Chưởng quỹ và khách uống rượu trong quán đều vây lại, người mồm kẻ miệng bàn tán rôm rả. Tiểu nhị vội vàng ghép ba chiếc bàn lại, để Cao Hướng đặt Hà Lý Chi nằm ngửa lên bàn, ai nấy đều thở dài nói: "Ấy, vị Hà nhị gia này đang uống rượu ngon lành, sao lại đột nhiên ra tay giết người? Vị tiểu thư kia tuổi còn trẻ, không biết giữa cô ta và ông ta có thù oán gì."
Cao Hướng từ trong ngực lấy ra một phiến kim diệp đưa cho chưởng quỹ, nói: "Đừng nói chuyện thừa thãi nữa, mau đi làm việc đi, trên phố vẫn còn một cỗ thi thể cần khâm liệm. Vị Hà lão tiền bối này thương thế cực nặng, lại cần cấp cứu gấp, ai biết chỗ ở của ông ấy, phiền đi thông báo một tiếng."
Chưởng quỹ thở dài nói: "Ông ấy tuy là khách quen của tiểu điện, nhưng chẳng ai biết ông ấy ở nơi nào. Một năm nay, chỉ biết ngày nào ông ấy cũng đến quán một mình uống rượu, nhưng chưa từng nói quá một câu với ai."
Cao Hướng nói: "Vậy hãy sang tòa tiểu lâu đối diện hỏi thử, họa chăng vị lão nhân mất mạng kia sẽ để lại cô nhi."
Sau khi chưởng quỹ đi, khách uống rượu dần giải tán hơn nửa. Cao Hướng nhắm mắt vận công, chân lực dồn vào lòng bàn tay, chậm rãi xoa bóp di chuyển quanh ngực bụng Hà Lý Chi. Qua chừng thời gian một bữa cơm, trán chàng đã lấm tấm mồ hôi, nào ngờ Hà Lý Chi vẫn hôn mê như cũ, không hề có phản ứng.
Cao Hướng kinh ngạc vô cùng, nghỉ ngơi giây lát rồi lại truyền lực chữa thương cho ông ta một lần nữa. Lần thứ ba liên tiếp, bản thân sức lực đã mệt mỏi, nhìn lại Hà Lý Chi vẫn không có chút khởi sắc nào.
Chàng chợt nhớ tới việc Hà Lý Chi từng phát bệnh trên lầu, vội thò tay vào túi áo trong của ông ta, lấy chiếc bình thuốc kia ra, bật nắp bình, thấy bên trong vẫn còn hơn chục viên dược hoàn màu đen to bằng hạt đậu, ngửi thử thì thấy có một mùi thơm lạ.
Cao Hướng không biết tên dược hoàn, nhưng tận mắt thấy Hà Lý Chi từng uống qua, liền định cạy hàm răng ra để đút cho ông ta một viên. Nào ngờ sau lưng chợt có người lạnh lùng nói: "Không cần tốn công vô ích, lúc này dẫu có thần đan thì ông ta cũng không sống nổi nửa tháng nữa đâu."
Cao Hướng giật mình xoay người nhìn lại, không ngờ kẻ lên tiếng lại là một thiếu nữ mười sáu, mười bảy tuổi.
Thiếu nữ đó mặc một bộ kình trang bằng vải xanh, đầu búi khăn xanh, sau vai giắt chéo một thanh trường kiếm, mày ngọc răng trắng, vô cùng xinh đẹp. Chỉ có điều đôi mắt đỏ hoe sưng húp lên như quả hồ đào, mặt phủ sương lạnh, lạnh lùng không chút biểu cảm.
Cao Hướng ngạc nhiên hỏi: "Cô nương sao biết ông ấy sống không quá nửa tháng?"
Thiếu nữ đó lạnh lùng đáp: "Nội phủ của ông ta đã bị độc nghiện hành hạ lâu ngày, ngày thường dựa vào một ngụm chân khí nên vẫn có thể ngưng tụ, mỗi ngày còn phải nuốt một viên dược hoàn mới duy trì được tính mạng. Nay tâm mạch đã đứt, chân khí đã tan, dẫu có thần đan cũng khó lòng cứu lại tính mạng của ông ta rồi."
Cao Hướng chợt động tâm, thốt hỏi: "Cô nương là người thế nào của ông ấy?"
Thiếu nữ đảo tròng mắt, ngấn lệ chực trào trong khóe mắt nhưng không trả lời câu hỏi đó, mà bước lên trước, vươn hai tay ôm ngang Hà Lý Chi lên rồi quay người định đi.
Cao Hướng đứng phắt dậy cản đường, gặng hỏi: "Cô nương, cô..."
Ngọc mặt thiếu nữ ngẩng lên, lạnh lùng nói: "Ta họ Lý, tên là Lý Tự, lão ông chết dưới loạn kiếm lúc nãy chính là cha ta, ông ấy là Hà sư thúc của ta."
Lệ quang trong mắt lóe lên nhưng bị cô ta bĩu môi cố nhịn xuống, đoạn chậm rãi nói tiếp: "Lẽ nào ta không thể đưa ông ấy đi sao?"
"A!" Cao Hướng kêu lên khe khẽ, đầy cảm khái nói: "Lý cô nương tự có thể đưa ông ấy rời đi, nhưng thương thế của ông ấy trầm trọng, giả như..."
Sát khí bắn ra từ ánh mắt Lý Tự, cô ta ngắt lời: "Giả như không phải gác hạ xen vào việc người khác, cha ta và Hà sư thúc nào đến nỗi một người chết một người bị thương? Đầu đuôi câu chuyện ta đều tận mắt chứng kiến, hy vọng ngươi đừng ép ta phải thốt ra những lời khó nghe."
Cao Hướng bị cô ta cãi lại đến mức á khẩu không trả lời được, vô cùng hổ thẹn ăn năn. Hồi lâu sau mới lẩm bẩm: "Đúng vậy, đúng vậy, đều trách ta không nên xen vào việc bao đồng. Thế nhưng, làm sao ta ngờ được các ngươi..." Chợt ngẩng đầu lên, tiếng nói khựng lại, hóa ra trước mắt đã không còn bóng dáng Lý Tự đâu nữa.
Cao Hướng ngẩn người, vội vã đuổi ra cửa quán, lớn tiếng gọi: "Lý cô nương, Lý cô nương, xin chờ một chút, cái... bình thuốc này..."
Người trên phố đông như kiến cỏ, đâu còn thấy bóng dáng Lý Tự ở đâu nữa.
Nghìn dặm quan san, cô độc ngựa gầy.
Từ khi rời khỏi Mậu Công, Cao Hướng vẫn canh cánh không quên biến cố trước Thái Bạch cư tửu lâu.
Chàng sống cô độc mười tám năm, trước khi ra khỏi thạch huyệt vốn vô cùng tự phụ, lại càng không biết đã tưởng tượng ra bao nhiêu cảnh tượng mỹ hảo, vẫninh đinh rằng khổ luyện trong núi sâu, luyện được một thân kỳ kỹ, có ngày bước chân vào giang hồ ắt sẽ làm nên một sự nghiệp oanh oanh liệt liệt. Nào ngờ vừa rời nhà bước đi, việc đầu tiên lại gặp phải chuyện oái oăm này.
Chàng vừa rảo bước vừa trầm tư, mấy ngày nay vắt óc suy nghĩ mà vẫn không tài nào hiểu nổi vì sao Hà Lý Chi và cha con Lý Tự lại có mưu đồ từ trước, muốn đánh lén vị tiểu thư họ Kim kia.
Nói giữa họ sớm có thù sâu hận lớn ư? Với tuổi tác của Hà Lý Chi và những người khác, xem chừng không thể nào kết thù sâu đậm với một cô gái trẻ tuổi như vậy được.
Nói họ chính tà bất lưỡng lập ư? Ai là chính ai mới là tà?
Hà Lý Chi khí phách lẫm liệt, đánh một đòn không thành liền không tiếc rút kiếm tự sát; lão râu dài hiên ngang quyên sinh; Lý Tự cô nương mang nỗi buồn đau phẫn nộ trong lòng, những điều này quả thực không phải hành vi của kẻ gian tà.
Thế nhưng vị tiểu thư họ Kim kia đoan trang nghiêm cẩn, thanh tú thoát tục, từng lời từng chữ đều tràn ngập khí chất cao quý thánh khiết, tuy thuộc hạ có phần hống hách phách lối nhưng cũng ra dáng gia nhân nhà hào phú, những điều này cũng không thể trách cứ là kẻ tiểu nhân tà ác.
Vậy vì nguyên nhân gì mà họ lại thành cừu nhân sinh tử, thề không dung tha.
Cao Hướng càng nghĩ càng không thể hiểu, lúc thì lấy chiếc bình thuốc đó ra ngắm nghía hồi lâu, lúc lại trầm tư suy nghĩ, nhớ lại lời nhắn nhủ của vị nữ lang áo trắng lúc đi.
Chàng mang theo chút tiếc nuối thầm nói với bản thân: "Tiếc là phụ thân hạn định trong mười ngày phải đến được Tinh Túc Hải, bằng không nhất định phải đến phủ Khai Phong xem thử một nhà họ Kim rốt cuộc là nhân vật thế nào."
Hùng tâm nổi lên, càng đi càng vội, vượt qua Tiểu Kim Xuyên, men theo sông Kim Sa đi ngược lên phía bắc. Ngày thứ mười, chàng đã đến Tinh Túc Hải đúng hẹn.
Đi ngược dòng đại hà lên phía trên, ngọn núi cao chọc trời Cáp Đạt Tố Tề Lão Phong hiện rõ mùng một. Lúc này tuyết xuân mới tan, nước Thông Thiên Hà chảy xiết cuồn cuộn như muôn vạn quân mã, thế nhưng đỉnh Cáp Phong vẫn chất một tầng băng tuyết dày đặc.
Cao Hướng quất roi trỏ về phía chân núi, tuyết đọng ngoài đồng hoang ngập thước, người và ngựa tựa như đang bơi lội trong biển tuyết trắng xóa.
Đến chân núi, con tuấn mã đã mệt mỏi rã rời. Cao Hướng tháo yên cương cho nó, vuốt ve bờm ngựa nói: "Ngựa ơi ngựa ơi, cảm ơn mày đã cõng ta vượt ngàn dặm đường xa, ta cũng trả lại tự do cho mày. Băng tuyết trong núi giá lạnh, kiếm ăn khó khăn, mày hãy tự cố gắng nhé."
Giơ tay vỗ nhẹ mông ngựa, con ngựa ngẩng đầu dàinghé, vẩy bờm phi thẳng về phía rừng thông ở đằng xa. Cao Hướng xách lương khô, ngồi bệt xuống đất ngay dưới chân núi, vừa gặm thức ăn vừa giở tấm bản đồ do Cửu Thiên Vân Long truyền thụ, ước chừng nơi ẩn cư của hai vị sư bá.
Bỗng nhiên, ánh mắt vô tình lướt qua phía bên trái, lại phát hiện cách mình chừng hai trượng trên tuyết dường như có một vết chân nông choèn.
Ánh mắt Cao Hướng sắc bén, soi mói tinh tường, vết chân đó tuy cực nông và nằm dưới một vùng tuyết trắng xóa mịt mờ, nhưng chỉ liếc qua là chàng nhận ra đó quả thực là dấu chân do con người để lại.
Lương khô mới ăn được nửa cái, chàng liền vội vàng nhét lại vào túi, rảo bước tiến lên, cúi người tỉ mỉ quan sát trên mặt tuyết, càng nhìn lại càng thấy kinh ngạc.
Hóa ra vết chân đó chỉ có phần mũi chân là in nông trên tuyết, còn vết chân thứ hai lại cách đó xa tới bốn trượng. Từ hướng chỉ của mũi chân có thể thấy nó xuất phát từ chân núi chĩa thẳng lên đỉnh Cáp Đạt Tố Tề Lão Phong. Nhìn độ nông sâu và khoảng cách của vết chân, hoàn toàn có thể phán đoán kẻ đó ắt là kỳ nhân giang hồ mang tuyệt nghệ trong người.
Nhà họ Cao nổi danh võ lâm với khinh công Long Khiếu Cửu Thiên, bản thân Cao Hướng từ trong bụng mẹ đã cắm cúi khổ luyện, mười tám năm nay tự nhận đã đạt đến tám phần công lực. Nhưng nhìn từ những vết chân khả nghi này, thân pháp tung hoành khinh công của kẻ đó tuyệt không thua kém phụ thân Cửu Thiên Vân Long của chàng.
Trong chốc lát, đầy bụng nghi ngờ kinh ngạc trào dâng trong lòng chàng.
Theo lời kể của Cửu Thiên Vân Long, đỉnh Cáp Đạt Tố Tề quanh năm băng tuyết bao phủ, dấu chân người chưa từng đặt tới, Tang, Liễu hai vị sư bá sau khi ẩn cư ở mặt sau đỉnh núi thì chưa từng nửa bước bước ra khỏi Cáp Phong. Vậy vết chân này là do ai để lại?
Là Tang, Liễu hai vị sư bá vì sự cố đặc biệt nào đó nên rời khỏi Cáp Phong? Hay chốn thanh tu Cáp Phong bỗng nhiên có người ngoài đến?
Tinh thần Cao Hướng chấn động, lập tức hít sâu một hơi chân khí, men theo vết chân cất bước chạy thẳng lên đỉnh núi.
Khoảng cách mỗi bước đặt chân của vết chân đó đều trên bốn trượng, độ sâu nông của dấu vết rất đồng đều, hơn nữa thường cố tình tránh những con đường rộng rãi bằng phẳng không đi, mà chuyên luồn lách qua những khe đá hoặc vách đá rừng thông hiểm trở khó đi.
Điều này càng chứng minh thêm một điểm, kẻ đến lén lút ẩn giấu, không giống phong cách của Tang, Liễu hai vị sư bá.
Chàng chợt nhớ lại trước lúc lên đường, Cửu Thiên Vân Long từng dặn dò: "...Bắt buộc trong vòng mười ngày phải đến được đỉnh Cáp Đạt Tố Tề Tinh Túc Hải, trên đường tuyệt đối không được chậm trễ mảy may."
Hơn nữa còn nói: "...Nếu con đến Tinh Túc Hải trong vòng mười ngày, diện kiến Tang, Liễu hai vị sư bá, thì mọi chuyện sau này cha liền có thể yên tâm."
Cửu Thiên Vân Long đột nhiên lệnh cho chàng rời khỏi hậu sơn Thanh Địa, lúc đi lại dặn đi dặn lại không được lỡ hẹn mười ngày, rốt cuộc là vì nguyên nhân gì?
Cao Hướng vừa nghĩ tới đây, bỗng sinh ra một cảm giác sợ hãi khó hiểu, sắc bén đảo mắt nhìn quanh, định tung mình phóng đi.
Đúng lúc này, từ trên đỉnh núi bỗng văng vẳng vọng xuống một tiếng tiêu du dương.
Âm điệu tiếng tiêu trầm thấp, như khóc như kể, nhè nhẹ xuyên qua mây trời từ không trung bay tới, theo gió lọt vào tai nhưng từng tiếng vô cùng rõ mồn một. Nhất là ở chốn sơn cùng thủy tận, nghe vào cứ như tiếng hạc kêu gió hú, sóng thông phơi phới, gợi lên nỗi niềm u uất của con người.
Cao Hướng từ nhỏ thông âm luật, vừa nghe tiếng tiêu liền biết tuyệt đối không phải do phường tầm thường thổi ra.
Tiếng tiêu quanh quẩn ba vòng, bỗng lại có tiếng đàn tranh lanh lảnh hòa vào.
Tiếng tiêu vốn dĩ du dương như suối chảy nước nguồn, từ khi tiếng đàn tranh vang lên thì dần dần từ bình lặng chuyển sang có chút kích động. Khúc điệu vừa đổi, bỗng chốc tựa như tráng sĩ oai nghiêm, vung đao múa kiếm, khí phách ngất trời.
Tiếng đàn tranh cũng không chịu kém cạnh, âm thanh lanh lảnh thoạt đầu như mâm ngọc lăn châu, dần dần cũng biến thành tiếng vàng đá va chạm, tựa như trường giáo rợp bóng, cờ xí tung bay. Từ trong tiếng đàn tranh khiến người ta dường như cảm nhận được cái khí thế sát phạt như xe lớn lâm trận, vạn mã phi nước đại.
Tiếng tiêu và tiếng đàn tranh, lúc ẩn lúc hiện, quấn quýt lấy nhau. Cao Hướng bị những âm vận làm mê đắm tâm trí này cuốn hút, thẫn thờ đứng giữa lưng chừng núi, quên cả cất bước.
Khoảng chừng hơn nửa canh giờ, tiếng tiêu và tiếng đàn tranh không nhường nhau chút nào, ngày càng tràn ngập tử khí. Bỗng nhiên, vài tiếng đinh coang chói tai vang lên, âm vận của cả hai bên đều mang đầy hỏa khí, khúc điệu dần dần vâng cao, tựa như bình bạc vỡ tung, kỵ binh xông ra. Trong sương mờ dường như nghe thấy tiếng trống trận giục giã, đao thương nhuốm máu, muôn vạn quân mã chém giết lẫn nhau qua lại, thây nằm khắp đồng, máu chảy thành sông, thảm thiết khôn cùng.
Cao Hướng nghe đến mức máu nóng cuồn cuộn trong người, tim đập nhanh hơn, xương cốt toàn thân căng phồng lên, chỉ hận không thể lập tức tìm một người tung sức đọ sức, liều một phen sống chết. Chàng cắn chặt hai hàm răng kêu kèn kẹt, không kiềm chế được bản thân, lật tay tháo chiếc túi da bọc thanh thiết tranh gia truyền từ trên vai xuống.
Nào ngờ ngay trong chớp mắt ấy, tiếng tiêu bỗng nhiên dừng bặt, tiếp theo một tiếng 'eng', tiếng đàn tranh cũng đột ngột ngắt quãng.
Cao Hướng sực tỉnh khỏi cõi mộng ảo, trong đầu lóe lên một tia sáng, bayh nhanh nghĩ tới một ý niệm.
“Không ổn rồi, tiêu, tranh, đàn vẫn là tuyệt kỹ bất truyền của Thanh Thành Tam Tự, chẳng lẽ kẻ đang cậy mạnh tranh thắng trên đỉnh núi lại chính là Tang, Liễu hai vị sư bá!”
Nghĩ tới đây, trong lòng chợt sinh cảm giác điềm gở, vội vàng nhét lại thiết tranh, hú dài một tiếng, thân hình đã vút lên trời, như bay phi nước đại thẳng lên đỉnh núi.
Trong chớp mắt vượt qua mấy ngọn núi, đỉnh Cáp Đạt Tố Tề đã hiện trước mắt, chợt thấy từ sau tảng đá trên đỉnh núi vút bay ra một bóng người vạm vỡ.
Kẻ đó nhanh tựa tên bắn, lao thẳng xuống dưới núi, thoáng chốc đã đến nơi. Cao Hướng mắth nhanh, sớm nhận ra đó là một kẻ mặc áo trắng che mặt dáng người hiên ngang.
Chàng không kịp suy nghĩ tỉ mỉ, tung một chưởng đánh thốc thẳng ra phía trước, trầm giọng quát lớn: "Người phương nào? Đứng lại."
Kẻ áo trắng che mặt lạnh lùng hừ một tiếng, tay áo lớn vung lên, giơ chưởng gạt đỡ, thân hình lại mượn lực vung lên, lộn nhào giữa không trung lướt qua đỉnh đầu Cao Hướng.
Cao Hướng không thông chưởng chiêu, lúc cấp bách đành dựa vào nội lực phát ra, kình đạo vừa chạm liền suýt bị chấn ngã bệ xuống đất, vội vàng đứng vững trầm thân, lùi ngược lại một bước lớn, ngực máu nóng cuồn cuộn, bả vai rung lên kịch liệt.
Đến khi quay đầu lại thì kẻ áo trắng che mặt đã đặt mũi chân thoăn thoắt bay xuống chân núi, chỉ còn lại một bóng mờ mịt nhạt nhòa.
Đuổi theo không kịp nữa, Cao Hướng hậm hực dậm chân, xoay người lao lên đỉnh núi. Ánh mắt đảo qua, trong lòng tức thì rùng mình một cái.
Đỉnh Cáp Phong tuyết đọng ngập thước, trắng xóa chẳng thấy một ngọn cỏ cái cây nào, chỉ có ở chính giữa một tảng đá xanh lớn nhẵn nhụi là không dính chút tuyết nào, nhẵn bóng như gương. Trên đá khoanh chân ngồi một vị lão nhân áo xám chừng bảy mươi tuổi, bả vai hơi nghiêng về bên trái, dùng tay chống lên tảng đá lớn, trước người nằm ngang một cây thất huyền cầm.
Điều khiến người ta giật mình sợ hãi là năm ngón tay phải của vị lão nhân áo xám đều đứt lìa, chỉ còn lại năm gốc thịt bầy nhầy máu me. Ba dây đàn chính trên đàn cũng đã gãy đứt, trên hộp đàn đứt dây lốm đốm vết máu đỏ thẫm, toàn là máu tươi và mảnh thịt vụn.
Cao Hướng sợ toát mồ hôi lạnh, di chuyển bước chân nặng nề, chậm rãi bước đến bên tảng đá lớn, thầm nghĩ trong lòng: "Vị này chắc hẳn là Liễu sư bá nổi danh thiên hạ với nghệ thuật chơi đàn rồi."
Chàng chần chừ định hành lễ bái kiến, chợt cảm thấy ánh mắt của vị lão nhân áo xám có gì đó bất thường, trong lòng chấn động, đưa tay ấn nhẹ vào mũi hơi thở của lão nhân nhanh tựa chớp.
Cái ấn này khiến toàn bộ lồng ngực theo đó lạnh buốt, hóa ra vị lão nhân áo xám kia đã sớm tắt thở rồi.
Dưới sự kinh hoàng tột độ, Cao Hướng giật phắt tay lùi nhanh lại. Thi thể vị lão nhân áo xám lập tức lăn nhấp nhô từ trên tảng đá lớn xuống, thi thể đè lên dây đàn phát ra một tiếng âm thanh ngắn ngủi 'vù' một tiếng. Trên huyệt mệnh môn ở sau lưng lão nhân, lòi hằn một nửa chuôi kiếm sáng lóa ánh vàng.
Tim Cao Hướng đập điên cuồng, ngẩng mắt nhìn quanh, lớn tiếng hét lên: "Tang sư bá, Tang sư bá, Tang sư bá..."
Núi vắng hưởng ứng, chỉ có tiếng kêu vang dội nối tiếp nhau, nhưng chẳng hề nghe thấy tiếng trả lời.
Trong chớp mắt, một luồng khí lạnh thấu tận đáy lòng, một ý niệm kinh hãi trào dâng trong óc: "Liễu sư bá đã gặp tai họa rồi, còn Tang sư bá thì sao? Lẽ nào ông ấy cũng..."
Cao Hướng run lẩy bẩy toàn thân, như gió lốc vòng quanh đỉnh núi chạy nhanh, rẽ qua một bức vách đá, bỗng lại chạm trán một khung cảnh đáng sợ khác.
Sau vách đá có một vách núi nhô ra, trong lòng vách núi vô cùng rộng rãi, trông y hệt như một động phủ tự nhiên, một con đường nhỏ hẹp kéo dài xuống dưới, có thể đi thẳng vào lòng vách.
Lúc này tuyết lớn khắp núi chưa tan, thế nhưng dưới lòng vách núi đó lại có một đầm nước trong vắt vô cùng, chẳng những chưa từng tích tuyết, nước đầm cũng không đóng băng, mặt nước lăn tăn gợn sóng từng vòng từng vòng.
Nơi ánh mắt Cao Hướng rơi xuống, chỉ thấy bên cạnh động vách núi nhô ra có một thân hình xám ngắt đang ngã gục. Kẻ đó quay mặt vào trong lòng động, nghiêng ngựa dựa vào vách núi phủ phục, một tay cắm sâu vào vách đá ngập tới ba, bốn thốn, tay kia cầm nửa ống tiêu gãy, còn nửa ống tiêu phần còn lại thì bị đập nát vụn trên đá.
Trên người ông ta không có vết thương nào, thế nhưng ở khóe miệng bên môi, tơ máu rỉ ra liên miên, vạt áo trước cũng bị máu nhuộm đỏ một mảng lớn. Đồng thời, trên vách trong của ống tiêu vỡ nứt kia lại chi chít vết máu đỏ thẫm, trông giống như vừa được quét qua bằng máu tươi vậy.
Trong đầu Cao Hướng sấm sét vang rền, tức thì hiểu ra chuyện gì đã xảy ra. Tang, Liễu hai vị sư bá không biết vì lý do gì mà so tài cao thấp, mỗi người đem toàn bộ nội lực suốt đời quán chú vào âm vận tiêu tranh, một người gắng sức vung dây đàn đến mức đứt cả năm ngón tay, một người chân lực cạn kiệt phun máu tươi trào ra. Ngay vào lúc lưỡng bại câu thương này, đã bị kẻ ác ra tay hạ độc thủ.
Cảnh tượng này, đến cả Cao Hướng nằm mơ cũng chưa từng ngờ tới, thậm chí ngay cả Cửu Thiên Vân Long chắc chắn cũng không lường trước được. Trong chớp mắt, dường như mọi hy vọng đều tan thành mây khói, cả thế giới đều chìm vào nỗi khổ đau vô biên.
Cao Hướng ngẩn ngơ đứng ngây ra, qua một lúc lâu, trên má mới chậm rãi chảy xuống hai hàng lệ nóng, quỳ sụp xuống đất, nức nở nói: "Sư bá, đều tại chất nhi đến muộn một bước."
Chàng nghẹn ngào trong im lặng, tâm can trống rỗng không chủ kiến. Hồi lâu, hồi lâu sau, mới nghĩ đến chuyện thu xếp tàn cầm, thu dọn tiêu gãy, chôn cất di hài của hai vị sư bá song song với nhau.
Trước khi thi hài hạ thổ, chàng cắn răng rút thanh đoản kiếm từ trên người Liễu sư bá ra.
Đoản kiếm dài chưa tới sáu thốn, toàn thân ánh lên sắc vàng, chuôi kiếm khảm bảy viên bảo bối hình dáng giống chòm sao Bắc Đẩu, hóa ra lại là một vật vô cùng quý hiếm đúc bằng vàng ròng.
Cao Hướng lau sạch vết máu trên kiếm, cẩn thận đút vào túi da, quỳ gối trước mộ vừa khóc vừa khấn nguyện: "Có thanh kiếm này, đi khắp chân trời góc bể, chất nhi nhất định sẽ tìm ra hung thủ, báo thù cho hai vị lão nhân gia."
Băng tuyết ăn mòn da thịt, gió bắc thấu tận xương tủy. Cao Hướng vượt ngàn dặm đường xa đến Cáp Phong, thứ nhìn thấy chỉ là hai cỗ thi thể, thư từ của phụ thân vẫn còn trong ngực nhưng lại mất đi đối tượng để trao gửi.
Chàng nên làm thế nào đây?
Là canh giữ đỉnh núi đợi phụ thân? Hay là cứ thế quay về tái thượng Thanh Thành?
Trọn một ngày, Cao Hướng cứ đẫn dờ nhìn chằm chằm hai nấm mồ mới mà ngẩn ngơ, trầm tư về câu hỏi khó hiểu này.
Theo tâm nguyện trong lòng, tự nhiên chàng hận không thể lập tức trở về bên cạnh phụ thân, đem những chuyện gặp phải trên đường cùng quá trình xảy ra thảm biến Cáp Phong kể lại tường tận cho phụ thân nghe. Nhưng chàng nhớ lúc lên đường, phụ thân từng ân cần dặn dò: "Chưa được sự cho phép của sư bá thì không được quay về, sau khi cha xong việc sẽ đến đó tìm con."
Điều này khiến chàng chần chừ. Có lòng muốn về nhưng lại sợ lỡ mất nhau với phụ thân trên đường; nếu ở lại đỉnh núi chờ ngẩn ngơ thì lại chẳng biết phải đợi đến bao giờ.
Kiểm tra lương khô mang theo bên người, vẫn đủ dùng trong một ngày, trong động vách cũng còn dư lương thực năm sáu ngày nữa, thế là chàng đưa ra một quyết định. Lấy lượng thức ăn tồn trữ làm giới hạn, tạm thời canh giữ ở nơi này mấy ngày, sau khi lương khô cạn sạch mà phụ thân vẫn chưa tới thì chàng đành phải quay về Thanh Thành vậy.
Đêm hôm ấy, chàng ngồi tựa vách trong động vách trầm tư. Gió lạnh trên đỉnh núi gào thét như vượn hú chó sủa, núi vắng vang vọng khiến người ta lạnh sống lưng. Chàng vuốt ve thanh đoản kiếm trong ngực, suốt đêm gần như không chợp mắt, trong đầu lượn đi lượn lại suy nghĩ về mấy mối nghi ngờ. Tỉ như: Kẻ thù của phụ thân là ai? Vì sao đột nhiên bắt chàng đổi họ rời đi? Vì sao nhất định phải đến Tinh Túc Hải trong vòng mười ngày? Lúc lên đường phụ thân muốn nói lại thôi, lời lẽ thâm trầm, rốt cuộc có nỗi khổ tâm gì khó nói chăng?
Rất nhiều nghi vấn quanh quẩn trong đầu không dứt, cho đến khi trời hửng sáng mới chợp mắt được một lúc trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Đúng vào lúc này, bỗng có một tiếng đinh coang lanh lảnh truyền vào tai.
Cao Hướng sực tỉnh táo lại, dụi dụi mắt, nghiêng tai lắng nghe. Âm thanh đó thoạt nghe có vẻ vô cùng xa xôi, lại giống như ở ngay tấc gang, âm vận du dương lọt tai, tựa như có ai đang tấu lên một khúc nhạc vô cùng lay động lòng người.
Chàng từ nhỏ tinh thông âm luật, đột nhiên nghe thấy khúc nhạc thanh thoát phiêu diểu như tiên nhạc này giữa chốn núi vắng tiêu điều, tức thì nghi tâm đại khởi, trở mình nhảy dựng lên, thầm nghĩ trong lòng: "Là ai đang tấu lên khúc nhạc hay nhường này? Trên Cáp Phong lẽ nào còn ẩn giấu kỳ nhân nào khác?"
Nhưng ngay khi chàng chuẩn bị phân biệt kỹ nguồn gốc âm vận, bỗng nhiên tiếng đinh coang đó đột ngột im bặt.
Chuyện lạ, chuyện lạ!
Sự tò mò của Cao Hướng nổi lên, cơn buồn ngủ tiêu tan sạch sành sanh. Chàng vươn người vút khỏi động vách, đứng thẳng ở rìa đầm nước, ngẩng mắt đảo mắt nhìn quanh tìm kiếm.
Thế nhưng, chàng đã thất vọng rồi.
Trên đỉnh núi ngoài tiếng gió lạnh gào thét lướt qua, các dãy núi chìm vào tĩnh mịch như chết, đâu có mảy may cảnh tượng kỳ lạ nào?
Nhưng Cao Hướng không thừa nhận bản thân nghe nhầm hay tự sinh ảo giác, bởi vì chàng sống một mình trong thạch huyệt hậu sơn Thanh Thành trọn vẹn mười tám năm, những công phu khác thì không dám nhận, chứ ba loại mắt nhìn, tai nghe, tay nhanh này thì chàng tự tin bản thân đã đạt đến tạo nghệ cực thâm, tuyệt đối không phải người thường có thể sánh được. Trong núi không có người thứ hai, tại sao không ảo giác ra những âm thanh khác mà lại cứ là một khúc nhạc?
Chàng tung mình lướt đi, kiểm tra nhanh một lượt khắp đỉnh núi, thấy không có gì bất thường đành quay lại động vách, khoanh chân ngồi xếp bằng, rủ rèm nội liêm, thầm lặng tập trung tinh thần chú ý động tĩnh xung quanh.
Quả nhiên, chừng qua nửa canh giờ, tiếng đinh coang mơ hồ đó lại vang lên bên tai.
Cao Hướng hít đầy một ngụm chân khí, chậm rãi mở tròng mắt, tròng mắt đảo một vòng tròn, không thấy có người. Tập trung tinh thần phân biệt kỹ nguồn âm thanh, lại phát hiện khúc âm đó hình như phát ra từ một vết nứt vách núi cách đó hai trượng.
Chàng nhẹ nhàng đứng dậy, nhón chân men theo âm thanh áp sát lại. Khúc âm lúc gần lúc xa rất khó nắm bắt, lúc thì trầm đục chấn động tai, lúc thì lững lờ kéo dài từ xa tới, tựa như tiếng bước chân trong thung lũng vắng, phiêu miểu hư vô. Mãi mới bị chàng tìm đến gần vết nứt vách núi thì âm vận đột ngột dừng bứt, chỉ còn lại dư âm vương vấn không gian, khơi gợi tâm tư.
Lúc này gió đã ngừng, vạn vật tĩnh mịch, nguồn gốc khúc âm lại phiêu dạt mất tăm. Thế nhưng Cao Hướng không hề nản lòng, dứt khoát đứng sững chờ đợi ngay bên cạnh vết nứt vách núi.
Dần dần phía chân trời phương đông đã ánh lên một mảng màu xám trắng, núi non mập mờ. Lại qua nửa canh giờ nữa, sự việc quả nhiên không nằm ngoài phán đoán của chàng. Lần này, chàng nghe rất rõ tiếng khúc nhạc du dương rỉ ra từ trong vết nứt vách núi.
Cao Hướng võ nghệ cao cường gan dạ sáng suốt, lách người chui vào trong vết nứt.
Vết nứt vách núi đó rộng chỉ tầm thước, bắt buộc phải cẩn thận di chuyển chậm chạp giữa hai vách núi kẹp chặt mới có thể đi qua. Đi được mấy chục bước thì cảnh tượng bỗng nhiên thoáng đãng hẳn lên.
Thế động phía trước đột ngột mở rộng, dưới chân là một hàng bậc đá, men theo bậc đá đi xuống, rẽ sang phải là tới một huyệt động rộng rãi.
Huyệt động này bất kể là độ rộng hay hình thế đều vô cùng giống với thạch huyệt mà chàng đã ở suốt mười tám năm ở hậu sơn Thanh Thành. Chỉ có điều tầng dưới thạch huyệt tích nước thành đầm, mà trong động lại vô cùng ấm áp, nước đầm bốc hơi nghi ngút thành từng tầng hơi nước tựa sương mù, khiến cho toàn bộ huyệt động mờ ảo như ở trong phòng ấm. Mặt đầm nước lấp lánh ánh sóng, nước tuyết trên đỉnh núi thấm ngấm vào, giọt nước rơi vào trong đầm rồi lại được vách núi xung quanh vang vọng lại, tiếng đinh coang chính là được hình thành như vậy.
Nước trong lòng núi, nước nhỏ giọt tạo thành tiếng vốn chẳng có gì lạ, điều kỳ lạ là những giọt nước rơi xuống đầm nước đó có trật tự trước sau, không nhanh không chậm, trầm bổng du dương, vậy mà lại cấu thành một khúc nhạc hoàn mỹ không chê vào đâu được, nghe vào vui tai thành vần điệu, chẳng khác gì tiếng trời.
Cao Hướng đứng bên bờ đầm nước, tai nghe khúc âm, mắt thấy cảnh tượng kỳ lạ ngàn năm có một này, nhất thời ngây người ra mất một lúc.
Chỉ chừng thời gian cạn chén trà, âm vận uyển chuyển dừng lại, giọt nước trên đỉnh núi cũng rơi sạch. Cao Hướng chợt dâng trào cảm xúc, bừng tỉnh đại ngộ thầm nghĩ: "Đây chẳng phải là cùng một khúc phổ mà Tang, Liễu hai vị sư bá tấu trên đỉnh núi ban ngày sao? Hóa ra họ chọn nơi này để ẩn cư, ở liền mười mấy năm chính là vì nguyên nhân này."
Nửa canh giờ trôi qua, hơi nước ngưng tụ lại lần nữa, giọt nước lại rơi, thanh vần cất lên lần nữa, toàn bộ thạch huyệt tràn ngập âm vận dập dờn, vẫn là khúc điệu vừa rồi, không sai một ly.
Cao Hướng mừng rỡ khôn xiết, không kiềm chế được cởi chiếc thiết tranh sau vai ra, ngồi bệt xuống đất bên bờ đầm, gảy dây đàn hòa theo. Khúc điệu đó tựa như có một thứ ma lực thần bí khó tả, khiến chàng chìm đắm sâu vào trong đó.
Một khúc vừa dứt, cuồng hỉ khó nén, máu cuồn cuộn toàn thân, cơn buồn ngủ tiêu tan sạch. Ngẩng phắt đầu lên, lúc này mới phát hiện trên đỉnh thạch huyệt có người dùng Kim Cương Chỉ lực khắc bốn chữ lớn rồng bay phượng múa:
"Thiên Lại Chi Âm"!
Đúng vậy, cảnh tượng kỳ lạ như thế này, khúc nhạc tiên như thế này, hoàn toàn xứng đáng với hai chữ thiên lại. Cao Hướng vui mừng bước ra khỏi thạch huyệt, chuyển toàn bộ thức ăn đến bên bờ đầm, từ đó ngày đêm đắm chìm trong âm luật, suýt chút nữa quên cả thời gian trôi qua.
Không biết từ lúc nào, bảy ngày bảy đêm đã trôi qua trong thạch huyệt.
Cho đến ngày thứ tám, toàn bộ khúc phổ đã thuộc làu làu trong tâm trí, lúc này mới phát hiện lương khô cũng chẳng còn lại là bao.
Cao Hướng thỏa mãn ngửa mặt thở dài một hơi thật dài, thầm nghĩ: "Những ngày nay cắm cúi trong thạch huyệt, không biết phụ thân đã tới chưa?"
Chàng thu dọn túi đàn, bịn rịn bước ra khỏi thạch huyệt, quay về đỉnh núi nhìn một cái, không ngờ phần mộ của Tang, Liễu hai vị sư bá đã bị ai đó đào bới tung lên, hai cỗ thi thể đều vương vãi trên tuyết.
Cao Hướng kinh hãi chấn động, hoảng hốt thốt lên: "Ai làm chuyện này vậy? Lẽ nào ta ở trong thạch huyệt mấy ngày, phụ thân đã tới rồi, thấy ta không có ở đó nên lại đi rồi?"
Nghĩ đoạn lại lắc đầu nói: "Không, tuyệt đối không phải phụ thân, lão nhân gia sao lại đi đào mộ, vứt di hài hai vị sư bá tung tóe ngoài mộ chứ? Kẻ làm chuyện này nhất định là kẻ áo trắng che mặt đã gặp hôm đó, thật là đồ đáng ghét, chắc chắn là hắn quay lại lần nữa để kiểm tra xem hai vị sư bá có thực sự chết chưa."
Nghĩ tới đây, giận dữ từ tim trúng trào lên, chỉ hận không thể lập tức bắt lấy kẻ áo trắng che mặt đó đánh cho một trận nhừ tử để trút bỏ cục tức trong lòng.
Cao Hướng nén cục tức trong bụng, tu sửa lại huyệt mộ lần nữa, cẩn thận mai táng lại hai cỗ thi thể, một mình ngồi trên đỉnh núi, trong lòng có chút buồn rầu.
Trong bảy ngày này, tâm thần chàng hoàn toàn tập trung vào âm luật thiên lại, ăn rất ít, nhưng lương khô cũng sắp cạn sạch rồi, cứ tiếp tục đợi chờ không mục đích thế này nữa thì không thể được.
Đang lúc sầu muộn, bỗng trong lòng động tâm, thầm nghĩ: "Ta thật ngốc, phụ thân chẳng phải có để lại thư tín, bảo ta đưa tận tay hai vị sư bá sao? Trong thư nhất định có sự ủy thác sắp xếp về việc đi hay ở của ta, nay hai vị sư bá đều đã gặp độc thủ, chi bằng ta tháo thư ra xem thử."
Thế là chàng lấy thư từ trong hành trang ra, lật qua lật lại xem kỹ, thấy niêm phong thư vô cùng cẩn thận, đủ thấy phụ thân rất coi trọng bức thư này.
Cao Hướng mang tâm trạng phập phồng lo âu tháo chỗ dán phong thư ra, không ngờ rút giấy thư ra xem lại khiến chàng hít ngược một ngụm khí lạnh.
Hóa ra trong thư không có lấy một câu chữ hoàn chỉnh nào, trên toàn bộ tờ giấy thư chỉ viết lèo vèo mấy chữ đơn lẻ:
"Nguyệt ảnh họa chí thúc túc."
Vượt ngàn dặm đường xa, vội vã từ Thanh Thành đến Thanh Hải, mục đích rốt cuộc là để truyền đạt sáu chữ kỳ quái này sao? Cao Hướng ngẩn người không khỏi sững sờ.
Chàng xem đi xem lại kỹ lưỡng, chỉ thấy sáu chữ này chữ thì viết nghiêng, chữ thì đảo ngược, chữ thì nét bút không trọn vẹn, hoàn toàn khiến người ta không nhìn ra có ý nghĩa gì.
Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, bức thư thần bí này tuyệt đối không phải viết ra vô cớ, trong đó nhất định chứa đựng một nguyên nhân đặc biệt nào đó, chỉ là bản thân nhất thời đoán không ra mà thôi.
Cao Hướng vốn là người thông minh, thế nhưng vắt óc suy nghĩ trọn vẹn một ngày vẫn không giải được câu đố trong thư.
Một ngày trôi qua, chút lương khô ít ỏi duy nhất cũng đã ăn sạch. Không thể giải mã câu đố trong thư, cũng chẳng thấy bóng dáng phụ thân đâu. Từ ngày thứ chín, Cao Hướng hoàn toàn phải dựa vào việc ăn tuyết uống nước để qua ngày. Chàng là một người có ý chí kiên định, vẫn luôn tin rằng phụ thân nhất định sẽ tìm đến Tinh Túc Hải nên không muốn rời đi.
Đến ngày thứ mười, đói cất lửa đốt, đáng thương là toàn thân chàng đã bủn rủn vô lực.
Ngày hôm nay, màn đêm buông xuống dày đặc, mây đen u ám bao trùm, bầu trời tăm tối chẳng thấy ánh sao.
Cao Hướng đang ôm bức thư đó, nghiêng mình tựa vào vách động chợp mắt, trong mơ hồ dường như nghe thấy một tiếng động nhẹ nhàng từ dưới chân núi chậm rãi di chuyển lên trên.
Đêm yên tĩnh núi hoang, đâu ra tiếng bước chân? Cao Hướng đột ngột giật mình tỉnh giấc từ trong mơ. Ban đầu tưởng là phụ thân đã tìm đến Cáp Phong, phân định lại một chút mới phát hiện người đến hình như không chỉ có một.
Sự cảnh giác lập tức sinh ra, chàng vội nín thở nấp người trốn ra sau tảng đá lớn, phục sát đất đợi chờ.
Một lát sau, quả nhiên thấy hai bóng người cao thấp lén lút leo lên đỉnh núi, dừng thân lại trước phần mộ của Tang, Liễu hai vị sư bá.
Hai người đó một kẻ vóc dáng cường tráng, mặc một bộ đại bào màu đen, mặt che một chiếc khăn trắng; kẻ còn lại vóc dáng lùn tịt năm thước, mặc một chiếc áo ngắn vải xanh, mặt che khăn đen.
Hai người tung mình lên đỉnh núi, bốn đạo ánh mắt sắc như dao đảo qua quét lại một lượt sang hai bên. Kẻ vóc dáng cường tráng hắc hắc cười lạnh nói: "Nơi này đến quỷ cũng không có, sao lại có người được?"
Kẻ vóc dáng lùn tịt dán mắt vào phần mộ, lắc đầu nói: "Không, ngươi nhìn hai nấm mồ này xem, trên đỉnh núi nhất định có người."
Kẻ vóc dáng cường tráng hỏi: "Nấm mồ thì sao chứ?"
Kẻ lùn tịt đảo mắt nhìn tứ phía, âm trầm đáp: "Ba ngày trước, đại đại từng tự mình đến lục soát, mộ đã bị hắn đào bới lên, giả như trên đỉnh núi không có người, thì là ai đã chôn cất thi thể lại lần nữa?"
Kẻ vóc dáng cường tráng cười sảng khoái nói: "Cần gì phải hoài nghi bóng gió, trong cái chốn băng thiên tuyết địa thế này, một trận tuyết lớn thì thứ gì chẳng bị vùi lấp? Cứ cho là thực sự có người, lúc đại đại đến lục soát khắp đỉnh núi, sao lại không thấy chứ?"
Nói đoạn, tháo một cây xẻng tuyết từ thắt lưng xuống, tự nhún vai nói tiếp: "Mặc thây có người hay không có người, chúng ta cứ làm việc của chúng ta, sớm tìm được đồ vật, sớm quay về, cho dù có người ẩn nấp trên đỉnh núi thì dựa vào hai chúng ta cũng chẳng cần phải để vào mắt."
Hai người nói đến đây liền không mở miệng nữa, mỗi người cầm một cây xẻng tuyết, cắm cúi xúc đống tuyết trên mộ. Kẻ lùn tịt rõ ràng mang tâm địa đen tối, chốc chốc lại dừng lại ngó nghiêng xung quanh một hồi nhưng không lên tiếng nữa.
Cao Hướng phục sát đất sau tảng đá, tận mắt chứng kiến họ vung xẻng như bay, trong chớp mắt đã đào tung hai nấm mồ lên, thân thủ lanh lẹ đủ thấy đều không phải kẻ yếu.
Chàng sớm đã nén cục tức bực dọc trong người, lúc này thấy họ ngang nhiên đào mộ lục thi thể, không khỏi nổi giận. Nhưng ước lượng bản thân đang đói kém vô lực, hai quyền khó địch bốn tay, huống chi hai kẻ đó trên vai kiếm tuôn phất phới đều mang theo binh khí, tay không tấc sắt thì không nên lỗ mãng.
Mày nhíu lại, liền bốc một nắm hoa tuyết, nhắm chừng kẻ mặc áo bào đen vóc dáng cường tráng đứng cách xa hơn một chút, cổ tay khẽ hất, một chùm tuyết vụn đánh thẳng vào sau gáy hắn.
Kẻ áo đen ngẩng phắt đầu lên, lật tay tóm lại một chưởng hoa tuyết, không kìm được oán trách nói: "Lão Trần, xẻng hất thấp xuống chút, ngươi xem, hất đầy người ta cát tuyết rồi kìa."
Kẻ vóc dáng lùn tịt lão Trần chỉ ngẩn ngơ nhìn hắn một cái, vẫn cúi đầu vung xẻng xúc tuyết.
Cao Hướng lần thứ hai vung tay, một nắm tuyết vụn nhỏ lại vãi về phía đại hán áo đen.
Kẻ đó nghe tiếng quay đầu lại, lại đỡ được một nắm tuyết vụn, trong lòng cảm thấy vô cùng khó chịu, trừng mắt lườm lão Trần một cái, tức giận quay phắt người đổi hướng khác.
Ngay vào khoảnh khắc hắn xoay người quay đi, chùm tuyết vụn thứ ba bám sát theo sau lại tới.
Đại hán áo đen nổi trận lôi đình, vứt xẻng tuyết xuống, phắt tay tóm ngược ra phía sau, nào ngờ vừa chạm tay vào liền thấy lạnh buốt tê dại, tựa như có một vật lạnh ngắt cắm phập vào lòng bàn tay.
Hắn cúi đầu nhìn một cái, lông tóc toàn thân dựng ngược cả lên, hóa ra lòng bàn tay đã bị một thanh đoản kiếm sáng lóa ánh vàng đâm thủng, chuôi kiếm khảm vào lòng bàn tay, mũi kiếm đã đâm xuyên qua mu bàn tay lộ ra ngoài.
Sắc mặt đại hán áo đen đại biến, dùng sức hất tay một cái, vứt bỏ đoản kiếm, thất thanh kêu lên: "Lão Trần, không ổn..." Tiếng kêu chưa dứt, hai mắt trợn ngược, thân thể to lớn 'ầm' một tiếng ngã lăn xuống đất.
Lòng can đảm Cao Hướng tăng lên, quát lớn một tiếng, từ sau tảng đá lao vút ra, nhào thẳng tới tên vóc dáng lùn tịt.
Tên lùn lão Trần ứng biến lại nhạy bén ngoài dự liệu. Nghe tiếng kêu của đại hán áo đen mà đầu cũng chẳng thèm ngẩng lên, xẻng tuyết tay trái theo đà vung vẩy, tay phải đã nhanh nhẹn vô cùng rút trường kiếm sau vai ra. Kiếm vừa ra khỏi vỏ, ánh hồng kinh hãi phóng vút, chĩa thẳng vào hông Cao Hướng.
Cao Hướng tuyệt không ngờ thủ pháp của tên lùn lại kinh người như vậy, đà xông không phanh lại được, thân thể sượt qua mép kiếm, tiếng rách lụa 'xoèn xoẹt' vang lên, sườn hông đã bị mũi kiếm rạch rách một đường máu toác cả da thịt.
Vết thương ngoài da chẳng những không khiến chàng chùn bước, ngược lại còn kích thích đầy bụng nộ khí. Mũi chân điểm đất, xoay người một cái, song chưởng đồng thời phóng ra, một chưởng đánh vào kiếm, một chưởng công kích người.
Chàng vốn không biết chưởng chiêu kiếm pháp, cho nên ra tay hoàn toàn không có quy tắc thông thường để lần theo. Hai chưởng giận dữ đánh ra chỉ là kình đầy lực đủ, nắm bắt lấy chữ 'nhanh'. Mũi kiếm tên lùn vừa rách da thịt chàng thì song chưởng của chàng đã công kích đến đỉnh đầu tên lùn.
Tên lùn chợt tung một chiêu 'phượng điểm đầu', mũi kiếm chìm nhanh xuống, né chiêu định lùi lại. Nào ngờ thế chưởng của Cao Hướng bám sát theo đà chìm xuống dưới, tuy hắn né được yếu hại trên đầu nhưng trên vai trái vẫn bị kình lực của Cao Hướng quét trúng.
Bóng người vừa hợp lại tách ra, tên lùn lùi liền ba bước, hoa mắt đom đóm bay loạn xạ, suýt chút nữa đứng không vững.
Cao Hướng mặc kệ cả vết thương, dưới chân bước chéo một bước, nhanh như điện chớp đứng phắt dậy xông lên, quát: "Pha phu, thưa khăn che mặt xuống, để đại gia xem ngươi là ai!" Tiếng nói phát ra người tới nơi, thò tay kéo phắt chiếc khăn che mặt của kẻ đó.
Tên lùn thấy Cao Hướng dũng mãnh tựa mãnh thú xông trận, sắc bén không gì cản nổi, vội vàng nghiêng người né ngang, trường kiếm trong tay chém thốc thẳng xéo qua ngực, lại lùi ra ba bốn bước.
Hắn lùi lại một bước, phắt tay lấy từ trong ngực ra một vật giơ cao qua đỉnh đầu, ấn vận cơ nữu, 'vù' một tiếng kêu khẽ phát ra, phóng ra một đạo ánh sáng chói lóa rồi tắt lịm trong chớp mắt.
Cao Hướng vừa định lao tới, thân hình vừa cử động, hai mắt lập tức bị ánh sáng chói lóa làm cho lóa mắt, trước mắt toàn là một tầng tầng vòng sáng chớp giật, chẳng nhìn thấy gì cả. Thoáng chớp mắt, bên tai lại vang lên tiếng kiếm phong rẽ không khí tập kích ập tới.
Nếu đổi lại là người khác, lúc này tầm mắt vì ánh sáng mạnh chiếu vào mà mất phương hướng, mù tịt như kẻ mù, tự nhiên muôn vàn khó khăn mới tránh né được.
Nhưng Cao Hướng từ nhỏ lớn lên trong thạch huyệt hậu sơn Thanh Thành, quanh năm sống và sinh hoạt trong bóng tối, cho dù không dùng mắt thì cũng có thể nghe tiếng phân biệt vị trí, y như tận mắt nhìn thấy vậy.
Chàng dứt khoát nhắm nghiền hai mắt, đợi trường kiếm của tên lùn đã áp sát người, bỗng nhiên hai vai nghiêng xéo, hông vặn một cái, thân mình tựa cá lội nước, vậy mà lại xuyên qua dưới kiếm mang. Đồng thời quát lớn một tiếng, một tay tóm lấy sườn hông tên lùn, dùng sức giật mạnh.
Tiếng rách lụa 'xoạt' một tiếng vang lên, chỉ nghe tên lùn phát ra một tiếng kêu dài thê thảm tuyệt luân, tung người giữa không trung, bay vút xuống dưới chân núi.
Đỉnh núi chìm vào tĩnh mịch trở lại.
Cao Hướng chậm rãi mở to mắt, bóng dáng tên lùn và đại hán áo đen đã không còn thấy nữa, trên tuyết ngoài hai cái hố lớn ra thì tất cả đều tựa như một giấc mộng.
Chàng cúi đầu xuống, lòng bàn tay đẫm máu, nắm chặt một mớ vạt áo rách và da thịt. Còn vạt áo bên hông bản thân đã bị máu tươi nhuộm đỏ một mảng lớn, vết thương đang nhức nhối nóng rát, rõ ràng tên lùn bị thương cực nặng, bản thân chàng cũng bị thương không nhẹ.
Vết thương do kiếm chàng không bận tâm lắm, thế nhưng tận mắt thấy di hài hai vị sư bá lại lần nữa phơi bày trên đỉnh núi lại khiến trong lòng chàng dâng lên từng trận nhói đau. Chàng thở dài một tiếng, vứt bỏ mảnh áo rách trong tay, cúi người bưng hai cỗ thi thể ra khỏi huyệt mộ, nhặt lại đoản kiếm, cắt một góc áo qua loa băng bó vết thương rồi ngã ngồi xuống dưới vách đá trầm tư.
Những sự việc diễn ra trước mắt có rất nhiều điều chàng không tài nào đoán ra nổi. Phụ thân hạn định mười ngày phải đến, bản thân vừa đặt chân lên lưng chừng núi liền gặp phải thảm biến. Thân phận kẻ áo trắng che mặt đã đủ thần bí rồi, vì sao sau khi hai vị sư bá qua đời còn liên tiếp rước những kẻ võ lâm che mặt này đến đào mộ lục lọi?
Họ có phải đồng bọn của kẻ áo trắng che mặt không? Lại lén lút đến lục lọi hết lần này đến lần khác thế này, thứ muốn tìm rốt cuộc là gì? Những kẻ này tại sao không đến sớm, không đến muộn, mà cứ nhằm đúng lúc sau thảm biến xảy ra để liên tiếp xuất hiện chứ?
Mối nghi ngờ khiến người ta khó đoán, thế nhưng có một điểm lại có thể khẳng định, đó chính là những biến cố này dường như sớm nằm trong dự liệu của phụ thân Cửu Thiên Vân Long, bằng không thì ông sẽ không hạn định cho bản thân phải đến trong vòng mười ngày, mà những biến cố này lại vừa khéo xảy ra sau thời hạn mười ngày.
Nói như vậy, phụ thân sớm đã biết nơi này sẽ xảy ra tai họa rồi.
Bỗng nhiên, một tia sáng lóe lên trong đầu Cao Hướng, vội vàng lấy bức thư đó ra, mở giấy thư xem kỹ, kinh hãi kêu lên: "Đúng rồi, đúng rồi, phụ thân viết chữ họa nằm ngang, chẳng lẽ chính là ngụ ý tai họa bất ngờ sao?"
Chàng bẩm sinh thông tuệ, suy một ra ba, bỗng nhiên lại lĩnh ngộ được chữ nguyệt viết nghiêng và chữ ảnh viết ngược thứ hai.
Chiếu theo ẩn ý tai họa bất ngờ để suy đoán, nguyệt nghiêng ảnh đảo chẳng phải là hai hàm ý trăng nghiêng, bóng ngược hay sao?
Thế nhưng, trăng nghiêng bóng ngược lại đại diện cho ý nghĩa gì? Đồng thời, mấy chữ 'hữu chí thúc túc' khác trong thư cũng rất khó nghĩ ra đáp án hợp lý.
Cao Hướng vừa giải được câu đố, thần tư chìm đắm, kiên trì không bỏ, chắp tay đi đi lại lại trầm ngâm, chốc chốc lại ngẩng đầu nhìn trời, đăm đăm nhìn bầu trời đêm. Thứ có thể nhìn thấy chỉ là những tầng mây dày đặc bao trùm thấp thoáng, đến cả một tia ánh sao cũng không có, huống chi là trăng nghiêng với bóng ngược.
Chàng ngồi trên tảng đá lớn đỉnh núi, tâm triều muôn vàn mối tơ vò, vắt óc không tài nào thấu hiểu được huyền cơ. Chàng trước tiên vẽ trăng nghiêng, bóng ngược trên tuyết thành hình vẽ, muốn từ hai chữ 'nguyệt ảnh' để cảm nhận một khung cảnh khác, kết quả lại thất vọng.
Chàng lại giả thiết: Đã gọi là bóng ngược thì nhất định là cảnh tượng ảo được phản chiếu chiếu xạ, rất có khả năng là ám chỉ một nơi nào đó? Hoặc một món đồ nào đó. Tỉ như nơi nào có nước, mặt nước phản chiếu ánh trăng chẳng phải chính là bóng ngược hay sao? Giống như Tinh Túc Hải ở gần đây chẳng hạn.
Càng nghĩ càng rối tung, dòng suy nghĩ bay bổng, cuối cùng đành phải xóa sạch những ý niệm trong đầu đi.
Trong chớp mắt, một đêm lại trôi qua, trời dần hửng sáng.
Cao Hướng đói lả liên tục ba ngày, ruột gan cồn cào khó chịu vô cùng, nuốt mấy ngụm nước tuyết chẳng những không thể chống đói mà ngược lại còn khiến dạ dày cuộn trào, cơn đói càng thêm dữ dội. Thế nhưng vì trong lòng vẫn luôn suy nghĩ về câu đố trên thư tín, chàng đành nén cơn đói, nhặt hai viên đá nhọn cặm cụi khắc mấy chữ kỳ quái đó trên tuyết, khắc rồi xóa, xóa rồi khắc, thậm chí đến cả vết thương cũng quên mất.
Trong thư ngoài ba chữ nguyệt nghiêng, bóng ngược, tai họa bất ngờ đã láng mang manh mối thì ba chữ còn lại là chí thúc túc.
Chàng trước tiên ghép chữ 'chí' và chữ 'thúc' lại với nhau, thấy không giống một chữ nào, lại ghép chữ 'thúc' và chữ 'túc' lại, vừa khéo thành chữ 'tốc'.
Bỗng nhiên, trong lòng chấn động, thốt lên: "Đúng rồi, chữ tốc tách làm hai, chẳng lẽ ngụ ý mau rời đi sao?"
Nghĩ đến đây liền thông suốt ngay lập tức, thầm nghĩ: "Cái chữ 'chí' đó liền ngay dưới chữ 'họa', chí đến chữ chí nét bút chưa trọn vẹn, chẳng phải chính là ý sắp sửa xảy ra sao!"
Nói như vậy, trăng nghiêng và bóng ngược nhất định chỉ một khoảng thời gian, mà khoảng thời gian đó, tất nhiên chính là thời hạn mười ngày mà phụ thân Cửu Thiên Vân Long hạn định bắt buộc chàng phải đến Tinh Túc Hải. Chàng nhớ lại lúc đến Cáp Phong đã được mười hai mươi ba ngày, hiện nay đúng lúc rằm, lại ngược lên trên mười hai ngày, vừa vặn rơi vào mùng ba mươi đầu tháng.
Đầu tháng, trăng non như mày ngài, lại đúng lúc thượng huyền, chẳng phải là lời giải thích tuyệt diệu nhất cho trăng nghiêng bóng ngược sao?
Vậy thì tổng hợp toàn bộ bức thư, ý nghĩa ẩn giấu đó nên là: "Khi trăng nghiêng bóng ngược, tai họa sắp tới, mau rời đi."
À, đây là một bức thư cảnh báo khẩn cấp mười phần, thảo nào phụ thân dặn đi dặn lại bảo bản thân trong vòng mười ngày bắt buộc phải vội vã chạy đến.
Cao Hướng giải thấu toàn bộ ý nghĩa, trong lòng càng thêm kinh nghi, thầm nghĩ: "Phụ thân đã sớm biết nơi này sẽ xảy ra tai họa, tại sao lại tự mình đi đường xa đến nương nhờ Tang, Liễu hai vị sư bá? Tại sao lại nói sau khi xong việc còn đến Tinh Túc Hải thăm ta? Những lời này, lẽ nào toàn là lừa ta sao?"
Tình cảm của chàng đối với phụ thân vô cùng sâu đậm, hai cha con nương tựa vào nhau sống qua ngày hơn mười năm, theo lý mà nói phụ thân tuyệt đối sẽ không lừa gạt mình. Thế nhưng, nhớ lại lúc lên đường, phụ thân bắt chàng tấu khúc Quan Sơn Nguyệt cùng với trạng thái tâm thần bất định lại khiến chàng không thể không tin rằng đó là hành động bi thương mang ý nghĩa sinh ly tử biệt.
Lại nghĩ đến việc canh chừng cô độc trên Cáp Phong gần nửa tháng, bặt vô âm tín phụ thân, không thấy đến nơi, Cao Hướng nhảy phắt dậy, vung tay hất văng hòn đá nhọn, quả quyết tự lẩm bẩm: "Không được, ta phải lập tức quay về xem thế nào."
Lòng đã rối, lương đã cạn, thực sự cũng không thể ở lại Cáp Phong được nữa. Vì lo sợ sẽ lại có nhân vật võ lâm đến đào trộm mộ, chàng dùng tuyết lấp đầy hố mộ, ôm hai cỗ thi thể vào trong thạch huyệt, an trí bên cạnh đầm nước Thiên Lại Chi Âm.
Sau đó, bịt kín vết nứt vách núi, rớt nước mắt bái ba lạy, mang theo đầy mình trọng thương và đói khát rời khỏi ngọn núi Cáp Đạt Tố Tề bị băng tuyết bao phủ.
Chiều tà bốn phía buông xuống, khói lạnh ngập tràn đồng hoang.
Ánh chiều tà sắc vàng rọi lên sườn núi phía tây một mảng đỏ rực kiều diễm. Dưới ánh hoàng hôn sót lại, một bóng người lững thững cô độc chậm rãi men theo con đường nhỏ bằng bùn bước về phía một ngôi nhà tranh.
Kẻ đó quần áo rách rưới, vai mang một chiếc túi da hình dài, thắt lưng bị máu tươi nhuộm ướt đẫm một mảng lớn. Kẻ đó chính là Cao Hướng rời khỏi đỉnh Cáp Đạt Tố Tề vội vã quay về Thanh Thành.
Mùa xuân đầu ở xứ Khang, sáng tối vẫn mang theo cái lạnh đậm đặc, thế nhưng Cao Hướng bước đi khó nhọc đến trước ngôi nhà tranh, trên trán lại túa ra từng hạt mồ hôi to bằng hạt đậu.
Chàng vịn hàng rào, thở dốc chốc lát, giơ bàn tay vô lực khẽ gõ hai cái lên hàng rào, gọi: "Xin hỏi... có ai... không?"
Phía sau hàng rào là một bãi trống, một thiếu nữ mặc áo ngắn vải xanh, tết hai bím tóc đen sì đang cho gà ăn trước nhà tranh. Nghe tiếng gọi, đôi mắt đẹp ngẩng lên liếc ra ngoài hàng rào trúc một cái rồi quay phắt người chạy vụt vào trong nhà.
Trên chiếc ghế tre ở gian chính nhà tranh có một vị lão nhân mù tóc bạc phơ chừng bảy mươi tuổi đang thảnh thơi hút thuốc lào. Thiếu nữ chạy hộc tốc vào nhà, hốt hoảng nói: "Gia gia, gia gia, không xong rồi, có người tìm đến tận cửa rồi..."
Lão nhân tóc bạc chấn động mạnh, dài người đứng phắt dậy từ ghế tre, ngạc nhiên hỏi: "A Viện, là ai vậy?"
Thiếu nữ lắc đầu nói: "Con không biết, cách hàng rào chỉ thấy là một người đàn ông."
Lão nhân tóc bạc thở dài một tiếng, trách móc: "Con bé ngốc này, làm hồng hộc khiến gia gia giật mình thót tim. Có lẽ là Triệu lão đại ở thôn sau mang gà đến cho chúng ta đấy, sao không mau đi mở cửa."
Tròng mắt thiếu nữ đảo liên hồi, vẻ mặt nghiêm nghị nói: "Gia gia, con nhìn kỹ rồi. Không phải Triệu lão đại đâu, là một người đàn ông xa lạ, trên quần áo còn có vết máu đỏ đỏ nữa."
Lão nhân tóc bạc toàn thân chấn động, kinh ngạc nói: "Cái gì? Trên người có vết máu á?"
"Đúng vậy, tuy nhìn không rõ lắm nhưng trông anh ta có vẻ yếu ớt không chút sức lực, tám phần là mang trọng thương trong người."
Con ngươi lão nhân đảo loạn xạ một trận, tiện tay dập tắt tẩu thuốc lào, trầm ngâm nói: "Thế thì phiền phức rồi, ngặt nỗi cha mẹ con đều không có nhà, nếu như..."
Chợt lại hừ lạnh một tiếng nặng nề, tiếp lời: "Mặc kệ hắn là ai, phúc thì không phải họa, họa thì tránh không khỏi. A Viện, con đi lấy Cửu Hưởng Đao của gia gia ra đây."
Thiếu nữ không kìm được lùi lại một bước, xoay người tháo một thanh Cửu Hoàn Đao dày lưng dính đầy bụi bẩn trên tường xuống, run lẩy bẩy ôm tới, thấp giọng nói: "Gia gia, người muốn giết người sao?"
Lão nhân giơ tay khua khoắng nhận lấy vỏ đao, 'sẹc' một tiếng rút đao ra khỏi vỏ, một luồng ánh sáng chói lóa muốn hoa cả mắt, thân đao trong vắt như nước, hóa ra lại là một thanh thần binh.
Lão nhân mù khẽ vuốt ve thân đao, thịt trên mặt giật giật không ngừng, cười lạnh nói: "Kẻ đến không có ý tốt, có ý tốt thì không đến. Họ Cốc tuy mắt mù nhưng một thân công lực chưa từng bỏ bê. A Viện, đi mở cửa đi, gia gia tạm thời ở trong chỗ tối nghe xem khẩu khí của hắn thế nào đã."
Thiếu nữ trông có vẻ chần chừ, cúi đầu nói: "Gia gia... con... con hơi sợ..."
Lão nhân mù trầm giọng nói: "Sợ cái gì, Trảm Long Đao pháp gia gia dạy con vứt đi đâu rồi?"
Thiếu nữ lắc đầu nói: "Không, không phải... nhưng... nhưng... anh ta là đàn ông mà..."
Lão nhân phì cười nói: "Đàn ông thì sao chứ, gia gia và cha con chẳng lẽ không phải đàn ông sao, sợ hắn ăn thịt con chắc. Cứ yên tâm lớn gan mà ra đi, gia gia ở ngay sau cửa phòng ngủ bên phải đây, nếu có gió thổi cỏ lay gì, ta cho hắn đến mà không về được."
Lão nhân nói xong liền xách đao bước lùi vào phòng bên phải. Thiếu nữ ấp úng hồi lâu mới kéo kéo vạt áo, đi đến bên cửa hàng rào trúc.
Hàng rào mở ra, thiếu nữ không khỏi ngẩn ngơ, hóa ra Cao Hướng đã tựa người ngồi ngoài hàng rào, một tay ấn lên thắt lưng, sắc mặt tái nhợt, mồ hôi lạnh trên trán cuồn cuộn túa ra.
Chàng ngẩng đầu nhìn thấy người ra mở cửa lại là một thiếu nữ mười mấy tuổi, vội vàng chật vật đứng dậy, chắp tay hành lễ nói: "Quấy rầy cô nương, tại hạ đi ngang qua nơi này... dọc đường không thấy bóng người nhà..."
Thiếu nữ ngạc nhiên hỏi: "Ngươi từ đâu tới? Muốn đi đâu? Sao lại chỉ có một mình thế này?"
Cao Hướng thở dốc nói: "Tại hạ từ Tinh Túc Hải tới, muốn về Thanh Thành, đi bộ ba ngày nay dọc đường không thấy bóng người, đói mệt đan xen nên mới mạo muội quấy rầy cô nương, chỉ cầu một bữa no, lúc đi nguyện dâng tạ ơn dày."
Thiếu nữ đồng tình gật đầu, mở cửa nhường đường nói: "Ngươi còn trụ vững được không, tự vào được không?"
Cao Hướng gật đầu, gắng gượng nạp một ngụm chân khí, chậm rãi cất bước bước vào hàng rào trúc.
Thiếu nữ đó muốn vươn tay đỡ chàng, chợt mặt đỏ lên lại rụt về, khép cửa hàng rào lại, vừa dẫn Cao Hướng đi về phía nhà tranh vừa hỏi: "Trên người ngươi sao lại có nhiều máu thế?"
Cao Hướng cười khổ đáp: "Không giấu gì cô nương, ba ngày trước giao thủ với người ta ở Tinh Túc Hải, bị thương chút ít."
Thiếu nữ vội vàng lùi bước nói: "Ngươi... ngươi biết võ công à?"
Cao Hướng gật đầu nói: "Phụ thân và hai vị sư bá của tại hạ đều là người trong võ lâm."
Thiếu nữ mày liễu khẽ nhíu, nhưng không hỏi thêm nữa, hai người trước sau bước vào nhà tranh.
Cao Hướng vừa bước một chân vào nhà, chợt hơi cảm thấy kinh ngạc, liền hỏi: "Phủ trên của cô nương còn có những ai?"
Thiếu nữ thản nhiên đáp: "Cha và mẹ ta đều có việc ra ngoài rồi, trong nhà chỉ có một mình ta."
Cao Hướng nghe vậy, vội vàng rụt người lùi ra ngoài cửa, ngồi bệt xuống đất cạnh cửa, nói: "Đã vậy, tại đây ta xin nghỉ chân tạm chốc lát."
Thiếu nữ ngạc nhiên hỏi: "Sao không vào nhà nghỉ ngơi?"
Cao Hướng đáp: "Lệnh tôn, lệnh đường đều không có nhà, cô nương là con nhà khuê các, có nhiều bề không tiện."
Gò má thiếu nữ đột nhiên ửng lên hai đóa mây đỏ, cúi đầu chạy vào nhà tranh, thẳng xuống bếp, khẽ xoa gò má, trái tim thiếu nữ vẫn còn đập loạn nhịp như nai con, thầm nghĩ: "Người này khiêm cung biết lễ nghĩa, không giống kẻ tới gây thù chuốc oán, chỉ mong lão gia tử đừng vội vàng ra tay thì tốt."
Nàng múc đầy một bát lớn cơm thức ăn trong chạn, lại sợ cơm thức ăn quá lạnh, không thích hợp cho người thể lực suy nhược dùng, bèn hâm nóng lại nửa nồi canh, lúc này mới bưng ra hết.
Nhưng khi nàng quay lại trước cửa gian chính, vừa vặn trông thấy Cao Hướng đã cứng đờ nằm gục bên mép cửa, hai mắt nhắm nghiền, vạt áo bên hông lỏng lẻo, để lộ vết thương dài nửa thước gần vùng sườn, máu tươi đang ứa rỉ ra.
Thiếu nữ hoảng sợ kinh hãi, tay lỏng ra, tiếng leng keng giòn giã vang lên, cơm canh đều rơi vãi xuống đất, thất thanh kêu lên: "Công tử, huynh sao thế?"
Cao Hướng cứng đờ không động đậy, hàm răng trắng ngần cắn chặt môi dưới.
Thiếu nữ thò tay thử ở chóp mũi hắn, cảm thấy vẫn còn một tia hơi thở thoi thóp, lập tức lớn tiếng gọi: "Lão gia tử, lão gia tử, mau tới đây..."
Lão già mù tay xách ngược cửu hoàn đao, vội vã chạy ra, trầm giọng hỏi: "Thế nào? Đã chế phục được chưa?"
Thiếu nữ thọc hai tay vào hai bên sườn Cao Hướng, nửa kéo nửa ôm, đỡ hắn vào trong nhà, đặt ngồi lên ghế trúc, thở hổn hển nói: "Lão gia tử, người này không phải kẻ thù của chúng ta, hắn nhịn đói ba ngày, lại bị trọng thương, ngài mau lấy thuốc thương tích ra dùng đi."
Lão già mù lạnh lùng nói: "Khoan đã, con vốn chưa tra cứu kỹ lai lịch của hắn, sao biết không phải kẻ thù?"
Thiếu nữ sốt ruột nói: "Người ta đã hỏi rồi mà, hắn từ Tinh Túc Hải tới, muốn về Thanh Thành, đi bộ ba ngày không ăn uống, trên người lại mang thương tích, đói rét giáp lai, nên mới..."
Lão già mù giơ tay chặn ngang lời nàng, hỏi: "Hắn nói muốn về Thanh Thành, có nhắc tới họ tên gì không?"
Thiếu nữ đáp: "Ai mà biết được? Vẫn chưa kịp hỏi kỹ, hắn đã..."
Lão già mù trầm ngâm một lát, lại hỏi: "Trông hắn khoảng bao nhiêu tuổi?"
"Khoảng chưa tới hai mươi tuổi."
"Bên người có mang theo binh nhận đao kiếm gì không?"
"Không có."
"Bị thương ở chỗ nào?"
"Ở bên dưới mạn sườn trái, cạnh huyệt Đại Hoành."
"Lục soát xem trên người hắn có mang theo những thứ gì?"
Thiếu nữ không kiên nhẫn nói: "Gia gia, người bị làm sao thế? Hắn bị thương nặng sắp chết, cứu người như cứu lửa, sao lại thế này."
Sắc mặt lão già mù trầm xuống, nói: "Nghe lời gia gia, lục soát trên người hắn đi."
Thiếu nữ đành chịu, đành phải cởi áo ngoài của Cao Hướng ra, đập vào mắt đầu tiên là một bọc hành lý nặng trĩu.
Nàng tháo bọc hành lý ra, cúi đầu nhìn, tức thì kinh hô thành tiếng.
Lão già mù vội hỏi: "A Viện, là cái gì?"
Thiếu nữ đáp: "Một bức thư, một thanh đoản kiếm, một bức họa, còn có rất nhiều châu báu lá vàng, a, hắn mang theo ngần ấy châu báu có giá trị để làm gì?"
Lão già mù lạnh lùng hừ một tiếng: "Tuổi còn trẻ mà mang theo châu báu bên mình, không phải kẻ quen hái hoa thì cũng là tên cướp cạn đánh nhà cướp của. A Viện, đọc bức thư đó cho gia gia nghe."
Thiếu nữ ngỡ ngàng nói: "Lão gia tử, chúng ta sao lại có thể lén xem thư riêng của người ta?"
Sắc mặt lão già mù trầm xuống, nói: "Ta bảo đọc thì con đọc, mặc kệ nó là thư công hay thư tư."
Thiếu nữ ngoan ngoãn rút tờ giấy thư ra, lật qua lật lại xem hồi lâu, vẫn chưa lên tiếng.
Lão già mù đợi đến sốt ruột, trầm giọng nói: "Trên thư viết gì thế, sao không mau đọc?"
Thiếu nữ nói: "Lạ thật, trong thư không có một câu nào, chỉ có mấy chữ kì quái."
Sắc mặt lão già mù chấn động, quát: "Mấy chữ thế nào?"
Thiếu nữ nhíu mày đáp: "Chữ thứ nhất là chữ Nguyệt, nghiêng mà không thẳng; chữ thứ hai là chữ Ảnh, lại viết ngược; chữ thứ ba..."
Lão già mù vừa nghe đến đây, sắc mặt chợt biến đổi lớn, "cốp" một tiếng, thanh cửu hoàn đao trong tay đã rơi xuống đất.
Chỉ thấy đôi tròng mắt trắng dã của lão đảo cuồng cuồng, lầm bầm lầu bầu: "Nguyệt nghiêng... ảnh ngược... a, A Viện, mau nói tiếp đi, bên dưới còn có gì..."
Thiếu nữ chớp chớp mắt, ngơ ngác nhìn lão, rồi từng chữ từng chữ miêu tả lại theo bức thư.
Lão già mù nghe xong, sắc mặt trắng bệch, mồ hôi hột to bằng hạt đậu từ khóe trán lăn tã xuống, ngửa đầu lẩm bẩm: "Nguyệt nghiêng ảnh ngược, tai họa sắp tới, mau chóng rời đi... a, hóa ra là hắn, hóa ra là hắn."
Thiếu nữ kinh ngạc hỏi: "Lão gia tử, sao ngài lại hiểu được ý nghĩa trong bức thư này?"
Thần sắc lão già mù vô cùng kích động, không trả lời câu hỏi của nàng, ngược lại hỏi dồn: "Hắn... bên người có mang theo một cây cổ tranh không?"
Thiếu nữ giật mình: "Đúng vậy, lão gia tử, sau lưng hắn có một chiếc bao da, trong bao chính là một cây cổ tranh."
Lão già mù vươn một tay ra, nói: "Lấy ra đây cho ta."
Thiếu nữ kinh nghi bất định, nhẹ nhàng lấy chiếc thiết tranh ra, đưa cho lão già mù. Lão đưa hai tay run rẩy đón lấy, mười đầu ngón tay run lẩy bẩy, khẽ gảy dây tranh, gảy nhẹ hai cái, tiếng đàn tì tùy chấn động cả nhà tranh.
Giữa tiếng đàn dư âm văng vẳng, lão già mù ngửa mặt dài thở dài, hai hàng nước mắt trong suốt lăn dài dọc gò má thấm đẫm vạt áo.
Thiếu nữ đứng xem há hốc mồm, hồi lâu mới khẽ hỏi: "Lão gia tử, ngài... sao lại khóc?"
Lão già mù lắc đầu, nước mắt càng trào ra như chuỗi ngọc đứt đoạn, đáp không đúng câu hỏi: "Hai mươi năm rồi, hai mươi năm không nghe tiếng tranh, nhất thời suýt chút nữa không phân biệt nổi nữa!"
Thiếu nữ chợt cũng thấy cay sống mũi, dịu dàng gọi: "Lão gia tử..."
Lão già mù mơn trớn thân tranh, thê thiết nói tiếp: "Hắn vốn xưa nay đàn không rời người, người không rời đàn, nay sao lại đột nhiên truyền cho kẻ khác, chẳng lẽ..."
Tiếng nói chợt bặt dừng, ngừng lại một lát, nghiêng đầu quát khẽ: "A Viện, đi lấy chiếc hộp thuốc gỗ đỏ ở đầu giường ta ra đây."
Thiếu nữ vừa kinh vừa mừng nói: "Lão gia tử, ngài muốn dùng Kim Lộ Hoàn!"
Lão già mù thở dài một tiếng, nói: "Dù có tiêu sạch hết mọi trân dược trên đời này, chúng ta cũng phải cứu hắn."