Tôi với Kholin ngồi xổm nép sát mình vào vách bờ, đầu ở ngang tầm với mép vách, căng tai ra chăm chú nghe ngóng. Mưa vẫn rơi đều đều, chậm chạp - một trận mưa thu lạnh giá tưởng như không bao giờ dứt. Từ mặt nước phả lên hơi ẩm ngột ngạt.
Đã bốn phút trôi qua kể từ lúc chúng tôi ngồi lại đây. Bỗng từ phía chú bé ra đi nghe có tiếng chân bước và tiếng nói nhỏ bằng một thứ giọng cổ họng không rành rọt.
“Bọn Đức!…”
Kholin bóp vai tôi, tuy nhiên cũng chẳng cần phải báo cho tôi biết: có lẽ tôi còn phát hiện địch trước cả anh ta, nên đã mở chốt an toàn của khẩu tiểu liên và nín thở nắm chặt quả lựu đạn trong tay.
Tiếng chân bước mỗi lúc một gần. Bây giờ đã có thể nghe rõ tiếng bùn lép nhép dưới gót giày của vài ba người. Mồm tôi khô đắng, tim đập thình thịch.
- Verfluchtes Wither! Hobl es der Teufel…
- Haltés Manl, Otto!… Links halten!…[1]
Chúng đi qua ngay bên cạnh, gần đến nỗi bùn lạnh bắn cả vào mặt tôi. Một giây sau, trong ánh sáng vụt lóe của pháo sáng, qua màn mưa rơi thưa thớt, chúng tôi đã nhìn rõ chúng, những tên địch to lớn (có thể là tôi có cảm giác như vậy, bởi vì nhìn từ dưới lên), đầu đội mũ sắt chụp lên mũ vải che tai, và một phần mặt, chân đi những đôi ủng rộng ống giống hệt của tôi và Kholin. Ba tên mặc áo khoác vải bạt, tên thứ tư mặc một chiếc áo mưa dài bóng loáng nước mưa, thắt ngang bụng một chiếc thắt lưng đeo bao súng lục. Tiểu liên chúng đeo trên ngực.
Chúng có bốn tên - đội tuần tiễu cảnh giới của trung đoàn S.S., đội tuần tiễu chiến đấu của quân đội Đức mà Ivan Buxlov vừa mới vượt qua - chính cái chú bé mười hai tuổi quê ở Gomen, ghi trong các tài liệu trinh sát của ta với cái họ “Bondarev”.
Khi chúng tôi nhìn thấy chúng dưới ánh sáng lung linh của pháo sáng thì chúng đứng lại định đi xuống bến sông, cách chúng tôi chỉ mươi bước. Nghe rõ là chúng nhảy xuống bãi cát và đi về phía mấy lùm cây nơi chúng tôi cất giấu cái thuyền.
Tôi khó tự chủ hơn Kholin. Tôi không phải là chiến sĩ trinh sát, lại tham gia chiến đấu ngay từ những tháng đầu của chiến tranh, cho nên vừa mới trông thấy những tên địch còn sống, tay cầm vũ khí, là ngay lập tức tôi cảm thấy một sự phấn khích quen thuộc, đã nếm trải nhiều lần - Sự phấn khích của người chiến sĩ trong giây phút lâm trận. Một ý nguyện, nói đúng hơn là một khát vọng, một nhu cầu, một đòi hỏi bức thiết thôi thúc tôi - giết chúng ngay lập tức! “Giết chúng!” - chắc chắn tôi không còn nghĩ đến điều gì khác nữa khi đưa súng lên, rê theo mấy địch. May sao, Kholin đã nghĩ thay cho tôi. Có lẽ Kholin cảm thấy động tác của tôi, bàn tay anh ta như cái kìm siết chặt cánh tay tôi. Tôi sực tỉnh, hạ tiểu liên xuống.
- Chúng nó phát hiện ra cái thuyền mất! - Vừa xoa cánh tay tôi vừa thì thào nói khi những tiếng chân bước xa dần.
Kholin im lặng.
- Phải làm gì đó ngay bây giờ, - im lặng một lát tôi lại thì thào lo lắng. - Nếu mà chúng nó phát hiện ra cái thuyền…
- Nếu mà!… - Kholin cáu tiết thở vào mặt tôi. Tôi có cảm giác anh ta có thể bóp cổ tôi được. - Thế nếu mà chúng nó phát hiện thằng bé? Cậu nghĩ sao, định bỏ nó lại một mình ở đây à? Cậu là đồ nhát gan, là quân chó đẻ hay chỉ là một thằng ngốc?
- Là một thằng ngốc, - nghĩ một tí tôi đáp.
- Có lẽ cậu là một đứa bị suy nhược thần kinh, - giọng Kholin đăm chiêu. - Hết chiến tranh, phải đi điều trị đi thôi…
Tôi căng tai lắng nghe, chờ đợi từng giây tiếng hô hoán của bọn Đức khi phát hiện thuyền của chúng tôi. Một tràng súng máy rộ lên ở phía trái, lại một tràng nữa, ngay trên đầu chúng tôi, rồi thì trong đêm tĩnh mịch lại chỉ còn nghe tiếng mưa rơi đều đều. Pháo sáng vụt lên lúc đây lúc đó trên khắp tuyến bờ sông, bùng sáng, tàn lửa văng ra, cháy xèo xèo rồi tắt ngấm trước khi rơi đến mặt đất.
Mùi lộn mửa của xác chết không hiểu tại sao lại xông lên nồng nặc. Tôi nhổ bọt, cố thở bằng mồm, nhưng chẳng ăn thua gì.
Tôi thèm thuốc đến khổ sở. Chưa bao giờ tôi lại thèm khát đến như vậy. Nhưng điều duy nhất tôi có thể làm được là rút cái điếu thuốc ra bóp nát trong tay và đưa lên mũi ngửi.
Chẳng bao lâu hai chúng tôi đã ướt sũng, run lập cập vì lạnh. Mưa vẫn không ngớt.
- Trong khe lại là đất sét cơ chứ! Quỷ tha ma bắt nó đi! - Bỗng tôi nghe tiếng Kholin thì thào. - Giá như được một trận mưa rào xóa sạch đi thì hay biết mấy…
Trong mọi suy nghĩ anh ta vẫn luôn luôn bên cạnh Ivan, nên đất sét trong khe - thứ đất giữ lại dấu vết rất rõ - làm anh ta lo lắng. Tôi hiểu nỗi lo lắng của Kholin rất có cơ sở: nếu như bọn Đức phát hiện những dấu chân nhỏ kỳ lạ, còn mới, từ bờ sông đi vào vượt qua trận địa tiền duyên thì chắc chắn chúng sẽ cho đuổi theo Ivan. Chúng có thể đem theo cả chó săn. Ở đâu chứ ở các trung đoàn S.S. có thừa lũ chó được huấn luyện chuyên để săn người.
Tôi đã phải nhai thuốc lá. Chẳng ngon lành gì, nhưng tôi vẫn nhai. Chắc Kholin đã nghe thấy, anh ta hỏi:
- Cậu nhai gì thế?
- Tôi thèm thuốc đến chết được! - Tôi thở dài.
- Thế có thèm tí mẹ không? - Kholin hỏi giọng giễu cợt. - Tớ chẳng hạn, đang thèm tí mẹ đây! Kể có cũng hay đấy chứ?
Chúng tôi chờ thêm hai mươi phút nữa, ngồi im nghe ngóng, toàn thân ướt sũng, rét run cầm cập. Áo bó sát lưng như một túi chườm đựng nước đá. Mưa tạnh dần, nhưng tuyết bắt đầu rơi: những bông tuyết nhẹ, ướt rơi xuống phủ lên cát một lớp mỏng, tan đi từ từ.
- Có lẽ nó đi thoát rồi, - cuối cùng, Kholin thở phào nhẹ nhõm và nhỏm dậy.
Cúi lom khom và bám sát vách bờ, chúng tôi đi về phía chỗ giấu thuyền, chốc chốc lại dừng lại, nín thở nghe ngóng. Tôi hầu như tin chắc rằng bọn Đức đã phát hiện chiếc thuyền và hiện phục kích trong các lùm cây. Nhưng tôi không dám nói ra điều đó với Kholin, sợ anh ta sẽ cười nhạo mình.
Chúng tôi dò dẫm dọc theo bờ sông cho đến khi vấp phải xác hai người chiến sĩ trinh sát. Chúng tôi vừa mới đi quá độ năm bước thì Kholin đứng lại, nắm tay áo tôi lôi lại, ghé vào tai thì thào:
- Cậu ở lại đây. Tớ đi lấy thuyền. Phòng nhỡ có sao thì cũng không bị cả hai thằng. Khi tớ bơi thuyền đến thì cậu dùng tiếng Đức gọi tớ. Thật khẽ, khẽ lắm! Nếu tớ bị phục kích thì cậu cũng cứ bơi về. Cậu có thể bơi năm lần đi về phải không? - Anh ta hỏi, giọng giễu cợt.
- Bơi được, - tôi xác nhận bằng một giọng run run. - Thế nhỡ cậu bị thương thì sao?
- Đó không phải điều cậu cần quan tâm. Cậu nên bớt lý sự đi một chút.
- Có lẽ không nên men theo bờ đến lấy thuyền, mà bơi từ ngoài sông vào thì hơn, - tôi rụt rè đề nghị. - Mình bơi được, để mình…
- Có khi tớ cũng sẽ làm như vậy… Nhỡ có chuyện gì, đừng có mà lao đầu vào! Rủi cậu có làm sao, bọn tớ bị cạo trước tiên. Nghe thủng chưa?
- Rõ. Nhưng nếu…
- Chẳng “nhưng” với “nếu” gì sất!… Cậu là một thằng tốt bụng thật đấy, Ganxev ạ, - bỗng Kholin thì thào, - phải mỗi tội thần kinh suy nhược. Cái khoản ấy là tối kỵ trong công việc của bọn tớ…
Kholin biến vào đêm tối, còn trơ lại mình tôi đứng đợi. Tôi không rõ sự chờ đợi kinh khủng ấy đã kéo dài bao lâu: vì rét và hồi hộp quá, tôi quên cả việc xem đồng hồ. Cố không gây ra một tiếng động nhỏ nào, tôi luôn cử động hai tay và ngồi xuống - đứng lên cho nóng người đôi chút. Thỉnh thoảng tôi lại nín thở nghe ngóng.
Mãi sau mới nghe tiếng mái chèo khua nước rất khẽ, tôi liền khum bàn tay làm loa thì thào gọi:
- Halt… Halt[2].
- Khẽ chứ, đồ quỷ! Lại đây…
Tôi bước thận trọng mấy bước, nước lạnh tràn vào ủng, thấm vào chân, giá buốt.
- Mạn khe hẻm thế nào? Vẫn yên tĩnh chứ? - Đó là câu đầu tiên Kholin hỏi.
- Vẫn yên tĩnh.
- Thấy chưa, thế mà cậu đã vội hoảng lên! - Kholin thì thào vẻ hài lòng. - Ngồi vào đằng đuôi, - anh ta cầm lấy khẩu tiểu liên của tôi và ra lệnh. Tôi vừa trèo vào thuyền là anh ta bơi ngay, ngược dòng nước.
Tôi ngồi xuống mạn đuôi thuyền, tụt ủng đổ nước ra.
Tuyết vẫn rơi từng chùm bông xốp, chạm mặt nước là tan biến. Từ bờ trái lại một tràng đạn lửa vạch ngang sông, ngay trên đầu chúng tôi. Lẽ ra phải quay lại thì Kholin vẫn cứ bơi thuyền ngược dòng. Chẳng hiểu gì cả, tôi hỏi:
- Cậu bơi đi đâu thế này?
Anh ta không đáp, vẫn ra sức đẩy mái chèo.
- Bọn mình bơi đi đâu thế?
- Này, uống đi cho ấm người! - Kholin bỏ mái chèo giúi vào tay tôi cái bi đông nhỏ, dẹt. Mấy ngón tay bị rút cóng cả lại, làm tôi loay hoay mãi mới vặn được cái nắp ra. Tôi uống một ngụm. Rượu vodca nặng đến cháy cổ, song trong người thấy khoan khoái, ấm hẳn lên, mặc dù tôi vẫn run cầm cập.
- Uống cạn đi! - Kholin vừa khẽ đẩy mái chèo vừa thì thào.
- Thế còn cậu?
- Về đến bờ tớ sẽ uống. Cậu đãi chứ?
Tôi uống ngụm nữa và lấy làm tiếc rẻ là trong bi đông đã nhẵn nhụi đành nhét nó vào túi.
- Ngộ nhỡ nó chưa đi thoát thì sao? - Kholin đột ngột hỏi. - Ngộ nhỡ nó vẫn đang nằm đâu đó chờ thời cơ… Lúc này tớ muốn ở bên cạnh nó quá!
Bây giờ tôi mới hiểu ra tại sao chúng tôi chưa trở về. Chúng tôi vẫn đang loanh quanh đối diện với khe hẻm để “có chuyện gì” thì lại đổ bộ lên bờ địch, xông đến hỗ trợ cho chú bé. Từ bờ địch, từ trong bóng đêm, chốc chốc lại rộ lên một tràng liên thanh lia trên mặt sông. Tôi thấy sởn gai ốc mỗi lần những viên đạn rít lên rơi lõm bõm xuống nước ở ngay cạnh mạn thuyền. Trong đêm tối mù mịt, lại bị một màn tuyết ướt ngăn cách, địch chắc chắn không thể phát hiện ra chúng tôi, tuy nhiên, vẫn chẳng thú vị chút nào khi anh nằm trong tầm đạn ở trên mặt sông trống trải, không thể chui xuống đất được, cũng chẳng có một vật gì làm nơi ẩn nấp… Vậy mà Kholin, để khích lệ tôi, vẫn thì thào:
- Chỉ có thằng ngốc hoặc đứa hèn nhát mới chết do những viên đạn vu vơ này thôi. Cậu nên nhớ như vậy!
Cataxonov không phải là một thằng ngốc, cũng chẳng phải đứa hèn nhát. Tôi không hề nghi ngờ điều đó. Tuy nhiên, tôi không nói gì với Kholin cả.
- Cô bác sĩ quân y của cậu được đấy! - Im lặng một lát, Kholin sực nhớ ra, chắc hắn muốn làm cho tôi khuây khỏa.
- Đư-ợc, - tôi trả lời qua hai hàm răng va nhau lập cập, tỏ vẻ đồng ý với anh ta, nhưng thực ra lúc ấy chẳng thể nghĩ tới cô bác sĩ quân y, tôi chỉ nhớ đến căn hầm trạm xá ấm áp với cái bếp lò của nó. Một cái lò gang tuyệt vời!…
Từ bờ trái - cái bến bờ tôi đang mong ước vô hạn - lại đã ba lần nữa vọt lên những tràng đạn lửa. Nó gọi chúng tôi trở về vậy mà chúng tôi vẫn quanh quẩn trên mặt sông gần bờ phải hơn.
- Có lẽ nó đi thoát rồi, - cuối cùng, Kholin nhận định và chạm đuôi mái chèo vào tôi, vặn mạnh mái chèo quay thuyền lại.
Anh ta định hướng đến tài và luôn giữ đúng phương hướng trong đêm tối. Chúng tôi cập bến gần chỗ hào lớn đặt ụ súng máy ở cánh phải của tiểu đoàn tôi, vị trí của trung đội trưởng cảnh giới.
Họ đã chờ sẵn nên lập tức gọi hỏi khẽ nhưng kiên quyết: “Đứng lại! Ai?”. Tôi nói mật khẩu, các chiến sĩ nhận ra ngay giọng tôi nên chỉ một giây sau chúng tôi đã bước lên bờ.
Tôi mệt nhoài, nên mặc dù đã uống đến hai trăm gam vodca mà vẫn run cầm cập, chân lạnh cóng lại, đi rất khó khăn. Tôi cố giữ cho hàm răng khỏi lập cập, ra lệnh kéo thuyền lên bờ ngụy trang cẩn thận, đoạn hai chúng tôi bước dọc theo bờ cùng với tiểu đội trưởng Duev, “con cưng” của tôi, một trung sĩ hơi suồng sã nhưng gan dạ đến liều lĩnh. Cậu ta đang đi ở phía trước, bỗng quay đầu lại, vui vẻ hỏi:
- Thế “lưỡi” đâu rồi, đồng chí thượng úy?
- Lưỡi gì?
- Thì nghe nói đồng chí đi săn “lưỡi” mà!
Kholin đang đi ở phía sau liền gạt tôi sang bên bước đến Duev.
- Lưỡi ở trong mồm cậu! Nghe thủng chứ? - Anh ta nói gay gắt, dằn từng tiếng. Tôi có cảm giác là anh ta hạ cái cánh tay lực lưỡng lên vai Duev, thậm chí có thể chộp ngực cậu ấy: cái anh chàng Kholin thẳng tính và nóng nảy có thể làm như vậy đấy. - Lưỡi ở trong mồm cậu! - Anh ta lặp lại, giọng hăm dọa. - Và liệu mà giữ mồm giữ miệng! Như vậy tốt cho cậu hơn! Về vị trí ngay.
Duev vừa lui lại được vài bước Kholin liền cố ý to tiếng nghiêm nghị nhận xét:
- Ganxev, trong tiểu đoàn cậu có một lô những thằng lắm mồm. Cái thói ấy là tối kỵ trong công việc của chúng ta.
Trong đêm tối anh ta lần nắm tay tôi, bóp chặt cổ tay, thì thào giễu cợt:
- Cậu cũng đẹp mặt! Bỏ mặc tiểu đoàn: chuồn sang bờ bên kia săn “lưỡi”! Tình với chả nguyện!
Về đến hầm, chúng tôi nhanh chóng rắc ít thuốc đạn cối dự trữ ra đốt lò lên, rồi cởi quần áo, lấy khăn mặt bông chà xát khắp người.
Mặc xong bộ quần áo khô, khoác lên người chiếc áo capote, Kholin liền ngồi vào bàn giở bản đồ ra chăm chú xem xét. Vào đến hầm, anh ta lập tức trở nên ủ rũ khác thường, vẻ trông mệt mỏi và lo âu.
Tôi bày lên bàn thịt hộp, mỡ ướp, gamen dưa chuột muối, bánh mì, sữa chua và bi đông vodca.
- Chà, giá như biết được giờ đây thằng bé ra sao! - Bỗng Kholin ngửng đầu thốt lên. - Không hiểu ở bên tụi chúng có chuyện gì?
- Sao cơ?
- Cái tụi tuần tiễu ấy lẽ ra phải đi chậm hơn nửa giờ nữa. Cậu hiểu không? Tức là hoặc tụi Đức đã thay đổi về chế độ canh gác, hoặc bọn tớ nhầm lẫn gì đó. Nhưng dù thế nào thì thằng bé đều có thể phải trả giá bằng sinh mạng. Bọn tớ đã tính toán chuẩn xác đến từng phút kia mà!
- Nhưng nó đã đi thoát rồi mà. Bọn mình đợi phải đến hàng tiếng chứ ít à? Thế mà có thấy động tĩnh gì đâu.
- Đi thoát là thế nào? - Kholin bực dọc hỏi. - Cậu nên nhớ rằng nó sẽ phải cuốc bộ hơn năm chục cây số, trong đó ngót hai chục cây nó phải vượt qua trước lúc trời sáng. Và mỗi bước đều có thể gặp địch. Với lại còn biết bao điều ngẫu nhiên khác! Nhưng thôi, bàn tán bây giờ ích gì! - Anh ta cất bản đồ đi. - Nào!
Tôi rót vodca vào hai cái ca. Kholin cầm một cái lên, ngăn trước:
- Không chạm cốc.
Hai chúng tôi nâng ca lên, ngồi im lặng mấy giây.
- Ôi, Cataxonưs, Cataxonưs, - Kholin thở dài cau mày, rồi nói tiếp, giọng lạc hẳn đi. - Đối với cậu hắn chỉ là người dưng, chứ còn đối với tớ - hắn đã có lần cứu sống tớ…
Anh ta uống một hơi, đưa miếng bánh mì đen lên mũi ngửi, đoạn chìa cốc đòi:
- Nữa!
Tôi uống cạn cốc và rót rượu lần thứ hai - cho mình một ít, cho Kholin đầy cốc. Anh ta cầm ca lên, quay mặt lại phía cái phản, nơi để chiếc va li với quần áo của Ivan nói nhỏ:
- Chúc cho cháu trở về và không bao giờ đi nữa. Chúc cho tương lai của cháu!
Chúng tôi chạm cốc, uống cạn và bắt đầu ăn. Tất nhiên trong giây phút ấy cả hai chúng tôi đều nghĩ đến chú bé. Cái lò đỏ lên ở hai bên và trên miệng phả hơi nóng hầm hập. Hai chúng tôi đã về đây ngồi trong căn hầm ấm áp và an toàn. Còn nó - nó đang lần đi trên trận địa quân thù, trong tuyết lạnh đêm đen, kề bên cái chết…
Tôi chưa hề có tình yêu mến sâu sắc đối với trẻ em, nhưng chú bé này, mặc dù chỉ gặp có hai lần, đã trở nên thân thiết và yêu quý đối với tôi, đến nỗi mỗi khi nghĩ đến nó lòng tôi không thể không se lại xốn xang.
Tôi không uống thêm, Kholin lặng lẽ, không nâng cốc chúc gì nữa, uống cạn ca thứ ba. Một lát sau, anh ta đã say, nét mặt ảm đạm, cau có nhìn tôi bằng cặp mắt đỏ ngầu, kích động.
- Cậu chiến đấu đã ba năm rồi à? - Anh ta vừa châm thuốc vừa hỏi. - Tớ cũng ba năm. Nhưng nhìn vào tận mắt cái chết như Ivan từng nhìn thì có lẽ bọn ta còn chưa có dịp… Sau lưng bọn ta là tiểu đoàn, trung đoàn, cả một tập đoàn quân… Còn nó, nó chỉ có một mình! - Bỗng nổi xung, anh ta hét lên. - Một đứa trẻ!… Thế mà cậu còn tiếc rẻ cái con dao cóc gặm của cậu!…
❀ ❀ ❀
[1] - Cái thời tiết chó má! Cái đồ quỷ… - Hãy giữ mồm giữ miệng, Otto! Rẽ trái!… (tiếng Đức).
[2] Đứng lại!