Răng Sư Tử

Lượt đọc: 88 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

❊ ❊ ❊

7

Bộ ngũ phi thường

“Họ là những chàng Don Quixote của cách mạng thế giới”.

Đại tá KGB Yuri Modin

Câu chuyện về Harold Adrian Russell Kim Philby cùng các thành viên trong mạng lưới điệp viên của mình có lẽ là khó tin nhất trong lịch sử điệp báo thế giới, khi người suýt chút nữa được bổ nhiệm vào vị trí đứng đầu của cơ quan tình báo quốc gia lại là điệp viên hoạt động cho một nước thù địch!

Nếu điều đó xảy ra thì hẳn là lịch sử điệp báo thời Chiến tranh Lạnh - không loại trừ khả năng cả dòng chảy lịch sử thế giới trong những năm tháng đó - hẳn là rẽ sang hướng khác, không như cái cách nó đã diễn ra. Mặc dù trong thế giới của những hiệp sĩ mang áo choàng và dao găm, mọi sự đều có thể, thế nhưng câu chuyện này vẫn gần như đạt tới đỉnh điểm của sự phi lí.

Vậy mà đó lại là những gì xảy ra với Kim Philby cùng các chiến hữu của mình.

Nhưng câu chuyện về Kim Philby không dừng lại ở một cá nhân ông. Dù là người đồng chí hướng hay kẻ thù, trong những đánh giá về ông, hầu hết đều phải thừa nhận Kim Philby là một trong những điệp viên vĩ đại nhất thế kỉ 20, thế kỉ mà quá nửa thời gian đã là những cuộc chiến tranh nóng và lạnh. Bên cạnh ông, cùng hoạt dộng ở một trong những đường dây gián điệp thành công nhất mà tình báo Liên Xô triển khai trên lãnh thổ các quốc gia phương Tây, là những điệp viên kiệt xuất. Nổi lên trong số đó là bốn đồng đội của Kim Philby: Donald Maclean, Guy Burgess, Anthony Blunt và John Cairncross.

Tất cả bọn họ đều xuất thân và trưởng thành trong giới tinh hoa của trí thức Anh, được đào tạo ở một trường đại học thuộc hàng danh giá nhất thế giới.

Tất cả đều hoạt động gián điệp vì lí tưởng chứ không phải vì tiền.

Tất cả bọn họ đều không bao giờ bị bắt!

Những điệp viên đó tập hợp thành Bộ Ngũ, đôi khi còn gọi là Bộ Ngũ Cambridge, tên của trường đại học mà họ đã theo học thời thanh niên. Năm 1960, ở phương Tây trình chiếu bộ phim bom tấn về bảy tay súng oai hùng miền Viễn Tây có tên là Bộ Bảy phi thường, nên sau này, nhóm điệp viên kiệt xuất mang thêm cái tên mới là Bộ Ngũ Phi Thường.

Sau khi ba trong số năm điệp viên thuộc Bộ Ngũ là Kim Philby, Donald Maclean và Guy Burgess chạy trốn thành công sang Liên Xô, toàn bộ hệ thống tình báo phương Tây rung chuyển. Thất bại quá đau khiến cho các cơ quan phản gián và mật vụ Anh - Mỹ nuốt không trôi và cách gỡ gạc duy nhất mà những cơ quan này có thể làm là mở liên tiếp các chiến dịch tuyên truyền trên hầu khắp các phương tiện truyền thông đại chúng, trong các bài báo, các cuốn sách, rằng Kim Philby cùng các điệp viên là những người “phản bội”.

Như Kim Philby có lần nói: “Để có thể phản bội một cái gì đó, anh phải thuộc về một cái gì đó”. Các thành viên Bộ Ngũ chưa bao giờ hoạt động vì những lợi ích của tình báo Anh rồi phản bội lại các lợi ích đó.

Nói cách khác, sẽ là thích hợp với từ “phản bội” nếu như Kim Philby cùng các điệp viên trong Bộ Ngũ là những điệp viên của tình báo Anh, bị cơ quan tình báo Liên Xô tuyển mộ, hoạt động chống lại nước Anh.

Trên thực tế, Kim Philby và các đồng nghiệp của mình là những sinh viên có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản, được tình báo Liên Xô tuyển mộ ngay từ khi còn rất trẻ. Họ được định hướng, đào tạo, cài cắm, chui sâu, leo cao trong các cơ quan quyền lực của nước Anh theo kế hoạch được xây dựng một cách bài bản, cực kì kiên nhẫn và khôn khéo, để có thể mang lại những lợi ích khổng lồ cho Liên Xô, cả trước, trong và sau Đệ nhị thế chiến.

Nói cách khác, họ là những điệp viên Liên Xô đã xâm nhập thành công vào các cơ quan quyền lực của nước Anh và hoạt động vì lợi ích của Liên Xô ngay từ buổi ban đầu của nghiệp tình báo. Đến khi bị lộ, nhiều người trong số họ đã chọn Liên Xô làm quê hương, nơi trú ẩn an toàn và sống tới những ngày cuối cùng của cuộc đời trên đất Liên Xô. Có những người như Kim Philby đã đề nghị được chôn cất tại Liên Xô, coi đây là mảnh đất để gửi gắm xương thịt của mình sau khi đã cống hiến cả đời cho sự nghiệp mà ông tin tưởng và theo đuổi.

Chỉ có điều, còn rất nhiều bí ẩn xung quanh hoạt động của Kim Philby cùng các đồng sự của ông trong Bộ Ngũ Cambridge mà có thể mãi mãi người ta không bao giờ tìm ra, cho dù Chiến tranh Lạnh đã kết thúc từ lâu.

+++++

Đứa trẻ trong một gia đình bố mẹ đều là người Anh sinh ra vào ngày đầu năm mới 1912 ở khu căn cứ quân sự Anh tại tỉnh Punjab ở Ấn Độ. Thường xuyên chơi với đám trẻ con Ấn Độ, nước da bị ánh mặt trời hun nóng ngả sang màu nâu và biết nói tiếng Hindi trước cả khi nói tiếng Anh, cậu bé có thể được xem như là một đứa bé Ấn Độ.

Ngay cả cái tên Anh dài dằng dặc của cậu bé, Harold Adrian Russell Philby, cũng được rút gọn lại thành biệt danh ngắn gọn “Kim”, tên một tiểu thuyết rất nổi tiếng của nhà văn người Anh được giải Nobel, Rudyard Kipling, viết về Ấn Độ. Nhân vật chính, một cậu bé gốc Ireland, đã lớn lên giữa những đứa trẻ Ấn Độ. Nhưng nếu nhân vật trong cuốn tiểu thuyết của Rudyard Kipling luôn bị lưỡng lự giữa các giá trị văn hóa phương Đông và phương Tây để cuối cùng quyết định chọn phương Tây trong khi luôn buồn nhớ phương Đông, thì Kim trong đời thực, ngay từ khi còn rất trẻ, đã cương quyết từ chối phương Tây.

Cha của Kim Philby, ông Harry St John Bridger Philby, là một người lập dị. Khi Kim sinh ra ông đã phục vụ năm năm trong Cơ quan dịch vụ dân sự của Ấn Độ. Nhưng một thời gian sau, ông rời bỏ Ấn Độ và bắt đầu chuyển sang khu vực Ả Rập ở Trung Đông, niềm đam mê mới của mình.

Có nhiều thông tin cho rằng Philby cha đã để lại dấu ấn ở vùng Trung Đông, nơi ông làm việc trên danh nghĩa của Cơ quan tình báo Anh quốc để kích động cuộc cách mạng của người Ả Rập chống lại Thổ Nhĩ Kỳ thời kì cuối Đệ nhất thế chiến. Sau cuộc chiến tranh, bị thuyết phục rằng nước Anh đã phản bội Ả Rập, Harry Philby chuyển đến Ả Rập Xê út, nơi ông trở thành một người Hồi giáo. Ông tự xưng tên mình là Abdullah, “Nô lệ của Chúa”, rồi sau đó thêm vào “Al Hajji”, danh xưng để chỉ những tín đồ Hồi giáo từng hành hương về thánh địa Mecca. Ông cũng cưới một phụ nữ Ả Rập làm vợ thứ hai và cảnh báo con trai mình đừng bao giờ tin lời của giới thống trị Anh quốc.

Philby cha và con trai rất thân thiết nhưng việc thường xuyên quăng mình vào những chuyến đi liên miên bất tận khiến ông bố không có nhiều ảnh hưởng đến tính cách của con trai mình sau này. Điều nổi bật nhất mà Kim thừa hưởng từ người cha có lẽ là tính cách bướng bỉnh, ưa phiêu lưu của ông. Người có ảnh hưởng nhiều nhất đến Kim Philby là bà mẹ Dora có gốc nông dân, người bắt buộc phải thay thế ông bố thường xuyên vắng nhà để nuôi dạy con cái. Ngoài Kim, bà còn có ba cô con gái Helena, Patricia và Diana. Việc phải sống trong một gia đình toàn phụ nữ đã có ảnh hưởng nhất định đến toàn bộ cuộc sống của Kim Philby sau này: Ông không thể sống thiếu phụ nữ.

Kim Philby vào học trường trung học ở Westminster theo một học bổng của nhà vua, không có gì nổi bật trong đám bạn bè cùng trang lứa ngoài việc bắt đầu đam mê âm nhạc, cho dù không phải là chuyên gia trong lĩnh vực này. Năm 16 tuổi, Kim Philby có một kì nghỉ hè ở Tây Ban Nha, nơi chàng trai say mê cưỡi chiếc mô tô với tốc độ cao và rất ấn tượng về tính chất cha truyền con nối ở gia đình Hoàng gia nước này.

Tháng 10-1929, Kim vào học tại trường Đại học Trinity thuộc Đại học Cambridge, ngành lịch sử, sau đó hơn một năm thì chuyển sang học ngành kinh tế.

Một người bạn cũng học với Kim ở Đại học Trinity thuộc Đại học Cambridge, tên Guy Francis de Moncy Burgess, thường gọi là Guy Burgess, sinh năm 1911, có nguồn gốc xuất thân khác với Kim Philby. Cha của G. Burgess là một sĩ quan hải quân Hoàng gia Anh, có nguồn gốc nhiều đời là các tướng tá trong quân đội, qua đời khi cậu bé mới chín tuổi. Mẹ của cậu đi bước nữa, lấy một viên đại tá trong quân đội là John Retallack Basset để trở thành bà Basset.

Tháng 1-1924, khi mười ba tuổi, G. Burgess được gửi vào học ở trường Trung học Eton danh giá ở London chuyên dành cho con em những gia đình quyền quý giàu có của nước Anh. Một năm sau, G. Burgess vào trường Trung học Hải quân Dartmouth, chuẩn bị tiếp nối truyền thống làm sĩ quan hải quân Hoàng gia của gia đình. Nhưng sau hơn hai năm học tại đó, G. Burgess cảm thấy môi trường hải quân không hợp với mình và quyết định rời Dartmouth, quay lại học ở Trung học Eton. Vào năm cuối cùng tại trường, G. Burgess giành được một học bổng để tháng 10 năm 1930 vào học tại trường Đại học Trinity thuộc Đại học Cambridge.

Sir Donald Maclean là một người hoạt động chính trị chuyên nghiệp, là người đồng sáng lập Hiệp hội quốc gia chống bạo hành trẻ em, một thành viên nhiệt thành của Đảng Tự do và từng là đại diện của Đảng này ứng cử vào Nghị viện Anh năm 1900 nhưng không thành công. Năm 1907, ông cưới một cô gái trầm lặng xuất thân ở Surrey có tên là Gwendolen Margaret Devitt, mua một ngôi nhà ba tầng trên đường Southwick ở London rồi đưa cả gia đình về sinh sống ở đó. Ngày 25-5-1913, đứa con trai thứ hai của họ ra đời, đặt tên theo tên bố là Donald.

Năm 1927, gia đình gửi cậu bé Donald Maclean vào một trường trung học tên là Gresham ở Norfolk. Đấy là một trường công nhỏ chỉ có chừng 250 học sinh. Cậu bé Donald mảnh khảnh, thông minh nhưng sống khá khép kín, ít bạn. Cậu bạn duy nhất mà D. Maclean chơi thân trong trường này là James Klugmann. Hoạt động nổi bật nhất của cậu bé ở trung học là khi trường tổ chức diễn kịch, thường thì Donald đóng các vai nữ và rất hài lòng về chuyện này. Khuynh hướng đồng giới đã xuất hiện ở D. Maclean từ sớm và sẽ còn theo Donald trong suốt cuộc đời sau này. Năm 1931, D. Maclean thi vào trường Đại học Trinity thuộc Đại học Cambridge, Khoa Ngoại ngữ và văn học. Cậu bạn thân James Klugmann cũng vào học ở Cambridge như D. Maclean.

Con đường đi tới Đại học Cambridge của Anthony Blunt, người có quan hệ họ hàng với Hoàng gia Anh lại khá rắc rối. Là con trai của một mục sư, Blunt được giáo dục trong một môi trường khắc nghiệt của những điều kỉ luật. A. Blunt có khuynh hướng gần gũi mẹ mình và hoàn toàn xa lạ với tín ngưỡng cũng như bản thân cha mình. Công việc của cha A. Blunt tại Giáo hội Anh ở Paris khiến cho A. Blunt có điều kiện sống suốt thời thơ ấu ở thủ đô nước Pháp trong suốt 15 năm, giúp A. Blunt có một nền tảng tiếng Pháp cực kì xuất sắc.

Khi quay về Anh, A. Blunt vào học trường Trung học Marlborough và sớm quan tâm đến các vấn đề nghệ thuật, cụ thể là lịch sử nghệ thuật. Năm 1926, A. Blunt thi vào Đại học Trinity thuộc Đại học Cambridge nhưng trái với mong đợi của mọi người, không vào học tại khoa ngôn ngữ hay văn học mà lại vào khoa toán.

Chính trong thời gian ở Đại học Cambridge, khuynh hướng đồng giới của A. Blunt bắt đầu bộc lộ mạnh mẽ, đặc biệt là khi gặp G. Burgess, người kém Blunt ba tuổi và cũng có khuynh hướng giống A. Blunt.

John Cairncross, người Scotland, sinh năm 1913 ở Glasgow. Ngay từ bé, J. Cairncross đã có thiên hướng đặc biệt là nắm bắt rất nhanh ngoại ngữ. Sau này, có những đồn đại cho rằng J. Cairncross có khả năng nắm bắt một ngoại ngữ chỉ sau một đêm thức trắng! Khả năng đó đưa John vào học hai năm ở Đại học Tổng hợp Glasgow rồi sau đó nhận được một học bổng về ngôn ngữ tại Đại học Sorbonne của Pháp, nơi J. Cairncross theo học trong hai năm 1933-1934. Ở đây, John say mê nhà viết kịch đại tài Molière và đi sâu nghiên cứu tìm hiểu các tác phẩm của Molière. Mùa thu năm 1934, ở tuổi 21, J. Cairncross nhận được một học bổng về ngôn ngữ hiện đại tại trường Đại học Trinity, Đại học Cambridge.

Vậy là số phận, bằng nhiều cách khác nhau, gần như trong cùng một khoảng thời gian, đã ném cả năm chàng trai, Kim Philby, G. Burgess, D. Maclean, A. Blunt, J. Cairncross vào cùng một nơi: Đại học Cambridge, một trong những trường đại học lâu đời và danh tiếng nhất Anh quốc.

+++++

Image

Những năm cuối thập niên 20, đầu thập niên 30 của thế kỉ 20 là một thời kì đầy biến động trong xã hội Anh quốc cũng như châu Âu. Cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới khiến châu Âu lún sâu vào đại suy thoái, tỉ lệ thất nghiệp tăng vọt, người dân mất lòng tin vào sự điều hành của chính phủ. Chủ nghĩa phát xít bắt đầu xây dựng những cơ sở hắc ám của nó, trước hết là ở nước Đức rồi sau đó lan sang các nước khác, trong khi tháng 9 năm 1931, Nhật Bản đưa quân vào Mãn Châu, bắt đầu xâm chiếm, thôn tính lãnh thổ Trung Quốc.

Thất bại của Công Đảng ở Anh vào mùa thu năm 1931 khiến những người cánh tả càng mất lòng tin vào chính phủ. Một cuộc khủng hoảng lòng tin vào chủ nghĩa tư bản xuất hiện và lan rộng trong hàng ngũ trí thức Anh, trong khi những thành tựu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ở Liên Xô cho thấy chủ nghĩa xã hội dường như là lối thoát khả dĩ để nước Anh ra khỏi khủng hoảng.

Trong bối cảnh đó, những tư tưởng cánh tả và cộng sản dần dần len lỏi vào các cuộc tụ tập, tranh luận của sinh viên Đại học Cambridge, có một sức hấp dẫn khó cưỡng. Các chàng trai như Kim Philby, G. Burgess và A. Blunt bắt đầu say mê những tư tưởng Marx. Kim Philby gia nhập Hội Xã hội chủ nghĩa Đại học Cambridge trong khi G. Burgess và A. Blunt là thành viên của Apostles, một tổ chức dạng nửa câu lạc bộ ăn trưa, nửa hội kín. Ba người nhanh chóng kết thân với nhau, bắt đầu một tình bạn lâu dài sẽ còn ảnh hưởng đến lịch sử tình báo thế giới sau này! Cả D. Maclean, người có quan hệ đồng tính với G. Burgess trong một thời gian ngắn, cũng tham gia vào các buổi thảo luận và không hề giấu giếm cảm tình với chủ nghĩa cộng sản.

Tháng 4-1932, David Haden Guest, một nghiên cứu sinh môn toán học, đồng thời là đảng viên cộng sản, thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Đại học Cambridge. D. Maclean và James Klugmann, cậu bạn học ở trường Trung học Gresham, nhanh chóng trở thành đảng viên thuộc chi bộ này. Một thời gian sau đó, đến lượt G. Burgess gia nhập chi bộ. Đến thời điểm này, cả D. Maclean và G. Burgess đều đi về phía những người cộng sản nhanh hơn so với Kim Philby, người vẫn còn đang lưỡng lự giữa lí tưởng chủ nghĩa xã hội với lí tưởng cộng sản.

Sau khi chuyển từ học lịch sử sang học kinh tế ở Đại học Cambridge, Kim Philby thường tới giảng đường nghe các bài giảng của một giảng viên kinh tế tên là Maurice Dobb, một trong những nhà trí thức đầu tiên của nước Anh gia nhập Đảng Cộng sản, có thẻ đảng từ năm 1920. Nếu không có Maurice Dobb thì có lẽ lí tưởng cộng sản đã không thể bén rễ và đóng một vai trò nổi trội đến thế ở Đại học Cambridge. Chính Maurice Dobb là người đã kết nạp G. Burgess vào chi bộ cộng sản ở Cambridge hồi tháng 11-1932 và có ảnh hưởng rất lớn trong việc Kim Philby ngả hẳn sang chủ nghĩa cộng sản. Tới tháng 3-1933, trong năm học cuối cùng ở Đại học Cambridge, Kim Philby đã tự xác định mình là một người cộng sản, cho dù chưa bao giờ được kết nạp vào Đảng. Điều này rất có lợi cho hoạt động tình báo của Kim Philby sau này vì phản gián Anh đã không tìm ra bất cứ một bằng chứng nào cho thấy Kim là đảng viên cộng sản.

Trong thời gian ở Cambridge, Kim Philby thỉnh thoảng có những chuyến đi nước ngoài, tới Đức, Hungary, Pháp. Ở Pháp, theo lời giới thiệu của Maurice Dobb, Kim Philby bắt liên lạc với tổ chức cộng sản ở Paris, cụ thể là Ủy ban bảo vệ những nạn nhân của chủ nghĩa phát xít Đức, do một đảng viên Đảng Cộng sản Đức là Willi Münzenberg lãnh đạo.

Tháng 6-1933, Kim Philby tốt nghiệp Đại học Cambridge và nói với mọi người xung quanh rằng muốn tìm việc làm, nhưng trước hết phải tìm một nơi để nâng cao trình độ tiếng Đức của mình. Đó là thành phố Vienna, thủ đô nước Áo.

Mùa thu năm 1933, Kim Philby dùng chiếc xe mô tô, là món quà mà người cha tặng nhân dịp tốt nghiệp, để tới Vienna, đúng vào lúc ở đây đang diễn ra những biến động dữ dội. Vẫn theo lời giới thiệu của Maurice Dobb, Kim Philby tới ở tại nhà Israel Kohlmann, một người gốc Ba Lan tới Áo từ trước Đệ nhất thế chiến. Bà vợ Gisella suốt ngày làm công việc bếp núc, có một cô con gái tên Alice, thường được gọi thân mật là Litzi, hai mươi ba tuổi, nhiều hơn Kim hai tuổi. Năm mười tám tuổi, Litzi lấy Karl Friedmann, người sáng lập ra một tổ chức của người Do Thái, nhưng cuộc hôn nhân của họ tan vỡ sau mười bốn tháng.

Chỉ một thời gian ngắn sau khi gặp mặt, Kim Philby đã say mê Litzi. Trước đó, sau khi li dị, Litzi gặp ba người tị nạn Hungary, đều là đảng viên Đảng Cộng sản Hungary. Một trong ba người là Gábor Péter, một thành viên cao cấp của Đảng Cộng sản Hungary. Chính Gábor Peter đã giác ngộ Litzi và cô nhanh chóng trở thành đảng viên, người của Quốc tế Cộng sản, tổ chức do Liên Xô sáng lập để chuẩn bị cho cách mạng thế giới. Litzi là người đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình chuyển biến tư tưởng của Kim Philby.

Thời điểm Kim Philby và Litzi yêu nhau ở Vienna cũng trùng hợp với những biến động sôi sục ở thành phố này. Với sự ủng hộ của các đảng viên cộng sản, những người dân chủ xã hội đã tổ chức khởi nghĩa và bị chính quyền đàn áp khốc liệt, hàng ngàn người bị bắn chết; các đảng viên cộng sản bị truy lùng ráo riết. Cùng với Litzi, Kim Philby đã tích cực tham gia vào phong trào nổi dậy của những người dân chủ xã hội và cộng sản. Là công dân Anh, Kim Philby có lợi thế không bị cảnh sát nghi ngờ. Kim đã dùng lợi thế đó để giúp nhiều đảng viên cộng sản thoát khỏi lưới vây bắt của cảnh sát và đưa họ ra nước ngoài.

Ngày 24-2-1934, tại Tòa thị chính Vienna, Kim Philby cưới Litzi. Sau đó, tấm hộ chiếu Anh của Philby đã giúp cho hai người rời Vienna tới Anh và Litzi thoát khỏi sự truy lùng của cảnh sát. Chính thời gian ở Vienna, tận mắt chứng kiến chính quyền theo khuynh hướng phát xít đàn áp khốc liệt những người nổi dậy đã khiến cho Kim Philby tin rằng chỉ có những người cộng sản mới đủ sức chống lại chủ nghĩa phát xít. Thực tế đó, cùng với ảnh hưởng của Litzi, đã biến Kim thành một người kiên định theo lí tưởng cộng sản.

Trong nhiều năm trời, câu hỏi ai là người tuyển mộ Kim Philby cũng như các thành viên khác trong Bộ Ngũ vẫn là một điều bí ẩn. Ngay cả Kim Philby, trong những năm cuối đời cũng không chịu tiết lộ mà quyết tâm mang bí mật đó xuống mồ, ngoài việc thừa nhận rằng ngay sau khi cùng với Litzi từ Vienna trở về Anh, người của Bộ Dân ủy nội vụ Liên Xô NKVD, tiền thân của Ủy ban An ninh quốc gia Liên Xô KGB khét tiếng sau này, đã tiếp cận và đề nghị Kim làm việc cho tình báo Liên Xô. Tất cả những gì mà Kim Philby chịu hé lộ chỉ là “ông ấy không phải một người Nga”.

Chính vì thế đã xuất hiện vô số những lời đồn đoán về con người bí ẩn này. Có nguồn tin cho rằng đó là Theodore Maly, một linh mục người Hungary sau chuyển sang khuynh hướng cộng sản và là điệp viên KGB xuất sắc ở nước ngoài thời gian đó, sau này chết trong chiến dịch thanh trừng nội bộ của J. Stalin. Nguồn tin khác nói rằng đó là Simon Kremer, hoạt động dưới vỏ bọc là nhân viên hành chính nhưng thực chất là sĩ quan tình báo trong sứ quán Liên Xô tại London. Cũng có thể đó là Samuel Borisovich Cahan, phụ trách mạng lưới tình báo Liên Xô ở Anh hoặc Leonid Tolokonsky, một người làm việc cùng với Cahan...

Nhưng có vẻ như tất cả đều không phù hợp với nhân vật bí ẩn mà Kim Philby nói đến.

+++++

Lịch sử của NKVD - tức KGB sau này - cũng như lịch sử Đệ nhị thế chiến và cả nhiều thập niên sau đó hẳn sẽ khác đi nhiều nếu không có sự xuất hiện của một trong những điệp viên vĩ đại nhất trong lịch sử KGB, một người Áo gốc Do Thái tên là Arnold Deutsch.

Sau 5 năm học tại trường Đại học Tổng hợp Vienna, tháng 7-1928, khi mới hai mươi bốn tuổi, Arnold Deutsch đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ngành hóa loại xuất sắc. Mặc dù là tiến sĩ ngành hóa nhưng mối quan tâm lớn của Arnold Deutsch lại là lĩnh vực triết học và tâm lí. Cuộc cách mạng vĩ đại ở Liên Xô thời điểm đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến chàng thanh niên trẻ tuổi và ngay sau khi rời khỏi Đại học Tổng hợp Vienna, Arnold Deutsch bắt đầu bí mật làm việc như một liên lạc viên cho Ban liên lạc quốc tế OMS của Quốc tế Cộng sản, đi lại thường xuyên giữa Romania, Hy Lạp, Palestine và Syria. Vợ ông, Josefine, người Áo, cũng làm việc cho OMS.

Năm 1932, Arnold Deutsch được chuyển sang bộ phận tình báo đối ngoại của tình báo Liên Xô, thường được gọi là Tổng cục Chính trị Quốc gia OGPU, tiền thân của NKVD, tức KGB sau này. OGPU đưa Arnold Deutsch sang Moscow một thời gian để huấn luyện các kĩ năng nghiệp vụ của một điệp viên bất hợp pháp dưới bí danh Stefan Lange. Trong hồ sơ, ông mang mật danh Stefan, sau này chuyển thành Otto.

Vị trí công tác đầu tiên của Arnold Deutsch trên cương vị một điệp viên bất hợp pháp là ở Pháp, nơi ông tổ chức các “cửa sổ” bí mật để đưa người xâm nhập trên biên giới Bỉ, Hà Lan, Đức, lắp đặt các điện đài trên những tàu đánh cá của Pháp để OGPU có thể sử dụng trong thời gian chiến tranh sau này.

Nhưng chiến công rực rỡ nhất của điệp viên Arnold Deutsch đã diễn ra ở Anh, nơi ông được phân công sang hoạt động vào đầu năm 1934. Arnold Deutsch tới London dưới tên thật của mình trong cương vị của một “giảng viên đại học”, thuê một căn hộ trên đường Lawn, nằm ngay cạnh căn hộ của “nữ hoàng” văn học trinh thám nổi tiếng, nhà văn Agatha Christie. Năm sau đó, vợ ông, người được đào tạo như một nhân viên điện đài, cũng tới Anh sum họp cùng chồng.

Phát kiến lớn nhất trong sự nghiệp tình báo của Arnold Deutsch dựa trên một ý tưởng thiên tài: Tình báo Liên Xô cần phải tuyển mộ những sinh viên có khuynh hướng chính trị cánh tả nhiệt huyết từ các trường đại học hàng đầu xứ sở sương mù ngay ở giai đoạn đầu của sự nghiệp, trước khi các sinh viên này có khả năng bước vào những hành lang quyền lực của nước Anh. Do chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng cộng sản lan tràn trong các trường đại học ở Anh hồi đó, tình báo Liên Xô sẽ dễ dàng tuyển mộ những sinh viên có quan điểm tả khuynh hoặc cộng sản thì càng tốt, trong khi sau này, các cơ quan giám sát mật của Anh lại hoàn toàn chưa để ý đến quá khứ tả khuynh hay cộng sản của những sinh viên này.

Theo logic này, những trường đại học hàng đầu của nước Anh như Cambridge hay Oxford là các mục tiêu lí tưởng nhất để tuyển mộ điệp viên dựa trên ý tưởng của Arnold Deutsch.

Tháng 5-1934, Kim Philby và Litzi quay về London, chỉ vài tuần sau khi Arnold Deutsch tới đây. Vài tháng trước đấy, một người bạn gái của Litzi là Edith Suschitzky đã cưới chồng và cũng định cư tại London. Chồng của Edith Suschitzky là một bác sĩ người Anh, cũng là một điệp viên NKVD được Arnold Deutsch tuyển mộ trước đó, tên là Alex Tudor-Hart. Tháng 6-1934, Alex Tudor-Hart giới thiệu để Arnold Deutsch gặp Kim Philby. Cuộc gặp diễn ra tại công viên Regent ở London.

Trong cuộc gặp này, Kim Philby đã hoàn toàn bị Arnold Deutsch thuyết phục để tham gia vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít dưới danh nghĩa là thành viên của Quốc tế Cộng sản. Arnold Deutsch không vội vàng nói cho Kim biết vai trò của một điệp viên mật hoạt động vì lợi ích của tình báo Liên Xô. Kim Philby không nhất thiết phải ra mặt trận rồi chết vô ích trong một trận đánh nào đó. Công việc của Kim Philby trong những năm trước mắt là tìm cách để xâm nhập vào những thiết chế quyền lực của nước Anh. Trước hết, Kim phải tìm cách xóa bỏ mọi liên hệ với những người cộng sản, tìm cách tranh thủ cảm tình của các tổ chức thân phát xít tại Anh.

Ngay sau cuộc gặp này, Arnold Deutsch đặt mật danh cho Kim Philby là Söhnchen trong tiếng Đức, Synok trong tiếng Nga, tức là Sonny trong tiếng Anh.

Việc tuyển mộ được Kim Philby làm việc cho tình báo Xô viết đã giúp cho Arnold Deutsch hướng tới hai mục tiêu tiềm năng khác để hình thành mạng lưới tình báo ở Cambridge: D. Maclean và G. Burgess.

Trẻ tuổi, đẹp trai, đảng viên cộng sản, lại là con trai của một thành viên trong nội các Đảng Tự do, đối với Arnold Deutsch, D. Maclean là một ứng cử viên đầy hứa hẹn có khả năng tiềm nhập sâu vào các hành lang quyền lực của nước Anh. Tuy nhiên, vào tháng 6-1934, sau khi tốt nghiệp Đại học Cambridge chuyên ngành ngôn ngữ hiện đại với tấm bằng hạng ưu, D. Maclean không có ý định vào làm việc trong các cơ quan chính phủ Anh. Tham vọng của D. Maclean là sang Liên Xô dạy tiếng Anh hoặc ở lại Cambridge để lấy tiếp học vị tiến sĩ.

Tuy nhiên, vào tháng 8-1934, Kim Philby giới thiệu D. Maclean với Arnold Deutsch. Khi Arnold Deutsch báo về Moscow về khả năng tuyển mộ trực tiếp D. Maclean, Trung tâm tình báo Liên Xô không cho phép Arnold Deutsch tiếp xúc trực tiếp với D. Maclean mà việc tuyển mộ phải thực hiện gián tiếp, thông qua Kim Philby.

Theo chỉ đạo của Arnold Deutsch, Kim Philby gặp D. Maclean và đề nghị D. Maclean làm việc cho NKVD. D. Maclean đồng ý. Cũng như Kim Philby, D. Maclean phải cắt đứt mọi mối liên hệ, tiếp xúc với các đảng viên cộng sản. D. Maclean về nói với mẹ mình rằng không còn ý định sang Liên Xô dạy tiếng Anh nữa mà năm sau đó sẽ thi tuyển vào Bộ Ngoại giao Anh. Bà mẹ hết sức vui mừng trước sự chuyển biến của cậu con trai. Mật danh ban đầu của D. Maclean là Waise trong tiếng Đức, Sirota trong tiếng Nga, trong tiếng Anh là Orphan, có nghĩa là “trẻ mồ côi”, ám chỉ việc cha của D. Maclean mới mất hai năm trước đó.

Vài tháng sau đó, G. Burgess, khi ấy đang ở năm thứ hai trong quá trình chuẩn bị cho một luận án tiến sĩ không bao giờ hoàn thành, trở thành người thứ ba gia nhập đường dây. Tháng 12-1934, D. Maclean, người khá thân thiết với G. Burgess, thu xếp cuộc gặp đầu tiên giữa G. Burgess với Arnold Deutsch. Trong cuộc gặp này, vẫn dưới danh nghĩa thuyết phục G. Burgess tham gia vào cuộc chiến ngầm của Quốc tế Cộng sản chống lại chủ nghĩa phát xít, Arnold Deutsch đã thành công trong việc tuyển mộ G. Burgess. Sau đó, khi được D. Maclean, trái với mọi quy định giữ bí mật, thổ lộ rằng mình cũng đã nhận lời hoạt động như một điệp viên bí mật của Quốc tế Cộng sản, G. Burgess lại càng thấy sự lựa chọn của mình là đúng đắn. Mật danh của G. Burgess là Madchen trong tiếng Đức, tức Little Girl - Cô gái nhỏ - rõ ràng ám chỉ khuynh hướng tình dục đồng giới của G. Burgess.

Mùa xuân năm 1936, Trung tâm tình báo Xô viết ở Moscow bổ sung một điệp viên tài năng khác, Theodore Maly, làm người đứng đầu lưới tình báo bất hợp pháp ở London, vốn là linh mục trước khi Đệ nhất thế chiến nổ ra, năm 1914, Theodore Maly gia nhập quân đội Áo - Hung, chiến đấu ngoài mặt trận với nước Nga và năm 1916 bị bắt làm tù binh. Khi cách mạng nổ ra ở nước Nga, Theodore gia nhập hàng ngũ những người Bolshevik và trở thành đảng viên cộng sản, hoạt động tình báo với mật danh Mann.

Tháng 4-1936, Theodore Maly được bổ nhiệm làm người phụ trách tình báo ở London, cùng với Arnold Deutsch tiếp tục xây dựng mạng lưới tình báo Cambridge.

Đầu năm 1937, G. Burgess, khi ấy đã là một nhà sản xuất chương trình cho đài phát thanh BBC, giới thiệu với Arnold Deutsch người bạn thân có quan hệ đồng giới với mình, A. Blunt, cũng là người mà G. Burgess tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Marx. A. Blunt khi ấy là giảng viên tiếng Pháp và là nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật ở Đại học Cambridge. A. Blunt nhanh chóng nhận lời làm việc cho tình báo Liên Xô, tất nhiên vẫn dưới danh nghĩa là cho Quốc tế Cộng sản. Vốn là một người thờ ơ với chính trị mà chỉ đam mê văn hóa, A. Blunt không cần phải thể hiện với mọi người xung quanh rằng mình đoạn tuyệt với các tư tưởng cộng sản. Nhiệm vụ chủ yếu của A. Blunt ở giai đoạn đầu khi làm việc cho NKVD là tiếp tục tuyển mộ những điệp viên khác cho tình báo Liên Xô và ông đã làm việc này cực kì xuất sắc. Trong mạng lưới tình báo của Liên Xô ở Anh, A. Blunt mang mật danh Johnson.

Một trong số những học trò môn văn học Pháp của A. Blunt là J. Cairncross, sinh viên xuất chúng người Scoland. A. Blunt đã giới thiệu cho Arnold Deutsch người học trò này như một ứng cử viên tiềm tàng để tuyển mộ. J. Cairncross đến với chủ nghĩa cộng sản đơn giản bởi vì cho rằng chỉ có những người cộng sản mới đủ sức để đối chọi lại với chủ nghĩa phát xít, khi ấy bắt đầu hoành hành ở châu Âu. Theo chỉ dẫn của Arnold Deutsch, G. Burgess tiếp xúc với J. Cairncross, theo đúng phương thức mà Kim Philby trước đấy đã dùng khi tuyển mộ D. Maclean.

Ngày 9-4-1937, y báo cáo về Trung tâm tình báo ở Moscow rằng J. Cairncross đã chính thức được tuyển mộ, mật danh là Molière, chắc chắn có liên quan đến niềm đam mê nhà viết kịch vĩ đại người Pháp của J. Cairncross. Sau này, mật danh đó được thay bằng LisztMer. Đến tháng 5-1937, đã diễn ra cuộc gặp đầu tiên giữa J. Cairncross với Arnold Deutsch, cũng tại công viên Regent ở London...

Như vậy là chỉ trong một thời gian ngắn, với vai trò cá nhân nổi bật của Arnold Deutsch, tình báo Liên Xô đã móc nối và tuyển mộ thành công một mạng lưới điệp viên gồm năm thanh niên trí thức đầy nhiệt huyết ở Đại học Cambridge. Tất nhiên là không chỉ có năm người này ở Cambridge là điệp viên của Liên Xô. Ngoài họ ra, còn một số sinh viên khác của Đại học Cambridge cũng nằm trong mạng lưới hoạt động tình báo cho phía Xô viết. Thế nhưng những tin tức tình báo do Bộ Ngũ cung cấp cho Moscow đã vượt lên tất cả những nguồn thông tin khác về tầm quan trọng mang tính sống còn đối với hoạt động tình báo Xô viết trong thời gian Đệ nhị thế chiến cũng như gần một thập niên sau chiến tranh, điều khiến cho Bộ Ngũ trở thành một trong những mạng lưới điệp viên thành công nhất trong lịch sử điệp báo thế giới.

Cả năm thành viên trong Bộ Ngũ đều sở hữu tài năng xuất chúng về tình báo, nhưng có đời sống tình dục khá đa dạng, phức tạp. G. Burgess, A. Blunt là người đồng tính, D. Maclean là người lưỡng tính trong khi Kim Philby dị tính, có sức quyến rũ kì lạ đối với người khác giới. Không thể phủ nhận một điều là chính những quan hệ phức tạp giữa năm thành viên trong Bộ Ngũ cũng là một phần quan trọng để tạo nên sự kết nối đầy hiệu quả trong hoạt động tình báo của họ.

Câu hỏi đặt ra là vì sao mạng lưới tình báo do Liên Xô tuyển mộ lại ở Đại học Cambridge chứ không phải ở những đại học danh tiếng khác ở nước Anh như Oxford, theo đề xuất ban đầu với Trung tâm tình báo Moscow của Arnold Deutsch? Câu trả lời khá đơn giản: Sự ngẫu nhiên, rồi sau đấy là phản ứng dây chuyền. Điệp viên đầu tiên mà Arnold Deutsch tuyển mộ được là Kim Philby, một sinh viên tốt nghiệp ở Cambridge. Từ Kim, đã dẫn tới những người khác, những điệp viên sẽ đi vào lịch sử với cái tên Bộ Ngũ Cambridge.

+++++

Image

Người đầu tiên trong Bộ Ngũ thực hiện thành công quá trình xâm nhập vào các cơ quan quyền lực của nước Anh là D. Maclean. Tháng 10-1935, D. Maclean vượt qua kì thi tuyển, trở thành nhân viên của Bộ Ngoại giao Anh. Một người khác trong Bộ Ngũ là J. Cairncross, trước khi được tuyển mộ, đã làm đơn xin vào làm việc cho Bộ Ngoại giao Anh và được nhận vào làm việc ở cơ quan này vào tháng 11-1936.

Với hai điệp viên nằm trong Bộ Ngoại giao Anh, gần như ngay lập tức, những thành quả nhanh chóng đến với cơ quan tình báo Liên Xô. Rất nhiều thông tin tình báo về diễn biến cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha đã qua tay hai người và được chuyển cho NKVD. Trong một vài trường hợp, thông tin do hai người thu thập có tầm quan trọng chiến lược và được chuyển thẳng lên J. Stalin.

Một trong số đó là biên bản ghi lại cuộc nói chuyện vào tháng 11-1937 giữa Huân tước Halifax, người ba tháng sau đó thay Eden trở thành Bộ trưởng Ngoại giao Anh, với Quốc trưởng Đức A. Hitler. Halifax tới hang ổ của Hitler mang mật danh Tổ Đại Bàng ở vùng núi Berchtesgaden, và buổi gặp mặt có khởi đầu khá ngộ nghĩnh. Khi từ xe của mình bước ra, trung thành với phong cách của một nhà quý tộc, Halifax đưa mũ và áo khoác cho Hitler, mà ông ta nhầm là một người hầu, trong khi một viên bộ trưởng của Đức rít lên vào tai ông ta: “Đấy là Quốc trưởng! Đấy là Quốc trưởng!”.

Nhưng J. Stalin quan tâm hơn đến nội dung của cuộc bàn thảo, trong đó Halifax tuyên bố rằng Anh coi nước Đức Quốc xã như “một thành trì của phương Tây chống lại chủ nghĩa Bolshevik” và thông cảm với tham vọng của nước Đức muốn mở rộng về phía đông. Những sự nghi ngờ từ lâu của J. Stalin về chính sách nham hiểm của nước Anh muốn bật đèn xanh để Hitler hướng các cuộc hành binh về phía đông, cụ thể là Liên bang Xô viết, đã được chứng thực qua các báo cáo tình báo của D. Maclean và J. Cairncross gửi về trung tâm.

Vào cuối năm 1935, G. Burgess, khi ấy đã làm việc cho NKVD, được nhận làm chân trợ lí cho nghị sĩ trẻ tuổi của Đảng Bảo thủ cánh hữu, John Macnamara, cũng là một người có khuynh hướng tình dục đồng giới. Hai người có những chuyến đi cùng nhau tới Đức, nơi John Macnamara có mối quan hệ tốt đẹp với các thành viên chủ chốt của tổ chức Đoàn Thanh niên Hitler. G. Burgess thiết lập được nhiều mối quan hệ với những nhân vật có máu mặt trong chính giới châu Âu. Một trong số đó là Édouard Pfeiffer, là người đồng tính, Chủ nhiệm Văn phòng Nội các của Édouard Daladier, Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Pháp từ 1936 đến tháng 5-1940 và là thủ tướng Pháp từ tháng 4-1938 đến tháng 3-1940.

Vào khoảng giữa năm 1936, G. Burgess có một thời gian ngắn làm cho tờ The Times nhưng đến tháng 10-1936 thì vào làm cho BBC với tư cách người sản xuất chương trình, thực hiện các cuộc phỏng vấn, đối thoại trên sóng phát thanh. G. Burgess làm việc ở BBC trong ba năm rồi chuyển sang làm ở Ban tin của Bộ Ngoại giao Anh. Quá trình xâm nhập của G. Burgess vào Bộ Ngoại giao diễn ra khá suôn sẻ.

Kim Philby, trái lại, khá lận đận trên con đường sự nghiệp cũng như thực hiện lộ trình xâm nhập vào các thiết chế quyền lực của nước Anh. Kim chỉ đạt một thành công nhỏ khi kiếm được chân phóng viên cho tờ nguyệt san Review of Reviews, đồng thời trở thành thành viên của Hội Hữu nghị Anh - Đức, tổ chức mà Thủ tướng Anh Churchill mô tả như là “Lữ đoàn xưng tụng Hitler”. Ở những vị trí đó, khả năng thu thập tin tức của Kim Philby hầu như không có gì đáng kể.

Cuộc nội chiến nổ ra ở Tây Ban Nha đã tạo nên bước ngoặt trong sự nghiệp tình báo của Kim Philby. Cầm một bức thư giới thiệu của tờ Review of Reviews, Philby tới Tây Ban Nha vào tháng 2-1937 với tư cách một phóng viên tự do. Ít tuần lễ sau khi Kim Philby rời London, Trung tâm tình báo Liên Xô tại Anh nhận được một mật lệnh mà không nghi ngờ gì nữa, do đích thân J. Stalin phê chuẩn. Bức mật lệnh này giao nhiệm vụ cho Kim Philby ám sát Tướng Franco, người đứng đầu các lực lượng theo chủ nghĩa dân tộc ở Tây Ban Nha.

Người phụ trách tình báo của Liên Xô ở Anh là T. Maly chuyển mật lệnh cho Kim Philby, nhưng đồng thời cũng báo cáo về Trung tâm Moscow rằng ông không tin Kim Philby có thể hoàn thành được sứ mệnh khó khăn đó. Quả nhiên, đến tháng 5-1937, Kim Philby quay về London trong tâm trạng thất vọng não nề vì không có cách nào để tiếp cận được Franco.

Tuy nhiên, Kim Philby lại gặp may. Tờ The Times nhận Kim là một trong số hai phóng viên của tờ báo này tham gia đưa tin về hoạt động của các lực lượng quốc gia cực hữu trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Đến cuối năm 1937, một tai nạn tình cờ biến Kim Philby thành anh hùng. Chiếc xe chở ba phóng viên, trong đó có Kim Philby, khi di chuyển bị trúng một quả đạn pháo. Kim Philby bị thương nhẹ ở đầu và được đưa tới bệnh viện để cấp cứu. Vết thương đã giúp cho Kim Philby cả về tư cách phóng viên lẫn sự nghiệp tình báo. Lần đầu tiên, Kim Philby được gặp mặt Franco. Ngày 2-3-1938, đích thân nhà độc tài tương lai Franco đã gắn lên ngực Kim Philby Huân chương Chữ thập của quân đội.

Nhưng khi ấy, kế hoạch ám sát Franco của NKVD đã bị bãi bỏ. Kể từ mùa xuân năm 1937, cơ quan tình báo này của Liên Xô còn phải lo chú tâm vào một cuộc chiến khác, quan trọng hơn nhiều. Đấy là cuộc đấu trên chính trường Xô viết do J. Stalin tiến hành chống những người theo chủ nghĩa Trotsky, những “kẻ thù của nhân dân”, được ưu tiên hơn nhiều so với cuộc chiến ủng hộ những người chống Franco.

Liên quan đến kế hoạch ám sát Tướng Franco, đã có một sự cố xảy ra khiến sự nghiệp tình báo của Kim Philby suýt chút nữa kết thúc ngay từ khi nó còn chưa bắt đầu. Ngày 6-10-1937, Walter Krivitsky, tên thật là Samuel Ginsberg, một điệp viên người gốc Do Thái của tình báo Liên Xô hoạt động bất hợp pháp ở địa bàn Hà Lan, đào thoát sang phương Tây từ Paris, W. Krivitsky từng hoạt động cho Tổng cục Tình báo quân đội Liên Xô GRU trước khi chuyển sang làm cho NKVD. Bị gọi về Moscow trong thời gian diễn ra các cuộc thanh trừng khốc liệt trong nội bộ NKVD, W. Krivitsky biết điều gì sẽ chờ đợi mình nên quyết định đào thoát.

Trong suốt một năm trời, cho đến tháng 11-1938, W. Krivitsky sống cuộc sống chui lủi ở nước Pháp, luôn chỉ đi trước một bước các đội hành quyết do NKVD cử sang Pháp để ám sát anh ta. Ngày 10-11-1938, W. Krivitsky tới New York trên chiếc tàu Normandie. Người Anh đánh giá những thông tin của W. Krivitsky có tầm quan trọng đặc biệt nên đã đề xuất cử hẳn một chiếc tàu chiến sang Mỹ đưa anh ta về Anh để các nhân viên phản gián của MI5 có thể hỏi cung một cách đầy đủ. Giữa tháng 12-1939, W. Krivitsky đồng ý và ngày 19-1-1940, W. Krivitsky tới London.

Tại khách sạn St. Ermin ở London, chính là khách sạn mà sau này Kim Philby sẽ được MI6 tuyển mộ, điệp viên Jane Archer chịu trách nhiệm thẩm vấn W. Krivitsky. Các cuộc thẩm vấn kéo dài trong ba tuần lễ. W. Krivitsky đã tiết lộ cho MI5 các chi tiết về 61 điệp viên đang hoạt động tại Anh. Trong số những lời khai của W. Krivitsky có một chi tiết quan trọng là thời kì nội chiến Tây Ban Nha, tình báo Xô viết đã cử một điệp viên thực hiện sứ mệnh ám sát Tướng Franco, W. Krivitsky không nêu được họ tên hay đặc điểm của điệp viên này, chỉ mô tả rằng đó là “một người Anh trẻ tuổi, phóng viên, xuất thân từ một gia đình danh giá và là một người có lí tưởng chống phát xít”.

W. Krivitsky còn khai với MI5 về “một người Scotland sinh trong gia đình khá giả, tốt nghiệp các trường học danh giá như Eton và Oxford, làm việc cho Liên Xô vì lí tưởng chứ không phải vì tiền”.

Hai mô tả nhân dạng này của W. Krivitsky hoàn toàn phù hợp với Kim Philby và Donald Maclean. MI5 điều tra theo những lời khai này nhưng đi vào ngõ cụt vì trong thập niên 30 ấy, có khá nhiều phóng viên xuất thân con nhà danh giá hoạt động ở Tây Ban Nha. Còn những con nhà khá giả theo học hai trường danh tiếng của nước Anh thời gian đó cũng có quá nhiều nên MI5 không lọc ra được đối tượng nào đặc biệt đáng chú ý.

Sau khi bị MI5 thẩm vấn, W. Krivitsky quay về Canada rồi tới New York cùng gia đình. Lúc 5 giờ 49 phút chiều ngày chủ nhật 9-2-1941, W. Krivitsky tới ở tại Bellevue, một khách sạn tồi tàn ở Washington, W. Krivitsky trả trước 2,5 USD và đăng kí dưới cái tên giả là Walter Poref.

9 giờ rưỡi sáng hôm sau, 10-2-1941, một ngày trước khi W. Krivitsky phải ra điều trần trước Quốc hội Mỹ về các hoạt động tình báo của Liên Xô, cô phục vụ phòng tên là Thelma Jackson gõ cửa phòng W. Krivitsky để vào dọn phòng. Không thấy ai trả lời, cô phục vụ phòng mở cửa và phát hiện thấy W. Krivitsky nằm chết trên giường với một viên đạn bắn vào đầu. Trên chiếc bàn bên cạnh giường ngủ có một bản viết tay giống như thư tuyệt mệnh. Không tìm thấy bất cứ một dấu vết hay đối tượng nghi ngờ nào nên cảnh sát Washington, D.C. kết luận đây là một vụ tự sát!

Nhưng đấy là chuyện của mấy năm sau, còn đến cuối năm 1937, những cuộc săn lùng “kẻ thù của nhân dân” trong NKVD đã được đẩy mạnh, lấn át việc thu thập thông tin tình báo. Một thời kì khủng bố trắng, sau này mang tên Đại Thanh Trừng, nhằm vào các điệp viên Liên Xô ở nước ngoài bị nghi là có liên hệ với “kẻ thù của nhân dân” diễn ra trên quy mô rộng lớn. Rất nhiều điệp viên kì tài của tình báo Liên Xô, trong đó có cả T. Maly, bị gọi về Liên Xô và xử bắn. Cả A. Deutsch, người tuyển mộ những điệp viên chính của mạng lưới Cambridge, cũng bị gọi về Moscow vào tháng 11-1937 nhưng may mắn thoát chết bởi Trung tâm tình báo Liên Xô xác định ông là nạn nhân của những người theo chủ nghĩa Trotsky và các cơ quan đặc vụ phương Tây.

Cả năm điệp viên trong mạng lưới Cambridge, vì không thuộc biên chế chính thức trong hệ thống tình báo ở Moscow, đã thoát khỏi những đợt thanh trừng khốc liệt này.

Với cá nhân Kim Philby, việc được Tướng Franco đích thân gắn huân chương đã giúp mở ra những cánh cửa mới trên lộ trình xâm nhập vào các cơ quan tình báo Anh.

+++++

Việc Trung tâm tình báo triệu hồi cả T. Maly và A. Deutsch quay về Moscow trong thời kì Đại Thanh Trừng đã khiến cho Trung tâm Moscow mất liên lạc với Bộ Ngũ một thời gian. Đến tháng 4-1938, Trung tâm Moscow bổ nhiệm một người mới đảm nhiệm việc liên lạc và điều khiển các hoạt động của Bộ Ngũ là Grigori Grafpen, biệt danh Sam, vốn là một điệp viên thiếu kinh nghiệm trong các hoạt động mật.

Trong những ngày phấp phỏng trước khi nổ ra Đệ nhị thế chiến, các thanh viên Bộ Ngũ tiếp tục leo cao chui sâu vào các thiết chế quyền lực của nước Anh, đồng thời tiến hành các hoạt động bí mật, cung cấp những tin tức nhiều khi mang tính chiến lược cho tình báo Liên Xô.

Tháng 9-1938, D. Maclean được cử tới Paris với chân bí thư thứ ba sứ quán Anh tại đây. Đại sứ quán Anh tại Pháp được xếp hạng quan trọng vào loại A và nguồn tin từ một sứ quán như vậy rõ ràng có nhiều giá trị. Mặc dù chỉ giữ chân bí thư thứ ba, một cương vị khá khiêm tốn về mặt ngoại giao, thế nhưng với vẻ ngoài điển trai, điếu thuốc lá Thổ Nhĩ Kỳ luôn thường trực trên môi và phong cách lịch thiệp, trang nhã, D. Maclean đã tạo nên ấn tượng tốt đẹp về một nhà ngoại giao trẻ tuổi nhiều triển vọng trong Bộ Ngoại giao Anh.

Đại sứ Anh tại Pháp khi ấy, Sir Eric Phipps, vốn từng làm Đại sứ Anh ở Berlin, là người có quan điểm chống Quốc xã. Việc nắm được những động thái trong liên minh Anh - Pháp nhằm chống lại nước Đức phát xít chắc chắn rất hữu ích cho tình báo Xô viết. D. Maclean cũng có điều kiện tiếp cận được các kế hoạch quân sự của Anh - Pháp nhằm ủng hộ Phần Lan trong cuộc chiến tranh giữa Liên Xô với Phần Lan, diễn ra từ tháng 11-1939 đến tháng 3-1940, vào mùa đông lạnh nhất trong thế kỉ 20. Những kế hoạch này còn bao gồm cả việc tấn công các giếng dầu của Liên Xô ở Baku nhằm cắt đứt đường tiếp liệu của quân Đức Quốc xã nếu chiến tranh nổ ra.

Những tài liệu mật của sứ quán được D. Maclean chụp lại rồi đưa cho một nữ điệp viên của Liên Xô có mật danh Norma (sau đổi thành Ada), người mà D. Maclean có quan hệ tình ái vài lần, để chuyển về Trung tâm Moscow.

Cũng trong thời gian ở Paris, D. Maclean làm quen với Melinda, cô con gái riêng của bà Melinda Goodlett, người sau khi li dị ông chồng Francis Marling đã kết hôn với một doanh nhân giàu có người Mỹ là Hal Dunbar. Khỉ quân Đức Quốc xã tấn công nước Pháp, sứ quán Anh buộc phải rời khỏi Paris, D. Maclean đề nghị Melinda kết hôn, nói rằng nếu Melinda quay lại Mỹ thì chắc chắn họ sẽ không bao giờ còn gặp lại nhau nữa. Melinda vẫn lưỡng lự nhưng đến ngày 10-6-1940, khi tiếng súng đã vọng đến từ ngoại ô Paris, Melinda đồng ý. Đám cưới diễn ra tại Paris nhưng đêm tân hôn, hai người phải lái xe đi về miền Nam nước Pháp, tới Bordeaux, nơi họ hi vọng tìm được một chiếc tàu thủy để Melinda quay về Mỹ. Đường sá khi ấy tắc nghẽn bởi dân chạy nạn và hai người buộc phải trải qua đêm tân hôn trên xe, giữa cánh đồng. Khi tới được Bordeaux, hai người cũng không tìm được một chiếc tàu thủy nào để đi Mỹ. Cuối cùng thì cương vị nhà ngoại giao Anh của D. Maclean đã giúp cả hai lên được một chiếc tàu khu trục của Anh và chiều ngày 23-6-1940, một ngày sau khi nước Pháp đầu hàng Đức Quốc xã, chiếc tàu chiến khởi hành đi Anh.

Sau khi D. Maclean tới sứ quán Anh tại Paris, J. Cairncross được coi như nguồn tin kế nhiệm cho tình báo Liên Xô trong Bộ Ngoại giao Anh. Đúng vào thời gian này đã diễn ra cuộc khủng hoảng Munich, khi cả Anh và Pháp kí thỏa hiệp nhường phần lãnh thổ Sudeten ở Tiệp Khắc cho nước Đức Quốc xã.

Trong thời gian diễn ra khủng hoảng Munich từ tháng 5 đến tháng 9-1938, J. Cairncross đã tiếp xúc với những tài liệu mật của Bộ Ngoại giao Anh, được G. Burgess mô tả là “những thông tin giá trị nhất” về chính sách của Anh trong thời gian đó về đòi hỏi của Hitler đối với Tiệp Khắc. Những tài liệu này phối kiểm với thông tin mà D. Maclean có từ sứ quan Anh tại Paris và khi được chuyển về Trung tâm ở Moscow, đã giúp cho giới lãnh đạo Liên Xô nắm chắc được ý đồ cũng như đường hướng thỏa hiệp của hai nước Anh - Pháp đối với chính sách của nước Đức Quốc xã ở châu Âu.

Tuy nhiên, đến tháng 12-1938, J. Cairncross bị điều chuyển sang Bộ Tài chính Anh.

G. Burgess, sau một thời gian làm việc ở BBC rồi sau đấy ở Bộ Ngoại giao Anh, đã thiết lập được một mạng lưới quan hệ bạn bè rộng rãi, trong đó đặc biệt có những nhân vật trong các cơ quan điệp báo Anh. Cuối cùng thì G. Burgess cũng đạt được mục đích: Thoạt đầu được tuyển mộ như một điệp viên thử nghề, rồi đến tháng 1-1939, chính thức kí hợp đồng ngắn hạn, làm việc tại Phòng D - bộ phận tuyên truyền và lật đổ của Cục Tình báo mật MI6. G. Burgess là điệp viên đầu tiên trong Bộ Ngũ xâm nhập được vào bộ máy tình báo Anh.

Về phần A. Blunt, sau thời gian học ở Cambridge và trở thành một giảng viên nghệ thuật, ngay thời gian trước khi chiến tranh nổ ra, A. Blunt đã tình nguyện nhập ngũ và được phân về bộ phận quân cảnh của quân đội Anh. Sau một thời gian huấn luyện, A. Blunt được điều sang Pháp. Trong thời gian ở đây, A. Blunt dành nhiều thì giờ viết thư cho những bạn bè mình ở London, đề nghị họ giúp đỡ để kiếm một công việc tại cơ quan phản gián MI5 hoặc tình báo MI6. G. Burgess nhanh chóng nhập cuộc, giới thiệu A. Blunt với những mối quan hệ quen biết của mình trong giới tình báo, đồng thời khuyến khích A. Blunt hãy kiên nhẫn chờ cơ hội. Cuối cùng thì cơ hội cũng tới. Vào tuần thứ ba trong tháng 5-1940, A. Blunt rời khỏi Boulogne ngay trước khi cảng này rơi vào tay phát xít Đức. Trở về Anh, đến tháng 8 năm đó, Blunt được nhận vào làm việc trong cơ quan phản gián MI5.

Như vậy là trong số năm thành viên của Bộ Ngũ đã có hai điệp viên là G. Burgess và A. Blunt xâm nhập thành công vào các cơ quan tình báo và phản gián Anh. Đến lượt mình, các điệp viên này tiếp tục giúp đỡ những người khác thực hiện yêu cầu của Moscow. Lần này, người được giúp đỡ là Kim Philby.

Trong vai trò một phóng viên chiến trường của tờ The Times, rõ ràng Kim Philby không giúp được gì nhiều cho tình báo Xô viết. Yêu cầu của Trung tâm Moscow là Kim phải tìm cách lọt được vào trường mật mã của chính phủ Anh tại Bletchley Park, nơi tập trung các chuyên viên hàng đầu của Anh chuyên bẻ khóa mật mã của Đức Quốc xã. Tuy nhiên, đơn xin vào làm việc ở đây của Kim Philby bị từ chối, chủ yếu vì người đỡ đầu cho Kim ở trường này cảm thấy lương trả cho Kim quá thấp! Tháng 7-1940, Kim Philby nhận được giấy đi khám sức khỏe, chờ lệnh gọi nhập ngũ có thể đến bất cứ lúc nào. Đến lúc này, G. Burgess bắt đầu ra tay.

Một hôm, Kim Philby nhận được cú điện thoại của Đại úy Leslie Sheridan từ Bộ Chiến tranh hỏi liệu có quan tâm tới một “công việc liên quan đến chiến tranh” hay không? Cuộc hẹn được tổ chức và Kim Philby thấy mình ở trong một căn phòng của khách sạn St. Ermin, gần nhà ga St. James’s Park, ngay sát tổng hành dinh của Cục Tình báo mật MI6. Tiếp Kim là một phụ nữ đứng tuổi tự giới thiệu tên là Marjorie Maxse. Kim Philby không hề biết rằng đó là trưởng phòng nhân sự của MI6. Người phụ nữ hỏi Kim liệu có quan tâm đến khả năng có một “công việc thú vị” liên quan đến việc chống lại nước Đức Quốc xã ở châu Âu hay không?

Những năm tháng làm việc với tư cách phóng viên chiến trường, quan tâm đến các vấn đề chính trị quốc tế đã trang bị kiến thức đủ giúp Kim Philby dễ dàng nói chuyện với người phụ nữ và nhanh chóng vượt qua được kì sát hạch đầu tiên đó. Vài ngày sau, vẫn trong căn phòng ấy, Kim gặp lại người phụ nữ, lần này có G. Burgess đi cùng. Cuộc trò chuyện kiêm sát hạch lần thứ hai cũng trôi qua thuận lợi, và trước khi chia tay, người phụ nữ nói nếu Kim đồng ý làm việc thì hãy cắt đứt quan hệ công việc với tờ The Times và thông báo lại cho... G. Burgess. Kim làm theo và chính thức gia nhập Cục Tình báo mật MI6, làm giảng viên chính trị trong trường đào tạo điệp viên Anh trước khi những người này được tung đi hoạt động ở châu Âu.

Vậy là, điệp viên thứ ba trong Bộ Ngũ đã lọt được vào đế chế bí mật của nước Anh.

+++++

Đệ nhị thế chiến bùng nổ đã khiến số phận các điệp viên Liên Xô tại Anh trong Bộ Ngũ có những thay đổi đột biến, đồng thời các hoạt động thu thập tin tình báo được đẩy mạnh với công suất tối đa.

Trước đó, vào cuối năm 1938, điệp viên hợp pháp Grigori Grafpen, bí danh Sam, người được giao nhiệm vụ điều khiển các hoạt động của Bộ Ngũ tại London, cũng đã bị gọi về Moscow trong làn sóng thanh trừng nội bộ vẫn đang diễn ra trong các cơ quan tình báo Liên Xô. Nhưng khác với nhiều đồng nghiệp xấu số khác, Grigori Grafpen không bị xử bắn như những “kẻ thù của nhân dân” mà chỉ bị kết án năm năm lao động ở trại cải tạo.

Người được cử thay Sam phụ trách Bộ Ngũ là Anatoly Veniaminovich Gorsky (bí danh HenryVadim), sĩ quan tình báo cuối cùng của NKVD bị rút về Moscow trước khi chi nhánh tình báo của Liên Xô ở London đóng cửa vào tháng 2-1940.

Tháng 8-1940, J. Stalin cử các đội ám sát sang tận Mexico giết chết Trotsky, kẻ thù chính trị không đội trời chung của mình. Thành công của vụ ám sát khiến cho các hoạt động thanh trừng chống “kẻ thù của nhân dân” trong nội bộ cơ quan tình báo Liên Xô dịu đi. Trong những tháng cuối cùng của năm 1940, Trung tâm tình báo Moscow bắt đầu tính đến chuyện khôi phục lại các mạng lưới tình báo ở nước ngoài.

Khi quay trở lại Anh, A. Gorsky tìm cách bắt liên lạc lại với các thành viên của Bộ Ngũ. Đến dịp Giáng sinh năm 1940, A. Gorsky thông báo cho trung tâm biết đã nối liên lạc được với điệp viên Sohnchen, tức Kim Philby. Khi ấy, Kim Philby đang làm việc tại Ban D trong Cục Tình báo mật MI6.

Đến đầu năm 1941 chi nhánh tình báo của Liên Xô ở London đã bắt liên lạc lại được với tất cả các điệp viên trong Bộ Ngũ. D. Maclean tiếp tục cung cấp một lượng tài liệu mật khổng lồ thu thập được từ Bộ Ngoại giao Anh. G. Burgess, trái lại, đã không thành công trong việc tiếp tục làm việc ở MI6, phải quay về làm việc ở BBC.

Trong khi ấy, A. Blunt, sau khi thực hiện thành công việc xâm nhập vào cơ quan phản gián Anh MI5 vào mùa hè năm 1940, tiếp tục cung cấp hàng loạt tài liệu mật của MI5 cho Trung tâm Moscow. Trong số đó, đặc biệt quan trọng là các phương pháp theo dõi của phản gián Anh đối với các điệp viên nước ngoài cũng như danh sách các điệp viên Anh ở hải ngoại. Đồng thời, A. Blunt còn tham gia điều khiển rất thành công một điệp viên vốn là bạn học cũ ở Cambridge, Leo Long - mật danh Elli - người mà A. Blunt đã tuyển mộ nhiều năm trước đó. Leo Long hoạt động trong lĩnh vực tình báo quân sự của Anh, có thể tiếp cận những tài liệu mật vô cùng quan trọng.

J. Cairncross, sau một thời gian bị điều chuyển sang Bộ Tài chính, cuối cùng đã chiếm được vị trí cực kì quan trọng trong giới chính trị tinh hoa của nước Anh khi vào tháng 9-1940 trở thành thư kí riêng của Huân tước Hankey, một bộ trưởng trong chính quyền của Thủ tướng W. Churchill. Mặc dù không phải là thành viên trong nội các chiến tranh của Thủ tướng W. Churchill vốn chỉ gồm có năm bộ trưởng quan trọng, thế nhưng vị trí của Huân tước Hankey đủ cao để nhận được hầu như tất cả các tài liệu mật của nội các chiến tranh, các cơ quan bí mật, Bộ Ngoại giao, báo cáo của MI6, những đánh giá tình hình của Bộ Tổng tham mưu quân đội Anh... Tất cả các tài liệu này đều qua tay J. Cairncross rồi đến tay A. Gorsky, người có lần than phiền rằng lượng tài liệu mật do J. Cairncross chuyển cho quá nhiều, rất khó khăn để mã hóa và gửi chúng về trung tâm.

Chỉ riêng trong năm 1941, trạm London đã gửi về Trung tâm Moscow tất cả 7.867 tài liệu chính trị và ngoại giao mật, 715 tài liệu liên quan đến các vấn đề quân sự, 127 tài liệu về kinh tế và 51 tài liệu về các cơ quan tình báo Anh quốc. Phần lớn trong số đó là do các thành viên trong Bộ Ngũ thu thập được và có tầm quan trọng mang tính sống còn đối với Liên Xô.

Sự nghiệp của Kim Philby trong cơ quan tình báo Anh tiếp tục thăng tiến một cách thuận lợi. Sau khi Kim vào làm việc ở Ban D (bộ phận tuyên truyền và lật đổ của MI6) một thời gian thì Ban D được cải tổ thành Ban các chiến dịch đặc biệt (SOE). Theo lệnh của Thủ tướng Anh W. Churchill, SOE có nhiệm vụ “làm cho châu Âu bốc cháy”, tức là điều hành các chiến dịch phá hoại trong hậu phương của kẻ thù, lúc này chủ yếu là ở nước Đức phát xít cùng với những vùng lãnh thổ mà các lực lượng Quốc xã đang chiếm đóng hoặc có ảnh hưởng. Đây chính là hình mẫu cơ cấu các “lực lượng đặc biệt” của hầu hết các cường quốc sau này.

Bộ phận nhân sự của MI6 bối rối không biết nên xếp Philby vào phòng nào của SOE. Kim Philby có tật nói lắp, một yếu tố khiến ngay lập tức loại bỏ khả năng điều chuyển Kim thành một sĩ quan tình báo tác chiến trên thực địa.

Khi ấy, người đứng đầu Phòng 5 của SOE (bộ phận chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động phản gián) là Valentine Vivian, một sĩ quan tình báo thông minh, giàu kinh nghiệm. V. Vivian từng có thời gian hoạt động ở Ấn Độ nên khi nghe phong thanh về một anh chàng Kim Philby nào đó có xuất xứ từ Ấn Độ đang bơ vơ chưa biết về đâu, liền gọi Kim Philby đến gặp mặt. Hóa ra V. Vivian biết khá rõ Harry Philby, ông bố của Philby, người từng nhiều năm hoạt động ở Ấn Độ. Mối quen biết thân tình đó, cộng với trí tuệ sắc sảo của Kim Philby trong buổi gặp mặt đã nhanh chóng thuyết phục được V. Vivian.

Tháng 9-1941, Kim Philby được nhận vào làm việc ở Phòng 5 của SOE, chuyên về công tác phản gián.

Ở vị trí làm việc mới tại Phòng 5, Kim Philby thường xuyên có mặt ở trụ sở của phòng này trên phố St. Albans thay vì Tổng hành dinh MI6 trong tòa nhà Broadway và có điều kiện thường xuyên tiếp xúc với kho tài liệu mật của MI6. Những báo cáo đầu tiên của Kim Philby sau khi nối lại liên lạc, gửi qua A. Gorsky, đã gây nên sự ngạc nhiên lớn cho Trung tâm Moscow. Theo những báo cáo này, SOE không những không gửi các điệp viên của mình sang Liên Xô mà thậm chí còn không đào tạo những điệp viên như vậy. Theo tài liệu mà Kim Philby nắm được, Liên Xô chỉ nằm ở vị trí thứ mười trong số những nước mà SOE dự định tung điệp viên sang hoạt động.

Báo cáo này của Kim Philby đã gây nên sự nghi ngờ lớn về tính xác thực ở Trung tâm Moscow. Tình báo Liên Xô không bao giờ tin rằng việc tiến hành các hoạt động chống Liên Xô không nằm trong số các ưu tiên của tình báo Anh. Quan điểm này thật ra chỉ phản ánh lại ý nghĩ thường trực của J. Stalin, luôn nghi ngờ đồng minh Anh quốc có ý định chơi xấu Liên Xô.

Trong năm đầu tiên phát xít Đức tiến công Liên Xô, những thông tin tình báo quan trọng bậc nhất mà thành viên Bộ Ngũ gửi về Moscow thuộc về J. Cairncross, với tư cách là thư kí của Huân tước Hankey, thành viên Nội các của Thủ tướng W. Churchill, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban cố vấn khoa học của chính phủ Anh. Đặc biệt, đã xuất hiện các tài liệu tối mật đánh cắp được, lần đầu tiên báo động cho Moscow về tham vọng chế tạo bom nguyên tử của Anh. Ngày 25-9-1941, A. Gorsky đã gửi một bức điện về Moscow, trong đó chỉ rõ quyết định tuyệt mật do Ủy ban cố vấn khoa học gửi lên Nội các chiến tranh Anh thông qua tại phiên họp diễn ra ngày hôm trước, 24-9-1941, trong đó đề xuất việc sử dụng năng lượng của nguyên tử uranium để chế tạo ra một loại vũ khí hủy diệt.

Mặc dù những tài liệu tuyệt mật về chương trình vũ khí nguyên tử của Anh do J. Cairncross thu thập được và gửi về có tầm quan trọng mang tính sống còn, nhưng ở vào thời điểm cuối năm 1941, đầu 1942, rõ ràng chúng không được J. Stalin để ý tới do khi ấy Liên Xô đang phải gồng mình chống đỡ những đợt tiến công dữ dội của quân đội Đức Quốc xã. Yêu cầu thiết yếu lúc đó phải là sống sót và trước hết đẩy lùi quân Đức ra xa khỏi thủ đô Moscow.

Mãi đến tháng 3-1942, khi L. Beria, người lãnh đạo của NKVD gửi lên J. Stalin một bản báo cáo, đánh giá đầy đủ về chương trình chế tạo bom nguyên tử của Anh thì tình hình mới thay đổi một cách chóng mặt. Theo báo cáo này, các nhà lãnh đạo cấp cao Anh bày tỏ sự hài lòng rằng những vấn đề lí thuyết để chế tạo một quả bom nguyên tử đã được “giải quyết một cách cơ bản” và các nhà khoa học xuất sắc nhất cùng các công ty hàng đầu của Anh đang phối hợp với nhau để thực hiện đề án này.

Theo đề nghị của L. Beria, việc tập hợp các nhà khoa học xuất chúng nhất của Liên Xô với chức năng tương tự như của Anh cũng đã được thực hiện sau đó vài tháng.

Tháng 6-1942, Tổng thống Mỹ F. Roosevelt đã ra lệnh chính thức dốc toàn lực để thực hiện đề án mang mật danh Manhattan, chế tạo bom nguyên tử cho nước Mỹ. Mặc dù mãi sau này phía Anh mới được chính thức đồng ý tham gia vào đề án này nhưng tình báo Liên Xô nắm được thông tin là Tổng thống Mỹ F. Roosevelt và Thủ tướng Anh W. Churchill, trong cuộc thảo luận ở Washington ngày 20-6-1942, đã nhất trí về việc hợp tác chế tạo bom nguyên tử.

Đến ngày 6-10-1942, Trung tâm tình báo Liên Xô gửi một báo cáo lên Ủy ban Trung ương Đảng và Ủy ban Quốc phòng, cả hai đều do J. Stalin làm Chủ tịch, về kế hoạch hỗn hợp Anh - Mỹ có tham vọng chế tạo bom nguyên tử. Đến cuối năm 1942, J. Stalin đi đến quyết định phải xây dựng kế hoạch chế tạo bom nguyên tử của Liên Xô. Như vậy là ngay ở thời điểm đang diễn ra chiến dịch Stalingrad, bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh Vệ quốc ở Liên Xô, J. Stalin đã nghĩ đến một tương lai sau chiến tranh, khi mà Mỹ và Anh có bom nguyên tử thì Liên Xô cũng phải có!

Chính quyết định của J. Stalin đã dẫn tới việc tình báo Liên Xô tổ chức chiến dịch đánh cắp nguyên tử thành công mĩ mãn ở cả Anh và Mỹ, tìm kiếm thông tin mật về đề án vũ khí nguyên tử của Anh - Mỹ để hỗ trợ cho các nhà khoa học Liên Xô rút ngắn thời gian chế tạo bom. Khởi đầu của chiến dịch này chính là nhờ những thông tin tình báo do Bộ Ngũ gửi về từ London.

+++++

Trong suốt thời gian diễn ra Đệ nhị thế chiến, các thành viên của Bộ Ngũ tiếp tục hoạt động với một hiệu suất đáng kinh ngạc. Là nhân viên của Cục An ninh MI5, A. Blunt chuyển về Moscow các thông tin thu thập được khi hoạt động tại cơ quan này. Các tài liệu mật của Bộ Ngoại giao Anh được thu thập thông qua kênh của D. Maclean. Trong năm 1942, chỉ riêng số tài liệu của một mình D. Maclean gửi về đã đủ đóng thành 45 tập dày ở tủ lưu trữ tuyệt mật tại Trung tâm tình báo Moscow.

Quan trọng bậc nhất vẫn là những thông tin do J. Cairncross thu thập được. Cuối năm 1942, từ vai trò thư kí của Huân tước Hankey, J. Cairncross chuyển sang Trung tâm mã thám của Anh tại Bletchley Park với tư cách chuyên gia phân tích mật mã. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Trung tâm Bletchley Park là phân tích các bức điện mật mà tình báo Anh chặn bắt được của Đức Quốc xã thông qua chương trình Enigma, tên loại máy phát mã của Đức mà tình báo Anh - Mỹ thu được và phá khóa thành công. Trung tâm Bletchley Park là vị trí mà tình báo Liên Xô bấy lâu mơ ước xâm nhập vào bởi nó cho phép thu thập được những thông tin tối mật liên quan tới các trận đánh trên chiến trường.

Ở vị trí này, J. Cairncross đã thu thập được những thông tin tối quan trọng liên quan tới độ dày vỏ thép của xe tăng Con Cọp, niềm tự hào của Đức Quốc xã. Việc nắm bắt được số liệu về độ dày của vỏ thép xe tăng đã giúp các nhà sản xuất vũ khí của Liên Xô nhanh chóng nghiên cứu chế tạo ra loại đạn có đủ khả năng xuyên thủng vỏ thép của những chiếc xe tăng lợi hại này.

Rồi đến mùa hè năm 1943, J. Cairncross đóng vai trò mang tính then chốt trong trận chiến Kursk khi kịp thông báo về việc di chuyển hàng trăm máy bay của không quân Đức Quốc xã trước khi diễn ra trận đấu tăng vĩ đại ở Vòng cung Kursk. Chính những thông tin này đã giúp cho các lực lượng không quân và pháo binh của Liên Xô mở đòn tiến công phủ đầu vào hàng loạt sân bay của Đức Quốc xã chỉ ít ngày trước khi diễn ra cuộc đấu tăng ở Kursk, tiêu diệt tới khoảng 500 máy bay của không quân Đức Quốc xã. Việc đánh quỵ xương sống của không quân Đức Quốc xã ngay trước khi trận đánh bắt đầu đã đóng vai trò sinh tử trong chiến thắng của Hồng quân ở Kursk và có thể nói không ngoa rằng một mình J. Cairncross đã đóng góp phần lớn vào chiến thắng đó, mở ra bước ngoặt then chốt trong tiến trình cuộc chiến tranh Vệ quốc của Hồng quân Liên Xô.

Trong trường hợp này, thông tin mật do một thành viên của Bộ Ngũ gửi về đã không chỉ cứu được sinh mạng hàng ngàn binh sĩ Hồng quân mà còn góp phần làm thay đổi cục diện của một trận đánh và có thể, về mặt nào đó, cả một cuộc chiến tranh. Những cá nhân điệp viên, đôi khi, có thể tác động làm thay đổi tiến trình lịch sử là thế!

Do thành tích nổi bật trong việc góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Vòng cung Kursk mà J. Cairncross đã được tặng thưởng huân chương cao quý nhất của Nhà nước Liên Xô là Huân chương Cờ đỏ. Người phụ trách trạm tình báo London là Boris Krotenschield (bí danh Krotov, mật danh Krechin), mang huân chương tới cho J. Cairncross trong một chiếc hộp nhung. Boris Krotenschield mở hộp ra, đưa huân chương cho J. Cairncross cầm một lúc rồi bỏ lại vào hộp, sau đó gửi về Moscow!

Các tài liệu mật do Bộ Ngũ gửi về nhiều, chính xác và quan trọng đến nỗi ở Trung tâm tình báo Moscow đã nảy sinh những nghi ngờ về việc phải chăng Bộ Ngũ là nhóm điệp viên nhị trùng, hoạt động dưới sự giật dây của tình báo Anh(!) Phải như thế nào thì mới có thể đánh cắp được những thông tin tối quan trọng một cách dễ dàng đến thế chứ! Cộng với việc những báo cáo của Kim Philby gửi về trung tâm khẳng định rằng Liên Xô không phải là mục tiêu trọng điểm xâm nhập của tình báo Anh, lại càng khiến cho Trung tâm Moscow nghi ngờ các điệp viên trong Bộ Ngũ Cambridge.

Sự nghi ngờ này lớn đến nỗi thậm chí Trung tâm Moscow đã cử hẳn một biệt đội giám sát gồm tám thành viên bí mật sang Anh để tìm cách phát hiện xem các điệp viên trong Bộ Ngũ đã liên lạc như thế nào với tình báo Anh. Sứ mệnh đặc biệt này thất bại thảm hại. Không một thành viên nào trong đội giám sát này biết nói tiếng Anh. Tất cả bọn họ đều mặc những bộ quần áo được may đo ở Liên Xô khiến họ nổi bật lên như những anh chàng khổng lồ trong thế giới người lùn, thường xuyên làm cho những “đối tượng” mà họ theo dõi bối rối vì quá dễ để phát hiện ra họ đang đeo bám...

Tuy nhiên, cùng với thời gian, đến giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Vệ quốc, các mối nghi ngờ của Trung tâm tình báo Moscow đối với các thành viên Bộ Ngũ dần dần suy giảm đi do các thông tin của Bộ Ngũ, đặc biệt là của Kim Philby, gửi về, ngày càng chứng tỏ tính xác thực cũng như tầm quan trọng của chúng.

Ngày 29-6-1944, Trung tâm tình báo Moscow đã gửi một bức điện mật cho trạm tình báo London, khi ấy do Konstantin Mikhailovich Kukin (biệt danh Igor) chỉ huy. Trong bức điện mật này, Trung tâm Moscow khẳng định rằng những thông tin tình báo bí mật mà Kim Philby lấy được từ Cục Tình báo mật MI6, sau khi phối kiểm với “các nguồn tin khác”, đã chứng tỏ tính xác thực của nó.

Bức điện viết: “Phải nghiêm túc khẳng định rằng điệp viên Sohnchen hoàn toàn trung thực khi cộng tác với chúng ta và điều này buộc chúng ta phải xem xét lại thái độ đối với anh ấy cũng như toàn bộ nhóm điệp viên”.

Như vậy, Trung tâm tình báo Liên Xô đã phải thừa nhận rằng các thông tin tình báo mà Bộ Ngũ gửi về có một tầm quan trọng đặc biệt và phải duy trì các mối liên lạc với Bộ Ngũ bằng mọi giá.

Cũng vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, các thông tin mật mà J. Cairncross gửi về giảm dần tầm quan trọng, trong khi ngược lại, những thông tin của Kim Philby lại ngày càng có giá trị to lớn về mặt tình báo. Lí do là bởi vào mùa hè năm 1943, J. Cairncross, có lẽ không chịu nổi áp lực quá căng thẳng của việc hoạt động bí mật, đã quyết định rời Trung tâm mã thám Bletchley Park. Mặc dù vẫn giữ được một công việc trong MI6, thoạt đầu là ở Ban 5 (phản gián), sau đó chuyển sang Ban 1 (tình báo chính trị), nhưng giá trị tình báo trong những thông tin của Cairncross ngày càng bớt dần.

Trong khi ấy, vào đầu năm 1944, trong nội bộ Cục Tình báo mật MI6 đã tiến hành cải tổ, thành lập một bộ phận mới gọi là Ban 9, “chịu trách nhiệm nghiên cứu những tài liệu trong quá khứ liên quan đến các hoạt động của phía Xô viết và những người cộng sản”. Thực chất, nó chính là bộ phận phản gián chuyên trách chống cộng sản của MI6, chịu trách nhiệm thu thập và chặn bắt mọi thông tin liên quan đến các hoạt động gián điệp của phía Xô viết và những người cộng sản trên khắp thế giới, bên ngoài lãnh thổ nước Anh.

Kể từ khi gia nhập MI6 vào tháng 2-1941, Kim Philby đảm nhiệm công tác phản gián, thực hiện các chiến dịch chống lại hoạt động gián điệp của Đức Quốc xã ở địa bàn Tây Ban Nha và trên toàn bộ bán đảo Iberia. Lãnh đạo MI6 đặc biệt ấn tượng với những kết quả công tác của Kim Philby; Philby đã thu thập được những thông tin tình báo quý giá từ các nhà ngoại giao Đức Quốc xã ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, cũng như lật tẩy được các thủ đoạn và điệp viên nhị trùng của tình báo Đức Quốc xã. Thế nên khi MI6 thành lập ra Ban 9 thì với những thành tích phản gián của mình, đến cuối năm 1944, Kim Philby trở thành người đứng đầu Ban 9!

Như vậy là với vị trí công tác mới của mình, Kim Philby có khả năng cung cấp cho Moscow hầu như tất cả những thông tin mật liên quan đến hoạt động phản gián chống cộng sản của Anh thời kì sau chiến tranh. Trong lịch sử điệp báo thế giới, ít có trường hợp nào thành công một cách sửng sốt đến như vậy!

Các thành viên khác trong Bộ Ngũ, gồm D. Maclean, G. Burgess và A. Blunt, cũng hoạt động hết tốc lực, cung cấp một lượng thông tin khổng lồ cho Trung tâm tình báo Moscow.

Mùa xuân năm 1944, Bộ Ngoại giao Anh điều D. Maclean sang Đại sứ quán Anh tại Washington và ngay lập tức bổ nhiệm vào vị trí bí thư thứ nhất ở sứ quán. Ở vị trí này, D. Maclean nhanh chóng tiếp cận được các tài liệu mật và gửi chúng về trung tâm. Trong số các tài liệu này, đặc biệt quan trọng là những thông tin tuyệt mật liên quan đến quá trình hợp tác Anh - Mỹ để chế tạo bom nguyên tử, diễn ra vào đầu năm 1945.

Ngay sau khi D. Maclean được bổ nhiệm sang sứ quán Anh ở Washington, G. Burgess thay thế vị trí của D. Maclean cung cấp những thông tin mật của Bộ Ngoại giao Anh cho tình báo Liên Xô. Lấy lí do cần phải có các thông tin để chuẩn bị cho các buổi họp báo, G. Burgess thường xuyên mang hàng túi tài liệu, trong đó có nhiều loại được xếp vào diện tuyệt mật, đến cho nhân viên của tình báo Liên Xô ở London để sao chụp lại. Chỉ trong sáu tháng đầu năm 1945, trong số tài liệu của Bộ Ngoại giao Anh mà G. Burgess gửi về cho tình báo Liên Xô, có 389 tài liệu được xếp vào diện “Tuyệt mật”!

Công việc của A. Blunt cũng hiệu quả không kém. Ngoài việc tiếp tục đánh cắp các tài liệu mật của phản gián Anh MI5, A. Blunt tiếp tục chỉ huy thành công điệp viên Leo Long, người đang làm việc trong cơ quan tình báo quân sự Anh. Trong những tháng trước khi diễn ra cuộc đổ bộ của quân Đồng minh lên bờ biển nước Pháp để mở mặt trận thứ hai chống Đức Quốc xã, thông qua Leo Long, A. Blunt đã có thể tiếp cận được các tài liệu mật ở Bộ chỉ huy tối cao các lực lượng viễn chinh Đồng minh.

Ngoài ra, một nhiệm vụ tối quan trọng khác mà A. Blunt đã đảm nhiệm hết sức thành công là việc thông báo cho người phụ trách trạm London của tình báo Liên Xô biết về các hoạt động giám sát mở rộng của cơ quan phản gián Anh MI5 đối với các điệp viên Liên Xô. Trong năm 1945, chính A. Blunt đã báo cho người phụ trách mới ở trạm London, Boris Krotenschield (mật danh Krotov) biết rằng MI5 đã đặt máy nghe lén và lần ra một điệp viên của Liên Xô là James Klugmann (bạn thân của D. Maclean thuở thiếu thời và cũng từng học ở Cambridge rồi được tình báo Liên Xô tuyển mộ), khi ấy đang hoạt động ở phái bộ quân sự Anh trong lực lượng kháng chiến của nhà lãnh đạo cộng sản Nam Tư Tito.

Hội nghị Yalta bàn về cục diện sau chiến tranh diễn ra đầu tháng 2-1945 với sự tham gia của các nhà lãnh đạo ba cường quốc là J. Stalin, F. Roosevelt và W. Churchill, cũng đánh dấu một trong những thành công chói lọi của Bộ Ngũ trong việc cung cấp các tài liệu mật mang tầm chiến lược. Trong suốt quá trình trước và trong hội nghị, các thành viên của Bộ Ngũ đã gửi cả núi tài liệu về Trung tâm Moscow mà không ai trong số họ nghĩ rằng chúng sẽ được chuyển trực tiếp tới J. Stalin.

Nắm được các con bài tẩy trong tay, nhà lãnh đạo Liên Xô dường như luôn đi trước hai nhà lãnh đạo Đồng minh một nước đi và chính những ưu thế trên bàn Hội nghị Yalta đã được chuyển hóa thành ưu thế về địa chính trị của Liên Xô ở Đông Âu, đặc biệt là tại Ba Lan, sau chiến tranh.

+++++

Đệ nhị thế chiến vừa kết thúc, các điệp viên trong Bộ Ngũ còn chưa kịp vui mừng vì đã trải qua một giai đoạn cam go trong cuộc sống bí mật của họ thì gần như đồng thời, hai vụ đào thoát của các điệp viên Liên Xô đã tạo ra nguy cơ lớn khiến họ có thể bị phát giác bất cứ lúc nào.

Vụ thứ nhất liên quan đến Igor Gouzenko, nhân viên mật mã của Tổng cục Tình báo quân đội Liên Xô GRU. Trở thành nhân viên tình báo từ năm 1941, đến tháng 6-1943, I. Gouzenko được phân công đến trạm GRU ở Đại sứ quán Liên Xô tại Ottawa, Canada. Vào thời điểm đó, cuộc chiến tranh với nước Đức phát xít khiến GRU và NKGB (là NKVD đổi tên kể từ 1943) phải huy động toàn bộ lực lượng và tình báo Xô viết rất cần các chuyên gia giải mã. Vì vậy, tình báo Liên Xô tiến hành tuyển dụng trên quy mô lớn với hàng trăm điệp viên - gồm những đảng viên cộng sản và cả không phải cộng sản - những người mong muốn góp phần đánh bại Hitler. Các điện đài của GRU và NKGB kêu rì rầm suốt ngày đêm, chuyển các thông tin tình báo về Moscow. Trong bối cảnh ấy, những chuyên viên mật mã là tối cần thiết, bởi thông tin tình báo cần được gửi về Moscow càng nhanh càng tốt.

Có biên chế hơn 100 nhân viên, trạm GRU ở Ottawa có vai trò cực kì quan trọng trong hoạt động tình báo của Liên Xô ở Tây bán cầu, với các mạng lưới điệp viên vươn tới toàn bộ khu vực Bắc Mỹ. Chỉ riêng tại Canada, tình báo Liên Xô đã cài cắm tới 25 điệp viên. Vì thế, trạm GRU ở Ottawa đảm nhiệm cả việc chuyển tải một lượng thông tin mật thu được từ Mỹ.

Tháng 9-1944, I. Gouzenko nhận được một lệnh triệu hồi đầy đe dọa từ Moscow cho vài cuộc “thảo luận” không rõ ràng. I. Gouzenko ở GRU đủ lâu để biết điều này có nghĩa là gì: anh ta đang gặp rắc rối trầm trọng. Hẳn là ai đó trong sứ quán đã báo về nhà rằng tư tưởng anh ta có xu hướng ngả về phương Tây. Moscow không muốn liều lĩnh để những người có tư tưởng như vậy phản bội, nhất là khi những người này lại biết quá nhiều.

Tuy nhiên, cấp trên của I. Gouzenko ở trạm Ottawa đã tức giận phản đối lệnh triệu hồi của Moscow, nói rằng những kĩ năng của anh ta là không thể thay thế ở vào “thời điểm quyết định này”. Moscow nhượng bộ, ít ra vào thời điểm đó.

“Thời điểm quyết định” mà những người đứng đầu trạm GRU ở Ottawa báo về trung tâm chính là giai đoạn mà GRU, cùng phối hợp với NKGB, đã tiến hành một chiến dịch mang mật danh Candy, tìm kiếm mọi thông tin có thể về đề án chế tạo bom nguyên tử của Mỹ. I. Gouzenko dự phần trong chiến dịch với vai trò đảm nhiệm việc liên lạc điện đài với Trung tâm Moscow, bắt đầu chuyển giao những thông tin về dữ liệu công nghệ mà rõ ràng được lấy từ những người làm việc trong chương trình phát triển bom nguyên tử của Mỹ. Người nổi bật nhất trong số đó là điệp viên mang mật danh Alex, rõ ràng là một trong những nhà khoa học làm việc trong chương trình đó.

Đầu mùa hè năm 1945, I. Gouzenko chuyển đi một thông tin từ cấp trên, Đại tá Nikolai Zabotin (mật danh Grant), trong đó nói rằng GRU đã thâm nhập được vào đề án chế tạo bom của Mỹ. N. Zabotin không chỉ cung cấp những chi tiết về tình hình đang diễn ra tại địa điểm mang mật danh Los Alamos, bang New Mexico của Mỹ, trung tâm phát triển chính của đề án chế tạo bom, mà còn biết chính xác ngày diễn ra cuộc thử nghiệm đầu tiên, những chi tiết kĩ thuật về cách lắp đặt quả bom, và quý nhất là một mẫu Uranium 235 đã được làm giàu, do Alex đánh cắp. Một máy bay đặc biệt được cắt cử bay từ Moscow sang mang mẫu đó về Moscow, nơi nó được sử dụng để thúc đẩy chương trình vũ khí nguyên tử của Liên Xô.

Phần thưởng, bằng khen và tăng lương là những gì mà các nhân viên trạm GRU ở Ottawa được nhận do thành tích trong chiến dịch này, nhưng I. Gouzenko không nằm trong số những người được tặng thưởng. Vẫn bị nghi ngờ vì “hủ hóa” tư tưởng, anh ta nhận ra rằng sớm hay muộn Moscow cũng sẽ lại ra lệnh triệu hồi - với khả năng cao là bị ăn đạn vào đầu.

Vậy là I. Gouzenko quyết tâm thay đổi chiến tuyến. Nhận ra rằng Canada và Liên Xô vẫn còn là đồng minh nên có khả năng người Canada sẽ đơn giản cho phép dẫn độ anh ta về Nga nên một kế hoạch thành hình: Anh ta sẽ chuyển giao càng nhiều tư liệu càng tốt về những chiến dịch tình báo của Liên Xô ở Canada; một khi Canada thấy phía Xô viết không thiện chí, do thám cả đồng minh thì họ sẽ không ruồng bỏ anh ta.

Vào buổi chiều ngày 5-9-1945, I. Gouzenko chấm dứt chuyến tuần tra thường lệ quanh căn phòng mật mã của Đại sứ quán Liên Xô và ra đi với 109 bức điện mật của GRU và NKGB trong một chiếc va li. Nơi dừng chân đầu tiên của anh ta là tòa soạn Báo Ottawa. Những biên tập viên của tờ báo có vẻ không hiểu I. Gouzenko nói gì và đuổi anh ta ra khỏi tòa nhà (việc từ chối câu chuyện hấp dẫn nhất trong nhiều thập kỉ đã dẫn đến hệ quả là những thế hệ nhân viên sau này của tờ báo được lệnh phải lắng nghe một cách lễ phép tất cả những kẻ lảng vảng vào tòa soạn, kể cả những người tuyên bố có chip điện tử của người ngoài hành tinh cài trong đầu!).

I. Gouzenko sau đó liên hệ với Văn phòng Bộ Tư pháp Canada, nơi coi anh ta như một kẻ lập dị và hẹn ngày hôm sau hãy quay lại! Càng lúc càng tuyệt vọng, I. Gouzenko tự khóa mình trong căn hộ với vợ và đứa con trai hai tuổi, sợ hãi giây phút nghe tiếng đập cửa của các nhân viên GRU và NKGB.

Đến tối 6-9-1945 thì sứ quán Liên Xô xác định chắc chắn rằng I. Gouzenko đã biến mất cùng với mớ điện mật và bắt đầu tiến hành truy lùng kẻ phản bội. Trong một bước đi tuyệt vọng, I. Gouzenko đã kể chuyện của mình cho người hàng xóm, một trung sĩ của Không lực Hoàng gia Canada, người đã đồng ý cho anh ta và gia đình trú ẩn. I. Gouzenko chuyển đi vừa kịp lúc: Đêm 6-9, anh ta và vợ con vừa vào căn hộ bên cạnh thì nghe tiếng bốn mật vụ NKGB đập cửa nhà mình ầm ầm, sau đó tiến hành lục lọi căn hộ.

Sự truy đuổi của NKGB trên thực tế đã giúp I. Gouzenko, vì những cảnh sát được gọi đến tòa nhà nhận ra rằng anh ta không phải kẻ lập dị mà thật ra đang bị phía Liên Xô săn đuổi vì những giấy tờ nào đó mà người nhân viên mật mã đã lấy đi.

Do tình cờ mà một điệp viên của MI6 mang tên William Stephenson lại có mặt ở Canada trong lúc dư luận đang xôn xao rằng có điều gì đó rất kì lạ đang diễn ra ở Đại sứ quán Liên Xô tại Ottawa. Khi W. Stephenson nghe ngóng được những chi tiết đầu tiên, ông ta ngay lập tức nhận ra điều gì đang xảy ra; nhờ những mối quan hệ cấp cao, ông ta đã tác động để Cơ quan Cảnh sát Hoàng gia an ninh Canada bao bọc I. Gouzenko.

Trong khi đó, phía Liên Xô đòi phía Canada phải trao trả I. Gouzenko, tuyên bố rằng anh ta đã ăn cắp một số tiền lớn từ Đại sứ quán và cần phải bị triệu hồi về Moscow để đối mặt với “những hậu quả nghiêm trọng”.

Phía Canada từ chối.

Vụ thứ hai cũng đe dọa nghiêm trọng an toàn của các điệp viên Bộ Ngũ xảy ra chỉ vài ngày trước khi I. Gouzenko đào thoát. Ngày 27-8-1945, một điệp viên cấp cao của NKGB hoạt động ở địa bàn Thổ Nhĩ Kỳ là Konstantin Dmitrievich Volkov đã viết một bức thư cho phó lãnh sự Anh tại Istanbul, C. H. Page, đề nghị bố trí một cuộc gặp khẩn cấp. Không nhận được trả lời, đến ngày 4-9-1945, đích thân K. Volkov xuất hiện ở Lãnh sự quán Anh tại Istanbul và đề nghị cho anh ta cùng với vợ tị nạn chính trị, kèm theo một khoản tiền 50.000 bảng (đây là số tiền có giá trị rất lớn vào thời kì đó, tương đương với cả triệu bảng mấy chục năm sau này). Đổi lại, K. Volkov hứa sẽ cung cấp cho phía Anh những hồ sơ siêu mật mà anh ta đã tiếp cận được trong thời gian còn làm việc ở bộ phận phụ trách địa bàn Anh quốc tại Trung tâm tình báo Liên Xô ở Moscow.

Là người đứng đầu Ban 9 trong MI6 chuyên về các hoạt động phản gián chống cộng sản nên Kim Philby ngay lập tức được biết về vụ đào thoát của I. Gouzenko ở Canada cũng như ý định phản bội của K. Volkov tại Thổ Nhĩ Kỳ. Philby báo ngay cho người phụ trách địa bàn Anh của tình báo Liên Xô khi ấy là Krotov, tức Boris Krotenschield, biết về cả hai vụ việc.

Do hai vụ việc diễn ra gần như đồng thời nên Krotov và Kim Philby thống nhất với nhau rằng một mình Kim chỉ có thể xử lí được một vụ thôi, là vụ có nguy cơ đe dọa an toàn cao hơn.

Cả hai cho rằng I. Gouzenko là một điệp viên của GRU nên khó có khả năng nắm bắt được những thông tin về các hoạt động của NKGB, là cơ quan chịu trách nhiệm điều khiển Bộ Ngũ hoạt động. Mặc dù những tiết lộ động trời của I. Gouzenko cho phản gián Canada (sau đó là Mỹ) đã khiến cho 25 điệp viên của tình báo Liên Xô tại Canada ngay lập tức bị lộ diện, cũng như khẳng định bí mật nguyên tử mà Tổng thống Mỹ H. Truman hi vọng rằng có thể giữ được ít nhất trong hai mươi năm đã không còn là bí mật nữa, nhưng điều quan trọng là I. Gouzenko khó nắm được thông tin về các hoạt động của Bộ Ngũ.

Trong khi ấy, nếu đào thoát thành công thì K. Volkov, một nhân viên của NKGB, nguy hiểm hơn nhiều. Ngay trong buổi tiếp xúc đầu tiên ở Lãnh sự quán Anh tại Istanbul, K. Volkov đã hứa hẹn rằng nếu được chấp nhận tị nạn chính trị, anh ta sẽ tiết lộ danh tính những điệp viên Xô viết cao cấp, trong đó có hai người làm việc ở Bộ Ngoại giao Anh (chắc chắn đó là G. Burgess và D. Maclean) và bảy điệp viên khác hoạt động “bên trong bộ máy tình báo Anh”, gồm cả một người “dường như nắm vai trò là trưởng một bộ phận phản gián của tình báo Anh ở London” (gần như chắc chắn đó là Kim Philby).

Bởi vậy nên Krotov và Kim Philby nhất trí rằng Kim phải khẩn cấp xử lí vụ K. Volkov, còn vụ đào thoát của I. Gouzenko thì đành phó mặc cho may rủi. Nhưng để đề phòng những thông tin mà I. Gouzenko tiết lộ có thể làm tổn hại đến mạng lưới tình báo ở London, các biện pháp khẩn cấp chống theo dõi vẫn được tiến hành, trong đó các cuộc gặp thường xuyên giữa diệp viên với nhân viên tình báo Liên Xô điều khiển giảm xuống còn một lần trong một tháng. Nếu thấy cần thiết, các mối liên lạc này sẽ tạm thời phải gián đoạn trong một thời gian.

Ngày 19-9-1945, Kim Philby nhận được báo cáo về cuộc gặp của K. Volkov ở Lãnh sự quán Anh tại Thổ Nhĩ Kỳ gửi về London qua túi ngoại giao và báo cho Krotov thì đến ngày 21-9, lãnh sự Thổ Nhĩ Kỳ ở Moscow đã cấp thị thực nhập cảnh cho hai sát thủ của NKGB dưới vỏ bọc là các nhân viên ngoại giao. Sang ngày hôm sau, 22-9, Kim Philby thành công trong việc thuyết phục người đứng đầu cơ quan tình báo Anh, Sir Stewart Menzies, cho phép mình trực tiếp bay đi Thổ Nhĩ Kỳ để giải quyết vụ K. Volkov.

Tuy nhiên, do trục trặc máy bay trên đường đi nên mãi đến ngày 26-9, Kim Philby mới tới được Istanbul. Hai ngày trước đấy, cả K. Volkov và vợ đã bị tiêm thuốc an thần, nằm trên băng ca và đưa lên một chiếc máy bay của Liên Xô để quay về Moscow.

Trên đường quay về London sau đó, Kim Philby viết báo cáo gửi Sir Stewart Menzies, đưa ra hàng loạt giả thuyết về việc K. Volkov bỗng dưng biến mất, giả dụ văn phòng của anh ta đã bị gắn máy nghe trộm, hoặc K. Volkov đã uống rượu say xỉn rồi ba hoa nên bị NKGB phát hiện; hoặc anh ta bỗng dưng đổi ý rồi thú tội với đồng nghiệp; cũng có thể đây là một đòn phép của NKGB nhằm vào người Anh... “Tất cả đều là giả thuyết và rất có thể sẽ không bao giờ có ai biết được sự thật về vụ biến mất này”, báo cáo kết luận.

Trong cuộc thẩm vấn ở Moscow trước khi bị hành quyết, K. Volkov thú nhận là ngoài việc yêu cầu người Anh cung cấp 50.000 bảng và cho tị nạn chính trị, anh ta dự tính sẽ tiết lộ danh tính của ít nhất 314 điệp viên Xô viết!

Kim Philby cùng các thành viên trong Bộ Ngũ đã may mắn thoát hiểm chỉ trong đường tơ kẽ tóc.

+++++

Đệ nhị thế chiến tàn khốc vừa kết thúc, khói súng trên các chiến trường còn chưa kịp lắng xuống thì cuộc Chiến tranh Lạnh đã bắt đầu. Những đồng minh xưa kia giờ thành đối thủ của nhau. Trong chiến hào mới của cuộc Chiến tranh Lạnh ấy, các điệp viên trở thành những nhân vật chính.

Sau chiến tranh, một thành viên kiệt xuất trong Bộ Ngũ là A. Blunt quyết định rời khỏi Cơ quan phản gián MI5 để quay về với công việc yêu thích là một chuyên viên về nghệ thuật. Lúc này, NKGB, đã đổi tên thành Bộ An ninh Quốc gia Xô viết (MGB), đồng ý với lựa chọn của A. Blunt. Một chuyên gia về nghệ thuật lại làm việc quá lâu ở cơ quan phản gián sẽ phải chịu những áp lực tâm lí căng thẳng kinh khủng và không có gì đảm bảo rằng một ngày nào đó, anh ta sẽ không bị bại lộ và dắt dây theo những đổ vỡ khác.

Thời kì đó, có lần A. Blunt đã tâm sự với một đồng nghiệp cùng làm trong MI5, Đại tá “Tar” Robertson, rằng: “Tôi quả thật là rất hài lòng khi đã chuyển cho người Nga tên tuổi hầu hết các điệp viên của MI5! ”

Tháng 11-1945, A. Blunt được bổ nhiệm chức danh cố vấn cho Hoàng gia về mĩ thuật, vị trí mà ông có thể làm việc trực tiếp với nhà vua Anh về các vấn đề liên quan đến bộ sưu tập tranh của Hoàng gia.

Có lẽ khi đồng ý để A. Blunt rời khỏi MI5, MGB hi vọng điệp viên Leo Long (mật danh Elli), người mà A. Blunt có một thời gian dài phụ trách, sẽ tiếp nối công việc của A. Blunt trong cơ quan phản gián Anh. A. Blunt cũng đề cử Leo Long cho một vị trí quan trọng trong MI5; tuy nhiên, cố gắng đưa Leo Long vào trong MI5 không thành do cơ quan này chọn một người khác. Thay vào đó, Leo Long chuyển tới làm việc cho Ủy ban kiểm soát của Anh tại Đức sau chiến tranh và trở thành Phó Giám đốc phụ trách tình báo của cơ quan này.

Tại Đức, Leo Long cương quyết không chấp nhận làm việc với nhân viên tình báo Liên Xô ở địa bàn mới. Trung tâm tình báo Moscow cho rằng sự ương bướng này xuất phát từ việc A. Blunt ngừng việc điều khiển Leo Long. Vậy là mặc dù ở cương vị mới, các mối liên hệ của A. Blunt với tình báo Liên Xô nhạt dần đi, thế nhưng đã có ít nhất vài lần, A. Blunt tới Đức để nhận những thông tin tình báo do Leo Long chuyển giao.

Khác với A. Blunt, các thành viên khác trong Bộ Ngũ vẫn tiếp tục hoạt động hết công suất, với bầu nhiệt huyết dường như không bao giờ cạn khi bước vào một trò chơi sinh tử mới - cuộc Chiến tranh Lạnh. D. Maclean tiếp tục xây dựng uy tín của một nhà ngoại giao trẻ đầy tài năng trong sứ quán Anh tại Washington, nơi người điệp viên Xô viết tiếp tục làm việc cho tới năm 1947.

Năm 1946, G. Burgess, người vào làm ở Bộ Ngoại giao Anh từ năm 1944, trở thành thư kí riêng của ngài Hector McNeill, vị Bộ trưởng Ngoại giao thứ hai trong chính phủ Công Đảng thành lập sau chiến tranh (Công Đảng bổ nhiệm vị trí Bộ trưởng Ngoại giao thứ hai để hỗ trợ cho Bộ trưởng Ngoại giao thứ nhất trong chính phủ). Các tài liệu mật của Bộ Ngoại giao Anh theo kênh G. Burgess lại ồ ạt đổ về Trung tâm tình báo Moscow.

Sau chiến tranh, J. Cairncross quay lại làm việc tại Bộ Tài chính và tới năm 1948, tình báo Liên Xô nối lại liên lạc với J. Cairncross. Công việc của J. Cairncross liên quan đến lĩnh vực chi tiêu cho nghiên cứu quốc phòng, cụ thể là các loại vũ khí. Do đó, J. Cairncross không chỉ nắm được quá trình phát triển vũ khí nguyên tử mà còn về kế hoạch chế tạo hệ thống dẫn đường cho tên lửa, các loại vũ khí sinh học, hóa học, vũ khí dưới nước. Hơn thế nữa, ở cương vị của mình, ông cũng nắm được thông tin chi tiết về chi tiêu cho các dự án hải quân, radar, hệ thống chống tàu ngầm... J. Cairncross hoàn toàn có quyền hợp pháp đòi hỏi được biết chi tiết về các dự án tối mật đó, bởi phải biết rõ tiền ngân sách được chi tiêu vào việc gì! Thông tin tình báo của J. Cairncross, vì vậy, thậm chí vượt quá mong đợi của Trung tâm tình báo Moscow.

Riêng Kim Philby thì sau khi thoát hiểm qua vụ đào thoát của I. Gouzenko cũng như xử lí thành công vụ K. Volkov, trở thành một gương mặt sáng giá trong Cục Tình báo mật MI6. Đã xuất hiện những tin đồn về việc một ngày nào đó, Kim có thể thế chân sếp của mình là Sir Stewart Menzies để trở thành người đứng đầu MI6. Nếu điều này xảy ra thì đó hẳn là một tình huống hi hữu bậc nhất trong lịch sử điệp báo thế giới.

Mặc dù vậy, Kim Philby vẫn ở cương vị người đứng đầu Ban 9 trong MI6 chuyên về các hoạt động phản gián chống cộng sản cho đến năm 1947 thì được bổ nhiệm làm người đứng đầu trạm MI6 ở Thổ Nhĩ Kỳ. Rất có thể đó là một bước chuẩn bị cần thiết để Kim tích lũy những kinh nghiệm hoạt động thực địa, trước khi được bổ nhiệm lên những vị trí cao hơn trong MI6. Khi ấy, trạm MI6 ở Thổ Nhĩ Kỳ đóng một vai trò trọng yếu trong việc bố trí cho các điệp viên phương Tây vượt qua biên giới, xâm nhập và bắt liên lạc với các điệp viên nằm vùng ở Liên Xô.

Với Kim Philby là người đứng đầu trạm MI6 Thổ Nhĩ Kỳ, không khó để hình dung ra số phận những điệp viên này cũng như các đầu mối mà họ bắt liên lạc bên trong lãnh thổ Liên bang Xô viết!

Trong suốt thời gian hai năm Kim Philby làm Trưởng trạm MI6 ở Thổ Nhĩ Kỳ, từ 1947 đến 1949, ngoại trừ một đôi lần quay về London, còn lại toàn bộ những liên lạc giữa Kim Philby với Trung tâm tình báo Xô viết ở Moscow được thực hiện qua đầu mối G. Burgess.

Tuy nhiên, bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu bất ổn về mặt tâm lí ở các điệp viên trong Bộ Ngũ, trước hết là G. Burgess. Cuộc sống hai mặt quá căng thẳng trong một thời gian dài dần dà đã tác động lên hệ thần kinh của G. Burgess, dẫn tới những cách hành xử lạ lùng khiến điệp viên Xô viết chịu trách nhiệm diều khiển G. Burgess (và cả Bộ Ngũ) ở London khi ấy là Yuri Modin, hết sức lo lắng.

Mặc dù vậy, trong Bộ Ngoại giao Anh, G. Burgess vẫn duy trì được một vị trí cho phép thu thập được lượng tin tức tình báo khổng lồ. Chẳng hạn như chỉ riêng trong ngày 7-12-1949, G. Burgess đã chuyển cho Y. Modin 168 tài liệu mật với tổng số 660 trang! Những thông tin do Burgess chuyển giao đã cho phép tình báo Xô viết xác định được sự khác biệt trong chính sách giữa Anh và Mỹ đối với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, mới được thành lập tháng 10-1949, từ đó đề ra các đối sách thích hợp trong chính sách ngoại giao của nhà nước Xô viết đối với nước Trung Hoa mới.

Về phần mình, D. Maclean thậm chí còn căng thẳng hơn cả G. Burgess. Tháng 10-1948, D. Maclean được bổ nhiệm vào chân lãnh sự, Trưởng văn phòng Đại sứ quán Anh tại Cairo, Ai Cập. Ở tuổi 35, được bổ nhiệm vào một vị trí quan trọng như vậy, rõ ràng con đường thăng tiến của D. Maclean trong Bộ Ngoại giao Anh hứa hẹn một triển vọng xán lạn. Tuy nhiên, những hiểm nguy của cuộc sống bí mật kéo dài đã khiến D. Maclean suy sụp. Tình hình càng tồi tệ thêm khi quan hệ giữa D. Maclean với nhân viên tình báo Xô viết điều khiển ở trạm Cairo diễn ra không suôn sẻ. Các tin tức tình báo do D. Maclean cung cấp không nhận được phản hồi và cũng chẳng có chỉ thị hướng dẫn nào của Trung tâm Moscow được chuyển tới người điệp viên.

Tháng 12-1949, D. Maclean gửi kèm một lá thư theo xấp tài liệu mật mới lấy được về trung tâm, trong đó đề nghị được từ bỏ cộng tác với tình báo Xô viết. Ở các bàn giấy tại Moscow, thậm chí người ta còn không buồn đọc nó. Mãi tới tháng 4-1950, khi D. Maclean gửi một bức thư thứ hai, tiếp tục đề đạt nguyện vọng rời bỏ công việc với tình báo Xô viết thì trung tâm mới chú ý và đọc lại bức thư thứ nhất đã gửi từ bốn tháng trước!

Hoàn toàn không biết gì về những nguyên nhân nội tại dẫn tới tình trạng căng thẳng của D. Maclean, Bộ Ngoại giao Anh triệu D. Maclean về London nghỉ phép cùng những chi phí cho một khóa điều trị tâm lí, do cho rằng nguyên nhân là làm việc quá sức, rắc rối hôn nhân cũng như các vấn đề liên quan đến đời sống đồng tính luyến ái. Đến mùa thu năm 1950, khi đã hồi phục được phần nào, D. Maclean được bổ nhiệm làm người đứng đầu Phân ban Mỹ trong Bộ Ngoại giao Anh.

Tầm quan trọng của nguồn tin D. Maclean và G. Burgess trong Bộ Ngoại giao Anh tăng lên đáng kể khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra vào năm 1950. Có nhiều lí do để tin rằng những thông tin tình báo do hai người cung cấp đã được Liên Xô chuyển giao cho phía Trung Hoa cộng sản và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên để hai nước này đề ra chiến lược đúng đắn, cũng như chiếm ưu thế trong các cuộc đàm phán với Mỹ và các đồng minh của mình.

+++++

Trong khi đó, Kim Philby ngày càng trở nên một điệp viên quý giá đối với tình báo Liên Xô qua việc con đường công danh của Kim tiếp tục rộng mở trong bộ máy tình báo Anh. Rất có khả năng vào một ngày đẹp trời nào đấy, Kim sẽ trở thành người đứng đầu MI6. Có lẽ để chuẩn bị cho điều này, mùa thu năm 1949, Kim Philby được bổ nhiệm làm trưởng đại diện của MI6 tại Washington, một vị trí công tác quan trọng vào bậc nhất trong hệ thống hợp tác tình báo giữa Anh và Mỹ.

Ở cương vị công tác này, Kim Philby chịu trách nhiệm làm đầu mối liên lạc giữa Cục Tình báo mật MI6 với CIA, FBI của Mỹ và cả Cảnh sát Hoàng gia Canada. Như Kim Philby có lần thừa nhận thì vị trí này cho phép ông “nằm ở trung tâm của những nhà làm chính sách tình báo” và giúp ông “có được một cái nhìn cặn kẽ về tổ chức tình báo của nước Mỹ”.

Khi tới Washington, Kim Philby có dịp làm quen với một nhân vật cực kì quan trọng trong hệ thống tình báo Mỹ, James J. Angleton.

Sinh ra ở bang Idaho nước Mỹ nhưng khi gia đình chuyển sang châu Âu, thuở nhỏ, J. Angleton được bố mẹ gửi theo học tại trường tư ở Anh. Sau đấy Angleton vào học tại Đại học Yale danh tiếng của Mỹ từ 1937 đến 1941. Khi Đệ nhị thế chiến nổ ra, năm 25 tuổi, J. Angleton gia nhập Cục Phục vụ chiến lược OSS, tiền thân của CIA sau này, làm trợ lí cho Tướng William Donovan, người đứng đầu OSS. J. Angleton hoạt động chủ yếu ở địa bàn Anh và Ý. OSS được thành lập chủ yếu với mục đích phối hợp các hoạt động mật chống lại các nước thuộc phe Trục phát xít nên khi chiến tranh kết thúc, OSS bị giải thể vào tháng 11-1945.

Tuy vậy, J. Angleton vẫn được giữ lại trong một đơn vị gọi là Nhóm tình báo trung ương và đến tháng 7-1947, nhóm này trở thành cốt lõi cho một tổ chức tình báo mới được thành lập, chính là Cục Tình báo trung ương Hoa Kỳ CIA. J. Angleton dĩ nhiên trở thành một yếu nhân trong tổ chức tình báo mới này.

Khi Đại tá Donald H. Galloway thành lập ra Ban Xô viết, chịu trách nhiệm móc nối, tuyển mộ các nhà ngoại giao cộng sản làm nguồn cung cấp tin cho Mỹ thì J. Angleton trở thành trợ lí của Đại tá D. Galloway. J. Angleton có nhiều mối quan hệ thân thiết với các sĩ quan tình báo cao cấp của Pháp, Ý, Tây Đức và từng là người đứng đầu trạm CIA tại Roma.

Tháng 9-1948, J. Angleton làm việc tại Văn phòng các chiến dịch đặc biệt OSO, chuyên về các hoạt động tình báo và phản gián ở những nơi có các trạm của CIA hoạt động.

Tháng 5-1949, chỉ vài tháng trước khi Kim Philby được cử tới Washington, ở tuổi 31, J. Angleton được triệu về Washington, chịu trách nhiệm điều phối các hoạt động bí mật chống Xô viết với các cơ quan tình báo Pháp, Anh, Tây Đức.

J. Angleton gặp Kim Philby trong bữa ăn trưa vào một ngày mưa đầu tháng 10-1949 tại quán ăn Harvey ở trung tâm Washington. Trước đấy năm năm, J. Angleton đã từng biết về Kim Philby khi tham dự một khóa đào tạo về công tác phản gián ở London và rất ấn tượng về người đàn ông đẹp trai, nay đã trở thành một chuyên gia chống tình báo Xô viết hàng đầu của phương Tây.

Cả hai người nhanh chóng trở nên tâm đầu ý hợp vì có nhiều điểm chung, cùng được dạy dỗ trong nền giáo dục phổ thông ở nước Anh, sống nhiều ở nước ngoài, có khẩu vị văn hóa và hưởng thụ tương đồng. Cả hai thích thơ ca Anh, rượu vang Pháp, âm nhạc Đức và có thể thảo luận đủ mọi thứ chuyện trên đời không biết chán.

Hai người còn có một điểm chung lớn nhất: Cùng hoạt động trong lĩnh vực phản gián chống lại người Xô viết.

J. Angleton được MI6 thông báo rằng khác với các sĩ quan phản gián tới hoạt động ở Mỹ trước đấy, Kim Philby có khả năng một ngày nào đó sẽ trở thành người đứng đầu MI6.

Khi những làn gió độc của cuộc Chiến tranh Lạnh bắt đầu nổi lên, đặc biệt là sau cuộc binh biến cướp chính quyền của những người cộng sản ở Tiệp Khắc năm 1948, CIA bắt đầu chịu trách nhiệm điều phối các nhóm hoạt động phá hoại, những tổ chức bí mật chống cộng trên lãnh thổ các nước Đông Âu như Ukraine, Georgia, Lithuania, Albania, Hungary và Ba Lan.

Tháng 10-1949, CIA phối hợp với tình báo Anh mở chiến dịch phá hoại ở Albania, quốc gia nghèo khổ và bị cô lập nhất trong khối cộng sản Đông Âu. Tình báo Anh - Mỹ hi vọng xây dựng được một đội quân kháng chiến trong lòng quốc gia cộng sản này từ những kẻ lưu vong đang định cư vật vờ ở Roma hay Athens. Phi vụ đầu tiên, một chiếc tàu xuất phát từ Malta chở theo chín thành viên người Albania trong một sứ mệnh biệt kích mạo hiểm. Vừa mới cập bờ Albania, ba người bị hạ ngay lập tức trong khi cảnh sát mật Albania săn lùng những người còn lại.

Nhưng CIA không nản chí. Họ tiếp tục gửi những người Albania lưu vong tới Munich, Tây Đức, tham gia các khóa huấn luyện nhảy dù, sau đó đưa tới căn cứ ở Athens, Hy Lạp. Tại đấy, có cả một đội máy bay và phi trường thuộc quyền kiểm soát của CIA. Các điệp viên này được thả dù xuống lãnh thổ Albania và tất cả đều rơi vào vòng tay của cảnh sát mật nước này.

Hết chuyến này đến chuyến khác, cứ sau mỗi một phi vụ thả dù thất bại, các máy bay lại hoạt động với mật độ dày hơn và các khóa huấn luyện càng trở nên gấp gáp, qua loa hơn. Các biệt kích lưu vong người Albania càng được liều lĩnh thả xuống vùng lãnh thổ đối phương thì khả năng bị bắn hạ hay bắt giữ càng tăng lên. Mỗi khi bị bắt, họ bị cảnh sát mật Albania buộc phải sử dụng điện đài để tung tin giả về trạm CIA tại Athens.

Tình báo Mỹ không thể hiểu nổi nguyên nhân nào khiến cho chiến dịch Albania thất bại thê thảm như thế. Tình báo Xô viết, và dĩ nhiên đồng minh khi ấy của Liên Xô là Albania, đã nắm được hầu như mọi thông tin chi tiết của chiến dịch. Các trại huấn luyện của CIA tại Tây Đức bị xâm nhập. Trong cộng đồng người Albania ở Roma, Athens và London đầy rẫy những mật báo viên của tình báo Liên Xô.

Nhưng quan trọng nhất chính là mối quan hệ bạn bè thân mật giữa Kim Philby với J. Angleton, người chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh cho các chiến dịch bí mật của CIA cũng như săn lùng các điệp viên nhị trùng làm việc trong mạng lưới tình báo Mỹ. Trong suốt mười tám tháng sau lần gặp đầu tiên, J. Angleton và Kim Philby thường xuyên ăn trưa hằng tuần với nhau, khi thì ở quán Harvey, khi thì ở Câu lạc bộ quân đội và hải quân Mỹ. Mối quan hệ này được sưởi ấm bởi một nguyên liệu hết sức đặc biệt: Rượu. J. Angleton là một tay tổ về khoản uống rượu, hầu như không có đối thủ trong CIA. Kim Philby, người có tửu lượng rất khá, cũng có khả năng uống như hũ chìm. Không có gì gắn bó hơn một tình bạn được gắn kết bởi rượu và công việc, nhất là khi Kim Philby lại là đại diện của tình báo Anh tại Mỹ.

Trong hơn một năm trời, cứ sau mỗi cuộc nhậu vào buổi trưa, J. Angleton lại chia sẻ với Kim Philby về các hoạt động phối hợp, địa điểm mà CIA sẽ thả dù những người Albania lưu vong xuống mảnh đất quê hương thù địch của họ. Số phận những người này ra sao thì hẳn ai cũng rõ. Trong gần bốn năm trời, ít nhất 200 điệp viên người nước ngoài do CIA huấn luyện đã bị giết trong chiến dịch này - một con số tổn thất kinh khủng.

Thế nhưng trước khi rời Anh đi Washington, Kim Philby đã biết được một bí mật chết người của tình báo Mỹ, chiến dịch mang mật danh Venona.

+++++

Venona là chiến dịch siêu mật Mỹ khởi sự trong thời gian Đệ nhị thế chiến nhằm phá khóa các bức điện mật của tình báo Liên Xô gửi về Trung tâm Moscow mà phản gián Mỹ chặn bắt được. Nhờ đọc được một số bức điện mật trong thời kì 1944 mà phản gián Mỹ phát hiện ra tình báo Liên Xô đã cài cắm nhiều điệp viên vào các tổ chức chính quyền, các cơ sở khoa học công nghệ của Mỹ. Chính nhờ có Venona mà phản gián Mỹ đã phát hiện ra cả loạt thành viên trong mạng lưới điệp viên hoạt động đánh cắp bí mật nguyên tử của tình báo Liên Xô.

Tiếp cận được với Venona, Kim Philby xác định được rằng dự án này có ít thông tin về hoạt động của các điệp viên Liên Xô ở Anh mà chủ yếu tập trung vào phá khóa những bức mật mã liên quan đến các chiến dịch của tình báo Xô viết trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Cuối tháng 9-1949, ngay sau khi Liên Xô thử thành công quả bom nguyên tử đầu tiên, trong một buổi thông báo về Venona, Kim Philby biết rằng việc phá khóa mã đã xác định được điệp viên mang mật danh CharlesLos Alamos chính là nhà bác học nguyên tử Klaus Fuchs.

Thông tin này được chuyển ngay về Moscow và Trung tâm tình báo Liên Xô lập tức báo động tất cả những điệp viên có liên quan đến Klaus Fuchs, cho phép họ kịp thời chạy qua Mexico. Tuy nhiên, người ta đã không kịp cảnh báo cho chính Klaus Fuchs và thế là tháng 4-1950, nhà bác học này phải lĩnh án 14 năm tù vì tội làm gián điệp cho Liên Xô.

Tháng 10-1949, Kim Philby tới Washington và ngày càng có điều kiện tiếp cận thường xuyên hơn với dự án Venona. Kim Philby từ chối bất cứ liên lạc nào với Moscow thông qua các điệp viên của Liên Xô đang hoạt động bất hợp pháp trên lãnh thổ Mỹ. Trong gần một năm trời, mọi liên lạc của Kim Philby với trung tâm đều thông qua các bức điện gửi cho G. Burgess ở London.

Mùa hè năm 1950, Kim Philby bất ngờ nhận được một bức thư từ G. Burgess. “Có thông tin gây sốc cho anh đây: Tôi được cử sang công tác ở Washington”, G. Burgess viết trong thư.

Kim Philby chấp nhận để G. Burgess tới ở chung với mình trong căn hộ rộng rãi ở 4100 đại lộ Nebraska tại Washington, có lẽ do tính toán rằng việc này sẽ giúp ông kiểm soát tính khí thất thường của G. Burgess, vốn đã bùng phát trong thời gian trước đó tại Anh. Đó là một sai lầm nghiêm trọng mà mãi sau này, cả mạng lưới tình báo Liên Xô, cụ thể là Bộ Ngũ Cambridge, sẽ phải lãnh đủ.

Khi tới làm việc trong sứ quán Anh ở Washington, G. Burgess tiếp tục làm công việc đặc biệt là duy trì liên lạc giữa Kim Philby với điệp viên bất hợp pháp của Liên Xô mới được cử sang New York vào tháng 5-1950, Valery Mikhailovich Makayev, người mang mật danh Harry. Chuyến liên lạc đầu tiên của G. Burgess từ Washington đến New York diễn ra vào tháng 11-1950 dưới danh nghĩa đi thăm Alan Maclean, em trai cùa Donald Maclean. A. Maclean khi ấy là thư kí riêng của đại diện Vương quốc Anh tại Liên hợp quốc, Gladwyn Jebb. Các chuyến đi như vậy ngày càng trở nên thường xuyên hơn đến mức Gladwyn Jebb cho rằng G. Burgess và A. Maclean có quan hệ đồng tính luyến ái!

Kim Philby đã báo cho V. Makayev mối đe dọa ngày càng đến gần từ dự án Venona. Từ cuối năm 1948, nhân viên phá mã Meredith Gardner, có thêm sự hỗ trợ của đặc vụ Robert Lamphere từ FBI, đã đẩy nhanh tiến độ giải mã các bức điện mật. Các bức điện mới được phá khóa của Venona đã xác định một điệp viên mang mật danh Homer hoạt động ở Washington trong thời gian cuối Đệ nhị thế chiến, nhưng chưa chỉ ra được cụ thể điệp viên đó là ai vì những đầu mối còn khá mơ hồ. Kim Philby lập tức biết rằng Homer chính là D. Maclean.

Rất may là Kim Philby đã nhanh chóng thiết lập được một tình bạn thân thiết với Meredith Gardner nên có thể theo sát được từng bước quá trình phá khóa mã của Venona.

Vì vậy, Kim Philby vẫn báo về Moscow rằng: “D. Maclean sẽ ở lại vị trí của mình đến mức lâu nhất có thể”, và một kế hoạch giải cứu D. Maclean chỉ được thực hiện “trước khi tấm lưới khép lại”.

Cho đến mùa đông năm 1950, tấm lưới vẫn còn chưa khép lại. Đến cuối năm 1950, danh sách những người bị tình nghi trong tay các nhân viên phản gián Mỹ rút xuống còn ba mươi lăm người. Đến đầu tháng 4-1951, danh sách này còn lại chín người. Vòng tròn thu hẹp dần. Vài ngày sau, Meredith Gardner đã giải mã được một bức điện mật, trong đó chỉ ra đích danh Homer chính là D. Maclean. Bức điện này nói rằng vào tháng 6-1944, người vợ của Homer đang chờ sinh hạ một đứa con và sống với mẹ ở New York. Những thông tin này không tương thích với vợ của bất cứ đối tượng tình nghi nào ngoài vợ của D. Maclean là Melinda.

Vậy là chỉ còn khoảng thời gian ít tuần lễ thực hiện kế hoạch giúp D. Maclean thoát thân. Để có thể kết tội D. Maclean làm gián điệp là một quá trình khá phức tạp và tốn thời gian do lẽ nhà chức trách Mỹ quyết định không thể dùng bất cứ một dữ liệu nào của dự án Venona làm bằng chứng khởi tố. Cục An ninh MI5 của Anh sẽ phải tiến hành các hoạt động giám sát cần thiết trước khi tiến hành bắt giữ D. Maclean.

Kế hoạch cảnh báo và giải cứu D. Maclean không phải do Trung tâm Moscow đưa ra mà do chính Kim Philby cùng G. Burgess phối hợp tiến hành. Tháng 4-1951, G. Burgess nhận lệnh triệu hồi về London sau hàng loạt những vụ việc rắc rối với cảnh sát Mỹ ở bang Virginia, với Bộ Ngoại giao và chính đại sứ Anh. Các nhân viên phản gián Mỹ không hề ngờ vực rằng những vụ việc rắc rối đó là do G. Burgess cố ý tạo ra để có cớ hợp pháp quay trở về Anh. Trước khi G. Burgess rời New York trên chiếc tàu Queen Mary, G. Burgess và Kim Philby đã có bữa ăn tối tại một quán Tàu trong tiếng nhạc réo rắt để ngăn ngừa mọi khả năng nghe trộm. Hai người nhất trí rằng một khi về tới Anh, G. Burgess sẽ phải ngay lập tức báo động cho D. Maclean và nhân viên tình báo Liên Xô điều khiển ở địa bàn London, Yuri Modin.

Cũng trong bữa ăn này, Kim Philby nói G. Burgess phải chuyển yêu cầu cho phía Liên Xô, rằng: “Điệp viên Homer phải ngay lập tức chạy trốn sang Liên bang Xô viết”, đồng thời bắt G. Burgess phải hứa sẽ không được cùng D. Maclean trốn sang Liên Xô. Nếu điều đó xảy ra, Kim Philby sẽ ngay lập tức bị phản gián Anh - Mỹ đặt vào vòng nghi ngờ.

Về tới Anh vào ngày 7-5-1951, G. Burgess lập tức liên lạc với A. Blunt và yêu cầu chuyển cho Y. Modin một thông điệp khẩn. A. Blunt đi gặp Y. Modin, người mà A. Blunt chỉ biết dưới biệt danh Peter. A. Blunt nói: “Peter này, đang có chuyện nghiêm trọng rồi. G. Burgess vừa mới quay về London. Homer sắp sửa bị bắt. Tôi nghĩ Donald đang ở trong tình trạng sẽ bị bẻ gãy ngay khi họ thẩm vấn anh ấy”. Y. Modin báo về Moscow và hai ngày sau, Trung tâm tình báo Liên Xô đồng ý với kế hoạch giải cứu D. Maclean.

Nhưng G. Burgess lo ngại rằng bất chấp khả năng có thể bị bắt giữ, D. Maclean vẫn sẽ từ chối trốn khỏi Anh vì không đang tâm để lại người vợ Melinda đang mang bầu đứa con thứ ba sắp sửa đến ngày sinh. G. Burgess nói với Y. Modin, người điều hành các hoạt động của Bộ Ngũ, và cả Nikolai Rodin, sĩ quan tình báo phụ trách mạng lưới tình báo ở Anh, về mối lo ngại cùa mình. Khi nhận được thông tin này, Trung tâm Moscow lập tức đánh một bức điện khẩn: “Homer phải đồng ý đào thoát ngay lập tức!”. Cả Melinda, người đã biết chồng mình là một điệp viên Xô viết ngay từ thời hai người mới kết hôn, cũng đồng ý rằng D. Maclean phải trốn ngay không chậm trễ để bảo đảm an toàn cho bản thân.

Tuy nhiên, trong tình trạng tâm lí bất ổn của D. Maclean, cần phải có một người đi cùng trên hành trình đào thoát. Đến ngày 17-5- 1951, Trung tâm Moscow yêu cầu trạm London cử G. Burgess hộ tống D. Maclean về Moscow.

Thoạt đầu, G. Burgees từ chối, nói rằng trước khi rời Washington đã hứa với Kim Philby sẽ không đào thoát cùng D. Maclean. Y. Modin cảm thấy vô cùng căng thẳng. Còn N. Rodin nói với G. Burgess rằng chỉ cần tiễn D. Maclean thôi và có thể quay lại London bất cứ lúc nào. Trên thực tế, Trung tâm Moscow cho rằng G. Burgess cũng đã ở trong tình trạng nguy hiểm và cần phải nhanh chóng đào thoát khỏi nước Anh. Cuối cùng G. Burgess đồng ý.

Mặc dù Bộ Ngoại giao Anh đã bí mật cho phép tiến hành thẩm vấn D. Maclean, nhưng lại chưa đặt ra ngày giờ cụ thể để bắt đầu quá trình này. Trạm tình báo Liên Xô ở London dự đoán D. Maclean có thể bị bắt giữ vào thứ hai, ngày 28-5-1951. Bởi thế, kế hoạch đưa D. Maclean trốn khỏi Anh phải được tiến hành trong dịp nghỉ cuối tuần trước đó.

Trạm tình báo Liên Xô ở London nhận thấy quá trình giám sát D. Maclean do các nhân viên MI5 và Ban đặc biệt của tình báo Anh tiến hành khá lơi lỏng vào dịp cuối tuần, kể từ sau 8 giờ tối. Đặc biệt là hầu như không có nhân viên theo dõi ở nhà riêng của D. Maclean tại khu Tatsfield của London. Ngoài ra, tình báo Xô viết cũng xác định được chiếc tàu du lịch Falaise thường tiến hành các chuyến du ngoạn cuối tuần từ cảng Southampton của Anh, ghé vào một cảng của Pháp mà không đòi hỏi phải có hộ chiếu.

G. Burgess mua vé cho mình và D. Maclean dưới những cái tên giả cho chuyến du ngoạn xuất phát vào nửa đêm thứ sáu, ngày 25-5-1951. Cả ngày hôm trước, G. Burgess đã lang thang ở câu lạc bộ nơi những người quen của mình thường tụ tập, nói oang oang về dự định sẽ cùng một người bạn trai mới đi du lịch tới Scotland. Tối 25-5, đúng vào ngày sinh nhật thứ 38 của D. Maclean, G. Burgess lái một chiếc xe thuê tới nhà D. Maclean ở Tatsfield, ăn tối cùng vợ chồng D. Maclean. Sau đó, hai người lên xe đi Southampton, kịp đến bến cảng chỉ vài phút trước khi chiếc tàu Falaise khởi hành. Vội vã ra khỏi xe ở ngay ụ tàu, hai người theo cầu thang lên tàu. Một người trông coi ở ụ tàu gọi với theo G. Burgess, báo rằng cánh cửa của chiếc ô tô vẫn chưa đóng lại. “Chúng tôi sẽ quay lại vào thứ hai!” G. Burgess hét trả lời anh ta. Có lẽ khi nói vậy, G. Burgess vẫn tin rằng mọi việc sẽ diễn ra đúng như thế.

Chiếc tàu du lịch Falaise chuyên chở chủ yếu những hành khách đứng tuổi giàu có du ngoạn trên hải trình vượt qua eo biển Manche tới bờ biển nước Pháp rồi quay lại Anh. Về lí thuyết, nó chỉ được phép đi ngoài biển nhưng trên thực tế, những người tổ chức tour du lịch này thường cho tàu cập cảng St. Malo trong vài giờ đồng hồ để du khách có thể thưởng thức những món ăn Pháp hoặc đi dạo ngắm cảnh.

Vào lúc 11 giờ 45 phút trưa hôm sau, con tàu cập cảng. G. Burgess và D. Maclean để lại hành lí trên tàu, hòa cùng dòng người lên bến cảng rồi tách ra. Hai người lên taxi tới nhà ga xe lửa ở Rennes rồi đi tàu hỏa về Paris. Từ đây, hai người tiếp tục bắt tàu hỏa đi Thụy Sĩ, nơi họ nhận được những tấm hộ chiếu giả do sứ quán Liên Xô ở Bern cấp. Hai người tiếp tục lên tàu hỏa đi Zürich. Tại đó, hai người mua vé máy bay đi Stockholm, có chặng dừng ở Prague, thủ đô Tiệp Khắc. Tới Prague, trên lãnh thổ một nước cộng sản, hai người không đi tiếp mà rời sân bay, được nhân viên tình báo Xô viết tại đây đón tiếp.

Đúng vào thời điểm Melinda Maclean thông báo với Bộ Ngoại giao Anh rằng chồng mình không quay về nhà sau kì nghỉ cuối tuần thì cả G. Burgess và D. Maclean đã an toàn ở phía bên kia Bức Màn sắt!

+++++

Cuộc đào thoát hoàn hảo của D. Maclean và G. Burgess ngay trước mũi phản gián Anh đã gây rúng động cho toàn bộ giới điệp báo cũng như hệ thống các cơ quan chính phủ Anh. Ngay lập tức, xuất hiện những tin tức cho rằng đã có một nhân vật cao cấp giấu mặt nào đó trong hệ thống các cơ quan quyền lực của Anh biết về ý định của Bộ Ngoại giao Anh chuẩn bị thẩm vấn D. Maclean nên mới báo trước để hai điệp viên của Liên Xô kịp thời tẩu thoát ngoạn mục như vậy. Một làn sóng săn lùng điệp viên Xô viết bắt đầu dấy lên trong các cơ quan mật của Anh...

Cuộc đào thoát của hai người đã lập tức ảnh hưởng trực tiếp đến các thành viên còn lại trong Bộ Ngũ. Ngay sau khi hai người đào thoát, A. Blunt được lệnh tới căn hộ của G. Burgess thủ tiêu tất cả những tài liệu có thể làm chứng cứ để chống lại Bộ Ngũ. A. Blunt đã hoàn thành công việc này nhưng phạm phải một sơ suất chết người: Để sót lại không hủy một tài liệu ghi lại cuộc thảo luận bí mật giữa các thành viên chính phủ Anh diễn ra hồi năm 1939. MI5 lập tức vào cuộc. Tài liệu này không ghi rõ ai là người cung cấp nhưng khi bị các nhân viên MI5 tra vấn, Sir John Colville, một người được đề cập đến trong tài liệu, cho rằng tác giả của nó rất có thể là J. Cairncross! Thế là J. Cairncross, khi ấy vẫn đang là một viên chức của Bộ Tài chính, lập tức bị đặt dưới sự theo dõi ngặt nghèo của phản gián Anh.

Các nhân viên phản gián Anh một lần đã bí mật bám theo J. Cairncross tới cuộc gặp thường kì với sĩ quan tình báo Liên Xô chịu trách nhiệm điều khiển Bộ Ngũ ở London khi ấy là Y. Modin. J. Cairncross không nhận ra mình bị bám nhưng Y. Modin thì phát hiện ra những dấu hiệu bất thường nên đã không gặp J. Cairncross trong cuộc gặp đó mà chuyển sang cuộc gặp dự phòng khác sau đấy. Khi bị các nhân viên MI5 thẩm vấn, J. Cairncross thừa nhận có chuyển cho người Nga thông tin, nhưng phủ nhận việc mình là điệp viên của Liên Xô. Sau một thời gian theo dõi và thẩm vấn liên tục mà không nhận được lời thú tội đủ để làm bằng chứng chống lại J. Cairncross, MI5 đành bỏ cuộc. Trong cuộc gặp từ biệt với Y. Modin sau khi đã loại bỏ tất cả mọi sự đeo bám của phản gián Anh, J. Cairncross nhận được một khoản tiền do Trung tâm tình báo Moscow chuyển cho để giải quyết những khó khăn về kinh tế rồi rời Bộ Tài chính ra nước ngoài sinh sống, chấm dứt hoàn toàn liên lạc với tình báo Liên Xô.

Cũng ngay sau cuộc đào thoát của D. Maclean và G. Burgess, Trung tâm tình báo Moscow lệnh cho Y. Modin đề nghị với A. Blunt cũng sẽ theo chân hai người đào thoát sang Liên Xô để tránh nguy hiểm. Tuy nhiên, A. Blunt từ chối đề nghị này. A. Blunt biết rằng mình hoàn toàn không thể phù hợp được với cuộc sống kham khổ ở Liên bang Xô viết trong thời điểm đó. Nhưng điều quan trọng là A. Blunt biết chắc MI5 cũng không có bằng chứng đủ mạnh để có thể kết tội gián điệp cho mình. Các cuộc thẩm vấn A. Blunt do MI5 tiến hành diễn ra liên miên nhưng không thu được kết quả gì đáng kể. Tình báo Liên Xô, cụ thể là Y. Modin, sau đó còn có một vài cuộc tiếp xúc với A. Blunt, chủ yếu là để nhờ chuyển tiền cho Kim Philby, người đang hết sức khó khăn về kinh tế sau khi vụ việc đổ bể.

Về phần G. Burgess, sau khi đặt chân lên lãnh thổ Liên Xô đã không được Trung tâm tình báo Moscow cho phép quay lại Anh nữa. G. Burgess nhận một khoản tiền hưu hằng năm khoảng 2.000 rúp, trong khi D. Maclean nhận được nhiều gấp đôi! Thoạt đầu, hai người được bố trí định cư ở Kuibyshev, một thành phố công nghiệp cách Moscow cả ngàn cây số, sau đấy chuyển về ở Moscow. Cả hai đều được nhận quốc tịch Liên Xô dưới những cái tên giả, G. Burgess là Jim Andreyevich Eliot, còn D. Maclean là Mark Petrovich Frazer. Tháng 9-1953, tình báo Liên Xô đã tiến hành chiến dịch mang mật danh Sira, đưa Melinda và ba người con của D. Maclean sang Liên Xô đoàn tụ với chồng.

Trung tâm tình báo Liên Xô đánh giá rằng kể từ khi bắt đầu được tuyển mộ trong những năm 1934-1935 cho tới khi kết thúc hoạt động, trong suốt hơn 15 năm, chỉ riêng ba người là Kim Philby, D. Maclean và G. Burgess trong Bộ Ngũ đã gửi về Moscow hơn 20.000 trang tài liệu mật “có giá trị”, có nghĩa là mang lại những lợi ích tình báo. Một con số khổng lồ!

+++++

Image

Với Kim Philby, việc G. Burgess bất ngờ đào thoát theo D. Maclean mà không quay trở lại rõ ràng là một thảm họa. Buổi sáng sau khi người ta phát hiện ra D. Maclean và G. Burgess biến mất, một bức điện có dấu tuyệt mật được gửi tới sứ quán Anh ở Washington. Geoffrey Paterson, đại diện của MI5 ở Washington cho người dịch bức điện rồi gặp Kim Philby ở văn phòng sứ quán với khuôn mặt tái dại. “Kim”, G. Paterson thì thào, “con chim đã bay đi rồi”. “Chim nào?” Philby hỏi lại, “Không phải Maclean đấy chứ?” “Còn tệ hơn nữa cơ. Cả Burgess cũng biến đi cùng anh ta rồi”.

Cả Geoffrey Paterson, với tư cách đại diện của MI5 lẫn Kim Philby, đại diện của MI6 ở Mỹ, lập tức được triệu tới Tổng hành dinh FBI để gặp Robert J. Lamphere, khi ấy mới ba mươi hai tuổi, là cục phó phụ trách công tác phản gián của FBI. Đấy là một cuộc gặp không mấy dễ chịu. Robert J. Lamphere tỏ vẻ vô cùng bực tức vì cho rằng MI5 đã giữ kín các hoạt động điều tra về D. Maclean, không thông báo cho FBI biết và vì thế mới xảy ra cơ sự tệ hại về cuộc đào thoát của hai điệp viên Xô viết ngay trước mũi phản gián Anh.

Cũng vì vậy mà FBI hầu như không có mấy dư địa để có thể hành động điều tra các hoạt động của Bộ Ngũ vì thông tin nhận được quá ít.

Dẫu vậy, cả Kim Philby lẫn sĩ quan tình báo Xô viết điều khiển ở Mỹ đều biết là tiếng chuông báo động đã điểm. Có quá nhiều những điểm đáng ngờ tập trung vào Kim Philby. Mới vài tuần trước, G. Burgess còn là khách trú trong nhà Kim Philby ở Washington. Chính Kim Philby là một trong số ít người nắm được quá trình điều tra liên quan đến điệp viên mang mật danh Homer và như vậy, ở vào vị trí lí tưởng để có thể báo động cho D. Maclean chạy trốn. Cả ba người đều từng học ở Cambridge. Sẽ chỉ là vấn đề thời gian trước khi MI5 đào bới quá khứ cũng như tình bạn giữa Kim Philby với G. Burgess. Rất có khả năng Kim Philby sẽ phải nằm dưới sự giám sát, bị sa thải, thậm chí có thể bị bắt ở bất cứ thời điểm nào.

Một kế hoạch khẩn cấp bố trí cho Kim Philby chạy trốn nhanh chóng được lập ra. Nếu có dấu hiệu MI5 sắp sửa động thủ, tình báo Xô viết sẽ cung cấp tiền và giấy tờ giả cho Kim Philby trốn qua ngả Trung Mỹ hoặc Mexico. Để chuẩn bị cho kế hoạch này, sĩ quan điều khiển V. Makayev ở New York được lệnh phải đặt 2.000 USD cùng với một bức thư ở hộp thư chết cho Kim Philby có thể đến lấy bất cứ lúc nào. V. Makayev đã không thực hiện điều này và Kim Philby không nhận được bất cứ khoản tiền nào.

Việc khẩn cấp mà Kim Philby phải làm khi nhận được tin G. Burgess cũng biến mất cùng D. Maclean, ấy là lao nhanh về nhà mình ở Đại lộ Nebraska. Tại đó, Kim Philby kiếm được một cái xẻng rồi xuống tầng hầm, nơi cất giấu một chiếc máy ảnh Liên Xô, chân đế để gắn máy ảnh và các cuộn phim. Kim cho tất cả vào một cái bao chống thấm nước rồi ném vào khoang hành lí của ô tô, lái về phía bắc Washington. Tại đó, trong một khu rừng ngay gần sông Potomac, Kim Philby nhanh chóng dùng xẻng đào một cái hố, chôn kĩ những vật phẩm nguy hiểm có thể làm bằng chứng chống lại mình rồi quay về nhà.

Nhưng khi ấy, Kim Philby đã đi tới một quyết định dứt khoát: Không đào thoát giống như hai người bạn mình trong Bộ Ngũ. Cho đến lúc ấy, Kim Philby biết chắc là phản gián cả của Mỹ và Anh đều chưa xác định được điệp viên Stanley - mật danh của Kim - là ai. Quá khứ tả khuynh thời trai trẻ của Kim có thể bị lục lại, nhưng Kim đã nói rất rõ điều đó với người đứng đầu Phòng 5 Ban các chiến dịch đặc biệt SOE của MI6 là Valentine Vivian khi được tuyển vào đây. Tình bạn với G. Burgess tất nhiên là điểm đáng ngờ nhất, thế nhưng nếu cả hai thực sự đều là điệp viên, chẳng lẽ Kim Philby lại ngờ nghệch đến mức để cho G. Burgess sống chung trong một nhà ở Washington?

Nói tóm lại, Kim Philby kết luận rằng MI5 có thể nghi ngờ, thẩm vấn, gài bẫy ép buộc để có được lời thú tội, nhưng không có bằng chứng nào thực sự xác đáng để có thể khởi tố và kết tội làm gián điệp cho mình.

Người Mỹ, sau vụ đào thoát của G. Burgess, dĩ nhiên cũng lập tức hướng mọi sự nghi ngờ vào Kim Philby. Tuy nhiên, họ vẫn phải e dè trước cương vị đại diện cho tình báo Anh tại Mỹ của Kim. Bởi vậy, Tướng Walter Bedell Smith, khi ấy là giám đốc Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA, đánh một bức điện mật cho tình báo Anh, thông báo rằng phía Mỹ không chấp nhận một sĩ quan liên lạc giữa hai cơ quan tình báo ở Washington. Ngày 12-6-1951, Kim Philby bị triệu hồi về London.

Thật ra, tình báo Mỹ đã từng nghi ngờ Kim Philby từ rất lâu trước khi xảy ra vụ đào thoát của hai nhân viên Bộ Ngoại giao Anh. Tuy nhiên, khi vụ đào thoát xảy ra, Giám đốc CIA Walter Bedell Smith đã yêu cầu các bộ phận làm báo cáo liên quan đến hai đối tượng tình nghi chính là G. Burgess và người bạn, Kim Philby.

Có hai báo cáo gửi tới bàn làm việc của Tướng Walter Bedell Smith. Một báo cáo của Bill Harvey và một của James Angleton, đều là các nhân viên CIA lão luyện. Trong báo cáo của Bill Harvey đã chỉ rõ những mối nghi ngờ nhằm vào Kim Philby dựa trên bốn yếu tố cơ bản: Là bạn thân của G. Burgess; vai trò cùa Kim trong vụ điệp viên Xô viết chuẩn bị đào thoát K. Volkov biến mất; những thất bại của các chiến dịch thả dù ở Albania và cuối cùng là sự can dự của Kim trong quá trình tìm kiếm điệp viên Homer của dự án Venona. Mặc dù cả bốn yếu tố này đều không thể giúp kết tội được một cách chắc chắn, nhưng báo cáo đưa ra kết luận: “Kim Philby là một điệp viên Xô viết”.

Trong khi đó, báo cáo của James Angleton hoàn toàn ngược lại, khẳng định Kim Philby không phải là kẻ phản bội mà có chăng chỉ là một quý ông đã bị một người bạn có tâm tính bất bình thường lợi dụng. Báo cáo cũng cảnh báo rằng nếu CIA đưa ra lời kết tội vô căn cứ đối với một sĩ quan cấp cao của MI6 thì điều này có thể làm tổn hại nghiêm trọng đến quan hệ Anh - Mỹ.

Những báo cáo này đã phản ánh các quan điểm khác biệt, thậm chí trái ngược nhau, trong cộng đồng tình báo Mỹ đối với Kim Philby.

Về tới London, Kim Philby lập tức phải trải qua hàng loạt cuộc thẩm vấn liên tục, nhưng không để lộ ra bất cứ một sơ hở nào khiến các nhân viên phản gián Anh có thể căn cứ vào đó để kết tội mình. Tháng 12-1951, Kim Philby phải ra điều trần trước một “bồi thầm đoàn” tại Tổng hành dinh của MI5. Tại cuộc điều trần này, trước những lời chất vấn gay gắt của các sĩ quan phản gián giàu kinh nghiệm của Anh, Kim Philby đã bác bỏ mọi nghi ngờ, khẳng định giữa mình và G. Burgess chỉ đơn thuần là tình bạn. Cuộc điều trần đi tới kết luận rằng sẽ không bao giờ có thể tìm được những bằng chứng xác đáng để tiến hành một vụ tố tụng thành công chống lại Kim Philby. Cũng như các đồng nghiệp Mỹ, cộng đồng tình báo Anh bị chia rẽ xung quanh vụ việc của Kim. Nhiều đồng nghiệp của Kim Philby trong Cục Tình báo mật MI6 cho rằng Kim hoàn toàn vô tội và rất có thể là nạn nhân của căn bệnh “săn lùng gián điệp cộng sản” ở Mỹ do Thượng nghị sĩ chống cộng McCarthy khởi xướng.

Nhưng cũng kể từ đó, Kim Philby còn phải trải qua hàng loạt cuộc thẩm vấn gắt gao và nằm dưới sự theo dõi giám sát không ngừng nghỉ của phản gián Anh. Tuy nhiên, Kim Philby vẫn vượt qua hết các cuộc thẩm vấn với những câu hỏi hóc hiểm mà người thực hiện hầu hết đều là những người Kim quen biết trong MI5 và MI6. Sau một quá trình dài điều tra, MI6 không thể tìm được bằng chứng để kết tội Kim nhưng mùa thu 1952, vẫn quyết định sa thải Kim Philby với một khoản tiền trợ cấp ít ỏi.

Trong suốt thời kì khủng hoảng từ 1951 đến 1954, tình báo Liên Xô hoàn toàn chấm dứt mọi tiếp xúc với Kim Philby.

Với một người vợ và năm đứa con, hoàn cảnh kinh tế của Kim trong thời gian này vô cùng khó khăn. Kim Philby nỗ lực tìm việc làm nhưng đều thất bại. Sử dụng nghề cũ là một phóng viên, Kim viết bài cho các báo nhưng không có thu nhập thường xuyên. Mãi về sau, Jack Ivens, một người quen cũ của Kim trong Ban 5 của MI6, mới tìm được cho Kim một chân trong công ty xuất nhập khẩu với khoản tiền lương chỉ 600 bảng một năm.

Biết được tình cảnh khó khăn của Kim Philby, Trung tâm tình báo Moscow quyết định hỗ trợ người điệp viên xuất chúng của mình. Tháng 6-1954, Y. Modin, người chịu trách nhiệm điều khiển Bộ Ngũ trước đây lại được cử sang London và bắt liên lạc lại với A. Blunt, khi ấy là giám đốc Viện nghệ thuật Courtauld. Qua A. Blunt, Y. Modin đã chuyển cho Kim Philby 5.000 bảng tiền mặt, một sự giúp đỡ vô giá về vật chất và tinh thần cho Kim Philby.

Nhưng những chặng đường khó khăn của Kim Philby vẫn còn ở phía trước.

+++++

Chủ nhật, ngày 23-10-1955, trên trang nhất của tờ Sunday News phát hành tại New York, Mỹ có đăng một bài báo nêu tên Kim Philby chính là “Người Thứ Ba”, sau hai điệp viên đã đào thoát sang Liên Xô là D. Maclean và G. Burgess. Việc đăng bài báo này là sản phẩm của E. Hoover, giám đốc FBI. Với việc chủ động rò rỉ tên của Kim Philby cho báo chí, E. Hoover rõ ràng muốn gây sức ép để nhà chức trách Anh phải điều tra đến nơi đến chốn vụ việc các điệp viên Liên Xô hoạt động ở Anh và Mỹ. Trong suốt hơn bốn năm kể từ vụ đào thoát của hai người bạn trong Bộ Ngũ, tên của Kim Philby không hề xuất hiện trên các trang báo. Nhưng nay, khi mà tờ báo của Mỹ đã đưa tên của Kim Philby ra một cách công khai thì cuộc săn đuổi Kim lại tiếp tục.

Hai ngày sau khi tờ Sunday News đăng câu chuyện về Kim Philby thì đến thứ ba, ngày 25-10-1955, Nghị sĩ Công Đảng Anh Marcus Lipton, trong phiên điều trần trước Nghị viện Anh, chính thức buộc tội Kim Philby là “Người Thứ Ba”.

Kim Philby quyết định phản công. Ngày 8-11-1955, vào lúc 11 giờ trưa, tại căn hộ của mẹ mình, Kim Philby đã tổ chức cuộc họp báo trước đông đảo báo giới nhằm phản bác những lời buộc tội nhằm vào mình. Trong buổi họp báo này, Kim Philby đọc một bản tuyên bố đã chuẩn bị từ trước, trong đó giải thích lí do vì sao không lên tiếng trước đó. Theo Kim, do bị ràng buộc vì đã kí tuân thủ Đạo luật an ninh quốc gia của Anh nên Kim Philby không được quyền tiết lộ những thông tin liên quan đến các hoạt động bí mật mà mình tham dự. Trong phần hỏi đáp, Kim Philby khẳng định lần đầu tiên nói chuyện với một người cộng sản là vào năm 1934, còn lần cuối, là với G. Burgess, nhưng hoàn toàn không biết đấy là một người cộng sản, vào khoảng cuối tháng 4, đầu tháng 5-1951, khi người này ở cùng nhà với Kim tại Washington. Kim cũng thách Nghị sĩ M. Lipton nhắc lại lời buộc tội ở bên ngoài phòng họp của Nghị viện Anh, hoặc chuyển những bằng chứng kết tội của ông ta cho nhà chức trách.

M. Lipton không có lựa chọn nào khác là rút lại lời buộc tội, nói rằng ông ta “lấy làm tiếc một cách sâu sắc” về những gì đã phát biểu ở Nghị viện Anh. Kim Philby đã thắng trong cuộc đấu cân não này.

Mùa hè năm 1956, Nicholas Elliott, một điệp viên cao cấp của MI6, đồng thời là người bạn lâu năm của Kim, đề nghị với David Astor, chủ bút tờ The Observer, thu xếp cho Kim Philby chân phóng viên tự do của tờ The Observer ở thủ đô Lebanon. David Astor, vốn cũng từng có thời gian hoạt động cho tình báo Anh, vui vẻ nhận lời. Không những thế, David Astor còn liên hệ với Donald Tyerman, chủ bút tờ The Economist, người cũng đang tìm kiếm một chân phóng viên cho khu vực Trung Đông. Vậy là một thỏa thuận được hình thành: Hai tờ The ObserverThe Economist sẽ chia sẻ khoản 3.000 bảng tiền lương hằng năm trả cho Kim Philby, chưa kể tiền công tác phí, đi lại. Kim nhanh chóng nhận lời và tới Beirut, nơi cha mình cũng đang sống tại đó.

Trong thời gian ở Beirut, uy tín của Kim Philby trong giới truyền thông ở đây tăng cao nhờ hàng loạt những bài phân tích sắc sảo trên hai tờ The ObserverThe Economist.

Nhưng cũng ở đây, Kim Philby đã bắt liên lạc lại được với cơ quan tình báo Liên Xô, lúc này đã mang tên gọi là Ủy ban An ninh Quốc gia Liên Xô KGB, thông qua Đại diện thương mại Petukhov, một điệp viên KGB. Hai người thỏa thuận rằng nếu Kim Philby muốn có một cuộc gặp với KGB thì vào giờ đã định trước, sẽ đứng trên ban công căn hộ của mình với một cuốn sách trên tay.

Cũng trong thời gian đó, Nicholas Elliott được bổ nhiệm làm Trưởng trạm MI6 ở Beirut.

+++++

Đến cuối năm 1961 đầu năm 1962 đã có hai sự biến lớn ảnh hưởng đến sự nghiệp tình báo của Kim Philby.

Ngày 22-12-1961, một người đàn ông đã gõ cửa phòng Frank Freiberg, trưởng đại diện của CIA tại Helsinki, Phần Lan. Bằng một thứ tiếng Anh cực tồi, người đàn ông này tuyên bố muốn đào thoát sang phương Tây. Người này là Thiếu tá Anatoliy Golitsyn, một điệp viên từng có nhiều năm làm việc tại Tổng cục 1 KGB. Anh ta đã dự định đào thoát sang phương Tây từ lâu và cách tốt nhất để chuẩn bị cho cuộc đào thoát là nhớ càng nhiều càng tốt những thông tin bí mật thu lượm được trong thời gian làm việc bàn giấy ở Tổng hành dinh KGB.

Anatoliy Golitsyn là một món quà quý đối với CIA bởi rất nhiều thông tin mà anh ta mang theo trong đầu và một chiếc cặp khi đào thoát ở Phần Lan. Tháng 3-1962, chính người đứng đầu bộ phận phản gián trong CIA là J. Angleton cho phép A. Golitsyn sang London để trả lời các câu hỏi chất vấn của tình báo Anh.

Mười lăm năm làm việc trong KGB cho phép A. Golitsyn tích lũy được khá nhiều thông tin tối mật mà theo tuyên bố của anh ta là “đáng tin cậy”. Tại London, A. Golitsyn đã tiết lộ cho các nhân viên phản gián Anh nhiều thông tin quý giá, chẳng hạn như KGB đã tuyển mộ được cả tá điệp viên ở phương Tây, trong đó có một mạng lưới ở Pháp mang mật danh là Sapphire và một điệp viên trong CIA có mật danh là Sasha.

Tuy nhiên, một thông tin mà A. Golitsyn cung cấp khiến cho phản gián Anh đặc biệt chú ý là khi ở KGB, anh ta đã nghe về “một đường dây gián điệp tối quan trọng ở Anh được gọi là Bộ Ngũ”, gồm những sinh viên học ở đại học tổng hợp và mạng lưới này đã cung cấp các thông tin tình báo cực kì giá trị cho phía Xô viết. A. Golitsyn không nêu được rõ tên hay thậm chí mật danh điệp viên Stanley là Kim Philby, nhưng chỉ riêng những thông tin mà anh ta cung cấp đó cũng khiến cho cuộc săn lùng gián điệp do MI5 tiến hành trước đấy lại được tiếp tục.

Nếu những thông tin do Anatoliy Golitsyn cung cấp chưa đủ để các nhà điều tra Anh vào cuộc thì những thông tin do Flora Solomon, một người phụ nữ là bạn lâu năm của gia đình Kim Philby, cung cấp, đã là những mảnh ghép thích hợp cuối cùng để dựng nên một bức tranh hoàn chỉnh về hoạt động tình báo của Kim.

Flora Solomon, vốn là người đã giới thiệu cô vợ thứ hai Aileen cho Kim Philby và dự đám cưới của hai người, là một phụ nữ có quan điểm ủng hộ Israel. Khi biết tin Kim Philby làm việc cho tờ The Observer, Flora Solomon quyết định hành động chống lại Kim do cho rằng tờ The Observer có quan điểm chống Israel. Trong một cuộc gặp gỡ ở Trung Đông với Victor Rothschild, cũng là một người bạn chung của F. Solomon và Kim Philby, F. Solomon nói: “Làm sao mà cái tờ The Observer đó lại dùng một người như Kim được nhỉ? Chẳng lẽ họ không biết anh ta là cộng sản sao?”.

Victor Rothschild lắng nghe một cách cẩn thận và khi F. Solomon quay về London, đề nghị bà ta gặp một nhân viên MI5 tại căn hộ của V. Rothschild. Trong cuộc gặp này, F. Solomon khẳng định từ cuối năm 1937 và trong năm 1938, ngay trong thời gian trước khi kí hiệp ước Munich, Kim Philby đã định tuyển mộ bà ta làm gián điệp cho tình báo Liên Xô.

Chừng đó là phản gián Anh thấy đã có đủ dữ liệu để tiếp tục lần theo dấu vết hoạt động của Kim Philby. Ngoài những lời khai của A. Golitsyn và F. Solomon, phản gián Anh cũng lần lại lời khai của điệp viên đào thoát W. Krivitsky hồi năm 1940 về “một gián điệp Liên Xô đã từng là phóng viên hoạt động ở Tây Ban Nha”. Tất cả đều khớp với Kim Philby.

Tuy nhiên, dù đã xác định được hầu như chắc chắn Kim Philby là điệp viên Liên Xô, nhưng vấn đề không đơn giản là bắt giữ rồi tiến hành một phiên toàn xét xử Kim tội làm gián điệp. Ngay cả khi F. Solomon khai có tuyên thệ trước tòa đi chăng nữa thì những thông tin bà ta cung cấp vẫn chủ yếu dựa trên những lời đồn đoán. Trước đấy ít lâu, George Blake, điệp viên mang mật danh Diomid của Liên Xô đã bị kết án bốn mươi hai năm tù vì những lời thú nhận của mình, nhưng với Kim Philby thì mọi sự có thể khác. Kim có thể hoàn toàn phủ nhận mọi lời buộc tội và như vậy thì bất kì một phiên tòa nào cũng sẽ gây nên sự bối rối nếu không kết tội được Kim, đặc biệt là khi ấy Kim vẫn còn được MI6 trả lương! Một phiên tòa như vậy sẽ là thảm họa về mặt chính trị và có thể dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ Bảo thủ Anh.

Vấn đề càng trở nên nhạy cảm hơn đối với Thủ tướng Harold Macmillan: Khi còn làm Bộ trưởng Ngoại giao, ông đã lên tiếng tuyên bố Kim Philby hoàn toàn trong sạch! Giờ đây, nếu không có được lời thú tội của chính Kim Philby thì một phiên tòa bị đổ vỡ là điều hoàn toàn có thể.

Cũng có một lựa chọn khác mà phản gián Anh cân nhắc, đó là lừa cho Kim Philby quay về Anh, có thể bằng một lệnh triệu hồi của tòa soạn báo nơi Kim đang công tác, rồi ép Kim Philby phải thú tội. Tuy nhiên, phản gián Anh cho rằng Kim cũng đã biết rất rõ cái bẫy mà điệp viên Xô viết George Blake từng bước vào và không đời nào lại sa chân vào một cái bẫy tương tự.

Thậm chí đã nảy sinh những phương án cực đoan hơn như bắt cóc Kim Philby từ Beirut, hoặc tiến hành thủ tiêu Kim. Tuy nhiên, với việc Chiến tranh Lạnh đang dần được đẩy lên đỉnh cao căng thẳng, việc bắt cóc hoặc ám sát một điệp viên Xô viết có thể gây nên những hậu quả khó lường trước được. Hơn nữa, chỉ để Kim còn sống thì mới hi vọng tiếp tục lần ra những điệp viên Xô viết đang hoạt động trong hệ thống các cơ quan mật và chính quyền Anh.

Vậy là chỉ có một lựa chọn khả dĩ duy nhất để có được lời thú tội của Kim Philby: Arthur Martin, một sĩ quan phản gián dày dạn kinh nghiệm của MI5, người chịu trách nhiệm theo sát vụ Kim Philby từ năm 1951, sẽ bay tới Beirut càng sớm càng tốt và trưng ra những bằng chứng chống lại Kim. Cuộc mặc cả sẽ diễn ra như thế này: Để đổi lấy việc không bị truy tố ra tòa, Kim Philby sẽ phải thú tội và hoàn toàn hợp tác với phản gián Anh.

Nhưng đúng vào lúc Arthur Martin đang gấp rút chuẩn bị các tài liệu cho chuyến đi Beirut để “bẻ gãy” Kim thì Nicholas Elliott xuất hiện.

Giữa Kim Philby và Nicholas Elliott có quá nhiều điểm chung. Cả hai đều đã từng học ở Cambridge, cùng tham gia hoạt động tình báo trong thời kì Đệ nhị thế chiến, cùng thăng tiến qua các ngạch bậc trong cơ quan tình báo Anh. Cả hai cùng là thành viên của những câu lạc bộ thượng lưu sang trọng, uống rượu ở cùng một tiệm rượu, mặc những loại quần áo được may cắt cầu kì giống nhau và đều kết hôn với những phụ nữ trong cùng đẳng cấp với mình. Tóm lại, giữa hai người có một tình bạn lâu dài và đã chia sẻ với nhau rất nhiều bí mật. Có lẽ chỉ có duy nhất một bí mật mà Nicholas Elliott không biết: Kim Philby là điệp viên Xô viết.

Từ tháng 10-1962, Nicholas Elliott, lúc này đã thôi làm Trưởng trạm MI6 ở Beirut mà được bổ nhiệm một vị trí mới, làm giám đốc MI6 toàn vùng châu Phi, có trụ sở ở London. Người thay thế Nicholas Elliott làm Trưởng trạm MI6 ở Beirut không phải ai khác chính là Peter Lunn, cựu vận động viên trượt tuyết, từng làm Trưởng trạm MI6 ở Vienna và đã tiến hành thành công chiến dịch gắn máy nghe trộm vào các đường cáp thông tin của Liên Xô tại đây hồi cuối thập niên 1940.

Khi nghe thông báo những thông tin mới nhất về cuộc đời bí mật của Kim, Nicholas Elliott bèn tìm đến Dick White, giám đốc Cục Tình báo mật MI6, đề nghị cho mình thay Arthur Martin quay lại Beirut để thẩm vấn người bạn thân của mình. Với tình bạn giữa hai người kéo dài hơn quá nửa đời người, không ai thích hợp hơn Nicholas Elliott để lấy được lời thú tội của Kim Philby! Dick White đồng ý. CIA không được thông báo về những bằng chứng mới kết tội Kim Phiỉby cũng như chuyến đi của N. Elliott nhằm mặt đối mặt với Kim. Nếu biết được thì rất có thể James Angleton sẽ đòi phải được tham dự theo một cách nào đấy. Tốt nhất là chỉ thông báo cho CIA một khi mọi việc đã xong xuôi.

Ngày 10-1-1963, N. Elliott tới Beirut, thuê căn phòng nhỏ trong một khách sạn, cách xa mọi sự nhòm ngó của giới báo chí cũng như các điệp viên ở địa phương. Chỉ có Trưởng trạm MI6 Peter Lunn biết về sự có mặt của N. Elliott trong thành phố. Hôm sau, hai người bàn bạc kĩ lưỡng kịch bản để đưa Kim vào bẫy. Peter Lunn có một căn hộ bí mật trong khu chung cư Christian gần bờ biển. Căn phòng nơi diễn ra cuộc gặp được một nhân viên kĩ thuật của MI6 lắp một cái micro dưới gầm ghế sofa, có dây dẫn chạy ngầm nối sang phòng bên cạnh tới một máy ghi âm. N. Elliott mua vài chai rượu mạnh, còn Peter Lunn, bằng một giọng cố làm ra vẻ hết sức bình thường, gọi điện thoại cho Kim Philby, đề nghị có một buổi gặp uống trà ở căn hộ bí mật, nơi hai người có thể tán gẫu một cách riêng tư “để bàn thảo về các kế hoạch cho tương lai”. Kim Philby đồng ý gặp vào chiều hôm sau.

Vào lúc 4 giờ chiều ngày 12-1-1963, Kim Philby, đầu vẫn còn băng bó vì bị ngã do say rượu hôm lễ mừng năm mới trước đấy, leo lên cầu thang và gõ cửa căn hộ đã được hẹn trước. Cửa mở, đón Kim Philby không phải là Peter Lunn mà là người bạn thân, N. Elliott.

+++++

Hai người bạn thân, hai điệp viên kì cựu của tình báo Anh, bắt tay nhau. Sau khi nhân viên phục vụ của sứ quán Anh bưng trà lên rồi ra khỏi phòng, hai người ngồi xuống. Ở phòng bên cạnh, Peter Lunn và một nhân viên tốc kí, cả hai đều đeo tai nghe, ngồi im lặng lắng nghe từng tiếng động được ghi vào máy thu âm. N. Elliott rõ ràng không phải là một chuyên gia trong lĩnh vực nghe trộm. Sau khi Kim Philby tới một lúc, ông ta ra mở cánh cửa sổ và kết quả là những tiếng động từ đường phố Beirut bên ngoài tràn vào căn hộ. Một trong những cuộc đối thoại quan trọng nhất trong thế giới điệp báo thời kì Chiến tranh Lạnh đã được ghi âm xen lẫn với tiếng còi ô tô, tiếng động cơ ầm ì, những giọng nói Ả Rập lao xao và cả âm thanh va chạm lanh canh của những tách trà Trung Quốc.

Sau màn hỏi thăm về sức khỏe và tình hình gia đình của nhau, Kim Philby nói:

- Đừng nói với tôi rằng anh bay cả chặng đường dài tới đây chỉ để gặp tôi?

Elliott lấy một chiếc bút máy hiệu Montblanc từ trong túi ra đặt lên bàn rồi bắt đầu xoay tới xoay lui dưới bàn tay mình. Đấy có thể là biểu hiện của sự căng thẳng, nhưng cũng là một thủ thuật thẩm vấn cổ xưa nhằm gây sao nhãng sự chú ý.

- Vì chúng ta đã hiểu nhau quá rõ nên nếu như anh không phiền, tôi sẽ đi vào điểm chính ngay, Kim. - N. Elliott nói. - Không may là điều đó không dễ chịu chút nào.

Một quãng ngừng ngắn.

- Tôi tới để nói với anh rằng quá khứ của anh đã bắt kịp anh rồi. - N. Elliott nói.

Kim Philby phản ứng tức khắc:

- Tất cả các anh lại rồ lên rồi hẳn? Anh muốn lại bắt đầu từ đầu à? Sau chừng ấy năm? Anh đánh mất khiếu hài hước rồi. Anh đang làm trò cười đấy à?

- Không, tôi không đánh mất cái gì hết. Chúng tôi đã có những thông tin mới bổ sung về anh. Tất cả đều khớp.

- Những thông tin nào? Và nó khớp với cái gì?

Elliott bước đến cửa sổ, nhìn xuống đường:

- Nghe này Kim. Anh biết là tôi luôn đứng về phía anh trong suốt thời gian người ta nghi ngờ anh. Nhưng nay thì đã có những thông tin mới. Người ta đã cho tôi xem. Nay thì tôi tin chắc, tuyệt đối tin, là anh làm việc cho tình báo Xô viết. Anh làm việc cho họ tới năm 1949.

Kim Philby biết vì sao lại nói năm 1949 là mốc thời gian mà Kim ngừng hoạt động gián điệp cho phía Xô viết. Mọi sự rất đơn giản: Đó là năm mà Kim Philby được cử tới Washington. Nếu Kim Philby thừa nhận vẫn tiếp tục hoạt động trong thời gian ở Mỹ thì James Angleton, CIA và FBI sẽ muốn biết những bí mật nào của Mỹ đã bị Kim Philby đánh cắp, và như vậy, có thể yêu cầu trục xuất để Kim phải đối mặt với luật pháp Mỹ. Khi ấy, cuộc mặc cả nhằm miễn tội cho Kim Philby sẽ vô giá trị. N. Elliott muốn Kim Philby thú nhận tội làm gián điệp, nhưng chỉ đến năm 1949 thôi. Khi ấy, mọi việc sẽ được giải quyết trong nhà với nhau, trong nội bộ MI6, không có sự can dự của người Mỹ.

Kim Philby quyết liệt phản bác. Bất chấp việc N. Elliott, lúc thì lịch sự, lúc nổi nóng, ra sức thuyết phục, Kim luôn viện dẫn tình bạn lâu năm với N. Elliott ra và coi những lời buộc tội của phản gián Anh, sau chừng ấy năm, là điều quá ngớ ngẩn. Cuối cùng N. Elliott lật ngửa bài: Nếu thú tội, quay về London hoặc nếu thích thì cứ ở lại Beirut, Kim sẽ được miễn truy tố; nhưng Kim sẽ phải khai ra tất cả, không ngoại trừ bất cứ một thứ gì: Mọi mối liên lạc với tình báo Xô viết, mọi điệp viên đang hoạt động ngầm ở Anh, mọi bí mật đã chuyển cho Moscow trong thời gian hoạt động gián điệp.

Kim Philby im lặng. N. Elliott tung ra đòn tiếp theo: Nếu từ chối tham gia cuộc chơi, phủ nhận tất cả mọi lời buộc tội, Kim sẽ bị để lại một mình trong giá lạnh. Hộ chiếu bị tịch thu, tư cách công dân bị tước bỏ. Thậm chí còn không thể mở một tài khoản ở ngân hàng. Kim sẽ không được làm việc cho bất cứ một tờ báo Anh nào nữa. Những đứa con của Kim sẽ bị chuyển ra khỏi những trường học đắt giá. Kim sẽ sống suốt quãng đời còn lại trong tình trạng không một xu dính túi, như một “thằng hủi”, theo lời của N. Elliott.

Kim Philby bước ra phía cửa. Bữa tiệc trà giữa những người bạn cũ đã qua.

- Nếu anh chấp nhận hợp tác, chúng tôi sẽ miễn truy tố. Sẽ không có bất cứ thứ gì được công bố. - N. Elliott nói. - Anh là một gã may mắn đấy Kim. Anh có đúng hai mươi bốn giờ đồng hồ để quyết định. Hãy quay lại đây vào đúng 4 giờ chiều mai. Tôi nghĩ nếu là người thông minh, anh sẽ chấp nhận thỏa thuận.

Cánh cửa đóng lại sau lưng Kim Philby.

+++++

Image

Đúng 4 giờ chiều hôm sau, Kim Philby lại xuất hiện ở căn hộ bí mật. “Được rồi, đây là tin độc quyền nhé”, Kim nói, “nhưng trước hết cho tôi một li đã. Tôi đã nhịn uống kể từ hôm sinh nhật vào đúng dịp năm mới rồi”.

N. Elliott rót hai li lớn rượu mạnh, chia mỗi người một li.

Rồi Kim Philby bắt đầu nói, có lẽ đã chuẩn bị trước, một bài nói pha trộn các yếu tố vừa là sự thật, vừa chỉ có một nửa sự thật hoặc hoàn toàn “sáng tác” ra. Kim thừa nhận đã được tình báo Xô viết tuyển mộ thông qua người vợ đầu tiên Litzi (không hoàn toàn đúng như vậy), và đến lượt mình, lại tuyền mộ D. Maclean và G. Burgess (chính xác). Rồi Kim rút từ trong túi ra hai tờ giấy đã được đánh máy cẩn thận, liệt kê có lẽ chưa đầy đủ, những công việc mình đã làm cho Moscow, với một ít chi tiết và những cái tên thậm chí còn ít hơn. Kim thừa nhận đúng là được tuyển mộ năm 1934 nhưng lập tức chấm dứt hoạt động cho tình báo Xô viết ngay sau khi Đệ nhị thế chiến kết thúc, do “nhận thức được con đường đã chọn là sai lầm”. Đúng là Kim đã báo động để D. Maclean trốn thoát vào năm 1951, nhưng hành động đó đơn thuần chỉ là một người bạn bảo vệ một người bạn, chứ không phải là một điệp viên giúp đỡ một điệp viên. Kim cũng nêu tên những điệp viên KGB từng điều khiển mình trước đấy, nhưng tuyệt nhiên không nhắc gì đến những sĩ quan tình báo Xô viết từng cùng làm việc ở Istanbul, Washington, London và Beirut.

- Anh đã liên lạc với Nedosekin chưa? - N. Elliott hỏi, đề cập đến tên của trưởng trạm KGB tại Beirut, người từng điều khiển điệp viên Diomid - George Blake trước khi điệp viên này bị bắt giữ.

- Tôi không có bất cứ liên lạc nào cả. - Kim Philby nói dối. - Tôi đã ngừng liên lạc với KGB rồi.

N. Elliott biết rằng Philby mới chỉ nói rất ít về hoạt động gián điệp của mình. Bản thú tội trên hai trang giấy ấy thật ra rất hạn chế và còn lâu mới có thể coi như là một bằng chứng đủ để kết tội trước tòa. Tuy nhiên, N. Elliott tin rằng với việc thú nhận mình đã được tuyển mộ, Kim Philby sẽ dần dần khai ra những thông tin tiếp theo. Rõ ràng Kim đã chấp nhận luật chơi về nguyên tắc: Đổi thông tin lấy tự do. Lúc này MI6 đã có được một phần của bản thú tội. Một khi đã bắt đầu khai, Kim sẽ không thể quay lại được nữa. N. Elliott quyết định tăng dần sức ép.

- Lời hứa miễn tội của chúng tôi tùy thuộc vào việc anh có cung cấp cho chúng tôi toàn bộ thông tin hay không. Trước hết, chúng tôi muốn biết tất cả thông tin về những ai đã làm việc cho Moscow. Dẫu sao thì đến giờ, chúng tôi cũng đã biết về họ rồi. - N. Elliott nói.

Đây là một cái bẫy, chỉ có điều Kim Philby không xác định chắc chắn được chính xác nó nguy hiểm đến mức nào. N. Elliott đã biết những gì rồi? Liệu A. Blunt có bị bắt và đã khai gì chưa? Phải chăng đây là một thủ thuật thẩm vấn cổ điển, khi N. Elliott đưa ra những câu hỏi mà ông ta đã biết chắc câu trả lời?

Trong suốt hai giờ đồng hồ sau đó, cho đến khi màn đêm buông xuống Beirut, giữa Kim Philby và N. Elliott đã diễn ra cuộc đấu trí căng thẳng nhưng cân bằng, với những lời hỏi đáp bất tận. Kết thúc bữa rượu thẩm vấn, Kim Philby gợi ý mời N. Elliott tới nhà mình ăn tối. Bà vợ Eleanor, người quen thân với N. Elliott từ lâu, sẽ thắc mắc khi biết ông ta tới Beirut mà không ghé qua nhà chơi. N. Elliott đồng ý sau khi đã gửi một bức điện về London cho Giám đốc MI6 Dick White, thông báo về diễn biến tình hình. Trong điện trả lời, Dick White khen ngợi, nói rằng N. Elliott cứ tiếp tục thẩm vấn. Có vẻ như Kim Philby đã bị “bẻ gãy”.

Bữa tối hôm ấy ở nhà Kim, N. Elliott gắng hết sức để làm ra vẻ mọi việc vẫn bình thường, cho dù Eleanor mang máng đoán là chắc đã có một điều gì đó xảy ra. Sáng hôm sau, N. Elliott gọi điện thoại cho Kim, mời vợ chồng Kim Philby ăn tối ở Chez Temporel, một trong những tiệm ăn sang trọng và đắt nhất Beirut. Để cho không khí có vẻ tự nhiên, N. Elliott mang theo người thư kí cũ cho bữa ăn đủ bốn người.

Ngày hôm sau, N. Elliott và Kim Philby lại gặp nhau. Lần này, N. Elliott mang theo tờ giấy có danh sách một loạt những cái tên và thảy nó cho Kim. Ai trong số này là gián điệp của Liên Xô?

Kim nhìn vào danh sách, thấy trong đó có tên của Anthony Blunt và John Cairncross, người thứ tư và người thứ năm trong Bộ Ngũ Cambridge. Cả hai người này đều bị phản gián Anh giám sát chặt sau khi D. Maclean và G. Burgess đào thoát. Ngoài ra còn có Tim Milne, hiện đang là một sĩ quan MI6 hoạt động ở Viễn Đông. Kim Philby không biết nhiều người trong danh sách này nhưng chắc chắn trong đó có Tomas Harris, một điệp viên mà Kim quen biết cũng như Guy Liddell, điệp viên đã bị buộc phải rời MI5 do có quan hệ với G. Burgess và A. Blunt.

Đây là đòn độc của N. Elliott. Bằng việc đưa vào danh sách tất cả những người mà ông ta nghĩ có khả năng nằm trong mạng lưới của Kim Philby như G. Burgess và D. Maclean, N. Elliott đưa ra phép thử chết người đối với Kim Philby, khi buộc Kim phải trả lời rõ ràng ai là người cùng với mình hoạt động cho tình báo Liên Xô.

Câu trả lời của Kim là Tim Milne thì có thể, chứ A. Blunt chẳng dính dáng gì đến tình báo Liên Xô!

N. Elliott ép Kim phải nói ra thêm những cái tên mới nhưng Kim Philby tuyên bố “không hề biết về bất cứ một ai khác đang hoạt động gián điệp trên đất Anh”, đồng thời khẳng định lại là đã đoạn tuyệt với tình báo Liên Xô mười bốn năm rồi.

Cuộc gặp này gióng lên tiếng chuông báo động tối khẩn đối với Kim Philby. Kim biết rằng MI6 sẽ không dừng lại cho đến khi moi bằng hết toàn bộ những bí mật mà mình có được. Nếu A. Blunt bị bắt và thú tội thì N. Elliott sẽ biết ngay Kim Philby nói dối bởi vì đã khẳng định rằng A. Blunt vô tội. Như vậy, những lời thú tội trước đấy sẽ được sử dụng để chống lại Kim và lời hứa miễn tội cho Kim cũng bị rút lại bất cứ lúc nào. Dù có quay về London hay ở lại Beirut thì Kim cũng vẫn sẽ là tù nhân của MI6.

Cuộc đối chất giữa Kim Philby và N. Elliott kéo dài bốn ngày. Ngày cuối cùng, N. Elliott thông báo cho Kim Philby biết hôm sau ông ta sẽ rời Beirut đi Congo. Peter Lunn, Trưởng trạm MI6 ở Beirut sẽ là người tiếp nhận và tiếp tục tiến hành các cuộc thẩm vấn Kim Philby ở Beirut; London đang gửi thêm nhiều câu hỏi; người Mỹ cũng muốn tra hỏi Kim Philby; quá trình thẩm vấn thật ra mới chỉ bắt đầu.

Ở London, bầu không khí chung là hồ hởi. Giám đốc MI6 thể hiện tâm trạng khá hài lòng đối với công việc của N. Elliott với Kim Philby ở Beirut. “Anh ta lẽ ra đã có thể từ chối lời đề nghị về miễn tội, nhưng khi chấp nhận nó, anh ta đã tham gia cuộc chơi”, Dick White nói.

Trong khi ấy, Giám đốc Cục An ninh MI5 Sir Roger Hollis quyết định thông báo cho FBI sơ bộ về diễn tiến của vụ việc qua một bức giác thư gửi cho Giám đốc FBI J. Edgar Hoover. Trong bức giác thư này, vị giám đốc MI5 khẳng định là đã có đầy đủ bằng chứng về hoạt động gián điệp của Kim Philby cho Liên Xô, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy những hoạt động này kéo dài sau năm 1946. Trưởng đại diện của FBI ở London cũng được phía Anh đề nghị tập hợp những câu hỏi cần thiết gửi cho Peter Lunn để thẩm vấn Kim Philby khi các cuộc hỏi cung được nối lại.

CIA không được phía Anh thông báo một chút gì về diễn biến vụ việc đang xảy ra. Còn khối thời gian để cho James Angleton biết về tình hình của ông bạn cũ thời ở Washington.

Khi bàn giao vụ Kim Philby cho Peter Lunn tiếp tục thẩm vấn. N. Elliott đã mô tả tình trạng của Kim khi ấy là “không dự đoán trước được, căng thẳng, thường xuyên say bí tỉ và trầm cảm, có thể dẫn tới tự sát". Ông ta cũng phá vỡ mọi quy tắc của nghề điệp báo đối với một điệp viên nhị trùng đã thú tội, dù chỉ một phần: Kim Philby hoàn toàn không bị theo dõi: căn hộ của Kim không bị giám sát; đường dây điện thoại không bị gắn máy nghe trộm; cũng không có bất cứ một lời cảnh báo nào cho đồng minh của MI6 là Cơ quan An ninh Lebanon.

Ngay tối hôm sau, vào lúc 6 giờ, Kim Philby đứng trên ban công căn hộ của mình ở đường Kantari, trong tay cầm một quyển sách.

+++++

Liên lạc được thiết lập nhanh chóng. Chỉ ít giờ sau đó, Kim Philby và điệp viên KGB, Đại diện thương mại Liên Xô Petukhov, gặp nhau ở quán ăn Vrej của người Armenia trong một con hẻm. Kim Philby chỉ có ít phút để thông báo cho Petukhov biết về tình hình nguy ngập của mình: MI6 đã có được những thông tin về hoạt động của Kim từ kẻ đào thoát A. Golitsyn và đang đề nghị đổi những lời khai báo lấy tự do cho Kim. Kim Philby không nói cho Petukhov biết là mình đã thú nhận một phần mà chỉ bảo rằng mình đang cố cầm cự, thế nhưng vòng thẩm vấn tiếp theo sắp diễn ra.

Petukhov vội quay về sứ quán Liên Xô và gửi một bức điện khẩn cho Vassili Dozhdalev, trưởng ban Anh ở Trung tâm Moscow, đề nghị hướng dẫn. V. Dozhdalev hỏi lại: “Liệu Philby có thể vượt qua được một cuộc kiểm tra chéo của phía Anh nữa không?”. Petukhov trả lời: “Philby nghĩ anh ấy không thể thoát được một lần nữa”. V. Dozhdalev lệnh: “Philby cần phải trốn khỏi Beirut càng sớm càng tốt”.

Ở cuộc gặp được vội vã bố trí tiếp theo sau đó, Petukhov thông báo cho Kim Philby: “Thời điểm của anh đã tới rồi. Bây giờ họ sẽ không rời mắt khỏi anh nữa đâu. Anh cần phải biến mất, không còn cách nào khác. Đang có một căn nhà chờ anh ở Moscow”.

Cần phải có thời gian để bố trí cuộc đào thoát nhưng một khi thời điểm đó tới, Kim Philby cần phải hành động thật nhanh, dứt khoát. Cũng như trước đấy, vào thời gian đã định trước, Petukhov sẽ đi bộ phía trước căn hộ của Kim trên đường Kantari. “Nếu anh thấy tôi cầm một tờ báo thì có nghĩa là tôi muốn gặp anh. Còn nếu thấy tôi cầm một cuốn sách thì có nghĩa là mọi việc bố trí cho anh trốn đã xong xuôi, anh chỉ việc ra đi thôi”, Petukhov nói.

Philby chờ đợi trong căng thẳng. Ít ngày sau, Peter Lunn gọi điện đến nhà Kim Philby, nói rằng muốn gặp nhau để thảo luận “về những câu hỏi mà chúng ta cùng quan tâm”. Kim nói cần thêm thời gian rồi mới gặp nhau. Peter Lunn cũng không gây thêm sức ép. Thay vào đó, Peter Lunn, một cựu vận động viên từng dự Olympic, thông báo rằng sẽ đi trượt tuyết trong bốn ngày tới.

Ngày 23-1-1963, Glencairn Balfour Paul, bí thư thứ nhất sứ quán Anh và vợ là Marnie dự định tổ chức một bữa tiệc tối, mời một số phóng viên, trong đó có Clare Hollingworth của tờ The Guardian và Kim Philby của tờ The Observer. Vợ của Kim Philby là Eleanor cũng được mời dự.

Sáng hôm ấy, bất chấp trời mưa nặng hạt, Kim Philby vẫn ngồi trên ban công căn hộ của mình uống cà phê. Beirut đang chuẩn bị đón một cơn bão lớn. Trên con đường ướt nhẹp phía trước, một bóng người đi bộ chậm rãi trong mưa ngang qua nơi Kim Philby đang ngồi uống cà phê, tay cầm một cuốn sách, không hề ngẩng lên nhìn về phía căn hộ một lần nào.

Chiều 23-1-1963, Kim Philby lấy áo mưa và khăn quàng cổ, nói rằng cần đi gặp một nguồn tin nhưng sẽ quay về nhà vào lúc 6 giờ tối, đủ để thay đồ trang trọng đi dự bữa tiệc tối ở chỗ Glencairn Balfour Paul. Kim Philby tới quầy rượu ở khách sạn St. George. Sau vài li, Kim hỏi người phục vụ khách sạn muốn gọi nhờ điện thoại. Eleanor ở trong bếp nấu món xúp cho cô con gái Annie và cậu con trai nhỏ của Kim là Harry, đang trong kì nghỉ, cũng ở đó khi chuông điện thoại reo. Cậu con trai mười ba tuổi Harry cầm ống nghe rồi nói vọng vào trong bếp cho Eleanor: “Bố nói sẽ về muộn. Bố sẽ gặp mẹ ở chỗ bữa tiệc của bác Glencairn Balfour Paul vào lúc 8 giờ”.

Đến 8 giờ tối, ở chỗ bữa tiệc của Glencairn Balfour Paul vẫn chưa thấy bóng dáng Kim Philby đâu. Eleanor xin lỗi chủ nhà về sự chậm trễ của chồng. Đến 9 giờ rưỡi tối thì mọi người quá đói, không thể chờ được nữa nên quyết định bắt đầu bữa tiệc mà không có Kim Philby. Bên ngoài căn nhà, cơn bão đang lồng lộn ở thủ đô Beirut.

Vào lúc những vị khách ở bữa tiệc của Glencaim Balfour Paul đang ăn uống thì một chiếc xe mang biển số ngoại giao hướng về phía cảng Beirut trong màn mưa dày đặc. Kim Philby ngồi ở ghế sau, cạnh Pavel Nedosekin, trưởng trạm KGB Beirut. Petukhov ngồi ở ghế trước, cạnh lái xe.

Trong lúc ấy, ở quán rượu trên bến cảng, một thủy thủ người Latvia, với sự khuyến khích của một nhân viên tình báo Xô viết, đang nốc rượu như hũ chìm. Chiếc xe chở Kim Philby chạy dọc theo bến cảng rồi đỗ lại bên chiếc Dolmatova, một chiếc tàu hàng chuẩn bị rời đi Odessa. Thuyền trường người Nga của chiếc Dolmatova bắt tay Kim Philby rồi dẫn vào trong cabin. Một chai cognac được đưa ra. Kim Philby, hai điệp viên KGB và thuyền trưởng chiếc Dolmatova cùng nâng cốc. Petukhov chuyển cho Kim giấy thông hành mang tên Villi Maris, một thương nhân ở Riga. Mấy bộ quần áo mới, trong đó có cả bộ đồ lót giữ ấm, đã được để sẵn trên giường. Ở Moscow đang rất lạnh.

Trước nửa đêm, Eleanor rời khỏi bữa tiệc về nhà mà không thấy bóng dáng chồng đâu. Sau nửa đêm, khi nỗi lo lắng tăng lên, Eleanor quyết định gọi về nhà Peter Lunn. Vợ của Peter Lunn là Antoinette cầm máy, nói Peter Lunn không có ở nhà và sẽ liên lạc ngay với Eleanor khi có thể.

Trên thực tế, khi ấy Peter Lunn đang ở sứ quán Anh và có lẽ đã biết về sự biến mất của Kim Philby ở bữa tiệc nhà Glencairn Balfour Paul. Peter Lunn nhanh chóng tới nhà Kim. Tất cả những đồ đạc của Kim Philby vẫn còn nguyên chỗ cũ, kể cả tấm hộ chiếu của Anh. Peter Lunn hầu như chắc chắn rằng Kim Philby đã tuột khỏi tay mình và đang trên đường tới Moscow. Nhưng thay vì hành động gấp gáp như trong bất kì một tình huống khủng hoảng nào, Peter Lunn hoàn toàn bình tĩnh, không cho tiến hành lục soát căn hộ, không báo động cảnh sát Lebanon cũng như cho người kiểm soát ở các cửa khẩu biên giới, sân bay, bến cảng. Vào lúc 2 giờ sáng, Peter Lunn rời khỏi căn hộ của Kim và ngay lập tức gọi điện cho đại sứ Anh, đồng thời đánh một bức điện dài về cho Giám đốc MI6 Dick White ở London.

Trước lúc bình minh, chiếc tàu hàng Dolmatova hú còi rời khỏi cảng hướng ra biển, rõ ràng là vội vã vì vẫn còn để lại những thùng hàng chưa kịp chất trên bến cảng. Nó cũng để lại cảng một thành viên trong đội thủy thủ, một người Latvia tên là Villi Maris, người khi tỉnh rượu thì phát hiện ra là đã mất giấy thông hành và cũng lỡ luôn chuyến tàu quay về Odessa.

Kim Philby đứng trên boong chiếc Dolmatova, dùng chiếc khăn quàng cổ Westminster chống lại làn hơi giá rét trên biển vào buổi sáng sớm, nhìn bờ biển Lebanon dần lùi xa trong ánh bình minh đang ló rạng. Người Thứ Ba trong Bộ Ngũ Cambridge thoát thân an toàn. Điệp viên Xô viết thượng thặng đã trở về từ giá lạnh.

+++++

Image

Nếu như coi thế giới điệp báo của những người mặc áo choàng và mang dao găm là một khu rừng rậm với vô số hiểm họa thì Bộ Ngũ Cambridge với năm thành viên là năm con sư tử bất khuất không bao giờ bị bắt. Năm con sư tử này đã vẫy vùng trên chiến trường điệp báo, ngay cả khi sa cơ vẫn không để lộ hình tích. Hoạt động của Bộ Ngũ đã gây vô số vết thương chí mạng cho cộng đồng tình báo Anh - Mỹ, để lại những hệ lụy trong nhiều năm sau.

Vụ đào thoát thành công của Kim Philby làm rúng động cộng đồng tình báo ở hai bờ Đại Tây Dương, tạo ra một bầu không khí tức giận, sượng sùng và nghi ngờ rộng khắp trong các cơ quan tình báo - phản gián của cả Anh và Mỹ. Nhiều luồng thông tin cho rằng Kim Philby đã được tình báo Anh chủ động tạo điều kiện thuận lợi để chạy trốn. Một cuộc săn lùng gián điệp Xô viết được tiến hành trong mọi ngóc ngách của cả MI5 lẫn MI6. Đến ngay cả N. Elliott cũng bị điều tra và phải sau rất nhiều cuộc thẩm vấn mới chứng minh được rằng mình vô tội.

Điều tương tự cũng diễn ra trong cộng đồng tình báo Mỹ. Giám đốc FBI F. Hoover khi nghe tin về vụ đào thoát của Kim Philby đã giận tái người. Một làn sóng điều tra lại được khuấy động để xem liệu còn có các điệp viên Xô viết nào khác đang âm thầm hoạt động trong các cơ quan tình báo Mỹ hay không.

Người nỗ lực nhất trong các chiến dịch “săn lùng gián điệp Xô viết” này không phải ai khác chính là “người bạn thân” của Kim Philby ở Washington, ông trùm phản gián Mỹ trong CIA, James Jesus Angleton. Vụ đào thoát của Kim Philby khiến cho J. Angleton không còn tin tưởng vào bất cứ một ai. J. Angleton cho rằng Kim Philby không hoạt động đơn độc một mình mà chỉ huy cả một mạng lưới rộng khắp ở Hoa Kỳ. Theo J. Angleton, nếu Kim Philby đã lừa được ông ta thì hẳn là phải có rất nhiều điệp viên KGB đang ở những vị trí có thể gây ảnh hưởng ở phương Tây.

Bởi thế mà J. Angleton đã mở một chiến dịch săn lùng gián điệp trên quy mô lớn ở phương Tây. Ngay trong năm 1962, J. Angleton tổ chức một chiến dịch mang mật danh Honetol, phối hợp cùng FBI, MI5 và MI6 để săn lùng điệp viên Xô viết trong cộng đồng tình báo phương Tây. Bằng những biện pháp bất hợp pháp, J. Angleton lập hồ sơ cá nhân của hơn 10.000 đối tượng tình nghi, gồm cả những người chống chiến tranh, bất đồng chính kiến. Trong số những người mà J. Angleton nghi ngờ bị KGB kiểm soát có cả Thủ tướng Anh Harold Wilson, Thủ tướng Thụy Điển Olof Palme, Thủ tướng Tây Đức Willy Brandt. Trong suốt hơn một thập kỉ sau vụ đào thoát của Kim Philby, J. Angleton vẫn liên tục tìm kiếm những điệp viên Xô viết leo cao chui sâu trong nội bộ CIA. Những hoạt động này đã gây nên bầu không khí nghi kị, khủng bố trong cộng đồng tình báo Mỹ và tầm mức tác hại của chúng đối với CIA khiến cho xuất hiện những lời buộc tội rằng chính J. Angleton có lẽ cũng là một điệp viên Xô viết!

Nhưng đó là mãi về sau này. Còn vào thời điểm Kim Philby vừa mới đào thoát, J. Angleton đang có chuyện đau đầu khác. Trước đấy, vào mùa hè năm 1961, J. Angleton đã được đọc các báo cáo về những cuộc tiếp xúc đầu tiên với một điệp viên Xô viết ở London, người đã tình nguyện đổi phe, chuyển sang hàng ngũ phương Tây. Mặc dù bản tính luôn nghi ngờ nhưng sau rất nhiều hoạt động kiểm tra, giám sát, J. Angleton đi đến kết luận rằng người này không phải là gián điệp do tình báo Liên Xô chủ động tung sang mà là một kẻ đào thoát thực sự, muốn hoạt động cho tình báo phương Tây. J. Angleton đánh giá chiến dịch liên quan đến điệp viên này là “quan trọng bậc nhất mà CIA có được trong nhiều năm qua”. Đấy là một viên ngọc quý trên chiếc vương miện của CIA.

Gần bốn tháng sau khi Kim Philby đào thoát, J. Angleton nhận được hung tin: Từ ngày 7-5-1963, ở Moscow vừa diễn ra phiên tòa kéo dài trong bốn ngày, xét xử “viên ngọc quý” của ông ta. Điệp viên này, người mang mật danh Hero, trên thực tế là một sĩ quan trong cơ quan tình báo quân đội Liên Xô, Đại tá Oleg Penkovsky.

s trong một cuộc họp của đảng. Họ trở thành bạn bè và Ethel đánh máy giúp Julius những bản báo cáo về kĩ thuật. Julius thường xuyên mang quà cho cậu em trai của Ethel là David Greenglass, người sau đó cũng gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ. Quãng đ
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Yên Ba

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.