"A Ma Sắc, con nhìn thấy gì rồi?"
"Mặt trời đi qua đỉnh trời, tiến vào cung Bò Cạp, thiên cầu quay nhanh hơn trước một phân năm ly, quỹ đạo của chủ tinh không đổi, nhưng khi đêm xuống, có lẽ chúng ta sẽ thấy Bắc Thần mọc lên từ đỉnh núi. Năm trăm năm qua thiên tượng này chỉ xuất hiện ba lần, Bắc Thần là ngôi sao của chiến tranh, thưa thầy, Bàn Đát Thiên Thần liệu có phù hộ chúng ta tránh khỏi sự trừng phạt của thần Bắc Thần không?"
"Con hỏi ta, ta biết đi hỏi ai? Chẳng lẽ thật sự bắt ta đi hỏi Bàn Đát Thiên Thần?"
"Nhưng... thầy là Đại Hợp Tát của Thanh Dương chúng ta mà!"
"Thầy con đã làm Hợp Tát ba mươi sáu năm rồi, chưa từng nghe Bàn Đát Thiên Thần nói với ta nửa lời. Có lẽ Bàn Đát Thiên Thần đã quên mất người Man tộc, hoặc có thể ngài chỉ đang ngủ trưa thôi. Đại Hợp Tát đời trước bảo mỗi lần thần ngủ say là một ngàn năm, trong một ngàn năm đó chỉ mở mắt ba lần. Dù ta thấy thân thể mình còn khá cứng cáp, nhưng chắc chẳng trụ nổi đến ngày đó đâu."
"Vậy... thưa thầy, thầy nhìn tinh tượng thấy được điều gì?"
"Chẳng thấy cái thớ gì cả! Từng ấy ngôi sao, lộn xộn rối bời, trước thời của ta có bao nhiêu Đại Hợp Tát muốn nhìn thấu sự biến ảo của trời sao, nhưng chẳng một ai thành công." Lão nhân nghiêng mình dựa trên lưng ngựa, vớ lấy bình rượu bằng đồng trắng bên hông tu một ngụm, đôi mắt say lờ đờ hé mở, "Giờ bọn họ chết cả rồi, nếu không thì chức Đại Hợp Tát này cũng chưa tới lượt ta!"
Chính ngọ tháng Bảy, ánh nắng có phần gay gắt độc địa.
Thầy và trò đều vận trường bào bằng vải gai trắng, cưỡi hai thồ tuấn mã, sóng vai đứng trên bãi hoang ngoài thành Bắc Đô. Người đệ tử trẻ tuổi chăm chú ngước nhìn bầu trời, đôi mắt bị che khuất bởi hai mảnh thấu kính râm có kiểu dáng kỳ quái, chính nhờ vậy gã mới có thể quan sát quỹ đạo vận hành của mặt trời trên vòm trời dưới ánh nắng chói chang.
Đệ tử tên là A Ma Sắc, giống như những quý tộc Bắc Lục khác, gã cũng có một cái tên Đông Lục tao nhã, gọi là Nhan Tĩnh Long, mang ngụ ý "con rồng trầm tĩnh", tên đầy đủ là Nhan Tĩnh Long A Ma Sắc. Thế nhưng người trên kẻ dưới khắp thành Bắc Đô đều gọi gã là "Long Kính Đeo", bởi vì gã phỏng theo kỹ thuật của Hà Lạc, mài giũa ra đôi kính mỏng bằng tinh thể mực này để có thể nhìn thẳng vào mặt trời ban ngày.
A Ma Sắc tháo đôi tròng kính râm xuống, quay đầu nhìn người thầy đang ủ rũ rũ rượi trên yên ngựa. Lão già vừa nốc rượu mạnh vừa ngáp ngắn ngáp dài, cái đầu hói cũng bị hơi rượu hun cho đỏ ửng. A Ma Sắc đã vô số lần nghĩ rằng việc thầy mình trở thành Đại Hợp Tát của Thanh Dương hoàn toàn là một trò đùa, nếu ông thực sự là sứ giả được Bàn Đát Thiên Thần tuyển chọn, thì tửu lượng của Bàn Đát Thiên Thần chắc cũng chẳng kém gì thầy.
Thầy của gã, Đại Hợp Tát Lệ Trường Xuyên, là nhân vật khiến cả thảo nguyên phải kính sợ. "Đại Hợp Tát" là tôn xưng cao quý, mang ý nghĩa "sứ giả của Bàn Đát Thiên Thần", thủ lĩnh của các vu sư Man tộc, Đại Thiên Sư độc nhất vô nhị. Mỗi một đời chỉ có duy nhất một vị Đại Thiên Sư, chỉ người đó mới được phép học những cổ quyển tinh thần thâm ảo nhất, truyền đạt ý chỉ của thần linh. Đại sự trong bộ lạc, từ xuất chinh cho tới tế tự, đều phải do ông xem xét tinh tú mà định đoạt, từ mục dân đến quý tộc, hết thảy đều coi lời ông như thần dụ.
Trước khi theo ông học tinh tượng, A Ma Sắc cũng xem Hợp Tát như một bán thần, nhưng lần đầu tiên theo Hợp Tát chủ trì đại tế tự của Tiết Thiêu Cừu hằng năm, Hợp Tát đã để lộ đuôi cáo. Tế lễ cử hành trên gò đất cao xa xôi, xung quanh vây quanh đống lửa, bao gồm cả Đại Quân cũng chỉ có thể cùng mục dân đứng từ xa ngóng lại. Trên gò cao, Hợp Tát xướng bài tế ca viễn cổ, toàn thân phủ đầy trang sức bạc, đầu đội sừng tê giác khổng lồ, tay cầm chiến đao nhảy múa, trong cõi u minh dường như đã gọi về sự đoái hoài của thiên thần đối với nhân gian, khiến tất cả mọi người đều rạp mình bái lạy.
Thế nhưng chỉ có A Ma Sắc đứng cạnh Hợp Tát mới biết, khi ấy Hợp Tát mặt đỏ bừng bừng, mắt say lờ đờ, miệng ngậm bình rượu, một tay cầm đao, còn một tay lại gãi nách, chẳng biết có phải vì nhiều ngày không tắm nên sinh rận rệp hay không. Đoạn tế ca thần thánh đó vốn có bốn khúc, đã bị ông lén lút cắt phăng mất một khúc rưỡi, bởi vì ông bảo đã quên mất một khúc rưỡi đó hát thế nào rồi. Đáng thương cho những người Thanh Dương thành kính, từ nay về sau chẳng bao giờ còn được nghe trọn vẹn bài tế ca nữa, bởi vì bài ca thiêng liêng này không có văn bản trên giấy, chỉ lưu truyền bằng miệng.
Lão già nuôi một con chuột lemming thường thấy trên thảo nguyên, mỗi khi có nhà quý tộc đến hỏi chuyện hung cát cưới xin hay tang ma, ông liền chạy vào trong trướng, lôi con chuột lemming từ trong lồng tre ra, cho nó ăn yến mạch và kê đen. Nếu chuột lemming chọn yến mạch, ấy là cát; nếu là kê đen, ấy là hung.
Chỉ có những đêm khuya thanh vắng, ông mới giống một Hợp Tát chân chính. Khi đó ông sẽ ngồi trên thảo nguyên trống trải ngước nhìn tinh tú, có khi nhìn suốt một ngày một đêm. Thế nhưng đôi lúc A Ma Sắc rón rén ngồi xuống bên cạnh muốn biết rốt cuộc ông đang quan sát ngôi sao nào, lại phát hiện Hợp Tát cơ bản là ngồi đó ngủ gật.
Rất nhiều năm sau, A Ma Sắc được xưng tụng là Hợp Tát vĩ đại nhất của Man tộc trong suốt năm trăm năm, dùng tinh tượng thuật độc bộ thảo nguyên, ngay cả những danh sư tinh tượng đất Đông Lục cũng phải cúi đầu bái phục. Nhưng A Ma Sắc luôn bình thản nói, thầy của ta mới là người thực sự nhìn thấu bí mật của trời sao, người kỳ thực đã sớm biết hết mọi sự, chỉ là người không nỡ nói ra chân tướng tàn khốc ấy mà thôi.
"Nóng chết đi được, nóng chết đi được!" Hợp Tát lẩm bẩm càu nhàu.
Chẳng biết vì uống nhiều rượu hay do trời nóng, mặt ông đỏ gay, phanh lồng ngực gầy giơ xương, túm vạt áo phành phạch quạt không ngừng. Quạt một hồi, lão già như một đống bùn nhão trượt tuột từ trên lưng ngựa xuống đất. A Ma Sắc giật nảy mình, giục ngựa đi một vòng quanh con bạch mã khôi ngô của lão già, mới phát hiện lão đang ngồi lọt thỏm dưới bóng râm dưới bụng ngựa để tránh nắng.
"Hợp Tát, Hợp Tát," A Ma Sắc vội vàng gọi, "Đại Quân vẫn đang nhìn bên kia kìa!"
Lão già dứt khoát xoay người một cái, lăn ra bãi cỏ ngủ luôn.
A Ma Sắc biết tình cảnh này thì đừng hòng gọi ông dậy được, đành thắc thỏm nhìn về phía lá cờ trắng đằng trước.
Đại kỳ màu trắng thỉnh thoảng tung bay trong gió nhẹ, bên trên là hình vẽ thần thú tựa như loài báo đang bay lượn giữa tầng mây.
Kiếm Xỉ Báo, chính là đồ đằng của Thanh Dương. Tương truyền hai chiếc răng của loài thần thú này sắc bén như bảo kiếm, nó đi qua vùng thảo nguyên hoang vu, gặp tổ tiên họ Lữ là Lữ Thanh Dương đang chiến bại thoi thóp. Nó bèn bẻ gãy đôi răng nanh tặng cho thủy tổ làm vũ khí, rồi sau đó trút hơi thở cuối cùng. Lữ Thanh Dương dựa vào hai thanh kiếm răng báo ấy mà dựng nên bộ lạc Thanh Dương vĩ đại. Mà thân phận thực sự của Kiếm Xỉ Báo chính là hóa thân của Bàn Đát Thiên Thần, ngài đã giáng lâm cứu vớt đứa con của mình vào thời khắc hiểm nghèo nhất.
Dưới đại kỳ, một tráng sĩ Man tộc khôi vĩ tay đè chuôi kiếm đi đầu đàn ngựa, lặng lẽ dõi mắt nhìn về phía đường chân trời phương nam. Đôi mắt ông thon dài sắc bén, trong đồng tử mắt phải có một đốm trắng chói mắt.
Thanh Dương Đại Quân, chủ nhân của nhà Bạt Tô Nhĩ họ Lữ, Lữ Tung. Thời trẻ ông có một biệt hiệu là "Bạch Nhãn Ưng", chính là vì màng trắng này, luôn khiến người ta cảm thấy ánh mắt ông lạnh lùng thấu xương.
Đại Quân đã năm mươi tuổi, nhưng thân thủ vẫn tráng kiện như xưa, ngồi trên chiến mã lưng thẳng tắp. Thanh trọng kiếm đeo xéo bên yên ngựa là thứ binh khí từ thuở thiếu thời của ông. Ông là một dũng sĩ xứng danh, từng dùng chính thanh trọng kiếm này chém rơi vô số thủ cấp của kẻ thù.
Phía sau ngựa của ông, mấy trăm kỵ binh xếp thành hàng ngũ chỉnh tề, người nào người nấy y phục hoa lệ, tuấn mã như rồng, toàn bộ những quý tộc có thân phận trong thành Bắc Đô đều tụ hội ở đây. Hôm trước thám mã phi báo về, Cửu Vương Lữ Báo Ẩn xuất chinh sẽ khải hoàn vào ngày hôm nay, Đại Quân dẫn theo quý tộc ra tận ngoài cổng thành nghênh đón.
“Phụ thân, sắp quá trưa rồi, Cửu Vương vẫn chưa về, hay là về trướng dùng chút thức ăn trước đã.” Nhị vương tử Thiết Do giục ngựa áp sát lại gần phụ thân, “Sông Thiết Tuyến cách đây hơn chín trăm dặm, Cửu Vương thống lĩnh ba vạn đại quân Hổ Báo Kỵ ngày đêm gấp rút lên đường, hôm nay vị tất đã về kịp. Chi bằng để nhi tử phái thám mã đi đón trên đường, hễ có tin tức sẽ lập tức báo về cho phụ thân. Mấy vị Đại Hãn Vương thân thể không tốt, cứ để các thúc bá phơi nắng thế này...”
Đại Quân lặng lẽ quay đầu quét mắt nhìn những người phía sau. Mấy vị vương gia tuổi tác đã cao quả thực chịu không nổi nắng gắt, kẻ thì rũ rượi trên yên ngựa, người thì đã xuống ngựa trốn dưới tán ô nỉ. Nô lệ từ hầm băng trong thành chuyển đá ra, dùng vải gạc bọc lại rồi lau mặt cho các quý tộc. Cả đám người hệt như đám cỏ mục bị nắng hun khô héo, trông chẳng có chút tinh thần nào.
Đại Quân lắc đầu: “Cửu Vương là thần cung của Thanh Dương ta, trăm phát trăm trúng. Ta nhìn đệ ấy cầm quân mười mấy năm, chưa từng để lỡ thời cơ dù chỉ một lần.”
Thiết Do vâng dạ lùi lại, không dám nhiều lời nữa.
“Thời tiết quái quỷ, chó còn bị phơi đến lột da. Cửu Vương dám để phụ thân đợi thế này, lá gan chẳng khỏi quá lớn rồi.” Thiết Do hạ giọng làu bàu.
Đại điển nghênh đón Cửu Vương khải hoàn, các quý tộc đều ăn mặc cực kỳ trang trọng, mồ hôi toàn thân ứ đọng trong giáp trụ không thoát ra được. Thiết Do khoác trọng giáp, trùm áo choàng dệt gấm, lúc này nghiến răng nghiến lợi, hận không thể lột sạch da ra.
Một tên tùy tùng ghé sát lại: “Đại Quân và các Đại Hãn Vương đều đang chờ ở đằng kia, Nhị vương tử chớ nên oán thán, để người ta nghe thấy thì...”
Tùy tùng ra dấu bằng mắt, Thiết Do nhìn theo hướng đó, một võ sĩ trẻ tuổi theo sát bên sườn phụ thân đang ngạo nghễ ngồi ngay ngắn trên lưng chiến mã, sóng vai cùng phụ thân dõi mắt nhìn về phương xa. Hắn khoác chiến bào gấm dày, bên ngoài là minh quang trọng giáp nạm bạc, tuy uy phong thật đấy, nhưng trong thời tiết nóng bức thế này tuyệt chẳng dễ chịu chút nào. Vậy mà võ sĩ kia vẫn sừng sững như một ngọn trường thương, ánh mắt ngưng đọng nơi phương xa, bất di bất dịch.
Đó là Tam tử của Đại Quân, Húc Đạt Hãn.
“Gượng gạo chống đỡ!” Thiết Do cười khẩy, “Chẳng qua cũng chỉ muốn lấy lòng phụ thân. Có lấy lòng thế nào đi nữa cũng chỉ là thứ nghiệt chủng mang dòng máu Sóc Bắc, đại ca đã theo Cửu Vương xuất chinh, lập nên chiến công rạng rỡ! Còn muốn tranh đoạt ngôi vị với đại ca, nằm mơ!”
Bên cạnh truyền đến một tiếng hừ lạnh lùng: “Đồ phế vật thì bớt mồm bớt miệng lại, cẩn thận kẻo da bị phơi đến lột ra đấy!”
“Mày mắng ai?” Thiết Do gầm khẽ.
“Ai oán thán thì mắng kẻ đó.” Thiếu niên trên lưng hắc mã liếc mắt sang, thần sắc đầy vẻ khiêu khích.
Thiếu niên chừng mười lăm mười sáu tuổi, bệ vệ như một con báo con, dù khăn quàng cổ đã ướt đẫm mồ hôi nhưng không hé răng nửa lời, chỉ kéo lệch nửa vạt áo, để trần cánh tay phải ra cho tản nhiệt. Cánh tay lộ ra kia nổi cuồn cuộn những đường gân thớ thịt, tráng kiện dị thường, ngón tay móc vào một thanh trọng đao trong bao da bên yên ngựa, theo từng nhịp kéo ra đẩy vào của hắn, ánh đao phản chiếu tia nắng chói chang rọi thẳng vào mặt Thiết Do.
“Thằng ranh con! Mày muốn làm gì?” Thiết Do chỉ thẳng mặt thiếu niên.
Tùy tùng vội vàng ấn tay Thiết Do xuống, hạ thấp giọng: “Nhị vương tử, đây không phải lúc nổi giận, Tứ vương tử cố ý gây sự với ngài đấy, đừng trúng kế của hắn trước mặt Đại Quân.”
Thiếu niên trên lưng hắc mã là Tứ vương tử Quý Mộc. Đại vương tử Bỉ Mạc Can và Nhị vương tử Thiết Do do cùng một mẹ sinh ra, còn Húc Đạt Hãn và Quý Mộc lại là con của vị Đại Át Thị thứ hai, giữa bốn huynh đệ vốn dĩ chẳng có lấy một chút hòa thuận. Bỉ Mạc Can và Húc Đạt Hãn đều đi theo phụ thân làm việc, nắm giữ chính vụ, nhưng đi ra đi vào đều không chung đường, mỗi người đều có một nhóm quý tộc ủng hộ sau lưng.
A Ma Sắc nhìn màn đối đầu giữa các vương tử, khẽ lắc đầu, trong lòng dấy lên mối lo âu thầm kín.
Quý tộc trong thành Bắc Đô, nếu không nương tựa Đại vương tử thì cũng đầu quân cho Tam vương tử, bằng không sẽ đơn thương độc mã. Thành Bắc Đô tuy rộng lớn, vị tất đã tìm được chốn dung thân. Chỉ duy có vị Đại Hợp Tát này, chẳng ai biết ông toan tính điều chi. Thân phận của ông có lẽ còn tôn quý hơn cả các Đại Hãn Vương, số người muốn lôi kéo tuyệt đối không ít. Đại vương tử Bỉ Mạc Can từng dắt ngựa tốt đến mời ông đi săn vùng ngoại ô, ông vui vẻ nhận lời ngay. Sau chuyến săn, cùng nhau nướng thịt hươu uống rượu ngon, ngắm đám nữ nhân xoay tròn múa lượn trước lều, Bỉ Mạc Can mới dè dặt đề nghị mời Đại Hợp Tát đến trướng của mình bàn luận việc nước. Râu của Đại Hợp Tát còn dính giọt rượu, ông trầm mặc nhìn đám đàn bà dáng người lả lướt, tay cầm một chiếc đùi hươu, hồi lâu mới hoàn hồn lại: “Ta chỉ mong sau này còn được cùng Đại vương tử đi săn, ăn thịt hươu, uống rượu ngon Đại vương tử mang tới. Lần sau Đại vương tử nhớ đổi mấy ả đàn bà đẹp hơn nữa tới múa nhé!”
Thời khắc ấy A Ma Sắc ngồi ngay bên cạnh, thấy nụ cười của Đại vương tử cứng đờ trên mặt, hồi lâu sau mới gượng lại được, cười ha hả phụ họa vài tiếng.
Tam vương tử Húc Đạt Hãn thì thâm trầm hơn nhiều, hiếm khi đích thân đến trướng Hợp Tát bái phỏng. Thế nhưng cách vài ba tháng, Húc Đạt Hãn luôn sai người đưa tới những món lễ vật từ Đông Lục chuyển sang, có khi là kính viễn vọng mực ngọc để ngắm trời, có khi lại là một cuốn tinh tượng kinh quyển. Trong trướng Đại Hợp Tát giờ vẫn còn giữ một chiếc đĩa bạc có khắc Hỗn Thiên tinh đồ, đó là thứ Húc Đạt Hãn bỏ giá cao mua lại từ tay thương nhân Đông Lục, nghe nói là cổ vật của Khâm Thiên Giám triều Dận từ mấy trăm năm trước. Hợp Tát rõ ràng rất thích những món quà Húc Đạt Hãn tặng, lần nào cũng nhận đủ không thiếu món nào. Thế nhưng suốt ba năm ròng rã, ông chưa từng một lần bước chân sang trướng của Tam vương tử để đáp lễ.
A Ma Sắc tuổi tuy còn nhỏ nhưng cũng hiểu được dụng ý trong đó, bèn khẽ nhắc nhở rằng Tam vương tử làm vậy là có điều kỳ vọng ở thầy. Đại Hợp Tát khi ấy đang ngồi giữa một đống đồ chơi tinh xảo do Húc Đạt Hãn tặng, cầm mảnh da cừu non lau chỗ này, xoa chỗ nọ, rồi ngẩng đầu lên nói một cách nghiêm túc: “Đây đều là tự hắn muốn đem cho ta đấy chứ, ta đã hứa hẹn điều gì đâu.”
Đại Quân năm này qua năm khác già đi, rồi sẽ có một vương tử trở thành Đại Quân mới, chẳng lẽ Đại Hợp Tát chưa từng tính toán cho tương lai của chính mình sao?
A Ma Sắc đeo lại mảnh kính mực, một lần nữa ngẩng đầu quan sát dương quỹ của mặt trời. Quả đúng như lời lão già nói, dương quỹ có điểm kỳ dị, chỉ dựa vào chủ tinh và ngôi sao Bắc Thần đang từ từ nhô lên khỏi đường chân trời thì khó lòng giải thích được những biến đổi bên trong. Cuộc chiến với Chân Nhan bộ đã kết thúc, nhưng quỹ đạo của mặt trời vẫn chưa hề quay trở lại vị trí bình thường.
Trái lại, nó càng lúc càng thêm hỗn loạn.
“Tới rồi! Tới rồi! Là đại quân của Cửu Vương! Cửu Vương đã về rồi!”
Bỗng nhiên có người hô lớn, đám đông lập tức sôi sục.
A Ma Sắc phóng tầm mắt nhìn về phía thảo nguyên phương nam, nơi đó vốn là thảm cỏ xanh mướt trải dài ngút tầm mắt, lúc này lại lờ mờ hiện lên một vệt vàng úa. Chỉ trong chốc lát, vệt màu ấy đã hóa thành khói bụi bốc lên ngùn ngụt, người ta có thể cảm nhận được mặt đất đang rung chuyển như cuồng triều ập tới. Đội kỵ quân khổng lồ rốt cuộc cũng hiện thân trong màn cát bụi, các chiến sĩ đồng loạt vận hắc giáp, cưỡi hắc mã, giương cao hàng ngàn ngọn đại kỳ báo vân màu trắng tinh khôi, cờ xí che rợp trời đất, thoáng chốc thảo nguyên phía nam ngập tràn một sắc trắng.
“Hổ Báo Kỵ đấy!” Chẳng biết là ai đã thốt lên một tiếng cảm thán.
Niềm kiêu hãnh của bộ lạc Thanh Dương, "Hổ Báo Kỵ". Kể từ sau khi "Thiết Phù Đồ" bị tiêu diệt, đội kỵ binh này chính là đạo quân mạnh nhất không thể bàn cãi trên khắp thảo nguyên, đón nhận khí thế ập tới của họ, chỉ thấy từng cơn gió rít rát cả mặt.
A Ma Sắc quay đầu định gọi Hợp Tát đang co ro ngủ dưới bụng ngựa dậy, lại chợt phát hiện lão già chẳng biết từ lúc nào đã lặng lẽ ngồi ngay ngắn trên lưng ngựa, đôi mắt nhìn về phương xa không hề có chút vẻ say xỉn, mà sáng quắc thần thái.
“Cuối cùng cũng về rồi...” Lão khẽ lẩm bẩm một câu.
Từ trong hàng ngũ hộ tòng võ sĩ có một kỵ binh tách ra, tiến sát lại bên cạnh Đại Quân: “Đại Quân, Hổ Báo Kỵ tới quá nhanh, để Ba Hao lên đón trước một bước.”
Đại Quân xua tay, không nói lời nào.
Thiết Ích Ba Hao, võ sĩ trứ danh của Thanh Dương, cũng là bạn đồng hành từ thuở nhỏ của Đại Quân. Trước ngực gã dùng dây da treo một đôi răng thú đúc bằng sắt sống, là một "Thiết Nha võ sĩ" khiến người ta phải kính sợ, cả bộ lạc Thanh Dương cũng chỉ có mười hai vị "Thiết Nha".
Ba Hao lùi lại một bước, nhưng vẫn theo sát sau lưng ngựa của Đại Quân, bàn tay khẽ phát ra tiếng "rắc" giòn tan, nắm chặt lấy chuôi đao. Gã không tính là người thông minh, chỉ là theo trực giác cảm thấy có chút bất an.
Kỵ quân chớp mắt đã lao tới trước mặt. Con thanh mã dẫn đầu hí vang một tiếng dài, người trên lưng ngựa giơ cao roi da, lập tức có người thổi tù và bằng sừng trâu. Những chiến mã trải qua huấn luyện nghiêm ngặt đồng loạt ghìm móng sắt trong làn bụi vàng, cả đội ngũ lớn đang phi nước đại bỗng phanh gấp lại mà không hề rối loạn. Cát bụi do đoàn ngựa tung lên thuận theo chiều gió quét tới, Đại Quân và các quý tộc đều kéo áo choàng che chắn trước mặt. Nhưng Ba Hao thì không dám che, trong cát bụi gã chẳng nhìn thấy gì, tim đập thình thịch, tay nắm đao siết chặt, nửa đoạn chiến đao sáng loáng tuột khỏi bao da.
Gã giục ngựa tiến lên một bước định chắn trước đầu ngựa của Đại Quân, nhưng lại cảm thấy một bàn tay hộ pháp nắm chặt lấy cổ tay mình. Ba Hao vốn tự phụ về sức mạnh cánh tay, nhưng người nọ từ từ phát lực, lại ép thanh đao của gã thu về trong vỏ.
Đại Quân buông tay ra, thần sắc tự nhiên: “Là thần cung của Thanh Dương chúng ta đã về.”
Khói bụi lắng xuống, Hổ Báo Kỵ đều đã xuống ngựa, tay ghìm dây cương quỳ một gối dưới lá cờ. Võ sĩ trên lưng thanh mã nghiêng mình xuống ngựa, chiến bào bằng gấm đỏ thẫm phần phật tung bay trong gió. Hắn đã phi nước đại trên lưng ngựa chẳng biết bao lâu, khăn quàng cổ cũng đã ướt sũng, nhưng không hề lộ vẻ mệt mỏi. Hắn chậm rãi tiến lên, đứng trước đầu ngựa của Đại Quân. Đại Quân điềm nhiên bất động, hai người nhìn nhau một thoáng.
Xung quanh bỗng nhiên tĩnh lặng, không một ai xì xào bàn tán, tất cả ánh mắt đều đổ dồn vào Đại Quân và võ sĩ nọ.
A Ma Sắc cố rướn cổ nhìn võ sĩ kia, không kìm được nỗi xúc động trong lòng. Đó chính là Cửu Vương được mệnh danh là "Cung của Thanh Dương", vị thân vương có chiến công hiển hách nhất bộ lạc Thanh Dương, người anh hùng rực rỡ nhất trong mắt đám thanh niên. Trước khi theo Hợp Tát học tinh tượng, A Ma Sắc cũng như bao thiếu niên quý tộc khác, từng mơ ước vung đao múa kiếm rong ruổi trên khắp thảo nguyên.
“Ca ca,” Cửu Vương quỳ sụp hai gối, rạp mình phục bái, mái tóc tết quét rạp xuống đất cát, “đệ đệ đã trở về!”
Đám quý tộc và võ sĩ theo sau Đại Quân cũng vội vã xuống ngựa, đồng loạt quỳ xuống. Cửu Vương hành đại lễ quỳ bái với Đại Quân, bọn họ tuyệt đối không dám ngồi yên trên lưng ngựa.
“Ách Lỗ, đắc thắng trở về, đệ quả nhiên không phụ sự kỳ vọng của ta.”
“Đúng như lời chúng ta từng nói thuở nhỏ, việc ca ca bảo đệ làm, đệ nhất định sẽ làm cho xong!”
Đại Quân từ từ nở nụ cười: “Ta đã liệu định sẽ có ngày hôm nay mà.”
Ông bỗng nhiên giơ cao tay, cất tiếng hô lớn: “Cửu Vương đã về rồi! Cửu Vương đã khải hoàn trở về!”
Các hộ tòng võ sĩ vác lên những chiếc tù và bằng đồng nặng trịch, mặt trống khổng lồ bằng da bò Tây Tạng bị chày lớn nện vào rung chuyển, tiếng trống nhạc vang rền thấu tận trời xanh. Các quý tộc theo chân Lữ Tung ghìm cương, tuấn mã chồm lên, móng trước dộng mạnh xuống mặt đất. Khung cảnh trở nên sôi sục, tất cả mọi người đều hùa theo Đại Quân đồng thanh gào thét: “Cửu Vương! Cửu Vương! Cửu Vương!”
Đại Quân tiếp tục vung tay, cổng thành mở toang, những người phụ nữ vận áo gấm bưng đồ đựng và lụa là nối đuôi nhau bước ra, lần lượt bày biện xung quanh. Những tấm gấm dệt Đông Lục ngũ sắc rực rỡ đặt cạnh đồ sứ, đồ vàng tinh xảo, trên mặt cỏ tỏa ra ánh sáng xa hoa lộng lẫy. Người Man tộc không thạo nghề thủ công và dệt vải, những thứ tơ lụa và đồ dùng đắt đỏ này đều phải dùng da lông và ngựa tốt đổi lấy từ tay những thương nhân Đông Lục tham lam, đây là một khối tài sản khiến ngay cả các quý tộc cũng phải đỏ mắt thèm thuồng.
A Ma Sắc nghe thấy những tiếng trầm trồ thán phục khe khẽ trong đám đông.
Từ đằng xa lại vang lên tiếng còi bằng gạc hươu, những người chăn gia súc vừa thổi còi vừa phi ngựa qua hai bên thảo nguyên, họ xua từng đàn trâu bò cừu lợn, đàn cừu trắng như mây trời, những con bò Tây Tạng lông đen con nào con nấy cao ngang lưng ngựa. Một vạn con cừu, ba ngàn con bò Tây Tạng chậm rãi đi qua. Những mục dân xua đuổi chúng cưỡi hai mươi thồ tuấn mã vùng Cực Tây, toàn thân chúng một màu đỏ rực như lửa, chiều cao và sắc lông không mảy may khác biệt, dưới sự điều khiển của mục dân vẫn ngẩng đầu cào móng, tiếng gầm vang như rồng ngâm không dứt bên tai.
“Những thứ này,” Đại Quân khoát tay, “đều là của đệ.”
“Tạ ơn ca ca ban thưởng, nhưng mà...” Cửu Vương quỳ xuống, lại ngẩng đầu lên, “đệ đệ nguyện đem tài vật này chia hết cho các chiến sĩ Hổ Báo Kỵ.”
“Làm tốt lắm!” Đại Quân gật đầu tán thưởng, “Chút tài vật này có đáng là bao? Bộ lạc Thanh Dương chúng ta có thể cưỡi ngựa dọc ngang vùng thảo nguyên này, đều nhờ vào các võ sĩ trung thành của chúng ta, có thứ gì mà không thể thưởng cho họ chứ? Nhưng riêng cho đệ, ca ca còn có một thứ khác.”
Ông vẫy tay, một hộ tòng võ sĩ xoay người xuống ngựa, cúi đầu nâng chiếc khay bằng vàng ròng rảo bước tới dưới chân ngựa của Đại Quân.
“Chỉ là một vật nhỏ,” Đại Quân liếc nhìn Cửu Vương, “Ách Lỗ không đoán xem là thứ gì sao?”
“Đệ đệ không biết, nhưng thứ ca ca ban cho, ắt hẳn là vật quý.”
Đại Quân mỉm cười nhàn nhạt, đột ngột xốc tấm gấm dày màu đỏ thẫm phủ trên khay lên. Chẳng biết là ai khẽ thốt lên một tiếng kinh ngạc, xung quanh thoắt cái lặng ngắt như tờ. Trong khay là một dải da lông trắng muốt, dưới ánh mặt trời, từng sợi lông của nó đều lấp lánh như tuyết. Đại Quân chộp lấy cổ tay phải của Cửu Vương, Cửu Vương khẽ run lên dường như muốn thoái thác, nhưng lực đạo như gọng kìm sắt từ tay Đại Quân khiến hắn không sao giãy ra được. Đại Quân không nói gì, chỉ cười, cẩn thận quấn dải da lông ấy quanh cổ tay Cửu Vương.
Ông quay đầu nhìn mọi người, hít sâu một hơi, giơ cao tay Cửu Vương lên: “Cửu Vương nay là Đại Hãn Vương của bộ lạc Thanh Dương ta! Vị Đại Hãn Vương đời đời kiếp kiếp truyền lại cho con cháu muôn đời!”
Đám đông im bặt một thoáng đầy dị thường, A Ma Sắc hít sâu một hơi, gã biết thứ đó có ý nghĩa gì. Tước vị thân vương của bộ lạc Thanh Dương vốn không phải thế tập. Thân vương chết đi, con trai ông ta chỉ có thể kế thừa trâu bò cừu và nhân khẩu, chứ mất đi địa vị. Chỉ có một loại thân vương mới có thể truyền lại địa vị cho con cháu mình, ấy chính là Đại Hãn Vương. Muốn đạt được tước vị Đại Hãn Vương, hoặc phải là võ sĩ độc nhất vô nhị, hoặc phải là người từng cứu vãn bộ lạc Thanh Dương trong thời khắc sinh tử tồn vong. Bọn họ có thể giống như Đại Quân, buộc một dải đuôi báo trắng nơi cổ tay.
Mọi người dường như sực tỉnh, những tiếng reo hò dữ dội hơn bùng nổ. Đi đầu là đám hộ tòng võ sĩ, kế đó là các chiến sĩ Hổ Báo Kỵ, ai nấy đều vung cánh tay gào thét: “Hãn Vương! Hãn Vương! Hãn Vương! Đại Hãn Vương!”
Tiếng gầm thét đồng thanh của mấy ngàn người làm rung chuyển màng nhĩ, trên khuôn mặt những võ sĩ Man tộc dũng mãnh thuần phác ngập tràn sự cuồng nhiệt, ánh mắt gần như thành kính. A Ma Sắc cũng bị cuốn theo bầu không khí ấy, giơ tay múa chân hùa theo bọn họ, cất tiếng hò reo vang dội.
“Mấy lão vương gia hình như không vui lắm nhỉ.” Đại Hợp Tát buông một câu lẩm bẩm chẳng mặn chẳng nhạt.
A Ma Sắc sững người, đưa mắt liếc qua. Ba vị huynh trưởng của Đại Quân, những lão vương gia của Thanh Dương nhìn nhau trân trân, ghìm ngựa đứng giữa đám đông đang sôi trào, thần sắc trông vô cùng lạc lõng. Dải hộ oản làm bằng da đuôi báo trắng này tuyên cáo rằng từ nay Cửu Vương sẽ ngồi ngang hàng với bọn họ. Giờ đây trong thành Bắc Đô đã có tới bốn vị Đại Hãn Vương.
“Ca ca, đệ đệ thực không ngờ tới...” Cửu Vương nhìn Đại Quân.
“Còn muốn nói gì nữa sao?” Đại Quân vỗ mạnh lên vai Cửu Vương, ánh mắt nồng nhiệt, “Thuở nhỏ chúng ta cùng chơi đùa, đệ từng nói với ta rằng có một ngày sẽ làm một Đại Hãn Vương khiến cả thảo nguyên phải ngước nhìn. Nay đệ là thần cung của Thanh Dương ta, đã bắn hạ con sư tử của Chân Nhan bộ, tương lai đệ còn phải theo ca ca dựng nên công nghiệp như Thiết Thấm Vương, cớ sao lại không thể làm Đại Hãn Vương?”
Cửu Vương bỗng quỳ sụp xuống, dập đầu thật mạnh: “Đệ đệ nguyện theo ca ca, vì Thanh Dương chinh chiến, đến chết không hối!”
“Mới đắc thắng trở về, sao lại nói tới chữ chết?” Đại Quân xua tay, “Thật chẳng may mắn chút nào. Đừng nói nữa.”
Một thồ tuấn mã trắng như tuyết từ phía sau trận địa phi nhanh tới, một võ sĩ quý tộc trẻ tuổi xoay người xuống ngựa, quỳ rạp dưới chân Đại Quân: “Phụ thân thân thể an khang, Bàn Đát Thiên Thần phù hộ Thanh Dương vĩ đại của chúng ta.”
“Bỉ Mạc Can cũng về rồi ư?” Đại Quân vỗ vỗ đầu hắn, “Lần này theo thúc phụ con xuất chinh, học hỏi được không ít chứ? Sang năm có dám tự mình thống lĩnh một đạo đại quân không?”
“Nhi tử chẳng có gì không dám! Nguyện vì Thanh Dương chinh chiến, trở thành dũng sĩ uy chấn thảo nguyên như thúc phụ.”
“Uy chấn thảo nguyên?” Đại Quân bật cười, “Con chỉ cần có được một nửa lòng dũng cảm của thúc phụ con thôi là đủ rồi!”
Ông dùng hai tay nâng người con trai dậy: “Thúc phụ con viết thư về hết lời khen ngợi sự dũng cảm của con, chính con đã dẫn quân xông pha phá vỡ đại trận của Long Cách Chân Hoàng?”
Trên mặt Bỉ Mạc Can thoáng hiện vẻ đắc ý: “Nghe nói thuở trẻ phụ thân cũng chỉ mang theo một trăm kỵ binh xông phá thế trận hợp vây của Sóc Bắc bộ. Nhi tử nghĩ tới chuyện đó, liền thấy việc xông vào trận thế mấy ngàn người cũng chỉ là chuyện nhỏ. Thúc phụ hỏi con có dám không, con liền dẫn quân xông lên.”
Đại Quân cười lớn: “Ấy là thúc phụ con muốn nhường công lao lớn này cho con đấy! Nhưng mà con trai ngoan, lần đầu xuất chinh đã có dũng khí bực này, không hổ là trưởng tử của nhà Bạt Tô Nhĩ họ Lữ chúng ta.”
“Ca ca, ca ca!” Thiết Do rẽ đám đông chen lên.
Bỉ Mạc Can từ xa vẫy tay với gã, hai huynh đệ hưng phấn chụm lại với nhau. Ngược lại, hai người con trai là Húc Đạt Hãn và Quý Mộc chỉ đứng nép bên cạnh Đại Quân, chẳng thèm nhìn nhau lấy một cái.
Trong đám đông vẫn bàn tán xôn xao, người có tâm triều cuộn trào mãnh liệt nhất chính là các võ sĩ quý tộc trẻ tuổi.
Đại Quân và Cửu Vương nắm tay nhau nói chuyện nhỏ nhẹ, mang máng dường như nhắc lại chuyện thuở ấu thơ, nụ cười trên khóe môi Đại Quân càng lúc càng đậm. Ba Hao vốn tính cảnh giác nay cũng thở phào một hơi, nô lệ dâng bánh nang nướng, sữa dê cùng đá lạnh lên, gã vội giục ngựa tới bốc mấy cục đá nhét vào trong kháp giáp. Các tướng quân xuất chinh cũng phóng ngựa tới lấy đá, tiện thể bàn luận với các quý tộc về sự hiểm nguy cùng đại thắng của chiến dịch nam chinh.
A Ma Sắc đói suốt một buổi sáng, chộp lấy bánh nang ngốn ngấu nhai, rồi vội vã lấy đá chườm lên mặt. Đại Hợp Tát lại chẳng hề đụng tới một chút đồ ăn nào. Cử chỉ của lão già có phần kỳ quái, cầm bình rượu nhấp từng ngụm từng ngụm nhỏ không ngừng, ánh mắt chỉ chăm chú nhìn về phía sau đại trận Hổ Báo Kỵ.
“Lần xuất chinh này, lớn nhỏ quyết chiến tổng cộng mười hai trận. Quân ta thương vong hơn bốn vạn bảy ngàn sáu trăm người, chém giết hơn hai mươi lăm vạn chín ngàn phản nghịch Chân Nhan bộ, bắt sống hơn năm vạn bốn ngàn chiến mã, hơn bảy vạn ba ngàn cỗ xe lớn, trâu bò cừu còn chưa kịp kiểm kê triệt để, lều bạt phần lớn đã cũ nát, mang theo cũng bất tiện nên đều thiêu hủy tại chỗ. Chân Nhan bộ từ Long Cách Chân Hoàng trở xuống có hơn sáu mươi quý tộc tướng quân, không một ai trốn thoát, Quý Dầu, Ha Lý Cát, Lạp Mộc Độc thảy đều bị chém chết tại trận.” Cửu Vương lần lượt báo cáo chiến quả.
Bỉ Mạc Can liếc nhìn thần sắc của phụ thân, muốn tìm kiếm chút bất ngờ mừng rỡ từ đó. Nhưng Đại Quân trước sau chỉ mỉm cười nhàn nhạt, khẽ gật đầu.
“Tộc nhân của Chân Nhan bộ xử trí thế nào rồi?”
“Ca ca từng bảo trận này phải bình định triệt để thảo nguyên phương nam, cho nên đệ đệ suy tính hồi lâu, vẫn chiếu theo tập tục của tổ tông, đàn ông cao hơn roi ngựa đều xử tử, đàn bà và con trẻ không giết, phạt làm nô lệ, đày lên phương bắc chăn thả.”
Đại Quân gật đầu: “Con cháu họ Long Cách thì sao, cũng chết hết rồi chứ?”
“Thân thuộc bàng chi phần lớn đều sợ tội tự vẫn, ba năm kẻ còn lại toan phản kháng nên buộc phải giết. Bản thân Long Cách Chân Hoàng không có con trai, đệ đệ bắt sống được hai đứa con gái của hắn, chưa dám tự tiện xử trí.”
“Bác Lỗ Cáp có ba đứa con gá...” Đại Quân bỗng nhiên ngưng bặt.
Cửu Vương cũng ngẩn ra một thoáng. Long Cách Chân Hoàng Bác Lỗ Cáp, đây mới là tên đầy đủ của chủ quân Chân Nhan bộ. Trong hàng quý tộc Bắc Lục, chỉ có người nhà chí thân và bằng hữu thân thiết mới dùng tên Man tộc để xưng hô với nhau, với thân phận của Long Cách Chân Hoàng, người gọi hắn là Bác Lỗ Cáp chắc hẳn đã cực kỳ hiếm hoi, vậy mà Đại Quân vẫn quen thuộc với cái tên này đến thế.
“Đệ đệ tới muộn, khi xông phá đại trại của Chân Nhan bộ đã có người nhanh chân cứu mất thứ nữ Long Cách Mẫn, chỉ tìm thấy trưởng nữ Long Cách Thấm và ấu nữ Long Cách Ngưng cải trang thành bình dân tháo chạy.”
Đại Quân trầm mặc một hồi, rồi bỗng nhiên hỏi: “Long Cách Chân Hoàng, chết rồi sao?”
“Phải. Long Cách Chân Hoàng bị đệ đệ dẫn quân bao vây, cuối cùng gãy cả hai chân, không thể cứu vãn được nữa nên đã dùng bội đao tự vẫn.”
“Vậy sao? Là chiến bại tự sát...” Đại Quân trầm ngâm.
Cửu Vương xoay người, một chiến sĩ Hổ Báo Kỵ dâng lên chiếc tráp gỗ màu chu sa. Hắn khom lưng, giơ cao tráp gỗ quá đầu dâng lên cho Đại Quân: “Đây là thủ cấp của Long Cách Chân Hoàng.”
Đại Quân bưng tráp gỗ nhưng không mở ra, chỉ sờ nắn một hồi, trầm mặc rất lâu.
Tiếng ngựa hí từ phía sau đại trận Hổ Báo Kỵ vọng lại, tiếp theo đó là tiếng tù và bằng đồng trầm hùng vang lên, tiếng trống da bò Tây Tạng chấn động lòng người lại một lần nữa trỗi dậy, thu hút sự chú ý của mọi người.
A Ma Sắc có phần kinh ngạc. Tù và đồng và trống da bò đều là lễ nhạc của Man tộc, quân đội xuất chinh chỉ dùng tiếng tù và sừng trâu làm hiệu lệnh. Chỉ trong những trường hợp long trọng mới gióng trống khua chiêng tề chỉnh thế này. Đại trận Hổ Báo Kỵ nghiêm ngặt bỗng nhiên rẽ sang hai bên, chừa ra một con đường bằng phẳng rộng tới hai trượng, những con chiến mã trắng khôi vĩ chậm rãi bước ra, theo sau là hai hàng nô lệ áo đỏ bưng chậu đồng rưới nước sạch, tiếp đó là sự tĩnh lặng kéo dài, từ nơi xa tít trên đại đạo có bóng người đang chầm chậm bước tới.
Lão già bỗng chốc phấn chấn hẳn lên, toan lách qua đám đông chui ra ngoài, nhưng ai nấy đều kiễng chân ngóng nhìn, vây kín như nêm cối. Lão chỉ đành sốt ruột xoay vòng vòng.
“Thiếu chủ nhân của Thanh Dương chúng ta đã về,” Cửu Vương cúi mình trước Đại Quân, “đội ngũ hộ tống Thế tử đã tới. Đệ nghĩ ca ca ắt hẳn lo lắng cho an nguy của Thế tử, nên đã đặc chế một cỗ xe lớn, để Thế tử đi sau đại quân. Bàn Đát Thiên Thần phù hộ, Thế tử bình an vô sự, đệ đệ không phụ sự phó thác của ca ca.”
A Ma Sắc cũng đã đoán ra, nghi lễ long trọng bực này chính là để nghênh đón Thanh Dương Thế tử, Đại Quân tương lai của Man tộc. Tròn ba năm sau, Thế tử đã trở lại thành Bắc Đô. Chiếu theo tổ chế của Man tộc, những người con trai lớn trấn thủ bốn phương, đứa con trai út thân cận nhất sẽ kế thừa lều bạt và nô lệ của phụ thân, trở thành gia chủ thế hệ mới. Ổ trướng của trưởng tử và ổ trướng của tam tử tranh đấu ngoài sáng trong tối, nhưng chẳng ai có thể phủ nhận người kế thừa chính thống chính là đứa con trai nhỏ nhất của Lữ Tung, Lữ Quy Trần, cậu có một cái tên Man tộc nhỏ là A Tô Lặc, mang ý nghĩa "trường sinh".
Thể chất của Thế tử vốn không tốt, năm lên sáu tuổi đã được đưa tới vùng đất phương nam ấm áp để tĩnh dưỡng, khi ấy giữa Chân Nhan bộ và Thanh Dương bộ vẫn chưa nổ ra chiến tranh, chủ quân Long Cách Chân Hoàng của Chân Nhan bộ khi đó vẫn được tính là cháu gọi Đại Quân bằng chú.
Ngoại trừ Đại Quân và các Đại Hãn Vương, tất cả mọi người đều đặt tay lên ngực cúi đầu hành lễ. Một khoảng thinh lặng như tờ, bóng người màu trắng trên đại đạo từ từ tiến lại gần, hai hàng nữ nô áo trắng đi kèm một bà vú già nua, tay bà dắt một đứa trẻ đang cúi gằm mặt. Bà vú nơm nớp lo sợ dừng lại trước mặt Đại Quân, mọi người rốt cuộc cũng nhìn rõ đứa trẻ ấy. Cậu bé đã cao ngang cổ ngựa, một thân áo sa tanh màu trăng non, ngay cả đôi ủng nhỏ dưới chân cũng làm bằng da trắng, trên cổ tay quấn một dải đuôi báo trắng.
Tiếng trống nhạc ngừng bặt, nữ nô cùng bà vú đều quỳ xuống dập đầu, bà vú buông tay đứa trẻ ra. Đứa trẻ kia chỉ lặng lẽ cúi đầu đứng đó, dán mắt vào mũi ủng của mình.
“Thế tử, đây là Đại Quân!” Bà vú hốt hoảng hạ giọng nhắc nhở, “Mau bái kiến Đại Quân đi!”
Đứa trẻ không nhúc nhích.
Đại Quân vỗ tay, dang rộng hai cánh tay: “Lại đây, A Tô Lặc, lại đây với phụ thân.”
Đứa trẻ vẫn lặng lẽ đứng yên bất động.
Bà vú đánh bạo kéo một cái, Thế tử thuận thế quỳ sụp xuống, lẳng lặng dập đầu, nhưng động tác lại có phần đờ đẫn.
“A Tô Lặc, ngẩng đầu lên, không nhận ra phụ thân nữa sao?”
Đứa trẻ rốt cuộc cũng ngẩng đầu lên, nhưng không hề cất tiếng. Đây là lần đầu tiên A Ma Sắc nhìn thấy Thế tử, một đứa trẻ thanh tú nhu nhược đến vậy. Trẻ con Man tộc từ nhỏ đã cưỡi ngựa giương cung, phần lớn đều vạm vỡ như ngựa con, Thế tử lại là một ngoại lệ. Sắc mặt cậu hơi nhợt nhạt, đôi mắt trong veo như bầu trời sau cơn mưa, thoạt nhìn lại có vài phần giống bé gái.
Ai nấy đều có thể nhìn thấy rõ vẻ thất vọng trên gương mặt Đại Quân.
Cửu Vương hơi do dự một chút, rồi hạ giọng: “Lúc cứu được Thế tử là ở giữa đám loạn quân, nên đã bị kinh hãi đôi chút.”
Đại Quân lặng lẽ gật đầu.
“Đại Quân, để kẻ ngu muội này chăm sóc Thế tử trước đã.” Lão già rốt cuộc cũng lách qua được kẽ hở giữa đám đông chui ra ngoài. Chiếc mũ trùm của lão bị chen rơi mất, áo bào cũng xộc xệch, đường đường là Đại Hợp Tát mà xuất hiện trước tầm mắt mọi người như thế này, ngay cả A Ma Sắc cũng thấy đỏ mặt thay ông. Thế nhưng lão già chẳng hề bận tâm tới những điều đó, lão lao tới nắm chặt lấy tay đứa trẻ, như thể vừa vớ được một món bảo bối.
Đại Quân gật đầu.
“Đại Hợp Tát.” Cửu Vương cực kỳ khiêm nhường, đặt tay lên ngực hành lễ.
“Trước khi xuất chinh, kẻ ngu muội này đã biết Cửu Vương nhất định sẽ khải hoàn trở về, Cửu Vương là võ sĩ được Bàn Đát Thiên Thần chiếu cố, Bắc Thần đã vì Cửu Vương mà mọc lên từ rặng núi Đồng Vân.”
“Đa tạ Hợp Tát đã chỉ dẫn,” Cửu Vương có vẻ thụ sủng nhược kinh, lại cúi đầu hành lễ.
Hắn ngẩng đầu lên, nhưng chỉ nhìn thấy bóng lưng của lão già, lão đang dắt món bảo bối vừa vớ được lủi vào trong đám đông bên cạnh. A Ma Sắc biết ông lại đang ăn nói hàm hồ rồi.
“A Tô Lặc, A Tô Lặc, là Hợp Tát đây mà!” Lão già véo má đứa trẻ, “Dù có quên Đại Quân thì cũng phải nhận ra Hợp Tát chứ?”
Vị Thế tử tôn quý không hề nổi giận, khi cậu ngẩng đầu nhìn Hợp Tát, trong đáy mắt trong veo dường như có một tia sáng lóe lên, rồi sau đó lại ảm đạm vụt tắt. Lão già vui sướng ôm chầm lấy cậu, A Ma Sắc tò mò nhìn vào mắt Thế tử, đôi mắt tĩnh lặng ấy, nhìn lâu lại tự nhiên dấy lên một nỗi u sầu khôn xiết.