David cố để hiểu cho ra điều người đàn ông kia vừa nói. Đầu óc anh mụ mị vì thứ thuốc mỡ nano đang chữa lành vết thương ở vai và chân anh, trong lúc tấn công lỗ mũi anh bằng cái mùi kinh tởm của nó.
Người này tự nhận mình là Patrick Pierce/Tom Warner - cha của Kate và tác giả cuốn nhật ký. Người lính Mỹ đã đào hầm cho bọn Immari để được phép cưới con gái một trong những lãnh đạo của chúng. Nhưng không thể thế được - dòng thời gian không hợp lý. Tuy nhiên... ông đã ở trong những cái ống đông lạnh Atlantis một thời gian dài... Có lý không? Có phải ông đang nói thật không?
David cố chắp nối những gì anh biết.
Từ năm 1917 đến năm 1918, Patrick Pierce dưỡng thương sau Thế chiến thứ nhất và phát hiện ra công trình Atlantis bên dưới Gibraltar, kích hoạt Quả Chuông và phát tán một dịch bệnh chết người, dịch bệnh được thế giới gọi là “bệnh cúm Tây Ban Nha”. Khoảng năm mươi tới một trăm triệu người đã tử vong. Gần một tỉ người đã nhiễm bệnh trên khắp các lục địa.
Vào năm 1918, Pierce đã đặt vợ mình, Helena, và đứa con trong bụng cô vào một cái ống.
Từ năm 1918 đến 1938, Pierce trở thành một thành viên bất đắc dĩ của Đoàn lãnh đạo Immari để bảo vệ vợ và đứa con chưa chào đời. Ông hoàn thành việc khai quật ở Gibraltar, nhưng rồi chính ông cũng bị đặt vào một cái ống khi Konrad Kane lên đường thực hiện chuyến thám hiểm của mình: đầu tiên là đến Tây Tạng để tìm các cổ vật và tàn sát hội Immaru, rồi sau đó đến Nam Cực để tìm kiếm cái mà ông ta tin là thủ phủ của Atlantis. Kane không quay trở lại.
Vào năm 1978, bốn mươi năm sau, Mallory Craig, Patrick Pierce và Dieter Kane được đánh thức từ những cái ống. Vợ của Pierce vẫn chết, nhưng con họ đã chào đời. Pierce đặt tên con là Katherine Warner. Những người khác cũng lấy tên mới: Patrick Pierce trở thành Tom Warner, Mallory Craig trở thành Howard Keegan, còn Dieter Kane trở thành Dorian Sloane.
Vào năm 1985, Tom Warner (Patrick Pierce) mất tích - có thể đã bị giết sau một thí nghiệm nghiên cứu.
Có thể thế được chăng? Chẳng lẽ Patrick Pierce/Tom Warner đã ở dưới này từ năm 1985?
Nếu Pierce khoảng hai mươi lăm tuổi vào thời Thế chiến thứ nhất, như trong cuốn nhật ký có viết, thì khi ông bị đặt vào cái ống năm 1938, ông sẽ khoảng bốn mươi lăm tuổi... Tức là ông sẽ khoảng năm mươi hai vào năm 1985 và... hiện nay là tám mươi tuổi. Người đứng trước mặt anh trẻ hơn nhiều, có lẽ chưa ngoài năm mươi là bao.
David đã thấy khá hơn nhiều nhờ thứ thuốc mỡ. Anh đứng dậy, và người đàn ông giơ súng lên. “Ngồi yên đấy. Anh không tin tôi, phải không?”
Khó mà tranh cãi được khi ta bị thương và người bắt giữ ta lại có súng, David thầm nghĩ. Anh nhún vai và tỏ vẻ ngượng ngùng. “Tôi tin ông chứ.”
“Đừng có làm bộ. Và đừng nói dối tôi nữa.”
“Nghe này, tôi chỉ đang cố ghép nối các sự việc với nhau thôi, cuốn nhật ký được viết từ... 1918 đến 1936...”
“Tôi biết ngày tháng của cuốn nhật ký; anh phải nhớ là chính tôi đã viết nó. Giờ hãy cho tôi biết chính xác bằng cách nào mà anh xuống được đây.”
David ngồi xuống giường. “Tôi bị bẫy. Bởi Mallory Craig, giám đốc của Tháp...”
“Tôi biết hắn là giám đốc của cái gì. Sao hắn bẫy được anh?” Ông nói rất nhanh, như muốn dồn David vào chân tường, hy vọng anh sẽ phạm sai lầm và tiết lộ chân tướng dối trá của mình.
“Kate Warner. Ông ta bảo tôi cô ấy đã đi vào hầm mộ. Tôi vào để tìm cô ấy. Chúng đã bắt cóc hai đứa trẻ từ phòng thí nghiệm của cô ấy ở Jakarta cách đây chừng một tuần. Hai đứa trẻ được điều trị bằng một liệu pháp chữa tự kỷ mới...”
“Anh đang nói cái quái gì thế?”
“Tôi cũng không chắc nữa, cô ấy không cho tôi biết...”
“Kate Warner mới có sáu tuổi đầu. Con bé không có phòng thí nghiệm ở Jakarta hay ở bất kỳ đâu khác cả.”
David quan sát người đàn ông. Ông tin vào điều mình vừa thốt ra. “Kate Warner là nhà nghiên cứu di truyền học. Và chắc chắn cô ấy không còn là một cô bé sáu tuổi nữa.”
Người đàn ông hạ súng xuống, nhìn xuống sàn rồi lại sang nơi khác. “Không thể thế được,” ông lầm bầm.
“Vì sao?”
“Tôi mới ở dưới này có một tháng.”