Cấp dưỡng đem bữa tối đến. Tôi ra tự tay cầm các gamen và siêu nước chè nóng vào hầm. Tôi đặt thêm lên bàn một bình sữa chua và một hộp thịt. Chúng tôi ngồi vào bàn ăn tối. Chú bé và Kholin ăn uể oải, tôi cũng không còn thấy ngon miệng. Nét mặt Ivan có vẻ giận dỗi và buồn buồn. Chắc nó rất phật ý về chuyện Cataxonov không ghé vào chúc nó thành công. Nó ăn uống qua loa rồi lại leo lên phản nằm.
Sau khi đã thu dọn bàn ăn, Kholin trải tấm bản đồ ra và giải thích nhiệm vụ cho tôi biết.
Ba chúng tôi sẽ vượt sang bờ bên kia, giấu thuyền vào bụi rồi men theo bờ sông ngược dòng độ sáu trăm mét đến một cái khe hẻm. - Kholin chỉ trên bản đồ. Anh ta giải thích:
- Bơi thuyền thẳng đến cái khe ấy thì tất nhiên là tốt hơn, nhưng ở chỗ ấy bờ trống trải, chẳng có nơi nào có thể giấu thuyền được.
Ivan sẽ phải vượt qua tiền duyên phòng ngự của bọn Đức bằng con đường qua cái khe ấy, nằm đối diện với trận địa của tiểu đoàn ba. Trong trường hợp chú bé bị phát hiện thì tôi và Kholin, nằm lại từ trước đó ở ngay bến sông, phải lập tức bộc lộ mình bằng cách bắn các pháo hiệu đỏ là tín hiệu gọi hỏa lực, thu hút bọn Đức về phía mình và bằng mọi giá bảo vệ cho Ivan rút xuống thuyền. Người cuối cùng rời bờ địch sẽ là Kholin.
Trong trường hợp chú bé bị phát hiện thì theo pháo hiệu của chúng tôi “các phương tiện yểm trợ”: hai cụm pháo 76 ly, một cụm cối 120 ly, hai đại đội súng cối và một đại đội súng máy có nhiệm vụ pháo kích cấp tập từ bờ trái sang làm cho địch lóa mắt và choáng váng, dựng lên một hàng rào hỏa lực ngăn cách những chiến hào của bọn Đức ở hai mép bờ khe hẻm và quá sang trái để chặn không cho bọn Đức xuất kích và bảo đảm cho chúng tôi rút lui an toàn xuống thuyền.
Kholin thông báo cho tôi biết các tín hiệu hiệp đồng với bờ trái, nói rõ thêm một số chi tiết, rồi hỏi:
- Cậu đã rõ cả chưa?
- Có lẽ rõ cả…
Im lặng một lát, tôi nói ra những lo ngại của mình: liệu đi một mình trong đêm tối chú bé có mất phương hướng trong khi vượt tuyến không? Liệu có bị sát thương khi quân ta pháo kích không?
Kholin giải thích là “nó” - anh ta hất đầu về phía Ivan - đã cùng Cataxonov ngồi lì ở trận địa của tiểu đoàn ba nghiên cứu suốt mấy tiếng liền bờ địch ở khu vực sẽ vượt thuyền, thuộc làu ở đó từng bụi cây, từng gò đất. Còn về chuyện pháo kích thì mục tiêu đã được bắn nghiệm từ trước và sẽ để chừa một “hành lang” rộng đến bảy chục mét.
Tôi bất giác nghĩ biết bao nhiêu điều bất trắc có thể xảy ra, nhưng im lặng không nói gì. Chú bé nằm đăm chiêu, buồn thiu, mắt nhìn trân trân lên trần hầm. Mặt nó lộ vẻ hờn dỗi và tôi có cảm giác là bàng quan, dường như câu chuyện trao đổi giữa hai chúng tôi chẳng liên quan gì tới nó.
Tôi xem xét trên bản đồ những vệt xanh chỉ trận địa phòng ngự của bọn Đức bố trí thành tuyến theo chiều sâu, thử hình dung nó trong thực tế, đoạn hỏi khẽ:
- Này, liệu điểm vượt tuyến được chọn có chính xác không? Chẳng lẽ trên khắp mặt trận của tập đoàn quân không có một khu vực nào mà tuyến phòng ngự của địch không đến nỗi dày đặc như ở đây à? Chẳng lẽ trong tuyến phòng ngự của chúng không có “điểm yếu”, chỗ đứt đoạn, nói chẳng hạn, ở tiếp điểm của hai đơn vị?
Kholin nheo cặp mắt nâu nhìn tôi với một vẻ chế giễu:
- Các bố ở đơn vị cấm bao giờ nhìn xa hơn cái sống mũi của chính mình! - Giọng anh ta hơi khinh miệt. - Bao giờ các bố cũng tưởng đối diện với trận địa mình là những lực lượng chủ chốt của địch, còn ở các khu vực khác chỉ có những đơn vị yểm trợ yếu ớt, để che mắt thế thôi! Chẳng lẽ cậu lại cho rằng bọn tớ đã không chọn lọc chán đi, đã suy tính ít hơn cậu à? Tớ có thể nói cho cậu biết là ở khắp mặt trận này tụi Đức nhồi nhét quân dày đặc đến mức trong mơ cậu cũng chưa từng thấy! Và ở những tiếp điểm là chúng cảnh giác nhất, đừng có tưởng chúng là một lũ ngốc: bọn ngốc chết sạch từ lâ-âu rồi! Đây là một tuyến phòng thủ kín mít suốt mấy chục cây số, - Kholin thở dài không vui. - Cậu đến kì, người ta đã suy đi tính lại đâu phải một lần. Trong những chuyện như thế này không bao giờ người ta hành động hú họa sất, hãy nhớ như vậy!
Anh ta đứng dậy, bước lại phản ngồi xuống bên Ivan và thì thầm chỉ dẫn cho chú bé - chắc chắn không phải là lần đầu tiên như vậy:
- … Ở trong khe cháu phải đi sát trên mép. Nhớ là khắp lòng khe đều có mìn… Phải luôn luôn lắng tai nghe. Đứng im mà lắng nghe!… Khi thấy tụi tuần tra đi dưới chiến hào thì bò lại gần rồi nằm đợi. Chúng nó đi qua một cái là vọt qua hào và đi tiếp luôn…
Tôi gọi điện cho đại đội trưởng đại đội năm là Gusin, báo cho biết là cậu ta sẽ tạm thời thay tôi, đoạn chỉ thị những điều cần thiết. Đặt ống nghe xuống, tôi lại nghe thấy giọng Kholin thì thầm:
-… Cháu sẽ ém đợi ở Phedorovca… Đừng có liều mạng! Cái chính là phải thận trọng!
- Chú tưởng thận trọng là đơn giản lắm à? - Giọng chú bé lộ vẻ hơi bực mình.
- Chú biết! Nhưng cháu cứ thận trọng! Và luôn nhớ rằng cháu không phải chỉ có một mình. Luôn nhớ rằng: dù cháu ở đâu thì chú lúc nào cũng nghĩ đến cháu. Cả bác trung tá cũng vậy…
- Thế mà Cataxonov trước khi về chẳng thèm ghé qua, - với một sự thiếu nhất quán thường thấy ở trẻ em, chú bé tiếp lời Kholin, giọng hờn dỗi ra mặt.
- Chú đã bảo là chú ấy không kịp mà! Trên gọi chú ấy về theo hiệu lệnh báo động, chứ không thì… Cháu thừa biết chú ấy yêu cháu lắm. Cháu biết đấy, nhà chú ấy chẳng còn ai, nên chú ấy quý cháu nhất. Có đúng thế không nào?
- Đúng thế, - chú bé sụt sịt xác nhận, giọng nó run run. - Nhưng cơ mà lẽ ra chú ấy vẫn có thể ghé qua một tí…
Kholin nằm xuống cạnh Ivan, đưa tay vuốt ve mái tóc óng mượt như tơ và thì thầm gì vào tai nó. Tôi cố lảng đi không nghe lỏm. Bỗng dưng tôi thấy có vô số việc phải làm, tôi hối hả vội vã, song chẳng làm nổi một việc gì cho nên hồn. Bực mình quá, tôi bỏ cả đấy, ngồi viết thư cho mẹ tôi: tôi có nghe nói các chiến sĩ trinh sát trước khi đi làm nhiệm vụ thường viết thư cho những người thân thích. Nhưng tôi bồn chồn xúc động, tư tưởng phân tán, nên viết được nửa trang bằng bút chì, tôi lại xé vụn ra vứt vào lò.
- Đến giờ rồi, - Kholin nhìn đồng hồ, bảo tôi và đứng dậy. Anh ta đặt chiếc va li chiến lợi phẩm lên ghế, lôi từ dưới gầm phản ra chiếc bọc to cởi nó ra, và chúng tôi bắt đầu thay quần áo.
Kholin mặc ra ngoài quần áo lót một cái quần xà lỏn bằng len mỏng, một cái áo len cổ lọ, rồi một chiếc áo sơ mi và quần quân phục mùa đông, cuối cùng quàng ra ngoài chiếc áo khoác ngụy trang màu lá cây. Bắt chước anh ta, tôi cũng mặc y như vậy. Quần xà lỏn len của Cataxonov quá nhỏ đối với tôi, đường chỉ ở ngang hông rách toạc làm tôi vội ngừng lại, lưỡng lự nhìn Kholin:
- Không sao, - anh ta khuyến khích tôi, - cứ ních vào! Rách thì rồi lại lĩnh cái khác.
Áo khoác ngụy trang gần như vừa khít, phải cái quần khí ngắn. Chúng tôi xỏ chân vào những đôi ủng Đức có đóng cá; chúng khá nặng nề và lạ chân, tuy nhiên, Kholin giải thích rằng cần phải thận trọng như vậy để khỏi “in dấu chân đầy ra” ở bờ bên kia. Kholin tự tay buộc cái nút ở chiếc áo khoác ngụy trang tôi mặc.
Một lát sau chúng tôi đã sẵn sàng: dao găm và lựu đạn F-1 gài vào thắt lưng (Kholin còn đeo thêm cả một quả lựu đạn chống tăng to tướng, loại “RGP-40”); súng lục với mấy băng đạn nhét vào trong người; la bàn và đồng hồ kính dạ quang đeo ở tay, được tay áo khoác che kín; súng bắn pháo hiệu được soát lại cẩn thận; Kholin kiểm tra các chốt giữ băng đạn ở hai khẩu tiểu liên.
Chúng tôi đã xong xuôi mà chú bé vẫn nằm, hai tay gối đầu và không nhìn về phía hai chúng tôi.
Từ trong va li Đức đã được moi ra một chiếc áo vét con trai đã rách, đã ngả màu nâu xỉn, một chiếc quần màu nâu sẫm, vá víu mấy chỗ, một chiếc mũ bịt tai đã sờn và một đôi ủng thiếu niên đã nát. Ở ngay mép phản, Kholin bày ra một bộ quần áo lót bằng vải thô, một chiếc áo len và một đôi tất len, cả hai thứ đều cũ kỹ và mạng vá lung tung, một cái bị nhỏ cáu bẩn, một đôi xà cạp và một ít giẻ rách.
Kholin gói thức ăn cho Ivan vào một mẩu vải gai: một nửa cái giò nhỏ độ nửa cân, hai miếng mỡ muối, một góc và mấy miếng bánh mì đen, trắng đã khô khốc. Thứ giò làm lấy ở nhà và mỡ muối cũng không phải của bộ đội chúng tôi, mà lẫn bạc nhạc, màu xám xỉn vì muối bẩn, bánh mì cũng không phải loại làm bằng khuôn, mà tự nướng trong lò nhà.
Tôi vừa xem xét mọi thứ vừa nghĩ: tất cả đều đã được lường trước, đến chi tiết vặt vãnh nhất…
Thực phẩm đã cho vào bị mà chú bé vẫn nằm không nhúc nhích. Kholin liếc trộm nó và chẳng nói chẳng rằng lại lôi súng pháo hiệu ra xem xét, lại kiểm tra các chốt giữ băng đạn.
Cuối cùng, chú bé ngồi dậy trên phản và bắt đầu thong thả cởi bộ quân phục của mình ra. Chiếc quần bị mấy vết bẩn ở đầu gối và ở đằng sau.
- Nhựa dính vào đấy, - chú bé giải thích. - Chú bảo tẩy đi nhé!
- Hay là trả nó vào kho và lĩnh cái mới, - Kholin đề nghị.
- Không, chú cứ bảo tẩy cái này.
Cũng lại thong thả như vậy nó mặc bộ quần áo thường dân. Kholin mặc giúp nó, rồi xem xét từ tứ phía. Tôi cũng xem xét: y hệt một đứa trẻ tứ cố vô thân không cửa không nhà, một đứa bé chạy loạn mà chúng tôi đã gặp không ít trên các nẻo đường tiến công.
Chú bé giấu vào trong túi một con dao díp tự tạo và một ít tờ giấy bạc đã nhàu nát: sáu bảy chục đồng mác Đức lưu hành trong vùng chiếm đóng. Chỉ có vậy.
- Ta nhảy thử nào, - Kholin bảo tôi. Hai chúng tôi nhảy mấy lần để kiểm tra lại. Chú bé cũng nhảy, mặc dù trên người nó có gì đâu mà kêu?
Theo phong tục Nga từ cổ xưa, chúng tôi ngồi xuống, im lặng một lát. Trên gương mặt chú bé tôi lại thấy vẻ đăm chiêu không chút thơ ngây và vẻ căng thẳng nội tâm như sáu ngày trước đây khi nó lần đầu tiên xuất hiện ở căn hầm của tôi.
✦ ✦ ✦
Chúng tôi chiếu vào mắt một lát ánh sáng đỏ của những chiếc đèn tín hiệu (để nhìn trong đêm tối được tinh hơn), đoạn đi xuống thuyền: tôi đi đầu, rồi đến Ivan, cách tôi khoảng mười lăm bước, cuối cùng là Kholin.
Tôi có nhiệm vụ gọi hỏi và nói chuyện thu hút sự chú ý của bất kỳ ai bắt gặp trên đường đi để cho chú bé kịp ẩn nấp: ngoài hai chúng tôi ra, giờ đây không ai được trông thấy nó - Kholin đã báo trước cho tôi biết điều đó bằng một giọng kiên quyết nhất.
Ở phía bên phải, từ trong đêm tối vọng lại những tiếng hô khẩu hiệu khe khẽ: “Các khẩu đội - về vị trí! Chuẩn bị chiến đấu!”.Tiếng cành cây gãy răng rắc, nghe có cả tiếng rủa thì thầm - đó là các khẩu đội đang chuẩn bị những khẩu pháo và súng cối bố trí rải rác khắp bìa rừng thuộc trận địa tiểu đoàn tôi và tiểu đoàn ba.
Ngoài ba chúng tôi ra, còn đến ngót hai trăm người tham gia vào vụ này: Họ sẵn sàng giội bão lửa lên trận địa của bọn Đức bất kỳ lúc nào để yểm trợ cho chúng tôi. Và không một ai trong số ngót hai trăm người ấy lại ngờ rằng việc hôm nay hoàn toàn không phải là một cuộc trinh sát như Kholin đã nói với các cấp chỉ huy những đơn vị yểm trợ.
Cách thuyền không xa có một vọng cảnh giới. Lẽ ra nó phải có hai chiến sĩ, nhưng theo chỉ dẫn của Kholin tôi đã ra lệnh cho đội trưởng đội cảnh giới chỉ để lại ở chiến hào một người là binh nhất Demin, một chiến sĩ đứng tuổi và tháo vát. Khi chúng tôi đến gần bờ, Kholin đề nghị tôi tiến lên nói chuyện với Demin thu hút sự chú ý của anh ta để cho Kholin cùng với Ivan bí mật lẻn xuống thuyền. Tôi cho là những biện pháp thận trọng ấy là thừa, tuy nhiên yêu cầu bí mật của Kholin không làm tôi ngạc nhiên: tôi biết là không riêng gì Kholin mà tất cả anh em trinh sát đều như vậy. Tôi lẳng lặng tiến lên trước.
- Cấm được bình luận gì đấy! - Kholin cảnh cáo tôi bằng một giọng thì thầm đe dọa. Tôi đã chán ngấy những lời cảnh cáo luôn luôn ấy rồi: tôi có phải là một thằng trẻ con đâu, thừa hiểu mọi sự.
Demin, theo đúng quy định, gọi hỏi tôi từ xa. Tôi đáp lại, rồi bước đến nhảy xuống hào và xoay hướng đứng buộc Demin phải quay mặt lại phía tôi, quay lưng về phía đường mòn dẫn xuống bến sông.
- Hút đi, - tôi chìa bao thuốc ra mời, lấy cho mình một điếu, một điếu dúi vào tay Demin.
Chúng tôi ngồi xổm xuống, Demin đánh liền mấy que diêm ẩm, cuối cùng một que cháy, anh ta châm thuốc cho tôi, rồi cho mình. Qua ánh lửa lòe sáng của que diêm, tôi thấy còn một người nữa nằm ngủ trên đống rơm đã bẹp dí xuống ở hàm ếch dưới hào, tôi nhận ra chiếc mũ ca lô với đường viền tím quen thuộc đến kỳ lạ. Tôi hít một hơi thuốc dài, đoạn chẳng nói chẳng rằng, bấm đèn pin: trước mắt tôi, trong hàm ếch là Cataxonov. Anh nằm ngửa, tôi nhấc chiếc mũ lên thì thấy một bộ mặt đã xám ngắt, trông hiền lành như mặt thỏ; trên mắt trái có một lỗ nhỏ gọn ghẽ: vết đạn vào…
- Thật vô nghĩa quá, - Demin lẩm bẩm cạnh tôi mà giọng anh ta như từ một nơi xa. - Anh ấy với đồng chí đại úy chuẩn bị thuyền xong thì vào đây ngồi hút thuốc với tôi. Đồng chí đại úy đứng chỗ này đây, nói chuyện với tôi, còn anh ấy thì định leo lên, ấy thế mà vừa mới nhô lên khỏi hào thì đã thấy từ từ tuồn xuống. Mà hình như chúng tôi cũng chẳng nghe thấy tiếng súng nữa… Đồng chí đại úy chạy đến ôm lấy anh ấy vừa lay vừa gọi: “Cataxonưs! Cataxonưs!…”.Thì ra anh ấy bị một phát chết tươi! Đồng chí đại úy ra lệnh không được nói với ai sất…
Té ra chính vì vậy mà tôi cảm thấy Kholin có vẻ hơi khác thường khi ở bờ sông trở về.
- Cấm được bình luận gì đấy! - Nghe như từ phía sông vọng lại cái giọng thì thào ra lệnh của anh ta. Bây giờ tôi mới hiểu ra: Ivan đi làm nhiệm vụ, cho nên giờ đây bất luận thế nào cũng không được làm cho nó bị xúc động: nó phải không hay biết gì về cái chết vô nghĩa này.
Tôi leo lên khỏi hào và thong thả đi xuống bến.
Chú bé đã ngồi trong thuyền, tôi ngồi cùng với nó ở phía đuôi, tiểu liên lăm lăm trong tay.
- Ngồi ngay ngắn hơn, - Kholin thì thào bảo chúng tôi; anh ta lấy chiếc áo mưa vải bạt phủ kín người chúng tôi. - Chú ý đừng để thuyền tròng trành đấy!
Anh ta lái mũi thuyền ra, nhảy xuống và cầm lấy mái chèo. Kholin nhìn đồng hồ, đợi một lát nữa rồi khẽ huýt còi: đó là tín hiệu bắt đầu vào trận.
Lập tức có tín hiệu trả lời anh ta: một phát súng trường nổ vang trong đêm ở cánh phải nơi các cấp chỉ huy những đơn vị yểm trợ và các quan trắc viên pháo binh đã đứng chờ sẵn trong hào lớn có đặt ổ súng máy ở cánh trái của tiểu đoàn ba.
Kholin xoay mũi thuyền và bắt đầu chèo. Bờ lập tức biến mất. Bóng tối mù mịt của một đêm mưa gió lạnh giá vây lấy chúng tôi.