Răng Sư Tử

Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

4

Hò hẹn trên cầu

“Giống như đổi một siêu sao lấy một cầu thủ tầm tầm trong môn bóng chày, chúng ta đã trao cho họ một điệp viên cực kì giá trị để có lại được một tài xế biết lái máy bay”.

William Tompkins - công tố viên Mỹ trong phiên tòa xét xử Đại tá Abel

Bức thư đề ngày 8-5-1961 gửi tới văn phòng luật sư James Donovan, người đã bào chữa cho điệp viên Rudolf Abel, thường được biết dưới tên gọi Đại tá Abel trong vụ án gián điệp làm kinh động nước Mỹ mấy năm trước; địa chỉ gửi đi từ số 22, phố Eisenacher, thành phố Leipzig, Đông Đức. Đấy là một bức thư tiếng Anh được đánh bằng máy chữ, riêng chữ kí tay bằng mực xanh, đề tên “Helen Abel”, người mà J. Donovan chưa từng gặp nhưng tự giới thiệu là “vợ” của Đại tá Abel.

“Bà Abel” viết:

“Khi suy nghĩ về những gì có thể làm nhằm thúc đẩy những vấn đề chưa được giải quyết, tôi đã nhớ đến một bức thư của cha phi công Powers gửi cho chồng tôi hồi năm ngoái. Tôi chưa đọc nó nhưng nếu tôi không nhầm thì ông ấy gợi ý với chồng tôi rằng có thể đôi bên sẽ tiến hành một số việc để giúp phóng thích con ông ấy và chồng tôi. Rudolf từng viết thư cho tôi, nói rằng vụ Powers không giúp gì được cho anh ấy và tôi đã thôi không nghĩ về việc có thể làm gì cố ích cho chúng tôi cũng như cho gia đình Powers.

Tôi muốn viết thư cho cha của phi công Powers ngay nhưng e ngại có thể sẽ bị công khai hóa và ảnh hưởng tiêu cực đến lời khẩn cầu xin ân xá của tôi. Không biết phải làm gì, tôi quyết định viết cho ông để xin tư vấn. Liệu nên làm gì để thúc đẩy vụ việc của chúng ta?

Xin ông hãy phúc đáp thư của tôi”.

Bức thư mà “bà Abel” đề cập đến trong thư gửi J. Donovan là do ông Oliver Powers gửi cho Đại tá Abel, khi ấy đang thụ án 30 năm tù tại nhà tù liên bang ở Atlanta.

Ngày 2-6-1960, tức là chỉ một tháng sau khi chiếc máy bay do thám U-2 của Mỹ bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên bang Xô viết và phi công lái chiếc máy bay này, Francis Gary Powers, khi ấy vẫn còn chưa bị đưa ra tòa xét xử, ông Oliver Powers đã viết thư cho Đại tá Abel.

Ông Oliver Powers viết:

“Thưa Đại tá Abel. Tôi là cha của phi công Francis Gary Powers, người liên quan đến vụ rắc rối của chiếc máy bay U-2 vài tuần lễ trước đây. Chắc ông cũng hiểu rõ mối lo ngại của người cha cũng như mong muốn tha thiết của tôi muốn con trai mình được trả tự do. Tôi sẽ rất hân hạnh liên lạc với Bộ Ngoại giao và tổng thống Hoa Kỳ để đề xuất một cuộc trao đổi có thể phóng thích con trai tôi. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để chính phủ nước tôi trả ông về với đất nước của ông nếu như các nhà lãnh đạo nước ông cũng phóng thích con trai tôi và trả nó về với tôi. Nếu ông quan tâm tới điều này, mong ông hãy tư vấn cho tôi và có ý kiến với các nhà lãnh đạo nước ông trên tinh thần một cuộc trao đổi như vậy”.

Hai ngày sau, Đại tá Abel viết thư trả lời ông Oliver Powers, nói hãy liên lạc với vợ của Đại tá Abel đang ở Đông Đức. Người điệp viên Xô viết cũng viết thư cho luật sư J. Donovan ở New York, gợi ý rằng J. Donovan có thể tới Thụy Sĩ gặp luật sư của “gia đình” để thảo luận về cuộc trao đổi.

Người luật sư của “gia đình” mà Đại tá Abel nói đến là Wolfgang Vogel, địa chỉ nhà số 113 đường Friedrichsfelde, Đông Berlin, số điện thoại 55 75 75. Wolfgang Vogel quả thật đúng là một luật sư, người có nhiều mối dây liên hệ với Bộ An ninh quốc gia Cộng hòa dân chủ Đức Stasi. Trong hồ sơ của Stasi, mật danh cho W. Vogel là Georg, còn trong các báo cáo của mình gửi cho Stasi, W. Vogel thích kí tên là Eva.

Nhận được bức thư của Đại tá Abel từ nhà tù, J. Donovan, vốn từng là một cựu nhân viên hoạt động trong thời Đệ nhị thế chiến cho Cục Phục vụ chiến lược OSS, tiền thân của CIA, tới gặp Giám đốc Allen Dulles. Trong cuộc gặp này, J. Donovan một lần nữa nhắc lại ý tưởng về một vụ trao đổi điệp viên. Ngay lập tức, A. Dulles nhớ đến bức thư của J. Donovan gửi chánh án trong ngày cuối cùng phiên tòa xử Đại tá Abel hồi tháng 10 năm 1957. Khi ấy, J. Donovan cũng đã đề xuất ý tưởng này với A. Dulles nhưng lúc A. Dulles mang nó đến chỗ anh trai mình là Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Foster Dulles, ý tưởng này đã bị bác bỏ.

Vụ Liên Xô bắn rơi chiếc máy bay U-2 và phi công F. Powers bị bắt giữ đã làm thay đổi tất cả.

CIA muốn F. Powers được Liên Xô phóng thích để họ có thể biết tường tận những gì đã xảy ra vào ngày 1-5-1960. Và A. Dulles biết rằng ở phía bên kia, KGB cũng mong muốn không kém có lại được người điệp viên thượng thặng của mình.

Trong thế giới của các điệp viên, không cần phải tiến hành các trao đổi một cách trực tiếp nếu như có thể tìm được cách đi đường vòng nào đó. J. Donovan viết thư cho Wolfgang Vogel, đề nghị tổ chức một cuộc gặp gỡ. Ngày 17-6-1960, cùng với cô vợ Mary, J. Donovan có một “chuyến công tác” tới London rồi từ đó qua Zürich, Thụy Sĩ.

Dĩ nhiên, J. Donovan thông báo chi tiết hành trình của mình cho các đầu mối CIA ở London và Zürich. Nhưng Wolfgang Vogel không tiếp xúc với J. Donovan và người cựu nhân viên OSS, dưới sự chỉ dẫn của CIA, đã không có bất cứ động thái nào tỏ vẻ muốn đẩy nhanh các cuộc tiếp xúc.

Rất có thể ở thời điểm ấy, tháng 6-1960, người Xô viết không mặn mà lắm với ý tưởng một cuộc trao đổi F. Powers bởi viên phi công đang là một báu vật đúng là từ trên trời rơi xuống để họ tiến hành chiến dịch tuyên truyền rầm rộ làm bẽ mặt người Mỹ. J. Donovan, người có thú sưu tầm những cuốn sách hiếm cũng như có một bộ sưu tập kiếm và súng cổ, tay trắng rời Thụy Sĩ, chỉ mua được vài món đồ lưu niệm bổ sung cho bộ sưu tập của mình.

Nhưng J. Donovan vẫn còn mối dây liên hệ với “bà Abel”. Trong thời gian diễn ra phiên tòa xét xử Đại tá Abel, người điệp viên Xô viết hứa sẽ trả tiền công 10.000 USD cho J. Donovan để vị luật sư hảo tâm đóng góp cho ba trường đại học. Khi J. Donovan hỏi về khoản tiền này, Abel nói hãy liên hệ với vợ mình, “Helen Abel”, ở Leipzig, Đông Đức.

Từ đó, đã có những liên lạc qua lại giữa văn phòng của luật sư J. Donovan, địa chỉ 161 phố William, khu Đông New York, với “bà Abel” ở số 22, phố Eisenacher, thành phố Leipzig.

+++++

Trong suốt 5 năm trời kể từ lúc bị bắt giữ, Đại tá Abel không chịu khai bất cứ điều gì, cả trong tù lẫn khi bị xét xử ở tòa. Trong 5 năm, phía Xô viết cũng phủ nhận bất cứ sự liên hệ nào với Đại tá Abel, không thừa nhận Abel là người của KGB.

Tuy vậy, phía sau sự lạnh lùng đó lại ẩn chứa những sự thật khác.

Tại địa bàn Berlin, KGB có một sĩ quan trẻ là Yuri Drozdov, điệp viên KGB tài năng, có thể nói thông thạo tiếng Đức và tiếng Anh. Y. Drozdov sống cùng với vợ và hai con nhỏ trong một căn hộ gần Karlshorst, tổng hành dinh của KGB tại Berlin. Mùa xuân năm 1958, tức là khoảng vài tháng sau khi Abel bị kết án trên đất Mỹ, sếp của Y. Drozdov đưa cho anh ta tờ Der Siegel của Tây Đức, trong đó có một bài báo tường thuật lại “vụ án gián điệp Emil R. Goldfus”, rồi hỏi anh ta nghĩ thế nào. Khi một chỉ huy đã hỏi như vậy thì có nghĩa là người điệp viên KGB phải đưa ra đề xuất của mình. Y. Drozdov ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Phải giải cứu thôi!”.

Vậy là Y. Drozdov trở thành “cậu Drews”, em vợ của Abel, một viên chức tẻ nhạt sống ở Đông Đức. Một nữ điệp viên khác được cử đóng vai “vợ Abel” nếu cần thiết phải xuất hiện. KGB đã triển khai điệp vụ giải cứu điệp viên Abel của mình từ rất sớm.

Cùng với “luật sư gia đình” W. Vogel, “cậu Drews” soạn thảo những bức thư gửi tới văn phòng luật sư J. Donovan. Đấy là một công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiên nhẫn ghê gớm. Công việc không tiến triển được là bao bởi người Mỹ hết sức cảnh giác với những bức thư gửi từ Đông Berlin.

Tuy vậy, những diễn biến trên chính trường Mỹ đã có tác động không thể chối cãi đến số phận của các điệp viên.

Tháng 11-1960, J. Kennedy đắc cử tổng thống Mỹ, thay cho D. Eisenhower. Ngày 1-1-1961, trong bài phát biểu mừng năm mới ở điện Kremlin, nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev tuyên bố rằng ông coi những vụ kiểu như với chiếc máy bay do thám U-2 bị bắn rơi “đã trở thành quá khứ cùng với sự ra đi của vị tổng thống cũ”.

Trước đó, vào ngày 1-7-1960, thêm một chiếc máy bay do thám RB-47H, phiên bản của máy bay ném bom B-47 của Mỹ được cải tiến thành máy bay do thám, bị một chiếc MiG-19 của phi công Liên Xô Vasili Poliakov bắn hạ ở Barents khi đang trong một điệp vụ do thám Liên Xô. Trái với tuyên bố của phía Mỹ rằng chiếc máy bay này đang bay bên ngoài đường biên giới Liên Xô, trên vùng Địa Cực, nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev tuyên bố nó đã xâm phạm không phận Xô viết ở vùng Đất Mới, nơi Liên Xô có bãi thử vũ khí hạt nhân. Bốn trong số sáu thành viên phi hành đoàn tử nạn cùng chiếc máy bay, chỉ có phi công thứ hai Freeman Olmstead và hoa tiêu John McKone nhảy dù rơi xuống nước, được ngư dân Liên Xô vớt lên và... trao cho KGB!

Vài ngày sau khi J. Kennedy thắng cử trong cuộc bầu cử tổng thống hồi tháng 11-1960, hai trợ lí thân cận của J. Kennedy là Tiến sĩ Jerome B. Wiesner, người sau đó sẽ được bổ nhiệm vào vị trí cố vấn khoa học của tổng thống, và Tiến sĩ Walt W. Rostow, sau đó là quan chức Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao, đã có chuyến đi tới Moscow. Hai người tới đây để tham dự Hội nghị Pugwash, một tổ chức do các học giả thành lập nhằm tập hợp các nhà khoa học chống vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí hủy diệt lớn. Ở Moscow, hai người đã gọi điện cho Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Liên Xô Kuznetsov, thúc giục phía Xô viết trao trả hai thành viên còn sống sót trong đội bay của chiếc RB-47H. Hai người gợi ý rằng việc Liên Xô trao trả các thành viên này mà không cần có sự đáp trả tương ứng từ phía Mỹ, sẽ là bước đầu tiên tiến tới hòa dịu, làm giảm bớt căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước.

Những đòn thế ngoại giao này của chính quyền J. Kennedy đã có tác dụng. Ngày 21-1-1961, Tổng thống J. Kennedy chính thức tiếp quản Nhà Trắng. Bốn hôm sau, ngày 25-1-1961, trong cuộc họp báo đầu tiên trên cương vị tổng thống, J. Kennedy thông báo chỉ vài giờ trước khi diễn ra họp báo, Moscow đã trao trả cho phía Mỹ các nhân viên trên chiếc máy bay RB-47H bị bắn rơi hôm 1-7-1960. Tổng thống J. Kennedy đánh giá hành động này thể hiện thiện chí của N. Khrushchev đối với chính quyền mới ở Mỹ. J. Kennedy cũng tuyên bố: “Các chuyến bay của Mỹ xâm nhập vào không phận Liên bang Xô viết đã bị ngừng lại từ ngày 1-5-1960. Tôi đã ra lệnh không tái lập lại các chuyến bay này”.

Mặc dù vậy, J. Kennedy không hề đả động một lời nào đến khả năng sẽ có cuộc trao đổi để đổi lấy tự do cho phi công F. Powers.

Ba tuần sau đó, một bức thư đề ngày 8-2-1961 do “vợ Abel” được gửi tới Nhà Trắng. Bức thư viết:

“Thưa Ngài Tổng thống.

Xin thứ lỗi cho tôi vì đã kéo Ngài ra khỏi các nhiệm vụ trọng đại quốc gia để quan tâm đến một vấn đề của cá nhân tôi, nhưng thật sự, đây là một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất trong cuộc đời tôi.

Tôi là vợ của Rudolf I. Abel, người đã bị kết án 30 năm trong nhà tù liên bang hồi năm 1957. Tên tôi là Hellen Abel. Tôi sinh ở Nga năm 1906. Tôi là một giáo viên dạy nhạc, hiện đang sống ở Đức cùng con gái tôi là Lydia Abel...

Sau khi số phận đã chia tách tôi với chồng hơn 10 năm trước, tôi đã mòn mỏi chờ anh ấy trở về. Tôi không biết rõ mọi chi tiết về vụ việc của chồng tôi nhưng tôi tin rằng anh ấy không làm bất cứ điều gì vô đạo đức hay tội lỗi. Xin hãy tin tôi rằng anh ấy là một người trọng danh dự, cao quý và tốt bụng. Tôi biết về anh ấy hơn bất cứ ai. Tôi không biết vì lí do gì, anh ấy đã bị phỉ báng, bôi nhọ bởi một số người xấu.

Không có bất cứ một bằng chứng xác đáng nào chứng tỏ anh ấy đã đánh cắp những bí mật có giá trị của nước Mỹ từng được công bố. Vậy vì sao anh ấy lại bị trừng phạt một cách tàn nhẫn như vậy? Tôi nói như vậy không phải vì muốn Ngài tin rằng anh ấy vô tội - điều này vượt quá khả năng của tôi - mà muốn để Ngài, với lòng khoan dung, hãy ân xá cho người chồng tội nghiệp của tôi, ngay cả khi Ngài tin rằng anh ấy phạm tội...

Tôi được động viên khi biết những tin tức tốt lành trên báo chí về việc hai phi công Mỹ Olmstead và McKone đã được phía Liên Xô phóng thích và trao trả cho nhà chức trách Mỹ. Điều này khiến tôi thêm hi vọng rằng Ngài sẽ ưu tiên cân nhắc ân xá cho chồng tôi trước thời hạn. Tôi chắc chắn rằng hành động ân xá chồng tôi của Ngài sẽ không chỉ tỏ rõ lòng khoan dung mà còn thể hiện Ngài mong muốn bắt đầu một kỉ nguyên mới của hòa bình trong lịch sử nhân loại. Tôi hoàn toàn chắc chắn rằng một hành động nhân đạo như vậy, tuy có thể không tác động một cách trực tiếp, nhưng sẽ tạo ra sự ảnh hưởng tích cực đến số phận những người Mỹ gặp rắc rối ở nước ngoài mà chưa thể về nhà...

Tôi xin Ngài Tổng thống hãy xem xét lời thỉnh cầu của tôi...

Với tất cả sự tôn trọng.

Hellen Abel”.

Nếu như hiểu rằng bất cứ một bức thư nào từ Liên Xô với nội dung như thế này gửi tới Nhà Trắng đều nằm trong sự kiểm soát của KGB thì có thể thấy rõ thông điệp đằng sau nó, là nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev muốn Tổng thống J. Kennedy ân xá cho điệp viên Abel như một cử chỉ thiện chí đáp ứng lại hành động của phía Liên Xô phóng thích các thành viên còn sống sót của đội bay trên chiếc máy bay RB-47H.

Trong bức thư này, “bà Abel” không hề đề cập một lần nào đến cái tên của phi công Powers. Mãi đến bức thư gửi ba tháng sau đó đề ngày 8-5-1961 tới văn phòng luật sư James Donovan, lần đầu tiên “bà Abel” mới đề cập trực tiếp tới khả năng trao đổi Abel lấy Powers.

+++++

Trong nhiều năm trời Abel thụ án ở nhà tù liên bang, các đặc vụ FBI thường xuyên có các chuyến đi tới Atlanta để thăm người tù đặc biệt này. Mục tiêu không đổi của những chuyến viếng thăm này là thuyết phục Abel hợp tác. FBI hi vọng là dần dần, cùng với thời gian kéo dài trong tù, có thể người điệp viên Xô viết sẽ “mềm” đi và hé lộ những tin tức quý giá giúp phản gián Mỹ lần ra các đầu mối mới trong mạng lưới của tình báo Xô viết.

Khi mà khả năng về một cuộc trao đổi điệp viên bắt đầu xuất hiện, FBI hiểu rằng họ cần phải đẩy nhanh tốc độ gây sức ép lên Abel bởi không biết khi nào thì “con cá lớn” sẽ tuột khỏi tay họ.

Trong tay FBI khi ấy có hai quân bài chủ lực. Thứ nhất là tổng thống Mỹ vẫn còn cân nhắc chưa quyết định về việc có xúc tiến trao đổi điệp viên hay không. Thứ hai, quan trọng hơn, là một mạng lưới gián điệp Liên Xô mới bị CIA phối hợp với Cục An ninh MI5 phát hiện vào đầu năm 1961. Trong vụ án này, một lần nữa, cái tên Abel lại nổi lên!

Vụ án này, được đặt tên là “Đường dây gián điệp Portland”, căn bản dựa trên những thông tin do một sĩ quan tình báo cấp cao Ba Lan phản bội cung cấp cho CIA rồi CIA lại chuyển giao cho MI5 vì các nghi phạm đều sinh sống, hoạt động ở Anh. Sau một thời gian dài theo dõi, thu thập chứng cứ, tháng 1-1961, phản gián Anh tiến hành bắt giữ năm nghi phạm, trong đó có một cặp tình nhân người Anh làm việc tại căn cứ không quân Portland, một thương gia người Canada và một cặp vợ chồng người New Zealand là chủ cửa hàng sách cổ ở London.

Kết quả điều tra của MI5 cho thấy thương gia Canada mang tên Gordon Lonsdale, người chỉ huy mạng lưới này, là điệp viên Xô viết Konon Trofimovich Molody. Cặp vợ chồng chủ tiệm sách cổ mang tên Peter và Helen Kroger không phải người New Zealand mà thực chất là người Mỹ. Họ chính là các điệp viên Morris và Lona Cohen, những người đã từng tham gia tích cực vào điệp vụ đánh cắp bí mật vũ khí nguyên tử của Mỹ nhiều năm trước. Năm 1950, hai người đã được báo động và kịp thời thoát sang Mexico khi vợ chồng điệp viên Rosenberg vừa mới bị FBI bắt giữ. Một thời gian sau, dưới vỏ bọc mới và những cái tên giả mới, hai người quay lại Anh hoạt động trong lưới dưới quyền chỉ huy của điệp viên KGB K. Molody.

Trước đấy, khi Đại tá Abel bị bắt ở khách sạn Latham, New York hồi tháng 6-1957, các đặc vụ FBI tìm thấy ảnh của vợ chồng Cohen giấu trong một cái va li. Bức ảnh không ghi thời gian chụp, chỉ có dòng chữ ghi “Shirley và Morris”, kèm khoản 5.000 USD tiền mặt bó chung với bức ảnh bằng một sợi dây cao su.

Ngay khi ấy, FBI đã tin chắc rằng cặp vợ chồng Cohen là những cộng sự thân thiết của Đại tá Abel. Tuy nhiên, trong suốt thời gian bị giam giữ cũng như trước và sau phiên tòa, Đại tá Abel cương quyết không hé răng nên FBI chỉ có thể phỏng đoán chứ không biết vai trò thực sự của vợ chồng Cohen trong thời gian hoạt động ở Mỹ là như thế nào.

Nay thì vợ chồng Cohen đã bị bắt ở Anh và FBI cho rằng đã có một đòn bẩy hữu hiệu để tác động đến Abel. Tháng 3-1961, tại Anh diễn ra phiên tòa kín xét xử các điệp viên trong “Đường dây gián điệp Portland”. Các đặc vụ FBI liền tới nhà tù Atlanta gặp Abel, nói rằng phiên tòa ở Anh có thể xét xử dựa trên lời khai báo của Abel về vợ chồng Cohen và những khai báo này có thể giúp giảm nhẹ tội cho vợ chồng điệp viên Cohen.

Abel từ chối.

Dường như thời gian ở trong nhà tù Mỹ ngày càng dài ra thì người điệp viên Xô viết lại càng tỏ ra kiên nghị hơn.

+++++

Image

Cứ mỗi lần nhận được một bức thư từ “bà Abel”, sau khi in lại một bản, luật sư J. Donovan đều cẩn thận gửi nó tới Larry Houston, một đồng ngũ thuở còn hoạt động trong OSS, lúc này đã là tổng cố vấn về pháp luật tại CIA. CIA sẽ soạn thảo bức thư trả lời, gửi cho J. Donovan ở New York và đến lượt mình, J. Donovan sẽ gửi nó đến Leipzig. J. Donovan có thể hình dung ra một quy trình tương tự cũng diễn ra ở phía bên kia, khi những bức thư của “bà Abel” được soạn thảo ở Moscow, nhiều khả năng là tại địa chỉ số 2 trên đường Dzerzhinsky, Tổng hành dinh KGB.

Nhận được bức thư của “bà Abel” ngày 8-2-1961 đề cập trực tiếp đến khả năng trao đổi điệp viên Abel lấy phi công F. Powers, luật sư J. Donovan nhớ lại bức thư của mình gửi cho quan tòa ngay trước phiên xử vụ Abel hồi tháng 11 năm 1957 từng đề cập đến tình huống như vậy. Theo đúng quy trình, J. Donovan soạn một bức thư gửi cho giới chức chính phủ, trong đó khẳng định rằng “đây là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy lần đầu tiên phía bên kia đề nghị trao đổi Powers lấy Abel”.

Tuy nhiên, Chưởng lí phụ trách vấn đề ân xá Hoa Kỳ Reed Cozart thông báo lại cho J. Donovan biết là hiện chưa có cơ sở nào để ân xá cho Đại tá Abel. Để giảm bớt sự u ám của thông tin này, ngày 25-5-1961, J. Donovan viết một bức thư cho “bà Abel”, trong đó đề cập đến trường hợp Igor Melekh, một quan chức Xô viết làm việc tại phái đoàn Liên Xô ở trụ sở Liên hợp quốc kể từ năm 1955, bị phía Mỹ bắt giữ ngày 28-10-1960 vì tội hoạt động gián điệp.

Bức thư viết:

“Tôi đã rất quan tâm khi đọc tin tức trên báo về trường hợp phóng thích Melekh, một công dân Xô viết đã bị kết tội nhưng không phải ra tòa xét xử tội làm gián điệp. Tôi biết là ông ấy đã quay về Liên bang Xô viết. Trong khi báo chí nói là phía Mỹ không coi có sự liên hệ nào giữa trường hợp phóng thích Melekh với những yêu cầu của gia đình phi công Powers thì sự tương đồng giữa những lời buộc tội trong hai trường hợp này cho phép tôi phỏng đoán rằng phía Mỹ trông chờ có một cử chỉ đáp lại từ phía nhà chức trách Liên Xô. Nếu như phía bên kia không có hành động nào thì có thể phía Hoa Kỳ sẽ không quan tâm đến những hành động tương tự trong tương lai nữa. Dù sao đi nữa thì tôi tin là trường hợp Melekh chỉ ra rằng phía Hoa Kỳ quan tâm đến việc phát triển hơn nữa quan hệ giữa hai dân tộc và tôi hi vọng chính phủ Xô viết cũng có những mối quan tâm tương tự.

Thêm nữa, tôi sẽ tới Bộ Tư pháp để tìm hiểu xem có thể làm gì được cho chồng bà theo những điều bà đã viết trong thư. Tuy nhiên, tôi nghĩ phía chính phủ Xô viết phải có hành động nào đó để đáp lại thiện chí của phía Mỹ trong vụ Melekh. Tôi xin gợi ý rằng bà nên tiếp xúc với chính phủ Xô viết để quyết định xem có thể làm gì để đáp ứng lại vụ phóng thích đó. Và nếu có làm gì thì cần phải hành động một cách nhanh chóng”.

Gần một tháng sau bức thư đề ngày 8-5-1961 của “bà Helen”, trong hai ngày 3 và 4-6-1961, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô N. Khrushchev đã có cuộc gặp thượng đỉnh với Tổng thống Mỹ J. Kennedy tại Vienna, Áo, nơi hai người khẳng định vụ máy bay U-2 do thám bị bắn rơi hồi tháng 5-1960 đã trở thành quá khứ.

Ngày 17-6-1961, văn phòng luật sư J. Donovan nhận được thư trả lời từ “bà Abel”, vẫn trong chiếc phong bì màu xanh nhạt.

Bức thư viết:

“Nhận được bức thư của ông sau bao ngày chờ đợi quả là điều quan trọng đối với tôi. Tôi đã ngay lập tức đi Berlin. Tôi đã tới sứ quán Liên Xô và đề nghị họ giúp đỡ trong việc phóng thích chồng tôi, bởi vì cá nhân tôi không thể làm được gì trong vụ này. Họ đã lưu tâm lắng nghe và hẹn tôi vài hôm sau quay trở lại.

Lần sau đó tôi tới sứ quán, họ nói với tôi rằng những đề nghị của tôi đã được lưu tâm với sự thông cảm và dặn tôi nên tiếp tục các nỗ lực theo hướng hiện nay.

Với những gì đã diễn ra, tôi tin là chồng tôi sẽ được ân xá và ông Powers cũng vậy...”.

Sau khi trao đổi kĩ với CIA, hơn một tháng sau, ngày 26-7, luật sư J. Donovan viết thư trả lời:

“Sau khi nhận được bức thư của bà đề ngày 17-6, tôi đã tới Washington và thảo luận vấn đề với các quan chức thích hợp. Tôi cho rằng họ quan tâm đến khả năng mà bà đã gợi ý trong bức thư của bà mặc dù như tôi đã phỏng đoán trong bức thư trước, vụ Melekh vẫn còn ám ảnh tâm trí họ. Hành động của chính phủ (Mỹ) không kết tội Melekh đã gây nên phản ứng bất lợi mạnh mẽ từ phía công chúng. Hậu quả là tôi có thể hiểu vì sao các quan chức mà tôi trao đổi tỏ ra miễn cưỡng tiến hành bất cứ một bước đi tiếp theo nào trừ phi vụ việc liên quan đến trường hợp Powers có những bước tiến triển mới.

Theo luật của chúng tôi, bất cứ một quyết định ân xá nào cho chồng bà đều phải do tổng thống quyết định. Tôi tin là theo luật pháp Xô viết, những quyết định tương tự có thể dẫn tới việc ân xá cho ông Powers. Tôi cho là những hành động như vậy sẽ được các quan chức mà bà tiếp xúc xem xét.

Tôi hi vọng chúng ta có thể thành công trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau và tôi tin rằng liên quan đến toàn bộ vụ việc này, các quan chức mà tôi tiếp xúc sẽ không quan tâm đến việc xem xét ân xá Rudolf cho tới khi Powers quay lại Hoa Kỳ”.

Bức thư này, J. Donovan cũng sao một bản y hệt kèm theo bản chụp bức thư ngày 17-6 của “bà Abel” và chuyển cho Đại tá Abel ở trong tù. Kèm theo là một lời nhắn: “Tôi tin là tôi đã làm tất cả những gì có thể một cách tốt nhất với tư cách đại diện cho ông. Những gì tiếp theo hoàn toàn phụ thuộc vào phía Xô viết. Tôi có lí do để tin rằng trong khi diễn ra quá trình phóng thích Powers thì ông cũng sẽ nhận được lệnh ân xá và bị trục xuất”.

Trong khi những bức thư trao qua đổi lại cho thấy triển vọng của một cuộc trao đổi gián điệp đang dần hiện ra với rất nhiều hi vọng cho cả hai phía thì một sự cố chính trị bất ngờ đã làm đảo lộn tất cả. Cuộc khủng hoảng ở nước Đức do việc di cư ồ ạt từ Đông sang Tây Berlin, rồi việc xây dựng bức tường chia đôi Berlin trong tháng 8-1961 đã khiến cho tiến trình dẫm chân tại chỗ.

Ở Berlin, cả điệp viên KGB Y. Drozdov lẫn luật sư Wolfgang Vogel đều nhận thấy rằng cần phải thúc đẩy nhanh quá trình để có thể giải cứu điệp viên Abel ra khỏi nhà tù.

Ngày 17-8-1961, “bà Abel” gửi một bức thư cho Barbara Powers, vợ của phi công Powers. Có vẻ như “bà Abel” đã mất dần kiên nhẫn trước sự chậm chạp của cả hai phía. Bức thư nhắn nhủ trực tiếp với Barbara:

“Sau chín năm nữa, cô có thể đón chồng cô khi anh ấy vẫn còn trẻ trung, còn tôi thì mỗi một ngày cách xa là một bước tiến gần đến cái chết. Chúng tôi là những người đã đứng tuổi, sức khỏe không tốt và chúng tôi không hi vọng sẽ sống thọ. Hãy tha lỗi cho tôi về lời bình phẩm không cố ý này...”.

Với Barbara, “bà Abel” tiếp tục nhận xét rằng Rudolf bị án tù vì những tội lỗi mà ông không phạm phải, nhắc lại lời khẩn cầu đã gửi tới Tổng thống Kennedy trước đấy, cuối cùng đề nghị gia đình Powers hãy kêu gọi tổng thống Mỹ “đưa ra các quyết định tối hậu để giúp phóng thích chồng cô. Hiện nay, vấn đề của cả cô và tôi hoàn toàn phụ thuộc vào nhà chức trách Hoa Kỳ, rằng liệu họ có muốn tiếp tục tiến lên phía trước để giải thoát cho phi công của họ hay không”.

Tiếp đó, ngày 11-9-1961, thêm một bức thư nữa từ “bà Abel” được gửi tới chỗ luật sư J. Donovan.

Bức thư viết:

“Thể theo lời khuyên của ông, tôi đã tới sứ quán Liên Xô ở Berlin và đưa cho họ xem bức thư ông gửi ngày 26-7. Tôi rất vui mừng thông báo cho ông biết rằng cũng như trước đây, những người đại diện Xô viết đã cảm thông sâu sắc đối với trường hợp của tôi và bày tỏ rằng sẵn sàng giúp đỡ.

Họ đã tỏ ra rất ngạc nhiên khi tôi nhắc đến vụ phóng thích Melekh. Như tôi hiểu qua bức thư của ông thì đây là trở ngại duy nhất hiện nay nhưng họ giải thích với tôi là không thể làm gì được quanh vụ việc đó để có thể giúp cho cả chồng tôi lẫn ông Powers và họ từ chối đàm phán dựa trên cơ sở liên quan đến vụ việc đó.

Tôi xin tóm tắt cuộc nói chuyện của chúng tôi đã đi tới kết luận rằng chỉ có một khả năng duy nhất thành công, đó là tiến hành cuộc phóng thích đồng thời cả phi công F. Powers và chồng tôi.

Mong nhận được phản hồi từ ông”.

Đó chính là điều mà J. Donovan muốn nghe. Như thường lệ, ông sao lại bức thư rồi gửi nó tới CIA.

+++++

Thoạt đầu, CIA không quan tâm lắm tới khả năng đổi điệp viên Abel lấy phi công F. Powers. Nhưng đến mùa thu năm 1961 thì đã có sự chuyển biến rõ rệt trong thái độ của CIA. Đã gần 5 năm trôi qua mà Abel vẫn chẳng hề hé môi lấy một lời về hoạt động gián điệp của mình. Sau 5 năm, những thông tin tình báo mà ông ta chuyển về Liên Xô đã mất đi giá trị của chúng. Cần gì phải tốn thêm tiền thuế của người dân Mỹ để giam giữ một người đã hầu như vô dụng. Còn nếu mang được F. Powers về, sẽ có thể làm sáng tỏ những gì đã xảy trong chuyến bay định mệnh ấy.

Luật sư J. Donovan tin rằng KGB cũng rất mong muốn có lại được Abel. Mặc dù đã được thông tin rằng Abel không hề hé răng về hoạt động của mình trong 5 năm ở tù, nhưng biết đâu đấy, chẳng có gì đảm bảo là ông sẽ tiếp tục im lặng trong thời gian còn lại. Hơn nữa, việc cứu được Abel ra khỏi nhà tù liên bang của Mỹ sẽ là một thành tựu lớn về mặt đạo đức, chứng tỏ KGB không bỏ rơi các điệp viên của mình khi họ lâm nạn. Các điệp viên KGB hoạt động trên khắp thế giới có thể yên tâm hành động và không cần phải đào thoát, như trường hợp R. Häyhänen đã làm và dẫn tới vụ bắt giữ Abel tại New York năm 1957. Những kinh nghiệm quý báu trong thời gian hoạt động ở Mỹ của Abel sẽ rất hữu ích cho Ban Chịu trách nhiệm các hoạt động tình báo trên lãnh thổ Mỹ ở KGB.

Đến tháng 11-1961, luật sư J. Donovan bắt đầu tin rằng một thỏa thuận trao đổi điệp viên có khả năng trở thành hiện thực. Ngày 8-11- 1961, phóng viên David Brinkley thực hiện một cuộc phỏng vấn trên kênh truyền hình NBC với một người khá quen thuộc trong vụ án Abel bốn năm trước đó, Reino Häyhänen. Người đàn ông này, trong suốt cả cuộc phỏng vấn được để khuôn mặt chìm trong bóng tối, “vì lí do an ninh”. D. Brinkley nói R. Häyhänen, sau phiên tòa xử Abel, đã định cư tại vùng Đông Bắc nước Mỹ dưới sự bảo vệ của CIA. Người điệp viên phản bội này chỉ tạm thời xa rời các biện pháp an ninh nghiêm ngặt trong chốc lát để tham gia cuộc phỏng vấn rồi sau đó quay lại trong vòng bảo vệ nghiêm ngặt của CIA.

D. Brinkley không giải thích vì sao CIA lại cho phép R. Häyhänen xuất hiện trên một hệ thống truyền hình quốc gia. Nhưng rõ ràng trong cuộc phỏng vấn kì lạ này có chứa những yếu tố khiến cho phía Xô viết tin rằng sau một thời gian dài trong nhà tù Mỹ, điệp viên Abel vẫn chưa cung khai bất cứ điều gì.

Ở một đoạn của cuộc phỏng vấn, D. Brinkley nói rằng “cho đến lúc này, Abel vẫn từ chối cung khai”. R. Häyhänen đồng ý, đồng thời giải thích rằng “tôi tin ông ấy làm như vậy bởi lo lắng cho vợ và con gái nếu như người Xô viết biết được rằng ông ấy đã cung khai”.

Ngạc nhiên hơn, chương trình này còn chiếu những trích đoạn mà NBC thực hiện ở nơi giam giữ Abel. Với những hình ảnh của người điệp viên trên vô tuyến truyền hình, D. Brinkley thuyết minh: “Hiện nay, Đại tá Abel cư ngụ tại nhà tù liên bang ở Atlanta. Ông ấy vẫn tiếp tục vẽ tranh và như các bạn thấy, đây là một trong những tác phẩm của ông ấy, chân dung Tổng thống Kennedy... Đến nay, ông ấy vẫn từ chối cung khai, không nói bất cứ một lời nào để thừa nhận những gì mà ông ấy đã làm thông qua các bằng chứng hết sức hiển nhiên, khó có thể phủ nhận. Cũng cho đến nay, phía Xô viết vẫn từ chối thừa nhận bất cứ điều gì chứng tỏ ông ấy là người của họ”.

Không có ai thắc mắc là vì sao một kênh truyền hình quốc gia lại được phép mang máy quay vào một trong những nhà tù bảo vệ nghiêm mật nhất nước Mỹ để thực hiện phóng sự về điệp viên Xô viết cao cấp nhất mà phía Hoa Kỳ từng bắt giữ được.

Đầu tháng giêng năm 1962, luật sư J. Donovan nhận được một cú điện thoại từ CIA, mời tới thủ đô Washington để bàn thảo về những quyết định “ở cấp rất cao”, cân nhắc, đánh giá vụ trao đổi Powers lấy Abel sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lợi ích quốc gia.

Tại cuộc gặp này, các nhân viên CIA hỏi liệu J. Donovan có tính đến một chuyến đi tới Đông Đức để xúc tiến các chi tiết cho cuộc trao đổi điệp viên hay không? Đó sẽ là chuyến đi được ngụy trang như một chuyến công tác bình thường, hoàn toàn bí mật; J. Donovan sẽ không được nói với bất cứ ai, kể cả người thân trong gia đình, về mục tiêu thực sự của chuyến đi. CIA sẽ hết sức hỗ trợ về mặt kĩ thuật cho J. Donovan trong suốt quá trình thực hiện sứ mệnh nhiều rủi ro này.

Câu hỏi đặt ra là việc phóng thích Abel, một “siêu điệp viên” Xô viết, có thể gây tổn hại thế nào đến lợi ích của nước Mỹ?

Sau khi bàn thảo kĩ càng, cả J. Donovan lẫn các nhân viên CIA tham gia cuộc gặp đều đi tới thống nhất rằng với việc vụ bắt giữ và xử án Abel được công bố rộng rãi trước dư luận như đã diễn ra, hầu như không có khả năng Abel sẽ được tiếp tục sử dụng ở nước ngoài. Nói cách khác, nếu được phóng thích thì vai trò của Abel với tư cách một điệp viên hoạt động hiện trường cũng đã chấm dứt. Ông ta sẽ không còn giá trị sử dụng ở bên ngoài Bức Màn Sắt nữa.

Các nhân viên CIA trong cuộc gặp cũng không tin là Abel sẽ được trọng dụng trở lại ở Tổng hành dinh KGB tại Moscow, bất chấp những hiểu biết vô song của Abel về nước Mỹ. Rất khó để các nhà lãnh đạo KGB bổ nhiệm Abel vào một vị trí trọng yếu trong cơ quan đầu não, chẳng hạn như người đứng đầu Ban Phụ trách địa bàn Bắc Mỹ ở Tổng hành dinh KGB. Vấn đề nằm ở chỗ Abel đã ở Mỹ gần 9 năm trước khi bị bắt, lại thêm gần 5 năm bị cách li trong nhà tù Mỹ. Trợ tá của Abel là R. Häyhänen thì đã phản bội. Câu hỏi về lòng trung thành sẽ được đặt ra đối với người điệp viên này và KGB không thể để một người với câu hỏi nghi vấn lơ lửng trên đầu như vậy đứng đầu bộ phận phụ trách các chiến dịch mật. Thậm chí việc trao trả Abel còn có thể tạo nên mối nghi ngờ giữa những người Xô viết với nhau, là biết đâu người điệp viên đã có một “thỏa thuận” ngầm nào đó với người Mỹ!

Khả năng lớn nhất là Abel sẽ được sử dụng để hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm cho các điệp viên khác về mặt kĩ thuật. Ngay cả như vậy đi chăng nữa thì tuổi tác cùng với sức khỏe không tốt của Abel sẽ khiến cho giá trị của người điệp viên hết sức giới hạn, nếu như quả thật KGB muốn sử dụng lại Abel.

Cuộc gặp thống nhất rằng chuyến đi tới Đông Đức của luật sư J. Donovan sẽ được sắp xếp như một chuyến công tác bình thường, qua ngả London. J. Donovan sẽ thông báo công khai cho bạn bè biết về chuyến đi, đặt khách sạn, bay bằng máy bay thương mại và tuyệt nhiên giữ kín mục tiêu thực sự của chuyến đi đối với cả văn phòng luật sư cũng như gia đình mình.

Ngày 9-1-1962, khi vẫn còn đang ở khách sạn tại Washington, dưới sự hướng dẫn của nhân viên CIA, luật sư J. Donovan gửi một bức thư cho “bà Abel” ở Leipzig. Trong thư, J. Donovan thông báo rằng “đã có những bước tiến triển đáng kể”, đồng thời “đề nghị tổ chức một cuộc gặp gỡ tại sứ quán Liên Xô ở Đông Berlin vào 12 giờ trưa thứ bảy, ngày 3-2-1962. Nhất thiết phải giữ kín cuộc gặp gỡ này. Nếu như thu xếp được cuộc gặp, chỉ cần gửi tới văn phòng luật của tôi một bức điện với dòng chữ: Chúc mừng năm mới”.

Trước đấy, Chưởng lí phụ trách vấn đề ân xá Reed Cozart của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã thẳng thừng từ chối lời khẩn cầu của “bà Abel” gửi tới Tổng thống Kennedy về việc ân xá cho Abel. Thế nên J. Donovan đã thuyết phục các nhân viên CIA rằng ông cần phải có một bức thư mang tính chính thức để thuyết phục phía Xô viết là chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ cam kết của vị luật sư rằng “sẽ phóng thích Abel”. Ngay buổi chiều hôm 9-1-1962 ấy, J. Donovan đã nhận được bức thư như vậy, nhưng vừa đọc qua, ông thấy nó đầy rẫy những từ ngữ tối nghĩa, không rõ ràng. Bức thư viết:

“Ngài Donovan kính mến,

Với sự tôn trọng những gì đã họp bàn với ngài trong thời gian gần đây liên quan đến việc ân xá cho thân chủ của ngài, chúng tôi xin đảm bảo với ngài rằng trong hoàn cảnh đầy đủ như đã vạch ra, lí do xuất phát từ bức thư của vợ thân chủ ngài về việc tại sao lệnh ân xá không được xem xét, sẽ không kéo dài.

Reed Cozart

Chưởng lí ân xá”.

J. Donovan phàn nàn về nội dung bức thư nhưng CIA từ chối thay đổi từ ngữ trong đó.

Hơn hai tuần sau đó, ngày 25-1-1962, bức điện “Chúc mừng năm mới” tới chỗ văn phòng J. Donovan, bên dưới kí tên “Helen”. Cuộc gặp đã được sắp xếp xong.

Đúng vào lúc mọi sự gần như hoàn tất để J. Donovan lên đường đi Berlin thì một sự cố bất ngờ xảy ra, có khả năng dẫn tới nguy cơ cuộc thương lượng trao đổi điệp viên giữa Mỹ và Liên Xô bị đổ bể từ ngay trước khi nó diễn ra.

Ngày 20-1-1962, một phi công 22 tuổi người Bulgaria, Trung úy Milusc Sokalov, lái chiếc MiG-19, phải hạ cánh bắt buộc xuống gần thành phố Bari ở Ý, chỉ cách một căn cứ quân sự của Mỹ tại đây chừng 600 mét. Phía Bulgaria tuyên bố viên phi công có ý định đào thoát sang phương Tây, trong khi báo chí đăng tải những tin tức nói rằng đây là một vụ do thám bằng máy bay của phía cộng sản bị thất bại. Chính phủ Ý tuyên bố sẵn sàng xử viên phi công Bulgaria tội làm gián điệp. Một vài tờ báo đưa ra giả thiết rằng có thể sẽ diễn ra một cuộc trao đổi viên phi công Bulgaria lấy F. Powers.

Chỉ hai mươi phút sau khi chiếc MiG-19 bị bắt buộc hạ cánh, đại diện của CIA tại Ý đã có mặt, trước cả khi cảnh sát Ý phong tỏa hiện trường. Không một người Mỹ nào được phép có mặt tại đó kể từ thời điểm ấy. Lo ngại rằng vụ việc bất ngờ này có thể làm ảnh hưởng đến vụ thương lượng trao đổi Abel lấy F. Powers, các quan chức cấp cao trong chính quyền của Tổng thống J. Kennedy chủ động rò rỉ cho báo chí biết rằng chiếc máy bay MiG-19 của Bulgaria không hề được lắp đặt bất cứ một máy ảnh nào và đây không phải là một vụ do thám bằng máy bay. Mọi sự dần lắng xuống và đúng lúc ấy, vào cuối tháng 1-1962, J. Donovan nhận được sự chấp thuận của chính phủ Mỹ cho phép bay tới Đông Berlin.

Trong buổi gặp bí mật cuối cùng hôm 27-1-1962 tại Câu lạc bộ Harvard ở Manhattan để nhận những chỉ dẫn từ CIA trước khi bay đi London, nhân viên CIA nói rõ với J. Donovan rằng chính phủ Mỹ đánh giá rất cao tầm quan trọng của chuyến đi; thế nhưng hiển nhiên là ở bên kia Bức Màn sắt sẽ có rất nhiều cạm bẫy khiến nguy cơ đổ bể vụ việc rất có khả năng xảy ra. Nếu một đại diện chính thức của chính phủ Mỹ bị sa vào cái bẫy trong một đất nước mà Hoa Kỳ hiện vẫn chưa công nhận về mặt ngoại giao thì điều đó sẽ dẫn tới một sự “khó xử” trầm trọng. Vì vậy, J. Donovan sẽ qua bên Đông Berlin không súng, không điện đài. Một khi có chuyện trục trặc xảy ra thì J. Donovan sẽ “không có bất cứ một vị thế chính thức nào”.

Đấy chỉ là cách nói văn vẻ cho một thực tế là nếu chẳng may có chuyện không hay nào đó xảy ra và J. Donovan bị phía bên kia bắt giữ thì chính phủ Mỹ sẽ khước từ mọi sự công nhận chính thức đối với viên luật sư. Trong trò chơi sinh tử giữa các cơ quan điệp báo, những sứ giả hoạt động trong bóng tối luôn phải chấp nhận vị thế nghiệt ngã như vậy.

Ngoài ra, còn có thêm một yếu tố bất ngờ nữa, người nhân viên CIA nói với J. Donovan. Sẽ phải có thêm một yếu tố trong thỏa thuận với người Xô viết: Thay vì một cuộc trao đổi tay đôi điệp viên, nhiệm vụ của J. Donovan là phải thương lượng để phía Xô viết đồng ý trả tự do cho ba người Mỹ. Để đổi lấy Abel, ngoài phi công F. Powers, phía Xô viết cũng phải trao trả cho Mỹ Frederic Pryor, một sinh viên bị Bộ An ninh Cộng hòa dân chủ Đức bắt giữ ngày 25-8-1961 và cáo buộc đã giúp đỡ một phụ nữ đào thoát khỏi Đông Berlin cũng như làm gián điệp. Cha của Frederic Pryor, ông Millard H. Pryor, là một nhà công nghiệp giàu có rất vai vế ở Michigan đã sử dụng ảnh hưởng của mình để tác động, đưa con trai vào trong “gói” trao đổi điệp viên.

Một sinh viên thứ hai người Mỹ là Marvin Makinen, từ Đại học Tổng hợp Pennsylvania, cũng bị phía Xô viết bắt quả tang làm gián điệp khi chụp những bức ảnh bất hợp pháp trong chuyến du lịch ở Liên Xô. Anh này bị kết án 8 năm tù và phía Mỹ muốn cũng được liệt vào trong “gói” trao đổi với Abel.

Người điệp viên CIA thông báo cho J. Donovan biết là ở Berlin, luật sư của Frederic Pryor cũng là một người quen thuộc: Wolfgang Vogel, đồng thời là “luật sư gia đình” của “bà Abel”, W. Vogel đã gửi một thông tin cho phái bộ đại diện của Mỹ ở Tây Berlin, rằng “bà Abel” tin rằng nếu chồng của bà được trao đổi với F. Powers thì hai anh chàng Frederic Pryor và Marvin Makinen cũng sẽ được trả tự do. Tuy nhiên, người điệp viên CIA cảnh báo J. Donovan rằng luật sư W. Vogel không phải là người đáng tin. Trong khi thương lượng với phía Xô viết về việc đổi Abel lấy ba người Mỹ thì nhiệm vụ trọng tâm của J. Donovan phải là mang được F. Powers về, còn hai người sinh viên chỉ là thứ yếu.

Đây là lần đầu tiên J. Donovan nghe nói về Fred Pryor và Marvin Makinen.

+++++

Mùa hè năm 1955, cặp anh em sinh đôi Milard và Frederic Pryor, khi ấy 22 tuổi, ở Mansfield, bang Ohio, có chuyến đi nghỉ ở Peru. Cha của hai anh em, một nhà tư bản giàu có đã chi tiền cho cặp song sinh thực hiện chuyến đi du lịch này để mừng việc hai đứa con vừa tốt nghiệp đại học ở Oberlin. Họ tới thăm thánh địa Machu Picchu, dạo bước trên những di chỉ của người Inca, cố gắng tưởng tượng ra các thành phố đã biến mất từ thời xa xưa.

Sau chuyến tham quan, người anh em song sinh Milard Pryor quay về Mỹ. Anh ta đã kiếm được chân trợ lí giám đốc một công ty nhỏ nào đó. Còn Frederic Pryor thì không biết làm gì. Tiếp tục chuyến du lịch Nam Mỹ, anh ta tới Paraguay rồi chỉ do một sự tình cờ, xin vào làm việc cho một tổ chức xã hội có tên là Sociedad de Hermanos. Đến mùa xuân năm 1956, F. Pryor mới quay về Mỹ, vẫn không biết sẽ phải làm gì tiếp theo. Anh ta vượt qua một kì thi tuyển công chức, vào làm tập sự vài tháng ở bộ phận cấp bằng sáng chế về hóa học của Ủy ban thương mại Liên bang nhưng rồi nhanh chóng mất việc vì tình trạng cắt giảm ngân sách Liên bang.

Tháng 9-1956, F. Pryor tới đại học danh tiếng Yale, ở New Haven, bang Connecticut, đăng kí xin làm luận án tiến sĩ về kinh tế.

Nhưng F. Piyor không thích không khí học hành ở Yale. Những đề tài kinh tế truyền thống khiến anh ta cảm thấy buồn chán không khác gì khi làm việc ở bộ phận cấp bằng sáng chế trước đó. F. Pryor cố gắng theo được hai năm rưỡi rồi đến khi phải chọn làm một đề tài phục vụ cho luận án của mình, anh ta quyết định nhanh chóng rời khỏi Yale càng xa càng tốt.

Nơi mà F. Pryor chọn đến để thực hiện đề tài là Đại học Tổng hợp Tự do Berlin ở Tây Berlin.

F. Pryor khá cô đơn trong năm đầu tiên ở Tây Berlin. Anh ta lao vào học tiếng Đức, một ngôn ngữ mà theo F. Pryor không hẳn là quá khó. Mỗi tối, anh ta học thuộc chừng 10 đến 20 từ mới để rồi ngày hôm sau quên một nửa trong số đó. Đề tài của F. Pryor là tìm hiểu về cơ cấu giá cố định trong giao dịch thương mại của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở các nước thuộc khối Xô viết, thứ mà nhà lãnh đạo Liên Xô N. Khrushchev tin là công cụ thích hợp để chiến thắng chủ nghĩa tư bản và chinh phục thế giới.

Khi trình độ tiếng Đức khá hơn, F. Pryor có đủ tự tin để bắt đầu gọi điện thoại tới các nhà khoa học Đông Đức ở Viện Kinh tế kế hoạch tại Đông Berlin, đề nghị thu xếp phỏng vấn. Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thiết kế về mặt lí thuyết cho nền kinh tế tập trung điển hình của Đông Đức lúc bấy giờ.

Đối với Bộ An ninh quốc gia Cộng hòa dân chủ Đức Stasi thì hành động của F. Pryor thật sự quái lạ. Ở một quốc gia chịu sự kiểm soát chặt chẽ của cảnh sát mật như Đông Đức, không thể có chuyện một người phương Tây cứ mở danh bạ ra, nhấc điện thoại lên để hỏi bất kì ai xem nền kinh tế phi thị trường nó vận hành như thế nào. Những người mà F. Pryor đề nghị xin phỏng vấn đều hào hứng trả lời những câu hỏi mà anh ta đặt ra. Nhiều người trong số họ thậm chí còn trở thành bạn bè của anh sinh viên đến từ Mỹ. F. Pryor đã thực hiện tổng cộng 35 cuộc phỏng vấn các nhà kinh tế Đông Đức để thu thập những dữ liệu cơ bản cho luận án của anh ta.

Vào thời gian đó, việc tới Đông Berlin khá dễ dàng. Chỉ việc đi tàu điện ngầm hoặc tàu điện nổi S-Bahn, hay đơn giản hơn là tự mình lái xe. Năm 1960, F. Pryor mua được một chiếc mui trần Karmann Ghia màu đỏ tươi của hãng Volkswagen và chuyển tới thuê một căn hộ nằm trong khu phố cổ ở khu Quảng trường Viktoria-Luise tại Tây Berlin. Ở khu vực đó có rất nhiều dạ quán nhưng F. Pryor không phải là tín đồ của những buổi xõa đêm. Sau một ngày làm việc mệt nhọc, anh ta thường đắm mình trong những buổi hòa nhạc Brahm hay Bach ở nhạc viện.

Khi bước vào giai đoạn chuẩn bị hoàn thành luận án, F. Pryor tìm trong số sinh viên bạn bè một người đánh máy luận án cho mình. Anh ta tìm được một cô sinh viên tên Eleonora; hai người duy trì một mối quan hệ trên mức bạn bè bình thường nhưng chưa đủ thân để dẫn tới một đám cưới. Cuộc sống ở Berlin của F. Pryor diễn ra khá dễ chịu.

Vào thời điểm cuối thập niên 1950 ấy, Berlin là thành phố đầy rẫy gián điệp của tất cả các bên. Năm 1959, phía Xô viết đưa ra con số 48 tổ chức nằm ở Tây Berlin hoạt động gián điệp, khủng bố và tuyên truyền cho phương Tây. Trong khi đó, phương Tây đưa ra con số ước lượng khoảng chừng 60.000 điệp viên cộng sản hoạt động bên ngoài biên giới Đông Đức.

Do không có một biên giới rõ rệt phân chia giữa các vùng chiếm đóng của bốn cường quốc tại Berlin nên điệp viên của các bên có thể dễ dàng trà trộn vào mọi ngóc ngách, cơ sở, nhà hàng, quán bar hay những tổ chức xã hội nhan nhản ở Berlin vào thời điểm đó. Người Anh cho máy bay rà soát trên các cơ sở quân sự của Liên Xô nằm ở khu vực ngoại ô phía đông thành phố để chụp ảnh bằng máy ảnh Minolta cầm tay. Các tùy viên quân sự Pháp làm việc cho cảnh sát mật Đông Đức hoặc KGB. Người Nga công khai trao đổi tin tức ở khu vực trung tâm đổ nát của thành phố, vốn được giữ lại không tái thiết để nhắc cho người Đức nhớ về thảm họa phát xít. Mặc dù Mỹ từ chối chính thức thừa nhận nước Cộng hòa dân chủ Đức nhưng phái bộ Mỹ ở Tây Berlin lớn hơn bất cứ một phái bộ nào khác trên thế giới, với rừng ăng ten tua tủa trên các nóc nhà của phái bộ.

Các sinh viên ở hai bên đường biên giới Đông Đức cũng thoải mái trao đổi thông tin, tìm kiếm các khoản tài trợ cho những chuyến đi làm từ thiện của họ hay đơn giản chỉ là để chụp những bức ảnh thú vị ở phía bên kia đường biên giới.

Trong bối cảnh đó, các hoạt động thuần túy mang tính khoa học của F. Pryor không nằm ngoài tầm quan sát của Bộ An ninh quốc gia Cộng hòa dân chủ Đức Stasi. Anh ta là một người Mỹ trên chiếc Karmann Ghia màu đỏ tươi, một chàng sinh viên cao lêu nghêu của Đại học Tổng hợp Tự do Berlin ở Tây Berlin. Anh ta đang làm luận án tiến sĩ ở Đại học Yale, có hiểu biết sâu sắc và sự quan tâm bất thường đối với lĩnh vực thương mại Đông Đức. Anh ta tích cực trau dồi tiếng Đức, tuần nào cũng sang khu vực Xô viết kiểm soát ở Đông Berlin, rõ ràng ngược chiều với dòng người đổ sang Tây Berlin ngày càng nhiều. Anh ta đã phỏng vấn nhiều nhà kinh tế học hàng đầu Đông Đức và chăm chỉ đọc các công trình của họ ở Viện Kinh tế kế hoạch tại Đông Berlin.

Bị ám ảnh bởi những điệp viên phương Tây luồn sang phá hoại nhà nước non trẻ Cộng hòa dân chủ Đức, không có lí gì mà Stasi lại không thiết lập một hồ sơ về F. Pryor.

+++++

Ngay từ ngày 16-3-1961, một phóng viên Mỹ tên là George Bailey đã viết bài báo đăng trên một tờ tạp chí chính trị ở Washington, dự báo rằng nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev không chóng thì chầy sẽ “mang Bức Màn Sắt tới biên giới Đông Berlin, với những tháp súng và hàng rào dây thép gai cùng các đội tuần tra có chó đi kèm”. George Bailey giải thích lí do cho dự báo của mình là sẽ có càng ngày càng nhiều những người Đông Đức trẻ tuổi với va li trên tay đi về phía tây để tìm kiếm tương lai, bởi vì phía sau lưng họ là một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa già nua, trì trệ mà Khrushchev luôn cam đoan một ngày nào đó sẽ vượt qua được sự thần kì của kinh tế Tây Đức. Đấy là một cuộc bỏ phiếu trên đôi chân cùng những chiếc va li. Muốn ngăn nó lại thì cách duy nhất là phải dựng lên một bức tường.

Tổng thống J. Kennedy có đọc bài báo của George Bailey nhưng không để ý lắm.

Ngày 4-6-1961, khi gặp nhau ở Vienna, N. Khrushchev đưa ra tối hậu thư về Berlin cho J. Kennedy. Nhà lãnh đạo Xô viết thông báo rằng trong vòng 6 tháng, Liên bang Xô viết sẽ kí một hiệp ước hòa bình với Cộng hòa dân chủ Đức và cắt tất cả mọi con đường tiếp cận tới Tây Berlin của NATO.

- Đấy là lúc Hoa Kỳ sẽ phải quyết định lựa chọn chiến tranh hay hòa bình, - N. Khrushchev nói.

- Đấy sẽ là một mùa đông rất lạnh, - J. Kennedy trả lời.

Ngày 15-6-1961, trong cuộc họp báo quốc tế tại Đông Berlin, trả lời câu hỏi của nữ nhà báo Tây Đức Annamarie Doherr, Chủ tịch Hội đồng nhà nước Đông Đức Walter Ulbricht phủ nhận những tin tức nói rằng ông đang “huy động các công nhân xây dựng ở thủ đô để chuẩn bị xây một bức tường”. “Những người công nhân ở thủ đô đã huy động toàn lực để chủ yếu xây nhà dân cư. Không một ai có ý định dựng lên một bức tường cả”, nhà lãnh đạo Đông Đức tuyên bố.

Như vậy, W. Ulbricht là người đầu tiên sử dụng khái niệm “bức tường” từ nhiều tháng trước khi nó được dựng lên. Chỉ có một số ít cố vấn thân cận của ông khi ấy biết rõ rằng đó chính xác là điều mà phía Đông Đức chuẩn bị làm, nhưng không một phóng viên phương Tây nào nhận ra ngụ ý đằng sau lời tuyên bố này.

Ngày 21-6-1961, chỉ huy các đơn vị Xô viết ở Đông Berlin áp dụng kế hoạch kiểm soát biên giới của một “Berlin mở rộng”. Các cuộn dây thép gai bắt đầu được vận chuyển tới những nhà kho nằm trong quyền kiểm soát của các lực lượng vũ trang Xô viết ở gần đường biên giới trong thành phố.

Ngày 25-6, J. Kennedy đáp trả tối hậu thư của phía Xô viết. Từ Phòng bầu dục trong Nhà Trắng, tổng thống Mỹ tuyên bố với thế giới rằng Tây Berlin đã trở thành “nơi thử thách lớn nhất lòng can đảm và ý chí của phương Tây”, là nơi mà cam kết của nước Mỹ đụng độ với tham vọng Xô viết.

Ngày 26-6, N. Khrushchev gửi điện cho đại sứ Liên Xô ở Đông Berlin, ra lệnh cho ông này truyền đạt ý kiến tới W. Ulbricht, rằng đã đến lúc “dựng một vành đai sắt quanh thành phố. Nếu như điều đó dẫn tới chiến tranh thì sẽ có chiến tranh”.

Ngày 1-8-1961, N. Khrushchev gặp W. Ulbricht ở Moscow, nói rằng Đông Đức có hai tuần lễ để biến kế hoạch thành hiện thực.

Ngày 3-8, các nhà lãnh đạo các nước trong khối Hiệp ước Warsaw gặp nhau ở Moscow cùng với W. Ulbricht và thông qua kế hoạch xây dựng bức tường.

Ngày 11-8, Bộ trưởng Bộ An ninh quốc gia Đông Đức Erich Mielke phổ biến cho các trợ lí thân cận nhất trong Stasi về kế hoạch mang mật danh Rose để xây dựng bức tường.

Trước nửa đêm ngày 12-8, W. Ulbricht triệu tập các thành viên nội các tới một cuộc gặp bí mật ở nhà nghỉ vùng nông thôn của ông tại Waldliz để thông báo về kế hoạch. Cho tới lúc ấy, chỉ có chưa đầy hai chục người ở Đông Đức biết về kế hoạch này.

Sau nửa đêm ngày 12-8, các xe tăng Xô viết hướng tới thành phố và bắt đầu được triển khai ở các địa điểm then chốt. Những người lính Đông Đức bắt đầu dựng hàng rào dây thép gai dọc theo đường biên giới dài 96 dặm với Tây Berlin.

+++++

Khi bức tường bắt đầu được dựng lên vào rạng sáng hôm 13-8-1961 thì F. Pryor đang đi nghỉ cuối tuần ở Đan Mạch. Anh ta nghe tin về bức tường qua radio trong xe khi đang trên đường quay trở về Tây Berlin vào buổi chiều hôm đó. Với F. Pryor thì việc hình thành một bức tường trên biên giới giữa Đông và Tây Berlin dường như không có gì quá nghiêm trọng. Phía Đông Đức cam kết là việc hình thành bức tường biên giới sẽ không làm ảnh hưởng đến những người phương Tây muốn tiếp cận Đông Berlin.

Tổng thống J. Kennedy cực kì tức giận, không phải vì người Đông Đức đã dựng lên bức tường bằng dây thép gai, mà vì các cơ quan đặc biệt như CIA hay Bộ Ngoại giao Mỹ đã không hề biết - và thông báo - cho ông về chiến dịch dựng bức tường của phía Xô viết và Đông Đức. Tổng thống Mỹ bác bỏ đề nghị từ các viên chỉ huy Mỹ ở Berlin, xin phép sử dụng xe để ủi phẳng hàng rào dây thép gai mới được phía Đông Đức dựng lên. Một hành động như thế có thể là một lời tuyên chiến.

J. Kennedy triệu hồi lại Tướng Lucius Clay, người từng là thống đốc quân đội vùng Hoa Kỳ chiếm đóng thời kì diễn ra cuộc phong tỏa Berlin năm 1948, bổ nhiệm ông này làm đại diện của tổng thống Mỹ ở Berlin. Cuối tuần lễ đó, Phó Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson cùng Tướng Lucius Clay bay tới Berlin. Ngày hôm sau, 1.500 lính Mỹ từ nơi đóng quân ở Helmstedt, cách Berlin khoảng 100 dặm, tiến vào Tây Berlin và thiết lập các vị trí đồn trú tại đây. Trong suốt quá trình di chuyển quân, thông qua các trợ lí quân sự của mình, Tổng thống J. Kennedy cứ hai mươi phút một lần cập nhật tình hình trong sự phấp phỏng là biết đâu sẽ nổ ra Đệ tam thế chiến. Khi các đơn vị quân Mỹ đã đóng quân đâu vào đấy, Thị trưởng Tây Berlin Willy Brandt tuyên bố mối đe dọa nổ ra chiến tranh đã trôi qua và Nhà Trắng thở phào.

Ngày 25-8, N. Khrushchev mời nhà báo Mỹ Drew Pearson tới nhà nghỉ mùa hè ở Crimea để giải thích về những hành động của phía Xô viết ở Berlin. Cùng ngày, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Đông Đức Walter Ulbricht có một bài phát biểu tại Quảng trường Alexander ở trung tâm Đông Berlin, kết tội những hành vi khiêu khích của phương Tây đã buộc chính quyền Đông Đức phải dựng lên bức tường.

Cũng vào ngày 25-8 ấy, trên chiếc xe Karmann Ghia màu đỏ tươi, từ Tây Berlin, F. Pryor sang Đông Berlin qua trạm kiểm soát Charlie mà không gặp khó khăn gì. Có vẻ như phía Đông Đức đã giữ đúng lới hứa khi cho phép những người phương Tây dễ dàng đi vào Đông Berlin ngay cả sau khi bức tường đã được dựng lên từ hai tuần lễ trước đó. Đây là chuyến đi tạm biệt Đông Berlin của F. Pryor bởi vì luận án tiến sĩ đã cơ bản hoàn thành và một công việc mới đang chờ anh ta ở Pakistan. F. Pryor để một vài bản sao cuốn luận án tiến sĩ trên ghế hành khách của chiếc Karmann Ghia. Anh ta tới Quảng trường Alexander để nghe bài phát biểu của nhà lãnh đạo Đông Đức Walter Ulbricht rồi dự tính sẽ gửi những bản sao này cho một vài người đã giúp anh ta hoàn thành luận án. Rồi sau đó anh ta sẽ tới gặp để nói lời tạm biệt một nhà kinh tế học trẻ tuổi, cô Begman, người đã giúp anh ta rất nhiều trong việc thu thập dữ liệu của các xí nghiệp dệt ở Đông Đức. Nếu còn thời gian thì F. Pryor muốn mời cô Begman đi ăn tối.

Ở Quảng trường Alexander, trong khi nghe bài phát biểu của Walter Ulbricht, F. Pryor gặp lại Martin Skala, một sinh viên học cùng lớp hồi năm 1955 ở Đại học Oberlin, cũng mới từ Áo sang Đông Berlin. Hai người tán gẫu một hồi rồi Martin Skala muốn đi nhờ xe của F. Pryor tới trạm kiểm soát Charlie. Sau khi thả anh bạn cũ xuống đây, F. Pryor quay lại Đông Berlin và tìm tới ngôi nhà nơi cô Begman ở trọ.

Nhưng cô Begman không có nhà. Bà chủ nhà trọ cũng không biết cô đi đâu. Khi từ nhà trọ quay ra, F. Pryor thấy một đám đông cảnh sát Đông Đức đang vây quanh chiếc xe của mình.

Những người cảnh sát hỏi F. Pryor ở đâu. Anh ta trả lời là mình tới từ Tây Berlin. Vậy anh ta làm gì ở nhà trọ? Anh ta muốn tới tìm gặp một người bạn nhưng người bạn này không có ở đó.

Cô Begman đã chạy sang Tây Berlin. Căn hộ của cô nằm dưới sự giám sát của cảnh sát mật Stasi. F. Pryor bị bắt giữ vì tình nghi đã giúp cô Begman trốn sang phương Tây và cố gắng thu hồi những tài liệu còn lại trong căn hộ của cô.

Thoạt đầu, F. Pryor được đưa về trụ sở cảnh sát ở gần Quảng trường Alexander. Tại đó, F. Pryor nói rằng mình tới nhầm địa chỉ, nhưng không có bất cứ một ai tin lời anh ta. Rồi ngay đêm hôm ấy, anh chàng sinh viên được đưa tới nhà tù dành cho các nghi can đang bị điều tra ở Hohenschönhausen, một nơi hẻo lánh phía đông bắc ngoại ô Berlin, không có tên trên bất cứ một tấm bản đồ Đông Đức nào.

Rất có thể là F. Pryor đã xuất hiện không đúng lúc và cũng không đúng chỗ ở Đông Berlin vào hôm 25-8 ấy bởi ban đầu Stasi không chủ tâm giữ anh chàng sinh viên người Mỹ trong một thời gian dài. Bằng cớ để bắt anh ta khá là yếu ớt. Nhưng đến khi các nhân viên mật vụ Đông Đức tìm thấy những bản sao luận án của F. Pryor để trong xe anh ta thì họ hết sức phấn khích. Stasi muốn dựng lên một vụ án gián điệp kinh tế, xử F. Pryor theo Điều 14 của Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa dân chủ Đức. Thêm nữa, khi nghiên cứu lí lịch của anh chàng sinh viên, Stasi phát hiện ra một điều rất quan trọng rằng cha của anh ta là bạn thân với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara, đồng thời là một nhà công nghiệp giàu có ở bang Michigan. Thế nên F. Pryor bỗng dưng trở thành một tài sản hết sức có giá trị đối với Stasi, một quân cờ có sức nặng để trao đổi, mặc cả khi chơi những ván bài chính trị trong tương lai.

Cũng vì thế nên lẽ ra chỉ bị giam giữ vài ngày thì rất có khả năng là F. Pryor sẽ phải trải qua 10 năm trong nhà tù Đông Đức.

Anh ta bị ném vào một cái xà lim chật hẹp cùng với một bạn tù nữa, người đều đặn làm các báo cáo về mọi lời nói, hành động của anh chàng sinh viên Mỹ. Trong suốt 5 tháng rưỡi sau đó, tuy không bị tra tấn nhưng ngày nào F. Pryor cũng bị thẩm vấn. Cũng chẳng có gì phải giấu nên anh ta trả lời tất cả mọi câu hỏi của các nhân viên thẩm vấn. Hồ sơ vụ án của F. Pryor dày tới 10.000 trang, trong đó gồm có cả bản dịch luận án tiến sĩ, biên bản các cuộc thẩm vấn, 350 trang báo cáo viết tay của người bạn tù và 72 vật dụng mà các nhân viên mật vụ Đông Đức đã thu được khi bắt giữ F. Pryor.

Được cho ăn uống khá chu đáo nhưng những ngày bị giam giữ biệt lập ở trại giam Hohenschönhausen đã tác động cực kì xấu đến tâm trạng của F. Pryor. Thư từ của cha mẹ gửi cho đều bị ngăn lại, không được chuyển cho anh ta. Các nhân viên thẩm vấn nói với F. Pryor rằng anh ta sẽ bị ngăn cách hoàn toàn với thế giới bên ngoài trừ phi anh ta nhận tội làm gián điệp.

Đã có lúc F. Pryor nghĩ tới chuyện tự sát.

+++++

Image

Người đầu tiên nhận thấy sự vắng mặt bất thường của F. Pryor là cô bạn gái Eleonora, vốn vẫn giúp anh ta đánh máy luận án. Vào buổi tối ngày nhà lãnh đạo Đông Đức W. Ulbricht phát biểu trên Quảng trường Alexander ở Đông Berlin về việc bắt buộc phải dựng lên bức tường, Eleonora đã chờ F. Pryor từ Đông Berlin quay về căn phòng của anh ta ở khu Viktoria-Luise tại Tây Berlin. Khi không thấy anh bạn trai trở về, Eleonora cũng không hề cảm thấy lo lắng. Suy cho cùng thì đấy vẫn là anh chàng Fred thích lang thang, người đã từng làm việc cho một tổ chức xã hội ở tít cái xứ Paraguay tận Nam Mỹ trong hơn nửa năm trời chỉ vì đã tình cờ lạc bước đến đó. Eleonora biết rằng trong khu vực do người Xô viết kiểm soát ở Đông Berlin, F. Pryor hoàn toàn có tư cách hợp pháp. Anh ta có một chiếc xe, nói tiếng Đức khá ổn nên không việc gì phải lo hết.

Nhưng trong tuần lễ sau đó, khi không có bất cứ tin tức gì về anh bạn trai, Eleonora bắt đầu cảm thấy lo lắng. Cô ta gọi điện thoại cho người anh em song sinh của F. Pryor đang ở bang Connecticut. Đến lượt người này lại gọi cho cha mẹ của hai người đang ở Michigan. Hai ông bà này đều đã rời khỏi công việc, giờ chỉ suốt ngày ngồi xem tin tức trên truyền hình. Mười sáu năm đã trôi qua kể từ khi Berlin được quân Đồng minh giải phóng khỏi ách phát xít. Giờ đây, người con trai của họ đã biến mất trong cái thành phố ấy, hoàn toàn biệt vô tăm tích.

Cha của F. Pryor, ông Millard H. Pryor là một người quyết đoán. Stasi đã đúng khi phát hiện ra ông là bạn của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara thời hai người là hàng xóm với nhau ở khu Ann Arbor. Ông cũng còn một người bạn thân láng giềng khác là giáo sư William Haber ở Đại học Michigan, một chiến hữu thân thiết trong thời chiến tranh của tướng Lucius Clay, hiện là đại diện cá nhân của tổng thống Mỹ đang xử lí cuộc khủng hoảng Berlin.

Nhưng ông Millard H. Pryor không phải là người chỉ trông cậy vào những mối quan hệ có sức nặng như vậy để tìm cách giải cứu đứa con trai của mình. Việc đầu tiên ông làm là đặt vé máy bay cho mình và vợ cùng bay tới Tây Berlin. Millard có nhiều kinh nghiệm thành công trong việc thực hiện các công việc kinh doanh của mình, vốn chỉ bị gián đoạn một thời gian ngắn khi ông tham gia lực lượng hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương. Cùng với kinh nghiệm, Millard H. Pryor còn có tiền và khi tình thế đòi hỏi, ông biết cách sử dụng chúng sao cho có ích nhất.

Ngay khi tới Tây Berlin, ông Millard và bà Mary Pryor đăng kí ở khách sạn Kempinski. Cú điện thoại đầu tiên là họ gọi tới phái bộ Mỹ, khi ấy đóng quân ở tòa nhà Clay Allee, mang tên vị tướng đại diện cho tổng thống Mỹ. Tiếp đó, hai vợ chồng cân nhắc một danh sách các mối quan hệ mà họ có thể liên lạc để nhờ giúp giải quyết tình thế khó khăn cho con trai. Khi ấy không có nhiều luật sư có thể làm việc ở cả hai phía của bức tường Berlin.

Tên của luật sư Vogel đứng thứ hai trong danh sách này. Trong suốt tháng 9-1961, họ gặp vị luật sư này mấy lần. Bà Mary Pryor rất ấn tượng về vị luật sư này. Từ ông ta toát ra vẻ thành thực của tôn giáo; ông ta tuyên bố rằng mình phải chịu khổ nạn vì đã dâng hiến toàn bộ sức lực cho các thân chủ của mình; cuối cùng, điều quan trọng nhất là ông ta có niềm tin mãnh liệt rằng con trai của họ thực chất không phải là một gián điệp.

Hai người quyết định thuê vị luật sư này.

Đấy là bước đi đầu tiên trong vô vàn những mối quan hệ nhằng nhịt phức tạp, những đòn thế rắc rối, các đòn bẩy về kinh tế, chính trị, ngoại giao và cả những áp lực từ các mối quan hệ cá nhân ở hai bên bờ đại dương, liên quan đến một nhân vật trung tâm duy nhất, một anh chàng sinh viên ngây thơ đã ở không đúng chỗ, vào thời điểm không đúng lúc, trong cuộc đối đầu Đông - Tây. Ở thời điểm Chiến tranh Lạnh leo thang đến đỉnh cao với việc hình thành bức tường Berlin, những gì liên quan đến sinh viên F. Pryor điển hình cho tình trạng hỗn độn của cuộc đối đầu này, khi mà số phận mong manh của mỗi cá nhân được quyết định bởi các cơ quan đặc biệt.

Ở thời điểm ấy, đối với thế giới bên ngoài khối Xô viết, Cộng hòa dân chủ Đức chỉ là một quốc gia hạng hai. Để thoát khỏi vị thế này, việc giữ “con tin” và buộc các chính phủ nước ngoài công nhận chính thức về mặt ngoại giao nhằm đổi lấy việc phóng thích những “con tin” này là một chiến thuật bắt buộc. Đó là lí do khiến cho cậu con trai của gia đình Pryor bị cầm giữ cũng như là nguyên nhân cơ bản khiến cho phái bộ Mỹ ở Berlin khó có thể làm được gì nhiều để giúp gia đình Pryor giải cứu con trai của họ.

Luật sư Vogel được thuê để đại diện cho gia đình Pryor nhằm đưa anh chàng F. Pryor ra khỏi nhà tù Đông Đức, nhưng ông này cũng chỉ là một nhân vật trung gian. Mối quan hệ cộng sự với Bộ An ninh quốc gia Cộng hòa dân chủ Đức Stasi của Vogel không giúp được gì nhiều. Để có thể thúc đẩy quá trình tác động lên phía Cộng hòa dân chủ Đức, cần phải có thêm một nhân vật đóng vai trò trung gian nữa, lần này đại diện cho phương Tây, để đưa ra những quân bài mặc cả trong ván bài cân não này.

Nhân vật này là Duane Bruce, một con người bí ẩn, không rõ xuất xứ từ đâu. Ngay cả cái tên Duane Bruce cũng không chắc có phải là tên thật của ông ta hay không. Ngày 26-11-1961, trên một chiếc xe “con bọ” của hãng Volkswagen, ông ta xuất hiện trong căn hộ của luật sư Vogel nằm ở đường Prenzlauer Berg tại Đông Berlin. Duane Bruce tuyên bố mình đại diện cho gia đình Pryor, tới gặp W. Vogel để bàn bạc về vụ giải cứu anh sinh viên F. Pryor.

Cuộc nói chuyện của họ kéo dài trong hai giờ đồng hồ và vì nó diễn ra trong căn hộ của W. Vogel, người mang mật danh Eva trong các báo cáo gửi cho Stasi, nên dĩ nhiên là toàn bộ nội dung của cuộc nói chuyện được các máy ghi âm của Stasi cài trong căn hộ ghi lại.

D. Bruce tự giới thiệu mình là nhân viên bán bảo hiểm trong khu vực người Mỹ kiểm soát ở Đông Berlin. Khi công việc bán bảo hiểm gặp hồi sa sút, ông ta đọc được một mẩu quảng cáo của trường Đại học Tổng hợp Tự do Berlin ở Tây Berlin, tìm kiếm một người Mỹ biết nói tiếng Đức. Ông ta tìm đến, những tưởng là sẽ nhận được một công việc đại loại như hướng dẫn viên du lịch, nhưng hết sức ngạc nhiên khi được gia đình Pryor tiếp xúc và kể lại vụ việc họ đi tìm kiếm con trai mất tích ở Đông Berlin. Trong sự ngạc nhiên của Vogel - và cả của các nhân viên Stasi sau này nghe lại cuộn băng ghi trộm - D. Bruce nói là khi được thuê làm đại diện cho gia đình Pryor, ông ta đã tham gia một khóa đào tạo cơ bản kéo dài trong sáu tuần lễ của CIA về công tác gián điệp! Theo lời D. Bruce thuật lại thì CIA đã hướng dẫn ông ta cách nhận biết các loại vũ khí cá nhân cũng như xe tăng của quân đội Liên Xô, cách phân biệt cấp bậc của các quân nhân Xô viết.

Sau màn tự giới thiệu, D. Bruce hỏi W. Vogel xem tình trạng của anh chàng sinh viên F. Pryor tệ đến đâu. Vị luật sư Đông Đức là cộng tác viên của Stasi giải thích rằng số phận của anh chàng tùy thuộc vào việc người ta quan niệm thế nào là gián điệp! Nếu như trên lãnh thổ Đông Đức, F. Pryor đã đọc những tài liệu mà anh ta không được phép đọc, như về giá ngô của Liên Xô ở vùng Rostov chẳng hạn, thì anh ta là gián điệp!

“Tệ nhất đối với F. Pryor là anh ta bị đem ra xét xử ở tòa án”, W. Vogel giải thích tiếp. Ông ta không được phép xem những bằng chứng mà phía Đông Đức đã thu thập để chống lại F. Pryor tại tòa, nhưng qua hơn ba tháng điều tra ở nhà tù Hohenschönhausen, có vẻ như họ đã thu thập được những bằng chứng khá nghiêm trọng để chống lại anh sinh viên. “Nếu bị đưa ra tòa với những bằng chứng này, rất có thể anh ta sẽ bị kết án từ 15 năm tù đến chung thân”, vị luật sư kết luận.

Vậy là trong cái buổi tối mùa thu lạnh giá năm 1961 ấy, ở trong căn hộ bị Stasi nghe lén, thông điệp đã được chuyển cho phía Mỹ qua tay điệp viên nghiệp dư của CIA: đứa con trai của nhà công nghiệp nhiều thế lực vùng Michigan có thể phải chịu án từ 15 năm tù đến chung thân!

Rõ ràng là cả phái bộ Mỹ ở Berlin lẫn CIA đều không mạo hiểm cử những điệp viên chuyên nghiệp sang tiếp xúc với W. Vogel vì lo ngại sẽ bị rơi vào cái bẫy của Stasi Đông Đức hay KGB Liên Xô. Thay vào đó, họ cử một người mang danh nghiệp dư như D. Bruce sang để nhận thông điệp. Người này vừa đại diện cho gia đình Pryor, nhưng cũng đồng thời đại diện cho CIA, tổ chức đang muốn thăm dò vai trò của W. Vogel trong trò chơi trao đổi điệp viên phức tạp hơn nhiều nhằm mang phi công F. Powers về Mỹ.

Về phía W. Vogel thì ông ta không chỉ đóng vai trò nhân viên nhị trùng mà thậm chí còn ba mang. Ông ta làm việc cho KGB thông qua việc là đại diện cho “bà Abel”: “Nếu họ nói rằng sẵn sàng trao đổi thì tôi sẽ thu xếp”, ông ta nói với D. Bruce; ông ta cũng đại diện cho Stasi khi đưa ra lời đe dọa về bản án nghiệt ngã đối với một anh chàng sinh viên vô tội; đồng thời ông ta cũng đại diện cho cha mẹ của F. Pryor để giải quyết vụ việc nhằm đưa con trai về với họ.

Trong vai trò thứ ba này, tác động của người cha Pryor là rất quan trọng do lẽ phía Đông Đức cũng như KGB hiểu rõ ảnh hưởng mà ông này có thể vận dụng nhằm giải cứu cho con trai. Bởi thế, W. Vogel nhấn mạnh với D. Bruce: “Cha mẹ của anh ta phải hiểu rằng một vụ án nghiêm trọng đang chờ đón con trai họ. Trong vụ này, Washington không thể làm được gì nhiều để thay đổi tình thế đâu”.

Nói cách khác, nếu muốn đưa anh sinh viên vào “gói” trao đổi điệp viên Abel - Powers, người Mỹ cần phải có thái độ nhún nhường! Cha mẹ của F. Pryor cần làm hết sức mình để cứu con trai họ và nếu điều đó xảy ra thì phía Đông Đức cũng phải nhận được sự kính trọng đúng mức.

Cha mẹ F. Pryor quả thật đã nhận thức được rất rõ thông điệp phía bên kia đưa ra. Trong suốt thời gian trước Giáng sinh năm 1961, ông Millard đã vận dụng hết mọi khả năng của mình để vận động hành lang ở Bộ Ngoại giao Mỹ thông qua những người bạn trong Thượng viện và tổng chưởng lí Hoa Kỳ. Hiệu trưởng trường Yale, nơi F. Pryor theo học, gửi điện tín cho chính phủ Đông Đức, đề nghị thả anh sinh viên của trường. Nhà công nghiệp giàu có và nhiều ảnh hưởng này vạch ra kịch bản nếu như con trai mình được phóng thích thì rất có thể là tập đoàn thép Krupp cùng tổ hợp các nhà máy sẽ lần đầu tiên tham gia một triển lãm diễn ra trong Hội chợ thương mại Leipzig ở Đông Đức.

Với những ảnh hưởng to lớn về mặt chính trị ở Washington, ông Millard đã thành công trong việc đề nghị phái bộ Mỹ ở Berlin phải cắt cử ra hẳn một người để lo vụ giải cứu F. Pryor. Đó là Frank Meehan, một người Mỹ sinh ra ở New Jersey nhưng lớn lên ở Scotland, có thể nói thông thạo tiếng Anh, Đức và Nga. Đó là bước tiến rất lớn trong quá trình giải quyết vụ này bởi F. Meehan có một vị thế trong phái bộ Mỹ và vì vậy, là đại diện chính thức cho phía Mỹ. F. Meehan kết nối với W. Vogel và hai người nhanh chóng tìm được những điểm chung, xây dựng sự tin tưởng lẫn nhau. Kênh liên lạc giữa F. Meehan và W. Vogel đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn sau của cuộc trao đổi, đặc biệt là đối với phía Đông Đức. Việc có một giới chức của Mỹ trực tiếp tham gia vào quá trình thương lượng cho phép phía Đông Đức hi vọng rằng đó có thể là bước đầu tiên để Mỹ tiến tới công nhận ngoại giao nước Cộng hòa dân chủ Đức.

Tất cả những động thái này được W. Vogel báo cho Stasi và đến lượt mình, cơ quan an ninh Đông Đức tác động với tổng chưởng lí để viên luật sư được phép vào thăm F. Pryor ở nhà tù Hohenschönhausen.

Một ngày lạnh lẽo tháng 2-1962, trong khi đang ở trong tâm trạng chán chường, F. Pryor được thông báo có một vị khách đến thăm. Hai người được đưa vào một căn phòng để trao đổi riêng nhưng chắc chắn có các thiết bị ghi âm lại để bổ sung vào hồ sơ của anh sinh viên F. Pryor. Người khách là một luật sư trông trẻ trung, rắn rỏi, bảnh bao và đầy vẻ lạc quan. Vừa bước vào phòng, ông ta chỉ tay lên trần nhà, ra hiệu rằng những máy ghi âm có thể được giấu ở đó. Rồi ông ta tự giới thiệu là luật sư Wolfgang Vogel, đưa tay ra bắt để chuyển cho F. Pryor một mẩu giấy, trên đó có một hàng chữ viết tay mà anh chàng sinh viên nhận ra ngay đó là nét chữ của cha mình. Chỉ có vỏn vẹn sáu từ: “Con có thể tin người này”.

+++++

Cũng như F. Pryor, Marvin Makinen là một sinh viên ở Tây Berlin. Nhưng không ngây thơ như F. Pryor, con đường của M. Makinen trong cuộc phiêu lưu ở châu Âu khởi đầu một cách có chủ đích với cuộc điện thoại từ một “đầu mối” nằm trong số 48 tổ chức ở Berlin mà phía Xô viết liệt vào dạng hoạt động gián điệp, tuyên truyền hoặc khủng bố. “Đầu mối” này đề nghị M. Makinen tham gia vào trò chơi của những hiệp sĩ mặc áo choàng và dao găm, khi ấy đang rất sôi động ở thành phố gián điệp. Anh ta đồng ý.

Cả F. Pryor và M. Makinen đều là sinh viên trường Đại học Tổng hợp Tự do Berlin tại Tây Berlin dù hai người không biết nhau. M. Makinen là sinh viên thuộc diện trao đổi giữa trường đại học ở Tây Berlin với Đại học Tổng hợp Pennsylvania, thời gian học kéo dài bốn năm. Ngành học của M. Makinen chủ yếu là hóa chất nhưng anh ta cũng theo học lấy chứng chỉ cả môn khoa học chính trị. Thầy giáo của M. Makinen nói trong một năm ở Berlin, anh ta có thể học hỏi những kiến thức về môn khoa học chính trị bằng ba năm ở Philadelphia và ông ta đã đúng.

Trong năm đầu tiên ở châu Âu, vào kì nghỉ giữa hai học kì mùa đông và mùa hè, M. Makinen đi thăm họ hàng ở Phần Lan. Anh ta muốn đi trượt tuyết ở Lapland, nhưng một ông anh họ nói là có một chuyến du lịch cả gói tới Leningrad và Moscow, thế nên M. Makinen quyết định tới Liên Xô. Nếu hoàn thành chuyến đi và quay về Berlin với thị thực nhập cảnh vào Liên Xô hẳn sẽ giúp cho M. Makinen có được uy tín trong đám bạn bè và cả các thầy cô ở trường đại học. Nếu so với những dấu nhập cảnh trên hộ chiếu của các sinh viên trở về từ Pháp, Hy Lạp, Thụy Sĩ hay thậm chí là Nam Tư thì con dấu nhập cảnh Liên Xô có sức nặng hơn nhiều.

Như đã thỏa thuận trước, khi chuẩn bị cho chuyến đi, M. Makinen gọi diện thoại cho “đầu mối” ở Tây Berlin và một cuộc gặp gỡ được thu xếp nhanh chóng. M. Makinen gặp hai nhân viên tình báo quân đội Mỹ tại một tiệm ăn gần Studentendorf ở Dahlem, gần nơi anh ta trú ngụ tại Tây Berlin.

Hai nhân viên tình báo Mỹ trao cho M. Makinen một chiếc máy ảnh Pentax đời mới nhất, chỉ dẫn cách sử dụng và gợi ý rằng anh ta không nên tuân thủ hoàn toàn lộ trình do tổ chức du lịch vạch ra mà nên đi sâu hơn vào những tuyến đường nằm ở miền Tây nước Nga. Đây là lần đầu tiên những người khách du lịch phương Tây được phép tự lái xe ở khu vực lãnh thổ này của Liên Xô và các nhân viên tình báo Mỹ nói sẽ thuê cho M. Makinen một chiếc xe. Tất cả những gì anh ta phải làm là chụp càng nhiều ảnh càng tốt, các sân bay, cầu đường, cơ sở quân sự, những chiếc xe tăng ngẫu nhiên đi trên đường...

Mùa hè năm 1961, M. Makinen rời Berlin, đi Praha, Budapest, tới Kiev rồi dự tính hướng về phía đông nước Nga nếu điều kiện cho phép.

Nhưng anh chàng M. Makinen không biết rằng trò chơi mèo vờn chuột giữa các cơ quan điệp báo quốc tế không phải dành cho những gián điệp tay mơ. Khi đang chụp ảnh các cơ sở quân sự cùng những đơn vị Xô viết chuyển quân trên lãnh thổ Ukraine, anh ta bị bắt với đầy đủ tang vật, bị kết án tội gián điệp với 8 năm tù và đưa về giam tại Kiev.

+++++

Ngày 27-1-1962, trong bữa tiệc hằng năm của Hiệp hội Tư vấn bảo hiểm quốc tế tổ chức ở khách sạn Plaza tại New York, J. Donovan nói với mọi người rằng mình sẽ có chuyến đi London để thảo luận về kế hoạch hợp nhất giữa một công ty bảo hiểm của Mỹ với một công ty của Anh. Đó là một chuyến đi bình thường, không có gì đặc biệt. Các bạn bè của J. Donovan đều nhất trí rằng việc kết hợp giữa nguồn vốn của người Mỹ với kinh nghiệm trên thị trường bảo hiểm của người Anh là một lựa chọn không tồi. Một luật sư có mặt trong bữa tiệc hỏi J. Donovan về tình trạng hiện tại của người điệp viên Xô viết mà người luật sư đã tham gia bào chữa mấy năm trước. J. Donovan giải thích rằng Đại tá Abel hiện đang thụ án 30 năm tù ở Atlanta và người luật sư nọ tỏ vẻ hài lòng vì công lí đã được thực thi, cũng như việc J. Donovan đã thua trong phiên tòa, không cãi trắng án được cho thân chủ điệp viên của mình.

J. Donovan đặt một phòng sang trọng tại khách sạn Claridge ở thủ đô nước Anh và mua một vé hạng nhất bay đi London trên máy bay của hãng hàng không Mỹ Pan Am vào ngày 29-1-1962.

J. Donovan tới London vào sáng thứ ba, 30-1-1962, trong khi mãi tới thứ bảy mới có cuộc hẹn với “bà Abel” tại sứ quán Liên Xô ở Đông Berlin nên không có gì phải vội. Tuy nhiên, đã có một sự thay đổi cơ bản trong chuyến đi sang Đông Berlin của vị luật sư. Theo kế hoạch cũ thì đi cùng với J. Donovan là một nhân viên trong phái bộ Mỹ ở Tây Berlin, thông thạo tiếng Đức và tiếng Nga. Ngoài việc giúp J. Donovan thuận lợi trong trao đổi thương lượng, tư cách ngoại giao của người này có thể giúp cho người luật sư nếu xảy ra rắc rối. Tuy nhiên, ở phút cuối cùng, CIA quyết định rằng J. Donovan sẽ đơn thương độc mã, một mình sang Đông Berlin mà không có nhân viên của phái bộ Mỹ đi cùng. Lí do bởi vì CIA lo ngại rằng nếu qua bên kia bức tường mà có chuyện gì đó xảy ra với người nhân viên phái bộ Mỹ có tư cách ngoại giao thì sẽ là điều hết sức khó xử cho phía Mỹ. Cho tới lúc ấy, chính quyền Mỹ vẫn chưa chính thức công nhận sự tồn tại nước Cộng hòa dân chủ Đức giữa lòng châu Âu.

CIA đã thực hiện lời hứa hết sức giúp J. Donovan, đồng thời cho thấy sự hợp tác mật thiết giữa CIA với Cục Tình báo mật MI6. Ở London, J. Donovan là khách của MI6. Ngay sau khi J. Donovan đăng kí xong vào khách sạn Claridge, một người đàn ông tự xưng tên là “Ngài White” đã gõ cửa phòng J. Donovan. “Ngài White” đưa cho J. Donovan một phong bì dày, bên trong có một xấp tiền mác Tây Đức và hỏi rằng có vấn đề gì không nếu ở London, J. Donovan sẽ được gọi là “Ngài Dennis”. “Không có vấn đề gì hết, tôi chỉ nghỉ ngơi thôi”, J. Donovan trả lời.

Trong mấy ngày sau đó, J. Donovan thăm thú London, tìm mua những cuốn sách cổ bổ sung cho bộ sưu tập của mình. Đến thứ năm, J. Donovan ăn tối với vài người bạn cũ của mình, nói với họ rằng sáng hôm sau sẽ đi Zürich.

Sáng sớm thứ sáu, 2-2-1962, “Ngài White” xuất hiện ở khách sạn Claridge từ rất sớm, khi bình minh còn chưa ló rạng. J. Donovan làm thủ tục trả phòng, nói với lễ tân khách sạn là hãy giữ lại hộ tất cả những bức điện tín gửi cho mình trong thời gian vắng mặt. Đồng thời J. Donovan đánh một bức điện tín gửi cho Mary vợ mình, nói rằng vài người bạn mời đi nghỉ cuối tuần ở Scotland.

“Ngài White” lái xe đưa “Ngài Dennis” tới Quảng trường Connaught ở London đón một nữ nhân viên của tình báo Anh. Nữ nhân viên này lặng lẽ chui vào băng ghế sau, ngồi cùng với J. Donovan. “Ngài White” lái xe chở hai người đi vòng vèo hai giờ đồng hồ trong trời mưa, trên những con đường trong thành phố vẫn còn đang ngủ say, cuối cùng tới một căn cứ của không lực Hoàng gia Anh. Ở cổng căn cứ, người nữ nhân viên tình báo Anh thông báo danh tính với lính gác mặc quân phục và chiếc xe chở ba người lọt vào bên trong. Tại đó, một nhân viên khác mặc thường phục đón sẵn và chui vào trong xe. Anh ta hỏi hộ chiếu “Ngài Dennis”. Đã được chỉ dẫn từ trước, J. Donovan chìa tấm hộ chiếu mở sẵn ở trang dành để đóng dấu thị thực ra để người nhân viên nọ không đọc được tên thật cũng như xem được ảnh của mình trên hộ chiếu. Người nhân viên nọ đóng dấu thị thực xuất cảnh khỏi nước Anh cho J. Donovan. Chiếc xe tiếp tục đi sâu vào trong căn cứ và một lát sau, tới chỗ chiếc máy bay C-45 của không quân Mỹ đã chờ sẵn. J. Donovan cầm cặp ra khỏi xe. Người nữ nhân viên của tình báo Anh vẫy tay chào J. Donovan qua màn mưa: “Chúc may mắn, Ngài Dennis!” Đấy là thứ mà J. Donovan rất cần khi ở Đông Berlin.

Cơ trưởng Mac Arthur tự giới thiệu với J. Donovan và chiếc C-45 nhanh chóng cất cánh bay đi Tây Berlin; hành khách duy nhất trên máy bay là J. Donovan.

Đến chiều muộn, chiếc máy bay hạ cánh xuống sân bay Tempelhof ở Tây Berlin. Tại đó, một nhân viên người Mỹ xưng tên là “Bob” đã chờ sẵn cùng với chiếc xe. Tuyết rơi dày đặc. Dường như không một ai nhận thấy sự xuất hiện của người luật sư Mỹ khi chiếc xe rời phi trường.

“Bob” lặng lẽ lái xe đưa J. Donovan về một ngôi nhà an toàn của CIA ở Dahlem, trong khu chiếm đóng của Mỹ tại Tây Berlin. Chỉ đến khi đã vào bên trong nhà, cởi bỏ áo khoác, kéo rèm che kín hết các cửa sổ, hai người mới làm quen với nhau. “Bob” chính là “El Supremo” Graver, Trưởng trạm CIA tại Berlin. “Bob” thông báo rằng trong thời gian ở Tây Berlin, J. Donovan sẽ ngụ tại ngôi nhà này. Trong nhà có đầy đủ mọi vật dụng giúp cho viên luật sư bớt cô quạnh, từ thuốc lá Mỹ cho đến rượu whisky Scotland 12 năm tuổi và những ấn bản tạp chí mới nhất. Hằng sáng, một nữ giúp việc người Đức sẽ tới lo bữa sáng và dọn dẹp phòng ngủ của J. Donovan, được bố trí ở tầng trên ngôi nhà.

Sau khi nghỉ ngơi được vài tiếng đồng hồ, tối hôm đó, “Bob” đưa J. Donovan đi ăn tối. Hai người nói đủ thứ chuyện, chỉ trừ về chuyến đi sang Đông Berlin ngày hôm sau của viên luật sư! Sau đó, “Bob” lái xe đưa J. Donovan tới khách sạn Hilton Berlin, nơi lúc nào cũng đầy nghẹt khách du lịch cùng giới thương gia, luôn tắm mình trong không khí ồn ào, náo nhiệt. “Bob” chỉ cho viên luật sư quán bar mang tên Gold City của khách sạn. Có một buồng điện thoại công cộng nằm ngay bên ngoài quán bar này. “Bob” cho J. Donovan một số điện thoại và yêu cầu viên luật sư phải nhẩm kĩ, thuộc lòng, không được ghi lại ra giấy. Đấy là số điện thoại chỉ để dùng riêng cho sứ mệnh của J. Donovan, không có trong bất cứ một cuốn danh bạ nào ở Berlin. Trong suốt thời gian thực hiện chuyến công cán đặc biệt ở Berlin, J. Donovan sẽ chỉ được gọi từ buồng điện thoại công cộng bên ngoài quán Gold City tới số điện thoại này để thông báo lại những diễn biến của cuộc thương lượng với phía Xô viết.

J. Donovan có mang theo một khẩu 32 li nhưng sau khi thảo luận kĩ một lần nữa với “Bob”, như đã thống nhất trước đó, hai người quyết định viên luật sư sẽ để lại khẩu súng khi đi qua bên kia bức tường Berlin. Nếu như phía Đông Đức hay Xô viết muốn làm khó J. Donovan thì một khẩu 32 li chẳng có nghĩa lí gì. Vật duy nhất mà J. Donovan mang theo chỉ là tấm hộ chiếu công dân Mỹ. Mặc dù thực hiện một sứ mệnh trọng đại cho chính phủ, ông lại phải hành động như một công dân bình thường.

+++++

Cũng trong ngày 2-2-1962, người phụ trách nhà tù liên bang tại Atlanta nhận được một cú điện thoại từ Washington. Ở đầu dây, Fred T. Wilkinson, Phó Giám đốc Phân ban nhà tù thuộc Bộ Tư pháp Mỹ, chỉ thị cho viên phụ trách nhà tù liên bang Atlanta rằng tù nhân Abel phải luôn tề chỉnh để sẵn sàng tới New York cho phiên thẩm vấn định kì của các quan chức Liên bang. Phó giám đốc dặn thêm viên phụ trách nhà tù liên bang là cấm không được phép để tin tức về việc đó lọt ra ngoài.

+++++

Sáng sớm hôm thứ bảy, 3-2-1962, J. Donovan tỉnh dậy trong ngôi nhà an toàn, người ngây ngấy của chứng viêm phổi vì phòng ngủ quá lạnh trong thời tiết lạnh lẽo ở Berlin. Tuyết rơi dày, phủ kín các con đường ở Tây Berlin. Khi “Bob” tới, hai người thống nhất là viên luật sư sẽ phải cố chịu đựng. Việc mời bác sĩ của quân đội Mỹ hay thậm chí một bác sĩ dân sự người Đức tới thăm khám sẽ kéo theo những hệ lụy rất phức tạp. Tất cả những gì “Bob” có thể làm là hứa sẽ tìm một lọ dầu xoa cho viên luật sư.

Sau bữa ăn sáng do người nữ giúp việc dọn lên, “Bob” trải ra một tấm bản đồ và chỉ cho J. Donovan vị trí có thể đi sang phía bên kia bức tường. Kế hoạch rất đơn giản: Ở Tây Berlin, viên luật sư sẽ đi tàu nổi S-Bahn hoặc tàu điện tới đường Friedrich, nơi duy nhất còn cho phép đi qua bức tường để sang Đông Berlin. “Bob” giải thích cho J. Donovan rằng đấy là tuyến đường hằng ngày mà một số công nhân Đông Đức được cấp phép để đi lại. Ngoài ra, chỉ một số rất ít vị khách “trung lập” được đi theo tuyến này. Khi tới trạm kiểm soát, J. Donovan sẽ phải trình giấy thông hành cho lính gác Đông Đức để qua rồi tới Đại sứ quán Liên Xô nằm trên phố Dưới những hàng cây bồ đề. “Bob” giải thích rằng điều kiện ở chỗ trạm kiểm soát sang Đông Berlin mỗi ngày mỗi khác, không thể dự đoán trước được. Có những ngày lính canh gác không cho bất cứ ai đi qua, ngay cả khi họ có giấy phép đầy đủ. Ngày khác, họ lại giữ những người muốn đi qua trong một khoảng thời gian dài hầu như vô tận để kiểm soát từng người một. Khi tới đó để trình giấy thông hành, viên luật sư sẽ phải hết sức khôn khéo thì mới có thể qua được.

11 giờ 15 phút trưa hôm thứ bảy, 3-2-1962, J. Donovan tới bến xe điện nổi ở gần vườn thú Tây Berlin, lên chuyến đầu tiên và mất gần hai mươi phút để tới dược trạm kiểm soát qua lại giữa hai bên bức tường Berlin trên đường Friedrich. Tại dây dày đặc các toán tuần tra mặc đồng phục, đeo súng tiểu liên của Đông Đức. Phía sau hàng rào dây thép gai bên phía lãnh thổ Đông Berlin, cứ khoảng 200 thước lại có một xe ủi. J. Donovan bắt đầu xếp hàng để trình hộ chiếu. Có xấp xỉ chừng một trăm người đang xếp hàng, mà phải độ mươi phút mới có một người kiểm tra xong. Đến 11 giờ rưỡi, J. Donovan nói với người lính tuần tra đang đứng gần nhất rằng mình có một cuộc hẹn gặp ở sứ quán Liên Xô vào lúc 12 giờ trưa. Người này lập tức dẫn viên luật sư lên đầu dòng người đang xếp hàng. Hai nhân viên hải quan mặc đồng phục hỏi viên luật sư mang theo bao nhiêu tiền. Có tổng cộng 20 mác Tây Đức. Theo chỉ dẫn từ trước của “Bob”, J. Donovan nói mình đang ngụ tại khách sạn Hilton ở Tây Berlin. Hai nhân viên ghi vào một tấm bìa những câu trả lời của viên luật sư, đóng dấu. Đấy là “thị thực” sang Đông Berlin của J. Donovan. Vài phút sau, viên luật sư thấy mình đang đứng trong những cơn gió lạnh cắt da ở Đông Berlin.

Theo bản đồ, J. Donovan tới tòa nhà sứ quán Liên Xô trên phố Dưới những hàng cây bồ đề cách đó cũng chỉ vài phút đi bộ. Đón J. Donovan ở tiền sảnh khu lãnh sự sứ quán là một nhân viên tiếp tân nói tiếng Anh rất lưu loát. Sau khi kiểm tra, người này chỉ cho J. Donovan tới chỗ căn phòng nơi sẽ diễn ra cuộc gặp. Cửa mở ra; ở đó đã có một nhóm người, gồm hai phụ nữ và một người đàn ông. Cả ba đều mặc những bộ đồ trông đã cũ. Người phụ nữ trẻ hơn tự giới thiệu: “Chào ông. Tôi là con gái của Rudotf Abel. Đây là mẹ tôi, bà Abel, và cậu tôi, Drews”.

J. Donovan bắt tay cả ba người nhưng không nói gì. Người phụ nữ xưng là “con gái” Abel trạc 35 tuổi, nói tiếng Anh rất lưu loát và tỏ ra khá sắc sảo. “Bà Abel” chừng 60 tuổi, kiểu người phụ nữ nội trợ trong gia đình. “Cậu Drews”, cũng khoảng 35 tuổi, trông mạnh mẽ, tự tin. Trong suốt cuộc gặp, “cậu Drews”, tức điệp viên KGB Y. Drozdov, hầu như không nói gì.

Sau một lát im lặng, khi J. Donovan đang mồi lửa cho điếu thuốc thì người phụ nữ được giới thiệu là “bà Abel” đứng dậy quay về phía ông và hỏi bằng tiếng Anh trong nước mắt: “Tình trạng của chồng tôi thế nào?” J. Donovan trả lời: “Ông ấy ổn”. Người phụ nữ tiếp tục nức nở trong vài phút. Cô con gái vỗ vỗ sau lưng người phụ nữ an ủi trong khi ông “cậu” lấy cho người phụ nữ một cốc nước. Luật sư J. Donovan ngồi đó chịu trận, không biết nói gì.

“Vì sao bức thư gần nhất của cha tôi lại gửi từ một văn phòng khác với những bức thư khác của ông ấy, và cả bức thư ấy lẫn bức thư của ông lại đóng dấu bưu điện ở Washington?” Người con gái bất ngờ hỏi.

Ngẫm nghĩ một lát, J. Donovan trả lời: “Bức thư của tôi được gửi từ Washington mà không qua văn phòng của tôi vì tôi muốn tránh tất cả mọi sự rò rỉ tin tức có thể xảy ra. Còn về bức thư của cha cô cũng thế. Tôi có gửi cho cha cô một bức thư để thông báo về chuyến đi tới Berlin này của tôi. Nhưng nó không được gửi cho cha cô theo cách thông thường mà cha cô nghe người ta đọc bức thư trong văn phòng giám sát ở nhà tù tại Atlanta. Tất cả là để nhằm loại bỏ mọi tin đồn có thể có trong số những người bạn tù của ông ấy. Thư của ông ấy cũng được chuyển tới Washington rồi mới gửi đi, cùng nhằm mục đích tương tự”.

Nghe câu trả lời của viên luật sư, cô con gái có vẻ hài lòng.

- Liệu ông có thể giúp tiến hành cuộc trao đổi được không? - Người vợ hỏi bằng thứ tiếng Anh hơi cứng nhắc.

- Hoàn toàn có thể nếu như tất cả đều chịu nhún nhường và hành động dựa trên sự trung thực, - J. Donovan trả lời.

- Cha tôi ở trong tù như thế nào? - Cô con gái hỏi.

- Ông ấy chưa bao giờ tốt hơn hiện nay, - viên luật sư trả lời. - Đấy là một nhà tù không đến nỗi quá khắc nghiệt. Ông ấy là một họa sĩ nên có thể vẽ suốt ngày.

- Một cái lồng có bằng vàng thì vẫn chỉ là cái lồng thôi, - cô con gái nhận xét và “bà Abel” tiếp tục sụt sùi. J. Donovan bắt đầu băn khoăn tự hỏi không biết đến bao giờ thì vở bi kịch này chấm dứt.

Trong suốt thời gian chờ đợi kéo dài chừng hơn mười phút, luật sư J. Donovan hút hết mấy điếu thuốc lá. Hai lần cô con gái kêu lên “tôi cần một điếu thuốc” nhưng viên luật sư đều tảng lờ. Cả hai lần, “cậu Drews” đều đưa và châm thuốc cho cô gái.

Đúng 12 giờ, cánh cửa phòng lại một lần nữa mở ra. Đứng ở đó là một người đàn ông cao ráo trong bộ đồ cắt may vừa khít, đeo kính không gọng. Với một vẻ tự tin, người đàn ông tự giới thiệu: “Tôi là Ivan Alexandrovich Schischkin, Bí thư thứ hai sứ quán Liên Xô”.

Với cương vị Bí thư thứ hai sứ quán Liên Xô tại Cộng hòa dân chủ Đức, trên thực tế, I. Schischkin là sếp của mạng lưới các điệp viên KGB hoạt động ở Tây Âu. Năm 1959, I. Schischkin được cử tới Berlin với một trong những nhiệm vụ trọng yếu là mang điệp viên Abel trở về tổ quốc.

+++++

Bí thư thứ hai sứ quán Liên Xô I. Schischkin mời tất cả những người có mặt sang căn phòng họp khác có tính riêng tư hơn, chọn cho mình chỗ ngồi sau một cái bàn. Những người còn lại đều có ghế ngồi. Trong suốt thời gian diễn ra cuộc đàm phán, tất cả những người trong “gia đình Abel” đều không nói một lời; chỉ duy nhất cô con gái trả lời “vâng” khi được hỏi là liệu gia đình có thể quay lại vào hôm thứ hai tiếp sau đó để tham gia cuộc gặp thứ hai hay không.

- Ông có nói được tiếng Đức không? - I. Schischkin hỏi luật sư J. Donovan.

- Tôi nói rất kém, - viên luật sư trả lời.

- Vậy tốt hơn là chúng ta sẽ thảo luận bằng tiếng Anh, - viên bí thư thứ hai nói.

J. Donovan mở đầu cuộc thảo luận. Ông giải thích với I. Schischkin rằng mình là một luật sư tư nhân, phải chịu rất nhiều sức ép, hi sinh khá nhiều thời gian cá nhân cho vụ này. J. Donovan nói mình phải làm việc để kiếm tiền nuôi gia đình nên sẽ không thể ở lại Berlin lâu được. Do đó, ông cần một câu trả lời nhanh chóng để giải quyết sớm vụ việc.

- Dĩ nhiên, - I. Schischkin trả lời. - Tôi hoàn toàn hiểu.

Tiếng Anh của người phụ trách mạng lưới điệp viên KGB ở Tây Âu gần như hoàn hảo, không chê vào đâu được.

I. Schischkin hỏi J. Donovan đã từ New York tới Berlin bằng cách nào, và liệu thời tiết khắc nghiệt có gây khó khăn nào cho viên luật sư không. J. Donovan nói mình thường xuyên có công việc ở London và đã tới đó bằng máy bay thương mại. Sau vài ngày, ông được một chiếc máy bay quân sự của chính phủ Mỹ đưa tới Berlin. Viên luật sư nói thêm rằng chuyến đi cũng như lộ trình của ông được vạch ra để không một ai có thể xác định được ông đang ở đâu chỉ trừ một vài quan chức cấp rất cao trong chính phủ Mỹ.

- Ở Tây Berlin ông ở đâu? - I. Schischkin hỏi. J. Donovan nói phái bộ Mỹ đã bố trí cho ông ở một căn nhà nhưng ông không biết chính xác địa chỉ cũng như nó nằm ở khu nào tại Tây Berlin.

Rồi J. Donovan đi vào vấn đề chính:

- Thưa ông I. Schischkin. Tôi tới Berlin chỉ với một lí do duy nhất. Một luật sư Đông Đức là Wolfgang Vogel đã gửi cho tôi một bức điện tín, nói rằng bà Abel tin tưởng là nếu như tôi có thể thu xếp phóng thích cho chồng bà ấy thì đổi lại, phi công Powers, sinh viên Mỹ Pryor đang bị giam giữ ở Đông Đức và sinh viên Mỹ Makinen hiện đang trong nhà tù ở Kiev, sẽ được thả. Trên cơ sở này, tôi xin thay mặt cho chính phủ tôi đảm bảo là ông Abel sẽ được phóng thích ở bất cứ địa điểm nào do các ông chọn ở Berlin, 48 tiếng sau khi đạt được thỏa thuận.

J. Donovan lại bàn đưa cho I. Schischkin xem bức thư của Chưởng lí phụ trách vấn đề ân xá Reed Cozart của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ. Viên bí thư thứ hai sứ quán đọc rất kĩ bức thư, để nó sang một bên rồi nói: “Rất mơ hồ”. Luật sư J. Donovan giải thích rằng nội dung bức thư không đi vào các vấn đề chi tiết một cách có chủ ý là để nhằm tránh những rò rỉ lộ lọt tin tức. Rồi viên luật sư quay về ngồi xuống ghế của mình.

Sau một thoáng im lặng, I. Schischkin tháo chiếc kính không gọng ra, bắt đầu tỉ mẩn lau rồi nói: “Khoảng một năm trước đây, những người trong gia đình bà Abel đây đã tới văn phòng lãnh sự của tôi bởi vì họ là công dân Đông Đức. Tôi đã nghe câu chuyện của họ và nói rằng có thể can thiệp với chính phủ Xô viết để xem liệu có trao đổi Powers lấy Abel được hay không. Sau đó, tôi có nhận được phản hồi khá tích cực từ Moscow, mặc dù các phần tử phát xít ở Mỹ đã gắn vụ việc của ông Abel là công dân Đông Đức với phía Xô viết. Điều này bắt nguồn từ khuynh hướng tuyên truyền chống Xô viết ở Mỹ. Chúng tôi mong muốn phía Mỹ loại bỏ những yếu tố này để thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước chúng ta. Tuy nhiên, tôi chưa từng nghe nói về trường hợp của hai sinh viên Pryor và Makinen trong vụ này. Nay ông đưa thêm yếu tố mới đó vào trong cuộc trao đổi mà tôi thì không có thẩm quyền để thảo luận với ông về chúng”.

J. Donovan cố gắng thể hiện sự sửng sốt tột độ. “Lí do duy nhất khiến tôi tới Berlin là bức điện tín từ luật sư Vogel, dựa trên cam kết của bà Abel”, viên luật sư nói vẻ tức giận. “Nếu như ông Schischkin không sẵn sàng thảo luận về đề xuất thì vì không có thêm chỉ dẫn nào từ chính phủ của tôi nên cách tốt nhất là tôi sẽ trở về nhà”.

- Ông không có chỉ dẫn nào thêm ư? - Schischkin hỏi với giọng châm chọc.

- Không, - viên luật sư trả lời. - Mặt khác, tôi muốn nói với ông rằng quá trình chuẩn bị để trao trả Abel ở đây sẽ diễn ra nếu lời hứa của luật sư Vogel được thực hiện. Tôi phải thông báo về thỏa thuận của chúng ta với Washington. Một máy bay quân sự sẽ lập tức đưa Abel sang đây. Phó giám đốc phân ban nhà tù đi kèm với ông ấy, mang theo quyết định giảm án của Tổng thống Kennedy, có hiệu lực nếu như có chữ kí của Phó Giám đốc Phân ban nhà tù Hoa Kỳ. Việc kí đó diễn ra ở địa điểm trao đổi mà chúng tôi đề xuất là cầu Glienicke, sau khi chúng tôi nhận diện được đúng người chúng tôi cần. Người có danh tính Powers phải có mặt sẵn sàng ở Berlin. Chắc ông cũng biết gia đình Pryor đã có mặt ở đây rồi. Người tên là Makinen cũng phải sẵn sàng. Đó là tất cả những gì các ông cần làm để ông Abel được phóng thích về với các ông.

I. Schischkin nghe với vẻ chăm chú. Rồi viên bí thư thứ hai hỏi:

- Ông có chắc chắn rằng lệnh phóng thích là do Tổng thống Kennedy kí hay không?

- Chắc chắn, - luật sư J. Donovan trả lời. - Nhưng với một điều kiện là ông ấy sẽ không được phép quay lại nước Mỹ nữa. Nếu ông ấy tái xuất thì án tù của ông ấy sẽ tự động có hiệu lực trở lại. Tôi cũng muốn nói thêm một điều nữa là vụ trao đổi này hiện đang được giới báo chí bên phía chúng tôi ủng hộ và theo quan điểm của cá nhân tôi thì đây là thời điểm thích hợp nhất các ông nên hành động để có lại Abel. Nếu chậm trễ thì rất có thể là khuynh hướng ủng hộ này sẽ thay đổi vì những sự cố quốc tế hay chính trị trong nội bộ phía chúng tôi.

- Ông có tin, - I. Schischkin nói vẻ trầm tư, - rằng cách nhìn nhận của ông phản ánh quan điểm của chính phủ Mỹ hay không?

- Tôi chắc chắn tin vào điều đó, - J. Donovan khẳng định.

I. Schischkin một lần nữa nhấn mạnh rằng ông cảm thấy bất an vì J. Donovan không có bất cứ thứ giấy tờ chứng nhận vị thế chính thức nào ngoài một bức thư với lời lẽ “mơ hồ” của chưởng lí phụ trách vấn đề ân xá Hoa Kỳ. J. Donovan trấn an rằng mình có thể gửi cho vị bí thư thứ hai sứ quán Liên Xô những giấy tờ chứng nhận của phái bộ Mỹ tại Tây Berlin. “Tuy nhiên”, viên luật sư nói, “tôi nghĩ rõ ràng không một cá nhân công dân nào có thể đi hàng ngàn dặm để thực hiện sứ mệnh như thế này mà không nhận được sự cho phép của giới chức có thẩm quyền”.

J. Donovan quyết định tiếp tục chiến thuật thể hiện sự không hài lòng về vụ việc đã không được giải quyết dứt điểm một cách nhanh chóng.

- Nếu như ông Vogel nói dối để tôi mất thời gian tới đây với tư cách cá nhân, - viên luật sư nói, - thì tôi tin rằng ông ấy cũng sẽ bị trừng trị nghiêm khắc.

- Tôi hiểu ông, - I. Schischkin nói. - Nhưng với tình trạng hiện tại thì chắc hôm nay chưa thể thảo luận được về đề xuất của ông. Tôi cần phải tham khảo ý kiến chính phủ của tôi.

Viên luật sư quay sang “bà Abel” nói với vẻ giận dữ: “Vogel nói rằng bà đã thu xếp để có cuộc trao đổi. Vậy ông ta đã nói thật hay nói dối?”

Người phụ nữ có vẻ sợ hãi, suy sụp nhưng vẫn giữ yên lặng.

I. Schischkin nhanh chóng cắt ngang: “Không cần phải nói gì thêm nữa. Tuy nhiên, tôi ghi nhận rằng ông có lí do để không hài lòng”.

Rồi I. Schischkin nói muốn giữ bức thư của chưởng lí phụ trách vấn đề ân xá Hoa Kỳ. J. Donovan nói có thể sao chụp bức thư và để ông giữ bản chính. “Tôi là viên chức của sứ quán Liên Xô. Nếu tôi đảm bảo là sẽ gửi lại thì ông không phải lo gì về điều đó”, I. Schischkin nói với vẻ chắc chắn.

J. Donovan gợi ý rằng do hoàn cảnh eo hẹp về thời gian của ông nên có thể tạm ngừng cuộc gặp lại một thời gian ngắn. Ông sẽ đi ăn trưa đâu đó ở Đông Berlin trong khi I. Schischkin liên lạc với Moscow để thảo luận về cuộc trao đổi, sau đó tất cả sẽ gặp lại nhau vào cuối buổi chiều hôm đó.

- Hôm nay là thứ bảy, - I. Schischkin trả lời. - Nếu làm như ông gợi ý thì quá vội. Liệu ông có thể quay lại đây vào lúc 5 giờ chiều thứ hai được không?

J. Donovan đồng ý, nhưng nói thêm rằng ông sẽ không thể ở lại Berlin sau ngày thứ hai, nhắc đến thời hạn 48 tiếng để phóng thích Abel. Trong thời gian cuối tuần, nếu I. Schischkin nhận được chỉ thị từ Moscow thì có thể liên lạc với J. Donovan ở Tây Berlin qua điện thoại. Viên luật sư viết vào một tờ giấy số điện thoại “Bob” đã cho ông. I. Schischkin hỏi liệu có thể liên lạc với số điện thoại đó vào ban đêm hay ngày chủ nhật được không. Viên luật sư nói sẽ có người trả lời bất kì lúc nào trong suốt thời gian ông ở Berlin. Chính phủ Mỹ rất coi trọng thời gian của ông nên đã tạo điều kiện tối đa để ông thực hiện sứ mệnh của mình.

Khi ấy, I. Schischkin quay về phía J. Donovan rồi nói vẻ trầm ngâm:

- Vậy là các ông muốn đổi một lấy ba.

J. Donovan mỉm cười:

- Một họa sĩ luôn có giá trị hơn ba anh thợ vẽ. Mà tôi cũng muốn nói thêm là với việc nay Abel được coi là công dân Đức, nếu trao trả Pryor sẽ giúp cho phía Xô viết dễ dàng giải thích với công luận rằng đây là vụ việc chỉ liên quan đến công dân Đức Abel mà thôi.

I. Schischkin gật đầu vẻ đồng ý.

Rồi viên bí thư thứ hai hỏi J. Donovan có khó khăn gì trong việc đi qua bức tường sang Đông Berlin hay không. Viên luật sư nói khó khăn duy nhất là đám người xếp hàng quá đông ở chỗ cửa khẩu; nếu như quay trở lại, đề nghị I. Schischkin tác động để giúp việc qua lại cửa khẩu được nhanh hơn. I. Schischkin nói chỗ đó chỉ đông đúc vào ngày thứ bảy, nhưng nếu viên luật sư có yêu cầu thì sẽ thu xếp để có được giấy phép đặc biệt; mà sao chính phủ Mỹ lại không bố trí một chiếc ô tô để viên luật sư có thể lái qua trạm kiểm soát Charlie nhỉ? J. Donovan giải thích ông sang Đông Berlin theo tuyến của những người công nhân đi làm để tránh gặp trở ngại cũng như sự chú ý của báo chí.

I. Schischkin có vẻ hài lòng với câu giải thích của J. Donovan.

J. Donovan trao cho I. Schischkin danh thiếp chính thức của mình và cả tấm danh thiếp ghi chức vụ là Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo dục thành phố New York. I. Schischkin xem kĩ rồi nhận xét: “Một công việc tốt đấy”. Khi J. Donovan hỏi xin danh thiếp, I. Schischkin tỏ vẻ ngạc nhiên: “Có cần thiết không?” Viên luật sư nói: “Không cần thiết, nhưng tôi muốn có nó”. I. Schischkin đưa danh thiếp của mình và viên luật sư cẩn thận cất vào túi. Hai người bắt tay nhau rồi chia tay. Toàn bộ cuộc gặp kéo dài khoảng một giờ đồng hồ.

“Gia đình” Abel đi theo viên luật sư. Ra đến ngoài phố, người phụ nữ được giới thiệu là con gái Abel hỏi: “Ông không muốn gặp ông Vogel à?” J. Donovan nói việc đó sẽ do sứ quán Xô viết sắp xếp trong quá trình thương lượng. Rồi cô con gái hỏi: “Pryor thuộc thẩm quyền của Đông Đức và tôi không hiểu vì sao vụ việc đó lại dính đến cha tôi?”

- Vogel mời tôi đến đây trên cơ sở ủy quyền của mẹ cô, - J. Donovan trả lời. - Nếu như ông ấy nói dối hay không được trao thẩm quyền thì tốt nhất là nên tránh xa tôi ra.

Cô “con gái” cười và nói: “Nếu vậy ông ấy cũng cần tránh xa chúng tôi!” Cô nói cả gia đình đang ở một khách sạn tại Đông Berlin, rồi cả ba người chia tay viên luật sư.

Sau khi trải qua những thủ tục kiểm soát gắt gao hơn nhiều ở cửa khẩu so với khi sang Đông Berlin, cuối cùng viên luật sư cũng quay về đến Tây Berlin khi màn đêm bắt đầu buông xuống thành phố.

+++++

Ngày chủ nhật, J. Donovan dậy muộn, đọc báo tiếng Anh do “Bob” mang tới, hoàn thành báo cáo chi tiết về cuộc gặp hôm trước ở sứ quán Liên Xô. Thời tiết Berlin vẫn rất tệ. Ông có một cuộc bàn luận rất lâu với Trưởng trạm CIA Bob Graver tại quầy bar Gold City trong khách sạn Hilton.

Chiều thứ hai, 5-2-1962, viên luật sư quay trở lại Đông Berlin để có mặt vào lúc 5 giờ chiều ở sứ quán Liên Xô như đã hẹn. Thủ đô Đông Đức giống như đang chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh hơn là đối phó với dòng người di tản sang phía Tây Đức. Trên đỉnh cổng Brandenburg giữa Đông và Tây Berlin, nơi có cụm tượng điêu khắc những con ngựa, được biến thành trạm quan sát của phía Đông Đức. Một hàng rào dây thép gai ngăn tất cả mọi người ở cự li cách cổng khoảng một cây số. Không thấy hình bóng xe tăng hay các đội quân nhưng không khí thời chiến vẫn phảng phất trong thành phố.

J. Donovan tới cơ quan lãnh sự nằm trong sứ quán Liên Xô ở Đông Berlin sớm hơn một chút so với giờ hẹn. Cô “con gái” Abel và “cậu Drews” đã chờ viên luật sư trong phòng chờ của tòa nhà lãnh sự. Cô “con gái” thông báo rằng mẹ cô ở lại khách sạn, không tới được vì vẫn “rất căng thẳng” sau cuộc gặp hôm thứ bảy trước đấy.

- Ông có mang tin tức tốt lành nào cho chúng tôi không? - Cô “con gái” Abel hỏi.

Viên luật sư trả lời rằng điều đó phụ thuộc vào cuộc thương thảo với sự có mặt của bí thư thứ hai sứ quán I. Schischkin.

Đúng lúc ấy thì I. Schischkin xuất hiện. Viên bí thư thứ hai cúi đầu chào cô “con gái” Abel và “cậu Drews” với vẻ cứng nhắc nhưng bắt tay viên luật sư Mỹ vẻ thân thiện. Rồi hoàn toàn phớt lờ những người trong “gia đình” Abel, I. Schischkin mời J. Donovan vào căn phòng riêng ở trong một góc của tòa lãnh sự.

J. Donovan đưa cho I. Schischkin một bức thư do Allan Lightner, chỉ huy phái bộ Mỹ ở Tây Berlin kí tên, chứng nhận viên luật sư có thẩm quyền đi sang Đông Berlin thực hiện một công việc tại Đại sứ quán Liên Xô và Allan Lightner được thông báo đầy đủ về mục đích chuyến đi tới Berlin của J. Donovan. Bức thư do Bộ Ngoại giao Mỹ gửi và Allan Lightner kí với tư cách như một bộ trưởng trong chính quyền Mỹ.

J. Donovan nói rằng trong cuộc gặp Allan Lightner vào buổi sáng hôm đó, viên chỉ huy phái bộ Mỹ đã giới thiệu với J. Donovan viên phó của ông ta, Howard Trivers, người nói rằng đã từng có dịp gặp I. Schischkin. Viên bí thư thứ hai đáp rằng ông không nhớ bất cứ một cuộc gặp nào với Howard Trivers, cho dù thường xuyên “có những mối liên hệ với người Mỹ”.

Rồi I. Schischkin hỏi:

- Ông có thông báo cho chính phủ ông về cuộc gặp hôm trước của chúng ta không? Ông có nhận được chỉ thị nào không?

- Tôi đã thông báo ngay lập tức, - viên luật sư trả lời. - Chỉ thị duy nhất là tôi quay trở lại đây hôm nay để đáp ứng yêu cầu của ông và xem liệu có thông điệp nào mới từ chính phủ của ông hay không.

I. Schischkin ngồi xuống sau chiếc bàn, mở ra chiếc kẹp đựng hồ sơ bọc da cỡ lớn, nói rằng đã có chỉ thị từ Moscow. Viên luật sư hỏi liệu có thể chép lại được nội dung hay không; không có vấn đề gì, viên bí thư thứ hai trả lời. Rồi I. Schischkin bắt đầu đọc nội dung bức thông điệp:

1. Trên tinh thần nhân đạo, chính phủ Liên Xô đồng ý một cuộc trao đổi Powers lấy Abel.

2. Hành động nhân đạo này của cả hai bên, cùng với việc loại bỏ những hành động tuyên truyền chống Xô viết một cách thường xuyên, sẽ giúp cho việc tăng cường quan hệ giữa hai nước.

3. Nếu như chính phủ Hoa Kỳ quan tâm đến việc phóng thích Makinen, người hiện đang ở Kiev, thì chính phủ Xô viết sẵn sàng trao đổi Abel lấy Makinen, nhưng không thể có một cuộc trao đổi đồng thời cả Pryor lẫn Makinen lấy Abel. Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào sự lựa chọn của phía Mỹ. Nếu vụ việc được giải quyết một cách đúng đắn và quan hệ giữa hai bên được cải thiện thì có thể tiến hành thêm các bước tiếp theo.

4. Đối với trường hợp của Pryor, việc này nằm ngoài thẩm quyền của phía Xô viết và phụ thuộc vào chính phủ Đông Đức. Điều này có thể thực hiện thông qua bà Abel cùng luật sư của bà ấy là Vogel, người sẵn sàng liên lạc với ông Donovan để thỉnh cầu xin ân xá của họ nhận được sự chấp thuận của chính phủ Đông Đức.

Đọc xong, viên bí thư thứ hai sứ quán nói không có thêm chỉ thị nào khác. Bà Abel cùng luật sư Donovan phải thảo luận, đề ra một kế hoạch để hiện thực hóa cuộc trao đổi và phía Xô viết sẽ cân nhắc kế hoạch đó. “Thêm nữa”, I. Schischkin nói, “đề xuất của phía Mỹ về địa điểm diễn ra cuộc trao đổi ở cầu Glienicke không phải là tồi”.

J. Donovan nói mối quan tâm lớn nhất của ông liên quan đến trường hợp của Makinen. Liệu ông có thể hiểu là khi diễn ra cuộc phóng thích các gián điệp và quan hệ giữa hai bên được cải thiện thì Liên bang Xô viết có thể sẽ xem xét để ân xá cho Makinen trong một tương lai gần? I. Schischkin nói ở thời điểm đó, ông không thể khẳng định diễn giải của vị luật sư, nhưng sẽ ghi nhận nó một cách nghiêm túc.

Viên luật sư nói sẽ trao đổi về phản hồi của phía Liên Xô với chính phủ của mình và hi vọng có được sự trả lời trong vòng 24 giờ đồng hồ. I. Schischkin gợi ý rằng dựa trên thực tế là viên luật sư đang ở trong tình trạng sức khỏe không tốt, điều có thể dễ nhận thấy, thì không nhất thiết J. Donovan phải tự mình quay lại Đông Berlin. Câu trả lời của chính phủ Mỹ có thể được gửi tới sứ quán Liên Xô thông qua đường ngoại giao.

Sau khi đã đọc xong phản hồi của Liên Xô gửi cho phía Mỹ, I. Schischkin có tâm trạng khá thoải mái. Hai người chuyện gẫu về việc J. Donovan đã nhận bào chữa cho điệp viên Abel tại phiên tòa thế nào, rồi khi viên luật sư kể đã chuyển toàn bộ 10.000 USD tiền công bào chữa cho ba trường đại học với mục đích từ thiện thì viên bí thư thứ hai nhận xét rằng đó là một hành động “rất đáng tôn vinh”. Chủ đề cuộc nói chuyện gẫu lan man sang cả tình trạng hoang tàn của Đông Berlin kéo dài sau chiến tranh, về phiên tòa xét xử tội phạm Nuremberg mà J. Donovan đã từng tham dự hồi năm 1945, về chứng viêm phổi của viên luật sư vì cái lạnh ở Berlin...

I. Schischkin tiễn viên luật sư ra đến phòng chờ rồi chia tay.

Cô “con gái” Abel và “cậu Drews” vẫn chờ ở bên ngoài. Sau khi nghe J. Donovan thuật lại sơ lược nội dung cuộc thương thảo, cô “con gái” Abel nói: “Chúng ta phải ngay lập tức đến văn phòng của ông Vogel. Ông ấy vẫn đang chờ chúng ta ở đó”. Đáp lại thắc mắc của J. Donovan rằng vì sao Vogel không cùng tới gặp họ ở sứ quán Liên Xô, cô “con gái” Abel giải thích rằng viên luật sư Đông Đức có quá đông khách hàng nên không thể rời văn phòng được.

Ba người lên một chiếc taxi. Trên xe, J. Donovan thảo luận sơ bộ với cô “con gái” Abel về kịch bản của cuộc trao đổi điệp viên nếu nó xảy ra. Cả hai thống nhất rằng tốt nhất cuộc trao đổi nên diễn ra vào đêm thứ tư, mùng 7-2-1962, lúc 10 giờ, trên cầu Glienicke. Nếu vì lí do thời tiết xấu mà các tù nhân không được đưa tới kịp hay vì một trở ngại nào khác thì cuộc trao đổi sẽ diễn ra vào đêm hôm sau, thời gian và địa điểm vẫn như cũ.

Ba người tới chỗ văn phòng luật Vogel khi bóng chiều đã chạng vạng. J. Donovan hết sức ngạc nhiên khi văn phòng của vị luật sư Đông Đức nằm ở tầng trên trong một tòa nhà cũ kĩ tồi tàn ở 113 đường Alt Friedrich tại Đông Berlin. Ở phòng chờ của vị luật sư có một số người đang ngồi chờ nhưng khi thấy ba người vào, họ nhanh chóng đứng dậy rời đi.

Luật sư W. Vogel đón ba người trong căn phòng làm việc nhỏ nhưng được bài trí đẹp mắt. Ba mươi bảy tuổi, tóc đen, mặc bộ đồ cắt may khéo léo với nụ cười thường trực, trông vị luật sư Đông Đức không khác gì một luật sư thành đạt ở bất cứ thành phố nào của Hoa Kỳ.

W. Vogel hỏi bằng tiếng Đức xem liệu J. Donovan có thể nói tiếng Đức trong cuộc trao đổi không. Viên luật sư Mỹ nhanh chóng trả lời bằng tiếng Anh: “Rất kém”. Có cảm tưởng như hầu hết các đối tác Liên Xô và Đông Đức của J. Donovan trong suốt quá trình thương thảo đều nghĩ rằng viên luật sư giỏi tiếng Đức hơn so với ông tự nhận. Trước sự ngạc nhiên của J. Donovan, “cậu Drews” lên tiếng tình nguyện làm phiên dịch cho cả hai. “Cậu Drews” thuật lại cho W. Vogel sơ bộ nội dung những điều đã bàn thảo trước đó tại văn phòng của I. Schischkin. W. Vogel lắng nghe xong rồi nói rằng rất vui lòng chuyển cho J. Donovan một văn bản chính thức của văn phòng tổng chưởng lí Đông Đức. Văn bản bằng tiếng Đức, viết:

“Văn bản này chứng nhận rằng lời thỉnh cầu xin phóng thích thân chủ của ông cho nhà chức trách Mỹ có thể được thực hiện nếu như các điều kiện mà ông đã biết, phù hợp với yêu cầu của phía Mỹ.

Kí tên: Chưởng lí quốc gia Windlisch”.

Văn bản này rõ ràng là một bản sao cách diễn đạt của văn bản Bộ Tư pháp Mỹ do J. Donovan trao cho I. Schischkin trong cuộc gặp đầu tiên mà viên bí thư thứ hai sứ quán Liên Xô mô tả là “mơ hồ”. Theo một cách bí hiểm nào đấy, nó đã được chuyển cho phía Đông Đức và Chưởng lí quốc gia Windlisch cũng lặp lại cái không khí mơ hồ trên những câu chữ pháp lí hệt như trong văn bản của phía Mỹ.

Văn bản này đề ngày 5-2-1962 và được chuyển cho J. Donovan chỉ dưới dạng tiếng Đức. “Cậu Drews” nói rằng không thể dịch sát nghĩa được từng từ nhưng có thể tóm tắt lại bằng ngôn ngữ của một người không biết nhiều về pháp lí. J. Donovan đề nghị được sao lại văn bản cũng như một bản dịch sang tiếng Anh. W. Vogel giải thích rằng trong văn phòng không có thiết bị sao chụp và gọi cho một cô thư kí, nói rằng cô ta sẽ dịch văn bản sang tiếng Pháp hoặc tiếng Ý bởi ở đó cũng không có ai biết tiếng Anh. Cuối cùng W. Vogel cho một nữ thư kí đánh máy lại nguyên văn bằng tiếng Đức rồi viết tay vào đó, chứng thực rằng văn bản là chuẩn.

Cô “con gái” Abel bày tỏ vui mừng rằng dường như mọi rào cản cho một cuộc trao đổi điệp viên đã được gạt bỏ. Đến lúc đó, J. Donovan nói với W. Vogel rằng viên luật sư Mỹ cần câu trả lời cho một câu hỏi đơn giản: Nếu như kế hoạch trao đổi vào đêm thứ tư được các bên thông qua, liệu Vogel có đảm bảo rằng nhà chức trách Đông Đức sẽ trao trả anh sinh viên Pryor ở cùng một địa điểm, cùng thời gian, trong cuộc trao đổi tay ba hay không? “Chắc chắn được”, W. Vogel khẳng định.

J. Donovan muốn W. Vogel không tiết lộ cho gia đình Pryor biết về sự có mặt của viên luật sư ở Berlin cũng như quá trình đàm phán đang diễn ra mà chỉ cần thông báo rằng lời thỉnh cầu xin ân xá của họ gửi cho chính phủ Đông Đức có diễn tiến thuận lợi. W. Vogel đồng ý. Viên luật sư Mỹ nói mình sẽ phải thông báo cho chính phủ của mình toàn bộ những diễn biến trong ngày và có thể sẽ gửi lời phản hồi đến cả I. Schischkin và W. Vogel trước trưa hôm sau, thứ ba, 6-2-1962.

Cuộc gặp giữa hai viên luật sư kết thúc. Cô “con gái” Abel và “cậu Drews” tiễn J. Donovan tới bến tàu trên đường Friedrich rồi chia tay. J. Donovan về tới khách sạn Hilton vào lúc 7 giờ 10 phút tối và gọi điện thoại báo cho “Bob”, lúc ấy đang hết sức lo lắng vì viên luật sư quay lại quá muộn.

Sau bữa tối, J. Donovan quay về ngôi nhà an toàn và chuẩn bị đi ngủ thì “Bob” tới. Một thông điệp được chuyển cho J. Donovan từ một bốt điện thoại ở Tây Berlin. Một người đàn ông nói giọng Đức đã gọi tới số điện thoại không có trong danh bạ mà trước đó J. Donovan đã trao cho I. Schischkin ở buổi gặp đầu tiên. Nội dung của thông điệp được ghi lại: “Có trở ngại bất ngờ. Cần nói chuyện khẩn với ông ở văn phòng tôi vào lúc 11 giờ trưa mai, mùng 6-2. Vogel”.

J. Donovan và “Bob” thảo luận rất lâu về thông điệp bất ngờ đến từ phía bên kia bức tường. Cả hai đều bán tín bán nghi, không hiểu điều gì đã xảy ra. Phải chăng đây là một đòn phép của KGB, muốn thông qua Đông Đức để gây áp lực lên các nhà thương thuyết Mỹ nhằm chiếm tiên cơ trong cuộc thương thảo trao đổi điệp viên đầu tiên của thời kì Chiến tranh Lạnh? J. Donovan quyết định ngày hôm sau sẽ không tới chỗ W. Vogel mà tới gặp thẳng I. Schischkin, yêu cầu giải thích. “Bob” đồng ý, báo về Washington diễn biến mới. Đến gần nửa đêm, Washington chuẩn y kế hoạch hành động của J. Donovan cho ngày hôm sau.

+++++

10 giờ sáng thứ ba, 6-2-1962, vẫn theo tuyến đi cũ, J. Donovan quay lại Đông Berlin, tới tòa lãnh sự Liên Xô và bấm chuông cửa. Một giọng nói bằng tiếng Đức vang lên từ một chỗ nào đó trên cánh cửa, hỏi xem viên luật sư đến có việc gì. J. Donovan nhìn mãi mới phát hiện ra nó vọng ra từ chiếc loa lắp bên trong cái khe phía trên chuông cửa. Viên luật sư nói: “Tôi muốn gặp ông Schischkin!” Sau một quãng ngừng ngắn, giọng nói lại vọng ra: “Ông có nói được tiếng Anh không?” Viên luật sư nói to: “Tôi nói được tiếng Anh và muốn gặp ông Schischkin”. Cánh cửa mở ra, viên luật sư đi vào trong.

Sau khoảng 15 phút, I. Schischkin xuất hiện, đi vào phòng chờ. Viên bí thư thứ hai của sứ quán xin lỗi vì đã để J. Donovan phải chờ, nhưng nói rất ngạc nhiên về chuyến thăm bất ngờ không báo trước của viên luật sư Mỹ. Sau đấy, I. Schischkin mời J. Donovan vào trong một phòng riêng.

J. Donovan kể lại rằng sau buổi gặp chiều hôm trước, thể theo gợi ý của I. Schischkin, ông đã cùng với con gái Abel và ông cậu tới văn phòng của luật sư Vogel. J. Donovan thuật lại nội dung cuộc gặp, đưa ra văn bản của tổng chưởng lí Đông Đức và nói rằng sau khi quay về Tây Berlin, đã thông báo đầy đủ các diễn biến cho Washington. J. Donovan nói trong báo cáo của mình gửi về Washington đã chỉ rõ rằng mặc dù mong muốn của phía Mỹ là đổi ba người gồm Powers, Pryor và Makinen lấy Abel, nhưng sau khi nhận được thông điệp của I. Schischkin hôm trước về việc nếu quan hệ giữa hai bên được cải thiện thì có khả năng Makinen sẽ sớm được phóng thích, ông khuyên Washington nên chấp nhận phương án đổi Abel lấy Powers và Pryor. I. Schischkin gật đầu. J. Donovan nói thêm là Washington đã chấp nhận phương án đổi Powers và Pryor lấy Abel với mong muốn Makinen sẽ được phóng thích riêng rẽ trong một thời gian không xa.

Cuối cùng, viên luật sư Mỹ nói với I. Schischkin về thông điệp bí ẩn nhận được qua điện thoại vào tối muộn hôm trước của Vogel, nói rằng nó có thể khiến mọi kế hoạch đang tiến triển phải dừng lại. Ông đưa cho I. Schischkin xem nội dung thông điệp đã được ghi lại. Viên bí thư thứ hai sứ quán nói: “Ủa sao lạ vậy! Nó có ý nghĩa gì?” J. Donovan nói đó cũng là lí do chủ yếu khiến ông phải quay lại Lãnh sự quán Liên Xô gặp I. Schischkin để xem nó thực chất có ý nghĩa gì, bởi vì thông điệp đó được chuyển tới số điện thoại mà viên luật sư Mỹ đã trao cho I. Schischkin trong buổi gặp đầu tiên hôm thứ bảy trước đó.

- Gia đình Abel cũng có mặt lúc ông đưa tôi số điện thoại đó, - I. Schischkin nói vẻ lịch thiệp.

- Tôi viết số điện thoại đó lên một tờ giấy và trực tiếp đưa nó cho ông, - viên luật sư Mỹ nhắc.

- Một vài người tinh mắt lắm, - I. Schischkin trả lời vẻ tinh quái.

Viên luật sư Mỹ nói rằng cá nhân ông tin rằng phía Xô viết không có ý định từ bỏ lập trường đã được thể hiện trong trả lời của Moscow ngày hôm trước. Dựa trên lòng tin này, cùng với luật sư Vogel và con gái Abel, ông xây dựng một kế hoạch, báo cáo về Washington và đã được chấp thuận. J. Donovan nói thêm rằng phía Mỹ đã sẵn sàng chuyển Abel tới Berlin để chuẩn bị cho cuộc trao đổi.

I. Schischkin ngồi vào sau bàn của mình, trịnh trọng nói rằng chính phủ Xô viết không có thói quen thay đổi lập trường. Ông tái khẳng định mong muốn của phía Xô viết đổi Powers lấy Abel, nhưng lặp lại rằng vấn đề liên quan đến sinh viên Pryor hiện vượt quá thẩm quyền của chính phủ Xô viết.

- Tuy nhiên, - I. Schischkin nói, - cho phép tôi trình bày ý kiến cá nhân của tôi xung quanh vấn đề này một chút. Đây là lần đầu tiên ông nói với tôi rằng đã thỏa thuận với chính phủ Đông Đức về việc phóng thích Pryor để đổi lấy việc các ông thả Abel. Nhưng trước đấy, ông cũng đã thỏa thuận với chính phủ chúng tôi về việc đổi Abel lấy Powers. Có vẻ như ông đang dự tính trao cùng một món hàng cho hai người mua khác nhau và đòi hỏi cả hai người đó đều phải trả phí.

- Chuyện này thật ngớ ngẩn và ông biết rõ điều đó, - J. Donovan trả lời. - Tôi chấp nhận ý kiến của ông rằng bất kì một hành động nào của phía chính phủ Đông Đức đều vượt quá thẩm quyền cũng như sự kiểm soát của các ông. Phía Đông Đức ân xá cho Pryor hoàn toàn dựa trên một yếu tố là phía Xô viết phóng thích Powers vì lí do nhân đạo và phía Mỹ cũng hành động với lí do tương tự đối với Abel. Nếu dựa trên quan điểm của các ông về tính độc lập của chính phủ Đông Đức thì tôi không hiểu vì sao các ông lại băn khoăn về những gì mà chính phủ này - hay bất cứ một chính phủ độc lập khác - có thể làm trên cơ sở thừa nhận thỏa thuận Xô - Mỹ về cuộc trao đổi. Nếu như vì lí do nhân đạo, chính phủ Đông Đức ân xá cho Pryor hay bất cứ một ai khác, ở cùng thời gian, tại cùng địa điểm nơi diễn ra cuộc trao đổi Abel - Powers thì tôi không hiểu vì sao ông hay chính phủ của ông lại băn khoăn về chuyện đó?

I. Schischkin hơi mỉm cười nhưng không nói gì.

- Hãy để tôi làm rõ một điều, - viên luật sư Mỹ nói tiếp, - nếu như thỏa thuận ngày hôm qua của chúng ta bị rút lại thì tôi sẽ ngay lập tức thông báo cho chính phủ của tôi. Tôi không biết quan điểm của họ về việc này như thế nào, nhưng tôi sẽ quay về New York và mọi thương lượng chấm dứt tại đây.

I. Schischkin ngẫm nghĩ những điều vừa nghe thấy một lát rồi nói:

- Theo tôi thì vì ông nhận được thông điệp từ Vogel nên có lẽ ông nên tới chỗ văn phòng của ông ấy ngay lập tức. Sau khi trao đổi với ông ấy xong, ông có thể quay lại đây vào cuối ngày hôm nay nếu muốn.

J. Donovan hỏi liệu I. Schischkin có thể gọi điện thoại cho Vogel và mời viên luật sư Đông Đức tới sứ quán Liên Xô để thảo luận. Viên bí thư thứ hai xin lỗi, nói rằng mặc dù thỉnh thoảng gặp Bộ trưởng Tư pháp Đông Đức vì công việc nhưng việc một quan chức của sứ quán Liên Xô thảo luận với một luật sư Đông Đức làm việc trong lĩnh vực tư nhân là hoàn toàn không thích hợp.

Viên luật sư Mỹ nói:

- Từ kinh nghiệm cá nhân thì có lẽ tôi cần một phiên dịch khi thảo luận với ông Vogel và ông có thể giúp tôi rất nhiều nếu như cuộc gặp diễn ra tại đây. Hơn thế nữa, tôi không thể một mình đi taxi tới văn phòng của ông ấy vì không trả tiền được do lẽ tôi chỉ có một ít tiền mác Tây Đức mà những đồng tiền đó lại không có giá trị sử dụng ở đây.

I. Schischkin vẫn khăng khăng rằng về mặt cá nhân không thể làm phiên dịch cho một cuộc thảo luận giữa hai viên luật sư được, nhưng tin rằng với kinh nghiệm của mình, J. Donovan hoàn toàn có thể vượt qua trở ngại về ngôn ngữ. Còn về chuyện đi taxi thì viên luật sư Mỹ cứ trả cho lái xe bằng tiền Tây Đức bởi vì “mặc dù ở đây tiền đó là bất hợp pháp nhưng bất cứ lái xe taxi nào cũng sẽ vui lòng nhận nó”.

+++++

Sau khi chờ mười lăm phút trước sứ quán Liên Xô mà không bắt được chiếc taxi nào, J. Donovan đành lội bộ qua những đụn tuyết dày ra phố Friedrich, cuối cùng cũng tìm thấy một chiếc, yêu cầu chở mình tới văn phòng của W. Vogel. Đúng như I. Schischkin nói trước, người lái xe taxi nhận tiền trả bằng đồng mác Tây Đức mà không nói câu nào. Ở trong văn phòng của viên luật sư W. Vogel, J. Donovan thấy “cậu Drews” đã ở đó, chỉ có một mình. “Cậu Drews” giải thích là cô “con gái” Abel, rõ ràng hết sức thất vọng trước những diễn biến do Vogel thông báo đêm hôm trước, không tới được vì phải ở lại khách sạn chăm sóc cho bà mẹ.

“Cậu Drews” đưa ra một bức thư bằng tiếng Anh, nói là do cô “con gái” của Abel chuẩn bị. Viên luật sư Mỹ đề nghị để mình tự đọc và sẽ mang bức thư đó theo, nhưng W. Vogel phản đối. J. Donovan nói mình bắt buộc phải có bản sao của văn bản đó. Đó là một bức thư viết tay trên loại giấy rẻ tiền có dòng kẻ. “Cậu Drews” đọc bức thư:

“Đêm qua, sau khi chúng ta chia tay, ông Vogel đã gọi tôi tới và thông báo có tin xấu.

Ông Vogel nói rằng ông ấy đã gặp một quan chức ở văn phòng chưởng lí và khi nghe kể lại ý kiến rằng ông đảm bảo về sự chấp thuận của Liên Xô trao đổi thêm người, vị quan chức này rất ngạc nhiên. Vị quan chức nhấn mạnh rằng ban đầu, họ đồng ý trao đổi Pryor lấy Abel, một đổi một. Nay bỗng dưng xuất hiện khả năng thay đổi phương thức trao đổi nên vị quan chức cho rằng tình thế sẽ rất phức tạp. Cộng hòa dân chủ Đức chỉ nhất trí trao đổi Pryor lấy Abel, không có gì thêm nữa. Thỏa thuận này nên thể hiện dưới dạng văn bản.

Nếu như không đạt được thỏa thuận, chính phủ Cộng hòa dân chủ Đức hoàn toàn cho mình quyền tự do hành động và không nhất trí với việc trao đổi một người lấy hai người mà một trong số đó lại từ một quốc gia khác.

Ông Vogel đề nghị tôi trao đổi với ông về những lo ngại của ông ấy do vấn đề mới nảy sinh. Ông Vogel nói ông ấy khó có thể trì hoãn phiên tòa xử Pryor. Ở văn phòng chưởng lí, ông ấy đã được người ta cho biết là nếu phía Mỹ từ chối đổi Pryor lấy Abel, họ sẽ bắt đầu phiên tòa và với những bằng chứng mà họ có được, đủ để kết án Pryor với mức án mà chắc ông cũng hiểu là sẽ hết sức bất lợi cho phía Mỹ, đặc biệt là cho gia đình Pryor”.

Nghe “cậu Drews” đọc xong bức thư, J. Donovan liền nổi đóa lên. Ông gọi thông điệp thể hiện trong bức thư là “vô cảm một cách độc ác”, kết tội cả phía Đông Đức lẫn luật sư Vogel đã hành động thiếu trung thực, rằng cả ông lẫn chính phủ của mình không có thời gian để tham gia vào trò chơi mèo vờn chuột vô nghĩa. Viên luật sư khẳng định rằng bất kì một thỏa thuận nào về việc chỉ trao đổi Pryor lấy Abel đều không đáng được bàn thảo. Trừ khi phía Đông Đức khẳng định lại cam kết đã thể hiện trong văn bản hôm trước của văn phòng chưởng lí, nếu không viên luật sư sẽ chấm dứt mọi thương lượng, thông báo cho chính phủ mình và quay trở về New York. Viên luật sư nói ông có cảm tưởng rằng I. Schischkin và Vogel đã đồng mưu chơi xỏ ông và ông không chấp nhận chuyện đó.

W. Vogel mỉm cười vẻ căng thẳng và nói:

- Những gì đang diễn ra là cuộc đấu giữa Liên Xô và Đông Đức, một trận đấu vật mà giải thưởng là việc phóng thích Abel.

- Đấu vật nào ở đây? - Viên luật sư Mỹ trả lời. - Các ông định cho võ sĩ vô địch thế giới hạng nặng của các ông thi đấu ở hạng lông á?

- Có thể lắm, - W. Vogel nói. - Tôi có thể nói với ông một cách trung thực rằng đang diễn ra cuộc đấu như vậy. Tổng chưởng lí Đông Đức đã thể hiện sự cương quyết trong vụ này, như ông có thể thấy qua thông điệp của ông ấy.

- Vớ vẩn, - J. Donovan nói. - Nếu như I. Schischkin nói với tổng chưởng lí Đông Đức rằng ông ấy phải đi ngang căn phòng này bằng cách chổng ngược đầu, đi bằng hai tay thì ông ấy cũng phải làm chứ đừng có nói là ông ấy dám cưỡng lại. Tôi nhắc lại, tôi không có thời gian để tham gia những trò chơi trẻ con. Nếu như phía Đông Đức từ bỏ cam kết chính thức của họ, hãy gửi cho tôi văn bản vào ngày mai. Tôi sẽ chấm dứt mọi thương lượng và yêu cầu chính phủ của mình đưa tôi về nhà.

J. Donovan đứng dậy và bắt đầu mặc lại áo khoác.

W. Vogel nhanh chóng ấn vào một cái nút nào đó dưới bàn làm việc. Giống như trên sân khấu, cánh cửa phòng làm việc của viên luật sư Đông Đức lập tức mở ra và một người trợ lí bước vào. Người này đến trước bàn làm việc của W. Vogel, nói rằng anh ta vừa mới nhận được một cú điện thoại của tổng chưởng lí Đông Đức, thông báo rằng muốn Vogel có mặt lúc 1 giờ chiều ở văn phòng chưởng lí để thảo luận thêm về “vụ Pryor”.

- Tin tốt đấy, - W. Vogel kêu lên, đứng dậy, xem đồng hồ rồi nói với J. Donovan. - Ông nên ở lại Đông Berlin cho tới khi kết thúc cuộc gặp của tôi với tổng chưởng lí. Tôi sẽ cố gắng thuyết phục ông ấy đổi ý.

J. Donovan nói muốn tìm một khách sạn xịn để ăn trưa; khi nào W. Vogel gặp tổng chưởng lí xong sẽ tới gặp ông ở đó. Viên luật sư Mỹ nói thêm là ông không có đồng mác Đông Đức nào cả. W. Vogel bèn đưa cho viên luật sư Mỹ 50 mác tiền Đông Đức. “Cậu Drews” hỏi liệu có thể cùng ăn trưa với viên luật sư Mỹ được hay không và J. Donovan đồng ý. Trên đường đi ra khỏi văn phòng, “cậu Drews” lùi lại phía sau, nói để gọi điện thoại đặt bàn trước ở tiệm ăn nhưng có lẽ là để báo cáo với I. Schischkin những gì vừa diễn ra. W. Vogel đi cùng với J. Donovan ở phía trước, ngoái lại quan sát xem “cậu Drews” có nhìn thấy không rồi giơ ngón tay cái lên ra hiệu, nói với J. Donovan bằng tiếng Đức: “Đừng lùi!” Có lẽ viên luật sư Đông Đức muốn cố gắng sắm cả hai vai ở hai phía.

Cả ba chui vào chiếc xe thể thao của W. Vogel nhưng vừa mới đi được chừng 5 phút thì một chiếc xe màu đen vượt lên, ép chiếc xe chở ba người vào lề đường. Bốn người mặc cảnh phục của cảnh sát Đông Đức và đều mang theo vũ khí chui ra, vây quanh chiếc xe của viên luật sư Đông Đức. Sau giây phút sững sờ, W. Vogel chui ra khỏi xe mình và bắt đầu vài phút đối thoại căng thẳng với mấy người cảnh sát. Khi W. Vogel quay lại xe và khởi động máy, viên luật sư Mỹ hỏi xem chuyện gì xảy ra. “Tôi bị phạt vì chạy quá tốc độ”, W. Vogel trả lời. J. Donovan thầm nghĩ nếu ở phiên tòa đang xét xử thì có thể ông sẽ kết án W. Vogel tội khai man nhưng quả thật là màn chặn xe bất ngờ cũng khiến cho viên luật sư Mỹ cảm thấy thót bụng vì sợ.

W. Vogel lái xe đưa hai người tới tiệm ăn Johanneshof ở gần ga xe điện trên phố Friedrich rồi để hai người lại đấy, còn mình thì tới chỗ tổng chưởng lí Đông Đức.

Trong bữa ăn trưa, “cậu Drews” - điệp viên KGB Y. Drozdov - với vẻ lịch sự nhưng hết sức khéo léo, tiếp thục thăm dò về phương án một cuộc trao đổi anh sinh viên Pryor lấy Abel. Viên luật sư Mỹ nói rằng bất cứ một cuộc thương thảo nào theo hướng đó chỉ phí thời gian. “Cậu Drews” hỏi viên luật sư có báo cáo về chuyến đi cho Bộ Ngoại giao Mỹ hay không và khi J. Donovan trả lời là có thì Y. Drozdov bèn hỏi:

- Nếu không đạt được thỏa thuận về việc phóng thích cho Pryor thì liệu điều đó có được báo cho Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, người xuất thân từ Michigan và là bạn của gia đình Pryor không?

J. Donovan trả lời rằng ông không biết rõ lắm nhưng quả thật sẽ là bất bình thường nếu như chuyến đi của ông chỉ nằm trong giới hạn quản lí của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Kể từ khi chia tay I. Schischkin ở sứ quán Liên Xô, J. Donovan không một lần nhắc tới chuyện thông điệp gửi cho ông tối hôm trước đã được chuyển thẳng qua số máy điện thoại bí mật mà ông chỉ trao cho mỗi I. Schischkin. Cũng trong bữa ăn trưa, “cậu Drews” giải thích rằng “sau khi luật sư Vogel thông báo tin xấu cho gia đình Abel tối hôm trước thì cô con gái Abel đã may mắn nhớ được số điện thoại mà viên luật sư trao cho I. Schischkin”. Đúng lúc ấy lại có một thương gia người nước ngoài, bạn của gia đình đang ở Đông Berlin nên khi biết được khó khăn đã sang Tây Berlin và gọi điện thoại để thông báo cho J. Donovan. “Cậu Drews” hỏi viên luật sư Mỹ có biết lí do vì sao thỉnh thoảng I. Schischkin khi gặp J. Donovan lại không cho phép sự có mặt của gia đình Abel hay không? Viên luật sư trả lời không biết lí do và chủ đề đó dừng lại ở đấy.

J. Donovan nói “rất tiếc” cho gia đình Abel, rồi hỏi “cậu Drews” về tên của người “vợ” và cô “con gái” của Abel. “Cậu Drews” trả lời tên của người vợ là “Lydia”, còn cô con gái là “Helen”. Viên luật sư Mỹ hỏi tiếp là cô “Helen” đã kết hôn chưa? “Cậu Drews” nhanh chóng trả lời: “Rất tiếc là chưa”, rồi hỏi lại: “Thế không lẽ ông Abel không kể với ông về gia đình ông ấy sao?” Viên luật sư đáp: “Chưa bao giờ”. Ở đây, điệp viên Y. Drozdov đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng khi không nhớ các chi tiết để khớp với kịch bản về “gia đình” Abel, khi đảo tên của người vợ cho cô con gái và ngược lại. Hơn nữa, một trong những bức thư của cô con gái gửi cho Abel, vốn dược sử dụng làm bằng chứng trong phiên tòa xét xử người điệp viên, đã kể rất tỉ mỉ về người chồng của cô.

Hơn ba giờ chiều, khi gần xong bữa ăn trưa, “cậu Drews” nói phải vào phòng vệ sinh, có lẽ là để đi gọi điện thoại. Ngay sau đó, luật sư W. Vogel về tới nơi. J. Donovan đưa 50 mác Đông Đức mà W. Vogel chuyển cho lúc trước để viên luật sư Đông Đức thanh toán cho bữa ăn. “Cậu Drews” nói viên luật sư cứ giữ lấy 50 mác nhưng J. Donovan giải thích rằng ông không muốn mang tiền Đông Đức trong người vì có thể sẽ gặp rắc rối ở chỗ cửa khẩu sang Tây Berlin, W. Vogel cười nói: “Ông cẩn thận về chuyện tiền nong là đúng đấy chứ nếu không chính phủ Đông Đức lại có thể đem ông để đổi lấy một người nào đấy”. Viên luật sư Mỹ mỉm cười trước câu nói hài hước của người đồng nghiệp bên phía Đông Đức.

Luật sư W. Vogel thuật lại rằng mình đã có một cuộc “tranh cãi nảy lửa” với tổng chưởng lí Đông Đức, nhưng cuối cùng đã giành được “thắng lợi”. Viên luật sư Đông Đức nói tất cả mọi mắc mứu xung quanh việc phóng thích Pryor trong cuộc trao đổi Powers lấy Abel đã được gỡ bỏ. Những trắc trở nảy sinh chẳng qua vì viên tổng chưởng lí Đông Đức hết sức không hài lòng vì hôm thứ bảy tuần trước đó, khi sang Đông Berlin, J. Donovan đã tới gặp I. Schischkin thay vì phải tới chỗ Vogel và tổng chưởng lí Đông Đức trước.

J. Donovan giải thích rằng bức điện tín ông gửi từ Mỹ cho “bà Abel” trước chuyến đi đã nói rất rõ là ông sẽ gặp “bà Abel” hoặc người đại diện ở sứ quán Liên Xô, nếu Vogel muốn thì hoàn toàn có thể tới gặp ông ở đó. Hơn nữa, quan điểm của tổng chưởng lí Đông Đức trong vụ này khá là lạ lùng nếu xét trên nội dung bức thư mà ông ta đã kí đồng ý phóng thích Pryor gửi cho J. Donovan hôm trước.

Viên luật sư Đông Đức nói dẫu sao thì những trắc trở đã được loại bỏ. Điều quan trọng nhất là tổng chưởng lí Đông Đức đã đồng ý phóng thích anh sinh viên Pryor. Việc cần làm bây giờ là hai người quay lại chỗ I. Schischkin và sau khi thảo luận với viên bí thư thứ hai sứ quán, Vogel sẽ thông báo cho tổng chưởng lí Đông Đức là phía Xô viết đã chấp thuận thỏa thuận trao đổi điệp viên. W. Vogel nói đã hẹn gặp I. Schischkin vào lúc 4 giờ chiều.

Một lần nữa, J. Donovan hỏi W. Vogel là phải chăng mọi trở ngại từ phía Đông Đức cho một cuộc trao đổi đồng thời Abel lấy Powers và Pryor đã được loại bỏ. Viên luật sư Đông Đức trả lời: “Đúng vậy”.

Cả ba người quay lại sứ quán Liên Xô một lần nữa, nơi I. Schischkin đã đợi sẵn ở phòng chờ. Viên bí thư thứ hai tự giới thiệu mình với W. Vogel, một việc dưới con mắt của J. Donovan là khá lạ lùng, rồi hỏi xem tình hình thế nào. Bằng tiếng Đức, W. Vogel tóm tắt lại nội dung câu chuyện đã nói với J. Donovan trước đó, một lần nữa khẳng định rằng mọi trở ngại từ phía Đông Đức đối với thỏa thuận trao đổi điệp viên đã được loại bỏ. I. Schischkin lắng nghe một cách chăm chú rồi bất ngờ mời J. Donovan vào gặp riêng ở trong phòng làm việc của mình.

+++++

Sau khi đóng cánh cửa phòng lại sau lưng, I. Schischkin ngồi vào sau bàn và bắt đầu nhắc viên luật sư J. Donovan rằng trong buổi gặp đầu tiên hôm thứ bảy tuần trước, ông đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của viên phi công Powers để có thể đổi ngang với điệp viên Abel; I. Schischkin đã hỏi là liệu khi quay về Mỹ, Powers có được coi như “anh hùng dân tộc” của nước Mỹ nhờ những chiến công của anh ta không. Khi đó, viên luật sư đã trả lời rằng căn cứ vào những gì diễn ra trên truyền thông báo chí Mỹ thì Powers sẽ không phải là “anh hùng dân tộc”, nhưng chỉ riêng việc anh ta thực hiện phi vụ trên tầng cao khí quyển cũng như bị xét xử trong phiên tòa ở Moscow thì cũng đủ để ngưỡng mộ rồi. Viên luật sư cũng nhấn mạnh rằng ở Mỹ, đặc biệt là trong số những người làm việc trong lĩnh vực phản gián, còn có quan điểm cho rằng Abel sẽ không được phóng thích trong bất kì điều kiện nào nếu như ông ta quyết định rằng một ngày nào đó sẽ mở miệng khai báo về các hoạt động của mình với nhà chức trách Mỹ.

I. Schischkin nói:

- Tôi đã chuyển những nhận định này của ông về Moscow và chiều nay đã nhận được chỉ thị mới từ Moscow.

Mở một cặp hồ sơ để trên bàn ra, I. Schischkin đọc bản chỉ thị, nói rằng căn cứ trên những nhận định của viên luật sư đưa ra hôm thứ bảy, Moscow cho rằng chính phủ Mỹ đánh giá Makinen có giá trị hơn nhiều so với Powers, bởi vậy, sẽ hủy bỏ thỏa thuận đổi Powers lấy Abel mà thay vào đó đề nghị trao đổi Makinen lay Abel.

J. Donovan lập tức nổi đóa. Ông đứng dậy, kết tội I. Schischkin đã trích dẫn những nhận định của ông tách rời khỏi bối cảnh tổng quát; rằng I. Schischkin biết rất rõ là cuộc thương lượng trao đổi Abel - Powers dựa trên một điều kiện tiên quyết là phía Mỹ phải có Powers trong bất kì một thỏa thuận nào. Không chỉ I. Schischkin hiểu và đã tái khẳng định điều này với viên luật sư vào buổi sáng hôm đó mà ngay cả chỉ thị của Moscow ngày hôm trước cũng đã xác nhận quan điểm của J. Donovan. Việc đầu tiên đồng ý trao đổi Abel lấy Powers, rồi sau đó lại đưa phương án buộc người Mỹ phải lựa chọn đổi lấy Makinen là bất hợp lí. Viên luật sư nhắc lại một lần nữa chỉ thị ông nhận được là nếu không có Powers thì sẽ không có thỏa thuận nào hết; vấn đề duy nhất là phía Xô viết sẽ trao trả ai kèm theo Powers mà thôi.

I. Schischkin đáp lại với vẻ lịch sự:

- Chỉ thị tôi mới nhận được chiều nay đã thay thế mọi chỉ thị trước đây. Bởi thế hiện tại tôi không có thẩm quyền thương thảo nào khác ngoài việc đề nghị trao đổi Makinen lấy Abel.

Viên luật sư Mỹ nhắc lại rằng sau khi đã chuyển thông điệp của Moscow vào ngày hôm trước và khẳng định lại bằng miệng vào buổi sáng hôm đó, tuyên bố của I. Schischkin có nghĩa là phía Xô viết đã không quan tâm nghiêm túc đến việc muốn Mỹ phóng thích Abel.

- Kể từ hôm thứ bảy ông đã bày ra ván cờ vua để chơi với tôi, - J. Donovan nói. - Tôi thỉnh thoảng cũng thích chơi cờ vua nhưng hiện tại không có thời gian để chơi với ông.

- Tôi á? - I. Schischkin hỏi lại vẻ ngạc nhiên. - Tôi chỉ chơi duy nhất bóng chuyền thôi.

J. Donovan nói rằng bất kể I. Schischkin thích chơi món gì thì ông cũng chỉ có duy nhất một câu hỏi thôi: Phía Xô viết có tôn trọng thỏa thuận hôm trước trao đổi Abel lấy Powers và Pryor hay không? Nếu không, viên luật sư sẽ thông báo cho chính phủ Mỹ và ngay lập tức quay về nhà.

I. Schischkin nói sẽ chuyển câu hỏi của viên luật sư về Moscow để chờ chỉ thị mới. I. Schischkin đề nghị J. Donovan quay lại vào ngày hôm sau, quãng từ 2 đến 3 giờ chiều để có thể trao đổi về phản hồi từ Moscow.

J. Donovan nói không có lí do gì để ông phải vất vả thực hiện chuyến đi qua bức tường quay lại sứ quán Liên Xô một khi ông đã trao cho viên bí thư thứ hai số điện thoại liên lạc với ông ở Tây Berlin. Nếu có câu trả lời, I. Schischkin có thể điện thoại báo cho ông biết. J. Donovan nói thêm rằng nếu không nhận được phản hồi nào từ I. Schischkin trước đêm hôm sau, ông sẽ quay về Mỹ. I. Schischkin nói “rất tốt” và khẳng định sẽ có câu trả lời vào ngày hôm sau.

J. Donovan giận dữ đi ra khỏi phòng, thậm chí không thèm bắt tay I. Schischkin. “Cậu Drews” chờ ở phòng ngoài và đi cùng với viên luật sư ra bến tàu điện nổi trên phố Friedrich. Trên đường đi, “cậu Drews” hỏi về phản ứng của viên luật sư để có thể báo lại cho mẹ con bà Abel.

J. Donovan nói các đối tác của Mỹ trong cuộc thương lượng kể từ hôm thứ bảy tuần trước đã thể hiện thái độ vô trách nhiệm và không trung thực.

Viên luật sư nói thêm:

- Nếu như thỏa thuận đổi Abel lấy Powers cộng thêm Pryor bị đổ vỡ và chính phủ Mỹ chấp nhận để tôi quay về, tôi sẽ bắt buộc phải thông báo với Đại tá Abel rằng “gia đình” đã từ chối ông ấy. Rất có thể ông ấy sẽ cân nhắc lại lập trường không cộng tác với chính phủ Mỹ trước đây. Tôi tin ông ấy sẽ chấp thuận lời khuyên của tôi.

“Cậu Drews” không nói gì. Khi chia tay, “cậu Drews” nói khẽ: “Chúc ông có chuyến quay về may mắn”. Viên luật sư đáp: “Cảm ơn anh về bữa ăn trưa”. Rồi cả hai chia tay.

+++++

Bất chấp những diễn biến bất thường ở Berlin, cỗ máy chuẩn bị cho cuộc hò hẹn trên cây cầu ở cách xa nước Mỹ nửa vòng trái đất vẫn bắt đầu được kích hoạt. Ở Washington, trước khi thực hiện chuyến công du vòng quanh thế giới, Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy đã kí các giấy tờ cần thiết để có thể trục xuất Abel. Tổng thống J. Kennedy kí quyết định giảm án cho Abel, sẽ có hiệu lực ở thời điểm diễn ra cuộc trao đổi. Nó quy định rằng Abel sẽ không bao giờ được phép quay trở lại Hoa Kỳ. F. Wilkinson, Phó Giám đốc Phân ban nhà tù thuộc Bộ Tư pháp Mỹ, sẽ mang những giấy tờ này tới New York.

Lúc 7 giờ tối 6-2 theo giờ Mỹ, F. Wilkinson gọi điện cho viên Giám đốc nhà tù Atlanta, chỉ thị đưa Abel tới New York. Quá biết về giờ giấc sinh hoạt ở nhà tù, F. Wilkinson nói chờ tới sau 12 giờ đêm hãy đưa Abel ra khỏi buồng giam để tránh những con mắt nhòm ngó không cần thiết. Còn bản thân F. Wilkinson và Noah L. Aldredge, sếp Bộ phận giám sát văn phòng nhà tù của Bộ Tư pháp Mỹ đi tàu hỏa tới New York, đặt chỗ tại khách sạn Henry Hudson trên phố 75 Tây rồi chờ ở đó.

Lúc 0 giờ 30 phút sáng 7-2, tù nhân Abel, số tù 80016, trong bộ quần áo chỉnh tề, cùng với người giám sát mình là sĩ quan Earl Peck của nhà tù, lặng lẽ rời buồng giam. Người tù cùng phòng và hai người bạn tù khác của Abel sẽ phải cách li khỏi những người thăm viếng trong vòng vài ngày.

Hầu hết những hành khách ít ỏi khởi hành trên chuyến bay của hãng Delta vào lúc 2 giờ sáng hôm 7-2-1962 từ Atlanta đi New York đều không để ý đến hai hành khách không có gì khác thường cùng đi với họ trên chuyến bay. Một người to lớn vạm vỡ và một người gầy nhỏ. Cả hai lúc nào cũng kè kè bên nhau, không rời một bước.

Khi chiếc máy bay đã cất cánh lên không trung, một bức điện gửi tới cho F. Wilkinson, lúc này đang ngụ tại khách sạn Henry Hudson: “Gói hàng” đã được gửi đi. “Gói hàng” là Abel. Trong điệp vụ mật trao đổi điệp viên đầu tiên ở thời kì Chiến tranh Lạnh này, tuyệt đối không được nhắc đến tên của Abel trong bất kì một cuộc trò chuyện hay liên lạc nào.

Viên Phó Giám đốc Phân ban nhà tù thuộc Bộ Tư pháp Mỹ bèn gọi tới trụ sở Cục Trại giam Liên bang, ở 427 phố West, Manhattan, New York, thông báo cho viên sĩ quan trực rằng “một người đàn ông” sẽ tới vào lúc bình minh, cần phải thu xếp cho người đàn ông này vào một trong ba xà lim được canh gác cẩn mật nhất.

Chuyến bay chở Abel và người áp tải hạ cánh xuống sân bay Idlewild, New York vào lúc 4 giờ 30 phút sáng và ngay lập tức, ô tô đưa người điệp viên Xô viết về xà lim ở trụ sở Cục Trại giam Liên bang trên phố West. Có lẽ Abel cũng lờ mờ đoán ra là đang có một sự việc bất thường nào đó diễn ra, nhưng không biết chắc đó là chuyện gì.

Vào lúc đó, ở đầu bên kia trái đất, lúc 7 giờ 30 phút tối thứ tư, một nhóm người cùng với phiên dịch tới buồng giam F. Powers ở nhà tù Vladimir. Họ hỏi liệu F. Powers có muốn đi Moscow mà “không có bất cứ lính gác nào đi kèm” hay không? F. Powers cũng đoán rằng có một việc gì đó sắp xảy ra nhưng không thể biết được đó là chuyện gì. Anh ta được đưa về Moscow và ở lại đó suốt đêm. Trong suốt quá trình di chuyển, những người canh giữ anh ta không một lần nào nhắc đến tên Abel.

+++++

J. Donovan chờ đợi đến trưa thứ tư, 7-2, trong ngôi nhà an toàn ở Tây Berlin nhưng vẫn không có bất cứ một tín hiệu nào từ I. Schischkin. Báo cáo của J. Donovan về những diễn biến trong ngày 6-2 đã được gửi về Washington và viên luật sư cũng nhận được các chỉ dẫn cần thiết. Viên luật sư sẽ phải tiếp tục duy trì lập trường cứng rắn, giữ nguyên yêu cầu ban đầu về việc đổi Abel lấy Powers. Washington cũng chỉ ra là việc quay lại Đông Berlin của J. Donovan có thể gặp nguy hiểm.

Đến 3 giờ 15 phút chiều, thông điệp của I. Schischkin được chuyển tới qua số điện thoại bí mật ở Tây Berlin:

“Ông Donovan,

Rất không may là chúng tôi chưa trả lời được trong ngày hôm nay. Chúng tôi hi vọng sẽ có nó vào ngày mai. Khi có, chúng tôi sẽ thông báo ngay lập tức.

I. Schischkin”.

Như vậy là ván cờ vẫn tiếp tục. Bất chấp khuyến cáo từ Washington, viên luật sư vẫn tin là mình cần phải đi những nước tiếp theo. Nếu phía Mỹ không có những chuyển động thì hoặc là sứ mệnh của ông sẽ sụp đổ, hoặc phía Xô viết sẽ rút ra kết luận là nếu họ tiếp tục duy trì tình thế dằng dai thì rồi cuối cùng họ sẽ chỉ phải phóng thích một mình Powers để đổi lấy Abel mà thôi.

J. Donovan thảo luận với “Bob” về diễn biến trong mấy ngày vừa qua và viên trưởng trạm CIA ở Tây Berlin gợi ý là cần phải gặp không chỉ trưởng phái bộ Mỹ ở Tây Berlin Lightner, mà cả với Tướng Lucius Clay, đại diện của Tổng thống Kennedy ở Berlin. Để tránh khả năng làm lộ ngôi nhà an toàn nơi J. Donovan đang cư ngụ, cuộc gặp được tổ chức tại nơi ở của “Bob”.

Tướng L. Clay kiên nhẫn nghe J. Donovan trình bày những diễn biến của vụ việc, các khuyến cáo của Washington cũng như dự tính sẽ làm gì tiếp theo. Viên luật sư cho rằng nếu mình tiếp tục cuộc thương thảo với thái độ cứng rắn thì anh sinh viên Pryor vẫn sẽ được thả cùng với Powers. Tất cả cũng nhất trí về khuyến nghị của Washington rằng việc viên luật sư quay trở lại phía bên kia bức tường Berlin chứa đựng khá nhiều rủi ro. Cần tiếp tục chờ đợi một cuộc gọi khác của I. Schischkin.

Cả bốn người thống nhất tiếp tục duy trì chiến thuật thương thảo như đã diễn ra trong mấy ngày qua. Tướng L. Clay soạn một văn bản và J. Donovan gửi nó cho I. Schischkin theo đường ngoại giao. Văn bản viết:

“Tôi đã nhận được thông báo của ông và rất tiếc về sự chậm trễ, bởi không may là thời gian của tôi ở đây có giới hạn. Cái lưng đau tiếp tục hành hạ tôi nên rất mong ông tới chỗ ông Howard Trivers trong phái bộ của chúng tôi trong khoảng thời gian từ 4 giờ đến 6 giờ chiều ngày mai, thứ năm, 8-2-1962. Địa chỉ ở số 12 đường Vogelsong, khu Dahlem.

Donovan”.

+++++

Sáng thứ năm, 8-2, J. Donovan bị đánh thức bởi một liên lạc viên do “Bob” phái tới. Người này mang theo thông điệp của I. Schischkin gửi qua số điện thoại bí mật ở Tây Berlin. Thông điệp viết:

“Tôi đã nhận được câu trả lời tích cực. Hẹn gặp ông ở văn phòng tôi vào lúc 4 giờ chiều nay nếu như sức khỏe của ông cho phép.

I. Schischkin”.

Trong bữa sáng, cả J. Donovan lẫn “Bob” cân nhắc rất lâu về thông điệp mới của I. Schischkin. Liệu có đúng là mọi sự diễn ra suôn sẻ như phản ánh trong thông điệp hay không? Hay đây lại là một đòn thế mới trong ván cờ cân não của viên bí thư thứ hai sứ quán Liên Xô? Hoặc tệ hơn, đây là một cái bẫy do Vogel và “cậu Drews” bày ra để lừa viên luật sư Mỹ vào tròng, trong khi phía Liên Xô có thể hoàn toàn chối bỏ mọi trách nhiệm?

J. Donovan lưu ý với “Bob” rằng chiến thuật mà người Liên Xô áp dụng trong cuộc thương lượng rất có thể là sự mô phỏng phương cách mà nhà khoa học Xô viết vĩ đại Pavlov từng thực hiện với những con chó thí nghiệm. Thoạt đầu đưa cho chúng ngửi những miếng mồi ngon để chúng chảy nước dãi nhưng sau đó bất thần rút lại. Chiến thuật này sẽ làm đối phương mệt mỏi. J. Donovan cho rằng đã hiểu rõ chiến thuật này và nó không có tác dụng gì với mình; ông sẽ tiếp tục ván cờ bằng cách quay lại Đông Berlin. “Bob” liên lạc với tướng L. Clay và viên đại diện cho Tổng thống Kennedy chấp thuận quyết định của J. Donovan.

Thông qua đường dây ngoại giao, viên luật sư gửi một điện tín cho I. Schischkin:

“Ông I. Schischkin,

Tôi sẽ tới vào lúc 16 giờ nhưng vì lưng đau nên đề nghị ông cho một xe đón tôi ở bến xe điện vào lúc 15 giờ 30.

Donovan”.

Chiều hôm ấy, viên luật sư xuống xe điện ở bến vào lúc 15 giờ 45 phút nhưng chẳng thấy một chiếc xe nào đón, nên đành bắt taxi về sứ quán Liên Xô. I. Schischkin đã chờ sẵn và mời J. Donovan vào phòng riêng. Tại đó, trên mặt chiếc bàn nhỏ đã bày sẵn một chai rượu mạnh nhãn hiệu Mỹ, một chai nước khoáng nhãn Đông Đức, ít hoa quả và mấy cái cốc mạ bạc.

I. Schischkin nhanh nhẹn mở chai rượu mạnh, rót ra hai cốc rồi đề nghị nâng cốc “chúc may mắn”. Sau khi chạm cốc, viên bí thư thứ hai hồ hởi thông báo: “Moscow đã chuẩn y tất cả rồi”. Powers sẽ được trao đổi với Abel và đồng thời phía Đông Đức cũng phóng thích Pryor. Tuy nhiên, cuộc trao đổi tay ba sẽ diễn ra trên hai hướng. Trong khi cuộc trao đổi Abel lấy Powers diễn ra ở một chỗ thì phía Đông Đức trao trả Pryor cho cha mẹ anh ta ở một chỗ khác. Lí do phải tiến hành trao đổi riêng rẽ bởi Đông Đức là một nhà nước độc lập. Sẽ không có tuyên bố nào đưa ra cho đến khi mọi việc hoàn tất. Mà nếu có thông cáo báo chí thì cũng chỉ nói rằng cuộc trao đổi được tiến hành vì những lí do nhân đạo, không phải là trao đổi điệp viên, I. Schischkin nói thêm.

Về địa điểm diễn ra trao đổi, I. Schischkin gợi ý:

- Tôi nghĩ sứ quán Liên Xô ở Đông Berlin sẽ là một nơi thích hợp.

- Theo ý tôi thì tốt nhất là ở một địa điểm nào đó trên biên giới giữa hai bên, - J. Donovan nói, cố gắng để không tạo ra ấn tượng căng thẳng.

- Tốt nhất cuộc trao đổi nên diễn ra vào thứ bảy này, - viên bí thư thứ hai tiếp.

- Vào mấy giờ? - J. Donovan hỏi.

- Nên diễn ra sớm.

- Buổi trưa được không?

- Sao lại không sớm hơn?

- Vậy tốt nhất là vào lúc 7 rưỡi sáng.

- Tuyệt. Đấy là thời gian thích hợp nhất cho cuộc trao đổi bởi chưa có mấy ai đi lại vào lúc còn sớm như vậy.

Rồi I. Schischkin nói tiếp:

- Theo tôi thì cầu Glienicke không phải là địa điểm thích hợp cho cuộc trao đổi bởi ở đó vẫn còn những cuộc dây thép gai phong tỏa lối vào cầu.

- Theo chỗ tôi biết thì hiện nay chiếc cầu vẫn mở lối cho giao thông qua lại.

- Nhưng ông đã đến đó xem tận mắt chưa? - I. Schischkin hỏi.

- Tôi xem xét kĩ mọi địa điểm chỉ sau khi đã đạt được thỏa thuận cuối cùng.

- Tôi đề nghị một địa điểm khác là cửa khẩu Oberbaumbrücke ở gần phố Warschauer. Chỗ đó vẫn được dùng để cho người bên phía Tây Berlin qua lại.

- Được rồi, - viên luật sư trả lời. - Tôi sẽ thông báo cho chính phủ của tôi về đề nghị của ông.

I. Schischkin nói anh sinh viên Pryor sẽ được phía Đông Đức tiến hành trao trả cho gia đình tại điểm kiểm soát Charlie.

- Chừng bao nhiêu người sẽ tham gia vào cuộc trao đổi? - I. Schischkin hỏi.

- Tôi nghĩ mỗi bên chừng ba người là đủ. - J. Donovan trả lời.

- Tốt, - viên bí thư thứ hai tỏ vẻ hài lòng.

I. Schischkin nói:

- Moscow muốn tôi nói với ông là bằng uy tín cá nhân của mình, ông hãy cố gắng tác động để hạn chế đến mức tối thiểu những luận điệu tuyên truyền chống Xô viết ở Mỹ một khi vụ trao đổi được công luận biết đến.

- Nếu xét theo tính chất tự do báo chí ở nước chúng tôi thì đó quả là một việc rất khó, - J. Donovan nói.

- Chúng tôi biết điều đó. Nhưng chính phủ Mỹ có thể ra một tuyên bố, nói rằng Powers đã được chính phủ Xô viết phóng thích thể theo yêu cầu của gia đình cũng như mong muốn thúc đẩy quan hệ giữa hai nước trở nên tốt hơn. Bên phía chúng tôi sẽ không ra một tuyên bố đồng thời với việc Abel được ân xá, nhưng sau chừng vài tuần lễ, chính phủ Mỹ hoàn toàn có thể tuyên bố là với tinh thần tương tự thì Abel cũng đã được phóng thích. Phía Mỹ không có lí do gì để tuyên bố về vấn đề liên quan đến Pryor vì đó hoàn toàn thuộc về thẩm quyền của người Đông Đức.

- Như tôi đã nói trong buổi gặp đầu tiên, chính phủ Mỹ không hề có ý định sử dụng vụ trao đổi điệp viên vào mục đích tuyên truyền. Nhưng chắc ông phải nhận thấy rằng tình thế rất tế nhị và chính phủ của tôi không dám đảm bảo bất cứ điều gì.

- Tôi hiểu. Vậy trưa mai ông có thể quay lại để chúng ta bàn thêm về các chi tiết của cuộc trao đổi hay không?

- Mai tôi sẽ quay lại, - viên luật sư khẳng định.

+++++

Đúng 12 giờ trưa hôm sau, thứ sáu, 9-2-1962, J. Donovan gặp lại I. Schischkin ở sứ quán Liên Xô. Viên luật sư thông báo chính phủ Mỹ đã chấp nhận trao đổi Abel lấy Powers và Pryor, đồng thời hi vọng phía Liên Xô sớm phóng thích Makinen. I. Schischkin nói rằng căn cứ vào thực tế quan sát mức độ lưu thông qua lại tại khu vực cửa khẩu Oberbaumbrücke ở gần phố Warschauer vào buổi sáng hôm ấy, phía Liên Xô đồng ý với đề xuất ban đầu của viên luật sư Mỹ là cuộc trao đổi Abel lấy Powers sẽ diễn ra ở cầu Glienicke.

Riêng về địa điểm trao trả Pryor, I. Schischkin nói rằng anh sinh viên sẽ được trao cho gia đình ở văn phòng của luật sư Vogel tại Đông Berlin. Lập tức J. Donovan từ chối:

- Việc trao trả Pryor sẽ không diễn ra ở bất cứ địa điểm nào tại Đông Berlin, - ông nói.

- Được rồi, - trước thái độ khá cương quyết của viên luật sư, I. Schischkin đồng ý. - Việc trao trả anh ta sẽ diễn ra ở điểm kiểm soát Charlie trên phố Friedrich, đồng thời với việc trao đổi Abel - Powers trên cầu Glienicke.

- Tốt nhất là ở đó nên bố trí máy vô tuyến liên lạc hai chiều. Khi nào anh ta đã được trao trả thì thông báo cho những người ở cầu Glienicke và lúc đó sẽ diễn ra cuộc trao đổi Abel lấy Powers.

I. Schischkin đồng ý.

Tiếp đó, viên bí thư thứ hai thông báo cho J. Donovan biết là mình cùng với hai quan chức Xô viết khác nữa sẽ tham dự vào cuộc trao đổi Abel lấy Powers ở cầu Glienicke. về phía Mỹ, J. Donovan cùng với trưởng phái bộ Mỹ ở Berlin, Lightner và Phó Giám đốc Phân ban nhà tù thuộc Bộ Tư pháp Mỹ F. Wilkinson sẽ tham gia cuộc trao đổi. Hai bên sẽ gặp nhau tại điểm giữa cầu vào lúc 8 giờ 20 phút sáng thứ bảy, 10-2-1962.

Đầu giờ chiều ngày 9-2, J. Donovan quay lại Tây Berlin. “Bob” đưa viên luật sư tới gặp Thiếu tướng Watson, chỉ huy trưởng lực lượng vũ trang Mỹ ở Berlin để thảo luận chi tiết kế hoạch đảm bảo an ninh cho cuộc trao đổi sẽ diễn ra vào sáng hôm sau. Tướng Watson là một trong số bốn người ở Tây Berlin biết về sự hiện diện của viên luật sư tại đây.

Trước đó, F. Powers đã từ nhà tù Vladimir về Moscow bằng tàu hỏa, cùng một viên đại tá của nhà tù Vladimir. Như đã được hứa trước, không có lính gác nào đi kèm theo anh ta. Tối thứ sáu, 9-2, Powers lên đường từ Moscow tới Berlin bằng một chiếc máy bay vận tải quân sự và được đưa tới một nhà khách của KGB ở Đông Berlin. Trong thời gian chờ đợi, anh ta chơi cờ vua với người phiên dịch của mình.

Cũng trong chiều thứ sáu, 9-2-1962, tổng chưởng lí Đông Đức kí lệnh tha Frederic Pryor. Sẽ không có phiên tòa nào cả. 8 giờ sáng thứ bảy, 10-2, luật sư W. Vogel được quyền đón F. Pryor ở nhà tù Hohenschönhausen.

Cuộc hò hẹn lịch sử trên cầu Glienicke giữa những người lạ đi vào những bước cuối cùng.

+++++

Ở New York, vào lúc 2 giờ 15 phút sáng ngày 9-2-1962 theo giờ Mỹ, hai chiếc xe hơi tới khách sạn Henry Hudson đón những người khách ngụ tại đây rồi đi về phía nam, tới trụ sở Cục Trại giam Liên bang. Hai chiếc xe đỗ lại bên ngoài trên phố 11. Lát sau, một người đàn ông gầy gò vận bộ đồ màu nâu, đeo kính râm bước ra cùng với người phụ trách nhà tù. Ông ta mang theo hai cái cặp bằng vải. F. Wilkinson ra khỏi ô tô, bước tới đón người đàn ông. Đấy là Đại tá Abel.

Abel nở nụ cười khi nhận ra người giám sát cũ của mình. “Tôi mừng khi thấy ông”, Abel nói, rồi hỏi F. Wilkinson xem điều gì đang xảy ra. Viên Phó Giám đốc phụ trách nhà tù nói ông ta không chắc chắn điều gì cả, nhưng rất có thể Abel sẽ được gặp lại người thân.

- Ông có muốn về nhà không? - F. Wilkinson hỏi người điệp viên Xô viết.

- Có, - Abel trả lời. - Tôi muốn gặp lại vợ và con gái. Tôi muốn về nhà.

Người điệp viên không nói rõ nhà mình ở nước nào!

Sẽ có bốn người đồng hành trong chuyến đi là Abel, N. Aldredge, F. Wilkinson và một nhân viên CIA. N. Aldredge mang theo còng tay, một khẩu súng ngắn và đạn, còn F. Wilkinson mang theo các giấy tờ phóng thích đã kí đầy đủ. Abel vào ngồi trên chiếc xe đầu tiên, bị kẹp giữa N. Aldredge và F. Wilkinson. Người điệp viên CIA ngồi trên ghế trước. N. Aldredge cẩn thận tháo đạn ra khỏi khẩu súng ngắn cho vào trong túi, đề phòng khả năng Abel đoạt mất súng. Hai chiếc xe vượt qua đường hầm Holland bên dưới sông Hudson, qua New Jersey, tới sân bay quân sự nằm trong căn cứ McGuire. Vào lúc 5 giờ 20 phút sáng, cả 4 người cùng lên chiếc C-118 Constellation có 8 chỗ ngồi. 40 phút sau, máy bay cất cánh. Phi hành đoàn không biết danh tính của người hành khách và chỉ khi đã lên không trung, mới nhận được chỉ thị bay tới Tây Đức. Các nhân viên an ninh Mỹ luôn theo sát Abel, không rời một bước.

Khi chiếc máy bay buộc phải hạ cánh xuống Wiesbaden ở Tây Đức vào lúc 6 giờ 30 phút sáng 9-2 theo giờ Tây Đức để tiếp thêm nhiên liệu và sửa chữa một trục trặc nhỏ của máy điện đàm, một tấm màn được dựng lên quây quanh Abel, đảm bảo để không ai có thể nhìn thấy người điệp viên Xô viết. Chỉ khi ấy, thợ sửa chữa điện đàm mới được phép lên máy bay. Một phi công khác cũng được bổ sung lên máy bay để hướng dẫn bay theo hành lang qua không phận Đông Đức tới Tây Berlin.

Do sự chênh lệnh múi giờ giữa hai bán cầu nên chiếc máy bay chở Abel và những người cùng đi đáp xuống sân bay Tempelhof ở Tây Berlin vào lúc 12 giờ 45 phút trưa thứ sáu, 9-2-1962. Xe đã chờ sẵn và “gói hàng” được chuyển tới một buồng giam trong căn cứ quân sự Andrews của Mỹ ở Tây Berlin. Luôn có hai lính gác kè kè quan sát Abel suốt ngày đêm. Tất cả quần áo của Abel bị lấy đi và người ta trao cho người điệp viên một bộ quần áo ngủ với tất cả dây rút bị tháo hết. Abel yêu cầu cho lấy lại bộ dao cạo râu của mình nhưng thay vào đó, được đưa cho một máy cạo râu điện.

Sáng sớm thứ bảy, 10-2-1962, J. Donovan gặp Abel trong vòng nửa giờ đồng hồ tại buồng giam Abel nằm sâu dưới lòng đất trong căn cứ quân sự Andrews của Mỹ ở Tây Berlin. Trong phiên tòa diễn ra trước đó 5 năm, J. Donovan đã làm hết sức để bảo vệ quyền lợi pháp lí cho thân chủ của mình. Nay thì có vẻ như vụ việc đã đi đến hồi kết thúc theo cái cách mà không ai có thể ngờ được. Hai người ôn lại những chuyện cũ. J. Donovan gọi người điệp viên là “Rudolf”, còn Abel thì sau khi thân mật chào “Jim” khi gặp mặt, luôn gọi vị luật sư Mỹ là “Ngài Donovan”.

Khi viên luật sư đề cập đến cuộc trao đổi, Đại tá Abel nói mình biết về vụ viên phi công gián điệp F. Powers, nhưng chưa bao giờ biết đến anh sinh viên Pryor. Cả I. Schischkin nữa, Abel cũng chưa nghe thấy bao giờ.

Gần đến giờ phải rời đi, Abel cảm ơn J. Donovan đã hết sức nỗ lực trong phiên tòa xử mình, hứa sẽ gửi cho viên luật sư một số bản sách cổ quý hiếm để ông bổ sung vào bộ sưu tập của mình.

Một dãy xe đã chờ sẵn bên ngoài. J. Donovan ngồi xe đầu cùng với Allan Lightner, người đứng đầu phái bộ Mỹ tại Tây Berlin. Abel ở xe thứ hai, ngồi giữa F. Wilkinson và một nhân viên an ninh lực lưỡng của quân đội Mỹ; N. Aldredge ngồi xe thứ ba cùng với Jim Murphy, cựu sĩ quan của đơn vị do thám tối mật 10-10 tại Adana, Thổ Nhĩ Kỳ, vừa mới bay tới để giúp nhận diện Powers khi cuộc trao đổi diễn ra trên cầu Glienicke.

Khi đoàn xe của Mỹ ra khỏi căn cứ quân sự Andrews thì một đoàn xe của KGB cũng đang trên đường từ khu vực do Liên Xô kiểm soát ở phía nam Berlin, hướng tới cầu Glienicke từ ngả Potsdam. Đấy là một chặng đường khá dài. F. Powers ngồi phía sau trong chiếc Warburg cùng với viên Đại tá từ nhà tù Vladimir. Khoảng 7 rưỡi sáng, khi đoàn xe tới Potsdam, I. Schischkin bất ngờ xuất hiện và lên xe. Viên trưởng trạm KGB tại Đông Berlin chỉ dẫn tỉ mỉ và đoàn xe tiếp tục hướng về phía cầu Glienicke.

8 giờ sáng, luật sư W. Vogel tới nhà tù Hohenschönhausen và nói với F. Pryor, khi ấy hoàn toàn vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, rằng anh ta được phóng thích. F. Pryor cuống cuồng thu xếp hành trang rồi theo W. Vogel ra chiếc Mercedes mà viên luật sư mới mượn của một người bạn. Hai người không đi tới cầu Glienicke mà tới trạm kiểm soát Charlie, nơi có thể đi qua bức tường, từ Đông sang Tây Berlin. Ở phía bên kia trạm kiểm soát, cha mẹ của F. Pryor đã chờ sẵn.

Hai chiếc trong đoàn xe chở Abel tới chỗ cách cầu Glienicke khoảng 60 mét thì dừng lại. Những chiếc khác tản ra bên ngoài tầm quan sát của người Xô viết phía bên kia cầu. Hôm ấy, hầu hết cảnh sát Tây Đức canh gác ở khu vực cầu được cho đi nghỉ phép, thay thế bằng quân cảnh Mỹ.

KGB triển khai một chiến dịch lớn mang mật danh Lyutentsia nhằm bảo đảm an ninh trong toàn bộ khu vực sẽ diễn ra cuộc trao đổi điệp viên. Chịu trách nhiệm điều phối chiến dịch là Vladimir Trofimovich Burdin, từng là điệp viên KGB phụ trách địa bàn Ottawa. Một nhóm các điệp viên KGB nằm vùng ở Tây Berlin chịu trách nhiệm quan sát mọi động tĩnh của các lực lượng vũ trang Mỹ ở khu vực xung quanh chiếc cầu Glienicke. Trên cầu, các điệp viên hành động KGB trang bị vũ khí mang đồng phục của sĩ quan hải quan Đông Đức bố trí dày đặc. Suốt đêm hôm trước khi diễn ra vụ trao đổi điệp viên, họ được triển khai bên bờ tây của cây cầu, trong những ngôi nhà của các nhân viên hải quan Đông Đức. Mặc cho sương mù cản trở, bằng ống nhòm, họ vẫn có thể quan sát được mọi động tĩnh bên phía người Mỹ.

Phi công F. Powers được một nhóm cảnh sát vũ trang đưa từ Potsdam tới một địa điểm gần với cây cầu, nhưng ngoài tầm quan sát của phía Mỹ. F. Powers mang theo chiếc va li và một tấm thảm nhỏ cuộn tròn mà anh ta đã bện trong thời gian ở tù.

Tại điểm kiểm soát biên giới bên phía Xô viết, một sĩ quan thuộc Trung đoàn 105 phổ biến cho các tay súng máy bố trí ở đây các chi tiết của cuộc trao đổi, đồng thời ra lệnh sẵn sàng hành động nếu có biến.

Phía Đông Đức cũng bố trí một đơn vị đặc biệt tham gia vào chiến dịch gồm 20 nhân viên được trang bị súng máy và lựu đạn để bảo đảm xử lí tình huống trong trường hợp cuộc trao đổi điệp viên diễn ra không suôn sẻ.

Tất cả các nhân viên vũ trang tham gia vào chiến dịch này được lệnh phải ẩn kín tối đa, không để lộ hình tích cho phía Mỹ quan sát được.

KGB tổng kết toàn bộ chi phí chiến dịch Lyutentsia không tính đến các chi tiêu quân sự, bao gồm đồ ăn, vé tàu hỏa, tiền khách sạn, tiệc mừng... cho Đại tá Abel và vợ cùng con gái chính xác là 5.388 mác 90 xu Đông Đức.

Sau bốn năm đóng vai “cậu Drews”, em vợ của Abel, điệp viên KGB Y. Drozdov có lẽ quá mệt mỏi. Sáng hôm ấy, anh ngủ quên, không kịp cạo râu, chỉ lao đến điểm trao đổi vừa lúc nó bắt đầu diễn ra. Khi đến nơi, lúc gặp viên đại tá ở nhà tù Vladimir chịu trách nhiệm áp giải Powers, Y. Drozdov vẫn tự giới thiệu mình là “cậu Drews”.

Lúc 8 giờ 15 phút sáng 10-2, những người tham gia cuộc trao đổi gián điệp đồng loạt bước ta khỏi xe ô tô và tiến về phía rào chắn của mỗi bên ở hai đầu cầu Glienicke. Đúng 8 giờ 20 phút, ba người của mỗi bên tách ra khỏi nhóm của mình và tiến về phía vạch sơn chia đôi ở giữa cầu. Bên phía Mỹ có J. Donovan, Murphy và Lightner; nhóm Liên Xô do I. Schischkin dẫn đầu, trong đó có “cậu Drews” - điệp viên KGB Y. Drozdov. Sau bốn năm dưới vỏ bọc, giờ đây Y. Drozdov có thể tự hào rằng nhiệm vụ đưa Abel về nhà sắp sửa hoàn thành.

Cách vạch sơn một quãng, hai nhóm dừng lại, để J. Donovan và I. Schischkin tiến lên, bắt tay nhau ngang qua vạch sơn chia ranh giới đôi bên. Sau đó, những người còn lại tiến lại gần, tự giới thiệu và nói chuyện phiếm vài câu.

Theo dấu hiệu của những người đứng giữa cầu, nhóm thứ hai tách ra khỏi đám đông đứng ở mỗi đầu cầu đi về phía vạch sơn phân chia đôi bên. Abel đi ở giữa, tay xách chiếc va li của mình, một bên là F. Wilkinson, bên kia là người lính quân cảnh lực lưỡng. Trông ông xanh xao trong chiếc áo khoác nhà tù màu xanh xám, trên đầu đội chiếc mũ lưỡi trai bé xíu. Nhóm bên kia có F. Powers, trông có vẻ khỏe mạnh, đi giữa viên đại tá từ nhà tù Vladimir và một điệp viên KGB tên là Pryzov.

Tới vạch sơn giữa cầu rộng chừng hơn một chục phân, Pryzov tiến qua vạch sơn và đề nghị Abel bỏ kính râm ra; người điệp viên Xô viết làm theo. Pryzov quay lại nói với I. Schischkin rằng đó đúng là người điệp viên cần trao đổi. Trong khi đó thì Murphy tiến hành nhận dạng Powers. Vừa mới gặp mặt ở giữa cầu, Murphy đã không nghi ngờ gì rằng người đàn ông trong bộ áo khoác Nga rộng thùng thình này chính là người phi công trẻ mà anh ta đã có lần gặp tại quầy căn tin ở căn cứ Paradise trên sa mạc Nevada nhiều năm trước đây. Nhưng Murphy vẫn muốn đảm bảo chắc chắn rằng KGB đã không đánh tráo một người giống hệt F. Powers cho cuộc trao đổi nên nêu vài câu hỏi kiểm tra. Trước câu hỏi hãy nói tên người giáo viên dạy môn bóng đá Mỹ ở trường trung học phổ thông, Powers không nhớ, nhưng đến khi hỏi tên con chó của F. Powers thì anh ta nhớ ngay. Vậy là đúng người rồi.

Nhưng cuộc trao đổi chưa diễn ra. Trước đó, hai bên đã thỏa thuận rằng chỉ tiến hành trao đổi Abel và Powers một khi F. Pryor được trao trả ở điểm kiểm soát Charlie. Do một sự trục trặc nào đó mà cuộc phóng thích F. Pryor về cho cha mẹ anh ta đã bị đình hoãn lại mà không ai biết lí do cụ thể là gì.

Trong lúc cả hai nhóm người sốt ruột chờ đợi ở hai bên vạch sơn, mỗi người đều phải tìm cách nói một điều gì đó để phá tan bầu không khí chờ đợi căng thẳng. I. Schischkin nói với J. Donovan rằng cần phải tiến hành ngay vụ trao đổi trước khi có người bắt đầu qua lại trên cây cầu. Viên luật sư nhắc lại là theo thỏa thuận, cần phải có thông tin về vụ phóng thích Pryor trước đã rồi mới có thể tiến hành cuộc trao đổi. Viên bí thư thứ hai nói mình có thông tin là luật sư Vogel đã cùng với anh sinh viên Pryor vượt qua trạm kiểm soát Charlie và đến thời điểm đó, Pryor đã được phóng thích.

- Có thể lúc này Vogel đang tranh cãi với Pryor về tiền công và việc đó phải mất cả tháng trời, - viên luật sư Mỹ nói đùa.

I. Schischkin toét miệng cười:

- Ông đúng là một luật sư. Tôi tin là ông đã có nhiều kinh nghiệm về chuyện đó.

Đứng bên cạnh J. Donovan, F. Wilkinson hỏi Abel: “Anh có nghĩ rằng vợ và con gái anh đang chờ ở bên kia cầu không?”

- Không, - Abel trả lời. - Tôi nghĩ họ đang ở Leipzig.

Cuối cùng thì vào lúc 8 giờ 50 phút sáng, ở cửa khẩu Charlie trên bức tường phân đôi Berlin, anh sinh viên F. Pryor bước qua vạch sơn đi vào khu vực do người Mỹ kiểm soát, nơi người cha, nhà công nghiệp Millard Pryor đang chờ sẵn để ôm anh ta trong vòng tay của mình.

Một nhân viên điện đài ngồi trong chiếc xe jeep gần đó gọi điện về trạm kiểm soát ở cầu Glienicke. Sinh viên F. Pryor đã được phóng thích. Đến lúc thực hiện điệp vụ trên cầu Glienicke rồi. I. Schischkin nói to: “Giấy tờ, giấy tờ”, ý muốn nói tới lệnh phóng thích của Tổng thống J. Kennedy.

Quỳ trên một đầu gối, F. Wilkinson đặt tờ giấy lên đầu gối kia, rút bút ra rồi viết: “Phóng thích ngày 10-2-1962 vào lúc 8 giờ 52 phút sáng, cầu Glienicke”, kí tên rồi trao nó cho Abel.

Trong khi đó, viên đại tá từ nhà tù Vladimir trao cho F. Powers một hộp đồ lưu niệm đã mua ở Moscow bằng chính khoản tiền mà viên phi công có được trong nhà tù Xô viết.

Abel nhận tờ giấy phóng thích từ tay F. Wilkinson, cho nó vào chiếc va li rồi đưa tay vẫy chào viên luật sư. “Tạm biệt, Jim”, ông nói. “Chúc may mắn, Rudolf”, viên luật sư trả lời.

Theo sự ra hiệu của I. Schischin và J. Donovan, từ hai phía, Abel và Powers bước về phía vạch sơn. Hai người đàn ông nhìn thẳng về phía trước, từ từ lướt qua nhau và bước qua vạch sơn ngăn cách giữa hai thế giới, trở về với người của mình. Cuộc hò hẹn trên cầu giữa hai người lạ diễn ra suôn sẻ. Điệp vụ trao đổi điệp viên đầu tiên trong lịch sử Chiến tranh Lạnh trên cầu Glienicke đã hoàn tất.

+++++

Image
Image

Ở Washington, vào lúc 3 giờ sáng, Tổng thống J. Kennedy được thông báo rằng phi công F. Powers đã được trả lại tự do.

Ở khu vực do người Xô viết quản lí tại Đông Berlin, sau khi cuộc trao đổi kết thúc, một chiếc xe chở Đại tá Abel, tức điệp viên W. Fisher tới gặp vợ và con gái “thật” của ông, những người mà ông gặp lại sau 7 năm xa cách.

Trong khi đó, bên khu vực phía người Mỹ quản lí, một chiếc xe chở F. Powers tới sân bay Tempelhof, nơi viên phi công cùng với J. Donovan và Murphy lên chiếc máy bay vận tải C-45 mà tám hôm trước đã đưa J. Donovan từ London tới Berlin. Trên máy bay, các nhân viên Mỹ tiến hành kiểm tra y tế cho F. Powers. Tới Frankfurt, cả nhóm đổi phương tiện, lên chiếc C-118 Constellation 8 chỗ ngồi đã đưa Đại tá Abel từ New Jersey tới Tây Đức một hôm trước đó. Trên máy bay, luật sư J. Donovan và Murphy gọi hai li whisky, còn Powers gọi một li martini. Viên phi công có vẻ không thoải mái lắm. F. Powers biết rằng báo chí Mỹ không có thiện cảm với mình do những gì mà anh ta thể hiện trong phiên tòa ở Moscow hai năm trước. Anh ta nói đùa với J. Donovan rằng có thể khi về đến Mỹ mình sẽ cần đến một luật sư. Viên luật sư đáp lại rằng nếu như làm đại diện pháp lí cho F. Powers thì tiền công của mình sẽ là một tảng thịt hun khói Virginia gửi vào dịp Giáng sinh hằng năm.

Ngay từ khi còn trên không trung, cả nhóm nhận được tin nói rằng giới báo chí Mỹ đã biết về cuộc trao đổi điệp viên ở cầu Glienicke và Nhà Trắng sẽ tổ chức một cuộc họp báo để thông báo về vấn đề này. Khi máy bay dừng lại ở Azores để tiếp nhiên liệu, Powers được lệnh ở lại trên máy bay để tránh tất cả sự chú ý của giới báo chí.

Khi máy bay hạ cánh xuống căn cứ không quân Dover ở Delaware, F. Powers rời máy bay, còn J. Donovan tiếp tục bay tới căn cứ không quân Andrew ở gần Washington, nơi ông gặp một người đóng giả F. Powers. Hai người cùng lên một chiếc trực thăng bay về Washington để đánh lạc hướng sự chú ý của giới báo chí, trong khi từ căn cứ Dover, F. Powers “thật” được đưa về một khu nhà của CIA tại Maryland.

Tại đây, F. Powers gặp lại cha mẹ mình và lần đầu tiên biết được ông Oliver Powers đã đóng vai trò quan trọng như thế nào để dẫn tới cuộc trao đổi điệp viên. Rồi một đội điều tra của CIA tới, bắt đầu các cuộc thẩm vấn.

Các cuộc thẩm vấn F. Powers kéo dài suốt 8 ngày sau đó. CIA muốn biết tường tận từng chi tiết về vụ Liên Xô bắn rơi chiếc U-2 hai năm trước đấy. Nó ở độ cao bao nhiêu khi bị bắn trúng? Chiếc máy bay đã rơi như thế nào? Vì sao viên phi công đã không thực hiện nghiêm lệnh phá hủy chiếc máy bay khi bị bắn trúng? Giám đốc CIA John McCone, người thay thế Allen Dulles, không tin vào những lời khai của Powers. Báo chí Mỹ cũng từ chối gọi viên phi công là “người hùng”.

Tuy nhiên, đến ngày 6-3-1962, CIA công bố một báo cáo, đưa ra kết luận là Powers đã hành động hết khả năng có thể trong sứ mệnh do thám cùng với chiếc U-2 và nay đã mang những thông tin có giá trị về cho nước Mỹ. Cũng trong ngày hôm đó, F. Powers ra điều trần trước Ủy ban quân lực Thượng viện Mỹ. Tại đây, viên phi công tỏ lời xin lỗi về những gì mình đã nói trong phiên tòa ở Moscow hai năm trước. Điều quan trọng hơn là Powers đã được cấp trả tiền lương trở lại.

Sau cuộc trao đổi điệp viên, Abel đoàn tụ cùng người vợ Elena và cô con gái Evelyn ngay tại Berlin. Cả ba có vài ngày đi mua sắm ở Đông Berlin trước khi bay về Moscow. KGB tiếp tục trọng dụng Abel nhưng vì ông đã quá nổi tiếng nên hiển nhiên là không có cách nào để hoạt động như một điệp viên chiến trường được nữa. Thay vào đó, ông lên lớp giảng bài cho các cán bộ KGB trẻ tuổi, gặp gỡ các em thiếu nhi và thỉnh thoảng sử dụng thời gian rảnh rỗi cho niềm đam mê hội họa của mình.

Sau khi được trao trả ở Berlin, anh sinh viên Pryor cùng với cha mẹ mình bay thẳng về nhà ở Mỹ. Ông bà Millard và Mary đã tiêu hết 25.000 USD cho chiến dịch giải cứu và rất hạnh phúc bởi vì cuối cùng thì cũng đã đoàn tụ cùng con trai. Cái gì mà còn mua được bằng tiền thì còn rẻ! F. Pryor cố gắng quên đi những ngày tháng kinh hoàng trong tù để sống một cuộc sống bình thường. Anh chàng kiếm được một chân giảng dạy ở Đại học Tổng hợp Michigan rồi sau đó xuất bản cuốn sách có tựa đề là Hệ thống ngoại thương của khối cộng sản. Phần lớn nội dung cuốn sách này dựa trên tư liệu của bản luận án mà anh ta đã để trong xe ô tô khi bị bắt ở Đông Berlin vào một ngày tháng 8-1961.

Ngày 11-10-1963, anh chàng sinh viên - gián điệp nghiệp dư Makinen cùng với một linh mục người Mỹ khác chịu án 23 năm tù được Liên Xô phóng thích. Đổi lại, phía Mỹ cũng trả tự do cho hai công dân Xô viết bị cáo buộc tội làm gián điệp trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

Tháng 8 năm 1962, đúng vào thời điểm căng thẳng ở hai bên bức tường Berlin, một liên lạc viên Xô viết tới điểm kiểm soát trên phố Friedrich, đề nghị được gặp một quan chức trong phái bộ Mỹ ở Tây Berlin. Người nhân viên liên lạc này trao cho quan chức Mỹ một gói bưu kiện cùng với một phong bì, đề địa chỉ gửi tới văn phòng luật sư J. Donovan ở New York.

Khi nhận được, viên luật sư mở phong bì ra. Bên trong có một lá thư ngắn:

“Jim thân mến,

Mặc dù tôi không phải là một nhà sưu tập sách cổ, cũng không phải là một luật sư, nhưng tôi tin rằng hai cuốn sách cổ in từ thế kỉ 16 liên quan tới lĩnh vực luật pháp mà tôi may mắn tìm được cũng khá hiếm để bổ sung cho bộ sưu tập của ông. Xin hãy nhận chúng như là biểu hiện lòng biết ơn của tôi đối với tất cả những gì mà ông đã làm cho tôi...

Tôi hi vọng ông khỏe và không phải làm việc quá sức.

Bạn ông,

Rudolf”.

Viên luật sư mở gói bưu kiện ra. Bên trong là hai tập cuốn Ghi chú cho bộ luật Justinian bằng tiếng Latinh có tuổi đời khoảng 500 năm, một bộ sách cực hiếm, niềm mơ ước của bất cứ dân chơi sách cổ nào.

Đại tá Abel đã thực hiện lời hứa của mình.

+++++

Glienicke là cây cầu ít khi được sử dụng tới nằm ở cuối đường Koenig, rìa phía tây nam của Berlin, chạy thẳng tới Potsdam. Bắc ngang qua sông Havel, cây cầu này là ranh giới phân chia giữa khu vực do các lực lượng Mỹ kiểm soát ở Tây Berlin kể từ sau Đệ nhị thế chiến với lãnh thổ Đông Đức. Là nơi đóng quân của các lực lượng bốn cường quốc Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp sau Đệ nhị thế chiến, Berlin, trong thập kỉ 50 và 60 của thế kỉ 20, là địa bàn lí tưởng cho cuộc đấu trí khốc liệt giữa các cơ quan điệp báo của cả hai phía.

Trong cuộc chiến sống còn giữa hai con sư tử hung hãn, đôi khi chúng tạm thời giấu đi những hàm răng sắc nhọn để nhường chỗ cho những giây phút vờn nhau âu yếm. Cuộc chiến giữa các cơ quan điệp báo Liên Xô và Mỹ đã có một thời khắc như thế, bằng cuộc trao đổi điệp viên lịch sử trên cầu Glienicke. Nó đã mang lại tự do cho hai điệp viên nổi danh của cả hai bên.

Glienicke đã đóng vai trò như là cầu nối trong một khoảnh khắc hòa dịu giữa hai thế giới thù nghịch vào cái ngày lịch sử 10-2-1962 ấy. Nhưng trước đó mấy năm, có một "cầu nối" khác giữa hai phần Đông - Tây của Berlin, nhưng không hề yên bình chút nào. Trái lại, nó là mầm mống cho một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng giữa hai thế giới Đông - Tây.

Đó là Đường hầm Berlin.

s trong một cuộc họp của đảng. Họ trở thành bạn bè và Ethel đánh máy giúp Julius những bản báo cáo về kĩ thuật. Julius thường xuyên mang quà cho cậu em trai của Ethel là David Greenglass, người sau đó cũng gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ. Quãng đ
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Yên Ba

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.