Etta Và Otto Và Russell Và James

Lượt đọc: 97 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Etta vừa đi vừa hát. Những ca từ bà không bao giờ quên:

Ta ngồi nhìn cánh đồng hoang,

Hỏi trời sao lại chẳng màng mưa rơi.

Gabriel thổi kèn hơi,

Bảo rằng, Mưa đã đi chơi mất rồi.

Bà ra khỏi đường cái, băng qua những cánh đồng mới làm. Bà biết nông dân không thích thế. Nhưng ở trên đường thì xe nào chạy ngang cũng đều dừng lại và Chào bà và Bà đi đâu đấy và Bà làm gì thế, nên bà quyết định chọn bước qua cánh đồng, cố không giẫm nát mùa màng. Đồng rộng bát ngát, gần như vắng tanh, lác đác có vài con bò, nên bà hát to hết sức.

Bà dừng chân để ăn trong một quán cà phê tại trạm nghỉ ở Holdfast. Người ta đã thay hết bàn và ghế từ lần cuối cùng bà đến đây với Alma. Ít sặc sỡ hơn, sạch hơn. Không ai nhận ra bà vào thị trấn và cũng không ai để ý bà rời đi trừ cô phục vụ và thằng nhỏ ở quầy.

Sau khi ăn ba cuốn bắp cải cuộn thịt, hai lát bánh mì bơ và một miếng bánh nướng nhân đại hoàng rồi thanh toán, Etta rời đi với mười gói xốt cà chua và tám gói nước xốt rau nhét trong túi. Nước xốt làm từ rau với đường, xốt cà chua làm từ trái cây và đường, cả hai đều sẽ có lúc hữu dụng.

Trời vừa sẩm tối, những cánh đồng càng lúc càng thưa thớt, dưới chân cát bắt đầu xuất hiện, rồi từ từ, chúng hoàn toàn thay thế đất. Và ngay khi mặt trời đã hoàn toàn biến mất dưới tấm màn da cam rực lửa, Etta dừng bước, nhận ra mình đang đứng trước một cái hồ, rất gần nước, chỉ vừa đủ xa để không bị ướt bởi những đợt sóng. Dĩ nhiên, bà biết trước là mình sẽ phải gặp vài trở ngại với các vùng nước nhỏ trước khi đến được Halifax, bà còn nghe nói chúng đầy ở Ontario. Nhưng gặp nước sớm như vậy thì thật không ngờ được. Bà ngồi xuống trên bãi cát, cách mép nước vài mét. Được ngồi thật thích biết bao nhiêu. Bà tính bơi qua. Liệu có tốn sức không, một người có thể bơi bao xa mà không nghỉ. Bà ngả người xuống bãi cát và lắng nghe tiếng sóng vỗ, một âm thanh thật mới mẻ làm sao. Etta nhắm mắt lại.

Trời đất ơi, hình như có người chết kìa. Không thể nào!

Hình như đó đó.

Thế, anh có tính qua đó xem thử không?

Đi với anh nhé.

Dĩ nhiên.

Anh yêu em.

Em yêu anh. Và coi kìa, chưa chết. Còn thở luôn.

Anh nghe nói đôi khi người ta vẫn thở, sau khi chết ấy.

Gì chứ, xác chết? Thở á?

Ừ.

Bậy.

Có thể mà.

Không đâu.

Etta thức giấc khi nghe tiếng chân lạo xạo trên lớp cát tiến tới, nhưng bà vẫn nhắm mắt lắng nghe trong lúc cặp đôi kia lại gần. Bà thở rất khẽ. Trong khi ngủ, cát đã vùi lấp chân và phần lớn cơ thể bà. Sức nặng của cát trên người bà tương đối dễ chịu. Bà có thể cảm nhận được cát nứt ra và lại hòa vào nhau mỗi khi bà hít thở. Nếu giờ mình mở mắt ra, họ sẽ hỏi mình là ai, bà nghĩ. Nhưng nếu không thế thì họ sẽ tưởng mình chết rồi, có khi còn gọi cảnh sát nữa. Bà vật lộn với mớ suy nghĩ của mình, cố gắng căng não hết mức có thể và vẫn nhắm mắt. Cát. Cảm nhận về cát. Cảm giác rã rời hai bên hông. Đêm tối. Âm thanh. Gió thoảng. Một người chị với mái tóc đen. Một ngôi nhà trong thành phố. Giấy viết thư. Giấy.

Cặp đôi kia vẫn tiếp tục nói chuyện khiến bà bị phân tâm. Mắt vẫn nhắm, Etta cho tay vào túi áo khoác để tìm tờ giấy, lục lọi trong mớ đồ chấm từ quán ăn khiến một dòng cát đổ xuống, tạo ra âm thanh rào rào. Và tờ giấy đây, được gấp gọn gàng. Bà rút nó lên, mở ra. Giờ chắc hai người kia biết là mình chưa chết rồi. Chắc họ đang chờ đợi, hoặc sợ hãi. Etta mở mắt. Trời khá tối nên bà phải dí tờ giấy sát vào mặt.

Tờ giấy ghi:

Mình:

Etta Gloria Kinnick ở trang trại Deerdale. Tháng Tám này 83 tuổi.

Etta Gloria Kinnick, bà tự lẩm bẩm, Được rồi. Được rồi. Ừ, được rồi.

Tôi chưa chết, bà nói với hai bạn trẻ đang nhìn mình chằm chằm bên cạnh. Tôi là Etta Gloria Kinnick. Người chết thì không còn thở đâu.

Ôi trời! Ý cháu là, tốt quá! À, không, chào cụ, cậu trai nói.

Thấy chưa? Nói anh rồi mà, cô gái nói.

Cụ có sao không? cậu trai hỏi.

Được, được, tôi ổn.

Ồ, được thôi, thế thì tốt.

...

...

Cụ có cần giúp về nhà không ạ?

Tôi không định về nhà. Nên thôi, cảm ơn nhé.

Cụ không có nhà à?

George!

Chà, chỉ là nhìn cụ ấy đâu giống người vô gia cư đâu.

Tôi có nhà. Chỉ là hiện tại tôi không về đó.

Cụ định đi đâu?

Phía đông.

Thế nghĩa là phải băng qua Hồ Last Moutain.

Hoặc đi vòng qua nó.

Nhưng đấy là một chặng đường rất dài nhỉ?

Tôi không biết nữa. Hình như vậy.

Chắc rồi. Tụi cháu có bản đồ trong cabin của mình mà. Nó xa lắm đó.

...

...

Này, để tụi cháu đỡ cụ dậy nhé.

Molly và George, hai đứa trẻ tìm thấy Etta, đến từ một bữa tiệc gần đó. Chúng đã lấy cớ chuồn đi lặng lẽ, riêng rẽ, mỗi người cách nhau bảy phút, và gặp lại cách đấy một trăm mét dưới bãi cát phía sau kho đựng đồ đánh cá của nhà Lambert. Hai người đang trên đường trở về, khoảng nửa giờ sau đó, thì thấy Etta. Sau khi xác nhận là bà chưa chết, họ giúp bà đứng dậy rồi phủi sạch cát ở chân và lưng bà. Cả hai chuẩn bị quay lại tiệc tùng, mặc cho mùi cá rô còn vương trên người cùng vết lưới đánh cá hằn ở lưng và bụng.

À, hay là thế này nhỉ? Molly nói.

Thế nào? George hỏi.

Thế nào? Etta hỏi.

Cụ nên đi với tụi cháu. Quay lại bữa tiệc. Đi với tụi cháu nhé.

Được không? George nói.

Được không? Etta nói.

Được chứ! Molly nói, nắm lấy tay Etta đi dọc xuống bãi cát, hướng về phía có âm thanh và ánh sáng.

Otto yêu dấu,

Em đang ở trên thuyền. Nó bé thôi, một chiếc thuyền bơm hơi rẻ tiền. Thế cũng tốt, bởi vì thú thật em cũng không chắc mình sẽ làm thế nào để trả lại cho chủ nó, hai đứa em gái song sinh của một thằng bé em gặp tối qua gần đống lửa trại ở mạn bắc bãi cát Hồ Last Mountain. Bọn em lúc đấy đang ở một bữa tiệc. Có một cô bé nói với em rằng trông em giống bà của nó, giờ bà ấy chết rồi. Em trả lời rằng em không phải bà của ai hết và em cũng chưa chết nốt, và cô bé nói thế là quá tuyệt rồi. Em đang dùng một cái mái chèo cả bọn tìm thấy trên bãi cát. Em không biết đấy là đồ của ai. Chắc là tụi sinh đôi chưa bao giờ muốn đi xa đến mức cần dùng đến mái chèo cả.

Khi em qua đến bờ bên kia, em sẽ bỏ mái chèo vào thuyền và đẩy chúng trở lại xuống hồ, cùng một tờ giấy gắn trên đó ghi là: Thuyền: tài sản của chị em song sinh nhà McFarlan. Mái chèo: chủ nhân vô danh. Em đã viết sẵn chúng rồi, trên một tờ giấy ăn. Em vẫn còn giấy, giấy thật (giống tờ này), nhưng em không muốn lạm dụng chúng.

Cùng với con thuyền và mái chèo, mấy đứa nhỏ còn cho em hai chai bia và một chai rượu lúa mạch đen bốn lăm độ nữa. Rất có ích phòng khi bị lạnh, chúng bảo thế. Tụi nhỏ rất dễ thương. Hai trong số chúng lại đang yêu nhau nữa.

Nhớ phải đội nón và ăn rau chân vịt khi chúng mọc nhé. Yêu anh,

Etta.

Otto nhận được thư năm ngày sau ngày Etta đề trên đó. Lá thư đến trong đợt thư sáng, khi ông đang lau chùi lò nướng theo hướng dẫn viết tay trên một tấm thiếp ố vàng:

Cần:

Thuốc muối và nước.

Cách làm:

Bôi vào, chờ chút, chùi đi.

Etta đã đi được một tuần. Ngày đầu tiên ông thử ra đồng như thường lệ, nhưng không tài nào ngăn mình nhìn lại ngôi nhà được. Cũng như Russell với con hươu của ông ta.

Những ngày còn lại trong tuần Otto chỉ làm việc trong nhà hoặc trên một mảnh vườn nhỏ gần đó. Bụng ông quặn lên khi ông đi xa hơn thế. Ông xới đất trong vườn rồi cào chúng lên, và tiếp tục làm y hệt vào ngày hôm sau. Mặt đất biến thành từng hàng thẳng và đều tăm tắp. Ông sẽ không trồng một thứ gì xuống đó, dù là rau chân vịt, cà rốt hay củ cải, cho đến khi Etta đến được Manitoba.

•••

Hồi còn bé ở trang trại gia đình, nhiệm vụ trước giờ ăn tối của Otto là đi kiểm tra hàng rào chuồng gà. Còn sau bữa cơm, cậu đi nhặt đá. Cậu cũng dùng nắm tay của mình. Hòn đá nào bé hơn nắm tay thì cậu bỏ qua. Nếu hòn đá nào to hơn, cậu bỏ nó vào cái bao bố kéo phía sau cho đến khi chúng gần đầy mà vẫn không quá nặng để kéo đi. Rồi cậu đem bỏ chúng ở rìa trang trại, chỗ cái rãnh phân cách đất nhà cậu với nhà Palmer, nơi đươc gọi là Thung Lũng Đá. Ở đấy vào Chủ nhật, khi không phải làm việc nhà, Otto cùng mấy anh chị em, và giờ có thêm Russell, thường tụ tập chơi trò Phiêu lưu ký. Nếu gặp hòn đá nào quá to không nhấc nổi, cậu sẽ gọi hoặc chạy đi kiếm Harriet-4 và Walter-5, hai người chịu trách nhiệm nhấn nước những con chuột chũi chuyên đào đất phá hoại. Cả hai đều làm đồng nên tay họ đủ khỏe để bê những hòn đá to. Bình thường thì Otto đủ sức nhấc những thứ cậu tìm được, đặc biệt là giờ đây có thêm Russell đi cùng. Nó chỉ nhỏ hơn Otto năm tháng nên mẹ Otto quyết định gọi nó là Russell-7-rưỡi. Bà bảo nó, Con có thể ăn chung với chúng ta, cô không phiền đâu Russell-7-rưỡi à. Ở bên kia một mình chắc cô đơn lắm nhỉ. Nhưng nếu con đã sang đây, con cũng phải phụ giúp việc nhà nữa. Đồng ý chứ?

Vâng, Russell đáp, giọng có hơi lo lắng. Otto thích chuyện này, dù là giờ đây Russell sẽ dính chung với cậu, lảng vảng gần cậu.

Cô chú mày không có việc ngoài đồng cho mày à? Otto hỏi, mắt rà từng lượt trên cánh đồng trước mặt như một cái liềm, một cách cậu tự nghĩ ra để dò những hòn đá. Russell đi bộ phía sau lưng phòng trường hợp cậu bỏ sót. Đây là ngày thứ sáu Russell tham gia giúp việc.

Không. Họ không tin tưởng giao việc cho trẻ con. Như thế không an toàn, Russell nói.

Hừm. Thế làm sao sau này mày tự học làm việc đồng áng được?

Tao không biết có phải học không. Dù sao, tao cũng đến trường, Russell đáp. Chúng nó đang đi bộ như mọi hôm, người đi trước người rảo bước theo sau, nên nói chuyện thì gần như phải la lớn lên. Gió thổi làm bụi lúa bay đầy vào lưỡi và vòm miệng chúng. Otto chỉ cho Russell cách khạc và nhổ chúng ra khoảng mười phút một lần.

Tụi này cũng đến trường, Otto nói. Ngoại trừ mùa hè như giờ nè, và mùa gặt, rồi lễ Giáng sinh với Phục sinh nữa. Tụi tao có thể đếm đến mười rồi ngược lại, ngay cả Winnie cũng làm được. Nhưng mà mấy cái đó không giúp được mày cản lũ cáo khỏi xực hết đám gà nhà mày để rồi chả còn quả trứng nào ăn sáng hay dùng làm bánh đâu.

Chà, Russell đáp, Nhà tao thì không hay ăn bánh. Nó đá văng một hòn đá bé xíu. Với cả tao thích trường học, nó thêm.

Russell về cơ bản đã trở thành một đứa trẻ nhà Vogel. Nó làm việc chung, ăn chung, cúp học chung, và trưởng thành chung với lũ trẻ. Vài đứa em nhỏ hơn thậm chí còn quên luôn hoặc không nhận ra nó chẳng phải anh ruột của mình, mặc dù lúc năm giờ chiều đứa anh ấy thường hay biến về nhà cô chú nó để ăn tối và cầu nguyện rồi đi ngủ. Lúc nào trên giường Russell cũng có sẵn một túi nước ấm, dù cho nước ở đây rất khan hiếm. Cô nó mỗi tối luôn phải hâm lại nước, rót ra rồi đổ trở lại vào túi để dùng tiếp. Ngoài chuyện đó, Russell đích thực là người nhà Vogel. Chính vì thế anh em nhà này mới sửng sốt hết sức khi biết nó chưa từng ngồi lên máy kéo bao giờ.

Chưa từng lái máy kéo là bình thường. Tụi này cũng không được lái đến khi mười tuổi, nếu là con gái, còn con trai thì mười hai.

Không phải chỉ lái thôi đâu. Nó còn chưa từng ngồi lên một cái máy kéo luôn.

Chưa bao giờ?

Chưa bao giờ.

Otto và Walter đang nói chuyện với nhau. Hai đứa đang nghỉ giải lao sau khi làm việc, đang trên đường quay vào nhà để lấy nước uống và mang cho Harriet với Russell. Russell với Harriet ở lại trên đồng, người thì tìm đá, người dò hang chuột. Trời nóng. Vừa qua ngày lễ Dominion[1], không khí bụi bặm, khô và nóng. Walter đội một cái nón quá khổ với mình, Otto hay quên mang nón nên không đội. Mặt trời tiếp tục thiêu đốt phần da trên rãnh tóc của cậu. Về sau cậu lại phải bóc từng miếng da bị bong ra trên tóc, một việc vô cùng đáng ghét, rồi phải chạy đi tìm nón của mình và máng vào cây cột đầu giường để nhớ, nhưng cuối cùng cậu cũng lại quên. Mãi về sau này, phần da đó cứ đỏ ửng lên suốt từ tháng Năm đến tháng Chín, mặc cho mái tóc trắng và thưa thớt của cậu. Hàng xóm hay coi chỗ da đó như một kiểu lịch dài ngày: da bắt đầu đỏ là thời điểm để trồng rau chân vịt, khi màu nhạt dần là lúc đậy những luống cà chua lại.

Russell tội nghiệp, Walter nói.

Thiệt chứ, Otto nói. Mà, thật ra nó có vẻ vui mừng.

À Harriet!

Chị ấy thì sao?

Chị ấy lớn rồi! Chị ấy đủ tuổi lái nhỉ?

Ờ... nhưng em không nghĩ mình nên làm thế. Hiện tại cũng không có việc gì cần đến máy kéo. Còn anh thì chưa lùng bắt được hết lũ chuột chũi.

Ta chẳng bao giờ tìm ra được hết chúng đâu. Và em cũng chẳng bao giờ nhặt được hết đá.

Mình có thể. Mình phải thử chứ.

Em không làm nổi đâu. Đi lấy nước đi, mang cho Harriet và Russell, xong bảo Harriet lái máy kéo rồi cho Russell lên đó ngồi. Tới thôi! Ta có thể làm nhanh. Quá lắm là mười lăm phút, chỉ một cuốc vòng quanh cánh đồng thôi. Xong rồi quay lại với đá và chuột. Được chưa?

Chắc được, Otto đáp.

Được thôi, Harriet đồng ý. Lái dễ mà. Chuyện nhỏ.

Được hả? Otto hỏi lại. Chị chắc chưa đó?

Chắc chứ sao không. Chả cần tới mười lăm phút đâu.

Thấy chưa? Walter nói.

Mày nghĩ sao, Otto hỏi, quay sang Russell nãy giờ không hề cất tiếng.

Được thôi, nó đáp.

Máy kéo chỉ đủ rộng cho hai người. Mà thật ra thì chỉ có mỗi một chỗ ngồi thôi. Một cái yên sơn xanh đúc bằng kim loại vốn dành cho những cặp giò to hơn của Harriet nhiều lần. Nhưng phía sau cái yên đó có một khoảng trống nhỏ đủ cho một người đứng vịn vào vai người phía trước, nếu nhỏ con hơn nữa thì có thể lách vào trước vô lăng ngồi trong lòng người lái. Hầu hết anh em nhà Vogel đều ngồi kiểu đó vào lần đầu tiên, trong lòng bố, trong lòng mẹ, hoặc trong lòng chị Marie. Nhưng Russell thì đành phải đứng do nó quá to con còn Harriet lại nhỏ người. Walter và Otto thì ở dưới đất quan sát.

Ban đầu hai thằng hò hét cổ vũ khi Harriet lái chiếc máy kéo ra xa khỏi chúng và chạy theo rìa cánh đồng. Chúng đứng nhìn theo được chừng một phút đến khi không còn thấy gì nữa. Hai anh em quay trở lại với công việc tìm đá và chuột chũi, tản bộ dọc theo vết bánh xe lún trên mặt đất.

Sau khi xử lý hai hòn đá to và dìm chết một con chuột, hai người tưởng như nhìn thấy Amos đang chạy về phía mình, hai bàn tay dính màu giơ cao quá đầu vung vẩy liên tục. Vào mùa này trong năm, Amos có nhiệm vụ thu hoạch dâu Saskatoon dại vào hai cái xô lớn khiến tay cậu lúc nào cũng nhuốm một màu tím thẫm từ thứ quả ấy. Họ chỉ nhận ra đó là Harriet khi Otto nhìn thấy bím tóc lòi ra từ dưới mũ. Ở gần hơn, tay cô có màu đỏ chứ không còn là tím nữa. Cô thở hồng hộc.

Con sói cỏ, cô nói. Nó bị giật mình. Không phải lỗi nó, cũng không phải lỗi chị. Cô lắp bắp, Con sói cỏ...

Cô chụp tay Otto, Otto nắm lắy tay Walter. Cả ba cùng chạy theo vết bánh xe của chiếc máy kéo.

Otto đã khá nhiều lần nhìn thấy động vật chết. Cậu từng thấy chuột chũi bị Harriet và Walter dìm chết, nếu chúng nó còn sống mà tháo chạy thì cũng không thoát được họng súng của Harriet. Thông thường, chúng lãnh một phát vào đầu đi ngay lập tức. Nhưng cũng có khi chúng di chuyển đột ngột làm viên đạn chệch qua một bên hay ghim vào chân. Chúng vẫn tiếp tục lết đi, cố gắng tìm cách sống sót, đến khi Harriet tia một phát thứ hai thật chính xác và kết thúc mọi đau đớn.

Hiển nhiên, cậu cũng thấy xác gà, phần lũ cáo bỏ lại. Và những con chim trời bị thương do va vào cửa sổ hoặc bị mèo vồ.

Có lần khi cậu còn bé, mới bốn tuổi, cậu tìm thấy một con mèo con nhỏ xíu. Con vật còi cọc, mới đẻ và bị bỏ rơi trong bụi cỏ cao phía sau nhà vệ sinh. Nó có màu xám và hồng. Cậu lặng lẽ giữ nó lại dù bố mẹ đã cấm không được có thú nuôi riêng. Cậu lấy cái chảo nướng gà tây mà mẹ chỉ dùng vào dịp Giáng sinh, cho giẻ và vỏ bút chì vào đó để biến nó thành một cái ổ ấm áp, xong cậu đặt con mèo lên rồi đem cả hai nhét trở lại bụi cỏ nơi cậu tìm thấy con mèo. Cậu đậy nắp lên để tránh không cho cáo và chó bén mảng đến những lúc mình vắng mặt. Con mèo nhỏ đến mức nó dễ dàng giấu mình dưới lớp vải và vỏ bút chì khiến Otto mỗi lần mang mẩu bánh mì ngâm sữa đến cho nó ăn là phải bới tung cả ổ lên để tìm. Cậu thường bồng nó bằng một tay và nâng nó lên trước mặt mình rồi thì thầm, Bé còn nhỏ, nhưng mai mốt bé sẽ to. Bé đừng sợ. Bé sẽ là nữ hoàng mèo đó. Đừng có sợ, đừng có lo. Bé là cô mèo có võ võ võ. Cậu vuốt ve cái đầu tròn tròn nhăn nhúm của nó và mong chờ nó mở mắt. Nó bám vào cậu với những chiếc móng khiến cậu nhột nhiều hơn đau. Cậu gọi nó là Cynthia.

Nhưng Cynthia không hề mở mắt. Nó cũng không ăn bánh mì sữa hoặc thậm chí là uống sữa. Càng ngày nó càng ít cử động hơn, chỉ nằm ngủ, ngay cả khi được Otto bồng nó cũng không còn bám vào cậu nữa. Cậu cứ tiếp tục vuốt đầu nó và vuốt và vuốt, thậm chí còn thử kéo mí mắt nó lên một chút, nhưng chẳng có gì xảy ra. Cậu nhẹ nhàng lay nó trong tay và gọi, Cynthia ơi, Cynthia à, Cynthia dậy đi, dậy đi, dậy đi mà. Nhưng cậu biết nó bị ốm. Nó ốm như đứa bé hàng xóm. Vậy nên một đêm, sau khi đi vệ sinh, Otto lôi cái chảo nướng cùng Cynthia ốm yếu bên trong ra khỏi bụi cỏ rồi âm thầm thận trọng mang nó lên phòng ngủ. Amos, tám tuổi và thông minh, vẫn còn thức khi cậu vào phòng.

Otto, cậu thì thào. Những người xung quanh đều đã ngủ hết.

Ừ, đây?

Em cầm cái chảo nướng chi vậy?

Không bép xép chứ?

Không bép xép đâu.

Lại đây coi.

Amos ngồi dậy, cẩn thận không đánh động đến Walter nằm cùng giường. Cả hai ra ngoài hành lang. Otto đặt cái chảo nướng xuống sàn nhà giữa hai người. Cậu nói, Là con mèo con em nuôi. Cynthia. Cơ mà nó đang ốm. Cậu giở nắp chảo ra. Anh phải bới lên mới thấy được nó, nó trốn đấy. Cậu tìm thấy nó trong góc, giữa dám vỏ bút chì. Cậu bồng nó lên bằng tay phải như mọi khi. Vò bút chì bám đầy trên lưng và đầu nó. Nó toàn ngủ thôi, cậu nói.

Nó trụi lông, Amos nhận xét.

Ừ, Otto đáp.

Cả hai nhìn nó vài giây. Từ căn phòng sau lưng họ vẫn nghe tiếng thở đều của mọi người đang say giấc.

Em biết là nó chết rồi mà, Amos nói.

Ừ, Otto đáp. Cổ họng khô khốc. Cậu vẫn nâng bàn tay thật, thật cẩn thận.

Được rồi, Amos nói, đặt một tay lên vai Otto và để nguyên ở đó.

Được rồi, Otto đáp.

Gần một năm sau, trên đường vào ăn tối sau khi xong việc, Amos bảo Otto, Em nhớ Cynthia không? Nó là một con chuột chũi. Không phải mèo. Nó là một con chuột, trước sau cũng sẽ bị giết.

Otto lẳng lặng gật đầu.

Và, cậu cũng thấy bê chết nữa. Những con vật dị tật từ lúc mới sinh. Một số đã chết từ trước đó, một số thoi thóp rồi cũng mau chóng ra đi dù có được giải thoát hay không. Chúng có đôi mắt to gần hơn cả đầu và chân này quấn vào chân kia.

Russell lúc đó trông y hệt như thế. Sõng soài trên đất, nửa người còn kẹt dưới máy kéo, hai chân xoắn vào nhau. Nhưng mắt nó nhắm, giống Cynthia. Otto nhìn nó và rồi quay đi nôn thốc nôn tháo.

Có con sói cỏ, Harriet kể. Nó chạy băng qua tụi này làm Russell giật mình và buông tay và chị phải rẽ để không cán nó và Russell trượt và không phải lỗi nó cũng không phải lỗi chị và không phải lỗi nó và không phải lỗi chị và không phải lỗi chị.

Tất cả đều mặc quần, ngoại trừ Otto. Cậu đang mặc bộ đồ liền quần cũ của Walter, ống xắn đến mắt cá chân, là thứ có nhiều vải nhất trong số cả ba người lúc đó. Otto cởi đồ ra làm cáng, rồi cả bọn đỡ Russell đang bất tỉnh nằm lên. Mắt vẫn nhắm, người vẫn rúm ró, ba người khiêng Russell về nhà. Harriet cùng Walter mỗi người căng một đầu ống chân của bộ đồ. Còn Otto, mặc mỗi áo sơ-mi với quần lót, giữ quai áo ở phía sau và chăm chú nhìn đôi mắt nhắm nghiền của Russell.

Russell thoát chết nhưng một chân của nó thì không, chân phải của nó vĩnh viễn cong, thế nên nếu có ai nhìn thấy nó băng qua cánh đồng, người ta sẽ biết ngay đó đích thị là Russell, dù cho lúc đó bị nắng làm lóa mắt chăng nữa. Người nó gập lại với mỗi bước thứ hai, đà di chuyển theo hướng của cái chân phải tật nguyền, khiến nó phải vận hết sức lưng, bụng và cả chân lành lặn còn lại để giữ thăng bằng, cứ như thế lặp lại. Và khi di chuyển trong một không gian lớn. trông nó như đang khiêu vũ một mình.

•••

Vài năm sau đó, Etta và Alma lái xe đến Holdfast trong im lặng. Etta lúc đó mười lăm tuổi. Alma lái xe, chân mang đôi giày cao gót màu be của mình. Đôi giày nhảy của cô. Etta thầm nghĩ mang đôi giày như thế hẳn lái xe cực lắm, nhưng cô bé không nói gì. Gió thổi mạnh át cả tiếng xe. Khi hai người đến quán cà phê ở trạm nghỉ, Alma dẫn cô đến một cái bàn kê sát tường. Một cô phục vụ lạ mặt đến và họ gọi món. Sau đó Alma nói:

Chị ốm rồi Etta. Mái tóc đen thường ngày vẫn được bới lên của cô xõa xuống. Hình dáng khuôn mặt cô như thay đổi, những đường nét đậm được che đi, cô ẩn mình sau mái tóc. Gió thổi lúc ngồi xe khiến tóc cô càng bù xù hơn.

Trông chị khỏe mà, Etta đáp. Cô biết khi người ta ốm thì mặt sẽ xám ngoét, hoặc vàng ủng ra, ho liên tục, rồi mất tiếng hoặc không ăn được gì vì lý do này lý do nọ. Cơ mà Alma không có triệu chứng nào như thế hết. Giọng cô nhỏ đi nhưng không mất, mặt cô khuất nhưng không đổi màu. Và cô còn ăn. Họ gọi bánh, nhân kem chua nho khô cho Alma, nhân dâu Saskatoon cho Etta. Đã lâu rồi, hàng bao năm trời, từ lúc hai người còn bé đến nay không có thêm một ai bị ốm nữa. Mà những ca ốm thường chỉ xảy ra với những đứa trẻ nhà nông, con nhà thành phố với đèn làm việc và toilet trong nhà như họ thì không. Dù vậy, tim Etta vẫn đập nhanh hơn. Chị trông ổn mà Alma, cô nói.

Alma ngửa tay đặt lên bàn, Etta cố ngăn mình không làm theo. Bản năng đầu tiên của cô bé là làm theo y hệt chị mình. Thay vào đó, cô áp lòng bàn tay bên dưới mặt bàn. Chị không bị cảm, Alma nói.

Tốt rồi, Etta đáp.

Chị đã phá hỏng mọi thứ.

Thật ư?

Bọn chị đã phá hỏng mọi thứ.

Bọn chị?

Dù sao chị cũng không định nói với anh ấy.

Ai? Gì cơ?

Jim.

Ồ, Etta nói. Lòng chùng xuống, mặt cô xanh và tái đi. Cô hy vọng Alma không nhận thấy. Etta khoái Jim. Jim hay dẫn cô đi chơi cùng với Alma, Jim chọc bố mẹ cô cười. Ồ ồ ồ.

Người phục vụ đem bánh đến. Cảm ơn, hai người đồng thanh.

Cảm ơn quý khách, cô phuc vụ nói vừa nghiêng đầu mỉm cười và quay trở vào nhà bếp. Giày cô ta giống đôi của Alma, có điều cũ hơn, phần gót và mũi giày đầy những vết xước. Etta nhìn chị. Không phải nhìn vào mặt mà là cả người. Ngực cô, tay cô, vai cô. Etta không thể thấy bụng của Alma vì bị cái bàn che khuất, nhưng cô có thể tưởng tượng ra vùng da trắng bên dưới lớp vải cotton xanh lam của chị mình đang căng ra.

Chị phải ra đi, Alma tiếp. Chị đã nghĩ đi nghĩ lại rất nhiều lần rồi, chị phải đi thôi.

Đi ư?

Ừ.

Đi đâu?

Đến chỗ cô.

Nhưng nhà mình làm gì có người cô nào.

Không phải theo nghĩa đó, Etta.

Em không... Etta ngừng lại, nhìn xuống cái đĩa viền hoa xanh trước mặt. Cô không ốm, nhưng cũng chẳng buồn ăn nữa. Ồ. Cô nói. Vậy Jim có đi cùng không?

Chị không biết. Chị không chắc nữa. Sao anh ấy phải đi theo?

Nhưng mà ảnh...

Chuyện không đơn giản như thế đâu Etta.

Etta dùng nĩa xắn lớp vỏ bánh để lộ phần nhân màu huyết dụ. Em đi chung được không? cô hỏi.

Không, Etta. Alma đáp.

Alma ăn một chút bánh của mình, nhân bánh sánh và sệt. Etta làm theo. Chúng không ngon như lẽ ra phải thế. Tụi mình còn không đi nhà thờ, Etta nói.

Họ không để ý đâu, Alma đáp.

Tụi mình còn không biết cầu nguyện.

Giờ thì chị biết rồi.

Vậy đứa bé cũng thành ma-xơ à. Etta tưởng tượng một em bé nhỏ xíu quấn mình trong bộ đồ tu, xung quanh là nhũng bà xơ với mái tóc được che lại. Ai cũng mặc áo đen. Một hình ảnh gần như hoàn mỹ. Mọi người đều hát thánh ca.

Không, Alma nói. Họ sẽ đem cho nó đi.

Đem cho nó đi ư?

Ừ. Và chị cầu nguyện.

Mãi mãi?

Mãi mãi. Nhưng em có thể đến thăm. Và không phải tất cả xơ đều mặc đồ đen, có những bộ đồ màu xanh nữa, xanh da trời.

Etta nhắm mắt lại. Cô cảm nhận được nhịp đập cảa tim mình bên dưới mí mắt. Cô cố gắng chuyển từ màu đen thành xanh, xanh mướt như màu trời, như màu biển.

Không đầy một tuần sau thì Alma đi. Vậy là cuối cùng con cũng thuyết phục được nó rồi Etta, bố cô nói khi quay về từ ga. Cứ thử tưởng tượng Alma nhà ta sống trong tu viện xem. Thử tưởng tượng coi, Alma nhà mình đấy. Ông đi trước, Etta theo sau, mẹ cô đi cuối cùng. Họ bước đi trên con đường rải sỏi xuyên qua bãi cỏ úa vàng, giữ khoảng cách chỉ đủ nghe tiếng của nhau.

Bố tự hào về chị lắm, bố cô nói.

Vâng, Etta đáp.

Ừm, mẹ cô đáp từ phía sau.

Etta cũng không rõ là họ có biết hay không.

Tu viện nằm trên đảo Hoàng tử Edward. Phải ngồi tàu hỏa rất lâu, rồi lại chuyển sang thuyền. Trước đây Etta và Alma chỉ biết đến những con thuyền gấp bằng giấy nổi lềnh bềnh trên con rãnh đầy bùn ở chỗ mình. Hàng dặm trường, Etta nói với Alma từ phía bên kia căn phòng ngủ âm u của họ, xuyên qua bóng tối và những tấm màn che vào đêm cuối cùng của Alma. Tại sao lại là nơi xa xôi đó?

Vì ở đó người ta mặc áo màu xanh, Alma nói.

❀ ❀ ❀

[1] Dominion Day - là ngày lễ kỉ niệm việc hình thành nhà nước tự trị Canada vào 1/7/1867. Về sau, ngày này được đổi tên thành Ngày Canada bởi Đạo luật Quốc hội vào 27/10/1982.

Người dịch: Trương Trung Tín
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.