Vũ Trụ Và Hoa Sen

Lượt đọc: 527 | 1 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trở về quê hương đang chiến tranh

❊ ❊ ❊

Thế là tôi quyết định sẽ trở lại Caltech để làm vũ trụ học. Nhưng trước khi trở lại khu đại học ở bờ biển phía tây, tôi nhất thiết phải về nước một chuyến. Tám năm kể từ khi rời Việt Nam, tôi chỉ được gặp cha mẹ một lần. Cha tôi được bổ nhiệm vào Tối cao Pháp viện của miền Nam Việt Nam, và ông đã được mời đến thăm Tối cao Pháp viện Hoa Kì, cùng với mẹ tôi và tôi đã tới Washington DC để có một cuộc hội ngộ ngắn ngủi. Học bổng sinh viên còm cõi của tôi đã không cho phép tôi bay về nhà mỗi mùa hè. Bị chia cắt với gia đình và nền văn hóa của tôi quá lâu, nên năm 1974 chính là thời điểm thích hợp để nối lại các mối liên hệ. Tôi đã rất hạnh phúc khi gặp lại những người thân và những nơi quen thuộc thời thơ ấu, ấy là chưa kể niềm vui được nếm lại các món ngon của Việt Nam mà tôi rất nhớ khi ở Mỹ. Đó là một mùa hè hạnh phúc, êm đềm và thanh bình đối với tôi.

Tuy nhiên, một nỗi lo sợ âm thầm vẫn bóp nghẹt trái tim tôi. Sau khi kí Hiệp định Paris năm 1973, quân Mỹ đã rời khỏi miền Nam. Trong khi chính phủ Sài Gòn dường như còn rất mạnh. Với quân đội đông một triệu người - gấp bốn lần quân đối phương thực tế ở miền Nam và được người Mỹ trang bị tối tân. Cha tôi bảo đảm với tôi rằng miền Nam Việt Nam đủ mạnh để đẩy lùi bất kì cuộc tấn công nào, chừng nào vẫn được hưởng viện trợ kinh tế và quân sự (không phải bằng người, mà bằng vật chất) của Hoa Kì. Ông nói trong bất kì hoàn cảnh nào Mỹ cũng không bao giờ để Nam Việt Nam rơi vào tay Miền Bắc, và chắc chắn sẽ can thiệp trong trường hợp nguy hiểm. Nhưng tôi không chắc như thế. Sống tại Hoa Kì, tôi biết rằng nhân dân Mỹ không muốn nghe nói về đất nước của tôi nữa, và các chính trị gia không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc thực hiện theo ý muốn của cử tri bầu ra họ. Quốc hội Hoa Kì đã thông qua một đạo luật cấm các vụ ném bom ở Đông Dương, đánh dấu việc Hoa Kì rút hoàn toàn khỏi cuộc xung đột ở Việt Nam. Tháng 8 năm 1974 cũng chứng kiến việc từ chức của Richard Nixon do vụ bê bối Watergate, và tổng thống mới Gerald Ford đã cho thấy ít có khuynh hướng tiếp tục hỗ trợ chế độ Sài Gòn.

Mặt khác, những khó khăn nghiêm trọng về kinh tế đã bắt đầu ảnh hưởng đến Sài Gòn. Khi rút đi, người Mỹ cũng mang theo tất cả đô la của họ. Việc làm và các loại dịch vụ khác nhau phụ thuộc vào sự hiện diện của người Mỹ (như khách sạn, quán bar, câu lạc bộ đêm, thợ cắt tóc, thợ may, việc làm trong các căn cứ Mỹ, vv…) giờ không còn nữa. Toàn bộ một mảng của nền kinh tế sụp đổ, làm mất đi sinh kế của khoảng 2 triệu người. Ấy là chưa kể, nông dân phải li hương do chiến tranh vẫn tiếp tục đổ về Sài Gòn. Tình hình kinh tế của họ còn bấp bênh hơn nhiều so với cư dân đô thị, có thể nhìn thấy những người ăn xin hầu như ở mỗi góc phố. Xung quanh nhà hàng, trẻ em đói ăn hau háu nhìn khách hàng ăn uống và sau đó tranh nhau phần thừa. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng rộng. Tình huống này lại càng bất công bởi những nỗ lực và hi sinh do chiến tranh đòi hỏi vẫn chủ yếu đè nặng lên vai người nghèo hơn là kẻ giàu: những người đã chiến đấu và hi sinh đều được tuyển mộ từ các trai làng chứ không phải con trai các gia đình giàu có, vì họ luôn có các mối quan hệ cần thiết để con cái họ có thể tránh quân dịch. Tồi tệ hơn nữa, chính phủ Nguyễn Văn Thiệu dường như không có chiến lược rõ ràng để đối phó với những khó khăn, và cùng chẳng có đường lối chỉ đạo xác định nào để động viên dân chúng chống lại các mối đe dọa của đối phương. Ngược lại, nạn tham nhũng đã trở thành nạn dịch, nó xuất hiện ở tất cả các cấp chính quyền, khiến người dân luôn nghĩ rằng các nhà lãnh đạo đất nước chủ yếu chỉ lo vơ vét cho đầy túi của họ.

Bối cảnh này khiến tôi vô cùng lo lắng. Tôi nghĩ rằng miền Nam khó có thể chịu nổi các cuộc tấn công liên tục của miền Bắc. Tôi bàn với cha về khả năng sang Hoa Kì cùng mẹ và em gái của tôi (ba em gái khác của tôi lúc đó đang học tập ở nước ngoài), nhưng ông không muốn nghe điều đó: ông tin tưởng vào chính phủ và đối với ông việc ra đi là một hành động hèn nhát. Trước sự năn nỉ của tôi, ông khẳng định: Nếu tất cả các nhà lãnh đạo đều bỏ chạy thì đó là cách nhanh nhất để gây ra sự sụp đổ của đất nước. Cha cần phải trung thành với cương vị của cha và thực hiện nhiệm vụ cho đến phút cuối cùng”. Nhưng ngay cả trong lúc bi quan nhất và dự đoán đen tối nhất, tôi cũng không thể đoán được rằng trong vòng một năm sau đó, tòa lâu đài giấy sẽ sụp đổ hoàn toàn. Tôi không thể ngờ rằng một trận bão lớn đang hình thành ở phía chân trời, và mùa hè năm 1974 sẽ là mùa hè cuối cùng của Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Tháng 4 năm 1975, Bắc Việt Nam giải phóng miền Nam và cha tôi bị đưa vào một trại cải tạo .

Nguyên tác: Le Cosmos et le lotus Dịch giả: Phạm Văn Thiều & Phạm Nguyễn Việt Hưng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.