí tột bậc này của Manson, vì dù có những miệng hố lớn khác rộng hơn, ví dụ như Vịnh Chesapeake được công nhận là vùng va chạm vào năm 1994 – song chúng đều ở xa đất liền hoặc đã biến dạng.) “Chicxulub bị chôn vùi dưới 2 đến 3km đá vôi và nằm ngoài đại dương nên rất nguyên sơ và khó nghiên cứu,” Anderson tiếp tục, “trong khi lại có thể tiếp cận Manson dễ dàng”.

Tôi đã đặt câu hỏi rằng liệu con người có nhận được cảnh báo nào khi một tảng thiên thạch lớn lao về phía chúng ta ngày nay không.

“Hầu như là không,” Anderson lập tức trả lời, “chúng ta không thể phát hiện nó bằng mắt thường cho đến khi nó nóng rực lên. Nghĩa là chỉ khi thiên thạch đã chạm vào bầu khí quyển, khoảng một giây trước khi va vào Trái Đất. Chúng ta đang nói về các vật thể bay nhanh gấp hàng chục lần những viên đạn nhanh nhất. Chúng sẽ hoàn toàn khiến chúng ta bất ngờ trừ khi được phát hiện bởi một kính thiên văn trước đó, với xác suất cực nhỏ.”

Mức độ của một va chạm phụ thuộc vào rất nhiều biến số – góc tiếp xúc, vận tốc và quỹ đạo, điểm tiếp xúc, độ rắn của vật va chạm – ta chỉ đo được tất cả những điều này nhiều triệu năm sau khi va chạm xảy ra. Những gì các nhà khoa học có thể làm – như Anderson và Witzke thực hiện – là nghiên cứu vùng va chạm và tính toán năng lượng phát ra. Từ đó, họ có thể miêu tả khá chính xác những gì đã diễn ra – hay khủng khiếp hơn là những gì sẽ diễn ra. Một tiểu hành tinh hoặc sao chổi đang bay với vận tốc vũ trụ sẽ đâm sầm vào Trái Đất với vận tốc đủ để không khí bên dưới không kịp thoát và sẽ bị nén như khí trong một chiếc bơm xe đạp. Ai đã từng dùng chiếc bơm này đều biết, khí nén nóng lên rất nhanh và nhiệt độ bên dưới nó sẽ tăng lên khoảng 60.000 Kelvin1, gấp 10 lần nhiệt độ trên bề mặt Mặt Trời. Trong khoảnh khắc chạm vào bầu khí quyển, tất cả mọi vật trên đường đi của nó – con người, nhà cửa, xe cộ sẽ nhăn nhúm và biến mất như những miếng giấy bóng kính hơ trên lửa.

1. Mỗi độ K trong nhiệt giai Kelvin (1K) bằng một độ trong nhiệt giai Celsius (1°C) và 0°C ứng với 273,16K. (ND)

Một giây sau khi tiến vào bầu khí quyển, thiên thạch sẽ va chạm với bề mặt Trái Đất tại nơi mà những cư dân của Manson vẫn đang sinh hoạt một giây trước. Bản thân thiên thạch sẽ bốc hơi ngay sau đó, nhưng vụ nổ sẽ thổi ra 1.000km khối đất, đá và khí nóng. Mọi thứ trong bán kính 250km nếu không bị xóa sổ bởi nhiệt phát ra thì cũng bị triệt tiêu bởi áp lực của vụ nổ. Sóng nhiệt tỏa ra sẽ quét sạch mọi thứ cản đường nó.

Với những người bên ngoài khu vực hủy diệt, dấu hiệu đầu tiên về thảm họa sẽ là một luồng sáng chói lòa – ngay sau đó là một cảnh tượng khó tin, một vùng tối che phủ toàn bộ tầm mắt với tốc độ hàng nghìn cây số một giờ. Tất cả diễn ra trong sự im lặng kỳ quái nhưng còn nhanh hơn cả tốc độ âm thanh. Bất cứ ai đang đứng trên tòa nhà cao tầng ở Omaha hoặc Des Moines, nếu có cơ hội nhìn đúng hướng, sẽ thấy một tấm màn hỗn loạn và sau đó là sự hủy diệt hoàn toàn.

Trong vòng vài phút, khu vực trải dài từ Denver đến Detroit, qua nơi từng là Chicago, St Loius, Kansas, Twin – tóm lại là cả vùng Trung Tây, sẽ bị san phẳng hoặc thiêu rụi, gần như tất cả mọi sinh vật sẽ bị xóa sổ. Những người cách đó trong phạm vi lên tới 1.500km sẽ bị nhấc lên khỏi mặt đất, bị cắt gọt hoặc đập túi bụi bởi một trận bão những viên đạn bay. Ngoài phạm vi này, sức hủy diệt của vụ nổ sẽ dần giảm bớt.

Đó mới chỉ là đợt sóng va chạm đầu tiên. Không ai đoán được tai họa tiếp theo sẽ là gì, nhưng chắc chắn nó sẽ diễn ra rất nhanh và trên phạm vi toàn cầu. Nó có thể sẽ kéo theo một chuỗi các vụ động đất kinh hoàng. Các núi lửa trên khắp thế giới sẽ rùng mình tỉnh giấc và phun trào. Sóng thần sẽ dâng cao trên những bờ biển xa xôi. Trong vòng một giờ, mây đen sẽ bao phủ, đá và những mảnh vật chất bốc cháy sẽ bị ném xuống khắp nơi, thiêu rụi cả hành tinh. Người ta ước tính ít nhất 1,5 tỉ người sẽ thiệt mạng trong ngày đầu tiên. Những rối loạn ở tầng điện ly sẽ cắt đứt hệ thống liên lạc ở khắp mọi nơi, vì vậy những người sống sót cũng sẽ không biết chuyện gì đang xảy ra và không biết phải chạy đường nào cho thoát. Song điều đó cũng không quan trọng, vì như lời một nhà bình luận so sánh, thì bỏ chạy chỉ là “lựa chọn một cái chết chậm hơn” mà thôi. Mọi nỗ lực di tản lúc đó sẽ không giảm được con số thương vong, vì Trái Đất sẽ mất khả năng bảo tồn sự sống trên toàn cầu.

Lượng bụi và tro tàn bay ra từ vụ va chạm có thể che khuất Mặt Trời trong nhiều tháng, thậm chí là hàng năm, gây gián đoạn mọi chu kỳ phát triển tự nhiên. Năm 2001 những nhà nghiên cứu tại Học viện công nghệ California đã phân tích các đồng vị hêli từ trầm tích còn sót lại của vụ nổ KT và kết luận nó gây ảnh hưởng đến khí hậu Trái Đất trong khoảng 10.000 năm. Người ta cho rằng khí hậu cũng là một nhân tố đẩy loài khủng long đến chỗ tuyệt chủng. Chúng ta chỉ có thể dự đoán xem con người liệu có thể đương đầu với các sự cố như vậy hay không.

Tóm lại, hãy nhớ thảm họa đó có thể xảy ra bất thình lình ngay trên bầu trời tươi sáng này vào bất cứ thời điểm nào.

Bây giờ hãy tưởng tượng, nếu có thể nhìn thấy vật thể đang lao đến, chúng ta sẽ làm gì? Hầu hết mọi người đều cho rằng loài người sẽ phóng một đầu đạn hạt nhân lên vũ trụ và phá tan tảng thiên thạch thành trăm mảnh. Tuy nhiên ý tưởng này rất có vấn đề. Trước hết, như John S. Lewis lưu ý, thì tên lửa của chúng ta không được thiết kế để vận hành trong hoàn cảnh vũ trụ. Chúng không có đủ sức mạnh để thoát khỏi lực hấp dẫn của Trái Đất, và nếu có thì cũng không có một cơ chế nào có thể định hướng cho chúng vượt qua hàng chục triệu kilômét trong vũ trụ. Khả năng tiếp theo là loài người sẽ phải gửi các cao bồi không gian lên vũ trụ trên một chiếc phi thuyền, như trong bộ phim Ngày tận thế [Armageddon]. Nhưng rất tiếc, những tên lửa mạnh nhất của chúng ta cũng chỉ đưa họ lên tới Mặt Trăng là cùng thôi. Tên lửa cuối cùng có khả năng làm điều đó, Saturn 5, cũng đã ngừng hoạt động từ nhiều năm trước. Loài người cũng sẽ không kịp tạo ra một tên lửa mới bởi những bệ phóng của Saturn đã bị phá hủy trong chiến dịch làm sạch vào mùa xuân của NASA.

Trong trường hợp chúng ta có thể phóng đầu đạn hạt nhân và phá hủy thiên thạch thành từng mảnh vụn, thì có nhiều khả năng những chuỗi mảnh vụn đó sẽ lao về phía chúng ta giống như sao chổi Shoemake Levy lao về sao Mộc – chỉ khác là những mảnh vụn đó đã nhiễm xạ rất nặng. Tom Gehrel, nhà tìm kiếm các tiểu hành tinh ở Đại học Arizona, cho rằng dù có được cảnh báo trước một năm thì loài người cũng trở tay không kịp. Nhưng khả năng lớn hơn sẽ là, chúng ta chẳng thể nhìn thấy điều gì – kể cả một sao chổi – cho đến khi nó chỉ còn cách chúng ta khoảng sáu tháng, khi đó thì mọi chuyện đã quá muộn. Cũng như Shoemaker Levy đã ở trên quỹ đạo của sao Mộc từ năm 1929, nhưng mãi đến nửa thế kỷ sau người ta mới phát hiện nó.

Mọi khả năng trên đều rất khó tính toán và có sai số đáng kể, nên chúng ta sẽ không thể biết chắc vụ va chạm có xảy ra hay không cho đến những ngày cuối cùng – có thể là cách vài tuần. Trong suốt thời gian đó, ta sẽ sống trong âu lo – hẳn sẽ là những tháng thăng trầm nhất trong lịch sử nhân loại trước khi ta có thể mở tiệc ăn mừng nếu vượt qua một cách an toàn.

Tôi hỏi Anderson và Witzke câu cuối cùng: “Khoảng bao lâu thì sẽ có một sự kiện như vụ nổ Manson xảy ra?”

“Trung bình là khoảng một triệu năm một lần,” Witzke cho biết.

“Đây chỉ là vụ va chạm nhỏ,” Anderson tiếp tục, “mà anh có biết có bao nhiêu loài tuyệt chủng sau vụ Manson không?”

Tôi không có câu trả lời.

“Không loài nào cả,” ông nói với một sự hài lòng kỳ lạ.

Tất nhiên, Anderson và Witzke không quên nhấn mạnh rằng sự hủy diệt sẽ rất kinh hoàng. Tuy vậy, sự sống trên Trái Đất này cũng thật kiên cường, khi những đám khói bụi tan đi, sẽ vẫn còn các sinh vật may mắn sống sót đủ để không loài nào biến mất mãi mãi.

Tin tốt là việc xóa sổ một loài không dễ chút nào. Tin xấu là chúng ta không thể lúc nào cũng mong chờ những tin tốt lành. Dù đó là thảm họa khủng khiếp đến đâu thì chúng ta cũng không thể cứ nhìn chăm chăm vào không gian để tìm kiếm những kẻ hủy diệt bằng đá. Bởi ở những chương sau của cuốn sách này, bạn sẽ thấy bản thân Trái Đất này cũng đầy rẫy những mối hiểm nguy.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.