Hấp Huyết Quỷ Đích Cố Sự

Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Hai
Của Phần Mở Đầu

❊ ❊ ❊

Sau nhiều năm cai trị đất nước, Vikram - vị anh hùng ấy mới phát hiện ra rằng, bản thân mình đã là một người đàn ông trung niên điềm tĩnh ở độ tuổi ba mươi. Ông có vài người con trai ở Ấn Độ và không có con gái. Ông rất mực yêu thương tất cả các con, tất nhiên là trừ người con trưởng ra. Người ta đồn rằng, người thanh niên này sắp sửa là người thừa kế vương vị, lời nói và hành động của cậu ta đều mang phong thái vương giả. Nhưng trên thực tế, quốc quân chưa từng suy nghĩ về vấn đề ai sẽ thừa kế vương vị. Chỉ có điều, có một lần Vikram chợt nảy ra một suy nghĩ: "Ta nhất định phải đi đến những đất nước mà ta từng nghe nói tới khi ta còn sống." Thế nhưng, trên thực tế, ông đóng giả làm gián điệp để đến tất cả các nước địch thăm dò hư thực, tìm ra phương pháp tốt nhất để đối phó với những kẻ địch hùng mạnh đó. Bây giờ chúng ta đã biết, Bhartrihari đã trở thành quốc vương của nước Ujjain như thế nào.

Anh hùng Vikram đã quyết định giao giang sơn của mình cho vương tử Bhartrihari cai trị, còn bản thân ông thì cải trang thành một kẻ khất thực trong giới tu hành, được người con trai thứ hai là Tihama-Tiwai đi cùng, người con thứ hai lúc đó chỉ mới mười mấy tuổi. Từ đó, ông bắt đầu cuộc sống "khất thực", đi qua từng thành phố này đến thành phố khác, băng qua từng khu rừng này đến khu rừng khác.

Bhartrihari mắc chứng bệnh trầm uất, bởi vì khi còn trẻ, ông đã mất đi một người vợ vô cùng trung trinh. Câu chuyện là thế này: Một ngày nọ khi đi săn ngoài thành, ông nhìn thấy một giàn hỏa táng thiêu người chết, trên giàn hỏa táng ấy, vợ của một vị tướng sĩ Bà-la-môn đã cùng người chồng đã khuất hỏa táng chung. Trở về sau, ông đã kể chuyện này cho người vợ của mình là Sita Rani nghe. Vợ ông lập tức giải thích rằng, người vợ trung trinh vì muốn bày tỏ tình yêu kiên trinh đối với chồng mà phải tuẫn táng, nàng bị ngọn lửa đau thương thiêu đốt chứ không đơn thuần chỉ là ngọn lửa trên giàn thiêu kia. Để chứng minh lời vợ nói, vị vương tử trẻ tuổi sau khi ân cần và lưu luyến từ giả vợ, đã quất ngựa vãng lai đi xa. Không lâu sau, các quan tùy tùng mang về chiếc áo choàng dính đầy vết bẩn của ông và báo tin tử vong của ông. Sita lập tức tuẫn tình tại chỗ, trong một khoảng thời gian, người góa phụ này vô cùng đau đớn.

Từ đó, Bhartrihari sống một cuộc đời tăm tối, ăn chơi trác táng nhất, mỗi ngày ăn uống vui chơi, không màng thế sự, vây quanh là những người phụ nữ xuất thân hiển hách, dung mạo xuất chúng đủ mọi thể loại. Tuy nhiên, cuộc sống mỗi ngày của ông cũng giống như các huynh đệ của mình, phải tiến hành tất cả các nghi lễ mà vương hầu quý tộc tôn sùng, trước khi tắm gội tịnh thân mỗi ngày phải triều bái chúng thần, bày tỏ lòng kính trọng với các bề tôi Bà-la-môn. Sau đó, ông kế thừa vương vị, dùng giáo nghĩa của kinh điển Ấn Độ giáo để quản lý thần dân của mình. Trở thành một vị vua một nước, ông cẩn trọng kiềm chế tính khí của mình, thay đổi cách nói chuyện, tránh làm ra những chuyện ngu ngốc; cuộc sống của ông cũng tiết chế hơn rất nhiều, không còn phóng túng như trước, không còn uống rượu say sưa, đồng thời rời xa sự cám dỗ của tình ái và cờ bạc; ông dốc sức kiềm chế ham muốn khiêu vũ, ca hát và tấu nhạc của mình; ông không còn sống tầm thường vô vị, ham chơi ham ngủ, qua lại bừa bãi với những kẻ vô công rỗi nghề; ông không suy nghĩ đến những chuyến đi không quan trọng, không nhận sự ủy thác của những kẻ có tội và nhận hối lộ. Tóm lại, từ đó trở đi, cuộc sống của Bhartrihari hoàn toàn đổi mới, so với trước kia thì khác biệt một trời một vực, ông trở thành một vị quốc vương danh chính ngôn thuận. Ông tiếp nhận mọi khiếu nại, thỉnh cầu và kiến nghị thiện ý; ông có bảy, tám vị hiền thần thông tuệ phò tá hai bên, lại còn sở hữu nội bộ nghị sự cấp cao bao gồm những đại thần điềm tĩnh, trung thành tuyệt đối, thật sự là như hổ mọc thêm cánh. Bọn họ thỉnh thoảng sẽ gặp nhau ở một số địa điểm ẩn náu, hẻo lánh như chân núi, sân thượng, lầu hóng mát, rừng cây v.v., mọi sự việc quan trọng đều được tiến hành một cách bí mật, không ai có thể nghe lén hoặc thăm dò được, ngay cả phụ nữ, loài vẹt trong rừng hay các loài chim khác cũng không thể nghe thấy.

Sau khi xử lý xong công việc trong ngày, Bhartrihari mệt mỏi rã rời, trở về phòng nghỉ ngơi, chìm vào giấc ngủ trong tiếng thánh ca và nhạc nhẹ. Thỉnh thoảng, ông sẽ triệu tập chín vị huynh đệ bề tôi được mọi người yêu mến của mình, lắng nghe những lời cao đàm khoát luận của họ. Người ta đồn rằng, khi ông mất ngủ, luôn có tổng đốc ở bên bầu bạn, vượt qua những đêm dài đằng đẵng đó.

Cho nên, các vị quốc vương trong độ tuổi thanh xuân, bề ngoài có vẻ như đang sống một cuộc sống xa hoa, nhưng trên thực tế lại không thể có bất kỳ niềm vui nào. Bởi vì họ là vương tộc, phải chú trọng cử chỉ. Cho nên, cuộc sống trong hoàng cung còn khó khăn hơn trong túp lều tranh của kẻ khất thực. Tuy nhiên, đối với Bhartrihari mà nói, may mắn là ông hầu như không có sở thích gì, cũng không có ảo tưởng gì, ông chỉ cảm thấy tự hào vì bản thân là một nhà hiền triết. Đoạn đời tăm tối không một ánh sáng trong những năm tháng tuổi trẻ đã làm tê liệt tư duy của ông, là vết nhơ trong cuộc đời ông, khiến ông không thể trở thành vị quốc vương xuất sắc nhất; nhưng theo sự trôi qua của thời gian, tư duy từng bị tê liệt ấy dần dần thăng hoa, ông lĩnh hội được chân lý của tâm thái bình hòa, cảm nhận được cảnh giới hạnh phúc nhất của nhân loại. Do đó, ông đã trở thành người bạn ở sâu thẳm trong tâm hồn mình. Ông giữ lại bảy, tám vị đại thần được mọi người yêu mến, ông liên tục tham dự các nghi lễ giáo điều của linh mục Bà-la-môn được tổ chức trong cung đình, không làm ô uế thánh vật của thần linh, đồng thời lễ hiền hạ sĩ, đối xử hòa nhã với các tướng lĩnh dẫn dắt quân đội, trừng phạt các quan chức tư pháp và quan chức địa phương xử lý bất công. Tóm lại, ông sẽ đối xử tử tế với người ở mọi tầng lớp, chưa từng hống hách chuyên quyền.

Trong số các đại thần tâm phúc của Bhartrihari, Maha-Pala có xuất thân quý tộc, tài mạo song toàn, có tư duy linh hoạt, am hiểu tình hình nước ngoài, nổi tiếng một thời với tài ăn nói lưu loát, dũng cảm không sợ hãi, lại còn là cố vấn cho cơ quan lập pháp của đất nước.

Bây giờ, chúng ta hãy cùng chiêm ngưỡng phong thái của vương phi Dhanagrah của quốc vương Bhartrihari, nàng là vị vương phi cuối cùng cũng là trẻ tuổi nhất của quốc vương. Nàng xinh đẹp một cách kỳ lạ. Khuôn mặt nàng giống như vầng trăng tròn giữa bầu trời vạn dặm không mây; mái tóc giống như những đám mây màu tím trước cơn mưa lớn mùa thu, buông xõa thấp xuống mặt đất; làn da giống như một đóa hoa nhài lớn có sắc điệu dịu dàng; ánh mắt rạng ngời giống như một chú linh dương nhỏ bé rụt rè đang nhìn bạn; đôi môi đỏ mọng giống như nụ hoa lựu; giọng nói của nàng giống như dòng suối ngọt ngào, trong trẻo và thanh khiết; chiếc cổ thon thả giống như cổ chim bồ câu; đôi tay phượng hồng được trang sức bằng vỏ ốc làm nền càng tô điểm thêm vẻ rạng rỡ động lòng người; vòng eo thon thả giống như eo báo mỹ châu; đôi bàn chân mềm mại nhẵn nhụi và dịu dàng như hoa sen. Tóm lại một câu, vẻ đẹp và sức quyến rũ của nàng quả thực không ai sánh bằng. Dáng dấp dũng mãnh cúi đầu trước mặt nàng; chính trị gia thốt ra từng cơ mật trước mặt nàng; vị vương tử sùng bái giáo điều vì muốn cứu lấy hàng mi của nàng mà đã sát hại một con bò, đây là tội lỗi duy nhất không thể dung thứ trong giáo điều; không có sự cho phép của nàng, vị quốc vương uy nghiêm thậm chí không dám uống một ngụm nước; triết gia vốn luôn điềm tĩnh và người theo chủ nghĩa tĩnh lặng kiên định, sẽ phải say đắm vì một nụ cười của nàng. Quốc vương Bhartrihari phát cuồng vì mê mượn nàng.

Thế nhưng, theo sử sách ghi lại, ông lại không thực sự tỉ mỉ nâng niu tình yêu này, để nó sinh sôi nảy nở. Nó chỉ là một chuyện xảy ra xung quanh quốc vương mà thôi. Sự nhiệt tình của ông không thể khiến vợ mình đồng điệu, ngược lại còn khiến nàng chán ghét, chủ trương của ông khiến nàng mệt mỏi, những lời thề của ông khiến nàng đau đầu, những nụ hôn của ông không thể thắp lên ngọn lửa đam mê trong nàng. Đương nhiên, Bhartrihari chẳng hề hay biết gì, chỉ một mực chìm đắm trong sự e ấp và vẻ phong tình của người đẹp mà ngưỡng mộ. Nhưng đồng thời, vương phi cũng là phụ nữ, nàng muốn vứt bỏ đoạn tình cảm này. Có suy nghĩ như vậy, vị vương phi đáng yêu Dhanagrah này hoàn toàn đắm chìm vào người bạn đời trong lý tưởng của nàng — Maha-Pala, một sứ giả hòa bình và chiến tranh tiêu sái. Ba người cứ duy trì mối quan hệ như vậy, vẫn luôn sống rất vui vẻ, rất thỏa mãn. Thế nhưng, nền tảng hạnh phúc của bọn họ không hề kiên cố, cũng không thể kéo dài lâu. Cho nên rất nhanh chóng mọi thứ cũng chấm dứt.

Tại Ujjain nằm trong tầm mắt của hoàng cung, có một vị đại thần Bà-la-môn và vợ của ông ta sinh sống, bọn họ vừa già vừa nghèo, không có việc gì làm, nhưng vẫn luôn tuân thủ nghiêm ngặt giáo điều, là hai tín đồ vô cùng sùng đạo (chú thích: Ở một số khu vực thống trị, chỉ có người chồng mới có thể sùng đạo hành thiện giáo điều, đồng thời có thể mang lại một tia ân trạch cho người vợ tận tụy.). Bọn họ nhịn ăn nhịn uống vào ngày trai giới; bọn họ sẽ giơ cao hai tay đứng suốt mấy tuần liền, hoặc quỳ gối không đứng lên, cầu nguyện một cách thành kính; bọn họ có thể chịu đựng được sự roi vọt của tai họa, có thể chạy trần truồng trong những ngày giá rét, có thể ngồi quây quần bên đống lửa vào mùa hè oi bức, cho đến khi họ thực sự cảm nhận được sự ghen tị và hâm mộ đối với vị thần thứ dân ở tầng đáy thiên đàng. Để báo đáp sự thành kính của hai già, ông trời đã phái sứ giả tín – một vị tiểu thần cây táo Kalpavriksha, tặng cho hai vị lão nhân đáng kính này một quả táo. Bất cứ ai ăn quả táo này đều có thể trường sinh bất lão.

Khi vị đại thần Bà-la-môn này há cái miệng chẳng còn mấy chiếc răng của mình ra, muốn ăn trái thánh quả này, thì chỉ trong chớp mắt, vị tiểu thần nọ đã biến mất từ lúc nào. Lúc này, người vợ của ông ta đẫm lệ tuôn rơi nói với ông rằng:

"Hừm, nếu chết đi, chắc chắn phải trải qua đau khổ; nếu cứ nghèo mãi, cũng là đau khổ vô tận. Quả thực, trong những ngày tháng qua, chúng ta đã phạm phải rất nhiều tội nghiệt vô cùng lớn, đáng phải chịu trừng phạt (chú thích: Tín đồ tínngưỡng đạo Hồi sẽ nói: "Đây chính là số mệnh của chúng ta." Một tín đồ Ấn Độ giáo sẽ cho rằng đây là linh hồn chuyển sinh, tự nhiên giống như thuật chiêu hồn của Swedenborg hiện đại.). Anh nghĩ thế nào về cuộc sống hiện tại? Em cho rằng tốt nhất chúng ta nên chết quách đi ngay lập tức, để thoát khỏi nỗi buồn phiền mà thế giới này mang lại cho chúng ta!"

Nghe vợ nói vậy, vị đại thần Bà-la-môn ngập ngừng đứng dậy, há to miệng, đăm đăm nhìn quả táo này. Qua một lát, ông nói: "Ta đã nhận quả này, đã mang nó tới đây; nhưng nghe em nói thế, ta chẳng còn chủ kiến gì nữa, bây giờ, ta nghe theo em."

Người vợ đầm đìa nước mắt thổ lộ tâm tư của mình: "Này ông lão, bây giờ chúng ta đều đã già rồi, ông thử nói xem, bao nhiêu năm nay, chúng ta đã có lúc nào vui vẻ chưa? Nghĩ lại thì chỉ có một vị thi thơ viết ra câu này, mang lại hy vọng cho chúng ta: Lúc trẻ, hãy chết trong sự yêu thương sâu sắc, chứ đừng hận bản thân chết quá sớm."

Mà trên thực tế, nếu quả này có thể hồi phục đôi mắt sắp mù của ông lão, mang lại chút an ủi cho vợ ông, khiến nàng cảm nhận được một sự hưng phấn xuất phát từ tận đáy lòng, nhìn thấy ác giả ác báo, nàng sẽ luôn tuân theo quy luật sinh tử. Mặc dù ý nghĩ này đã ẩn giấu sâu trong lòng nàng rất lâu, nàng vẫn như một người phụ nữ bình thường có thể làm, chú trọng thực tế. Khi ông lão nhà mình trong cơn tức giận, chuẩn bị ném trái thánh quả này vào lửa để trả thù thần linh (cứ như thể dùng cách này để tống khứ trái quả này là sự sỉ nhục đối với ông ta vậy), bà lão liền giật lấy trái quả trong tay ông lão, bảo rằng trái quả này quá trân quý, không thể lãng phí, phân phó ông lão xốc lại tinh thần, thắt chặt thắt lưng, dâng trái quả này lên cho quốc vương. Lúc đó Vikram không có ở đó, chỉ có một vị đại pháp sư Bà-la-môn ở đó, ông ta đã tiếp nhận món quà này. Bà lão ngây thơ cho rằng, mình làm như vậy sẽ để lại ấn tượng sâu sắc cho quốc vương, quốc vương sẽ ban cho họ một số tiền lớn, như là sự báo đáp đối với việc ông lão dâng hiến báu vật vô giá này. Bà ta nói: "Dùng phương pháp này, chúng ta có thể cải thiện cuộc sống hiện tại, và thu được tài phú khổng lồ (chú thích: Trong mắt tín đồ giáo điều châu Âu, tiền có thể mua được thế giới này, có thể giúp bạn thoát khỏi nỗi thống khổ nghèo khó; trong mắt tín đồ giáo điều Ấn Độ, nó có thể tiến thêm một bước mở ra cánh cửa thiên đàng.)."

Sau đó, vị lão nhân Bà-la-môn này trong sự hiện diện của quốc vương, thông báo với thiên hạ về sự phi thường của trái quả này, cuối cùng, ông ta nói: "Ồ, quốc vương tôn kính của thần! Xin ngài hãy tiếp nhận vật phẩm dâng hiến này của thần, và ban cho thần tài vật, thần thành tâm chúc ngài hạnh phúc trường thọ!"

Quốc vương Bhartrihari đưa người dâng hiến này vào một căn phòng nguy nga lộng lẫy vàng son rực rỡ, bên trong toàn là trân châu kim ngân tài bảo thượng hạng, bảo ông ta có thể lấy gì thì lấy; ông lão tuân theo phân phó của quốc vương, lấy một ít tài bảo, đương nhiên, cũng không quên dùng kim loại quý hiếm để bọc lại những chiếc răng chẳng còn mấy cái của mình. Tiễn ông lão đi rồi, quốc vương vô cùng mừng rỡ, bước vào tẩm cung của vương phi, gọi vương hậu xinh đẹp Dhanagrah-Rani ra, tặng cho nàng trái quả trân kỳ này, đồng thời nói: "Ăn nó đi, nàng sẽ khiến ta phải kinh ngạc đấy! Trái quả này có thể giúp nàng trẻ mãi không già."

Vị vương hậu xinh đẹp này vô cùng cảm kích vương tử của mình, hai tay mơn trớn phu quân, dâng lên đôi môi và ánh mắt của chồng nụ hôn ngọt ngào của mình, khuôn mặt tràn đầy nụ cười (người phụ nữ xảo quyệt này), cất giọng dịu dàng nhỏ nhẹ nói: "Thiếp thân ơi, chàng tự ăn nó đi, hoặc là chia sẻ cùng thiếp; mặc kệ nó trường thọ hay mãi mãi xinh đẹp, không có tình yêu của chúng ta thì cũng vứt đi thôi, chàng nói có phải không?" Quốc vương đã say đắm trong những lời đường mật này, đong đầy tình tứ gạt cánh tay của nàng ra, giải thích cho nàng nghe rằng trái quả này chỉ có thể một người ăn, không thể chia sẻ cùng người khác, nếu không sẽ mất đi hiệu lực.

Thế là, vị vương hậu xinh đẹp này đặt trái quả trân quý vào trong túi của mình, trên mặt vương đầy nụ cười ngọt ngào. Khi quốc vương đang xử lý công vụ cùng các đại thần ở đại sảnh, nàng liền đem trái quả trân quý này tặng cho vị đại sứ thống quản chiến tranh và hòa bình kia, ở trước mặt vị đại sứ này, nàng dâng hiến trọn vẹn sự dịu dàng của mình, giống như lúc đầu quốc vương dịu dàng tặng quả táo cho nàng, thậm chí còn hơn thế nữa.

Vị đại sứ này cũng đặt trái quả vào trong túi của mình, sau khi tiễn vương hậu xinh đẹp đi, ông ta đi gặp Lakha, một tỳ nữ, đồng thời giải thích sự thần kỳ của trái quả này, bày tỏ tình yêu sâu sắc của mình. Thế nhưng, vị tỳ nữ này là một cô gái có dã tâm bừng bừng, nàng ta quyết định dùng trái quả này làm một món quà, dâng lên quốc vương trước mặt các đại thần. Bhartrihari tiếp nhận món quà của nàng ta, ban thưởng cho nàng ta rất nhiều tài bảo, bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc, rồi đuổi nàng ta khỏi hoàng cung.

Sau đó, ông cầm lấy trái quả, mắt đẫm lệ nhìn nó. Ông đã biết được đầu đuôi sự việc, phát giác ra bất hạnh của mình. Trái tim ông bị đâm thủng sâu sắc, ông chán ghét thế giới này, ông thở dài nói (chú thích: Phần giới thiệu này sẽ khiến độc giả liên tưởng đến phần giới thiệu về hai người anh em trung thành và những người vợ không chung thủy của họ trong "Nghìn lẻ một đêm". Tất nhiên, số mệnh của quốc vương Bhartrihari chỉ là kết cục mang tính lịch sử.):

"Những tài phú và tình yêu này đều là ảo giác của con người, tài phú và tình yêu rốt cuộc có thể có giá trị gì? Sự đáng yêu trong chốc lát của nàng sao đến cuối cùng lại hóa thành nỗi xót xa vĩnh hằng? Tình yêu giống như chén rượu của kẻ nát rượu, uống ngụm đầu tiên thì ngon làm sao, cũng chính là lúc uống rượu thì kết giao bạn bè, nhưng uống tiếp thì không còn ngon nữa, tình yêu cũng vậy. Cuộc sống chẳng lẽ là một màn ảo ảnh và đau khổ vô tận hay sao? Tình cảm trên đời này đều là giả dối, mà cuối cùng, chúng ta đều sẽ rơi xuống địa ngục này. Cho nên, tốt nhất là ta nên đi sùng bái giáo hội của chúng ta đi, như vậy, thần linh có lẽ sẽ ban ơn cho chúng ta rất nhiều niềm vui."

Do đó, quốc vương Bhartrihari quyết định rời khỏi nơi mình sinh sống. Nhưng trước khi đi, ông vẫn không kìm được muốn gặp lại vương phi một lần nữa, bởi vì hành vi của Kama đã khơi ngõa ngọn lửa dữ dội trong lòng ông. Cho nên, ông đã đến tẩm cung của vương phi, triệu kiến Dhanagrah-Rani, muốn hỏi xem cảm giác sau khi ăn trái quả mà ông tặng cho nàng thế nào. Nàng ta đáp rằng theo phân phó của chàng, nàng đã ăn rồi. Khi quốc vương lấy ra trái quả đó, nàng ta kinh hãi đến mức cứng họng không nói nên lời. Quốc vương ra lệnh chém đầu vương phi, sau đó bước ra khỏi cung đình, rửa sạch trái quả rồi ăn nó. Sau khi tự động thoái vị, ông không từ biệt bất kỳ ai, liền bước về phía rừng sâu. Từ đó, đối với ông mà nói, cái chết không có gì đáng sợ, cứ thế lang thang khắp nơi. Nhưng cũng có người nói rằng, ông đã hấp thụ tinh hoa của thần.

Dưới đây, chúng ta kể về việc Vikram dũng cảm trở về đất nước của mình như thế nào.

Vương vị của Vikram vẫn luôn bỏ trống. Tin tức truyền đến tai quốc vương Ấn Độ – vị thống trị ở tầng đáy thiên đàng, vị thần bảo hộ của quân chủ nhân gian, ngài phái Prithivi-Pala, một người khổng lồ dũng mãnh (chú thích: Ý nghĩa nguyên thủy của "Div": Thần linh siêu nhiên hoặc ma quỷ. Theo một số ghi chép, Vikram vừa vào thành, liền nhìn thấy trước cửa nhà một người thợ gốm có một đội quân mã, một cậu bé sắp bị một con voi kéo đi, cha mẹ cậu bé đau buồn đi theo sau, ông cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Quốc vương hỏi họ nguyên nhân kết quả sự việc. Hóa ra, con ma quỷ độc ác cố thủ trong lâu đài này mỗi bữa đều phải ăn thịt một người dân. Quốc vương vô cùng phẫn nộ, bảo đứa trẻ xuống, ông cưỡi voi vào hoàng cung, khi binh lính dâng ông cho ma quỷ, ông liền tung ra quyền pháp của mình, đấm túi bụi vào con quái vật.) đến bảo vệ thành Ujjain, cho đến khi vị thống trị hợp pháp xuất hiện. Từ đó, vị giám hộ này ngày đêm cố thủ lâu đài.

Chưa đầy một năm, Vikram dũng cảm đã hoàn toàn chán ngấy cuộc sống du lãng trong rừng sâu; hiện tại, ông sẽ không bao giờ phải chịu đựng nỗi thống khổ vì đói khát nữa, ông đã đánh bại những con ma quỷ đó, trái tim lao lực suốt bao lâu nay cuối cùng cũng có thể an nhát thoải mái. Ông cũng từng nói rằng, ngần ấy năm bôn ba, bản thân vẫn luôn chưa làm tròn trách nhiệm với vợ con; mà người thừa kế của ông trong hoàn cảnh không có sự chăm sóc của song thân, rõ ràng đã không quản lý tốt đất nước của mình; cuối cùng, vì nguyên nhân của ông, các con bị tước đoạt tình cha, nhường chính quyền cho một con ác ma. Có lẽ, nên nói là không nên dành sự tín nhiệm cao như vậy cho Bhartrihari. Vikram phân tích lại điểm yếu của nước địch và nước bạn, đồng thời, ông cũng nghĩ ra đối sách cho những vấn đề này và các vấn đề quan trọng tương đương khác. Ông nghe nói ngoài cung đang lan truyền một tin đồn, Bhartrihari sắp thoái vị, ẩn cư sơn lâm. Vikram liền nói với con trai rằng: "Chúng ta đã kết thúc cuộc hành quân đi bộ rồi, chúng ta về nhà thôi!"

Thời khắc tiếng chiêng đồng điểm nửa đêm, chính là lúc quốc vương và tiểu vương tử đến gần cổng thành. Khi họ đẩy cửa thành muốn đi vào, một người khổng lồ xuất hiện trước mặt họ, phát ra một âm thanh đáng sợ gầm lớn: "Các ngươi là ai? Muốn đi đâu? Khai danh tính ra!"

"Ta là quốc vương Vikram," quốc vương kích động nén giọng đáp, "Ta chỉ trở về lâu đài của chính mình, ngươi là ai, mà dám chặn ta lại?"

Người khổng lồ này gầm lớn: "Vấn đề này rất đơn giản, ông trời phái ta đến để bảo vệ Ujjain. Nếu ngươi thực sự là quốc vương Vikram, vậy thì ngươi phải chứng minh cho ta thấy. Đầu tiên, ngươi phải đánh nhau với ta một trận, rồi mới được lên lại vương vị của mình."

Vị quốc vương dũng cảm thắt chặt thắt lưng, dẫn người khổng lồ đến khoảng đất trống cách xa cổng thành, đồng thời bảo hắn ta phải phòng thủ cho kỹ, ông có rất nhiều phương pháp để chiến thắng người khổng lồ. Mà quyền cước của người khổng lồ to bằng quả dưa hấu, âm thanh khớp xương hai tay vặn vẹo giống như cây lớn đổ xuống, có thể đánh ngã con người. Ngoài ra, đầu của quốc vương hầu như mỗi lần đều va vào bụng và lưng của người khổng lồ, mỗi lần ông lao ra, âm thanh đều cực lớn, không một ai xung quanh có thể đứng vững mà không lạng lạng.

Cuối cùng, Vikram vẫn chiến thắng. Chân trái của người khổng lồ trượt đi, Vikram tóm lấy cái chân còn lại của hắn, muốn quật ngã hắn. Gần như đồng thời, tiểu vương tử đã mượn sức của cha mình, phẫn nộ nhảy lên đôi chân trần của người khổng lồ. Bọn họ đè ngã hắn xuống đất, tiểu vương tử ngồi lên bụng người khổng lồ, dốc toàn thân sức lực đè ép hắn; đồng thời, cha cậu cưỡi lên người khổng lồ, bóp cổ hắn, đồng thời dùng ngón tay khoét mắt hắn, uy hiếp rằng nếu hắn không chịu khuất phục, thì sẽ khoét tròng mắt của hắn ra.

Lúc này, người khổng lồ thay đổi giọng gầm gừ lúc nãy, cầu xin:

"Ồ, quốc vương, ngài đã đánh gục thần rồi, thần để ngài vào thành."

"Quái vật, ngươi thật là cuồng vọng," quốc vương dùng giọng điệu mỉa mai, nửa cười nửa giận nói, "Ngươi đồng ý cho ta vào thành, hừ, nếu ta muốn, bất cứ lúc nào ta cũng có thể giết ngươi, sao lại đến lượt ngươi nói là ngươi thừa nhận thân phận của ta?"

"Vikram của nước Ujjain," người khổng lồ nói, "Đừng quá kiêu ngạo, ta sẽ cứu vớt ngươi từ bờ vực cái chết. Ngươi chỉ cần nghe ta kể cho ngươi nghe một câu chuyện, rồi sau đó hẵng quyết định có giết ta hay không. Như vậy, ngươi mới có thể an tâm cai trị đất nước này, sống an toàn, chết hạnh phúc."

Quốc vương nói: "Xin cứ nói tiếp." Trầm tư một lát, ông buông cổ người khổng lồ ra, bắt đầu chăm chú lắng nghe lời kể của hắn.

Người khổng lồ đứng dậy từ mặt đất, nghiêm túc kể rằng:

Lịch sử ghi lại thế này, có ba người thanh niên sinh cùng một thành phố — Ujjain, sống cùng một dinh thự, sinh vào cùng một ngày hoàng đạo cát nhật. Người thứ nhất là ngài, ngài sinh ra trong hoàng cung. Người thứ hai là con trai của một thương nhân dầu mỏ, hắn đã bị Yogi, một vị ẩn sĩ hoặc pháp sư sát hại, Yogi đã giết tất cả những ai hắn có thể giết, chỉ để cho nữ thần hủy diệt Durgā có thể ngửi thấy hơi người. Vị thanh niên tôn quý này sau khi dùng kim la bàn xác định vị trí của con trai thương nhân dầu mỏ và giết chết cậu ta, liền treo ngược đầu cậu ta lên một cái cây trinh nữ ở một nghĩa trang. Bây giờ, hắn đang nôn nóng muốn tìm ngài. Ngài nghĩ xem, hắn thậm chí có thể giết cả con của mình…

Quốc vương Vikram hoài nghi hỏi: "Một vị ẩn sĩ, sao có thể có con?"

"Đó chính là điều ta muốn nói với ngài." Người khổng lồ đáp, "Vào thời kỳ hoàng kim trị vì của phụ thân hào phóng Gandharba-Sena của ngài, các quan viên trong hoàng cung rất thích vào rừng hóng mát, một lần, khi lang thang trong rừng, họ nhìn thấy một vị giáo đồ, chính xác mà nói là cái đầu của giáo đồ nhô ra từ một cái lỗ trên mặt đất, xung quanh vây kín mối. Mối đang kéo cơ thể hắn chui vào lỗ, chúng đã dùng da của hắn để xây dựng nhà của mình; tất cả các loài côn trùng và động vật nhỏ bò lổm ngổm trên mặt hắn, nhưng vẫn không thể lay động nổi một cơ bắp. Ong bắp cày đã xây tổ trên thái dương của hắn; bọ cạp chui ra chui vào trong mái tóc ảm đạm, cuộn xoắn lại của hắn, thế nhưng, vị ẩn sĩ này dường như hoàn toàn không cảm nhận được gì. Hắn không có bất kỳ ai để trò chuyện, không có sự ban tặng của thánh vật. Hắn vẫn luôn không mở lỗ mũi, bởi vì hắn liên tục hít phải mùi cỏ gai đang cháy. Mọi người đều cho rằng hắn đã chết.

"Phụ thân của ngài nhìn thấy cảnh này, vô cùng kinh ngạc, trên đường cưỡi ngựa về cung, đã trầm tư rất lâu. Đêm hôm đó, ngài ngồi trước mặt các đại thần, chẳng nói được gì, trong đầu quanh quẩn toàn là vị tín đồ sùng đạo hiến dâng cho giáo hội ấy. Dưới sự thôi thúc của lòng tò mò, ngài nhanh chóng quyết định, nếu thần dân nào có thể thuyết phục được vị ẩn sĩ này, đương nhiên là trên tiền đề vị ẩn sĩ tự nguyện, có thể vào cung yết kiến, treo giải thưởng một trăm thỏi vàng.

"Không lâu sau đó, Vasantasena, một vũ nữ vô cùng có nhan sắc lại thông tuệ hơn người đã đến yết kiến, nàng chỉ yêu cầu quốc vương ban cho mình một chiếc vòng vàng làm thù lao, nàng sẽ đưa vị ẩn sĩ này vào hoàng cung.

"Quốc vương nghe lời nàng nói xong, kinh ngạc khôn thôi, tặng cho nàng một chiếc lá trầu để biểu thị lời hứa của mình, đồng thời chuẩn y cho nàng rời đi. Lúc bước ra khỏi hoàng cung, vũ nữ mỉm cười, cứ như thể bản thân đã chiến thắng rồi vậy.

"Vasantasena đi thẳng vào rừng, ở đó, nàng phát hiện ra vị giáo đồ sùng đạo ngất xỉu vì đói khát. Hắn sắp chết đến nơi rồi, cơ thể lạnh ngắt. Nàng cẩn thận nhóm lửa, nấu một nồi canh, đỡ hắn từ phía sau dậy, xoa xoa đôi môi cứng đờ của hắn, từng giọt từng giọt đút thuốc canh vào miệng hắn. Hắn dần dần tỉnh lại. Nàng lại nấu canh cho hắn, đút hắn uống. Sau hai ngày chăm sóc tỉ mỉ, hắn đã có sức lực, ngày thứ ba, hắn cảm thấy có ngón tay bên khóe môi, liền mở mắt ra hỏi: -Tại sao cô lại đến đây?-

"Cô gái này sớm đã chuẩn bị sẵn cách kể câu chuyện của mình với hắn, liền đáp: -Thiếp là con gái của một vị thần linh, ở thiên đàng cũng phải tuân thủ quán lệ của giáo điều. Cho nên, thiếp bây giờ mới đến khu rừng này!- Nghe xong lời của nàng, vị ẩn sĩ nghĩ, thế này cũng không tệ, vẫn vui hơn ở một mình, liền hỏi nàng túp lều của nàng ở đâu, đồng thời yêu cầu nàng dẫn đường đến chỗ nàng xem thử.

"Vasantasena không làm theo lời hắn bảo, nàng ép hắn đi tịnh thân trước, rồi mới dẫn hắn về túp lều mà nàng đã xây dựng trong rừng. Trong túp lều, nàng giải thích với hắn rằng, lời thề của nàng cho phép nàng sống cuộc sống xa hoa, mỗi bữa ăn đều phải thưởng thức sáu món ăn thơm ngon ngọt ngào, còn có thể phóng túng bản thân. (chú thích: Trong Ấn Độ giáo, vẫn còn có một quy định tăng lữ, cho phép những người tận hưởng niềm vui được làm cho bản thân vui vẻ hết mức có thể. Điều giáo điều này có điểm tương đồng với tôn giáo châu Âu.) Trong khoảng thời gian này, vị ẩn sĩ lấy nàng làm gương, làm theo những gì nàng nói. Hắn từ bỏ khói hút cỏ, bắt đầu ăn uống đúng giờ mỗi ngày.

"Tuy nhiên, sau đó Kama bắt đầu làm phiền hắn. Cuối cùng, vị thánh nhân và thánh nữ này thông qua một nghi lễ kết hôn gọi là Gandharba-Vivaha (chú thích: Nghi lễ kết hôn này được người Ấn Độ cổ đại thừa nhận, và xuất hiện thường xuyên trong các sách liên quan. Đây là một nghi lễ kết hôn của Scotland, chính xác mà nói, nên là người Scotland cổ đại. Hai vợ chồng chỉ cần thông qua lời hứa hẹn lẫn nhau, trong không có bất kỳ hình thức hoặc nghi lễ nào dưới sự chứng kiến, là có thể kết hôn. Gandharbas là nhà thơ du ca trong hoàng cung Ấn Độ, cô ấy là nhân chứng tốt nhất cho nghi lễ này.) để kết làm phu thê. Khoảng mười tháng sau, con trai của họ ra đời.

"Mấy tháng trôi qua, nàng nói với chồng: -Ồ, thánh nhân! Chúng ta bây giờ đã hoàn thành lời cầu nguyện thành kính của mình, chúng ta hãy đến một nơi thần thánh để triều bái, để tẩy rửa tội nghiệt trên người chúng ta. Như vậy, chúng ta sau này có thể cao gối cao đầu ngủ kỹ, sống hạnh phúc vĩnh viễn rồi!- Nghe những lời lừa gạt ngon ngọt này, vị ẩn sĩ cõng con mình lên, đi theo nàng đến hoàng cung của quốc vương." Khi quốc vương và các đại thần nhìn thấy Vasantasena cùng người chồng cõng con, từ xa đã nhận ra nàng. Quốc vương kinh ngạc hét lên: -Ồ! Đây chẳng phải là vũ nữ đã hứa đưa ẩn sĩ đến yết kiến ta sao?- Tất cả các đại thần đều đáp: -Ồ, bệ hạ! Ngài nói không sai, chính là người phụ nữ đó. Mặc kệ nàng đã làm gì, chúng ta đều nên vui mừng, nàng đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, làm xong tất cả những việc nên làm!- Khi họ bước vào hoàng cung, các đại thần đều vây quanh nàng hỏi đông hỏi tây.

"Thế nhưng, vị ẩn sĩ nghe xong lời của quốc vương và các đại thần, trong lòng thầm nghĩ, hóa ra mục đích bọn họ muốn đạt được chính là muốn cướp đi thành quả tu hành khổ cực nhiều năm của ta! Hắn dùng những lời nguyền rủa độc ác nhất để nguyền rủa những kẻ đáng ghét này, rồi mang theo con rời khỏi hoàng cung. Từ đó, hắn lại quay về rừng sâu, tàn sát bừa bãi, bắt đầu báo thù bằng giáo điều nghiêm ngặt, hắn đã giết chính con của mình. Hắn sắp sửa quấy nhiễu cuộc sống của ngài, có người đã nghe thấy lời cầu nguyện của hắn. Đầu tiên, hắn đã giết phụ thân của các ngài; tiếp theo, hắn ly gián tình cảm huynh đệ của các ngài. Bây giờ, lại đến lượt ngài, hắn muốn hủy diệt ngài. Mục đích của hắn chính là muốn thêm cho nữ chủ nhân Durgā của hắn một vị quốc vương và một đứa con trai. Thông qua hành vi này, hắn muốn giành được quyền lực thống trị toàn bộ thế giới.

"Ồ, Vikram, ngài hãy nghe đây, ta đã đồng ý giúp ngài, nếu may mắn, vương quốc của ngài có thể tránh được kiếp nạn bị hủy diệt. Ngài phải ghi nhớ lời ta, đừng tin những kẻ sống trong đống thây ma, hãy giết kẻ muốn giết ngài, không sai đâu. Như vậy, ngài mới có thể lưu danh thiên cổ!"

Người khổng lồ đột ngột ngừng nói, vèo một cái liền biến mất tăm mất tích. Sau đó, Vikram và con trai mình đi qua cổng thành, bước vào tòa lâu đài từng thuộc về mình. Mặc dù họ đã mỏi nhừ tứ chi vô lực, nhưng vẫn đầy hớ hở tưởng tượng về những chuyện sắp xảy ra.

Bây giờ, chúng ta hãy xem vị quốc vương dũng cảm này đã gặp ma cà rồng như thế nào.

Khi quốc vương trở về lâu đài, chính là thời điểm xuân về hoa nở, nhà nhà người người ca múa mừng lễ hội (chú thích: Lễ hội thần nông của Ấn Độ.). Nước Ujjain hiện lên một khung cảnh vô cùng vui mừng và hạnh phúc, người dân chào mừng sự trở về cung của người thống trị nước họ — quốc vương. Thần dân đều mặc trang phục rực rỡ, dùng một loại bột tỏa hương thơm ngát (chú thích: Bột là bột mì, trộn với rễ gừng hoang dã, cỏ sa bồn và các thành phần khác. Thỉnh thoảng, còn đặt thứ này vào ống thổi.) phun vào nhau, truyền đạt tâm trạng vui vẻ của đối phương; âm thanh đinh tai nhức óc ngập tràn tai thần dân; các vũ nữ không biết mệt mỏi say sưa ca múa; thương nhân bán đồ ngọt cũng vô cùng sung sướng, nhân cơ hội kiếm được một vốc tài lộc; chín vị công thần bác học đa tài trong cung còn nhân hứng thú ngâm tụng những bài thơ dài. Lại nhìn vị quốc vương anh dũng này, hôm nay cũng khoác lên mình long bào của đế vương, ngồi trên kiệu khảm đầy trân châu bảo vật, được hơn một trăm yếu nhân trong cung hộ tống, đi theo sát cánh còn có đội ngũ thân tín nhóm bốn người, đội kỵ binh, đội voi chiến, chiến xa và đoàn bộ binh; những cô gái xinh đẹp đáng yêu đi cùng đoàn ngũ của quốc vương, tham gia cuộc diễu hành chào mừng. Ngài chính là bệ hạ của ngày nay, toàn thân châu báu rực rỡ, uy nghi vô song. Từ đó, ngài lại bắt đầu sự nghiệp trị quốc của mình.

Sau nghi thức chào mừng, quốc vương lập tức bắt đầu trị vì đất nước. Ông trước tiên nhổ tận gốc những tên bề tôi gian ác nhân lúc ông lang thang khắp nơi mà lén lút trà trộn vào hoàng cung.

Lúc đó có một câu nói rất hay: "Nếu quốc vương lúc đó không kịp thời trừng phạt những kẻ tội ác này, có lẽ ông và đất nước của mình sẽ giống như con cá nướng trên xiên cá nướng, mặc người ta xâu xé." Ông dùng thủ đoạn thiết huyết để tiến hành cải cách. Ông tịch thu tài sản nhận hối lộ của một số đại thần, đóng dấu lên trán của những người thuộc giai cấp Thử-đà-ra và nô lệ, chỉ cần phát hiện thợ kim hoàn có hành vi lừa gạt hoặc bán hàng giả thì giết không tha, để thể hiện sự uy nghiêm của pháp luật, đối với những kẻ tung tin đồn nhảm mê hoặc chúng sinh, lập tức bắt giữ và phán quyết bọn chúng. Mấy kẻ từng bị phán án tử hình vì tội mưu sát vẫn nằm trên giường sắt, cầu nguyện Vishnu thương xót linh hồn họ. Các bề tôi của ông nhận lệnh, căn cứ theo lời khuyên "Vương tử" của kinh điển Ấn Độ giáo, bắt giữ kẻ trộm và cướp. Thỉnh thoảng, kẻ trộm và cướp vẫn vô cùng mẫn tiếu, nhưng cuối cùng, các bề tôi trong hoàng cung vẫn bắt được chúng và những kẻ có liên quan đến chúng, đưa tất cả ra trước vành móng ngựa quy án. Những sự việc này chứng minh rằng Vikram mới thực sự là vị vua của đại địa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.