Hấp Huyết Quỷ Đích Cố Sự

Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời Tựa Bản In Lần Thứ Nhất (1870)

❊ ❊ ❊

"Nó là trân bảo của các quốc gia phương Đông." Một cơ quan có thẩm quyền và khá nổi tiếng đã ca ngợi thần thoại Ấn Độ như vậy. Từ thời viễn cổ, rất nhiều người đã bắt đầu sáng tạo ra loại tiểu thuyết này. Người da đỏ, người Ba Tư và người Ả Rập đều nổi tiếng toàn thế giới nhờ những câu chuyện thần thoại do họ sáng tác. Trong lịch sử của người Hy Lạp cổ đại, chúng ta từng nghe nói về những câu chuyện thần thoại Ionia và Miletus, nhưng giờ đây chúng hầu như đã biến mất hoàn toàn, hơn nữa những gì được ghi lại hình như chỉ là những mảnh vụn rời rạc. Từ điển cổ ngữ định nghĩa "thần thoại Miletus" là "thể thơ không câu nệ luật lệ", "câu chuyện tình ái hoặc sắc dục" hay "kịch nghệ hoang đường đồi trụy", mà M. Delitriz lại ví nó như một giấc mơ Nam Kha mang hình hài nghệ thuật.

Thế nhưng, người bạn của tôi, Richard Charnock, lại định nghĩa "thần thoại Miletus" một cách chính xác hơn là "thần thoại hoặc tiểu thuyết do Miletus biên soạn", cốt truyện vui tươi, hình thái tao nhã. Sử gia Sisenna, cũng là bạn của Atticus, còn dịch những câu chuyện này sang tiếng Latinh, và từng gây tiếng vang lớn ở Roma và Hy Lạp. Trong tác phẩm "Cuộc đời Crassus" do Plutarch chấp bút, có một đoạn ghi chép như thế này: Sau thất bại trong trận chiến Carrhae, người ta tìm thấy trong hành lý của các tù binh Roma một số câu chuyện thần thoại Miletus, đều là bản tiếng Hy Lạp, còn bản dịch tiếng Latinh thì đã thất truyền từ lâu. Câu chuyện thần thoại duy nhất còn sót lại chính là "Áp thần Cupid và Psyche" mà Apuleius gọi là "Huấn giới thư Miletus" (chú thích: Đoạn khúc chiết vô cùng cảm động và nổi tiếng này có liên quan đến các câu chuyện thứ tư, thứ năm và thứ sáu trong sách).

Bên cạnh đó, còn có một số bản lưu di của Apollodorus và Conon, cùng với những ghi chép liên quan trong Pausanias, Athenaeus và "Chú giải đại sư".

Tôi cho rằng quan điểm của Blair, từ điển hay M. Delitriz chưa chắc đã chính xác. Miletus là một thành phố cảng biển vô cùng nổi tiếng ở bờ biển phía tây Tiểu Á, đồng thời cũng là nơi giao hội văn hóa và khu vực thương mại mậu dịch giữa Đông và Tây thời cổ đại. Các thương nhân Phoenicia đến từ vùng Biển Baltic cùng những thương nhân đến từ các vùng phụ cận Ấn Độ đã tiến hành giao thương buôn bán tại đây; đồng thời, những thường dân và người Nubia đến từ tịnh thổ phương Bắc cũng xếp hàng chờ đợi giao dịch trên bờ. Miletus đồng thời cũng là thánh địa văn minh thời bấy giờ, những câu chuyện thần thoại, ngụ ngôn và tiểu thuyết của các quốc gia phương Đông phản ánh đạo đức loài người hoặc cá tính con người cũng được nuôi dưỡng và sinh ra tại đây. Cảnh sắc thú vị và những cuộc phiêu lưu kỳ lạ lãng mạn được miêu tả trong câu chuyện luôn khiến chúng ta hướng về và mơ tưởng. Những câu chuyện lịch sử trong sách của Apuleius cũng đã có từ trước cả những ghi chép lịch sử thời bấy giờ. Sự hoang đường buồn cười được thể hiện trong thần thoại Miletus vốn là đặc trưng vốn có trong cách miêu tả của hầu hết các tác phẩm phương Đông thời cổ đại, chúng ta gọi hình thái văn học bán văn minh này là "vlight literature" (văn học nhẹ nhàng). Tất nhiên, các bậc thánh hiền tiên tổ của chúng ta tuyệt đối sẽ không kể những chuyện bất nhã để đưa lên mặt báo đường hoàng. Sự phóng túng và trào phúng phơi bày trong văn bản tuy cũng quy về miêu tả sắc dục, nhưng thực chất chỉ là ngẫu nhiên chứ tuyệt đối không phải ý đồ ban đầu của tác giả. Những câu chuyện được dâng lên các bạn dưới đây tự nhiên không tránh khỏi có một mặt bất nhã của nó, nhưng đồng thời cũng có một mặt phản ánh sự thanh khiết tao nhã tương đối trong văn học Ấn Độ. Tác giả cuốn sách hầu như luôn không biết chán mà miêu tả cách cưới hỏi nữ chính, hoặc gả đi như thế nào cho nam chính, nếu không tìm được mục sư chủ trì hôn lễ, anh ta thông thường cũng sẽ áp dụng một nghi thức pháp định Scotland cổ gọi là "Gandharva Vivaha" (chú thích: Nghi thức này sẽ được kể ở phần sau).

Từ các tác phẩm của Apuleius, chúng ta cũng có thể nhận thấy rất nhiều nơi học hỏi văn hóa phương Đông. Trong đó, rất nhiều câu chuyện thần thoại đều có bối cảnh biến hóa kiểu "Lucius của vịnh Corinth biến thành lóa", dùng từng câu chuyện hoàn toàn mới để liên tục giải thích một đạo lý nhân tính giống nhau.

Một nhân vật vĩ đại khác được ca tụng trong truyền thuyết cổ xưa của Ấn Độ là Gandharva-Sena. Các câu chuyện về ông chủ yếu là thần thoại, đều lấy trải nghiệm phiêu lưu kỳ lạ giữa nhân vật chính và quái ma làm bối cảnh. Gandharva-Sena là con trai của thần Indra, cũng là cha của Vikramaditya, vì yêu tiên nữ ở chốn sơn lâm thủy trạch mà mạo phạm thiên điều, thượng đế trừng phạt ông sống ở cõi người với thân phận một con lừa. Do sự cầu xin của các vị thần, thiên thần cho phép ông biến thành người, nhưng chỉ có thể hoạt động về đêm. Đối với đoạn miêu tả này, chúng ta hãy xem miêu tả của câu chuyện bản tiếng Anh trước:

Amundewille chủ trì ban ngày;

Tu sĩ chủ trì ban đêm.

Dưới sự tra tấn tinh thần này, Gandharva-Sena đã thành công thuyết phục quốc vương Tihana gả một người con gái của mình cho ông. Không may là, khi tham dự hôn lễ, ông chỉ có thể xuất hiện với diện mạo một con lừa. Dù thế nào đi nữa, sau khi tẩy rửa sạch sẽ, ông vẫn đến trước mặt mọi người, cùng mọi người lắng nghe ca khúc và âm nhạc. Ông còn hạ quyết tâm nói vài câu trước mặt mọi người.

Thế nhưng, khi các tân khách có mặt nghe tin một cô nương xinh đẹp như tiên lại muốn gả cho một con lừa, đều cảm thấy tiếc thay cho con gái quốc vương. Họ không dám nói suy nghĩ thật của mình với quốc vương, chỉ có thể mang nụ cười trên mặt, ngậm miệng không bàn, đương nhiên cũng chẳng có chút vui mừng nào của hôn lễ. Cuối cùng, vẫn có người phá vỡ sự im lặng này và nói:

"Ồ, quốc vương tôn kính của tôi, đây là đứa trẻ của thần Indra sao? Quả là một chú rể không tồi. Ngài nên vui mừng, đừng làm lỡ tiến trình hôn lễ; dẫu sao làm lỡ hôn lễ thì không thích hợp cho lắm. Chúng ta chưa từng tham gia một hôn lễ nào long trọng nhường này! Đây là sự thật, trước kia chúng ta cũng từng nghe câu chuyện về một con lạc đà cưới một con lừa, con lừa ngẩng đầu nói với con lạc đà rằng: - Hãy chúc phúc cho ta, người chồng mới tốt làm sao! - Con lạc đà nghe thấy tiếng lừa liền kích động gầm lên rằng: - Hãy chúc phúc cho ta, âm thanh hay làm sao! - Trong hôn lễ đó, tân lang và tân nương là bình đẳng; thế nhưng, trong hôn lễ này, một cô dâu xinh đẹp thế này nên có một chú rể tương xứng, đó mới là chuyện hạnh phúc thực sự."

Tiếp theo, các đại thần Bà-la-môn khác cũng phát biểu quan điểm:

"Quân chủ tôn kính của tôi, vào khoảnh khắc thần thánh trang nghiêm này, mọi người tề tựu đông đủ, ngài không cần thiết phải để chúng tôi nghe thấy âm thanh thế này đâu!" (ám chỉ tiếng lừa kêu)

Các quý bà đều kêu lớn:

"Ối giời ơi! Trong hôn lễ sao lại có một con lừa! Thật hoang đường! Một con lừa sao có thể mang lại cuộc sống hôn nhân hạnh phúc cho cô nương?"

Cuối cùng, Gandharva-Sena dùng tiếng Phạn nói vài câu với mọi người, và hứa hẹn rằng ông sẽ ghi nhớ lời giáo huấn của nhạc phụ tương lai, lập nhiều chiến công, không nói lời dối trá. Ông còn nói, bề ngoài lịch sự giống như y phục của con người, người thông minh tuyệt đối sẽ không nhìn áo mà đánh giá người. Ông bổ sung thêm, ông biến thành thế này là do tổ tiên ông phạm lỗi; hễ đến ban đêm, ông lại biến thành người, cho nên ông vẫn là con của Indra, điều này không có gì phải nghi ngờ.

Nghe thấy một con lừa có thể nói tiếng Phạn trôi chảy nhường này, mọi người đều vô cùng kinh thán. Một con lừa vậy mà có thể dùng ngôn ngữ loài người để diễn thuyết, thật là quá đỗi tuyệt vời. Quan điểm của mọi người đối với Gandharva-Sena từ đó cũng thay đổi. Mọi người cũng thừa nhận rằng, mặc dù ông có hình thê con lừa nhưng không có gì đáng trách, dẫu sao vẫn là con của Indra. Cứ như thế, quốc vương đã gả con gái mình cho Gandharva-Sena (chú thích: Dẫn chứng từ "Ấn Độ thông lãm" do William Ward biên soạn. (vol.i.p.25).). Tiếp theo đó, rất nhiều chuyện kỳ lạ nối tiếp kéo dài theo cuộc hôn nhân bất hạnh này, cho đến khi nhân vật chính Gandharva-Sena khôi phục diện mạo và danh tiếng trước kia, mọi thứ mới khôi phục bình thường.

Gandharva-Sena là nhân vật tên tuổi sống ở thế kỷ kỷ nguyên Cơ Đốc, cho nên câu chuyện hoàn toàn có thể truy ngược lại thời đại của Apuleius sống ở châu Phi năm 130 sau Công nguyên.

"Ba-tư-bách-sì" (Ba-tư-bách-sì), hay còn gọi là "Hai mươi lăm câu chuyện của một con ma cà rồng", kể về những câu chuyện thần thoại của loài dơi, ma cà rồng hoặc ác ma sống trong đống thây ma ở tự nhiên. Những chuyện kể trong sách đều là những câu chuyện cổ xưa của Ấn Độ, nguyên bản được ghi chép bằng chữ Phạn cổ. Loại tiểu thuyết mang tính hư ảo lịch sử này đã khai mở tiên hà cho văn học Ấn Độ; sự xuất hiện của loại tiểu thuyết tiêu khiển giải trí như "Nghìn lẻ một đêm" đã khiến nó đạt đến độ chín muồi; mà tiểu thuyết tình yêu mang phong cách hiệp nghĩa do thiên tài văn học Boccaccio sáng tạo ra đã kéo dài sự phát triển của nó; cho đến tận châu Âu cận đại, sự sáng tạo thể loại tiểu thuyết sử thi anh hùng mới đưa nó lên đỉnh cao.

Tiếng Phạn, người đời gọi là ngôn ngữ của Thượng Đế, lại có tên là tiếng Latinh của Ấn Độ. Những bộ sử thi kiệt tác được biên soạn bằng chữ Phạn này hiện đã được dịch thành tiếng Ấn Độ cổ hoặc rất nhiều ngôn ngữ bản địa và phương ngôn hiện đại bên trong bán đảo Ấn Độ. Do đặc điểm mang tính đa giáo phái của cuốn sách này cùng với đặc điểm ngôn ngữ đơn giáo phái của giáo hội Hồi giáo, cho đến nay vẫn chưa có bản dịch bằng ngôn ngữ giáo hội Hồi giáo. Cứ lấy cuốn sách "Hitopadesa" — lại có tên là "Lời khuyên của một người bạn" ra mà nói, chúng ta có thể thấy từ mục giới thiệu của nó rằng, cuốn sách này học hỏi từ một cuốn sách cổ năm chương mang tên "Panchatantra". Cuốn sách này là một câu chuyện thần thoại do một người uyên bác thuộc giai cấp Bà-la-môn tên là Vishnu Sharma kể nhằm khai trí cho học sinh của mình — là con cháu các vương hầu Ấn Độ. Những câu chuyện thần thoại này đã được dịch thành nhiều thứ tiếng như tiếng Ba Tư, tiếng Syria cổ, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Hy Lạp, tiếng Latinh, tiếng Do Thái và tiếng Ả Rập. Trong đó, các bản phiên bản khác nhau bằng tiếng Ba Tư, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Hy Lạp, tiếng Latinh, tiếng Do Thái và tiếng Ả Rập được lưu truyền rộng rãi. Thần thoại Ba Tư (chú thích: Cách biểu đạt trong tiếng Ả Rập là: Badpai el Hakim.) được đông đảo mọi người biết đến, ít nhất là cái tên cũng rất vang dội, do đó nhanh chóng đặt chân vào văn đàn châu Âu. Những câu chuyện thần thoại này thoạt đầu rất rời rạc, nhưng sau khi được chỉnh lý, chúng ta phát hiện ra chúng rõ ràng chính là nguồn sáng tác của "Decameron". Một nhà phê bình người Ý hiện đại nói rằng, tiểu thuyết cổ điển hiện đại, ví dụ như một trăm câu chuyện trong "Decameron" của Boccaccio, qua khảo cứu thì trong cung đình của Nữ hoàng Joanna ở Napoli đã có người truyền tụng, chỉ là bản thân Boccaccio thông qua việc sưu tầm và tích lũy đơn giản nhất, có tính độc đáo nhất trong nửa đời sau của mình đã sáng tạo nên một tuyệt thế giai tác như vậy. Cho nên, nhà văn vĩ đại người Florence sáng tạo không phải là nội dung câu chuyện của nó, cũng không phải cốt truyện của nó. Thời kỳ sáng tác của ông ở vào giữa thế kỷ 14, khi ấy phương Tây có rất nhiều thứ học hỏi từ phương Đông, như thơ ca, tiểu thuyết, tỳ bà, trống lớn, thuật luyện kim và quân sự. Đúng như "người thông thạo phương Đông" được biết, rất nhiều tiểu thuyết loại này cho đến nay vẫn được các thi nhân du ca, người kể chuyện và diễn giả ở các vùng Ba Tư và Trung Á truyền tụng rộng rãi.

Vị vua vĩ đại xuất thân từ giai cấp Sát-đế-lợi — Vikramaditya (chú thích: "Vikram" có nghĩa là "anh dũng" và "uy lực".), tức Vikermalca (có nghĩa là "ánh dương của chủ nghĩa anh hùng"), từng là tướng quân của Vua Arthur Ấn Độ, thống trị vùng Viễn Tây. Lịch sử ghi nhận ông thực sự có thật. Cha của ông là Gandharva-Sena (tức là người hóa thành lừa được nhắc đến ở phần trên của bài viết này), mẹ là Nữ hoàng Dihara. Cha của Vikram từng thề trước khi ông chào đời rằng sẽ khiến ông có được sức mạnh của một ngàn con voi đực, nhưng khi cha ông qua đời, ông nội ông là Indra đã phán quyết dứt khoát rằng đứa trẻ này không nên ra đời, mẹ ông vì thế mà vô cùng đau đớn. Nhưng chín tháng sau, Vikram vẫn đến thế giới này, bị Indra mang đi. Indra cảm thấy đứa trẻ rất đáng thương nên đã nhận nuôi ông, cho ông thụ hưởng nền giáo dục tốt đẹp.

Về việc lên ngôi của Vikram, các lời đồn đại đều khác nhau. Thế nhưng, ông quả thực từng là quốc vương đảo Malaya. Đảo Malaya chính là vùng Malwa hiện đại, một tỉnh phía tây vùng thượng lưu sông Ấn. Các câu chuyện thần thoại Ấn Độ viết về ông rất nhiều, câu chuyện ca ngợi sự dũng cảm của ông, nói ông là "nhân vật anh dũng quy tụ trái đất dưới một chiếc ô bảo vệ".

Gia tộc thống trị cuối cùng của đảo Malaya là vương tộc Pal, thống trị kéo dài tận 318 năm. Bản thân Pal trị vì được 25 năm, sau đó vì quá mê đắm sắc đẹp nữ nhân nên quốc gia của ông đã bị quốc vương Śakaditya đến từ vùng cao nguyên Kumaon chiếm đoạt. Vào năm thứ 14 dưới triều đại của Vikramaditya, ông giả vờ kết thông gia với vương tộc Pal, đánh bại Śakaditya, lên ngôi vương quốc Delhi. Thủ đô Avanti của vương quốc Delhi, tức thành phố Ujjain hiện đại, thành phố dài 26 dặm, rộng 18 dặm, diện tích 468 dặm vuông, trên bản đồ Ấn Độ chỉ là một chỗ dung thân nhỏ bé. Vương quốc Delhi do Vikram thống trị đã giáo dục thành công chủng tộc đáng sợ ở địa phương này, ông giành được danh hiệu Śakari. Trong thời kỳ Kali Yuga, tức thời đại đồ sắt, Vikram hưởng danh tiếng cao nhất trong số các vương tộc Ấn Độ vì tôn sùng học vấn. Chín học giả dưới sự phò tá của ông được gọi là "chín kỳ tài khoa học" ở Ấn Độ, có thể sánh ngang với bảy hiền triết của Hy Lạp.

Khi đó, những nhân sĩ học thuật này đã sử dụng 18 loại phương ngôn bản địa của Ấn Độ (chú thích: Ngài Ward không thể dẫn chứng tên của 18 loại phương ngôn, nhiều nhất chỉ có chín loại, đó là: tiếng Phạn, tiếng Ấn Độ cổ, tiếng Nagari, tiếng Paisaca, tiếng Gandharva, tiếng Rakshasa, tiếng Ardhamagadhi, tiếng Apabhramsa và tiếng Guhyaka (bảy loại sau đều là phiên âm). Các thuyết minh về những ngôn ngữ này có thể tìm thấy trong "Pingala".) (tất cả các ngôn ngữ trên trái đất đều bắt nguồn từ tiếng Ấn Độ) để trước tác lập ngôn. Dhanvantari là người khai sáng y học; Kapanaka chủ yếu công kích các nguyên tắc cơ bản; Amara-Simha biên soạn từ điển tiếng Phạn và các luận thuyết triết học; Shanku Bhattacharya biên soạn chú giải và bình luận; Gahatkapala là một nhà thơ khiêm nhường, tác phẩm "Mihala" của ông cũng rất ít người nhắc tới; thành tựu chính của Varaha thể hiện ở hai tác phẩm chiêm tinh học và một tác phẩm toán học của ông; Vararuchi chủ yếu đạt được một số thành tựu trong việc nâng cao ngữ pháp, còn viết một bài thơ ca ngợi Vua Madhava.

Thế nhưng, trong số tất cả những đại sư học thuật này, nổi tiếng nhất vẫn là Kālidāsa. Hai vở kịch của ông "Śakuntalā" (chú thích: Được William Jones dịch vào năm 1789; Giáo sư Williams dịch vào năm 1856.) và "Vikramorvaśīya" (chú thích: Do Giáo sư H.H. Wilson dịch.) được lưu truyền cho đến tận ngày nay. Ngoài ra, ông còn trước tác một bài thơ, một tác phẩm thiên văn học, một vở kịch lịch sử thiên thần thể thơ ca và rất nhiều sách khác (chú thích: Thời kỳ triều đại Sāvansa, khi ấy Vikramaditya vẫn còn tại thế, một vị vua khác là Magha muốn viết một bài thơ lấy tên của ông. Theo ông nói, mỗi câu của bài thơ này đều chú ý làm nổi bật trải nghiệm huy hoàng của các nhân sĩ bác học, hơn nữa toàn bộ bài thơ dài tới 5280 câu, còn nhiều hơn cả "Thiên đường đã mất". Nhìn vào ngày nay, con số quả thực rất khổng lồ. Khoảng cùng thời gian đó, trong thời kỳ trị hiệu của Vikram, Kanauj là vị vua thứ ba nổi tiếng thế giới vì coi trọng nhân tài bác học. Bậc thầy thơ ca Trivāka, vị thi nhân gần như cùng thời kỳ này, từng nhận được món quà mười ngàn câu thơ của Sri Harsha, mang nhan đề "Ratna-Mālā".), đều được truyền tụng rộng rãi.

Vikram khai sáng thời đại Samvat (tính từ năm 56 trước Công nguyên). Sự thống trị của ông tuy huy hoàng nhưng ông đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến với Śālivāhana. Khi đó, quốc vương của Śālivāhana là Pratishthana, sau khi chiến thắng Vikram, ông đã sáng lập ra thời đại "Śaka", bắt đầu từ năm 78 sau Công nguyên. Cho đến nay, người ta vẫn tưởng niệm đoạn lịch sử đó, người Ấn Độ vẫn tiến hành các hoạt động tế điện vào ngày sinh nhật, ngày kỷ niệm ngày cưới và những ngày tương tự của Pratishthana.

Sau Vikram, người con trai út của ông là Vikrama-Sena kế vị ngương vị, sự thống trị của hai cha con kéo dài tới 93 năm. Cuối cùng, một vị đại thần trung thành tên là Samudra-Pala đã soán ngôi vị của con trai ông. Samudra-Pala trị vì 24 năm 2 tháng, sau đó lần lượt truyền ngôi cho 16 đời thừa kế, tổng thời gian thống trị lên tới 641 năm 3 tháng. Samudra-Pala cuối cùng đã hy sinh trong cuộc chiến tranh với vương quốc Tāraka-Chandra. Quốc vương của vương quốc Tāraka-Chandra là Vaharanatha (chú thích: Trung úy Wilford tôn sùng cách nói như sau: Trước sau tổng cộng có tám vị quân vương kiểu Vikramaditya, thời đại do vị quân chủ cuối cùng thiết lập có thể tiến hành khảo chứng sâu hơn. Độc giả có ý quan tâm có thể tham khảo "Tuyển tập Lassen" và "Luận về Vikram" do Giáo sư H.H. Wilson biên soạn (bản mới, As.Red...ix.117.), để làm tham khảo.).

Giá trị của câu chuyện cổ xưa này nằm ở tính khải phát và tính thông tục của nó. Tôi đã chỉnh sửa nguyên văn một chút, đồng thời bổ sung thêm một số tình cảm phong phú mang tính nhân văn.

Gửi người chú Robert Bagshaw của tôi,

Những câu chuyện thần thoại này sẽ khiến ông nhớ lại mảnh tịnh thổ quen thuộc và đong đầy yêu thương mà ông vẫn hằng gắn bó.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.