Qua ô cửa sổ của nhà dưỡng lão cách bến cảng Halifax năm trăm chín mươi chín kilômét, cách Davidsdottir, Saskatchewan ba ngàn ba trăm bảy mươi chín kilômét, một con sói cỏ tru và Otto lắng nghe. Ông lắng nghe và chờ đợi trong lúc tiếng tru đó càng lúc càng lớn và gần hơn. Lắng nghe và quan sát cho đến lúc ông nhận ra được lớp lông thô nhám ấy, và đường nét của một gương mặt tam giác, và mùi hương của hơi thở ấm ẩm. Và con sói cỏ xuất hiện, ngay dưới cửa sổ phòng ông.
Etta, con sói cỏ nói. Bà đây rồi.
Ai cơ?
Kiểm tra túi của bà đi, James nói. Túi áo khoác trái của bà.
Otto quay người khỏi cửa sổ và nhìn quanh căn phòng. Có một chồng quần áo gấp lại trên nóc tủ cạnh bức tường đối diện, gần cửa. Ông bước lại gần và đặt tay lên từng món đồ một, từ trên xuống dưới, quần lót, áo lót, vớ, váy, áo lanh, áo khoác. Ông lôi áo khoác ra khỏi chồng đồ, cẩn thận không làm xáo trộn các món khác, rồi lần tìm túi áo bên trái. Một đồng xu, một chiếc nhẫn, một mẩu giấy.
Mẩu giấy, Etta, James nói.
Ông lấy mẩu giấy, mở ra. Có những đường hằn đen do bụi bẩn và vết sờn quanh nếp gấp. Ông mang nó trở lại cửa sổ, nơi có ít ánh sáng của buổi tối để đọc.
Etta Gloria Kinnick ở trang trại Deerdale. Tháng Tám này 83 tuổi, James nói, trong lúc Etta đang đọc.
Gia quyến:
Marta Gloria Kinnick. Mẹ. Nội trợ. (Đã mất)
Raymond Peter Kinnick. Bố. Biên tập viên. (Đã mất)
Alma Gabrielle Kinnick. Chị gái. Ma-xơ. (Đã mất)
James Peter Kinnick. Cháu trai. Em bé. (Chưa từng sống)
Otto Vogel. Chồng. Lính/Nông dân. (Còn sống)
Russell Palmer. Bạn. Nóng dân/Nhà thám hiểm. (Còn Sống).
Etta Gloria Kinnick, Etta nói.
Etta, James nói, đi thôi.
Etta cởi tấm áo choàng và mặc lên quần lót, áo lót, vớ, váy, áo lanh, áo khoác và đôi giày chạy của bà. Bà tìm túi cùng khẩu súng của mình và để chúng cạnh cửa sổ. Bà dọn giường và đặt tấm áo choàng nửa-giấy-nửa-vải dưới chân giường. Bà cho tay vào túi áo khoác phải, tìm thấy một cái sọ cá, rồi dùng đầu nhọn của nó để cắt một hình vuông trên lớp lưới cửa sổ. Bà leo ra, rồi kéo túi cùng khẩu súng theo sau.
Giờ ta không còn xa lắm nữa, đúng không?
Hai tuần, khoảng đó. Không xa chút nào.
Otto ngủ từ sáu giờ tối đến mười một giờ sáng hôm sau. Sau khi thức dậy, vẫn nằm ngửa trên giường, ông đặt một tay lên tim. Chậm rãi, bình thường. Mình có thể cứ nằm ở đây, ông nghĩ. Cứ như thế này đến khi bà ấy về. Và rồi sao? Rồi mình sẽ đứng dậy và chúng mình sẽ cùng bảo đảm khu vườn được chuẩn bị cho mùa đông tới, hay, mình sẽ dịch qua một chút để bà ấy nằm xuống, ông nằm đó suốt nửa tiếng, rồi bắt đầu ho, làm tim lại đập nhanh hơn, làm ông lại phải đi tiểu và nóng nực không nằm trong chăn nổi, dù chỉ một lớp. Ông ngồi dậy, khoác áo choàng, rồi vào nhà vệ sinh. Vỗ nước vào mặt để gột sạch bột hoa lanh. Ông dùng một tay ướt để vuốt tóc, vuốt nó xuống, tìm đường ngôi. Ông nhíu mắt nhìn tấm gương, làm mờ đi các chi tiết trên đó.
Rồi ông vào nhà bếp pha cà phê và nhìn thấy Kasia ở bàn, Cốc trên đùi cô bé.
Chào, cô bé nói. Cô nàng thân thiện quá.
Cô nàng không thích dậy ban ngày đâu, Otto nói.
Cháu biết, Kasia nói, nhưng cháu rất nhẹ nhàng đây. Cô nàng vẫn đang ngủ, trên đùi cháu.
Otto nhìn xuống Cốc, Cốc nhìn lên Otto, móng cô nàng khẽ cào lên lớp vải nhung vàng trên đồ của Kasia.
Được rồi, Otto nói. Sao cháu vào đây được?
Cháu đoán là cửa không khóa, nên cháu thử và đúng thế thật. Mẹ bảo cháu mang cho cụ thứ này và dặn có lẽ cụ đang ngủ nên cháu cứ chơi với Cốc đợi cụ dậy thôi.
Có một hộp thiếc đựng cà phê khác trên bàn, trong đó có thêm hai bông hoa gần tàn.
Cảm ơn nhé, Otto nói. Mẹ cháu thật tốt. Ông hy vọng cô ấy không tốn quá nhiều...
Đừng lo, mẹ cháu thích tìm lý do để ra ngoài.
Để ra ngoài ư?
Mẹ cháu nói vậy đó. Mẹ nói, Mẹ thích tìm lý do để ra ngoài. Cháu cũng thế.
Cháu có đi với mẹ không, đi tìm ấy?
Ồ, không, ý cháu là ở đây. Và ở trong vườn cụ.
Hẳn rồi. Cháu ở đây bao lâu rồi?
Cháu không biết. Cháu có đồng hồ nhưng nó không có pin.
Đủ lâu để đói bụng chưa?
Có vẻ thế. Cụ ăn đồ ăn gì?
Chủ yếu là dưa chua, dạo này thì thế.
Nghe ngon nhỉ.
Kasia giơ mẩu dưa chua lại gần Cốc, cô nàng ghé mắt và mũi vào rồi lại rụt lại khỏi cái mùi. Không đói, Kasia nói. Cô cẩn thận không làm rơi quá nhiều giấm lên đầu con chuột lang trong lúc ăn. Này, cô nói, trong lúc ăn, cụ biết cụ nên làm tượng gì nữa không?
Không, Otto nói, tượng gì?
Một đứa bé, Kasia nói. Kiểu như một cô bé hay cậu bé. Một đứa trẻ.
Tim Otto lại bừng lên làm ông ho và mắt ông ngấn nước và ông phải ngồi xuống. Thế à? ông nói, sau khi cơn ho qua đi.
Thế ạ, Kasia nói.
Sáng hôm sau ngày cậu gặp Winnie, Gisèlle lay Otto dậy. Tóc cô búi cao ra sau đầu và cô mặc bộ đồng phục y tá của Chi đội Cứu trợ Tình nguyện. Nếu ta định làm việc này, cô nói, ta phải làm ngay. Không ngủ nữa. Khẩu âm của cô không còn.
Được rồi, Otto nói, ngồi dậy, đứng dậy, mặc quần và cài lại nút áo, được rồi, cảm ơn.
Cho tay lên tai đi, như thể nó vẫn còn đang rung ấy...
Còn...
Và để tay kia qua người tôi, như thế này, như thể tôi đang dìu anh ấy. Đúng rồi, tốt, được rồi, đi thôi.
Họ bước ra ánh sáng ngày chói chang, ánh sáng Otto không nhìn thấy suốt nhiều tuần, đi xuống những con đường và lên những đại lộ cho đến lúc người đi lại trên vỉa hè không còn chỉ là mấy bà già và trẻ con, mà cả những người đàn ông và cậu trai, người Mỹ, người Anh, người Úc, người Pháp, và người Canada, chống nạng, băng mắt, thiếu tay thiếu chân hay thiếu mũi, và cùng với họ là rất nhiều những nữ y tá trẻ, tất cả đều ăn mặc như Gisèlle. Gisèlle khéo léo dắt Otto len qua họ, nhìn thẳng phía trước. Họ đi đến một tòa nhà bằng đá cũ. Trông như một nhà thờ, Otto nói.
Không phải nhà thờ đâu, Gisèlle nói.
Họ bước lên các bậc thang để vào cửa chính, Gisèlle gật nhanh với bà quản lý ngồi ở bàn đăng ký trước khi họ tiếp tục băng qua tiền sảnh và qua vài cánh cửa xoay để vào một hành lang dài. Phòng một lẻ sáu, Gisèlle nói, bên trái. Họ rẽ vào một căn phòng có giường kê thành hàng, mỗi bên năm chiếc, phân cách nhau bởi màn che. Mấy cậu trai, vài người thức, vài người ngủ, nằm kín những chiếc giường trừ chiếc thứ ba bên phải. Của anh đây, Binh nhì Vogel, Gisèlle nói, dắt Otto lại giường. Trở về giường. Anh có cần giúp với đôi giày không?
Ồ, Otto nói. Không, tôi ổn thôi. Cậu gỡ tay mình khỏi tay cô và ngồi xuống giường, để tay còn lại thõng xuống khỏi tai. Tay cậu tê vì phải giơ cao quá lâu. Tôi tự lo được.
Gisèlle cởi nút áo và tháo giày của cậu. Quần dài nữa, cô nói, cậu biết quy trình mà.
Những người lính khác, những người đang thức, không ai chú ý đến họ.
Đúng rồi đó, chui vào nào, Gisèlle nói, kéo tấm chăn trắng nhét gọn ghẽ trên giường ra. Cô gấp quần và áo cậu lại rồi đặt chúng dưới giường, cùng với đôi giày. Rồi Gisèlle cúi người thấp trên giường, hơi thở cô phả lên má Otto.
Tạm biệt Otto, cô nói. Anh thật sự là một trong số những anh chàng tôi thích nhất. Biểu đồ của anh ở trong bì thư cuối giường. Có một lá thư của Winnie trong giày anh. Thực là một trong những người tôi thích nhất.
Cô nghiêng người về phía trước và hôn cậu lên khóe miệng, khẽ và nhanh. Thật đấy.
Rồi cô đứng thẳng dậy, kéo tấm chăn lên tận cổ cậu, rồi bước ra, nhìn thẳng phía trước.
Khi cô đi rồi, Otto chờ, đếm đến một trăm và đếm ngược trở lại, rồi ngồi dậy và với tay xuống chân để lấy bì thư đựng biểu đồ của cậu. Có vẻ như cuối giường mỗi người đều có một cái. Bên trong có tên cậu, chức vụ, đơn vị, quê quán, và tình trạng: Thủng màng nhĩ nặng và sang chấn tâm lý. Nó được đóng dấu ba tuần và hai ngày trước. Otto cẩn thận cho nó trở vào bì thư và cho tay xuống tìm giày của mình. Một mẩu giấy gấp nhỏ bên chiếc giày trái. Là một tấm vé tàu cũ, Saskatoon - Halifax. Ở đằng sau nó viết bằng mực xanh:
Xong xuôi. Anh sẽ về nhà sớm. Hãy chăm sóc bản thân cho đến lúc đó. Rồi chăm sóc những người khác sau đó. Gửi lời hỏi thăm của em đến Etta. Thật tốt được gặp anh, Otto. Khi nào mọi chuyện kết thúc, hẹn gặp lại anh.
Otto gấp tấm vé lại theo nếp cũ và cho nó trở vào trong giày, rồi cậu duỗi chân ra dưới tấm chăn, nhắm mắt lại, và ngủ.
Khi cậu thức giấc có một bác sĩ đứng cạnh giường cậu và một y tá kế bên. Ồ, đúng rồi, bác sĩ nói, cậu này sẽ được chuyển đi. Gửi thông báo bằng Western Union ấy, nhanh nhất rồi. Sẽ ra viện ngay sau khi tai và đầu bình phục lại. Để ý cậu ấy và báo lại cho tôi. Ông quay khỏi y tá và nhìn Otto. Này, Vogel.
Vâng? Otto nói, không chắc mình có nên ngồi dậy hay không, cái nào mới lịch sự?
Cậu cho chúng tôi một cái địa chỉ ở nhà được không?
Nhà ở giáo viên, Trường Gopherlands, Gopherlands, Saskatchewan, Canada, Otto nói, không ngồi lên, không suy nghĩ.