Sự nợ nực của tôi muốn được dọn vào ở Nhà ẩn sĩ không cho phép tôi chờ đến khi thời tiết đẹp trở lại; ngay khoảnh khắc chỗ ở được chuẩn bị xong, tôi liền vội vã dọn đến đó, trước sự thích thú tột cùng của “Cơ-tờ-ri Ôn-bát-sích” (Coterie Holbachique), nhóm người đã công khai tiên đoán rằng tôi sẽ chẳng tài nào chịu đựng nổi sự cô độc trong ba tháng, và rồi tôi sẽ phải bẽ bàng quay trở lại Paris để sống y hệt như họ. Về phần tôi, sau mười lăm năm lạc lõng khỏi cái chốn vốn thuộc về mình, nay thấy bản thân đang đứng trước thềm được trở về với nó, tôi chẳng màng gì đến những lời trêu chọc của họ. Kể từ khi, trái với ý muốn của bản thân, tôi phải bước chân trở lại cõi đời này, tôi chưa từng nguôi ngoai nỗi nhớ nhung khôn nguôi về những nương dâu Charmettes thân thương cùng cuộc sống êm đềm mà tôi từng trải qua ở đó. Tôi mang sẵn trong mình một bản tính hướng về chốn thâm sơn cùng cốc và điền viên thôn dã; đối với tôi, thật là bất khả thi để có thể sống hạnh phúc ở bất kỳ nơi nào khác. Ở Venice, giữa chốn bận rộn của việc công, trong ánh hào quang của một thứ đại diện công quyền, trong niềm kiêu hãnh của những hoài bão thăng tiến; tại Paris, giữa dòng xoáy của giới thượng lưu, trong sự xa hoa của những buổi tiệc đêm, trong vẻ rực rỡ của các sân khấu kịch trường, dưới những tia sáng lóa mắt; những lùm cây, dòng suối và những lối đi vắng lặng của tôi vẫn luôn hiện về trong ký ức, làm gián đoạn dòng suy nghĩ, khiến tôi chìm đắm trong u sầu và thở dài vì khao khát. Tất cả những công sức nhọc nhằn mà tôi tự trói buộc bản thân vào đó, mọi dự án đầy tham vọng từng có lúc khơi gợi ngọn lửa nhiệt thành trong tôi, tất cả đều hướng về chốn ẩn dật đồng quê hạnh phúc này — nơi mà giờ đây tôi ngỡ như đã ở ngay trước mắt. Dù chưa tích lũy được một nguồn tài chính độc lập và tươm tất — điều mà tôi từng đánh giá là phương cách duy nhất để đạt được mục đích của mình, tôi vẫn tự nhủ rằng trong hoàn cảnh đặc biệt của bản thân, tôi hoàn toàn có thể xoay sở mà không cần đến nó, và rằng tôi vẫn có thể đạt được mục đích tương tự bằng một con đường hoàn toàn trái ngược. Tôi chẳng có thu nhập cố định nào; nhưng bù lại, tôi có chút ít tài năng và đã tạo dựng được một tên tuổi. Nhu cầu của tôi rất ít, và tôi đã tự giải phóng mình khỏi tất cả những thứ tốn kém nhất, những thứ vốn chỉ dựa trên định kiến và dư luận. Hơn thế nữa, dẫu bản tính vốn lười nhác, tôi lại vô cùng chăm chỉ khi muốn làm việc; và sự lười nhác của tôi ít mang dáng dấp của một kẻ biếng nhác, mà giống hơn với sự thảnh thơi của một người độc lập chỉ làm việc khi bản thân hứng thú. Nghề chép nhạc của tôi chẳng hề hào nhoáng hay hái ra tiền, bù lại nó rất ổn định. Thiên hạ ghi nhận lòng dũng cảm mà tôi đã thể hiện khi lựa chọn nghề nghiệp này. Tôi có thể yên tâm rằng mình sẽ có đủ việc làm để sinh sống. Hai ngàn livres còn lại từ tiền bản quyền vở “Devin du Village” cùng các trước tác khác là một khoản tiền giúp tôi không phải rơi vào cảnh túng quẫn, và một vài tác phẩm đang còn dang dở hứa hẹn sẽ mang lại cho tôi những khoản thu nhập đủ để tôi thoải mái làm việc mà không phải kiệt sức, thậm chí bằng cách tận dụng cả khoảng thời gian thảnh thơi trong những buổi dạo bước của mình — mà chẳng cần phải ngửa tay xin tiền các hiệu sách. Gia đình nhỏ của tôi, gồm ba con người và ai nấy đều có việc làm hữu ích, chẳng tốn kém là bao để duy trì. Cuối cùng, với những nguồn lực tương xứng cùng nhu cầu và ước muốn của bản thân, tôi hoàn toàn có lý do để kỳ vọng vào một cuộc sống hạnh phúc và bền vững, đúng theo lối sống mà lòng ham muốn đã thúc giục tôi lựa chọn.
Tôi hoàn toàn có thể chọn con đường vụ lợi và, thay vì cặm cụi sai khiến ngòi bút vào việc chép thuê, lại dốc toàn lực cho những tác phẩm — từ độ cao mà tôi đã vươn tới và cảm thấy đủ sức duy trì — có thể giúp tôi sống trong sự sung túc, thậm chí giàu sang, nếu như tôi dù chỉ có một chút ý định kết hợp những mưu mô của một nhà văn với việc lo toan xuất bản một cuốn sách hay. Nhưng tôi linh cảm rằng việc viết lách vì miếng cơm manh áo sẽ sớm bóp nghẹt thiên tài và hủy hoại tài năng của tôi — những thứ nằm ở trái tim nhiều hơn là ở ngòi bút, và xuất phát thuần túy từ một lối tư duy cao cả, thanh tao, thứ duy nhất có thể nuôi dưỡng và gìn giữ chúng. Chẳng có điều gì mãnh liệt hay vĩ đại có thể tuôn ra từ một ngòi bút hoàn toàn bị đồng tiền mua chuộc. Sự túng bẫy, hay thậm chí sự tham lam, có lẽ sẽ chỉ khiến tôi viết nhanh hơn là viết hay. Nếu ham muốn thành công không đẩy tôi vào những bè phái, thì nó cũng sẽ khiến tôi cố gắng cho ra mắt ít tác phẩm chân thực và hữu ích hơn là những thứ có thể làm hài lòng đám đông; và thay vì trở thành một tác giả ưu tú như tôi hằng có khả năng, tôi sẽ chẳng hơn gì một kẻ viết lách tầm thường vơ bèo gạt té. Không: tôi vẫn luôn cảm thấy rằng nghề viết lách chỉ thực sự danh giá khi nó ít mang tính chất của một nghề buôn bán hơn. Thật quá ư khó khăn để có thể suy nghĩ một cách cao thượng khi ta phải bận tâm suy nghĩ vì kế sinh nhai. Để có thể dám cất lên cả những chân lý lớn lao, một nhà văn buộc phải giữ được sự độc lập đối với thành công. Tôi trao những cuốn sách của mình cho công chúng với sự xác tín rằng mình đã viết vì lợi ích chung của nhân loại, mà chẳng màng mảy may lo lắng đến những chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Nếu tác phẩm bị vứt xó, thì đó là điều tồi tệ cho những kẻ không biết đường thụ hưởng lợi ích từ nó. Sự chuẩn y của họ chẳng hề cần thiết cho việc mưu sinh của tôi; nghề nghiệp của tôi đã đủ sức nuôi sống tôi ngay cả khi các tác phẩm của tôi chẳng bán được bản nào — và cũng chính vì lý do đó mà tất cả chúng đều bán rất chạy.
Đó là vào ngày mùng 9 tháng Tám năm 1756, tôi rời bỏ các thành thị để không bao giờ quay lại định cư ở đó nữa: bởi tôi không xem khoảng thời gian vài ngày ngắn ngủi mà sau này tôi ghé lại Paris, London hay các thành thị khác là sự định cư, khi mà tôi luôn trong trạng thái nay đây mai đó hoặc trái với ý nguyện của mình. Bà d’Epinay đến đón cả ba chúng tôi bằng xe ngựa của bà; người tá điền của bà chở hành lý nhỏ của tôi đi, và tôi chính thức nhận nhà ngay trong ngày hôm đó. Tôi thấy chốn ẩn dật nhỏ bé của mình được bài trí đơn sơ nhưng ngăn nắp và có chút gout thẩm mỹ. Bàn tay đã góp phần trang hoàng cho chốn này khiến nó trở nên vô giá trong mắt tôi, và tôi thấy thật tuyệt diệu khi được làm khách của người bạn nữ của mình trong một ngôi nhà do chính tôi chọn lựa và được bà cho xây dựng lên hoàn toàn vì mục đích dành riêng cho tôi.
Dù thời tiết hãy còn lạnh giá và mặt đất phủ một lớp tuyết mỏng, vạn vật bắt đầu đâm chồi nảy lộc: hoa tử la lan và hoa anh thảo đã thấp thoáng xuất hiện, những nhành cây bắt đầu hé nụ, và buổi chiều tối ngày tôi đến được đánh dấu bằng tiếng hót của loài chim sơn ca, vang lên hầu như ngay bên dưới cửa sổ phòng tôi, trong một khu rừng nằm liền kề ngôi nhà. Sau một giấc ngủ chợp mắt nhẹ nhàng, trong phút ngái ngủ quên mất rằng mình đã đổi chỗ ở, tôi vẫn cứ đinh ninh rằng mình đang ở phố Rue Grenelle, thì bỗng nhiên tiếng hót líu lo ấy khiến tôi giật mình thon thót, và tôi thốt lên trong niềm hân hoan tột độ: “Cuối cùng thì mọi ước nguyện của ta đã thành hiện thực!” Việc đầu tiên tôi làm là phó mặc bản thân cho ấn tượng của những khung cảnh thôn dã đang bao bọc lấy mình. Thay vì bắt tay vào việc sắp xếp đồ đạc trong chốn ở mới, tôi lại bắt đầu sắp xếp cho những buổi dạo chơi của mình; và chẳng có lấy một con đường mòn, một vạt rừng thưa, một lùm cây hay một góc khuất nào ở vùng phụ cận nơi tôi cư ngụ mà tôi lại không ghé qua vào ngày hôm sau. Càng ngắm nghía chốn ẩn dật quyến rũ này, tôi càng thấy nó vừa vặn với những ước nguyện của mình biết bao. Nơi chốn biệt lập này, mang vẻ thâm nghiêm hơn là hoang dã, đã đưa trí tưởng tượng của tôi bay bổng đến tận cùng thế giới. Nó mang những vẻ đẹp nổi bật mà hiếm khi nào tìm thấy ở gần các thành thị, và sẽ chẳng một ai, nếu bị ném đột ngột vào đó, có thể tưởng tượng nổi mình đang ở cách Paris chưa đầy bốn hải lý.
Sau khi phó mặc bản thân cho cơn mê đắm điền viên ấy trong vài ngày, tôi bắt đầu sắp xếp lại giấy tờ và quy củ hóa các công việc của mình. Như mọi khi, tôi dành trọn các buổi sáng cho việc chép sách, và các buổi chiều cho những chuyến dạo chơi, mang theo cuốn sổ tay nhỏ và một cây bút chì; bởi vì chưa bao giờ có thể viết lách và suy nghĩ một cách thoải mái nếu không ở dưới bầu trời rộng mở (*sub dio*), tôi chẳng có ý định từ bỏ phương pháp này, và tôi tin chắc rằng khu rừng Montmorency, vốn ở ngay sát thềm cửa nhà tôi, từ nay về sau sẽ là thư phòng và không gian nghiên cứu của tôi. Tôi có vài tác phẩm đang làm dở; tôi lướt qua chúng. Trí óc tôi quả thật rất dồi dào những dự án lớn lao, nhưng giữa chốn phố thị ồn ào, việc thực hiện chúng cứ ì à ì ạch. Tôi tự nhủ sẽ phải siêng năng hơn khi ít bị quấy rầy hơn. Tôi cho rằng mình đã hoàn thành khá tốt dự định này; và đối với một người thường xuyên đau yếu, hay lui tới La Chevrette, Epinay, Raubonne, lâu đài Montmorency, đôi khi bị quấy rầy bởi những kẻ nhàn rỗi hay tò mò, và luôn tốn nửa ngày để chép sách — nếu ta xét đến những gì tôi đã làm ra trong suốt sáu năm trời sống tại Nhà ẩn sĩ và Montmorency, tôi tin chắc rằng mọi người sẽ thấy nếu trong khoảng thời gian này tôi có lãng phí thời gian, thì đó tuyệt đối không phải vì lười nhác.
Trong số các tác phẩm khác đang còn dang dở, tác phẩm mà tôi đã ấp ủ lâu nhất trong tâm tưởng, phù hợp nhất với sở thích của tôi, thứ mà tôi dành trọn một khoảng đời nhất định để thực hiện, và theo tôi là sẽ củng cố vững chắc tiếng tang mà tôi đã giành được, chính là cuốn “Institutions Politiques” (Các thể chế chính trị). Mười bốn năm trước, khi ở Venice — nơi tôi có dịp quan sát những khiếm khuyết của thứ chính thể vẫn được ca tụng hết lời ấy, tôi đã nảy sinh ý tưởng sơ khai về nó. Kể từ dạo đó, tầm nhìn của tôi đã được mở rộng hơn rất nhiều nhờ việc nghiên cứu lịch sử luân lý. Tôi đã nhận thức được rằng mọi thứ đều có mối liên hệ căn cốt với chính trị, và rằng dù những nền tảng chính trị ấy có là gì đi nữa, một dân tộc sẽ chẳng bao giờ vượt quá được cái giới hạn mà bản chất của chính thể đó nhào nặn nên họ; do đó, câu hỏi lớn lao về một nền chính thể tối ưu khả dĩ dường như quy tụ lại thành một điểm duy nhất: Bản chất của một chính thể như thế nào là thích hợp nhất để nhào nặn nên một dân tộc đức hạnh và minh triết nhất, khôn ngoan và tốt đẹp nhất — hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ ngữ sau cùng này? Tôi cho rằng câu hỏi này mang bản chất tương tự, nếu không muốn nói là hoàn toàn giống với câu hỏi tiếp theo: Đâu là chính thể mà tự bản chất của nó, luôn giữ mình ở khoảng cách gần nhất với các luật lệ, hoặc ít đi chệch hướng khỏi các luật lệ nhất? Từ đó, luật pháp là gì? cùng một loạt những câu hỏi có tầm quan trọng tương tự. Tôi nhận ra những câu hỏi này dẫn dắt đến những chân lý lớn lao, hữu ích cho hạnh phúc của nhân loại, nhưng đặc biệt là cho hạnh phúc của xứ sở tôi — nơi mà trong chuyến ghé thăm vừa qua, tôi đã không thể tìm thấy những khái niệm về luật pháp và tự do đủ đúng đắn hoặc rõ ràng. Tôi từng nghĩ rằng cách thức truyền đạt gián tiếp những điều này đến các đồng bào của mình sẽ là ít làm tổn thương lòng kiêu hãnh của họ nhất, và có lẽ sẽ giúp tôi được tha thứ vì đã nhìn xa hơn họ một chút.
Dù đã nhọc công mài giũa suốt năm hay sáu năm trời cho tác phẩm này, những tiến triển mà tôi đạt được chẳng đáng là bao. Những trước tác loại này đòi hỏi sự chiêm nghiệm, thời gian thảnh thơi và sự tĩnh lặng. Hơn nữa, tôi đã viết cuốn “Institutions Politiques” theo cách người ta vẫn gọi là *en bonne fortune* (với sự kín đáo tuyệt đối), và không hề hé lộ dự án của mình cho bất kỳ ai; thậm chí cả Diderot. Tôi sợ rằng người ta sẽ cho là quá ư táo bạo so với thời đại và đất nước mà tôi đang viết, và rằng sự lo sợ của những bạn bè sẽ kìm hãm không cho tôi thực hiện nó.
[Chính sự nghiêm cẩn đầy khôn ngoan của Duclos đã khơi gợi trong tôi nỗi sợ hãi này; còn về phần Diderot, tôi chẳng rõ vì cớ gì mà mọi cuộc thảo luận của tôi với ông ấy lại cứ có xu hướng đẩy tôi trở nên châm biếm hơn mức bản tính vốn dĩ cho phép. Điều này đã ngăn cản tôi tham vấn ông ấy về một công trình mà trong đó tôi chẳng muốn đưa vào điều gì khác ngoài sức mạnh của lý luận mà không hề vương chút vẻ cay đắng hay thiên kiến nào. Người ta có thể phán đoán về phong cách của tác phẩm này qua cuốn “Contrat Social” (Khế ước xã hội), thứ được trích ra từ chính nó.]
Tôi vẫn chưa biết liệu nó có kịp hoàn thành đúng hạn và theo cách thức để có thể ra mắt trước khi tôi qua đời hay không. Tôi muốn dâng hiến cho đề tài của mình mọi thứ nó đòi hỏi mà chẳng hề sợ hãi; hoàn toàn đinh ninh rằng vì bản thân không mang khiếu châm biếm và chưa bao giờ có ý định đả kích cá nhân, tôi sẽ luôn được phán xét một cách công bằng là vô can. Tôi quả thực rất muốn tận hưởng trọn vẹn quyền tư duy mà tôi có được từ lúc lọt lòng; nhưng đồng thời vẫn tôn trọng chính quyền nơi tôi đang sống, chưa từng bao giờ bất tuân luật pháp của họ, và vô cùng cẩn trọng để không xâm phạm các quyền lợi của tha nhân, tôi nhất quyết không vì sợ hãi mà khước từ những lợi thế của quyền đó.
Tôi thú nhận rằng, dẫu là một kẻ tha hương đang sinh sống tại Pháp, tôi thấy hoàn cảnh của mình vô cùng thuận lợi trong việc dám nói lên sự thật; bởi tôi thừa biết rằng nếu cứ tiếp tục — như điều tôi đã quả quyết — không in ấn bất cứ thứ gì trong vương quốc này mà không có sự cho phép, tôi sẽ chẳng buộc phải giải trình với bất kỳ ai ở đây về các châm ngôn của mình hay việc xuất bản chúng ở những nơi khác. Tôi thậm chí sẽ kém độc lập hơn ngay cả ở Geneva, nơi mà bất kể các cuốn sách của tôi được in ở đâu đi chăng nữa, các quan tòa vẫn có quyền kiểm duyệt nội dung của chúng. Sự cân nhắc này đã góp phần to lớn khiến tôi nhượng bộ trước những lời nài nỉ của bà d’Epinay và từ bỏ dự án định cư tại Geneva. Tôi cảm nhận được rằng, như tôi từng lưu ý trong tác phẩm *Emilius* của mình, trừ phi một tác giả là một kẻ sành mưu mô, bằng không nếu muốn làm cho các tác phẩm của mình thực sự hữu ích cho bất kỳ xứ sở nào đi nữa, ông ta buộc phải sáng tác chúng ở một nơi khác.
Điều khiến tôi cảm thấy hoàn cảnh của mình càng thêm phần hạnh phúc, chính là niềm tin chắc rằng chính quyền Pháp có lẽ sẽ, dẫu không nhìn tôi bằng con mắt quá đỗi thiện cảm, thì cũng sẽ xem việc bảo vệ tôi — hoặc chí ít là không quấy rầy sự bình yên của tôi — là một vấn đề nguyên tắc. Nó hiện lên trong mắt tôi như một đòn chính sách giản đơn nhưng khéo léo: biến sự dung túng cho một điều mà ta không có cách nào ngăn chặn thành một công trạng; bởi lẽ, giả sử tôi có bị trục xuất khỏi Pháp — đó là tất cả những gì chính quyền có quyền làm, thì tác phẩm của tôi vẫn cứ được viết ra, và có lẽ với ít sự dè dặt hơn; trong khi nếu để tôi yên thân, tác giả vẫn ở đó để chịu trách nhiệm cho những gì mình viết, và một định kiến vốn phổ biến khắp toàn châu Âu sẽ bị xóa bỏ bằng cách tạo lập uy tín về việc tôn trọng đúng mực các quyền lợi của cá nhân.
Những ai, dựa vào diễn biến sự việc, mà phán đoán rằng tôi đã lầm đường lạc lối, thì có lẽ bản thân họ cũng sẽ lại lầm đường lạc lối vào một lúc nào đó. Trong cơn bão táp sau này giáng xuống đầu tôi, những cuốn sách của tôi chỉ đóng vai trò là cái cớ, nhưng chính con người tôi mới là đích nhắm của mọi mũi tên giáo mác. Những kẻ bức hại tôi chẳng mấy bận tâm đến tác giả, nhưng chúng muốn hủy diệt Jean-Jacques; và tội ác lớn nhất mà chúng tìm thấy trong các trước tác của tôi chính là thứ danh dự mà chúng có thể mang lại cho tôi. Chúng ta đừng vội lấn lướt tương lai. Tôi không biết liệu bí ẩn này, vốn vẫn còn là một ẩn số đối với tôi, có bao giờ được làm sáng tỏ cho độc giả của tôi hay không; nhưng giả sử những nguyên tắc được công khai của tôi mang bản chất có thể chuốc lấy sự đối xử mà tôi từng nhận được, thì tôi lẽ ra đã sớm trở thành nạn nhân của chúng từ lâu, bởi vì tác phẩm phô bày những nguyên tắc ấy với sự can đảm tột độ — nếu không muốn nói là táo bạo — dường như đã phát huy tác dụng trước cả khi tôi lui về Nhà ẩn sĩ, mà không cần phải nói đến việc tôi nhận được dù chỉ là một lời khiển trách mảy may, hay thậm chí chẳng có lấy bất kỳ bước đi nào được thực hiện nhằm ngăn chặn việc xuất bản nó ở Pháp, nơi nó được bày bán công khai chẳng kém gì ở Holland. Cuốn *The New Eloisa* sau đó cũng ra mắt với sự suôn sẻ tương tự, tôi dám cả gan nói thêm là: với cùng một sự tung hô tương tự; và điều dường như khó tin là, lời tuyên xưng đức tin của nàng Eloisa này lúc lâm chung lại hoàn toàn tương đồng với vị mục tử xứ Savoy. Mọi ý tưởng đanh thép trong *Khế ước xã hội* trước đó đều đã từng được công bố trong bài luận về sự bất bình đẳng; và mọi quan điểm táo bạo trong *Emilius* cũng đã từng được tìm thấy trong *Eloisa*. Sự tự do không biên giới ấy đã chẳng hề khơi dậy dù chỉ là một lời thì thầm phản đối đối với hai tác phẩm đầu; thế nên đó hoàn toàn không phải là nguyên nhân châm ngòi cho sự phẫn nộ chống lại tác phẩm sau cùng.
Một công trình khác mang tính chất tương tự, nhưng có dự án gần đây hơn, sau đó đã thu hút sự chú ý của tôi: đó là bản trích yếu các tác phẩm của Abbé de Saint Pierre; vì bị cuốn theo mạch truyện kể, mãi cho đến nay tôi vẫn chưa thể nhắc đến nó. Ý tưởng này được gợi ý cho tôi sau khi tôi từ Geneva trở về, không phải trực tiếp từ Abbé Mably, mà qua sự trung gian của bà Dupin, người có chút lợi ích khi lôi kéo tôi nhận lấy nó. Bà là một trong số ba hay bốn người phụ nữ xinh đẹp bậc nhất Paris từng được Abbé de Saint Pierre cưng chiều hết mực, và dẫu bà không hẳn chiếm được vị trí ưu ái độc tôn, thì chí ít bà cũng đã chia sẻ vinh hạnh ấy cùng bà d’Aiguillon. Bà vẫn giữ gìn một niềm kính trọng và lòng quý mến đối với ký ức về người đàn ông tốt bụng ấy — điều mang lại danh dự cho cả đôi bên; và lòng tự ái của bà hẳn sẽ được vỗ về khi chứng kiến những tác phẩm chết yểu của người bạn mình được tái sinh nhờ bàn tay của viên thư ký của bà. Những tác phẩm ấy chứa đựng vô vàn điều tuyệt vời, nhưng lại được diễn đạt tệ đến mức việc đọc chúng trở nên gần như không thể chịu nổi; và thật đáng kinh ngạc khi Abbé de Saint Pierre, người luôn xem các độc giả của mình chẳng khác nào lũ học trò nhỏ, lại vẫn cứ cậy thế nói chuyện với họ như với những người trưởng thành, dẫu ông chẳng thèm bận tâm tạo chút thuận lợi nào để lôi kéo họ lắng nghe mình. Chính vì mục đích ấy mà công trình này được đề xuất với tôi như một việc vừa hữu ích tự thân, lại vừa cực kỳ thích hợp cho một kẻ siêng năng trong thao tác nhưng lười biếng trong vai trò tác giả — một kẻ thấy việc tư duy quá đỗi mệt mỏi, nên thà rằng trong những thứ mình ưa thích, đi sâu làm sáng tỏ và mở rộng các ý tưởng của kẻ khác còn hơn là tự mình đẻ ra cái mới. Hơn nữa, không bị trói buộc vào chức năng của một kẻ dịch thuật, tôi được tự do đôi khi tự mình suy ngẫm; và tôi hoàn toàn nắm quyền nhào nặn tác phẩm của mình theo một hình thức sao cho nhiều chân lý trọng đại có thể lách qua đó dưới tên tuổi của Abbé de Saint Pierre một cách an toàn hơn rất nhiều so với dưới tên tôi. Công trình này cũng chẳng hề tầm thường; nhiệm vụ đặt ra không gì khác ngoài việc đọc và chiêm nghiệm tới hai mươi ba tập sách dài dòng, hỗn độn, ngập tràn những chuỗi tường thuật và mệnh đề lê thê, những sự lặp đi lặp lại cùng những nhãn quan sai lầm hoặc vụn vặt — từ trong mớ hỗn độn ấy, ta buộc phải chắt lọc lấy một vài hạt ngọc hay ho, hữu ích và đủ sức truyền cảm hứng để giúp tôi trụ vững qua một công việc đau khổ nhường ấy. Tôi đã nhiều lần muốn buông xuôi, và lẽ ra đã làm thế nếu như tôi có thể rũ bỏ nó một cách thật tao nhã; nhưng khi nhận được những bản thảo của vị abbé do chính người cháu ruột của ông là Comte de Saint Pierre trao lại, tôi đã, theo lời nài nỉ của St. Lambert, phần nào dấn thân vào việc sử dụng chúng, và giờ đây tôi chỉ có hai con đường: hoặc là phải hoàn thành nó, hoặc là mang trả lại. Chính với ý định thứ nhất mà tôi đã mang các bản thảo ấy về Nhà ẩn sĩ, và đây là tác phẩm đầu tiên tôi dự định cống hiến những khoảng thời gian nhàn rỗi của mình.
Tôi đồng thời cũng đã vạch sẵn trong đầu một tác phẩm thứ ba — ý tưởng mà tôi mang ơn những quan sát đã đúc rút từ chính bản thân mình; và tôi càng cảm thấy có hứng thú dấn thân vào công trình này hơn khi có lý do để hy vọng rằng mình có thể biến nó thành một tác phẩm thực sự hữu ích, và có lẽ là hữu ích nhất trong số những gì có thể dâng hiến cho đời, miễn là việc thực hiện đạt tới tầm vóc của bản thiết kế mà tôi đã vạch ra. Người ta từng nhận xét rằng phần lớn con người trong suốt cuộc đời họ thường chẳng lấy làm giống chính mình, và dường như bị biến hóa thành những kẻ hoàn toàn khác lạ so với bản chất trước kia của họ. Việc viết một cuốn sách không phải để xác lập một điều hiển nhiên ai cũng biết ấy; tôi nhắm đến một mục tiêu mới mẻ và trọng đại hơn. Đó là đi tìm nguyên nhân của những sự biến đổi này, và bằng cách thu hẹp các quan sát vào những yếu tố phụ thuộc chính chúng ta, tôi muốn chứng minh xem làm thế nào để có thể điều hướng chúng nhằm nhào nặn bản thân trở nên tốt đẹp hơn và làm chủ tốt hơn những khuynh hướng của chính mình. Bởi vì rõ ràng là đối với một người lương thiện, việc cưỡng lại những ham muốn đã thành hình — những thứ mà nghĩa vụ bắt buộc anh ta phải khuất phục — còn nhọc nhằn hơn nhiều so với việc ngăn chặn, thay đổi hoặc cải biến chính những ham muốn ấy ngay từ cội nguồn, nếu như anh ta đủ sức truy tìm ra tận gốc rễ của chúng. Một kẻ đang đối mặt với cám dỗ sẽ kháng cự được một lần vì hắn có ý chí mạnh mẽ, rồi sẽ có lúc hắn gục ngã vì ý chí ấy bị đánh gục; giả sử ý chí ấy vẫn kiên cố như trước thì hắn đã có thể chiến thắng một lần nữa.
Bằng cách soi thấu vào nội tâm và tìm tòi ở người khác đâu có thể là nguyên nhân của những trạng thái tồn tại khác biệt này, tôi khám phá ra rằng phần lớn chúng phụ thuộc vào những ấn tượng đi trước của các ngoại vật; và rằng, liên tục bị nhào nặn bởi các giác quan và cơ quan của mình, chúng ta, mà chẳng hề hay biết, đang mang trong những ý tưởng, tình cảm và thậm chí cả hành động của mình hệ quả của những sự biến hóa ấy. Những quan sát nổi bật và vô số kể mà tôi thu lượm được vượt ra ngoài mọi tranh cãi, và qua nguyên lý tự nhiên của chúng, dường như rất thích hợp để cung cấp một chế độ ngoại tại — tùy thuộc vào hoàn cảnh mà có thể đặt để và duy trì tâm trí ở trạng thái thuận lợi nhất cho đức hạnh. Từ biết bao sai lầm mà lý trí sẽ được bảo vệ, biết bao thói hư tật xấu sẽ bị bóp nghẹt ngay từ khi mới nhậm chức, nếu như người ta có thể ép buộc cơ chế động vật phải phò tá cho trật tự luân lý, thứ mà nó vẫn thường xuyên gây xáo trộn! Khí hậu, mùa màng, âm thanh, màu sắc, ánh sáng, bóng tối, các nguyên tố, thức ăn, tiếng động, sự tĩnh lặng, chuyển động, nghỉ ngơi — tất cả đều tác động lên cỗ máy động vật, và hệ quả là tác động lên tâm trí: tất cả đều hiến dâng hàng ngàn phương thức, gần như chắc chắn có thể điều hướng ngay từ cội nguồn những tình cảm mà ta tự nguyện để cho chúng dẫn dắt. Đó là ý tưởng nền tảng mà tôi đã phác thảo trên giấy, và từ đó tôi kỳ vọng vào một hiệu quả càng thêm phần chắc chắn đối với những tâm hồn thiện lương, những kẻ dẫu chân thành yêu mến đức hạnh nhưng vẫn nơm nớp sợ hãi sự yếu đuối của chính mình, bởi vì đối với tôi, việc nhào nặn nó thành một cuốn sách dễ đọc cũng như dễ viết dẫu sao cũng thật dễ dàng. Tuy nhiên, tôi lại chẳng mặn mà gì với việc dồn tâm sức cho tác phẩm này — thứ vốn dự định mang tựa đề *Morale Sensitive ou le Materialisme du Sage* (Luân lý cảm giác hoặc Chủ nghĩa duy vật của bậc hiền triết). Những gián đoạn — mà nguyên nhân sẽ sớm lộ diện — đã ngăn cản tôi tiếp tục nó, và số phận của bản phác thảo ấy, thứ có mối liên hệ với cuộc đời tôi mật thiết hơn người ta tưởng, sẽ được phơi bày ngay sau đây.
Bên cạnh đó, tôi đã từ lâu ấp ủ một hệ thống giáo dục — thứ mà bà de Chenonceaux, vì quá lo lắng cho cậu con trai của mình trước cách giáo dục của người chồng, đã khỉnh nhờ tôi suy ngẫm. Sức mạnh của tình bạn đã đẩy đối tượng này, dẫu tự thân ít hợp với sở thích của tôi hơn, đến gần trái tim tôi hơn bất kỳ thứ gì khác. Chính vì lý do ấy mà trong tất cả những đề tài tôi vừa nhắc đến, đây là đề tài duy nhất được tôi triển khai đến tận cùng biên độ của nó. Mục tiêu mà tôi tự đặt ra khi bàn về đề tài này lẽ ra phải mang lại cho tác giả một số phận tốt đẹp hơn. Nhưng tôi sẽ không ở đây để làm lộ trước cái chủ đề ảm đạm này. Tôi sẽ có quá nhiều lý do để nói về nó trong phần tiếp theo của công trình.
Những đối tượng khác nhau này đã hiến dâng cho tôi những đề tài suy ngẫm cho những chuyến dạo chơi; bởi vì, như tôi tin là mình đã từng quan sát thấy, tôi hoàn toàn bất lực trong việc suy ngẫm nếu không cất bước đi: ngay khoảnh khắc tôi dừng chân lại, đầu óc tôi ngưng bặt suy nghĩ, và hễ tôi chuyển động trở lại thì cỗ máy trong đầu lại khôi phục guồng quay của nó. Tuy nhiên, tôi cũng đã tự trang bị sẵn cho mình một công việc trong phòng làm việc cho những ngày mưa gió. Đó chính là cuốn từ điển âm nhạc của tôi, thứ mà những tư liệu tản mác, cụt ngủn và hình thù kỳ dị đòi hỏi tôi phải viết lại gần như từ đầu. Tôi mang theo mình một số cuốn sách cần thiết cho mục đích này; tôi đã mất tròn hai tháng trời để chắt lọc các trích đoạn từ những cuốn sách khác, những thứ tôi mượn từ thư viện của nhà vua, nơi tôi được phép mang một số bản về Nhà ẩn sĩ. Cứ thế, tôi được trang bị đầy đủ tư liệu để sáng tác trong căn phòng nhỏ của mình mỗi khi thời tiết không cho phép tôi bước chân ra ngoài và việc chép sách khiến tôi mỏi mệt. Sự sắp xếp này vô cùng thuận tiện đến mức nó mang lại hiệu quả tối ưu cả ở Nhà ẩn sĩ lẫn Montmorency, và thậm chí sau này là ở Motiers, nơi tôi hoàn thành tác phẩm trong lúc vẫn đang bận bịu với các dự án khác, và luôn nhận thấy sự thay đổi công việc là một sự thư giãn thực thụ.
Suốt một khoảng thời gian đáng kể, tôi tuân thủ nghiêm ngặt lịch trình mà bản thân đã vạch ra và cảm thấy nó vô cùng dễ chịu; nhưng ngay khi thời tiết đẹp đẽ đưa bà d’Epinay lui tới Epinay hay Chervette thường xuyên hơn, tôi nhận ra rằng những sự săn sóc vốn dĩ tự nhiên đối với tôi ban đầu, nhưng lại không hề được tôi tính toán trong kế hoạch, đã làm xáo trộn đáng kể các dự án của tôi. Tôi đã từng lưu ý rằng bà d’Epinay mang trong mình vô vàn phẩm chất đáng mến; bà chân thành yêu quý bạn bè; tận tụy phục vụ họ với sự nhiệt thành; và chẳng tiếc rẻ thời gian lẫn công sức vì họ, bà quả thực xứng đáng nhận lại mọi sự quan tâm tương xứng từ phía họ. Cho đến lúc ấy, tôi vẫn chu toàn nghĩa vụ này mà không hề xem nó là một gánh nặng, nhưng cuối cùng tôi lại nhận ra rằng mình tự chuốc lấy một chiếc xiềng xích mà chỉ có tình bạn mới ngăn tôi cảm nhận được sức nặng của nó, và điều này lại càng trở nên trầm trọng hơn bởi sự chán ghét của tôi đối với những chốn tụ tập đông đúc. Bà d’Epinay đã tận dụng những hoàn cảnh này để đưa ra một lời đề nghị thoạt nhìn thì có vẻ dễ chịu đối với tôi, nhưng thực chất lại mang lại lợi ích nhiều hơn cho chính bà: đó là báo cho tôi biết khi nào bà ở một mình, hoặc có rất ít khách khứa. Tôi đồng ý mà chẳng mải mai nhận ra mình đang dấn thân sâu đến mức nào. Hệ quả là tôi không còn đến thăm bà theo giờ giấc của riêng mình nữa — mà theo giờ của bà, và tôi chẳng bao giờ còn chắc chắn bản thân được tự do lấy một ngày trọn vẹn. Sự gò bó này làm giảm sút đáng kể niềm vui mỗi khi tôi ghé thăm bà. Tôi nhận ra rằng thứ tự do mà bà từng hứa hẹn hão huyền ấy thực chất chẳng đi kèm điều kiện nào khác ngoài việc tôi không bao giờ được phép thực sự tận hưởng nó; và có một hoặc hai lần khi tôi muốn làm điều đó, đã có biết bao nhiêu là tin nhắn, thư từ và những lời hỏi han lo lắng liên quan đến sức khỏe của tôi, đến mức tôi nhận ra mình chẳng thể có cái cớ nào khác ngoài việc nằm liệt giường, nếu không muốn lập tức chạy đến chỗ bà ngay khi có tiếng gọi đầu tiên. Tôi buộc phải cúi đầu khuất phục trước cái ách này, và tôi đã làm điều đó thậm chí còn tự nguyện hơn mức mà người ta có thể trông đợi từ một kẻ căm ghét sự lệ thuộc đến thế: sự gắn bó chân thành mà tôi dành cho bà d’Epinay đã phần lớn ngăn cản tôi cảm nhận được những phiền toái đi kèm với nó. Về phần bà, bà khỏa lấp, hay dở thế nào mặc lòng, cái khoảng trống mà sự vắng bóng của vòng tròn giao du quen thuộc để lại trong các trò giải trí của mình. Đối với bà, đây chỉ là một sự bù đắp vô cùng nhỏ nhoi, dẫu sao vẫn còn dễ chịu hơn sự cô độc tuyệt đối — thứ mà bà không tài nào chịu đựng nổi. Bà có phương tiện để xua tan nó một cách thoải mái hơn rất nhiều kể từ khi bắt đầu dấn thân vào nghiệp văn chương, và dẫu sao đi nữa thì cũng là viết tiểu thuyết, thư từ, kịch hài, truyện ngắn và những thứ rác rưởi tương tự khác. Nhưng bà chẳng lấy làm thích thú với việc viết lách bằng việc đọc chúng; và bà chẳng bao giờ viết nguệch ngoạc nổi hai hay ba trang — trong một lần ngồi — mà không được đảm bảo trước rằng sẽ có ít nhất hai hay ba thính giả nhân từ ở phần cuối của ngô khối công sức ấy. Tôi hiếm khi có vinh dự được nằm trong số ít ỏi những kẻ được chọn lựa ấy, ngoại trừ qua sự trung gian của người khác. Khi ở một mình, tôi phần lớn bị xem như con số không tròn trĩnh trong mọi thứ; và điều này không chỉ xảy ra trước mặt bà d’Epinay, mà còn trước mặt ông d’Holbach, và ở bất cứ nơi nào mà Grimm ban bố "gu" thưởng thức. Sự vô hình này vô cùng thuận tiện đối với tôi, trừ những lúc đối ẩm riêng tư, khi mà tôi chẳng biết phải chìa ra cái mặt gì, vì không dám bàn chuyện văn chương — thứ mà tôi chẳng có tư cách thốt lên nửa lời; cũng chẳng dám bàn chuyện tán tỉnh, vì quá ư nhút nhát và sợ hãi hơn cả cái chết trước cái vẻ lố bịch của một gã tình nhân già nua; chưa kể đến việc tôi chưa từng bao giờ có nổi một ý nghĩ như thế khi ở bên cạnh bà d’Epinay, và có lẽ nó cũng chẳng bao giờ lóe lên trong đầu tôi nếu tôi dành toàn bộ cuộc đời mình ở cạnh bà; không phải vì ngoại hình của bà khiến tôi mảy may khó chịu; trái lại, tôi yêu quý bà có lẽ là quá mức trong tình bạn để có thể làm điều đó với tư cách một kẻ si tình. Tôi cảm thấy vui mừng mỗi khi được nhìn thấy và trò chuyện cùng bà. Cuộc trò chuyện của bà, dẫu đủ dễ chịu trong một đám đông pha tạp, lại trở nên tẻ nhạt khi chỉ có hai người; còn của tôi, chẳng thanh nhã hay giải trí hơn của bà là bao, cũng chẳng mang lại niềm vui lớn lao gì cho bà. Cảm thấy hổ thẹn vì cứ im lặng mãi, tôi nỗ lực khuấy động bầu không khí trong cuộc gặp riêng của chúng tôi, và dẫu điều này thường xuyên vắt kiệt sức lực của tôi, tôi chưa bao giờ cảm thấy chán ghét nó. Tôi hạnh phúc khi được dành cho bà những sự quan tâm nhỏ nhặt, và trao cho bà những cái hôn đậm chất huynh đệ — thứ dường như cũng chẳng mang tính xác thịt gì hơn đối với chính bà; chỉ có vậy mà thôi. Bà rất gầy, da dẻ tái xanh, và có một bộ ngực trông chẳng khác nào mu bàn tay. Chỉ riêng khiếm khuyết ấy thôi cũng đã đủ để kìm hãm những ham muốn cuồng nhiệt nhất của tôi; trái tim tôi chưa bao giờ có thể nhìn ra bóng dáng một người phụ nữ ở một kẻ mang đặc điểm đó; và bên cạnh những nguyên nhân khác vốn chẳng cần phải nhắc đến, điều này luôn khiến tôi quên béng đi giới tính của người phụ nữ này.
Đã hạ quyết tâm tuân thủ một sự túc trực vốn dĩ là điều tất yếu, tôi lập tức và tự nguyện bước vào guồng quay ấy, và ít nhất là trong năm đầu tiên, tôi thấy nó ít gánh nặng hơn nhiều so với những gì mình có thể trông đợi. Bà d’Epinay, người thường dành mùa hè ở vùng quê, nay chỉ ở lại đó một phần thời gian; tôi chẳng biết liệu bà bị giữ chân bởi các công việc ở Paris, hay vì sự vắng mặt của Grimm khiến việc cư ngụ tại Chevrette trở nên kém phần dễ chịu đối với bà. Tôi tận dụng những khoảng thời gian bà vắng nhà, hoặc những lúc khách khứa đông đúc xung quanh bà, để tận hưởng sự cô độc của mình bên cạnh nàng Theresa hiền thục cùng mẹ nàng, theo một cách thức có thể nếm trải trọn vẹn mọi sự mê hoặc của nó. Mặc dù trong suốt vài năm qua tôi thường xuyên lui tới vùng quê, tôi hiếm khi nào thực sự tận hưởng được trọn vẹn những niềm vui của nó; và những chuyến đi chơi ấy, luôn được thực hiện cùng những kẻ tự xem mình là nhân vật quan trọng và bị bóp nghẹt bởi sự gò bó tẻ nhạt, chỉ càng làm gia tăng thêm trong tôi khao khát bản năng hướng về những niềm vui mộc mạc điền viên. Sự thiếu thốn ấy càng trở nên nhức nhối đối với tôi khi tôi cứ ngỡ như đang nhìn thấy hình ảnh của chúng ngay trước mắt. Tôi đã quá ư mệt mỏi với những phòng khách lộng lẫy, những đài phun nước, những lùm cây, những luống hoa, và cả những con người phiền toái đến mức mệt mỏi là kẻ dẫn ta đi ngắm chúng; tôi đã quá kiệt quệ với những tập sách mỏng, đàn harpsichord, tam tấu, những màn gỡ rối cốt truyện, những câu nói đùa ngu ngốc, những sự tình tứ nhạt nhẽo, những kẻ kể chuyện thảm hại và những bữa tối thị soạn; để rồi khi tôi liếc nhìn sang một lùm gai táo dại nghèo nàn, một hàng rào, một cái chuồng bò hay một khoảng đồng cỏ; khi, trên đường đi qua một xóm nhỏ, tôi ngửi thấy mùi trứng ốp-lết rau mùi tây thơm phức và văng vẳng nghe thấy khúc điệu của một bài ca thôn dã xứ Bisquieres từ đằng xa; tôi chỉ muốn tống quới tất cả phấn son, diềm nhún và nước hoa hổ phách xuống địa ngục, và thầm ganh tị với bữa trưa của người nội trợ cùng vòm nho của chính nhà nàng, tôi thật lòng chỉ muốn giáng cho ngài bếp trưởng và ngài quản gia — những kẻ bắt tôi ăn tối vào giờ đi ngủ và đi ngủ vào lúc lẽ ra phải chìm vào giấc mơ — một bạt tai, và đặc biệt là lũ đầy tớ — những kẻ cứ dán mắt nuốt trọn từng miếng ăn tôi bỏ vào miệng, và với cái đe dọa để tôi chết khát, nhẫn tâm bán cho tôi thứ rượu pha tạp của chủ nhân chúng với giá đắt gấp mười lần so với một chai rượu chất lượng hơn mua ở quán rượu bình dân.
Cuối cùng thì tôi cũng đã an cư trong một chốn ẩn dật dễ chịu và vắng lặng, được tự do trải qua phần đời còn lại ở đó, trong thứ cuộc sống bình yên, điều hòa và độc lập mà tôi cảm thấy mình sinh ra là để dành cho nó. Trước khi tôi thuật lại những tác động mà hoàn cảnh mới mẻ này đã gây lên trái tim tôi, thiết nghĩ tôi nên tóm tắt lại những tâm tư thầm kín của nó, để độc giả có thể theo dõi tốt hơn tiến trình của những sự biến hóa mới mẻ này qua các nguyên nhân của chúng.
Tôi vẫn luôn xem ngày mà tôi nên duyên cùng Theresa là cột mốc định hình sự tồn tại luân lý của tôi. Một sự gắn bó là điều tối cần thiết đối với tôi, kể từ khi thứ tình cảm lẽ ra phải đủ đầy cho trái tim tôi đã bị bẻ gãy một cách tàn nhẫn. Cơn khát khát hạnh phúc chưa bao giờ lụi tàn trong trái tim con người. Mamma ngày một luống tuổi và tự chuốc lấy sự ô nhục! Tôi có trong tay bằng chứng cho thấy bà không bao giờ có thể hạnh phúc ở cõi đời này nữa; thế nên tôi chỉ còn cách tự đi tìm hạnh phúc cho riêng mình, khi đã đánh mất mọi hy vọng được chia sẻ nó cùng bà. Tôi đôi khi chần chừ dao động, trôi nổi từ ý tưởng này sang ý tưởng khác, từ dự án này sang dự án nọ. Chuyến đi Venice của tôi hẳn đã đẩy tôi vào cuộc sống công cộng, nếu như kẻ mà tôi bị trói buộc cùng ở đó — dẫu gần như trái với ý nguyện — lại có nổi một chút lẽ thông thường. Tôi rất dễ nản lòng, nhất là trong những công trình trường kỳ và trắc trở. Thất bại ê chề của lần này khiến tôi ghê tởm mọi thứ khác; và theo những châm ngôn cũ của mình, xem những mục tiêu xa vời chẳng khác nào những thứ mồi nhử lừa dối, tôi quyết định từ nay về sau chỉ lo toan cho những nhu cầu trước mắt, chẳng còn nhìn thấy điều gì trong cuộc đời này có thể cám dỗ tôi thực hiện những nỗ lực phi thường.
Chính xác là vào thời điểm này, chúng tôi quen biết nhau. Bản tính ôn hòa của nàng Theresa hiền thục dường như vô cùng vừa vặn với tôi, đến mức tôi gắn kết đời mình với nàng bằng một mối thù thâm tình mà thời gian hay những tổn thương chẳng tài nào mài mòn nổi, và thứ tình cảm ấy lại không ngừng được bồi đắp bởi chính những điều mà người ta tưởng chừng sẽ làm nó suy kiệt. Sức mạnh của thứ tình cảm này sẽ lộ diện sau này, khi tôi kể về những nhát dao mà nàng từng giáng vào trái tim tôi giữa đỉnh điểm khốn cùng của cuộc đời, mà cho đến khoảnh khắc này, tôi chưa từng thốt ra nổi một lời oán trách với bất kỳ ai.
Khi người ta hay biết rằng, sau khi đã làm tất cả mọi thứ, bất chấp tất cả mọi hiểm nguy để không phải chia tay nàng; sau khi trải qua hai mươi năm bên nàng bất chấp định mệnh và người đời; tôi đã danh chính ngôn thuận biến nàng thành vợ mình lúc tuổi già xế bóng, mà chẳng hề có lấy một kỳ vọng hay lời nài nỉ nào từ phía nàng, cũng chẳng có một lời hứa hẹn hay cam kết nào từ phía tôi, thiên hạ hẳn sẽ cho rằng một thứ tình yêu tựa hồ điên rồ, từ khoảnh khắc đầu tiên đã làm lu mờ lý trí tôi, đã từng bước đẩy tôi đến hành động hoang phí cuối cùng ấy; và điều này sẽ chẳng còn gì là đáng ngờ khi những lý do mạnh mẽ và đặc biệt vốn dĩ phải ngăn cản tôi mãi mãi thực hiện một bước đi như thế được phơi bày. Thế nên, độc giả sẽ nghĩ gì khi tôi thuật lại cho họ nghe — với tất cả sự chân thực mà họ từng tìm thấy ở tôi — rằng từ khoảnh khắc đầu tiên tôi nhìn thấy nàng cho đến lúc tôi đặt bút viết những dòng này, tôi chưa từng cảm thấy dù chỉ là chút tình yêu nhỏ nhoi nào dành cho nàng, rằng tôi chưa bao giờ khao khát sở hữu thể xác nàng hơn là khao khát sở hữu bà de Warens, và rằng những nhu cầu thể xác được thỏa mãn bên da thịt nàng đối với tôi chỉ đơn thuần là những nhu cầu tính dục của loài người, hoàn toàn không xuất phát từ cá nhân nàng? Họ sẽ nghĩ rằng, sở hữu một cấu trúc cơ thể khác biệt so với những người đàn ông khác, tôi hoàn toàn bất lực trước tình yêu, bởi đây không phải là một trong những thứ tình cảm gắn kết tôi với những người phụ nữ thân thương nhất của trái tim mình. Kiên nhẫn nào, hỡi độc giả thân mến của tôi! Khoảnh khắc định mệnh đang đến gần, nơi anh sẽ vỡ mộng đến tận cùng.
Tôi sa đà vào việc lặp lại chính mình; tôi thừa biết điều đó; và những sự lặp lại ấy là vô cùng cần thiết. Nhu cầu đầu tiên của tôi, lớn lao nhất, mạnh mẽ nhất và không tài nào thỏa mãn nổi, nằm trọn vẹn trong trái tim tôi: nhu cầu về một mối thâm giao gắn kết, một sự gắn kết khắng khít nhất có thể đạt được: chính vì lý do đặc biệt này, một người phụ nữ đối với tôi còn cần thiết hơn một người đàn ông, một người bạn nữ chí cốt hơn là một người bạn nam. Nhu cầu kỳ lạ này lớn đến mức sự giao hòa thể xác cận kề nhất cũng chẳng thể đủ đầy: tôi cần tới hai linh hồn cùng trú ngụ trong một thể xác, nếu thiếu nó tôi sẽ mãi mãi cảm thấy một khoảng trống rỗng. Tôi từng ngỡ rằng mình đang đứng trước thềm khỏa lấp nó vĩnh viễn. Cô gái trẻ này, đáng mến bởi ngàn phẩm chất tuyệt vời và vào thời điểm đó là bởi vóc dáng chẳng hề vương chút vết hằn của sự khôn ranh hay điệu đà, lẽ ra đã có thể thu hẹp toàn bộ sự tồn tại của tôi vào bên trong nàng, nếu như cuộc đời nàng — như tôi hằng hy vọng — có thể thu hẹp trọn vẹn vào bên tôi. Tôi chẳng có gì phải sợ hãi từ những người đàn ông; tôi dám chắc mình là người đàn ông duy nhất mà nàng từng thực sự yêu thương, và những dục vọng ôn hòa của nàng hiếm khi cần đến một kẻ khác, ngay cả sau khi tôi không còn là một người đàn ông đúng nghĩa đối với nàng về mặt đó. Tôi chẳng có họ hàng gia tộc; nàng thì có; và gia đình này được cấu thành từ những con người có bản tính khác xa tôi đến mức tôi chưa bao giờ có thể xem họ là của mình. Đó là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến chuỗi bất hạnh của tôi. Tôi đã chẳng tiếc nuối điều gì để được làm con trai của mẹ nàng sao? Tôi đã làm mọi thứ trong khả năng để đạt được điều đó, nhưng chưa bao giờ thành công. Tôi đã hoài công vô ích trong việc tìm cách hợp nhất mọi lợi ích của đôi bên: điều đó là bất khả thi. Bà ta luôn tự đẻ ra cho mình một lợi ích khác biệt với tôi, trái ngược với nó, và trái ngược với cả lợi ích của cô con gái — thứ vốn dĩ đã chẳng còn tách rời khỏi lợi ích của tôi nữa. Bà ta, những đứa con khác và lũ cháu chắt của bà ta, hóa thân thành những con đỉa hút máu, và điều tồi tệ nhất mà chúng giáng xuống Theresa chính là việc khoét sạch của cải của nàng. Tội nghiệp cô gái, vốn đã quen cúi đầu tuân lệnh ngay cả trước lũ cháu gái, cứ để mặc cho người ta xâu xé và sai khiến mà chẳng thán một lời; và tôi đau đớn nhận ra rằng bằng cách dốc hầu bao và ban phát những lời khuyên nhủ, tôi chẳng làm được gì mang lại lợi ích thực sự cho nàng. Tôi nỗ lực dứt nàng khỏi người mẹ; nhưng nàng luôn chống lại đề xuất ấy một cách ngoan cố. Tôi không thể không tôn trọng sự kháng cự ấy và vì thế lại càng thêm kính trọng nàng; nhưng sự từ chối của nàng vì thế mà chẳng hề vơi bớt đi phần tổn hại cho cả đôi bên. Bị bỏ mặc cho người mẹ và phần còn lại của gia đình tha hồ xâu xé, nàng giống bạn đồng hành của họ hơn là của tôi, và tuân theo lệnh của họ nhiều hơn là làm chủ chính mình. Sự tham lam của họ còn ít tàn phá hơn là những lời khuyên độc hại của họ đối với nàng; trên thực tế, nếu không vì tình yêu nàng dành cho tôi cùng bản tính hiền hậu sẵn có, nàng đã chẳng đến mức trở thành nô lệ của chúng, nhưng chừng đó cũng đủ để vô hiệu hóa phần lớn tác dụng của những châm ngôn tốt đẹp mà tôi hằng cố gắng nhồi nhét vào đầu nàng, và bất chấp mọi nỗ lực của tôi, ngăn cản chúng tôi thực sự hòa làm một.
Cứ thế, bất chấp một mối thâm tình chân thành và tương ứng, nơi tôi đã dốc cạn toàn bộ sự dịu dàng của trái tim mình, khoảng trống trong trái tim ấy chưa bao giờ được lấp đầy một cách trọn vẹn. Những đứa trẻ, lẽ ra phải là kết quả tạo ra hiệu quả này, đã cất tiếng khóc chào đời, nhưng chúng chỉ làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Tôi run rẩy trước ý nghĩ phó thác chúng cho một gia đình được giáo dục tồi tệ, để rồi nhận lấy một nền giáo dục còn tệ hại hơn nữa. Rủi ro từ nền giáo dục của viện trẻ mồ côi còn ít hơn nhiều. Lý do này cho quyết định của tôi, mạnh mẽ hơn vô vàn so với những gì tôi trình bày trong lá thư gửi bà de Francueil, lại chính là điều duy nhất tôi không dám cho bà hay; tôi thà chấp nhận xuất hiện như một kẻ khó lòng được tha thứ còn hơn là phơi bày gia đình của một người tôi yêu ra trước búa rìu dư luận. Nhưng qua hạnh kiểm của gã anh trai khốn nạn nàng, bất chấp mọi lời bào chữa có thể được bày đặt cho hắn, người ta sẽ phán đoán được liệu tôi có nên hay không nên phơi bày những đứa con của mình ra trước một nền giáo dục tương tự như hắn.
Không có trong tay quyền năng để nếm trải trọn vẹn những mê hoặc của mối thâm giao gắn kết ấy — thứ mà tôi khát khao đến tột cùng, tôi đi tìm những thứ thay thế dẫu chẳng thể khỏa lấp khoảng trống, nhưng ít ra cũng làm cho nó vơi bớt đi phần nhức nhối. Không có nổi một người bạn hoàn toàn tận tụy với mình, tôi thèm khát những kẻ khác, những kẻ có sức bật đủ sức vượt qua sự lười nhác của tôi; chính vì lý do này mà tôi vun đắp và củng cố mối quan hệ với Diderot và Abbé de Condillac, thiết lập một mối quan hệ mới còn khắng khít hơn nữa với Grimm, cho đến tận lúc qua bài luận bạc bược — mà tôi đã thuật lại một vài chi tiết — tôi bất ngờ thấy mình bị quăng trở lại vào vòng tròn văn chương mà tôi từng tưởng đã vứt bỏ vĩnh viễn.
Những bước chân đầu tiên dẫn dắt tôi qua một lối mòn mới đến với một thế giới trí tuệ khác — một nền kinh tế mộc mạc và cao thượng mà tôi chẳng thể ngắm nhìn mà không dâng trào niềm nhiệt huyết. Tôi suy ngẫm về đề tài này nhiều đến mức chẳng mấy chốc tôi chẳng còn nhìn thấy gì ngoài sai lầm và điên rồ trong học thuyết của các hiền triết chúng ta, cũng như sự áp bức và khốn cùng trong trật tự xã hội của chúng ta. Trong ảo ảnh của lòng kiêu hãnh ngu ngốc, tôi tưởng mình đủ sức tiêu diệt mọi sự giả hình; và nghĩ rằng để người ta chịu lắng nghe mình, hành vi của bản thân buộc phải đồng điệu với các nguyên tắc, tôi đã áp dụng lối sống kỳ lạ mà tôi đã không được phép tiếp tục — cái gương mẫu mà những kẻ tự xưng là bạn bè của tôi chưa bao giờ tha thứ, thứ thoạt đầu khiến tôi trở nên lố bịch, và lẽ ra đã có thể biến tôi thành một kẻ đáng kính biết bao nếu như tôi đủ sức kiên trì đến cùng.
Cho đến tận lúc đó, tôi vẫn là một kẻ lương thiện; từ khoảnh khắc ấy, tôi trở nên đức hạnh, hoặc chí ít là mê muội vì đức hạnh. Sự mê muội này đã nảy mầm trong đầu óc tôi trước, rồi sau đó mới thấm sâu vào trái tim. Niềm kiêu hãnh cao cả nhất đã bén rễ ở đó giữa những hoang tàn của thói hư vinh bị tận diệt. Tôi chẳng hề làm hàng; tôi trở thành đúng cái kẻ mà tôi phô bày, và trong suốt ít nhất bốn năm trời, khi mà cơn phấn khích ấy đạt đến đỉnh điểm, chẳng có điều gì vĩ đại và tốt đẹp có thể bước vào trái tim con người mà tôi lại không đủ sức vươn tới — dưới sự chứng giám của đất trời. Từ đó tuôn trào sự hùng biện bất thình lình của tôi; từ đó, trong những trước tác đầu tay của tôi, bùng cháy ngọn lửa thực sự thuộc về thiên đàng — thứ đã thiêu đốt tôi, và suốt bốn mươi năm qua chẳng một tia lửa nào từng lọt ra ngoài, bởi vì nó hãy còn chưa được châm ngòi.
Tôi thực sự đã lột xác; bạn bè và những kẻ quen biết hầu như chẳng nhận ra tôi nữa. Tôi không còn là kẻ nhút nhát, e thẹn hơn là khiêm nhường ấy — kẻ chẳng dám bước lên giới thiệu bản thân hay thốt lên nổi một lời; kẻ mà chỉ một lời trêu chọc cũng đủ làm cho bối rối, và gương mặt đỏ bừng lên ngay khoảnh khắc ánh mắt chạm phải một người phụ nữ. Tôi trở nên bạo dạn, kiêu ngạo, gan lì, với một sự tự tin càng thêm vững chãi bởi nó rất mộc mạc, và ngự trị trong tâm hồn tôi nhiều hơn là trong phong thái bên ngoài. Sự khinh miệt mà những chiêm nghiệm uyên thâm đã truyền cho tôi đối với tập tục, châm ngôn và định kiến của thời đại tôi đang sống đã tôi luyện tôi thành một kẻ miễn nhiễm với những lời chế giễu của những kẻ còn đắm chìm trong đó, và tôi nghiền nát những trò đùa cợt lặt vặt của chúng chỉ bằng một câu nói, tựa như cách tôi bóp nát một con côn trùng giữa những kẽ tay.
Thật là một sự đổi thay! Khắp Paris lặp đi lặp lại những lời châm biếm cay đắng và sắc sảo của chính con người mà hai năm trước, và mười năm sau đó, chẳng biết phải kiếm đâu ra lời để nói, hay từ ngữ nào mình phải sử dụng. Người ta hãy đi tìm bất kỳ hoàn cảnh nào trên đời trái ngược nhất với bản tính tự nhiên của tôi, và đây chính là nó. Người ta hãy nhớ lại một trong những khoảnh khắc ngắn ngủi của cuộc đời tôi khi tôi hóa thân thành một kẻ khác và ngưng làm chính mình, đây cũng chính là khoảng thời gian tôi đang nhắc đến; nhưng thay vì chỉ kéo dài sáu ngày, hay sáu tuần, nó kéo dài ngót nghét sáu năm, và có lẽ vẫn sẽ tiếp tục kéo dài, nếu không vì những hoàn cảnh đặc biệt đã khiến nó chấm dứt, và kéo tôi trở lại với tự nhiên — thứ mà tôi từng muốn bay bổng vượt lên trên.
Khởi đầu của sự thay đổi này diễn ra ngay khi tôi rời bỏ Paris, và hình bóng những thói hư tật xấu của thành thị ấy không còn tiếp tục thổi bùng ngọn lửa phẫn nộ mà nó từng truyền cảm hứng cho tôi nữa. Hễ rời xa tầm mắt con người là tôi ngưng khinh miệt họ, và một khi đã dứt ra khỏi những kẻ mưu hại tôi, lòng căm hận của tôi đối với chúng cũng tan biến. Trái tim tôi, vốn chẳng mấy thích hợp với sự thù hận, quay sang thương xót cho nỗi khốn cùng và thậm chí cả sự độc ác của chúng. Hoàn cảnh này, dễ chịu hơn nhưng kém phần siêu việt hơn, đã nhanh chóng làm dịu đi ngọn lửa nhiệt huyết cuồng nhiệt từng thiêu đốt tôi suốt bấy lâu; và tôi vô thức, gần như tự bản thân chẳng hay biết, lại một lần nữa trở nên sợ sệt, dễ dãi và nhút nhát; tóm lại, lại là gã Jean-Jacques hệt như trước kia.
Giả sử quyết định này dừng lại ở việc đưa tôi trở về với chính mình, thì mọi chuyện đã hoàn toàn tốt đẹp; nhưng ngặt thay nó lại cuốn phăng tôi đi một cách nhanh chóng sang thái cực ngược lại. Kể từ khoảnh khắc ấy, tâm trí đang dao động của tôi vượt qua lằn ranh của sự bình yên, và những nhịp lắc của nó, không ngừng được tái tạo, chưa bao giờ cho phép nó dừng chân ở đó. Tôi buộc phải đi sâu vào một vài chi tiết của cuộc cách mạng thứ hai này; kỷ nguyên khủng khiếp và định mệnh của một số phận chẳng giống ai giữa chốn trần gian.
Chúng tôi chỉ có ba người trong chốn ẩn dật; thế nên việc sự thân mật của chúng tôi được bồi đắp bởi thời gian rảnh rỗi và sự cô độc là điều hiển nhiên. Đó chính là những gì diễn ra giữa tôi và Theresa. Chúng tôi trải qua những giờ phút đàm đạo dưới bóng râm vô cùng mê hoặc và tuyệt diệu, vượt xa bất cứ khoảng thời gian nào tôi từng tận hưởng trước đó. Nàng dường như nếm trải thứ sự giao hòa ngọt ngào này nhiều hơn mức tôi từng quan sát thấy ở nàng; nàng mở toang trái tim mình, và thổ lộ với tôi về người mẹ cùng gia đình những điều mà nàng từng đủ kiên nhẫn che giấu trong suốt một khoảng thời gian dài đằng đẵng. Cả hai mẹ con từng nhận từ bà Dupin vô số món quà được trao cho họ nhân danh tôi, và phần lớn là vì tôi, nhưng mụ đàn bà xảo quyệt ấy, để tránh việc tôi nổi giận, đã biển thủ chúng cho riêng mình và cho những đứa con khác, mà không để cho Theresa nhận dù chỉ là một phần nhỏ, đồng thời cấm tiệt nàng không được hé răng nửa lời với tôi về chuyện đó — một mệnh lệnh mà cô gái tội nghiệp đã tuân thủ với một sự chính xác đến khó tin.
Nhưng một điều khác khiến tôi kinh ngạc hơn cả chuyện này, chính là phát hiện ra rằng bên cạnh những cuộc trò chuyện riêng tư mà Diderot và Grimm thường có với cả hai mẹ con nhằm tìm cách lôi kéo họ dứt khỏi tôi — điều mà nhờ sự kháng cự của Theresa, chúng đã không thể đạt được — chúng sau đó còn có những cuộc hội họp thường xuyên với người mẹ, mà chủ đề là một bí mật đối với cô con gái. Tuy nhiên, nàng cũng lờ mờ biết rằng đã có những món quà nhỏ được trao tặng, và có những cuộc qua lại bí ẩn mà động cơ hoàn toàn nằm ngoài tầm hiểu biết của nàng. Khi chúng tôi rời Paris, bà le Vasseur đã có thói quen lui tới chỗ Grimm hai hoặc ba lần một tháng, và ở lì với hắn hàng giờ liền trong những cuộc trò chuyện kín đáo đến mức người hầu luôn bị đuổi ra khỏi phòng.
Tôi phỏng đoán rằng động cơ này mang bản chất tương tự như dự án mà chúng từng tìm cách lôi kéo cô con gái tham gia, bằng cách hứa hẹn sẽ kiếm cho nàng và mẹ thông qua bà d’Epinay một suất buôn muối hoặc một cửa hàng bán thuốc lá; tóm lại, bằng cách cám dỗ nàng với những miếng mồi lợi lộc. Người ta đã rỉ tai họ rằng, vì tôi chẳng ở vào vị thế có thể làm gì cho họ, nên tôi cũng chẳng thể vì họ mà làm bất cứ điều gì cho chính mình. Vì trong tất cả những chuyện này tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài những ý định tốt đẹp, nên tôi không hẳn nổi giận với họ vì điều đó. Sự mờ ám mới chính là thứ duy nhất làm tôi đau lòng, nhất là xuất phát từ phía mụ già, kẻ mà ngặt thay ngày càng trở nên bợ đỡ và nịnh hót tôi hơn. Tuy nhiên, điều này không hề ngăn cản mụ ta chì chiết cô con gái trong bóng tối vì đã kể cho tôi nghe mọi thứ và quá ư yêu thương tôi, đồng thời rót vào tai nàng rằng nàng là một kẻ ngốc và rồi sẽ chuốc lấy cái kết bị lừa gạt.
Mụ đàn bà này sở hữu đến tận cùng sự xảo quyệt trong nghệ thuật nhân lên những mónà quà cáp nhận được, bằng cách giấu giếm người này những gì mình nhận từ người kia, và giấu tôi những gì nhận từ tất cả. Tôi có thể tha thứ cho lòng tham của mụ, nhưng tôi tuyệt đối không tài nào tha thứ cho sự giả dối của mụ. Mụ ta có thể che giấu điều gì cơ chứ — ở một kẻ mà mụ thừa biết hạnh phúc gắn liền chủ yếu với chính mụ và cô con gái? Những gì tôi làm cho cô con gái cũng chính là tôi làm cho chính mình, nhưng những dịch vụ tôi cống hiến cho người mẹ lại đòi hỏi một sự ghi nhận từ phía bà ta. Lẽ ra mụ ta phải tự thấy biết ơn cô con gái vì những điều đó, và yêu mến tôi vì người mà mụ ta đã được yêu thương. Tôi đã kéo mụ ta ra khỏi vũng lầy khốn cùng nhất; mụ ta nhận từ đôi tay tôi phương tiện mưu sinh, và mang ơn tôi về những mối quan hệ với những kẻ mà mụ ta có thể thu vén không ít lợi lộc. Theresa từng có một thời gian dài gồng gánh nuôi nấng mụ bằng chính sức lao động của mình, và giờ đây đang nuôi nấng mụ bằng chính bánh mỳ của tôi. Mụ mang ơn mọi thứ đối với cô con gái này — kẻ mà mụ chưa từng làm được gì cho, còn những đứa con khác của mụ — những kẻ mụ từng cho tiền làm của hồi môn và vì họ mà mụ khánh kiệt, thay vì hiến dâng dù chỉ chút ít sự trợ giúp, lại thi nhau gặm nhấm xương máu của nàng và của tôi. Tôi ngỡ rằng trong hoàn cảnh như thế, mụ ta phải xem tôi là người bạn duy nhất và là bậc bảo hộ vững chãi nhất của mình, và rằng thay vì biến các công việc của tôi thành bí mật giấu giếm tôi và âm mưu chống lại tôi ngay trong chính ngôi nhà của mình, nghĩa vụ của mụ là phải thành thật thông báo cho tôi mọi thứ liên quan đến tôi ngay khi mụ hay biết trước cả tôi. Vậy thì, dưới ánh sáng nào tôi có thể nhìn nhận hành vi gian trá và mờ ám của mụ ta? Tôi có thể nghĩ gì về những tâm tư mà mụ ta đang cố nhồi nhét vào đầu cô con gái? Thật là một sự vong ân bội nghĩa quái đản nhường nào khi mụ ta lại đi dốc lòng rỉ tai chính kẻ mà tôi trông đợi sẽ mang lại cho mình sự an ủi lớn lao nhất!
Những suy ngẫm này cuối cùng đã làm nguội lạnh tình cảm của tôi đối với người đàn bà này, đến mức tôi không tài nào nhìn nổi mụ ta mà không mang theo sự khinh bỉ. Tuy nhiên, tôi vẫn tiếp tục cư xử tôn kính đối với thân mẫu của người bạn tri kỷ, và trong mọi việc đều bày tỏ với bà ta sự cung kính chẳng khác nào con cái; nhưng tôi phải thú nhận rằng tôi không thể chịu đựng mụ ta lâu mà không cảm thấy đau đớn, và rằng tôi chưa từng học được cách chịu đựng sự gò bó.
Đây lại là một khoảnh khắc ngắn ngủi khác trong cuộc đời tôi, nơi tôi đến sát nút hạnh phúc nhưng lại bất lực không thể vươn tới nó, và điều này hoàn toàn không phải do lỗi của tôi. Giá như người mẹ mang một bản tính tốt đẹp, cả ba chúng tôi hẳn đã có thể sống hạnh phúc cho đến tận cuối đời; chỉ có kẻ nào sống thọ nhất mới là kẻ đáng thương mà thôi. Thay vào đó, độc giả sẽ chứng kiến hướng đi mà sự việc đã trôi dạt tới, và tự phán đoán xem liệu tôi có hay không có quyền năng thay đổi nó.
Bà le Vasseur, người nhận ra rằng tôi đã chiếm trọn trái tim Theresa và nàng đã phai nhạt dần vị thế trong lòng con gái, tìm cách giành lại nó; và thay vì nỗ lực lấy lại sự kính trọng của tôi qua sự trung gian của cô con gái, mụ ta lại tìm cách bứt đứt tình cảm của nàng khỏi tôi. Một trong những thủ đoạn mụ sử dụng là lôi kéo gia đình mình vào cuộc. Tôi từng van nài Theresa không được mời bất kỳ họ hàng nào đến Nhà ẩn sĩ, và nàng đã hứa với tôi sẽ không làm thế. Thế nhưng họ vẫn được rước đến trong lúc tôi vắng nhà mà chẳng thèm hỏi ý kiến nàng, và sau đó nàng lại bị thuyết phục để hứa sẽ ngậm tăm không hé răng nửa lời về chuyện đó. Một khi bước đi đầu tiên đã được thực hiện, mọi bước tiếp theo đều trở nên dễ dàng. Hễ ta đã giữ bí mật bất cứ điều gì với người ta yêu, chẳng mấy chốc ta sẽ chẳng thấy cắn rứt gì khi làm thế trong mọi chuyện; ngay khoảnh khắc tôi có mặt ở Chevrette là Nhà ẩn sĩ lại nườm nượp những kẻ kéo đến tha hồ vui vẻ hú hò. Một người mẹ luôn có quyền uy lớn lao đối với một cô con gái có bản tính hiền hậu; thế nhưng bất chấp mọi nỗ lực của mụ già, mụ chưa bao giờ thành công trong việc lôi kéo Theresa bước vào các mưu đồ của mình, hay thuyết phục nàng gia nhập phe cánh chống lại tôi. Về phần mụ ta, mụ dứt khoát chọn phe chống lại tôi mãi mãi; và khi nhìn thấy một bên là cô con gái và tôi — những kẻ chỉ đủ sức sống qua ngày và chấm hết; còn bên kia là Diderot, Grimm, d’Holbach và bà d’Epinay — những kẻ hứa hẹn những điều vĩ đại và ban phát những ân huệ nhỏ mọn, mụ ta không sao tài nào tưởng tượng nổi việc đứng về phía người vợ của một tay nông dân kiêm bá tước lại có thể là sai lầm. Giả sử tôi tinh tường hơn, tôi hẳn đã phải nhận ra từ khoảnh khắc đó rằng mình đang nuôi ong tay áo. Nhưng niềm tin mù quáng của tôi, thứ chưa từng bị suy suyển bởi bất kỳ điều gì, lớn đến mức tôi không tài nào tưởng tượng nổi mụ ta lại muốn hãm hại chính kẻ mà mụ ta lẽ ra phải yêu thương. Dù tận mắt chứng kiến vô số âm mưu được chắp nối từ mọi ngả đường, tất cả những gì tôi than vãn chỉ là sự chuyên quyền của những kẻ tự xưng là bạn bè của tôi — những kẻ dường như muốn ép buộc tôi phải hạnh phúc theo cách do họ vạch sẵn, chứ quyết không theo cách mà tôi đã chọn cho riêng mình.
Dù Theresa từ chối gia nhập liên minh cùng người mẹ, nàng sau đó vẫn giữ bí mật thay cho mụ. Động cơ của nàng trong chuyện này là đáng khen ngợi, dẫu tôi sẽ không đứng ra phán xét xem nàng làm thế là đúng hay sai. Hai người phụ nữ có những bí mật riêng tư với nhau rất thích rúc rỉ nhau thì thầm; điều này kéo họ xích lại gần nhau, và Theresa, khi tự chia sẻ tâm trí mình ra, đôi khi làm tôi cảm thấy mình bị bỏ rơi một mình; bởi vì tôi không còn có thể xem thứ không gian mà cả ba chúng tôi cùng tạo ra là một xã hội được nữa.
Giờ đây tôi mới thấm thía sự chểnh mảng của mình trong những năm đầu của mối quan hệ, vì đã không tận dụng sự vâng lời mà tình yêu của nàng truyền cảm hứng để trau dồi tài năng và truyền đạt kiến thức cho nàng — những thứ, bằng cách kết nối chúng tôi khắng khít hơn nữa trong chốn ẩn dật, hẳn đã có thể khỏa lấp một cách thú vị thời gian của nàng và của chính tôi, mà không để cho cả hai phải một lần cảm nhận được chiều dài của một cuộc trò chuyện riêng tư. Không phải là những cuộc trò chuyện ấy cạn kiệt giữa chúng tôi, hay nàng tỏ ra chán ngét những chuyến dạo chơi; nhưng chúng tôi không có đủ một số lượng ý tưởng chung để tạo ra một kho dự trữ lớn, và chúng tôi không thể cứ mãi mãi nói về những dự án tương lai — vốn chỉ quanh quẩn với việc tận hưởng những niềm vui cuộc sống. Những vật thể xung quanh khơi gợi trong tôi những suy ngẫm vượt quá tầm hiểu phán của nàng. Một mối tình kéo dài mười hai năm chẳng còn cần đến những lời hoa mỹ: chúng tôi hiểu quá rõ về nhau để có thể thu nhận thêm bất kỳ tri thức mới mẻ nào về phương diện đó. Kho tàng chữ nghĩa chỉ còn lại những trò chơi chữ, chuyện tiếu lâm, buôn dưa lê và nói xấu thiên hạ. Đặc biệt là ở chốn thâm sơn cùng cốc, người ta mới cảm nhận sâu sắc lợi ích của việc sống cùng một kẻ biết tư duy. Tôi chẳng cần đến kho tàng ấy để tự giải trí cùng nàng; nhưng nàng thì chắc chắn cần đến nó để luôn tìm thấy niềm vui khi ở bên tôi. Tồi tệ hơn cả là việc chúng tôi buộc phải tiến hành những cuộc trò chuyện bất cứ khi nào có cơ hội; mụ mẹ chồng tương lai, với sự phiền toái ngày càng gia tăng, ép tôi phải rình mò từng cơ hội để làm điều đó. Tôi chịu đựng sự gò bó ngay trong chính ngôi nhà của mình: nói thế là đủ hiểu tất cả; bầu không khí của tình yêu hóa ra lại mang họa cho một tình bạn đẹp. Chúng tôi có một mối thâm giao mà chẳng hề sống trong sự thân mật.
Ngay khoảnh khắc tôi tưởng như nhận ra Theresa đôi khi đi tìm những cái cớ để né tránh những chuyến dạo chơi mà tôi đề xuất, tôi liền ngưng mời nàng đi cùng, mà chẳng hề mang lòng hờn dỗi nàng vì đã không tìm thấy ở đó nhiều niềm vui như tôi. Niềm vui không phải là thứ phụ thuộc vào ý muốn. Tôi nắm chắc trái tim nàng, và việc sở hữu nó là tất cả những gì tôi khao khát. Chừng nào niềm vui của tôi còn là niềm vui của nàng, tôi còn nếm trải nó cùng nàng; khi điều đó không còn nữa, tôi thà đặt sự thỏa mãn của nàng lên trên của chính mình.
Cứ thế, một nửa vỡ mộng trong kỳ vọng, sống một cuộc đời đúng với trái tim mình, ở một chốn ẩn dật do chính tay tôi chọn lựa bên cạnh một người mà tôi yêu quý, cuối cùng tôi lại thấy mình gần như đơn độc. Những gì tôi vẫn còn thiếu thốn đã ngăn cản tôi tận hưởng những gì đang có trong tay. Đối với hạnh phúc và sự thụ hưởng, tất cả hoặc không có gì mới là điều tôi cần. Lý do của những quan sát này sẽ lộ diện sau này. Giờ đây tôi quay trở lại với mạch truyện kể của mình.
Tôi từng tưởng tượng rằng mình đang nắm giữ những kho báu trong các bản thảo do Comte de St. Pierre trao lại. Khi kiểm tra, tôi phát hiện ra chúng chẳng hơn gì một tập hợp các tác phẩm đã được in ấn của người bác, đi kèm với các ghi chú và đính chính bằng chính nét chữ của ông ta, cùng một vài mảnh vụn lặt vặt khác chưa từng được công bố. Những trước tác luân lý này đã củng cố trong tôi ý tưởng từng nảy sinh từ một số bức thư của ông do bà de Crequi cho tôi xem: rằng ông có nhiều óc phán đoán và sự khôn khéo hơn tôi từng tưởng tượng; nhưng sau một hồi săm soi kỹ lưỡng các tác phẩm chính trị của ông, tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài những khái niệm nông cạn và những dự án dẫu hữu ích nhưng bất khả thi, bắt nguồn từ cái ý tưởng mà tác giả không bao giờ có thể dứt ra nổi: rằng con người ta tự dẫn dắt bản thân bằng sự khôn ngoan hơn là bằng những đam mê. Niềm kiêu hãnh lớn lao mà ông dành cho tri thức của người hiện đại đã khiến ông tiếp nhận cái nguyên tắc sai lầm này về lý trí được cải thiện — nền tảng của mọi thể chế mà ông đề xuất, và là cội nguồn của những ngụy biện chính trị ở ông. Con người phi thường này — niềm tự hào của thời đại ông sống và của cả giống loài nhân loại, và có lẽ là kẻ duy nhất kể từ khi nhân loại được tạo thiên lập địa có tôn chỉ đam mê duy nhất là lý trí — đã lang thang trong mọi hệ thống của mình từ sai lầm này sang sai lầm khác, bằng cách cố gắng nhào nặn con người trở nên giống mình, thay vì chấp nhận họ đúng như những gì họ đang là, sẽ là và sẽ tiếp tục là. Ông nhọc công vì những sinh thể tưởng tượng, trong khi cứ đinh ninh rằng mình đang cống hiến cho lợi ích của những đồng thời nhân.
Cân nhắc tất cả những điều này, tôi cảm thấy khá bối rối không biết nên nhào nặn tác phẩm của mình theo hình thức nào. Để cho những ảo tưởng của tác giả trôi tuột qua mà không làm gì cả thì chẳng mang lại ích lợi gì; phản bác chúng một cách triệt để thì lại là hành động thiếu lịch sự, bởi vì trọng trách biên tập và xuất bản các bản thảo của ông — thứ mà tôi đã nhận lời, thậm chí đã cất công nài nỉ — đã được phó thác cho tôi; sự ủy thác này áp đặt lên tôi nghĩa vụ phải đối xử với tác giả một cách đáng kính. Cuối cùng, tôi đi đến kết luận về thứ phương án mà tôi cho là nhã nhặn, khôn ngoan và hữu ích nhất. Đó là tách biệt việc trình bày các ý tưởng của riêng tôi và của tác giả, và vì mục đích đó, đi sâu vào quan điểm của ông, đặt chúng dưới một lăng kính hoàn toàn mới, khuếch đại, mở rộng chúng, và chẳng tiếc công sức để góp phần tôn vinh chúng trong toàn bộ sự xuất sắc của chúng.
Do đó, tác phẩm của tôi được cấu thành từ hai phần hoàn toàn tách biệt: một phần, nhằm giải thích theo cách thức tôi vừa đề cập các dự án khác nhau của tác giả; phần còn lại — thứ không xuất hiện cho đến khi phần đầu phát huy tác dụng — tôi sẽ bày tỏ quan điểm của mình về những dự án ấy, thứ mà tôi thú nhận đôi khi có lẽ đã đẩy chúng vào số phận của bài thơ mười bốn câu của gã kẻ ghét đời. Đứng ở vị trí trang đầu của toàn bộ công trình sẽ là tiểu sử của tác giả. Cho mục đích này, tôi đã sưu tầm được một số tư liệu khá tốt, và tôi tự lừa dối mình rằng sẽ không làm hỏng chúng khi đem ra sử dụng. Tôi từng có dịp quen biết sơ qua với Abbé de St. Pierre lúc tuổi già của ông, và lòng tôn kính mà tôi dành cho ký ức về ông đảm bảo với tôi rằng, suy cho cùng, vị comte sẽ không phải thất vọng với cách thức mà tôi đối xử với người họ hàng của ông.
Tôi thực hiện bài khảo cứu đầu tiên của mình về cuốn “Perpetual Peace” (Nền hòa bình vĩnh cửu) — tác phẩm vĩ đại nhất và công phu nhất trong toàn bộ bộ sưu tập; và trước khi phó mặc bản thân cho những suy ngẫm, tôi đã đủ can đảm đọc ngấu nghiến mọi thứ vị abbé từng viết về đề tài tuyệt diệu này, mà chưa từng một lần để bản thân cảm thấy ghê tởm bởi sự lê thê hay những lần lặp đi lặp lại của ông. Công chúng đã được tận mắt chứng kiến bản trích yếu ấy, thế nên tôi chẳng có gì phải bàn thêm về đề tài này. Quan điểm của tôi về nó chưa từng được in ấn, và tôi cũng chẳng hay liệu nó có bao giờ được in hay không; tuy nhiên, nó đã được viết ra cùng thời điểm bản trích yếu ra đời. Từ đó, tôi chuyển sang cuốn “Polysynodie” (Hội đồng đa nguyên), một tác phẩm được viết dưới thời Nhiếp chính nhằm phò tá cho nền hành chính do ông lựa chọn, và chính tác phẩm này đã khiến Abbé de Saint Pierre bị trục xuất khỏi viện hàn lâm, do một số nhận xét bất lợi đối với triều đại hành chính tiền nhiệm — thứ đã làm cho Nữ công tước xứ Maine và Hồng y de Polignac nổi giận tột độ. Tôi hoàn thành tác phẩm này y hệt như tác phẩm trước, với một bản trích yếu và những lời bình phẩm; nhưng tôi dừng lại ở đó mà không có ý định tiếp tục cái công trình lẽ ra tôi không bao giờ nên bắt tay vào làm từ đầu.
Suy ngẫm đã xui khiến tôi từ bỏ nó tự nhiên hiện diện trong đầu, và điều đáng kinh ngạc là tại sao tôi lại không nghĩ ra nó sớm hơn.
Phần lớn các trước tác của Abbé de Saint Pierre hoặc là những quan sát, hoặc chứa đựng những quan sát về một vài khía cạnh của chính quyền Pháp, và một số trong số đó mang tính chất phóng túng đến mức thật may mắn cho ông vì đã dám thốt ra chúng mà không bị trừng phạt. Nhưng trong các văn phòng của mọi bộ trưởng nhà nước, Abbé de St. Pierre từ trước đến nay vẫn luôn được xem như một dạng nhà thuyết giáo hơn là một chính trị gia thực thụ, và người ta dung túng cho ông nói bất cứ điều gì ông thích, bởi vì có vẻ như chẳng có ma nào thèm lắng nghe ông cả. Giả sử tôi kiếm được cho ông những độc giả thì sự tình đã khác. Ông là một người Pháp, còn tôi thì không; và bằng cách lặp lại những lời khiển trách của ông, dẫu là dưới chính tên tuổi của ông, tôi tự đẩy mình vào tình thế có nguy cơ bị chất vấn một cách khá thô lỗ nhưng hoàn toàn có lý rằng tôi đang chõ mõm vào việc gì. May mắn thay, trước khi tiến xa hơn nữa, tôi nhận ra cái gọng kìm mà mình chuẩn bị trao vào tay chính quyền để chống lại mình, và tôi lập tức rút lui. Tôi thừa hiểu rằng, sống đơn độc giữa những kẻ quyền thế hơn mình, tôi chẳng thể bằng bất kỳ cách nào tự che chở bản thân khỏi những ngón đòn mà chúng muốn giáng xuống. Chỉ có một điều duy nhất phụ thuộc vào nỗ lực của chính tôi: đó là duy trì một lập trường hành xử sao cho bất cứ khi nào chúng muốn làm tôi cảm nhận sức nặng của quyền lực, chúng không thể làm thế mà không mang tiếng là bất công. Châm ngôn từng xui khiến tôi từ chối tiếp tục các trước tác của Abbé de Saint Pierre cũng chính là thứ đã nhiều lần khiến tôi từ bỏ những dự án mà tôi còn tha thiết hơn rất nhiều. Những kẻ luôn sẵn sàng quy chụp nghịch cảnh thành tội lỗi hẳn sẽ phải ngạc nhiên biết bao nếu chúng hay biết những nỗ lực mà tôi từng bỏ ra, để trong những nghịch cảnh của cuộc đời, người ta không bao giờ có thể nói về tôi một cách chân thực rằng: Ngươi đáng đời lắm.
Sau khi từ bỏ bản thảo, tôi trải qua một khoảng thời gian dài chẳng tài nào định đoạt nổi tác phẩm nào sẽ nối gót nó, và khoảng thời gian bất hoạt này mang tính tàn phá khốc liệt; bởi nó buông thả cho tôi quay ngược những suy ngẫm về phía chính mình, vì thiếu vắng một đối tượng khác để bận tâm chú ý. Tôi chẳng có bất kỳ dự án nào cho tương lai có thể giải trí cho trí tưởng tượng của mình. Thậm chí việc vạch ra một dự án cũng là bất khả thi, bởi hoàn cảnh của tôi lúc bấy giờ chính xác là nơi mọi khát vọng của tôi hội tụ. Tôi chẳng còn ước muốn nào khác để mà hoài bão, thế mà trong tim tôi vẫn cứ gặm nhấm một khoảng trống rỗng. Trạng thái này càng thêm phần tàn nhẫn khi tôi chẳng nhìn thấy một con đường nào khác khả dĩ đáng mơ ước hơn nó. Tôi đã neo giữ những tình cảm dịu dàng nhất của mình vào một con người cũng đáp lại tôi bằng tình cảm của nàng. Tôi sống bên nàng mà chẳng vướng bận gò bó, và có thể nói là hoàn toàn rảnh rang. Mặc dù vậy, một nỗi buồn thầm kín trong tâm hồn chưa từng rời bỏ tôi lấy một khoảnh khắc, dù khi nàng có mặt hay lúc vắng bóng. Trong tay tôi là Theresa, thế nhưng tôi vẫn cảm nhận rõ nàng thiếu thốn một điều gì đó cho hạnh phúc của chính mình; và chỉ riêng ý nghĩ về việc tôi không phải là tất cả đối với nàng đã tác động lên tâm trí tôi mạnh mẽ đến mức nàng bỗng hóa thành chẳng là gì đối với tôi cả.
Tôi có những người bạn thuộc cả hai giới, những người mà tôi gắn kết bằng tình bạn thuần khiết nhất và sự kính trọng hoàn hảo nhất; tôi đặt trọn niềm tin vào sự báo đáp thực sự từ phía họ, và một mảy may nghi ngờ về sự chân thành của họ chưa bao giờ bén mảng vào đầu tôi; thế nhưng thứ tình bạn này lại biến thành một cực hình nhiều hơn là niềm vui đối với tôi, bởi sự kiên trì cứng nhắc và thậm chí cả sự ra vẻ của họ trong việc chống lại sở thích, khuynh hướng và lối sống của tôi; và điều này tồi tệ đến mức ngay khoảnh khắc tôi tỏ ý muốn khao khát một điều gì đó chỉ liên quan đến riêng mình và chẳng phụ thuộc vào họ, họ lập tức hợp sức ép buộc tôi phải khước từ nó. Khát vọng kiểm soát mọi ước muốn của tôi này — càng trở nên bất công hơn khi tôi chẳng buồn bới móc hay quan tâm đến ước muốn của họ — trở nên bóp nghẹt đến đau đớn, khiến tôi chưa từng nhận được một bức thư nào từ họ mà không dâng trào một nỗi sợ hãi nhất định mỗi khi bóc nó ra — một nỗi sợ hãi mà nội dung bên trong minh chứng quá ư rõ rệt. Tôi ngỡ rằng việc bị đối xử như một đứa trẻ bởi những kẻ trẻ tuổi hơn mình, và bản thân chúng cũng đang ngập đầu trong đống rắc rối cần đến những lời khuyên nhủ mà chúng lại đang phung phí ban phát cho tôi, là quá mức chịu đựng: “Hãy yêu tôi,” tôi từng bảo họ, “như cách tôi yêu các bạn; nhưng ở mọi phương diện khác, hãy để các công việc của tôi trở nên hờ hững với các bạn y như các công việc của các bạn đối với tôi: đó là tất cả những gì tôi xin.” Nếu họ có ban phát cho tôi một trong hai yêu cầu ấy, thì đó tuyệt đối không phải là yêu cầu sau.
Tôi sở hữu một chốn ẩn dật trong một khung cảnh cô độc quyến rũ, làm chủ ngôi nhà của chính mình, và có thể sống ở đó theo cách thức tôi cho là phải phép, mà chẳng bị ai kìm kẹp. Chốn ở này áp đặt lên tôi những nghĩa vụ dễ chịu để thực thi, nhưng chúng lại là những thứ bắt buộc. Sự tự do của tôi thật bấp bênh. Ở trong một trạng thái lệ thuộc còn tồi tệ hơn cả một kẻ sai vạ người bảo, tôi buộc phải xem đó là bổn phận xuất phát từ sự ngả nghiêng của lòng mình. Mỗi khi thức dậy vào buổi sáng, tôi chưa bao giờ có thể tự nhủ với lòng: ta sẽ sử dụng ngày hôm nay theo ý muốn. Và hơn thế nữa, bên cạnh việc phải tuân lệnh gọi của bà d’Epinay, tôi còn phải đối mặt với những sự quấy rầy còn khó chịu hơn nhiều từ phía công chúng và những kẻ qua đường ngẫu nhiên. Khoảng cách từ chỗ tôi đến Paris chẳng thể ngăn cản những đám đông vô công rỗi nghề, chẳng biết tiêu pha thời gian ra sao, kéo đến phá bấy tôi hàng ngày, và chẳng hề vướng bận chút cắn rứt nào, hồn nhiên định đoạt thời gian của tôi. Khi tôi ít ngờ tới sự viếng thăm nhất thì lại bị chúng tập kích không thương tiếc, và tôi hiếm khi vạch ra được một kế hoạch giải trí thú vị nào trong ngày mà lại không bị phá hỏng bởi sự xuất hiện của một vị khách lạ nào đó.
Tóm lại, chẳng tìm thấy chút niềm vui đích thực nào giữa những lạc thú mà tôi từng tha thiết khao khát đạt được, tôi, bằng những bước chuyển dịch tâm lý đột ngột, lại quay ngược tưởng tượng về những ngày tháng thanh bình của tuổi trẻ, và đôi khi thốt lên tiếng thở dài: “Ah! Đây đâu phải là Les Charmettes!”
Hồi ức về các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời dẫn dắt tôi suy ngẫm về thời điểm mà mình đang trải qua, và tôi nhận ra bản thân đã bước vào độ xế bóng, trở thành nạn nhân của những căn bệnh đau đớn, và mường tượng rằng mình đang tiến đến điểm tận cùng của cuộc đời mà chưa từng nếm trải — một cách trọn vẹn và đích thực — bất kỳ niềm lạc thú nào mà trái tim tôi hằng khao khát, hay chưa từng giải phóng hết những tình cảm mãnh liệt mà tôi cảm nhận nó đang dự trữ bên trong. Tôi thậm chí chưa từng ưu ái thứ lạc thú say đắm lòng người nào mà tâm trí tôi vốn dĩ tích trữ dồi dào, và vì thiếu vắng một đối tượng, nó cứ mãi bị nén chặt lại và chẳng bao giờ được thở phào ngoại trừ qua những tiếng thở dài.
Làm thế nào mà với một tâm hồn vốn dĩ phóng khoáng tự nhiên, một kẻ mà sống chính là yêu, tôi lại cho đến nay vẫn chưa tìm được một người bạn hoàn toàn tận tụy với mình — một người bạn thực sự: một kẻ như tôi cảm thấy bản thân vô cùng dư dả khả năng để làm điều đó cho người khác? Làm sao có thể lý giải được rằng với những tình cảm ấm áp nhường ấy, những giác quan dễ bốc cháy và một trái tim cấu thành thuần túy từ tình yêu, tôi lại chưa từng dù chỉ một lần cảm nhận được ngọn lửa ấy hướng về một đối tượng xác định? Bị hành hạ bởi cơn khát khao được yêu thương mà chưa từng tài nào thỏa mãn nổi, tôi nhận ra mình đang tiến sát thềm tuổi già và lao nhanh về cái chết mà chưa từng thực sự sống.
Những hồi ức buồn bã nhưng đầy xúc động này dẫn dắt tôi đến với những ký ức khác, dẫu đi kèm với sự hối tiếc nhưng lại không hoàn toàn mang sắc thái bất mãn. Tôi nghĩ rằng một điều gì đó mà tôi chưa từng nhận được vẫn còn đang nợ tôi từ định mệnh.
Mục đích gì mà tôi sinh ra với những năng lực tinh tế tột cùng? Để rồi mặc cho chúng nằm lì bất động ư? Cảm thức về giá trị bản thân — thứ khiến tôi xem mình là kẻ đang gánh chịu bất công — chính là một dạng đền bù, và khiến tôi tuôn trào những giọt nước mắt mà tôi hạnh phúc để mặc cho chúng xuôi dòng.
Đó là những chiêm nghiệm của tôi vào mùa đẹp nhất trong năm, vào tháng Sáu, dưới những tán lá mát rượi, hòa cùng tiếng hót của chim sơn ca và khúc róc rách của những con suối. Mọi thứ đồng lòng xô đẩy tôi chìm đắm vào trạng thái lười biếng đầy quyến rũ ấy — thứ tôi sinh ra là để dành cho nó, và lẽ ra phong thái khắc khổ xuất phát từ một cơn bùng nổ lâu dài phải giải thoát tôi ra khỏi đó vĩnh viễn. Tôi không may lại nhớ về bữa trưa tại Chateau de Toune, và cuộc gặp gỡ với hai cô gái dễ thương vào cùng mùa ấy, ở những chốn vô cùng tương đồng với nơi tôi đang đứng. Hồi ức về những hoàn cảnh ấy — thứ được bồi đắp thêm bởi sự ngây thơ đi kèm khiến chúng càng trở nên thân thương đối với tôi — đã kéo theo vô số ký ức khác cùng bản chất trở về trong tâm trí. Tôi lập tức nhìn thấy mình được bao bọc bởi tất cả những đối tượng từng mang lại cho tôi những rung động thời tuổi trẻ. Mademoiselle Galley, Mademoiselle de Graffenried, Mademoiselle de Breil, bà Basile, bà de Larnage, những cô học trò xinh xắn của tôi, và thậm chí cả nàng Zulietta mê hoặc mà trái tim tôi chẳng thể nào quên nổi. Tôi thấy mình đứng giữa một chốn hậu cung chứa đầy những trinh nữ thiên đường từ thuở quen xưa — những người mà khao khát mãnh liệt nhất dành cho họ chẳng phải là điều gì mới mẻ đối với tôi. Máu huyết tôi bốc cháy, đầu óc tôi quay cuồng, bất chấp mái tóc đã điểm bạc, và người công dân nghiêm nghị xứ Geneva, gã Jean-Jacques khắc khổ ở tuổi bốn mươi lăm, lại một lần nữa hóa thân thành anh chàng mục tử si tình. Cơn say đắm bủa vây tâm trí tôi, dẫu đột ngột và ngông cuồng, lại mạnh mẽ và bền bỉ đến mức để giúp tôi tỉnh ngộ, chẳng gì ít hơn ngoài cuộc khủng hoảng bất ngờ và khủng khiếp mà nó mang lại là đủ.
Cơn say đắm này, dẫu đẩy lên đến cấp độ nào đi nữa, cũng chưa đi xa đến mức khiến tôi quên béng đi tuổi đời và hoàn cảnh của mình, khiến tôi ảo tưởng rằng mình vẫn còn có thể truyền cảm hứng yêu đương, hay xui khiến tôi tìm cách truyền tải ngọn lửa thiêu đốt — thứ mà từ thời thanh xuân tôi vẫn luôn cảm thấy trái tim mình mòn mỏi thiêu đốt trong vô vọng. Tôi chẳng hề hy vọng điều đó; tôi thậm chí chẳng hề khao khát nó. Tôi thừa biết mùa của tình yêu đã qua đi; tôi quá hiểu sự khinh miệt mà người ta dành cho những ảo tưởng lố bịch của những gã tình nhân đã quá đát, thế nên tôi đời nào chịu biến mình thành một kẻ góp mặt vào con số đó, và tôi không phải là kẻ sẽ trở thành một gã hoa hòe hoa sói trơ trẽn lúc tuổi xế chiều, sau khi đã chẳng hề là thế trong suốt thời kỳ rực rỡ nhất của cuộc đời. Hơn thế nữa, với tư cách là một kẻ yêu chuộng hòa bình, tôi hẳn sẽ phải e sợ những cuộc nội chiến gia đình; và tôi yêu thương Theresa quá đỗi chân thành để nỡ phơi bày nàng trước sự hổ thẹn khi chứng kiến tôi nuôi dưỡng những tình cảm mãnh liệt dành cho những người khác nồng nàn hơn cả thứ tình cảm mà nàng truyền cảm hứng cho tôi.
Tôi đã thực hiện bước đi nào trong hoàn cảnh này? Độc giả của tôi hẳn sẽ đoán ra được, nếu họ đã cất công bỏ ra chút ít sự chú ý cho câu chuyện của tôi. Sự bất khả đạt được những sinh thể thực sự đã đẩy tôi lao vào những vùng đất của chốn hão huyền, và chẳng nhìn thấy gì trong thực tại xứng đáng với cơn mê sảng của mình, tôi đi tìm thức ăn cho nó trong thế giới tưởng tượng — nơi trí tưởng tượng của tôi nhanh chóng cư trú những sinh thể đúng theo ý nguyện của trái tim. Phương án này chưa bao giờ xuất hiện đúng lúc hơn, và cũng chưa bao giờ dồi dào đến thế. Trong cơn ngất ngây liên miên, tôi chuốc say tâm trí mình bằng những tình cảm ngọt ngào nhất từng bước chân vào trái tim con người. Quên sạch sành sanh giống loài nhân loại, tôi tự dựng lên cho mình những hội đoàn gồm những sinh thể hoàn hảo, với đức hạnh thanh cao tựa thiên đàng cùng vẻ đẹp tuyệt mỹ, những người bạn chân tình và trung thực — những kẻ tôi chưa từng tìm thấy ở cõi trần gian này. Tôi trở nên say mê với việc bay lượn giữa tầng không trung, bao quanh bởi những đối tượng quyến rũ ấy, đến mức tôi cứ thế trải qua hàng giờ liền, hàng ngày trời mà chẳng hề hay biết; và đánh rơi ký ức về mọi thứ khác, tôi vừa gặm vội miếng ăn trong hoảng hốt vừa nôn nóng muốn trốn chạy và lao mình quay lại những lùm cây của mình. Khi chuẩn bị lên đường bước vào thế giới thần tiên ấy, tôi nhìn thấy những kẻ phàm trần khốn khổ kéo đến giữ chân tôi lại trên mặt đất, tôi chẳng tài nào che giấu hay kìm nén nổi cơn thịnh nộ; và chẳng còn làm chủ được bản thân, tôi tiếp đón họ cộc cằn đến mức người ta hoàn toàn có quyền gọi đó là sự thô lỗ. Điều này càng góp phần củng cố tiếng tăm của một kẻ ghét đời gắn liền với tôi, xuất phát từ chính cái nguyên nhân lẽ ra — nếu thế giới có thể đọc thấu trái tim tôi — phải mang lại cho tôi một danh hiệu mang bản chất hoàn toàn ngược lại.
Giữa đỉnh điểm của niềm hoan hỉ, tôi bị kéo sụp xuống như một con diều giấy, và được trói buộc trở lại vị thế đích thực của mình nhờ một trận đòn đau điếng từ căn bệnh của tôi. Tôi quay trở lại với phương pháp duy nhất từng mang lại sự nhẹ nhõm cho mình trước kia, và qua đó ký kết một hiệp ước hòa bình tạm thời với những mối tình thiên thần; bởi bên cạnh việc một gã đàn ông hiếm khi nào sinh lòng yêu đương lúc đang oằn mình chịu đựng đớn đau, trí tưởng tượng của tôi — vốn được thổi bùng ở miền quê và dưới bóng râm của những nhành cây — lại héo mòn và lụi tàn trong một căn phòng kín và dưới những xà nhà trần trát. Tôi thường xuyên tiếc nuối vì trên đời chẳng tồn tại loài nữ thần cây Dryad nào; nếu có thì chắc chắn tôi đã neo giữ tình cảm của mình vào những sinh thể ấy.
Những rắc rối gia đình khác diễn ra đồng thời lại càng làm gia tăng thêm nỗi phiền muộn của tôi. Bà le Vasseur, trong lúc liên tục ném vào mặt tôi những lời khen ngợi hay ho nhất trên đời, lại tìm mọi cách có thể để bứt đứt cô con gái khỏi tôi. Tôi nhận được những lá thư từ chốn khu phố cũ, thông báo rằng mụ già tốt bụng ấy đã âm thầm ôm một đống nợ nần dưới danh nghĩa của Theresa — những món nợ mà nàng sau đó hay biết, nhưng chưa từng hé răng nói với tôi nửa lời. Những món nợ cần phải trả làm tôi đau lòng ít hơn nhiều so với việc chúng bị biến thành bí mật giấu giếm. Làm sao mụ ta — kẻ mà tôi chưa từng có lấy một bí mật nào — lại có thể giấu giếm tôi cơ chứ? Liệu có tài nào ngụy trang nổi với những kẻ mà ta yêu thương? Nhóm “Coterie Holbachique”, nhận ra tôi chưa từng đặt chân đến Paris, bắt đầu thực sự lo sợ rằng tôi đã tìm thấy hạnh phúc và sự thỏa mãn ở chốn điền viên, và đủ ngu ngốc để định cư luôn ở đó.
Từ đó nảy sinh những bè phái với muôn vàn mưu đồ nhằm lôi kéo tôi quay trở lại thành thị một cách gián tiếp. Diderot, người không muốn trực tiếp lộ diện, bắt đầu bằng việc dứt khỏi tôi cậu thanh niên De Leyre — kẻ mà tôi từng giới thiệu cho ông ta, và người đã tiếp nhận rồi truyền đạt lại cho tôi những ấn tượng mà Diderot muốn rót vào đầu cậu ta mà chẳng mải mai nghi ngờ mục đích cuối cùng của chúng.
Mọi thứ dường như đồng lòng kéo tôi ra khỏi chốn mơ mộng điên rồ và mê hoặc ấy. Tôi chưa kịp hồi phục sau trận tấn công vừa rồi thì lại nhận được bản sao của bài thơ về thảm họa Lisbon — thứ mà tôi đinh ninh là do chính tác giả gửi tặng. Điều này buộc tôi phải viết thư cho ông ta và bàn về tác phẩm của ông. Tôi đã làm thế, và bức thư của tôi sau đó rất lâu đã được in ra mà không có sự đồng thuận của tôi, như tôi sẽ có dịp đề cập đến ở phần sau.
Bị sốc khi chứng kiến con người khốn khổ ấy ngập ngụa trong sự thịnh vượng và vinh quang, nhưng lại đắng cay gào thét chống lại những nỗi khốn cùng của cuộc đời này, và nhìn nhận mọi thứ đều tồi tệ, tôi nuôi dưỡng cái dự án điên rồ là bắt ông ta phải quay về soi chiếu lại chính mình, và chứng minh cho ông thấy rằng mọi thứ đều hoàn hảo. Voltaire, dường như tỏ ra tin tưởng vào Thượng đế, chưa bao giờ thực sự tin tưởng vào bất cứ thứ gì ngoài con quỷ dữ; bởi vì vị thần giả hiệu của ông ta thực chất là một sinh thể hiểm độc, theo quan điểm của ông ta, chẳng tìm thấy niềm vui nào khác ngoài việc làm điều ác. Sự phi lý lồ lộ của học thuyết này càng trở nên tởm lợm hơn khi nó phát ra từ một kẻ đang tận hưởng sự thịnh vượng tột bậc; một kẻ từ đỉnh cao hạnh phúc, lại tìm cách — bằng hình ảnh rùng rợn và tàn nhẫn của tất cả những tai hoạ mà hắn đang được miễn trừ — dồn những đồng loại của mình vào bước đường cùng của sự tuyệt vọng. Tôi, kẻ có nhiều quyền hơn hắn trong việc tính toán và cân nhắc mọi hoạn nạn của đời người, đã tiến hành khảo sát chúng một cách vô tư, và chứng minh cho hắn thấy rằng trong tất cả những hoạn nạn có thể xảy ra, chẳng có lấy một tai hoạ nào có thể quy tội cho Đấng Quan Phòng, mà thay vào đó, chúng bắt nguồn từ việc con người lạm dụng các năng lực của chính mình nhiều hơn là từ tự nhiên. Tôi đối xử với ông ta trong bức thư này với sự tôn trọng và tế nhị lớn nhất có thể. Tuy nhiên, thừa biết lòng tự ái của ông ta cực kỳ dễ tổn thương, tôi không gửi thẳng bức thư cho ông ta, mà gửi cho bác sĩ Tronchin — y sư kiêm bạn thân của ông ta, kèm theo toàn quyền quyết định: hoặc trao nó cho ông ta hoặc hủy hoại nó. Voltaire hồi đáp tôi trong vài dòng rằng vì bản thân đang đau yếu, lại phải gánh vác việc chăm sóc một bệnh nhân khác, nên ông ta hoãn câu trả lời lại cho một dịp tương lai nào đó, và không thèm đả động dù chỉ một lời về đề tài này. Tronchin, khi gửi trả lại bức thư cho tôi, đã kèm theo một bức thư khác, trong đó ông bày tỏ sự kính trọng vô cùng ít ỏi đối với kẻ vừa nhận được nó.
Tôi chưa từng xuất bản, thậm chí chưa từng trưng ra bất kỳ bức thư nào trong hai bức thư này, bởi tôi chẳng thích thú gì việc khoe mẽ những chiến thắng cỏn con ấy; nhưng các bản gốc vẫn đang nằm trong bộ sưu tập của tôi. Kể từ dạo đó, Voltaire đã xuất bản câu trả lời mà ông ta từng hứa hẹn với tôi, nhưng tôi chưa bao giờ nhận được nó. Đó chính là cuốn tiểu thuyết “Candide”, thứ mà tôi chẳng thể bàn luận bởi vì tôi chưa từng đọc qua nó.
Tất cả những sự gián đoạn ấy lẽ ra phải chữa lành cho tôi khỏi những mối tình ảo tưởng, và chúng có lẽ là chiếc phao cứu sinh được Thiên đàng chìa ra nhằm ngăn chặn những hệ quả tàn phá của chúng; nhưng con quỷ xui xẻo trong tôi lại chiến thắng, và tôi vừa mới chớm bước chân ra ngoài thì trái tim, khối óc cùng đôi chân của tôi lại quay ngoắt về những lối mòn cũ. Tôi nói là cũ ở một số khía cạnh; bởi vì những ý tưởng của tôi, có phần bớt phần siêu việt hơn, lần này trụ lại trên mặt đất, nhưng vẫn bận rộn với việc thực hiện một sự lựa chọn tinh tế đến mức đáng kinh ngạc đối với mọi thứ đáng yêu có thể tìm thấy ở cõi trần, khiến nó chẳng kém phần hão huyền so với thế giới tưởng tượng mà tôi từng bỏ lại sau lưng.
Tôi hình dung ra tình yêu và tình bạn — hai thần tượng của trái tim mình — dưới những hình ảnh quyến rũ tột cùng. Tôi tự giải trí bằng cách khoác lên chúng toàn bộ những nét mê hoặc của giới tính mà tôi hằng tôn thờ. Tôi hình dung ra hai người bạn nữ thay vì hai người bạn cùng giới, bởi vì dẫu ví dụ ấy hiếm hoi hơn, nó cũng đồng thời đáng mến hơn. Tôi ban cho họ những tính cách khác biệt, nhưng tương thích với mối thâm giao của họ, với hai dung nhan — không hẳn tuyệt mỹ, nhưng phù hợp với gout thẩm mỹ của tôi, và được thổi bồng lên bởi lòng nhân ái cùng sự nhạy cảm. Tôi tạo ra một nàng da ngăm và một nàng da sáng, một nàng hoạt bát và một nàng u sầu, một nàng khôn ngoan và một nàng yếu đuối, nhưng mang một sự yếu đuối dễ mến đến mức dường như tô điểm thêm nét duyên cho đức hạnh. Tôi gán cho một trong hai nàng một gã tình nhân — người mà nàng kia là một người bạn tri kỷ, thậm chí hơn thế nữa, nhưng tôi tuyệt đối không dung túng cho bất kỳ sự ganh đua, cãi vã hay ghen tuông nào: bởi vì bất kỳ tình cảm đau đớn nào cũng là cực hình đối với trí tưởng tượng của tôi, và tôi không muốn làm vấy bẩn bức tranh tuyệt diệu này bằng bất cứ thứ gì hạ thấp bản chất con người. Bị mê hoặc bởi hai mô hình tuyệt diệu của mình, tôi vẽ nên chân dung chính mình ở gã tình nhân và người bạn hết mức có thể; nhưng tôi biến hắn thành một kẻ trẻ trung và đáng mến, đồng thời ban cho hắn cả những đức tính lẫn những khiếm khuyết mà tôi cảm nhận được ở chính bản thân mình.
Để đặt các nhân vật của mình vào một chốn cư ngụ thích hợp, tôi lần lượt điểm lại những khung cảnh đẹp nhất từng chứng kiến trong các chuyến hành trình. Nhưng tôi chẳng tìm thấy lùm cây nào đủ tuyệt diệu, chẳng có phong cảnh nào làm tôi vừa lòng. Những thung lũng ở Thessaly hẳn đã làm tôi thỏa mãn nếu tôi được một lần chiêm ngưỡng chúng; nhưng trí tưởng tượng của tôi, kiệt quệ vì sự sáng tạo, khao khát một chốn có thật để làm điểm tựa níu giữ, và tạo ra trong tôi ảo tưởng về sự tồn tại đích thực của những cư dân mà tôi dự định đặt để ở đó. Tôi đã đắn đo một hồi lâu về Quần đảo Borromean — với viễn cảnh mê hoặc từng làm tôi ngất ngây, nhưng tôi nhận ra ở đó quá nhiều sự nhân tạo và trang hoàng đối với những nhân vật của tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn khao khát một hồ nước, và cuối cùng tôi chốt hạ bằng việc lựa chọn cái hồ mà trái tim tôi chưa bao giờ ngừng lang thang quanh nó. Tôi neo đậu trên phần bờ hồ ấy — nơi những ước nguyện của tôi từ lâu đã an trí chốn cư ngụ của mình vào trong niềm hạnh phúc tưởng tượng mà định mệnh giam cầm tôi. Quê hương của mamma tội nghiệp vẫn mang lại cho tôi một sức hút kỳ lạ. Sự tương phản của các khung cảnh, sự phong phú và đa dạng của các địa điểm, sự hoành tráng và uy nghi của tổng thể — thứ cướp đoạt các giác quan, tác động đến trái tim và nâng tầm tâm trí — đã thuyết phục tôi trao ưu tiên cho nó, và tôi đặt hai học trò trẻ tuổi của mình tại Vevey. Đó là những gì tôi mường tượng ra ở bản phác thảo đầu tiên; phần còn lại mãi về sau mới được bồi đắp thêm.
Tôi đã giam mình trong bản thiết kế mơ hồ này một thời gian dài, bởi nó đủ sức khỏa lấp trí tưởng tượng của tôi bằng những đối tượng dễ chịu, và trái tim tôi bằng những tình cảm mà nó ngây ngất. Những hư cấu này, qua việc liên tục hiện về, cuối cùng cũng đạt được sự rắn rỏi và mang một hình thái định hình trong tâm trí tôi. Khi ấy, tôi nảy sinh hứng thú muốn bày tỏ trên trang giấy một số tình huống mà trí tưởng tượng trưng ra trước mắt, và qua việc hồi tưởng lại mọi thứ từng trải qua thời tuổi trời, tôi phần nào trao một đối tượng cho khát khao được yêu thương ấy — thứ chưa từng được thỏa mãn và tôi cảm nhận nó đang thiêu đốt tâm trí mình.
Đầu tiên tôi viết vài bức thư rời rạc, và khi sau đó muốn kết nối chúng lại với nhau, tôi thường xuyên vấp phải khó khăn. Điều tưởng chừng khó tin nhất, dẫu hoàn toàn chính xác, là việc tôi viết hai phần đầu tiên hầu như hoàn toàn theo cách này, mà chẳng hề vạch sẵn một dự án nào hay tiên liệu rằng có một ngày mình sẽ bị cám dỗ biến nó thành một tác phẩm hoàn chỉnh. Chính vì lý do này mà hai phần sau đó được cấu thành từ những tư liệu không được chuẩn bị sẵn cho vị trí chúng được an trí, ngập tràn những biểu đạt vô nghĩa không tìm thấy ở những phần khác.
Giữa những giấc mơ hoang đường, tôi nhận được chuyến ghé thăm từ bà d’Houdetot — chuyến thăm đầu tiên của bà dành cho tôi, nhưng ngặt thay lại không phải là chuyến cuối cùng, như sẽ được phơi bày sau đây. Nữ bá tước d’Houdetot là con gái của cố ngài de Bellegarde — một tay nông dân kiêm quản lý thuế vụ, là em gái của ngài d’Epinay và các ngài de Lalive cùng De la Briche — cả hai sau này đều trở thành những người đón tiếp các sứ thần. Tôi từng nhắc đến mối quan hệ quen biết với bà trước khi bà kết hôn: kể từ sự kiện đó, tôi chưa từng gặp lại bà, ngoại trừ tại các buổi tiệc tùng ở La Chevrette, cùng bà d’Epinay — chị dâu của bà. Từng có nhiều dịp trải qua vài ngày bên bà, cả ở La Chevrette lẫn Epinay, tôi luôn nghĩ bà là một người đáng mến và có vẻ là một người thiện chí với tôi. Bà thích đi bộ cùng tôi; cả hai đều là những kẻ bận chân và những cuộc trò chuyện giữa chúng tôi chẳng bao giờ cạn kiệt. Tuy nhiên, tôi chưa từng đến thăm bà tại Paris, dù bà từng nhiều lần yêu cầu và nài nỉ tôi làm thế. Những mối quan hệ của bà với ngài de St. Lambert — kẻ mà tôi bắt đầu trở nên thân thiết — khiến bà trở nên thú vị hơn trong mắt tôi, và chính để mang đến cho tôi một vài tin tức về người bạn ấy — người lúc bấy giờ có lẽ đang ở Mahon — mà bà đã lặn lội đến thăm tôi tại Nhà ẩn sĩ.
Chuyến thăm này mang dáng dấp mở màn của một cuốn tiểu thuyết. Bà bị lạc đường. Người đánh xe, rời bỏ con đường cái quan rẽ về bên phải, tìm cách băng thẳng qua từ cối xay Clairvaux đến Nhà ẩn sĩ: xe ngựa của bà lún sâu vào một vũng lầy ở đáy thung lũng, và bà phải bước xuống để đi bộ quãng đường còn lại. Những chiếc giày mỏng manh của bà nhanh chóng rách bươm; bà lún ngập trong bùn lầy, lũ đầy tớ phải chật vật hết mức mới kéo được bà ra, và cuối cùng bà cũng đặt chân đến Nhà ẩn sĩ trong đôi ủng dính đầy bùn, buông tiếng cười vang lừng cả một góc trời — thứ mà tôi hùa vào cười hưởng ứng nhiệt liệt. Bà buộc phải thay toàn bộ trang phục. Theresa cung cấp cho bà những thứ cần thiết, và tôi thuyết phục bà gạt phăng đi sự quyền quý để cùng chia sẻ một bữa ăn đạm bạc thôn dã — thứ dường như làm bà vô cùng hài lòng. Trận cờ đã muộn và thời gian lưu lại ngắn ngủi; nhưng buổi gặp gỡ ngập tràn tiếng cười ấy đã làm bà thích thú, và bà tỏ ra có ý định quay trở lại. Tuy nhiên, bà đã không thực hiện dự án này cho đến tận năm sau: nhưng, hỡi ôi! Sự chần chừ ấy chẳng mang lại điều gì thuận lợi cho tôi.
Tôi trải qua mùa thu trong một công việc mà chẳng một ai có thể ngờ là tôi lại dấn thân vào: đó là canh gác đống hoa quả cho ngài d’Epinay. Nhà ẩn sĩ chính là cái hồ chứa nước của công viên Chevrette; ở đó có một khu vườn được xây tường bao quanh và trồng đầy cây ăn trái giàn cùng các loại cây khác, mang lại cho ngài d’Epinay nhiều hoa quả hơn cả khu vườn rau của ông ta ở Chevrette, dẫu cho tới ba phần tư số đó bị trộm sạch. Để không trở thành một kẻ ăn bám vô tích sự, tôi đứng ra gánh vác việc quản lý khu vườn và kiểm tra hạnh kiểm của lão làm vườn. Mọi thứ trôi chảy tốt đẹp cho đến mùa thu hoạch quả, nhưng khi chúng bắt đầu chín, tôi nhận ra chúng cứ không cánh mà bay mà chẳng rõ chúng đã trôi dạt đi đâu. Lão làm vườn quả quyết với tôi rằng chính bọn chuột sóc đã ăn sạch sành sanh. Tôi tiêu diệt một số lượng lớn lũ động vật này, bất chấp điều đó hoa quả vẫn cứ vơi đi. Tôi theo dõi từng cử động của lão làm vườn sát sao đến mức phát hiện ra rằng chính lão mới là con chuột sóc bự nhất. Lão trọ ở Montmorency, từ đó cứ đêm xuống lão lại cùng vợ con quay lại khuân đi số hoa quả từng được cất giấu từ ban ngày, và mang ra chợ Paris bán công khai chẳng khác nào chúng được hái từ khu vườn của chính lão. Tên khốn nạn mà tôi từng ban phát biết bao ân huệ, kẻ có những đứa con được Theresa mua sắm quần áo cho, và có người cha ăn mày được tôi gần như nuôi nấng, lại nhẫn tâm trộm cắp của chúng tôi với một sự cợt nhả và trơ trẽn tột độ, khi chẳng có lấy một ai trong ba chúng tôi đủ sự cảnh giác để ngăn chặn hắn: và có một đêm hắn quất sạch cả hầm rượu của tôi.
Chừng nào lão còn nhắm vào một mình tôi, tôi còn ngậm đắng nuốt cay chịu đựng, nhưng khi muốn lập báo cáo về đống hoa quả, tôi buộc phải tuyên bố kẻ nào đã chôm chỉa phần lớn số đó. Bà d’Epinay muốn tôi trả tiền công rồi đuổi cổ lão đi, và tìm một kẻ khác thay thế; tôi đã làm thế. Vì tên khốn này cứ lang thang lảng vảng quanh Nhà ẩn sĩ vào ban đêm, lăm lăm một cây gậy cộc đầu bọc sắt và kè kè bên những kẻ vô loại giống mình, để giải tỏa nỗi sợ hãi cho các nữ gia nhân, tôi bắt người thay thế hắn phải ngủ lại trong nhà cùng chúng tôi; và điều này vẫn chưa đủ để xóa sạch nỗi hoảng hốt của họ, tôi bèn phái người sang xin ngài d’Epinay một khẩu súng hỏa mai, cất trong phòng của tay làm vườn, kèm theo chỉ thị không được khai hỏa trừ khi có kẻ định phá cửa hoặc trèo tường rào vườn, và chỉ được bắn đạn khói không có đạn chì, với mục đích duy nhất là dọa dẫm bọn trộm. Đó chắc chắn là sự cẩn trọng tối thiểu mà một kẻ đau yếu có thể thực hiện nhằm đảm bảo an toàn chung cho bản thân và gia đình, khi phải trải qua mùa đông giữa chốn rừng thiêng nước độc cùng hai người phụ nữ nhút nhát. Tôi cũng kiếm thêm một chú chó nhỏ để làm nhiệm vụ canh gác. Cậu De Leyre ghé thăm tôi vào khoảng thời gian này, tôi kể cho cậu nghe hoàn cảnh của mình và cả hai cùng cười phá lên trước bộ đồ nghề quân sự của tôi. Khi quay về Paris, cậu ta muốn đem câu chuyện ra cười cợt với Diderot, và qua con đường này, “Coterie d’Holbachique” hay tin tôi đã quyết định nghiêm túc sẽ trải qua mùa đông tại Nhà ẩn sĩ. Sự kiên định này — thứ mà chúng từng đinh ninh tôi chẳng đời nào làm nổi — đã làm chúng chưng hửng, và cho đến khi nghĩ ra được một mưu kế khác nhằm biến chốn cư ngụ của tôi thành một nơi khó chịu đựng, chúng bèn sai ngược trở lại qua trung gian của Diderot chính cậu De Leyre — kẻ thoạt đầu từng xem các biện pháp phòng ngừa của tôi là hoàn toàn tự nhiên, nay lại giả vờ phát hiện ra chúng mâu thuẫn với các nguyên tắc của tôi, và dán nhãn chúng là chẳng khác nào lố bịch trong những bức thư ngập tràn những lời trêu chọc đủ cay đắng và châm biếm để làm tôi nổi giận nếu như tôi dù chỉ có một mảy may máu ăn thua. Nhưng vào thời điểm ấy, vì ngập tràn trong những tình cảm dịu dàng và tha thiết, lại chẳng hề mẫn cảm với bất cứ thứ gì khác, tôi chẳng nhìn thấy trong những lời châm chọc sắc mỏng của cậu ta bất cứ điều gì hơn là một trò đùa cợt, và đinh ninh rằng cậu ta chỉ đang nói đùa trong khi thiên hạ hẳn đã cho rằng cậu ta điên nặng.
Nhờ sự chăm sóc và cảnh giác của mình, tôi canh gác khu vườn tốt đến mức dẫu năm đó hoa quả rất ít nhưng sản lượng thu về lại gấp ba lần những năm trước; quả thật, tôi chẳng tiếc chút công sức nào để gìn giữ chúng, và tôi thậm chí đi xa đến mức tự thân tống táng số hoa quả gửi đi Chevrette và Epinay, tự mình mang từng giỏ quả trên vai. Bà cô và tôi từng vác một giỏ nặng đến mức chúng tôi cứ đi chục bước lại phải dừng lại thở dốc, và khi đặt chân đến nơi thì người ngập ngụa mồ hôi hột.
Ngay khi mùa mưa bão bắt đầu giam hãm tôi trong nhà, tôi muốn quay trở lại với những trò giải trí lười biếng, nhưng nhận ra điều đó là bất khả thi. Tôi đi đến đâu cũng nhìn thấy hai người bạn nữ quyến rũ trước mắt, người bạn đồng hành của họ, mọi thứ bao bọc quanh họ, vùng đất họ cư ngụ, cùng những khung cảnh được tạo dựng hoặc tôn tạo cho họ qua trí tưởng tượng của tôi. Tôi không còn là chính mình lấy một khoảnh khắc, cơn mê sảng chưa từng buông tha tôi. Sau vô số nỗ lực vô ích nhằm quét sạch mọi hư cấu ra khỏi tâm trí, cuối cùng chúng cũng quật ngã tôi, và những nỗ lực trong tương lai của tôi chỉ thu hẹp lại vào việc sắp xếp trật tự và mạch lạc cho chúng, nhằm mục đích chuyển hóa chúng thành một dạng tiểu thuyết.
Điều làm tôi lúng túng nhất là việc tôi đã tự mâu thuẫn một cách quá ư lộ liễu và trọn vẹn. Sau những nguyên tắc khắc khổ mà tôi vừa dõng dạc khẳng định trước công chúng, sau những châm ngôn nghiêm ngặt mà tôi từng lớn tiếng giảng đạo, cùng những lời chỉ trích dữ dội chống lại những cuốn sách chẳng thở ra điều gì ngoài sự yểu điệu thục nữ và tình yêu, còn điều gì có thể ít ngờ tới hơn hoặc kỳ quái hơn việc nhìn thấy chính tay mình viết nên cái tên mình vào danh sách những tác giả của những cuốn sách mà tôi từng gay gắt chỉ trích? Tôi cảm nhận sự phi lý này trong toàn bộ chiều kích của nó. Tôi tự trách mình vì điều đó, tôi đỏ mặt hổ thẹn và phát bực; nhưng tất cả những điều ấy chẳng tài nào kéo tôi trở lại với lý trí được nữa. Bị đánh gục hoàn toàn, tôi bất chấp mọi rủi ro buộc phải khuất phục, và hạ quyết tâm dũng cảm đối mặt với bất cứ điều gì thiên hạ có thể bàn tán về nó. Ngoại trừ việc sau đó tiếp tục đắn đo xem có nên hay không nên trưng ra tác phẩm của mình — bởi tôi vẫn chưa mảy may cho rằng mình sẽ bao giờ quyết định xuất bản nó.
Đạt được quyết định này, tôi hoàn toàn phó mặc bản thân cho những giấc mơ hão huyền, và qua việc liên tục nhào nặn chúng trong tâm tưởng, bèn nhặt nhạnh hình thành nên một dạng bản thiết kế mà người ta đã chứng kiến kết quả thực thi của nó. Đây chắc chắn là lợi ích lớn nhất có thể rút ra từ những trò điên rồ của tôi; lòng hướng thiện chưa từng một lần bị xóa nhòa khỏi trái tim tôi đã bẻ lái chúng hướng về những mục tiêu hữu ích, nơi luân lý của chúng hẳn đã có thể sinh ra những hiệu quả tốt đẹp. Những miêu tả đầy dục vọng của tôi hẳn đã đánh mất toàn bộ nét duyên dáng nếu chúng bị tước đi lớp màu sắc của sự ngây thơ.
Một cô gái nhẹ dạ là một đối tượng đáng thương, người mà tình yêu có thể làm cho trở nên thú vị, và vì thế thường chẳng kém phần đáng mến; nhưng ai có thể nhìn ngắm mà không nổi giận trước tập tục của thời đại; và còn gì ghê tởm hơn lòng kiêu hãnh của một người vợ lẳng lơ, khi công khai dẫm đạp lên mọi nghĩa vụ, lại đòi hỏi rằng người chồng phải biết ơn vì sự không chịu để bị bắt quả tang tại trận của nàng? Những sinh thể hoàn hảo chẳng tồn tại trong tự nhiên, và những hình mẫu của họ cũng chẳng đứng đủ gần chúng ta. Nhưng bất cứ kẻ nào khẳng định rằng bức thư miêu tả một thiếu nữ sinh ra với những bản tính tốt đẹp, cùng một trái tim vừa dịu dàng vừa đức hạnh, trót lỡ bước lầm đường vì tình yêu khi còn trẻ, và đến tuổi trưởng thành lại đủ nghị lực để lật ngược thế cờ, tựu trung lại là một thứ tởm lợm và vô tích sự, thì kẻ đó là một tên nói dối và giả hình; đừng dại dột mà lắng nghe hắn.
Bên cạnh mục tiêu luân lý và sự trinh bạch trong hôn nhân — thứ có mối liên hệ căn cốt với mọi trật tự xã hội — tôi còn nhắm đến một mục tiêu mang tính bí mật hơn nhằm phục vụ cho sự hòa hợp và hòa bình công chúng, một mục tiêu lớn lao hơn, và có lẽ quan trọng hơn tự thân nó, ít nhất là cho khoảnh khắc mà nó được tạo ra. Cơn bão táp do cuốn “Encyclopedie” châm ngòi, chẳng những không dịu đi, lại đang ở vào thời điểm dữ dội nhất. Hai phe phái căm ghét lẫn nhau đến tận cùng của cơn thịnh nộ chẳng mấy chốc hóa thân thành những bầy sói điên cuồng lao vào tàn sát lẫn nhau, hơn là những Cơ đốc nhân và triết gia mang trong mình ước muốn tương hỗ muốn khai sáng và thuyết phục lẫn nhau, đồng thời dẫn dắt các anh em mình bước vào con đường chân lý. Có lẽ điều duy nhất mà mỗi phe còn thiếu chính là một vài thủ lĩnh hiếu chiến nắm giữ chút ít quyền lực, để đẩy mối thù này kết thúc trong một cuộc nội chiến; và chỉ có Chúa mới biết một cuộc nội chiến tôn giáo được xây dựng trên sự không dung thứ tàn nhẫn nhất từ cả hai phía sẽ sinh ra cái quái thai gì. Vốn tự nhiên là một kẻ căm ghét mọi tinh thần bè phái, tôi từng tự do thốt ra những sự thật cay đắng với từng phe — những thứ mà chẳng bên nào chịu lắng nghe. Tôi nghĩ đến một giải pháp thay thế khác, trong sự ngây thơ của mình, xuất hiện như một điều kỳ diệu: đó là làm dịu đi sự thù hận tương hỗ của họ bằng cách phá hủy những định kiến, và phơi bày cho mỗi phe thấy được đức hạnh và giá trị xứng đáng với sự kính trọng và nể nang của công chúng ở phe còn lại. Dự án này, chẳng lấy làm nổi bật về sự khôn ngoan — thứ vốn hậu thuẫn cho sự chân thành nơi nhân loại, và qua đó tôi lại tự đẩy mình rơi vào cái sai lầm từng bị tôi chỉ trích ở Abbé de Saint Pierre — đã gặt hái được thứ thành quả đúng như dự liệu: nó kéo các phe phái lại gần nhau và hợp nhất họ lại hoàn toàn chỉ với một mục đích duy nhất: giã nát tác giả. Cho đến khi kinh nghiệm buộc tôi phải khám phá ra sự ngốc nghếch của mình, tôi vẫn dồn tâm sức cho nó với một sự nhiệt thành xứng đáng với động cơ đã truyền cảm hứng cho mình; và tôi mường tượng ra hai nhân vật Wolmar và Julia trong một cơn ngất ngây — thứ khiến tôi nuôi hy vọng biến cả hai trở nên đáng mến, và tuyệt diệu hơn nữa là nhờ vào chính đối phương.
Hài lòng vì đã phác thảo xong bản thiết kế sơ bộ, tôi quay trở lại với những tình huống chi tiết từng được vạch sẵn; và từ sự sắp xếp mà tôi dành cho chúng đã sản sinh ra hai phần đầu tiên của cuốn Eloisa — thứ được tôi hoàn thành trong suốt mùa đông với một niềm vui khôn tả, cất công đi tìm giấy mạ vàng để chép sạch một bản hoàn chỉnh, bột nhũ xanh và bạc để rắc khô mực viết, cùng dải ruy băng xanh bản nhỏ để khâu các trang giấy lại với nhau; tóm lại, tôi thấy chẳng có thứ gì là đủ tao nhã và thanh nhã cho hai cô con gái đáng mến của mình — những người mà tựa như một gã Pygmalion thứ thiệt, tôi đâm ra si mê đến cuồng dại. Mỗi buổi tối, bên ánh lửa bập bùng, tôi đọc hai phần ấy cho các nữ gia nhân nghe. Cô con gái, chẳng thốt lên lời nào, cũng xúc động đến mềm lòng y như tôi, và chúng tôi cùng hòa chung những tiếng thở dài; người mẹ, vì thấy chẳng có lấy một lời khen ngợi xã giao nào, chẳng hiểu nổi một chữ, cứ trơ ra không cảm xúc và mỗi khi tôi ngừng đọc lại điệp khúc: “Thưa ngài, đoạn đó hay tuyệt.”
Bà d’Epinay, lo lắng cho việc tôi phải thui thủi một mình giữa mùa đông trong một ngôi nhà cô độc giữa chốn rừng sâu, thường xuyên sai người sang hỏi thăm sức khỏe của tôi. Tôi chưa từng chứng kiến bằng chứng nào chân thực hơn về tình bạn của bà dành cho tôi — thứ mà tình cảm của tôi chưa từng đáp lại một cách trọn vẹn hơn thế. Sẽ là một thiếu sót lớn nếu tôi không đặc biệt nhắc đến bức chân dung của bà trong số những bằng chứng ấy — thứ bà gửi cho tôi, đồng thời nài nỉ tôi chỉ dẫn cách thức để bà có được bức chân dung của tôi do La Tour vẽ và từng được đem trưng bày. Tôi đồng thời cũng phải nhắc đến một bằng chứng khác cho thấy sự quan tâm của bà đối với tôi, dẫu cho nó mang màu sắc buồn cười, nhưng lại là một nét chấm phá trong lịch sử nhân dạng của tôi vì ấn tượng mà nó để lại. Một hôm trời rét căm căm, khi mở một gói quà mà bà gửi cho tôi gồm một số thứ tôi từng nhờ bà mua hộ, tôi tìm thấy một chiếc váy lót bên trong bằng vải nỉ lông cừu xứ Anh, kèm theo lời nhắn rằng bà từng mặc nó và mong tôi hãy biến nó thành một chiếc áo lót bên trong.
Sự quan tâm vượt mức tình bạn này hiện lên trong mắt tôi quá đỗi dịu dàng, tựa hồ như bà vừa tự lột trần thân thể để khoác lên người tôi, đến mức trong niềm xúc động, tôi liên tục hôn lấy hôn để — đồng thời tuôn rơi nước mắt — cả tờ giấy nhắn lẫn chiếc váy lót. Theresa nhìn tôi và đinh ninh rằng tôi phát điên. Thật kỳ lạ là trong số mọi dấu hiệu tình bạn mà bà d’Epinay từng dành cho tôi, thứ này làm tôi xúc động sâu sắc nhất, và kể từ sau cuộc tuyệt giao của chúng tôi, tôi chưa từng bao giờ hồi tưởng lại nó mà không cảm thấy lòng mình xốn xang khôn tả. Tôi đã cất giữ tờ giấy nhắn nhỏ ấy trong một khoảng thời gian dài, và nó hẳn vẫn còn nằm trong tay tôi nếu như không chia sẻ chung số phận với những bức thư khác nhận được vào cùng thời kỳ đó.
Dù căn bệnh vào mùa đông ấy chẳng cho tôi mấy khoảng không gian nghỉ ngơi, và một phần thời gian rảnh rỗi bị ngốn vào việc đi tìm sự thuyên giảm nỗi đau, đây tựu trung lại vẫn là khoảng thời gian mà kể từ khi định cư tại Pháp tôi đã trải qua với nhiều niềm vui và sự an bình nhất. Suốt bốn hay năm tháng, trong lúc thời tiết khắc nghiệt che chở tôi khỏi những sự quấy rầy của những vị khách khứa phiền toái, tôi đã nếm trải — sâu sắc hơn bất kỳ khoảng thời gian nào trước đó hay sau này — cái lối sống bình yên, giản dị và độc lập mà sự thụ hưởng của nó càng làm tôi khao khát mãnh liệt hơn; chẳng có sự hiện diện nào khác ngoài hai nữ gia nhân bằng xương bằng thịt và hai người chị họ trong cớ trí tưởng tượng. Chính vào lúc ấy, tôi không ngừng tự chúc mừng bản thân mỗi ngày vì quyết định sáng suốt mà mình đã đưa ra, bất chấp những tiếng la ó của đám bạn bè — những kẻ ấm ức khi chứng kiến tôi rũ bỏ được ách thống trị của chúng; và mỗi khi tôi nghe về những nỗ lực của một kẻ điên, khi De Leyre và bà d’Epinay kể cho tôi nghe qua thư từ về những rắc rối và náo động đang thống trị Paris, tôi mới thầm tạ ơn Thiên đàng biết bao vì đã đẩy tôi ra xa khỏi những cảnh tượng kinh hoàng và tội lỗi ấy. Những thứ đó hẳn sẽ kéo dài và thổi bùng lên cơn u mật mà cảnh tượng nhiễu nhương của công chúng từng ném vào tôi; trong khi nhìn quanh chốn ẩn dật chẳng thấy gì ngoài những đối tượng vui tươi và dễ chịu, trái tim tôi hoàn toàn phó mặc cho những tình cảm đầy ái ngại.
Tôi ghi chép lại đây với niềm hân hoan tiến trình của những khoảnh khắc bình yên cuối cùng còn sót lại cho tôi. Mùa xuân kế tiếp mùa đông tĩnh lặng ấy đã nuôi mầm cho những giông bão bất hạnh mà tôi hãy còn phải miêu tả; trong chuỗi sự kiện ấy, một khoảng thời gian yên ả tương tự, nơi tôi có khoảng trống để thở hắt ra, sẽ chẳng thể nào tìm thấy nổi.
Tuy nhiên, tôi ngầm nhớ rằng trong khoảng thời gian thanh bình này, và giữa lòng chốn ẩn dật, tôi không phải là hoàn toàn không bị phiền nhiễu bởi nhóm Holbachiens. Diderot đã khơi mào cho tôi vài cuộc tranh chấp, và tôi dám cá rằng chính trong khoảng thời gian mùa đông này, vở kịch “Fils Naturel” — [Đứa con hoang] — thứ mà tôi sẽ sớm có dịp nhắc tới, đã xuất hiện. Độc lập với những nguyên nhân khiến tôi chỉ còn lưu giữ rất ít giấy tờ liên quan đến giai đoạn đó, những thứ tôi còn giữ được cũng chẳng thực sự chuẩn xác về mặt niên đại. Diderot chưa từng ghi ngày tháng trên thư của ông — bà d’Epinay và bà d’Houdetot hiếm khi ghi ngày tháng ngoại trừ ngày trong tuần, và De Leyre phần lớn cũng tự gò bó mình vào quy tắc tương tự. Khi tôi muốn sắp xếp lại đám thư từ này, tôi buộc phải tự lấp đầy những khoảng trống bằng cách đoán định niên đại — những thứ mông lung đến mức tôi chẳng tài nào đặt trọn niềm tin vào chúng. Do đó, bất lực trong việc xác định chính xác thời điểm khởi đầu của những cuộc cãi vã này, tôi thà gom góp thuật lại trong một mục tiếp theo mọi thứ tôi còn nhớ về chúng.
Sự trở lại của mùa xuân đã thổi bùng cơn mê sảng ái tình của tôi, và trong nỗi u sầu do sự bùng nổ thái quá của những cảm xúc mang lại, tôi đã sáng tác cho những phần sau của cuốn Eloisa vài bức thư — nơi in hằn những dấu vết rõ mồn một của cơn ngất ngây lúc tôi đặt bút viết chúng. Trong số đó, tôi có thể trích dẫn những bức thư từ khu vườn Elysium và chuyến du ngoạn trên hồ, nếu trí nhớ không đánh lừa tôi, nằm ở phần cuối của phần thứ tư. Bất cứ ai, khi đọc những bức thư ấy mà không cảm thấy trái tim mình mềm nhũn và tan chảy vào sự dịu dàng từng chi phối ngòi bút, nên dứt khoát quăng cuốn sách đi: tự nhiên đã tước đoạt ở kẻ đó năng lực phán đoán tình cảm.
Chính xác vào thời điểm đó, tôi nhận được chuyến ghé thăm bất ngờ thứ hai từ bà d’Houdetot, khi vắng mặt người chồng — người giữ chức đại úy lực lượng hiến binh, và người tình của bà — cũng đang tại ngũ. Bà đến Eaubonne, tọa lạc giữa lòng thung lũng Montmorency, nơi bà tậu một ngôi nhà xinh xắn, và từ đó thực hiện một chuyến du ngoạn mới tới Nhà ẩn sĩ. Bà đến bằng ngựa, mặc trang phục nam nhân. Dù tôi chẳng mấy mặn mà gì với kiểu hóa trang này, tôi vẫn bị choáng ngợp bởi vẻ ngoài lãng mạn của bà, và lần đầu tiên trong đời, trúng tiếng sét ái tình. Vì đây là lần đầu tiên và cũng là duy nhất trong suốt cuộc đời tôi, hệ quả của nó sẽ mãi mãi biến nó thành một nỗi ám ảnh kinh hoàng trong ký ức, tôi buộc phải xin phép được đi sâu vào một vài chi tiết về đề tài này.
Nữ bá tước d’Houdetot lúc bấy giờ xấp xỉ ba mươi tuổi, và không hề xinh đẹp; gương mặt bà rỗ hoa, làn da thô ráp, bà bị cận thị và đôi mắt có phần hơi tròn; bù lại bà sở hữu mái tóc đen dài tuyệt đẹp, buông xõa tự nhiên thành từng lọn xoăn qua thắt lưng; vóc dáng cân đối và phong thái vừa có nét lóng ngóng lại vừa uyển chuyển trong từng chuyển động; sự thông minh toát lên một cách tự nhiên và dễ mến; sự vui tươi, vô tư và ngây thơ hòa quyện hoàn hảo vào đó; bà tuôn trào những câu nói đùa vui nhộn, những thứ mà bà chẳng màng tìm kiếm nên thỉnh thoảng cứ tuột khỏi môi bất chấp ý muốn. Bà sở hữu một số tài năng dễ chịu, chơi đàn harpsichord, khiêu vũ cừ khôi và làm thơ rất ngọt. Tính cách của bà tựa thiên thần — thứ được xây dựng trên sự ngọt ngào của tâm tính, và ngoại trừ sự cẩn trọng cùng lòng quả cảm, chứa đựng trong đó mọi đức hạnh. Bà đồng thời cũng là một con người vô cùng đáng tin cậy trong mọi mối quan hệ giao thiệp, trung thực trong xã hội, đến mức ngay cả những kẻ thù của bà cũng chẳng cần phải che giấu bí mật trước mặt bà. Ý tôi là những kẻ thù thuộc phái nam, hoặc chính xác hơn là phái nữ — những kẻ chẳng ưa gì bà; bởi bản thân bà không mang một trái tim đủ tàn độc để căm ghét ai, và tôi cho rằng sự tương đồng này với tôi đã góp phần to lớn trong việc truyền ngọn lửa đam mê cho tôi hướng về bà. Trong sự tín nhiệm của một tình bạn thâm tình nhất, tôi chưa từng nghe bà thốt ra nửa lời chê bai những kẻ vắng mặt, thậm chí cả chị dâu của mình. Bà chẳng tài nào che giấu suy nghĩ trước bất kỳ ai, cũng chẳng ngụy trang nổi bất kỳ tình cảm nào của mình, và tôi đinh ninh rằng bà kể về người tình với chồng hệt như cách bà kể về anh ta với bạn bè, người quen và với bất kỳ ai mà chẳng màng phân biệt giai tầng. Điều chứng minh vượt ra ngoài mọi hoài nghi về sự thuần khiết và chân thực trong bản tính của bà là, dẫu thường xuyên rơi vào trạng thái đãng trí kỳ lạ cùng sự vô tư đến buồn cười, bà đôi khi vướng vào những sự bất cẩn ngớ ngẩn đối với chính bản thân mình, nhưng chưa bao giờ làm tổn hại mảy may đến bất kỳ ai.
Bà kết hôn khi còn quá trẻ và trái ngược với ý muốn với Bá tước d’Houdetot — một gã đàn ông thượng lưu và là một sĩ quan giỏi; nhưng lại là một kẻ mê bài bạc và tranh chấp, chẳng lấy gì làm dễ mến và chưa bao giờ được bà yêu thương. Bà tìm thấy ở ngài de Saint Lambert toàn bộ những phẩm chất của chồng mình, đi kèm với những nét tính cách dễ chịu hơn, hòa quyện cùng đức hạnh và tài năng. Nếu có bất kỳ điều gì trong tập tục của thời đại có thể được tha thứ, đó chính là một mối tình bền chặt theo thời gian làm tăng thêm sự thuần khiết, thứ mang lại vinh quang qua những tác động của nó, và được xiết chặt bởi sự tôn trọng tương hỗ. Chính phần vì chút hứng thú — như tôi có xu hướng nghĩ, nhưng phần nhiều là để làm hài lòng Saint Lambert, mà bà đến thăm tôi. Ông từng yêu cầu bà làm thế, và có lý do để tin rằng tình bạn chớm nở giữa chúng tôi sẽ làm cho mối quan hệ này trở nên dễ chịu đối với cả ba. Bà thừa nhận tôi có quen biết với mối quan hệ của họ, và vì bà có thể trò chuyện với tôi mà không cần gò bó, việc bà tìm thấy sự dễ chịu trong cuộc trò chuyện của tôi là điều hiển nhiên. Bà đến; tôi nhìn thấy bà; tôi say đắm trong tình yêu mà chẳng có nổi một đối tượng; cơn mê đắm ấy làm lóa mắt tôi; đối tượng đã tự neo đậu vào nàng. Tôi nhìn thấy nàng Julia của mình trong bà d’Houdetot, và chẳng mấy chốc tôi chẳng còn nhìn thấy gì ngoài bà d’Houdetot, nhưng đi kèm với toàn bộ những sự hoàn mỹ mà tôi vừa khoác lên vị thần tượng của trái tim mình. Để hoàn tất cơn cuồng nộ, bà kể cho tôi nghe về Saint Lambert với tất cả sự say đắm của một kẻ đang yêu cuồng nhiệt. Sức mạnh lây lan của tình yêu! Trong lúc lắng nghe bà, và nhận ra bản thân ở sát cạnh bên bà, tôi bị bủa vây bởi một cơn run rẩy ngọt ngào — thứ chưa từng xuất hiện trước bất kỳ ai trước đó. Bà cất lời, và tôi cảm nhận bản thân bị khuấy động; tôi tưởng mình chẳng mang tình cảm gì hơn ngoài sự đồng cảm với tâm tư của nàng, cho đến khi nhận ra mình đang mang trong người những cảm xúc tương tự; tôi uống cạn ly rượu độc, dù khi ấy hãy còn chưa nếm trải bất cứ điều gì ngoài vị ngọt ngào của nó. Cuối cùng, vô tình đối với cả đôi bên, nàng truyền cho tôi ngọn lửa hệt như những gì nàng dành cho người tình của mình. Hỡi ôi! Đã quá muộn màng trong cuộc đời, và thật tàn nhẫn làm sao khi phải thiêu đốt trong một ngọn lửa chẳng kém phần bạo liệt nhưng lại bất hạnh đối với một người phụ nữ có trái tim đã thuộc về kẻ khác.
Bất chấp những rung động phi thường từng trải qua khi ở gần nàng, thoạt đầu tôi chẳng nhận ra điều gì đã xảy ra với mình; phải đến tận sau khi bà ra đi, mong muốn được suy nghĩ về Julia bỗng bị đánh gục bởi sự kinh ngạc khi nhận ra bản thân chẳng thể nghĩ đến bất kỳ điều gì ngoài bà d’Houdetot. Khi ấy đôi mắt tôi mới thực sự mở ra: tôi cảm nhận được tai họa của mình, và than khóc cho những gì đã xảy ra, nhưng tôi hoàn toàn không tiên liệu được những hệ quả.
Tôi chần chừ suốt một thời gian dài về cách thức cư xử sao cho phải phép với nàng, tựa hồ như tình yêu đích thực lại chừa lại chút lý trí để ta đắn đo và hành động theo đó. Tôi vẫn chưa định đoạt xong xuôi thì nàng bất ngờ quay trở lại và bắt gặp tôi chưa kịp chuẩn bị. Lần này, khi đã hoàn toàn nhận thức được hoàn cảnh của mình, sự hổ thẹn — người bạn đồng hành của cái ác — biến tôi thành kẻ câm lặng và khiến tôi run lẩy bẩy trước mặt nàng; tôi chẳng dám mở miệng nổi một lời cũng chẳng dám ngước mắt lên nhìn; tôi chìm đắm trong một sự bối rối không thốt nên lời mà chắc chắn nàng không tài nào không nhận ra. Tôi hạ quyết tâm thú nhận với nàng trạng thái tâm lý bấn loạn của mình, và để mặc nàng tự đoán ra nguyên nhân sinh ra nó: điều đó chẳng khác nào nói toạc ra bằng những từ ngữ đủ rõ ràng.
Giả sử tôi trẻ trung và đáng mến, và bà d’Houdetot sau đó sa ngã, tôi hẳn sẽ trách cứ hạnh kiểm của nàng; nhưng sự việc không phải thế, và tôi buộc phải tán thưởng và ngưỡng mộ nó. Quyết định mà nàng đưa ra vừa khôn ngoan lại vừa hào hiệp. Nàng không thể đột ngột tuyệt giao với tôi mà không đưa ra lời giải thích cho Saint Lambert — chính là kẻ từng mong muốn nàng đến thăm tôi; điều đó hẳn sẽ đẩy hai người bạn vào một cuộc tuyệt giao và có lẽ là một vụ bê bối công khai, thứ mà nàng muốn né tránh. Nàng dành cho tôi sự kính trọng và thiện chí; nàng thương xót cho sự điên rồ của tôi nhưng không hề hùa theo nó, đồng thời nỗ lực kéo tôi trở lại với lý trí. Nàng vui mừng vì bảo vệ được cho người tình và bản thân một người bạn mà nàng dành sự kính trọng nhất định; và nàng chẳng bàn luận điều gì với niềm vui lớn hơn là hội nhóm xã hội dễ chịu và thân mật mà ba chúng tôi có thể thiết lập ngay khoảnh khắc tôi trở nên tỉnh táo. Nàng không phải lúc nào cũng tự giam mình trong những lời khuyên hữu nghị ấy, và khi cần thiết, cũng chẳng ngần ngại giáng vào tôi những lời quở trách nghiêm khắc hơn — những thứ tôi thừa sức xứng đáng.
Tôi tự quở trách bản thân còn tệ hại hơn thế: ngay khoảnh khắc ở một mình, tôi bắt đầu hồi phục; tôi trở nên bình tĩnh hơn sau khi đã thổ lộ — tình yêu, một khi được phơi bày trước kẻ đã thơi bùng ngọn lửa ấy, sẽ trở nên dễ chịu đựng hơn.
Sức mạnh cưỡng bách mà tôi tự áp đặt để trừng phạt bản thân lẽ ra phải chữa lành cho tôi khỏi nó nếu như điều đó là khả thi. Những động cơ mạnh mẽ nhường nào mà tôi không lôi tuột vào tâm trí để bóp nghẹt nó? Luân lý, tình cảm và nguyên tắc của tôi; sự hổ thẹn, sự phản bội và tội ác khi lạm dụng những gì được phó thác cho tình bạn, cùng sự lố bịch khi đùng đùng nổi lửa ở tuổi của tôi với một niềm đam mê hoang dã dành cho một đối tượng đã có nơi có chốn, kẻ chẳng thể ban ơn đền đáp hay mang lại mảy may hy vọng; hơn thế nữa với một thứ tình cảm, thay vì có gì để thu về từ sự kiên định, lại ngày càng trở nên khó chịu đựng hơn qua từng ngày.
Người ta tưởng rằng sự cân nhắc cuối cùng — thứ lẽ ra phải bồi đắp thêm trọng lượng cho tất cả những điều kia — lại chính là thứ được tôi dùng để lách qua chúng! Sự cắn rứt nào, tôi tự nhủ, mà tôi phải bận tâm về một trò điên rồ chẳng mang lại tai họa cho bất kỳ ai ngoài chính tôi? Chẳng lẽ tôi là một gã thanh niên trẻ trung khiến bà d’Houdetot phải dè chừng hay sao? Chẳng lẽ sự ăn năn giả trân của tôi lại tố cáo rằng qua sự lẳng lơ, phong thái và trang phục, tôi chuẩn bị đi quyến rũ nàng hay sao? Tội nghiệp Jean-Jacques, cứ yêu đi cho thỏa thích trong sự an toàn tuyệt đối của lương tâm, và đừng sợ hãi rằng những tiếng thở dài của ngươi sẽ mang lại tai họa cho Saint Lambert.
Người ta đã chứng kiến rằng tôi chưa từng là một gã hoa hòe hoa sói, kể cả thời tuổi trẻ. Lối tư duy mà tôi vừa nhắc đến hoàn toàn phù hợp với quỹ đạo tâm trí tôi; nó vỗ về niềm đam mê của tôi; điều đó là đủ để xui khiến tôi phó mặc bản thân cho nó mà không mảy may dè dặt, thậm chí cười cợt trước sự cắn rứt ngớ ngẩn mà tôi tưởng mình vừa bày đặt ra từ lòng hư vinh nhiều hơn là từ lý trí. Đây là một bài học lớn cho những tâm hồn đức hạnh, những kẻ chưa từng bị cái ác tấn công trực diện; nó tìm cách lừa phỉnh họ bằng cách ngụy trang dưới lớp vỏ của những ngụy biện, và không hiếm khi bằng một tấm áo đức hạnh.
Phạm tội mà không vướng bận sự cắn rứt, chẳng mấy chốc tôi lao đầu vào nó không biên giới; và tôi khẩn cầu người ta hãy quan sát cách thức mà niềm đam mê của tôi bám sát bản năng, để cuối cùng kéo tôi chìm nghỉm xuống vực sâu. Đầu tiên, nó khoác lên mình chiếc áo khiêm nhường để khích lệ tôi; và để biến tôi thành một kẻ gan lì, nó đẩy sự khiêm nhường ấy đến mức hoang tưởng. Bà d’Houdetot không ngừng nhắc nhở tôi về bổn phận, mà chưa từng có lấy một khoảnh khắc nịnh bợ sự điên rồ của tôi, đối xử với tôi bằng sự dịu dàng lớn nhất và giữ quan hệ với tôi trên nền tảng của một tình bạn vô cùng đỗi êm dịu. Tình bạn này, tôi xin thề, vốn dĩ đã có thể thỏa mãn mọi mong muốn của tôi nếu như tôi tin nó là chân thật; nhưng vì thấy nó quá mạnh mẽ để có thể là thực, tôi đâm ra hoang tưởng rằng tình yêu — thứ vốn chẳng khớp với tuổi tác và ngoại hình của mình — đã biến tôi thành một kẻ đáng khinh trong mắt bà d’Houdetot; rằng cô gái điên rồ trẻ tuổi này chỉ muốn đem tôi và niềm đam mê lạc hậu của tôi ra làm trò tiêu khiển; rằng nàng đã rỉ tai điều đó cho Saint Lambert; và rằng sự phẫn nộ bắt nguồn từ hành vi phản bội tình bạn của tôi, sau khi xui khiến người tình của nàng gia nhập phe cánh, đã cấu kết với nhau để làm tôi lú lẫn rồi sau đó lôi ra trêu chọc. Trò điên rồ này — thứ từng ở tuổi hai mươi sáu đẩy tôi vướng vào những hành vi hoang phí trước bà de Larnage, người mà tôi thậm chí chẳng quen biết — hóa ra lại là điều có thể tha thứ ở tôi khi bước sang tuổi bốn mươi lăm bên cạnh bà d’Houdetot, nếu như tôi không thừa biết rằng nàng và người tình đều là những con người quá ư chính trực để tự hạ mình chìm đắm vào một trò giải trí tàn nhẫn đến thế.
Bà d’Houdetot vẫn tiếp tục những chuyến ghé thăm, và tôi chẳng chần chừ đáp lễ. Cả nàng lẫn tôi đều yêu thích việc đi bộ, và chúng tôi thực hiện những chuyến dạo chơi dài ngày qua một vùng quê đẹp như mơ. Hài lòng với việc được yêu và dám thốt lên rằng tôi yêu, tôi hẳn đã ở vào hoàn cảnh dễ chịu nhất nếu như sự điên rồ của tôi không phá hỏng toàn bộ nét duyên dáng của nó. Thoạt đầu, nàng không tài nào hiểu nổi những hờn dỗi ngu ngốc mà tôi dùng để tiếp đón sự quan tâm của nàng; nhưng trái tim tôi, bất lực trong việc che giấu những gì đang diễn ra bên trong, chẳng để nàng ngập chìm trong sự ngây thơ quá lâu; nàng tìm cách cười trừ cho qua chuyện, nhưng phương pháp ấy chẳng mang lại hiệu quả; những cơn thịnh nộ cuồng nộ hẳn đã là cái kết, và nàng buộc phải thay đổi thái độ. Sự dịu dàng đầy cảm thông của nàng là không thể lay chuyển; nàng buông lời quở trách đâm thấu trái tim tôi; nàng bày tỏ sự bất an trước những nỗi sợ hãi bất công của tôi — thứ mà tôi tận dụng triệt để. Tôi đòi hỏi những bằng chứng cho thấy nàng là thật lòng. Nàng nhận ra chẳng còn phương cách nào khác để xua tan những hoang tưởng của tôi. Tôi trở nên dồn dập: bước đi này vô cùng tế nhị. Thật là kinh ngạc, và có lẽ là vô tiền khoáng hậu, khi một người phụ nữ để bản thân bị đẩy đến ranh giới chần chừ lại có thể tự gỡ rối bản thân xuất sắc đến thế. Nàng chẳng từ chối tôi bất cứ điều gì mà một tình bạn đằm thắm nhất có thể ban phát; tuy nhiên nàng cũng chẳng ban cho tôi bất cứ thứ gì có thể biến nàng thành kẻ bất trung, và tôi mang nỗi hụt hẫng khi nhận ra sự hỗn loạn từng ném toàn bộ các giác quan của mình vào vòng xoáy của những ân huệ cỏn con lại chẳng hề gây ra mảy may tác động lên thể xác nàng.
Tôi từng nói ở đâu đó rằng chẳng nên ban phát bất cứ điều gì cho các giác quan, khi ta muốn từ chối chúng bất cứ thứ gì. Để chứng minh quan niệm này sai lầm nhường nào đối với bà d’Houdetot, và nàng hoàn toàn đúng khi đặt trọn niềm tin vào sức mạnh nội tâm của chính mình, người ta buộc phải đi sâu vào chi tiết của những cuộc trò chuyện dài đằng đẵng và thường xuyên của chúng tôi, đồng thời theo dõi chúng trong toàn bộ sự sinh động suốt bốn tháng trời chúng tôi sát cánh bên nhau trong một sự thân mật gần như vô tiền khoáng hậu giữa hai người bạn khác giới — những kẻ tự giam mình trong những biên giới chưa từng bị chúng vượt qua. À! Nếu tôi từng sống ngần ấy thời gian mà chưa từng cảm nhận được quyền năng của tình yêu đích thực, trái tim và các giác quan của tôi đã trả góp dư dả những phần nợ nần quá khứ. Vậy thì, những cơn bùng nổ mà chúng ta cảm nhận được cùng đối tượng của ái tình — kẻ mà ta được yêu thương — rốt cuộc là gì, khi mà ngay cả những đam mê mà thần tượng của tôi không hề dự phần lại khơi gợi nên những thứ mãnh liệt hệt như những gì tôi cảm nhận?
Nhưng tôi sai lầm khi nói bà d’Houdetot không dự phần vào ngọn lửa ái tình; thứ tôi cảm nhận phần nào bị cô lập trong chính tôi; dẫu vậy tình yêu vẫn tương đương ở cả hai phía, nhưng không mang tính tương hỗ. Cả hai chúng tôi đều chìm đắm trong cơn say của ái tình — nàng dành cho người tình của mình, và tôi dành cho chính nàng; những tiếng thở dài và những giọt nước mắt ngọt ngào của chúng tôi hòa quyện vào nhau. Những tri kỷ dịu dàng của những bí mật thầm kín dành cho nhau, có một sự tương đồng lớn lao đến mức bất khả thi để chúng không tìm thấy một điểm hội tụ chung. Giữa cơn ngất ngây ngọt ngào này, nàng chưa từng đánh mất bản thân lấy một khoảnh khắc, và tôi xin long trọng tuyên bố rằng, nếu có bất cứ lúc nào, bị cuốn phông bởi các giác quan, tôi từng tìm cách biến nàng thành kẻ bất trung, tôi chưa bao giờ thực sự khao khát thành công. Bản thân sự bạo liệt trong niềm đam mê đã tự kìm hãm nó trong biên giới. Bổn phận khước từ đã nâng tầm tâm trí tôi. Hào quang của mọi đức hạnh tô điểm trong mắt tôi vị thần tượng của trái tim mình; việc làm vấy bẩn hình ảnh thần thánh ấy chẳng khác nào hủy diệt nó. Tôi hoàn toàn có thể phạm tội; nó từng được thực hiện hàng trăm lần trong tâm tưởng tôi; nhưng để làm ô nhục nàng Sophia của tôi ư? À! Liệu điều đó có bao giờ khả thi không? Không! Tôi từng bảo nàng hàng trăm lần rằng điều đó là bất khả thi. Giả sử tôi có trong tay quyền năng thỏa mãn những ham muốn của mình, giả sử nàng đồng ý phó mặc bản thân cho sự phán xét của tôi, tôi hẳn đã — ngoại trừ một vài khoảnh khắc mê sảng — từ chối được hạnh phúc đánh đổi bằng danh dự của nàng. Tôi yêu nàng quá đỗi sâu sắc để có thể khao khát sở hữu thể xác nàng.
Khoảng cách từ Nhà ẩn sĩ đến Raubonne dài ngót nghét một hải lý; trong những chuyến ghé thăm thường xuyên tới đó, đôi khi tôi ngủ lại qua đêm. Một buổi tối sau khi dùng bữa tối đối chúng tôi đi dạo trong khu vườn dưới ánh trăng vằng vặc. Tận cùng khu vườn là một vạt rừng thưa, xuyên qua đó chúng tôi tiến về một lùm cây xinh xắn được trang trí bằng một thác nước — thứ tôi từng gợi ý ý tưởng và nàng đã cho tiến hành thi công đúng y như thế.
Ký ức vĩnh cửu về sự ngây thơ và niềm hoan hỉ! Chính trong lùm cây ấy, ngồi bên cạnh nàng trên chiếc ghế cỏ dưới bóng cây keo đang độ nở hoa rực rỡ, tôi đã tìm thấy một ngôn ngữ xứng đáng dành cho những cảm xúc của trái tim mình. Đó là lần đầu tiên và cũng là duy nhất trong cuộc đời tôi; nhưng tôi thực sự siêu việt: nếu tất cả những gì đáng mến và quyến rũ nhất mà thứ tình yêu nồng nàn và cuồng nhiệt nhất có thể truyền cảm hứng cho trái tim con người có thể được gọi là thế. Những giọt nước mắt ngất ngây làm sao mà tôi đã tuôn rơi trên đôi đầu gối nàng! Biết bao giọt nước mắt đã làm nàng tuôn rơi bất giác! Cuối cùng trong một cơn bùng nổ bất giác, nàng thốt lên: “Không, chưa từng có gã đàn ông nào đáng mến đến thế, cũng chưa từng có ai yêu nồng nhiệt như anh! Nhưng người bạn Saint Lambert của anh đang lắng nghe chúng ta, và trái tim em bất lực trong việc yêu thương lần thứ hai.” Tôi kiệt sức trong những tiếng thở dài; tôi ôm chầm lấy nàng — một cái ôm nồng cháy biết bao! Nhưng chỉ có thế mà thôi. Nàng đã sống thầm lặng một mình suốt sáu tháng qua, nghĩa là vắng bóng người chồng và người tình; tôi đã gặp nàng hầu như mỗi ngày suốt ba tháng trời, và tình yêu hiếm khi vắng mặt trong vai trò kẻ thứ ba. Chúng tôi đã dùng bữa tối đối ẩm, chúng tôi ở một mình, trong lùm cây dưới ánh trăng, và sau hai tiếng đồng hồ của cuộc trò chuyện nồng nàn và dịu dàng nhất, nàng rời khỏi lùm cây ấy vào lúc nửa đêm, từ vòng tay của người tình, với sự trong trắng về cả luân lý lẫn thể xác hệt như lúc bước vào. Hỡi độc giả, hãy cân nhắc mọi tình tiết ấy; tôi sẽ chẳng bồi đắp thêm bất cứ điều gì nữa.
Tuy nhiên, đừng vội tưởng tượng rằng trong hoàn cảnh này, những đam mê của tôi để mặc tôi bình yên vô sự như khi ở bên Theresa và mamma. Tôi từng quan sát thấy mình lần này không chỉ được truyền cảm hứng bởi tình yêu, mà còn bởi tình yêu cùng toàn bộ năng lượng và sự cuồng nộ của nó. Tôi sẽ không miêu tả dù là những sự bấn loạn, run rẩy, những nhịp đập thình thịch, những xúc cảm co giật, hay những cú ngất lịm của trái tim mà tôi liên tục trải qua; người ta có thể phán đoán chúng qua tác động mà chỉ riêng hình bóng của nàng tạo ra trên cơ thể tôi. Tôi từng quan sát thấy khoảng cách từ Nhà ẩn sĩ đến Eaubonne là khá lớn; tôi đi qua những ngọn đồi Andilly — vốn vô cùng tuyệt diệu; tôi trầm ngâm trên đường đi về phía người tôi sắp gặp gỡ, về sự tiếp đón quyến rũ mà nàng sẽ dành cho tôi, và về nụ hôn đang chờ đợi tôi lúc đặt chân đến nơi. Chỉ riêng nụ hôn này, chiếc ôm tai hại này, thậm chí trước cả khi tôi nhận được nó, đã làm máu huyết tôi bốc cháy đến mức tác động lên đầu óc, đôi mắt tôi lóa đi, đôi đầu gối run lẩy bẩy và bất lực không tài nào trụ vững; tôi buộc phải dừng chân và ngồi sụp xuống; toàn bộ cấu trúc cơ thể tôi chìm trong một sự hỗn loạn không tưởng và tôi đứng trước bờ vực ngất lịm. Thừa biết mối hiểm nguy, tôi nỗ lực ngay khi cất bước dời chân hướng sự chú ý khỏi đối tượng, và suy nghĩ về điều gì khác. Tôi chưa bước nổi hai mươi bước thì chính ký ức ấy, cùng tất cả những hệ quả nối tiếp của nó, lại tập kích tôi theo một cách thức bất khả né tránh, và bất chấp mọi nỗ lực, tôi tin chắc mình chưa từng thực hiện chuyến đi dạo nhỏ này mà không vướng phải hậu quả. Tôi đặt chân đến Eaubonne trong trạng thái rã rời, kiệt sức và hầu như không nổi sức tự trụ vững. Khoảnh khắc tôi nhìn thấy nàng mọi thứ được khôi phục; tất cả những gì tôi cảm nhận trước mặt nàng chính là sự phiền toái của một ngọn lửa cuồn cuộn không tài nào dập tắt nổi và hoàn toàn vô dụng. Trên con đường dẫn đến Raubonne có một sân thượng dễ chịu mang tên Mont Olympe, nơi chúng tôi đôi khi hẹn gặp nhau. Tôi đến nơi trước, việc tôi phải chờ đợi là điều hiển nhiên; nhưng sự chờ đợi ấy cái giá phải trả quá đắt làm sao! Để đánh lạc hướng sự chú ý, tôi cặm cụi viết những tấm bưu thiếp bằng chiếc bút chì — thứ mà tôi hoàn toàn có thể viết bằng những giọt máu tinh khiết nhất của trái tim mình; tôi chưa bao giờ tài nào viết nổi một bức hoàn chỉnh ra hồn. Khi nàng tìm thấy một mẩu giấy giấu trong hốc tường mà cả hai từng thỏa thuận, tất cả những gì nàng thu nhận được từ nội dung bên trong chính là trạng thái thảm hại của tôi lúc đặt bút viết nó. Trạng thái này cùng sự kéo dài của nó, suốt ba tháng trời chịu đựng sự kích thích và sự kiềm chế tự thân, đã vắt kiệt sức lực của tôi đến mức tôi mất tới vài năm trời mới có thể hồi phục nổi, và ở phần cuối của khoảng thời gian đó, nó để lại cho tôi một chứng bệnh mà tôi sẽ mang theo suốt đời, hoặc chính nó sẽ quật ngã tôi xuống mồ. Đó chính là sự thụ hưởng duy nhất của một gã đàn ông mang cấu trúc thể xác dễ bốc cháy nhất, nhưng đồng thời cũng là một trong những kẻ nhút nhát nhất mà tự nhiên từng sản sinh ra. Đó chính là những ngày tháng hạnh phúc cuối cùng mà tôi có thể đếm trên mặt đất này; kết thúc của chúng chính là sự khởi đầu cho một chuỗi những khốn khổ kéo dài, nơi người ta sẽ chẳng thể tìm thấy dù chỉ một chút khoảng trống ngắt quãng.
Người ta đã chứng kiến rằng suốt cả cuộc đời, trái tim tôi — trong suốt sự trong suốt tựa pha lê — chưa từng có khả năng che giấu dù chỉ trong khoảnh khắc bất kỳ tình cảm mãnh liệt nào trú ngụ bên trong. Do đó, người ta sẽ phán đoán được xem liệu tôi có tài nào che giấu nổi tình cảm dành cho bà d’Houdetot trong một thời gian dài hay không. Sự thân mật của chúng tôi đập vào mắt tất cả mọi người, và chúng tôi chẳng hề biến nó thành một bí mật hay sự mờ ám. Nó chẳng mang bản chất đòi hỏi bất kỳ sự cẩn trọng nào như thế, và vì bà d’Houdetot dành cho tôi một tình bạn đằm thắm nhất mà nàng không hề cắn rứt, còn tôi dành cho nàng một sự kính trọng mà chẳng ai tường tận sự công bằng của nó hơn chính tôi; nàng ngây thơ, đãng trí, vô tư; còn tôi thật thà, lóng ngóng, kiêu ngạo, thiếu kiên nhẫn và dễ nổi giận; chúng tôi phơi bày bản thân trong một sự tự tin lừa dối nhiều hơn mức chúng tôi lẽ ra nên làm nếu bản thân thực sự có tội. Cả hai chúng tôi đều ghé Chevrette; đôi khi chúng tôi gặp nhau ở đó theo lịch hẹn. Chúng tôi sống ở đó theo lối sống quen thuộc; cùng nhau đi bộ mỗi ngày bàn về những mối tình, bổn phận, người bạn và những dự án ngây thơ; tất cả những thứ đó diễn ra trong công viên đối diện căn phòng của bà d’Epinay, ngay bên dưới cửa sổ của bà — nơi liên tục soi mói kiểm tra chúng tôi, và tự đinh ninh rằng mình đang bị thách thức, bà đã trút đầy vào trái tim mình sự thịnh nộ và phẫn nộ qua từng ánh nhìn.
Phụ nữ sở hữu nghệ thuật che giấu sự tức giận, nhất là khi nó đạt đến đỉnh điểm. Bà d’Epinay, bạo liệt nhưng đầy tính toán, sở hữu nghệ thuật này ở mức độ xuất sắc. Bà vờ như không nhìn thấy hay hoài nghi bất kỳ điều gì, và đồng thời nhân đôi sự săn sóc, quan tâm cùng những món quà cáp dành cho tôi, lại ra vẻ trút lên đầu cô em chồng đủ mọi sự bất lịch sự cùng những dấu hiệu khinh miệt — thứ mà bà dường như muốn truyền đạt lại cho tôi. Người ta có thể dễ dàng tưởng tượng ra rằng bà đã không thành công; nhưng tôi thì đang ngồi trên đống lửa. Bị xé xé bởi những cảm xúc trái chiều, cùng lúc vừa cảm nhận những cử chỉ ve vãn của bà ta, tôi hầu như chẳng tài nào kìm nén nổi cơn giận dữ khi chứng kiến bà ta thiếu tôn trọng phép tắc đối với bà d’Houdetot. Sự ngọt ngào tựa thiên thần của người phụ nữ này giúp nàng nhẫn nhịn mọi thứ mà chẳng thèm phàn nàn, hay thậm chí chẳng buồn cảm thấy bị xúc phạm.
Bản thân nàng thực sự đã quá đãng trí, và lúc nào cũng lơ là với những chuyện này, đến mức một nửa thời gian nàng chẳng hề hay biết gì về chúng.
Tôi quá đỗi bận bịu với tình yêu của mình, đến mức chẳng nhìn thấy gì ngoài Sophia (một trong những cái tên của bà d’Houdetot), tôi không nhận ra rằng mình đã trở thành trò cười cho cả ngôi nhà và cho tất cả những kẻ lui tới đó. Nam tước d’Holbach — kẻ mà tôi chưa từng nghe nói là từng đặt chân đến Chevrette — là một trong số những kẻ đến đó. Giả sử lúc bấy giờ tôi đa nghi như sau này, tôi hẳn đã hoài nghi bà d’Epinay chính là kẻ giật dây cho chuyến đi này nhằm ban tặng cho nam tước một màn trình diễn giải trí về một gã công dân đang chìm đắm trong ái tình. Nhưng khi ấy tôi quá đần độn đến mức chẳng nhìn thấy ngay cả cái thứ lồ lộ trước mắt thiên hạ. Sự đần độn của tôi tuy nhiên không ngăn cản tôi tìm thấy ở vị nam tước một dáng vẻ vui tươi và thỏa mãn hơn bình thường. Thay vì nhìn tôi bằng cái vẻ cau có thường thấy, hắn ném vào mặt tôi hàng tràng những câu nói đùa cợt mà tôi chẳng hiểu hắn đang sủa cái gì. Sự kinh ngạc phơi bày trên gương mặt tôi, nhưng tôi chẳng thốt nổi một lời; bà d’Epinay cười đến mức quặn thắt ruột gan; tôi chẳng hiểu bọn chúng đang bị quỷ ám thứ gì. Vì chẳng có điều gì vượt qua ranh giới của những lời trêu chọc, điều khôn ngoan nhất tôi có thể làm, giả sử tôi nắm được bí mật, chính là hùa theo trò đùa ấy. Sự thật là tôi phát hiện ra giữa những tiếng cười trêu chọc của nam tước, đôi mắt hắn lấp lánh một thứ niềm vui hiểm độc — thứ lẽ ra đã có thể giáng cho tôi nỗi đau đớn nếu như lúc bấy giờ tôi ghi nhận nó ở mức độ mà sau này nó hiện về trong ký ức.
Một hôm khi tôi đến thăm bà d’Houdetot tại Eaubonne sau chuyến trở về từ một chuyến đi Paris của nàng, tôi thấy nàng chìm trong u sầu và nhận ra nàng vừa mới khóc xong. Tôi buộc phải kìm nén bản thân, bởi bà de Blainville — chị chồng của nàng — đang có mặt; nhưng ngay khoảnh khắc tìm thấy cơ hội, tôi bèn thổ lộ sự bất an của mình với nàng. “À,” nàng thở dài nói, “tôi vô cùng sợ rằng những trò điên rồ của anh sẽ tước đi sự bình yên trong phần đời còn lại của tôi. St. Lambert đã hay biết những gì đã xảy ra, và nhận được những thông tin sai lệch về nó. Anh ấy đối xử công bằng với tôi, nhưng anh ấy đang phật lòng; và điều tồi tệ hơn nữa là anh ấy che giấu tôi một phần nỗi phật lòng ấy. May mắn thay tôi không che giấu anh ấy bất cứ điều gì liên quan đến mối quan hệ của chúng ta — thứ được vun đắp dưới sự bảo trợ của anh ấy. Những bức thư của tôi, hệt như trái tim tôi, ngập tràn hình bóng của anh; tôi cho anh ấy tường tận mọi thứ, ngoại trừ tình yêu điên rồ của anh — thứ mà tôi từng hy vọng sẽ chữa lành cho anh; và điều đó bị anh ấy quy chụp cho tôi như một tội ác. Đã có kẻ chơi trò đâm bị gạo thọc bị thóc. Tôi đã bị vu khống, nhưng điều đó thì có hề gì? Hoặc là chúng ta tuyệt giao hoàn toàn với nhau, hoặc anh phải cư xử đúng mực như những gì anh cần phải thế. Tôi sẽ không đời nào trong tương lai che giấu bất cứ điều gì trước người tình của mình.”
Đây chính là khoảnh khắc đầu tiên tôi thấm thía sự hổ thẹn khi cảm thấy bản thân bị hạ nhục bởi thứ tình cảm của lỗi lầm chính mình, ngay trước mặt một người phụ nữ trẻ tuổi mà những lời quở trách chính đáng của nàng được tôi tán thưởng, và người mà lẽ ra tôi phải đóng vai trò một bậc thầy.
Niềm phẫn nộ mà tôi cảm thấy chống lại chính mình hẳn đã đủ sức đánh gục sự yếu đuối của bản thân, nếu như tình cảm đằm thắm do chính nạn nhân của nó truyền cảm hứng cho tôi không làm mềm mại trái tim tôi một lần nữa. Hỡi ôi! Đây có phải là lúc để làm nó chai sạn đi khi nó đang ngập tràn trong những giọt nước mắt đâm thấu nó ở mọi ngóc ngách? Sự dịu dàng này chẳng mấy chốc hóa thành cơn thịnh nộ chống lại lũ tiểu nhân chỉ chuyên đâm thọc — những kẻ chỉ nhìn thấy phần ác của một tình cảm tội lỗi nhưng bất đắc dĩ, mà chẳng thèm tin tưởng hay thậm chí mường tượng nổi sự chính trực chân thành của trái tim vốn dùng để phản kháng lại nó. Chúng tôi chẳng mất nhiều thời gian để hoài nghi về cái bàn tay giật dây đòn bẩy cho nhát dao ấy.
Cả hai chúng tôi đều tường tận việc bà d’Epinay có giữ mối quan hệ thư tín với Saint Lambert. Đây không phải là cơn bão đầu tiên mà bà ta khơi mào chống lại bà d’Houdetot — người mà bà từng vắt kiệt muôn vàn nỗ lực nhằm dứt khỏi người tình, với một số thành công làm cho hệ quả trở nên đáng sợ. Hơn thế nữa, Grimm — kẻ mà tôi nghĩ từng tháp tùng ngài de Castries ra trận — đang có mặt ở Westphalia, hệt như Saint Lambert; họ đôi khi ghé thăm nhau. Grimm từng thực hiện vài cú tiếp cận bà d’Houdetot nhưng bất thành, và vì quá cay cú, bỗng nhiên cắt đứt luôn những chuyến ghé thăm nàng. Hãy phán đoán xem với sự bình tĩnh — nổi tiếng là khiêm nhường của hắn — hắn có thể cho rằng nàng ưu ái một gã đàn ông lớn tuổi hơn hắn hơn là hắn, và là kẻ mà kể từ khi hắn giao du với giới thượng lưu, chưa từng nhắc đến như một nhân vật nào khác ngoài một kẻ được hắn bảo hộ.
Sự hoài nghi của tôi đối với bà d’Epinay biến thành một sự xác tín ngay khoảnh khắc tôi hay tin những gì đã diễn ra ngay trong chính ngôi nhà của mình. Khi tôi có mặt ở Chevrette, Theresa thường xuyên lui tới đó, hoặc để mang thư cho tôi hoặc để chăm sóc sức khỏe vốn dĩ đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt của tôi. Bà d’Epinay từng gặng hỏi nàng xem tôi và bà d’Houdetot có thư từ qua lại với nhau hay không. Khi nàng đáp là có, bà d’Epinay nài nỉ nàng giao nộp những lá thư của bà d’Houdetot, đồng thời cam đoan rằng bà ta sẽ dán niêm phong lại sao cho không một ai có thể phát hiện ra. Theresa, mà chẳng thèm phô bày sự kinh hoàng trước lời đề nghị ấy, cũng chẳng thèm cảnh giác tôi, đã làm một việc duy nhất là niêm phong cẩn thận hơn những bức thư mang đến cho tôi; một sự cẩn trọng may mắn, bởi bà d’Epinay đã cho người theo dõi nàng mỗi khi đặt chân đến, và chờ đợi nàng ở hành lang, nhiều lần đẩy sự trơ trẽn đi xa đến mức kiểm tra cả áo lót ngực của nàng. Bà ta còn làm nhiều hơn thế: có lần tự ý mời bản thân cùng ngài de Margency đến dùng bữa tối tại Nhà ẩn sĩ — lần đầu tiên kể từ khi tôi định cư ở đó, bà ta chớp lấy khoảnh khắc tôi đang đi dạo cùng Margency để xông vào phòng làm việc của tôi cùng hai mẹ con Theresa, và ép buộc họ phải trưng ra những lá thư của bà d’Houdetot. Giả sử người mẹ biết tỏng những bức thư được cất giấu ở đâu, chúng hẳn đã bị giao nộp cho bà ta; may mắn thay, cô con gái là kẻ duy nhất nắm giữ bí mật và chối phắt việc tôi cất giữ bất kỳ bức thư nào trong số đó. Một lời nói dối đức hạnh, trung thực và hào hiệp; trong khi sự thật hẳn đã là một hành vi phản bội. Bà d’Epinay, nhận ra Theresa không dễ bị lụi tàn bởi cám dỗ, bèn tìm cách khiêu khích nàng bằng sự ghen tuông, quở trách nàng vì tính tình dễ dãi và sự mù quáng. “Làm sao mà cô,” bà ta nói với nàng, “có thể không nhận ra giữa họ đang tồn tại một mối quan hệ bất chính cơ chứ? Nếu bên cạnh những gì đập vào mắt, cô vẫn cần đến những bằng chứng khác, hãy chìa tay giúp tôi thu tóm thứ có thể cung cấp chúng; cô thừa biết hắn thường xé phéng những bức thư của bà d’Houdetot ngay khi vừa đọc xong. Nào, hãy cẩn thận nhặt nhặn từng mảnh vụn rồi mang đến cho tôi; tôi sẽ tự thân đứng ra ráp chúng lại với nhau.”
Đó chính là những bài học mà người bạn của tôi truyền thụ cho người phụ nữ chung chăn gối với tôi.
Theresa đủ khôn ngoan để che giấu khỏi tôi suốt một khoảng thời gian đáng kể toàn bộ những âm mưu ấy; nhưng nhận ra tôi đang bấn loạn nhường nào, nàng thấy bản thân có nghĩa vụ phải thông báo cho tôi mọi thứ, với mục đích là để tôi tường tận kẻ thù của mình là ai và có thể tiến hành các biện pháp tương ứng. Sự thịnh nộ và phẫn nộ của tôi là thứ không từ ngữ nào tả xiết. Thay vì ngụy trang với bà d’Epinay theo chính gương mẫu của bà ta, và sử dụng những thứ phản chiến lược, tôi phó mặc bản thân không biên giới cho bản tính bộc trực tự nhiên của mình; và với sự bất cẩn quen thuộc, tôi lao thẳng vào một cuộc tuyệt giao công khai. Sự bất cẩn của tôi sẽ được phán đoán qua những bức thư dưới đây — những thứ phơi bày trọn vẹn phong thái hành xử của cả đôi bên trong sự kiện này:
LỜI NHẮN TỪ BÀ D’EPINAY. “Cớ sao người bạn thân thiết của tôi ơi, tôi lại chẳng nhìn thấy anh? Anh làm tôi lo lắng đấy. Anh từng hứa hẹn với tôi bao nhiêu lần là sẽ chẳng làm gì ngoài việc đi qua đi lại giữa nơi này và Nhà ẩn sĩ! Trong chuyện này tôi đã để anh được tự do; vậy mà anh lại để trôi qua cả tuần trời mà chẳng thèm ghé mặt. Giả sử không có ai rỉ tai rằng anh vẫn khỏe mạnh, tôi hẳn đã tưởng tượng ra điều ngược lại. Tôi từng trông đợi anh từ hôm kia, hoặc hôm qua, nhưng chỉ nhận lại sự hụt hẫng. Chúa ơi, rốt cuộc anh bị làm sao thế? Anh chẳng bận bịu công chuyện gì, cũng chẳng thể mang bất kỳ nỗi lo lắng nào; bởi giả sử có chuyện đó, tôi tự lạy trời là anh đã đến và thổ lộ nó với tôi rồi. Vậy thì, anh đang đổ bệnh! Xin anh, hãy mau chóng cứu rỗi tôi khỏi nỗi sợ hãi này đi. Tạm biệt, người bạn thân thiết của tôi: mong rằng lời tạm biệt này sẽ mang lại cho tôi một buổi sáng tốt lành từ anh.”
PHẢN HỒI. “Tôi vẫn chưa thể nói với cô bất cứ điều gì. Tôi đang chờ được thông tin rõ ràng hơn, và sớm muộn gì tôi cũng sẽ biết. Trong lúc này, hãy đinh ninh rằng sự vô tội sẽ tìm thấy một bậc bảo hộ đủ quyền năng để giáng xuống những kẻ vu khống một vài sự cắn rứt, bất kể chúng là ai đi chăng nữa.”
LỜI NHẮN THỨ HAI TỪ CÙNG MỘT NGƯỜI. “Anh có biết rằng bức thư của anh làm tôi hoảng hốt không? Nó có ngụ ý gì thế? Tôi đã đọc nó tới hai mươi lần. Thật lòng tôi chẳng hiểu nó đang ám chỉ điều gì. Tất cả những gì tôi có thể cảm nhận là anh đang bấn loạn và dằn vặt, và rằng anh đang chờ đợi cho đến khi không còn thế nữa mới chịu thốt lên lời với tôi về đề tài này. Người bạn thân thiết của tôi ơi, đây có phải là những gì chúng ta từng thỏa thuận không? Vậy thì tình bạn và sự tín nhiệm ấy đã trôi dạt đi đâu, và bằng cách nào tôi lại đánh mất chúng cơ chứ? Là anh đang nổi giận với tôi hay vì tôi? Dù thế nào đi nữa, tối nay hãy đến gặp tôi, tôi khẩn khoản van xin anh; hãy nhớ rằng anh từng hứa hẹn chẳng dưới một tuần trước là sẽ không để bất kỳ điều gì tồn đọng trong tâm trí, mà sẽ lập tức thông báo cho tôi bất cứ thứ gì có thể làm anh bấn loạn. Người bạn thân thiết của tôi ơi, tôi sống trong niềm tin tưởng ấy — Nào — Tôi vừa đọc lại bức thư của anh lần nữa; tôi chẳng hiểu nội dung hơn chút nào, nhưng chúng làm tôi run rẩy. Anh dường như đang bị khuấy động một cách tàn nhẫn. Tôi ước gì có thể làm dịu đi tâm trí anh, nhưng vì hoàn toàn mù tịt về nguyên nhân sinh ra nỗi lo lắng của anh, tôi chẳng biết phải nói gì, ngoại trừ việc tôi cũng thảm hại hệt như anh, và sẽ tiếp tục như thế cho đến khi chúng ta gặp nhau. Nếu tối nay lúc sáu giờ anh không có mặt ở đây, tôi sẽ tự mình khăn gói đến Nhà ẩn sĩ vào ngày mai, bất chấp thời tiết ra sao, và dù tình trạng sức khỏe của tôi có tồi tệ thế nào đi nữa; bởi tôi không tài nào chịu đựng nổi sự bất an đang gặm nhấm lúc này thêm nữa. Chúc một ngày tốt lành, người bạn thân thiết của tôi, bằng mọi rủi ro tôi mạn phép nói với anh — mà chẳng mải mai hay biết anh có cần đến lời khuyên ấy hay không — hãy tìm cách chặn đứng tiến trình mà sự lo lắng gây ra trong chốn cô độc. Một con ruồi cũng có thể hóa thành quái vật. Tôi từng trải nghiệm điều đó vô số lần.”
PHẢN HỒI. “Tôi chẳng thể đến gặp cô cũng chẳng thể tiếp đón chuyến ghé thăm của cô chừng nào sự bấn loạn hiện tại của tôi hãy còn tiếp diễn. Sự tín nhiệm mà cô nhắc đến không còn tồn tại nữa, và sẽ rất dễ dàng để cô khôi phục nó. Tôi chẳng nhìn thấy gì hơn trong sự lo lắng hiện tại của cô ngoài khao khát muốn moi móc từ những lời thú tội của kẻ khác một vài lợi ích phù hợp với quan điểm của mình; và trái tim tôi — vốn sẵn sàng tuôn trào những tâm sự vào một trái tim cởi mở đón nhận chúng — nay đóng sập trước những trò mẹo mực và xảo quyệt. Tôi nhận ra sự tinh ranh quen thuộc của cô qua sự khó khăn mà cô gặp phải trong việc thấu hiểu bức thư của tôi. Anh có nghĩ tôi đủ ngu ngốc để tin rằng cô không hiểu nó ngụ ý điều gì sao? Không: nhưng tôi sẽ biết cách đánh gục những sự tinh vi của cô bằng sự bộc trực của chính mình. Tôi sẽ giải thích bản thân rõ ràng hơn nữa, để cô càng ít hiểu tôi hơn.
“Có hai người tình gắn kết khắng khít và xứng đáng với tình yêu của nhau đang rất thân thiết với tôi; tôi trông đợi cô sẽ không biết tôi đang ám chỉ ai trừ khi tôi nêu đích danh họ. Tôi mường tượng rằng đã có những nỗ lực nhằm bứt đứt họ, và rằng tôi bị lạm dụng để tiêm nhiễm vào một trong hai người sự ghen tuông. Sự lựa chọn không hề khôn ngoan, nhưng nó hiện lên như một điều thuận tiện cho các mục đích của sự độc ác, và chính sự độc ác ấy là thứ tôi hoài nghi cô nhúng tay vào. Tôi hy vọng điều này trở nên rõ ràng hơn.
“Thế nên người phụ nữ mà tôi kính trọng nhất lại, dưới sự hay biết của tôi, bị quăng vào vũng bùn ô nhục khi chia sẻ trái tim và thể xác mình giữa hai gã tình nhân, còn tôi mang tiếng là một trong những kẻ khốn nạn ấy. Giả sử tôi hay biết rằng, dù chỉ trong một khoảnh khắc cuộc đời, cô từng nghĩ điều đó, về nàng hay về tôi, tôi sẽ căm ghét cô cho đến tận giờ phút cuối đời. Nhưng điều tôi cáo buộc cô là đã thốt ra chứ không phải đã nghĩ đến nó. Trong trường hợp này, tôi không tài nào hiểu nổi cô muốn hãm hại ai trong số ba người; nhưng, nếu cô yêu chuộng sự bình yên trong tâm hồn, hãy run rẩy kẻo cô đã thành công rực rỡ. Tôi chưa từng che giấu — dù trước cô hay trước nàng — tất cả những gì tôi nghĩ về một số mối quan hệ, nhưng tôi khao khát những thứ này chấm dứt bằng một phương thức đức hạnh hệt như cội nguồn của chúng, và rằng một tình yêu bất hợp pháp có thể được chuyển hóa thành một tình bạn vĩnh cửu. Chẳng lẽ tôi — kẻ chưa từng làm tổn hại bất kỳ ai — lại là nguyên nhân vô tội gây ra điều đó cho bạn bè mình sao? Không; tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho cô; tôi sẽ trở thành kẻ thù không đội trời chung với cô. Mọi bí mật của cô là thứ duy nhất tôi tôn trọng; bởi tôi sẽ không bao giờ là một kẻ không có danh dự.
“Tôi không mường tượng sự bấn loạn hiện tại của mình sẽ kéo dài lâu. Tôi sẽ sớm hay biết bản thân có bị lừa dối hay không; khi ấy tôi có lẽ sẽ có những tổn thương lớn cần phải hàn gắn, và tôi sẽ thực hiện nó với một niềm vui sảng khoái hệt như sự đi kèm của hành động dễ chịu nhất trong đời tôi. Nhưng anh có biết tôi sẽ khỏa lấp những lỗi lầm của mình bằng cách nào trong khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại ở cạnh cô không? Bằng cách làm một việc mà chẳng một ai ngoài tôi dám làm; bằng cách nói thẳng với cô những gì thiên hạ đang nghĩ về cô, và những vết rách trong danh tiếng mà cô cần phải vá víu. Bất chấp tất cả những kẻ tự xưng là bạn bè đang bao quanh cô, ngay khoảnh khắc cô nhìn thấy tôi rời đi, cô có thể vẫy tay chào tạm biệt chân lý, cô sẽ chẳng thể tìm thấy bất kỳ ai thèm mở miệng nói điều đó với cô nữa.”