Vũ Trụ Và Hoa Sen

Lượt đọc: 471 | 1 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sự phụ thuộc lẫn nhau của các hiện tượng

❊ ❊ ❊

Bài học chính mà tôi rút ra từ cuộc trao đổi với Matthieu Ricard là tồn tại một sự hội tụ và cộng hưởng sâu sắc giữa hai quan điểm Phật giáo và khoa học về thực tại. Một số lời dạy của Phật về thế giới các hiện tượng gợi lên một cách đáng ngạc nhiên những ý tưởng này hay khác ngầm ẩn sau vật lí hiện đại, đặc biệt là hai lí thuyết trụ cột hiện nay là cơ học lượng tử - vật lí của những cái vô cùng bé - và thuyết tương đối - vật lí cửa những cái vô cùng lớn. Tôi sẽ phân tích sự hội tụ này bằng cách xem xét ba khái niệm triết học cơ bản của Phật giáo: duyên khởi, tính không và vô thường.

Khái niệm duyên khởi biểu thị ý tưởng mọi vật hay sinh vật đều không thể tồn tại một cách tự lập và cũng không tự là nguyên nhân của chính nó. Một vật chỉ có thể được định nghĩa qua những vật khác và chỉ tồn tại trong mối quan hệ với các thực thể khác. Nói cách khác, cái này xảy ra bởi vì cái kia tồn tại. Duyên khởi là cốt lõi trong sự biểu hiện của các hiện tượng. Người ta có thể phản đối rằng chúng ta không hề cảm nhận thấy thế giới như một tập hợp các sự vật kết nối với nhau. Mà thực tế dường như nó được tạo bởi các thành phần hoàn toàn rời rạc - cái ghế ở đây, cái cây ở kia - xuất phát từ các nguyên nhân và điều kiện cũng hoàn toàn khác nhau. Phật giáo trả lời rằng đó chỉ là vẻ bề ngoài, rằng có tồn tại một khoảng trống sâu thẳm giữa cách mà ta cảm nhận thế giới, bao gồm cả chính sự tồn tại của chúng ta (đó là chân lí “tương đối” hay chân lí “ước lệ”) và cách mà nó thực sự được tạo ra (chân lí “tuyệt đối”). Khi kinh nghiệm thường nhật làm cho chúng ta tin rằng mọi vật có một thực tại khách quan độc lập, như tự chúng tồn tại và có một căn cước nội tại, thì Phật giáo cho rằng cách nhận thức các hiện tượng như thế chỉ là một kết cấu của trí não và không thể đứng vững dưới sự phân tích: chỉ khi có quan hệ và phụ thuộc vào các nhân tố khác thì một sự kiện mới có thể xảy ra. Một vật chỉ có thể nảy sinh nếu như nó được liên kết, có nhân và có quả. Một thực thể tồn tại một cách độc lập với mọi thứ hoặc đã tồn tại mãi mãi, hoặc không bao giờ tồn tại. Nó không thể tác động lên cái gì và không gì có thể tác động vào nó.

Với Phật giáo, thế giới như một dòng chảy rộng lớn, với các sự kiện liên hệ và cùng tác động lẫn nhau. Cách mà chúng ta nhận thức dòng chảy này đã làm kết tinh một số khía cạnh một cách hoàn toàn hão huyền và khiến chúng ta tưởng rằng đó là một thực thể độc lập hoàn toàn, tách biệt với chúng ta. Phật giáo không chối bỏ chân lí thông thường, cái mà người bình thường vẫn thấy hay nhà khoa học phát hiện ra. Nó cũng không phản đối các định luật nhân quả, hay các định luật vật lí và toán học. Nó đơn giản chỉ khẳng định rằng, về cơ bản, có một sự khác biệt giữa những cái mà ta nhìn thấy và bản chất tối hậu của thế giới. Chẳng hạn, khi ta nhìn một trái táo, chúng ta thấy vị trí, hình dạng, kích thước hay màu sắc của nó. Tập hợp toàn bộ các đặc tính này tạo thành tên gọi “trái táo”. Việc gọi tên này là một sản phẩm hay kết cấu của trí não, nó gán một thực tại tự thân cho trái táo. Nhưng khi ta phân tích trái táo, là kết quả của một loạt các nguyên nhân và điều kiện - cây sinh ra nó, ánh sáng Mặt Trời và mưa nuôi dưỡng cây, đất trồng cây… - chúng ta không thể tách riêng ra một căn cước tự lập của trái táo được. Điều này không có nghĩa là Phật giáo cho rằng trái táo không tồn tại, bởi vì chúng ta có thể thực nghiệm với nó qua các cảm giác. Phật giáo không xưng tụng chủ nghĩa hư vô như mọi người vẫn hay lầm tưởng. Nó khẳng định rằng sự tồn tại này không phải là tự lập mà là hoàn toàn tương thuộc, và như vậy tránh khỏi quan điểm của chủ nghĩa duy vật hiện thực. Nó đi theo “Đạo Trung dung”, tức là một hiện tượng không thể tồn tại tự lập trừ phi không tồn tại, có thể tác động lẫn nhau và vận động theo các định luật nhân quả.

Như vậy, theo Phật giáo, mọi vật đều liên quan với nhau. Thật kì lạ, các thí nghiệm khoa học cũng đã buộc chúng ta vượt qua các khái niệm thường nhật về sự tính định xứ trong không gian. Chúng đã đưa chúng ta tới kết luận rằng vũ trụ có một trật tự tổng thể và không thể chia tách được, cả ở thang hạ nguyên tử và thang vô cùng lớn.

Một thí nghiệm tưởng tượng nổi tiếng đã được Einstein và hai đồng nghiệp là Boris Podolsky và Nathan Rosen đưa ra (sau này được gọi là “thí nghiệm EPR”, theo ba chữ cái đầu của tên ba người) năm 1935, đã buộc chúng ta phải từ bỏ ý tưởng về tính “định xứ” của sự vật, về cảm nhận giữa “đây” và “đó”. Khái niệm không định xứ này hóa ra lại gần gũi một cách lạ lùng với khái niệm duyên khởi của Phật giáo. Nói một cách đơn giản thì thí nghiệm EPR như sau:

Xét một hạt phân rã đồng thời thành hai photon (hạt ánh sáng) A và B. Theo các định luật về đối xứng, hai photon này luôn đi về hai hướng ngược chiều nhau. Nếu A đi về hướng bắc thì ta sẽ phát hiện ra B ở phía nam. Tới đây thì có vẻ chưa có gì đặc biệt. Nhưng đó là do ta đã quên mất những điều kì lạ của cơ học lượng tử nói rằng các hạt đều có bản chất lưỡng tính: vừa là sóng vừa là hạt và nó thể hiện bản chất nào là tùy thuộc vào việc dụng cụ đo có được bật hay không, tức phụ thuộc vào hành động quan sát. Trước khi máy dò được bật, photon A không thể hiện tính chất hạt mà thể hiện tính chất sóng. Sóng này không định xứ, mà tồn tại một xác suất để A có mặt ở bất cứ vị trí nào. Chỉ khi dụng cụ đo được bật và dò thấy A thì A mới biến thành hạt và “cho biết” rằng nó đi theo hướng bắc. Nhưng trước khi bị dò thấy, A không biết nó sẽ đi theo hướng nào, thì làm thế nào mà B “đoán” trước hành vi của A và tự điều chỉnh để có thể bị đồng thời dò thấy ở hướng ngược lại? Điều này thật vô lí trừ phi chấp nhận rằng A có thể thông tin ngay lập tức cho B hướng nó đã đi. Mà theo thuyết tương đối của Einstein thì lại không cho phép bất kì tín hiệu nào di chuyển nhanh hơn ánh sáng. “Chúa không gửi các tín hiệu thần giao cách cảm”, ông nói, để nhấn mạnh rằng không thể có một tác động huyền bí giữa hai hạt ở cách xa nhau trong không gian.

Dựa trên cơ sở của thí nghiệm tưởng tượng này, Einstein đã đi tới kết luận rằng cơ học lượng tử không cho chúng ta một mô tả đầy đủ về thực tại. Là một nhà quyết định luận thâm căn cố đế, ông phản đối sự mô tả thực tại bằng xác suất của cơ học lượng tử. Theo ông, A phải biết nó đi theo hướng nào và trao đổi thông tin này với B trước khi chúng tách ra xa nhau. Sự giải thích theo xác suất của cơ học lượng tử cho rằng A có thể có mặt ở bất cứ hướng nào là sai lầm. Einstein cho rằng dưới lớp vỏ bất định, lượng tử nhất định phải ẩn giấu một thực tại nội tại và tất định. Theo ông, vận tốc và vị trí xác định quỹ đạo của hạt được định xứ trên hạt, độc lập với hành động quan sát. Ông tán thành với cái được gọi là “thực tại địa phương”. Theo Einstein, sở dĩ cơ học lượng tử không giải thích được quỹ đạo xác định của một hạt là bởi nó không tính tới các tham số phụ, gọi là các “biến ẩn”. Do đó nó không đầy đủ.

Trong một thời gian dài, thí nghiệm EPR vẫn chỉ là một thí nghiệm tưởng tượng. Các nhà vật lí không biết làm thế nào để thực hiện nó trên thực tế. Năm 1964, John Bell, một nhà vật lí làm việc tại CERN (Trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu) đã xây dựng một định lí toán học được biết dưới cái tên “bất đẳng thức Bell”, giúp cho có thể kiểm chứng bằng thực nghiệm có tồn tại các biến ẩn hay không. Định lí này cho phép biến một tranh luận siêu hình thành một thí nghiệm cụ thể. Năm 1982 tại Orsay, nhà vật lí người Pháp Alain Aspect và nhóm của ông đã thực hiện một loạt các thí nghiệm với các cặp photon (được các nhà vật lí gọi là các photon “bị vướng víu”) để kiểm tra hiệu ứng EPR. Kết quả không thể phủ nhận: các bất đẳng thức Bell đều bị vi phạm một cách có hệ thống. Nghĩa là Einstein đã nhầm. Trong thí nghiệm của Aspect, các photon A và B ở cách xa nhau 12m, thế nhưng B luôn “biết” ngay lập tức A làm gì. Ta biết hiện tượng này là tức thời bởi vì một tín hiệu ánh sáng truyền thông tin từ A sang B không có đủ thời gian để đi hết 12m. Thực vậy, các đồng hồ nguyên tử, gắn với các máy để dò A và B, cho phép đo một cách chính xác thời điểm tới của mỗi photon. Sự khác biệt giữa hai thời gian tới nhỏ hơn vài phần mười tỉ của giây (nó chắc là bằng không nhưng các đồng hồ nguyên tử hiện nay chưa cho phép đo chính xác hơn 10-10 giây). Mà với 10-10 giây ánh sáng mới đi được 3 cm, nhỏ hơn rất nhiều khoảng cách 12m giữa hai photon. Trong thí nghiệm gần đây hơn, được thực hiện vào năm 1998, bởi nhà vật lí người Thụy Sỹ Nicolas Gisin và nhóm của ông tại Genève, các photon cách xa nhau 10km, thế nhưng hành vi của A và B vẫn tương liên với nhau một cách hoàn hảo. Những kết quả này làm choáng váng lương tri.

Vật lí cổ điển nói với chúng ta rằng hành vi của A và B phải hoàn toàn độc lập bởi chúng không thể liên lạc được với nhau. Vậy làm thế nào giải thích được việc B luôn “biết” A làm gì? Vấn đề này chỉ đặt ra nếu chúng ta giả định như Einstein rằng thực tại bị chia nhỏ và định xứ trên mỗi photon. Thế nhưng, nghịch lí này sẽ không xảy ra nếu chúng ta chấp nhận rằng A và B thuộc cùng một thực tại tổng thể, bất chấp khoảng cách giữa chúng là bao nhiêu, thậm chí ngay cả khi chúng nằm ở hai phía biên của vũ trụ. A không cần phải gửi tín hiệu nào cho B hết, bởi cả hai đều thuộc cùng một thực tại. Cả hai photon luôn có mối liên hệ với nhau bởi một tương tác bí ẩn. Thực nghiệm EPR đã loại bỏ hoàn toàn mọi ý tưởng về tính định xứ. Nó cấp cho không gian một đặc tính tổng thể. Khái niệm “đây” và “kia” không còn ý nghĩa nữa, bởi “đây” giống hệt như “kia”. Các nhà vật lí gọi đó là tính “bất khả tách” của không gian.

Nguyên tác: Le Cosmos et le lotus Dịch giả: Phạm Văn Thiều & Phạm Nguyễn Việt Hưng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.