2
Đại tá Abel
“Tôi ước giá như có ba hoặc bốn điệp viên tầm cỡ anh ta ở Moscow ngay bây giờ...”.
Allen Dulles - Giám đốc Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA
Đó là buổi trưa lạnh ngày 14-11-1948. Chiếc tàu thủy mang tên Scythia cập cảng Quebec của Canada trong làn gió mùa đông lạnh buốt, đổ xuống bến cảng những hành khách đến từ châu Âu. Xuất phát từ cảng Le Havre của nước Pháp ngày 6-11-1948, chiếc Scythia trải qua chuyến hải hành chín ngày đêm trên biển, mang theo 1.587 hành khách, trong đó có nhiều người dân tị nạn vừa thoát khỏi những quốc gia bị tàn phá nặng nề trong Đệ nhị thế chiến, hi vọng tìm thấy một đời sống mới dễ chịu hơn ở Bắc Mỹ.
Trong số những hành khách của chiếc Scythia xuống bến cảng hôm ấy có một người đàn ông trung tuổi, mũi khoằm, tầm thước, khá gầy gò. Ông mặc bộ đồ màu xám, áo vải tuýt xô khoác bên ngoài sơ mi không đeo cà vạt. Hộ chiếu ông mang theo là hộ chiếu thật mang tên Andrew Kayotis, công dân Mỹ, 53 tuổi, độc thân, sống tại Detroit, một người có quan điểm chính trị trung dung.
Từ người đàn ông toát ra một vẻ nhạt nhòa, không hề gây bất kì ấn tượng nào đối với những người xung quanh. Người ta có thể gặp những người như ông rồi quên đi ngay trong chốc lát.
Nhân viên nhập cư ở bến cảng nhanh chóng làm thủ tục nhập cảnh, đóng dấu vào tấm hộ chiếu công dân Mỹ của người hành khách mới tới và ông nhanh chóng rời đi.
Khác với nhiều hành khách đi cùng trên chuyến tàu có gia đình, người thân ra đón, không có ai đón A. Kayotis ở bến cảng. Ông chỉ mang theo một chiếc va li nhỏ nên mấy người phu khuân vác hành lí cũng không có việc gì để làm. A. Kayotis tới nhà ga xe lửa trên phố Saint-Pierre mua vé lên chuyến tàu sớm nhất đi Montreal. Từ đây, người đàn ông đã vượt qua một điểm nào đó trên biên giới để vào nước Mỹ dưới cái tên A. Kayotis.
Nhưng A. Kayotis là một người đã chết! Đó thật sự là một công dân Mỹ sống ở Detroit, người có một chuyến đi tìm về quê hương bản quán ở Lithuania vào tháng 7-1947. Bạn bè của ông ta ở Detroit biết rằng khi quay về quê hương, tình trạng sức khỏe của A. Kayotis “thật” đã rất tệ. Thoạt đầu, bạn bè vẫn nhận được những bức thư từ A. Kayotis, nhưng rồi sau đó bặt tin ông ta. Họ không biết rằng A. Kayotis đã chết ở Lithuania. Giấy tờ của ông ta, bằng một cách nào đó, được chuyển về Moscow, tới trụ sở của Bộ Dân ủy Nội vụ Liên Xô NKVD. Vậy là người đàn ông được biết đến là Đại tá Rudolf Ivanovich Abel, hay ngắn gọn là Đại tá Abel, một điệp viên thượng thặng của NKVD, trở thành Andrew Kayotis.
Ngày 17-11-1948, Đại tá Abel, dưới cái tên A. Kayotis, đặt chân tới lãnh thổ Mỹ. Sau khi vượt qua biên giới vào Mỹ, những giấy tờ của A. Kayotis bị tiêu hủy. Người đàn ông mang tên Đại tá Abel không bao giờ còn dùng đến cái tên đó nữa.
Hơn một tuần sau khi lọt vào nước Mỹ, ngày 26-11-1948, A. Kayotis có một cuộc gặp bí mật tại New York với điệp viên Xô viết hoạt động bất hợp pháp tại Mỹ là I. R. Grigulevich, có mật danh Maks, người trước đấy từng can dự vào âm mưu ám sát Trotsky ở Mexico. I. R. Grigulevich trao cho A. Kayotis 1.000 USD cùng giấy tờ của một người tên là Emil R. Goldfus. Đó cũng là giấy tờ của một người có thật, sinh ngày 2-8-1902, có cha mẹ là người Đức. Giấy khai sinh của Emil R. Goldfus do thành phố New York cấp là thật. Chỉ có điều ít ai biết là mới chỉ hơn một tuổi, chú bé Emil R. Goldfus đã chết vào ngày 9-10-1903. Còn thẻ thông hành và giấy khai thuế của Emil R. Goldfus đều là sản phẩm của bộ phận làm giấy tờ giả trong Trung tâm tình báo NKVD ở Moscow.
Với giấy tờ hoàn hảo mang tên Emil R. Goldfus, Đại tá Abel hầu như tan biến trong lòng nước Mỹ.
+++++
Andrew Kayotis, hay Emil R. Goldfus, hay Đại tá Abel, tên thật là William Fisher, sinh tại Newcastle, phía bắc nước Anh, có cha mẹ là người Đức. Những gốc gác đó đã ảnh hưởng nhiều đến sự nghiệp của Đại tá Abel sau này, với tư cách một trong những điệp viên siêu hạng thời kì Chiến tranh Lạnh.
Cha mẹ của Abel là những người Nga gốc Đức di cư có họ là Fisher. Abel sinh ngày 11-7-1903 ở Benwell, thuộc Newcastle trên sông Tyne. Cha của Abel, ông Genrykh M. Fisher, là một nhà cách mạng cuồng nhiệt, một người bạn của Lenin, đã di cư tới Anh 2 năm trước khi Abel ra đời. Ông làm thợ lắp ráp tại xưởng đóng tàu Armstrong. Trong thời kì diễn ra cuộc cách mạng Nga năm 1905, ông Genrykh đã có cơ hội tham gia vào cuộc nổi dậy của thủy thủ đoàn người Nga trên hai chiếc tàu của Nga đang sửa chữa tại xưởng đóng tàu nơi ông làm việc. Sau khi cuộc nổi dậy thất bại, ông Genrykh còn tham gia vào một hoạt động cung cấp vũ khí và tài liệu cho những người cách mạng Nga. Kế hoạch này bại lộ, một số người liên can bị ra tòa. Mặc dù Genrykh thoát khỏi bị kết tội nhưng rõ ràng là việc có được quốc tịch Anh của ông trở nên khó khăn hơn nhiều.
Thời kì Đệ nhất thế chiến, ông Genrykh vẫn tiếp tục các hoạt động tuyên truyền cách mạng của mình trong những thủy thủ người Nga có dịp tới Anh. Năm 1921, ông trở về Nga, mang theo đứa con trai có chung một lí tưởng Bolshevik. Genrykh nối lại quan hệ với Lenin, trở thành một trong những cộng sự thân cận nhất của nhà lãnh đạo Bolshevik và có hẳn một căn phòng ở trong điện Kremlin. Những năm sau đó, Genrykh lấy tên A. Fisher để công bố cuốn hồi kí có tựa đề: Nước Nga và Anh, những quan sát và thu lượm của một công nhân Peterburg, 1891 - 1921. Ông chết vào năm 1935 nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy con trai ông đã trở lại London bằng tấm hộ chiếu Anh và tham gia cuộc nội chiến Tây Ban Nha.
Khi còn ở Anh, William Fisher đã thi đỗ vào trường Đại học Tổng hợp nhưng việc gia đình quay trở lại Nga đã làm gián đoạn việc học tập của chàng thanh niên. Đến khi về Nga, W. Fisher có một thời gian làm phiên dịch cho Quốc tế Cộng sản, vào học tại Trường Phương Đông nhưng mới chỉ được một năm thì ngừng lại do được gọi nhập ngũ năm 1924. Trong thời gian hai năm 1925 - 1926, W. Fisher phục vụ trong một trung đoàn thông tin tại Moscow, được đào tạo về vô tuyến điện. Đến năm 1927, sau một thời gian ngắn làm việc trong Tổng cục 4 (tình báo quân sự), khi đang theo học tại Học viện Hàng không, W. Fisher được Cơ quan tình báo Đối ngoại OGPU tuyển mộ, bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực tình báo vô tuyến điện tử.
Thời gian sau đó, W. Fisher trở thành một trong những điệp viên điện đài xuất sắc của tình báo Nga. W. Fisher đã tham gia hoạt động tình báo điện tử tại các trạm tình báo của Liên Xô ở Na Uy, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Pháp cho tới năm 1936, khi được bổ nhiệm làm hiệu trưởng một trường đào tạo tình báo điện tử, chuyên đào tạo các điệp viên hoạt động bất hợp pháp trên đất địch.
Đến năm 1938, trước làn sóng thanh trừng trong các cơ quan an ninh của Bộ trưởng Nội vụ Liên Xô khi ấy là L. Beria, do có nguồn gốc nhân thân từ nước Anh nên đương nhiên W. Fisher bị quy kết có liên hệ với “kẻ thù cùa nhân dân”. Tuy nhiên, may mắn là W. Fisher không bị xử bắn mà chỉ bị loại ra khỏi cơ quan tình báo. Chỉ có người anh vợ của W. Fisher là không may phải chịu án tử hình. Khó khăn lắm, W. Fisher mới xin được việc làm trong một nhà máy chế tạo máy bay. Ba tháng sau khi Đức bất thần tấn công Liên Xô, vào tháng 9-1941, W. Fisher được cơ quan an ninh Liên Xô tái tuyển mộ, mang quân hàm trung úy và quay trở lại lĩnh vực hoạt động tình báo điện tử quen thuộc của mình.
Ngay trong những ngày đầu Chiến tranh Vệ quốc, Abel, khi ấy là W. Fisher, đã tham gia vào các hoạt động trong lĩnh vực tình báo vô tuyến điện. Ngày 6-11-1941, cuộc mít tinh trọng thể kỉ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga diễn ra không phải tại Nhà hát Lớn ở Moscow như thường lệ, mà tại nhà ga xe điện ngầm Maiakovsky. Lí do là khi ấy quân Đức Quốc xã, sau những đòn tiến công thần tốc thời kì đầu chiến tranh, đã áp sát Moscow.
Ngày hôm sau, 7-11-1941, trong tình thế các sư đoàn Đức Quốc xã đã tiến đến rất gần Moscow, J. Stalin vẫn quyết định cuộc duyệt binh thường lệ sẽ diễn ra trên Quảng trường Đỏ, bất chấp nguy cơ quân Đức có thể tiến hành các cuộc không kích xuống quảng trường. Trong cuộc duyệt binh này, W. Fisher, khi ấy 38 tuổi và đã được thăng hàm đại úy phụ trách bộ phận tình báo điện tử của NKVD, đảm nhiệm vai trò sĩ quan tác chiến phụ trách liên lạc vô tuyến điện với Bộ Tham mưu Binh đoàn bảo vệ Moscow.
Nhiệm vụ của W. Fisher là theo dõi sát mọi động tĩnh trên sóng vô tuyến điện của quân Đức, lúc đó chỉ cách Moscow khoảng 30 dặm, để sẵn sàng báo động tình huống máy bay Đức xâm nhập không phận Moscow ném bom phá cuộc duyệt binh. Những báo cáo này được chuyển cho chỉ huy của W. Fisher là Pavel Sudoplatov, một điệp viên bậc thầy, người tham gia cơ quan tình báo Liên Xô khi mới 14 tuổi. P. Sudoplatov trực tiếp lên khán đài ở trên lăng Lenin tại Quảng trường Đỏ, nơi các nhà lãnh đạo Liên Xô đang đứng theo dõi cuộc duyệt binh, để báo cáo lại những tin tức do W. Fisher chặn bắt được cho người đứng đầu NKVD là L. Beria. Các đơn vị tham gia duyệt binh nhận được nghiêm lệnh: Cho dù bất cứ điều gì xảy ra cũng vẫn phải bình tĩnh, giữ nguyên đội hình duyệt binh.
Rất may là hôm ấy tuyết rơi dày đặc, thời tiết cực xấu khiến cho không quân Đức không thể hoạt động được. Khi cuộc duyệt binh chuẩn bị kết thúc, W. Fisher nhận được một bức điện từ mặt trận phòng thủ bảo vệ Moscow, yêu cầu điều thêm quân tăng viện. W. Fisher đưa bức điện cho P. Sudoplatov, người tiếp tục chuyển bức điện này cho J. Stalin. Nhà lãnh đạo Xô viết đã ra một mệnh lệnh sẽ được sử sách sau này ghi lại: Một số binh đoàn tham gia duyệt binh xuyên qua màn tuyết rơi dày đặc, đi thẳng từ Quảng trường Đỏ ra mặt trận!
+++++
Trong những năm sau đó, W. Fisher đã tham gia vào hàng loạt chiến dịch đặc biệt của tình báo Xô viết với vai trò chủ yếu của một chuyên gia điệp báo vô tuyến điện. Nổi bật nhất là chiến dịch mang mật danh Tu viện, một cuộc chơi điện đài căng thẳng với tình báo Đức.
Tư tưởng chủ đạo của chiến dịch này là Bộ Dân ủy Nội vụ Liên Xô NKVD “dựng” lên một tổ chức “chống Liên Xô” trong giới thượng lưu Nga vẫn còn sót lại sau cách mạng. Khởi đầu như một chiến dịch tình báo nhằm thâm nhập vào cơ quan tình báo quân sự Đức Abwehr, đến khi chiến tranh nổ ra giữa nước Đức phát xít với Liên Xô, chiến dịch tình báo này đã chuyển sang một hướng bất ngờ là cuộc đấu trên làn sóng vô tuyến điện giữa tình báo Liên Xô với tình báo Đức Quốc xã, giữa NKVD với Abwehr.
Đây là cuộc chiến tình báo mà những thông tin giả đôi khi mang tầm chiến lược, quyết định cả tiến trình của cuộc chiến tranh. Trong cuộc chiến này, tình báo Liên Xô tỏ ra thắng thế khi những thông tin giả qua kênh điệp viên nằm trong mạng lưới “chống đối” gửi về Berlin được giới lãnh đạo Abwehr đánh giá rất cao, còn tặng cho điệp viên Liên Xô Huân chương Chữ thập ngoặc! Kể từ giữa năm 1942, W. Fisher đảm trách toàn bộ phần kĩ thuật điện đài trong chiến dịch này.
Đến tháng 8 năm 1944, chiến dịch Tu viện được tiếp nối bởi một chiến dịch mới mang mật danh Berezino, cũng do W. Fisher, khi đó làm việc tại Cục 4 NKVD, tham gia phụ trách phần tác chiến điện đài. Dưới sự chỉ huy của W. Fisher, ngày 19-8-1944, một điệp viên nhị trùng mang mật danh Max đánh điện báo cáo với cơ quan tình báo Đức Quốc xã rằng một đơn vị quân Đức do viên Trung tá tên là Heinrich Serhom chỉ huy, bị “mắc kẹt” lại trong khu vực hậu phương của Hồng quân ở vùng sông Berezina trên lãnh thổ nước Cộng hòa Belorussia, mặc dù bị bao vây tứ phía nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu chống lại các đơn vị quân đội Xô viết.
Trên thực tế, đội quân này không hề tồn tại - trước đó nó đã bị đánh tan và hầu hết bị bắt làm tù binh, bản thân H. Serhorn bị chiêu mộ và cùng tham gia trò chơi điện đài dưới sự chỉ đạo của W. Fisher. Đáp ứng lại các yêu cầu của H. Serhorn, phía Đức liên tục gửi các chuyên gia phá hoại, phương tiện thiết bị và kể cả các điệp viên Ba Lan đến cho “đội quân ma” của H. Serhorn. Tổng cộng đã có 67 chuyến bay tiếp tế, 13 điện đài xách tay và khoảng 10 triệu rúp tiền mặt được gửi cho “đội quân” của H. Serhorn và dĩ nhiên, tất cả đều lọt vào tay phản gián Xô viết. Một số máy bay do phía Đức gửi tới tiếp tế còn được phép hạ cánh để chuyển hàng, sau đó cất cánh quay về để tiếp tục kéo dài trò chơi điệp báo. Thậm chí Hitler còn có ý định gửi viên tùy tướng thân tín Otto Skorzeny, người chỉ huy nhóm hành động phá hoại đã từng cứu ông trùm phát xít Mussolini, đến tiếp viện cho “đội quân” của Serhorn!
Cho đến tận ngày cuối cùng của chiến tranh, Bộ Tham mưu quân Đức vẫn còn tin rằng có một “đội quân” thực tế tồn tại trong hậu phương của Hồng quân! Có thể coi đây là một trong những chiến dịch điệp báo thành công bậc nhất bằng sóng vô tuyến điện mà tình báo Liên Xô đã thực hiện để lừa được phản gián Đức Quốc xã. Không chỉ đảm nhiệm phần phụ trách điện đài, W. Fisher còn trực tiếp tham gia tác chiến, chẳng hạn đóng giả sĩ quan Đức để “đón tiếp” những chuyên gia phá hoại của Đức Quốc xã khi chúng được ném xuống cho “đội quân” H. Serhorn!
Trong thời gian này, W. Fisher chơi rất thân với một người bạn cũng làm việc trong ngành tình báo có tên là Rudotf Ivanovich Abel, sau này hi sinh trong khi hoạt động nghiệp vụ. Đó chính là cái tên mà W. Fisher đã dùng để khai với FBI khi bị bắt ở Mỹ, để gián tiếp thông báo cho Trung tâm tình báo Moscow biết mình đã sa lưới.
+++++
Chiến tranh kết thúc, từ năm 1946, W. Fisher bắt đầu được đào tạo để trở thành một điệp viên hoạt động bất hợp pháp ở nước ngoài. Kể từ tháng 9-1945, sau vụ đào thoát của điệp viên Igor Gouzenko, nhân viên mật mã của Trạm tình báo quân sự GRU tại Canada, mạng lưới điệp viên của Liên Xô ở Bắc Mỹ bị đánh phá ác liệt. Hàng loạt điệp viên bị lộ, hoặc chạy trốn, hoặc sa lưới phản gián Mỹ hay Canada.
Đầu năm 1946, điệp viên bất hợp pháp Iskhak Abdulovich Akhmerov, người chỉ huy cụm điệp viên ở Washington thu thập các tin tức tình báo liên quan đến bí mật nguyên tử của Mỹ trong thời kì chiến tranh, buộc phải rời khỏi nước Mỹ. Mạng lưới điệp viên hoạt động bất hợp pháp của tình báo Liên Xô ở khu vực Bắc Mỹ hầu như bị bỏ trống, không có người chỉ huy.
W. Fisher được kì vọng sẽ là người thay thế I. Akhmerov để xây dựng một mạng lưới điệp báo mới hoạt động trên địa bàn Bắc Mỹ.
Sau một thời gian dài được đào tạo, cuối tháng 10-1948, trong một buổi lễ trang nghiêm được tổ chức tại Tổng hành dinh của Bộ Dân ủy Nội vụ Liên Xô NKVD tại Lubyanka, W. Fisher tuyên thệ trung thành với sự nghiệp hoạt động tình báo, với tổ quốc và nhân dân Liên Xô. Tiếp đó, W. Fisher được triệu tập tới văn phòng của Vyacheslav Molotov, Ngoại trưởng Liên Xô.
Trong thời điểm ấy, ngoại trừ lãnh tụ tối cao J. Stalin, không một ai ở Liên bang Xô viết lại có tầm ảnh hưởng cũng như quyền lực rộng rãi như V. Molotov. Đây là người đã từng ăn tối cùng với Hitler, đã kí hiệp ước không xâm phạm Xô - Đức, sát cánh cùng với J. Stalin lãnh đạo cuộc chiến tranh chống phát xít Đức, cuộc chiến từng có một loại lựu đạn dùng nhiên liệu hỗn hợp mang tên “Molotov”.
Tại văn phòng của V. Molotov, hai người đã thảo luận rất lâu về sứ mệnh hoạt động bí mật tại Mỹ của W. Fisher. Tiếp đó, cả gia đình W. Fisher được mời tới ăn tối. Cho dù điều gì có xảy ra với W. Fisher ở Mỹ, gia đình của người điệp viên cũng sẽ đảm bảo có được một cuộc sống đầy đủ tại Liên Xô.
Sau bữa ăn, cả gia đình W. Fisher cùng vợ và con gái quay về ngôi nhà nghỉ ở ngoại ô. Ở đó, người điệp viên Xô viết nói lời từ biệt với vợ con. Phải rất lâu nữa, họ mới có thể gặp lại nhau.
Một chiếc xe limousine màu đen do Viktor Abakumov, người sáng lập cơ quan phản gián của Liên Xô là SMERSH (tên viết tắt trong tiếng Nga của dòng chữ “Cái chết dành cho bọn gián điệp”) cử đến, đưa W. Fisher ra ga tàu hỏa Leningradsky ở Moscow, W. Fisher đáp chuyến tàu đi Warsaw, nhập cảnh Ba Lan bằng hộ chiếu Liên Xô. Dùng tấm hộ chiếu dán ảnh thật nhưng mang tên Andrew Kayotis, từ Ba Lan, điệp viên W. Fisher tiếp tục qua Tiệp Khắc, Thụy Sĩ rồi tới Paris. Từ thủ đô nước Pháp, hành trình của W. Fisher tới thành phố cảng Le Havre, nơi ngày 6-11-1948, người điệp viên Xô viết lên chiếc tàu thủy chở khách Scythia, trực chỉ Quebec ở Canada. Kể từ đó, W. Fisher không bao giờ còn dùng lại tên thật của mình nữa.
+++++
Sau khi xâm nhập thành công vào lãnh thổ Mỹ vào tháng 11-1948, điệp viên W. Fisher ngay lập tức bắt tay vào một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của mình là kích hoạt lại mạng lưới điệp viên, vốn tạm thời bị “đóng băng” do bị phản gián Mỹ truy lùng ráo riết ngay sau khi chiến tranh kết thúc, hậu quả của hàng loạt vụ đào thoát của các điệp viên Liên Xô thời kì đó.
Vụ đào thoát của điệp viên GRU I. Gouzenko tháng 9-1945 tại Canada đã gây tổn thất nặng nề cho mạng lưới điệp viên Xô viết hoạt động ở Tây bán cầu. Qua I. Gouzenko, phản gián Mỹ xác định không chỉ dự án tối mật Manhattan đã bị tình báo Xô viết xâm nhập toàn diện, bí mật nguyên tử chắc chắn đã bị đánh cắp, mà còn tồn tại một mạng lưới điệp viên hoạt động cho Liên Xô cài cắm ở khắp các địa bàn, các cơ quan của chính phủ Mỹ.
Dựa trên những lời khai báo của I. Gouzenko, FBI tiến hành các chiến dịch trên quy mô lớn, ráo riết lùng sục điệp viên Xô viết. Kết quả là kể từ cuối năm 1945, mạng lưới hoạt động của tình báo Liên Xô ở Bắc Mỹ bị tổn hại nặng nề, người bị bắt giữ, người kịp trốn thoát khỏi các mẻ lưới của FBI.
Tiếp đó, lại là vụ đào thoát của Quý bà hoàn hảo, điệp viên Elizabeth Bentley.
Elizabeth Bentley sinh ngày 1-1-1908, là con gái duy nhất trong một gia đình có cha là doanh nhân ngành dệt may, mẹ làm giáo viên ở thành phố New Milford, bang Connecticut. Tốt nghiệp trung học phổ thông ở Rochester, New York, E. Bentley nhận được học bổng nghiên cứu về tiếng Anh ở trường Cao đẳng Vassar.
Sau khi mẹ mất, E. Bentley đi du lịch châu Âu rồi quay về dạy ngôn ngữ tại một trường nữ sinh ở bang Virginia.
Năm 1932, E. Bentley theo học tại Đại học Tổng hợp Columbia, năm sau nhận được học bổng đi học tại Đại học Florence, Ý. Trong thời gian ở đây, E. Bentley có một cuộc sống khá phóng túng và bắt đầu uống rượu.
Trở về Mỹ năm 1934, E. Bentley tiếp tục lấy bằng thạc sĩ ngôn ngữ ở Đại học Tổng hợp Columbia vào năm 1935. Không kiếm được việc làm như một giáo viên, E. Bentley làm chân thư kí cho Văn phòng phục dựng nhà cửa New York rồi sau đó, do biết tiếng Ý, vào làm việc ở Thư viện thông tin Ý ở thành phố New York, chuyên tuyên truyền cho chủ nghĩa phát xít ở Mỹ.
Do tác động của một người bạn ở Đại học Tổng hợp Columbia, năm 1936, E. Bentley tìm hiểu và gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ (CPUSA). Thông qua vị trí làm việc ở Thư viện thông tin Ý thành phố New York, E. Bentley có thể báo cáo cho CPUSA các hoạt động của những tổ chức phát xít Ý trên lãnh thổ Mỹ. Cấp trên trực tiếp của E. Bentley trong CPUSA là Jacob Golos, một người Nga nhập cư vào Mỹ từ năm 1925.
Không chỉ là một đảng viên Đảng Cộng sản Mỹ, J. Golos còn là một điệp viên của NKVD. Chẳng mấy chốc, E. Bentley trở thành người tình của J. Golos và nhanh chóng nhận lời hoạt động như một điệp viên. Đến lúc ấy, E. Bentley vẫn nghĩ rằng mình hoạt động cho CPUSA chứ không phải cho Liên Xô. Chỉ đến hơn một năm sau, khi J. Golos thừa nhận rằng mình hoạt động tình báo cho Liên Xô thì E. Bentley mới chính thức trở thành một điệp viên trong mạng lưới của NKVD.
Thoạt đầu, tình báo Liên Xô đặt mật danh hoạt động cho E. Bentley là Mirna, sau đó đổi thành Umnitsa - Quý bà hoàn hảo.
Từ tháng 6-1941, khi phát xít Đức bất ngờ tấn công Liên Xô, E. Bentley trở thành người liên lạc, nhận thông tin mật từ những điệp viên hoạt động trong các cơ quan chính phủ Mỹ ở Washington rồi chuyển chúng cho Cụm tình báo Xô viết ở New York. Thông thường, E. Bentley thu thập tin tức, sắp xếp lại thành các số liệu rồi chuyển cho đầu mối của tình báo Xô viết.
Do bận quá nhiều công việc nên chỉ huy của E. Bentley là J. Golos đã dần dần chuyển giao các đầu mối cho Quý bà hoàn hảo điều hành. Trong số này, nổi lên có mạng lưới điệp viên đứng đầu bởi Nathan Gregory Silvermaster, mang mật danh Pal, một nhà thống kê học người Mỹ gốc Nga làm việc tại Cơ quan An ninh Nông nghiệp, sau chuyển sang Cục Kinh tế Chiến tranh. Các thành viên trong mạng lưới này, mang tên Silvermaster, chủ yếu là những đảng viên Đảng Cộng sản Mỹ và bạn bè họ, làm việc trong các cơ quan chính phủ Mỹ, thu thập đủ mọi tin tức về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, trong đó có cả các thông tin mật liên quan đến đề án phát triển vũ khí nguyên tử của Mỹ. Thực tế, trong một thời gian dài, E. Bentley là người điều hành mạng lưới Silvermaster hoạt động trên đất Mỹ.
Vào dịp Lễ Tạ ơn năm 1943, J. Golos đột ngột qua đời sau một cơn đau tim. E. Bentley tiếp quản hoàn toàn mạng lưới điệp viên do người tình để lại nhưng cảm thấy bơ vơ, cô độc. Khi ấy, E. Bentley phải báo cáo trực tiếp các thông tin mật do mạng lưới của mình thu thập được cho điệp viên Xô viết Anatoly Gromov, mang mật danh Gorsky, người từng có thời gian hoạt động ở London trước khi chuyển tới địa bàn Washington. Tuy nhiên, do cá tính khắc nghiệt của Gorsky, quan hệ giữa Bentley với người điệp viên chỉ huy mình rất căng thẳng.
Đến tháng 3-1944, nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Mỹ là Earl Browder tiếp tục chuyển giao cho E. Bentley một mạng lưới điệp viên thứ hai, chuyên cung cấp thông tin cho CPUSA rồi sau đấy CPUSA lại chuyển cho phía Liên Xô. Người đứng đầu đường dây này là Victor Perlo, mang mật danh Raider, một nhà thống kê làm việc cho chính phủ Mỹ chuyên thu thập các thông tin mật liên quan đến công nghiệp hàng không. Một thành viên quan trọng khác của đường dây này là Charles Kramer, mang mật danh Lot, một nhà kinh tế học cũng làm việc trong cơ quan chính phủ.
Như vậy là cùng lúc, E. Bentley điều hành cả hai mạng lưới điệp viên Silvermaster và Perlo/Kramer.
Nhưng đến thời điểm đó thì quan hệ giữa E. Bentley với điệp viên phụ trách địa bàn Washington là I. Akhmerov ngày càng xấu đi một cách tệ hại, gần như không có cơ cứu vãn. I. Akhmerov muốn tự mình trực tiếp điều hành mạng lưới điệp viên Silvermaster và gạt E. Bentley ra rìa. I. Akhmerov gửi báo cáo về Trung tâm Moscow, nói rằng “không thể tin tưởng” được vào E. Bentley và cần phải loại bỏ Quý bà hoàn hảo ra khỏi cương vị điều hành lưới điệp viên Silvermaster. Đề xuất này được người đứng đầu Đảng Cộng sản Mỹ Earl Browder, cũng được tình báo Liên Xô đặt mật danh Rulevoy, là anh họ đằng vợ của I. Akhmerov, ủng hộ.
Đồng thời với việc bị gạt khỏi cương vị điều hành mạng lưới Silvermaster, E. Bentley cũng bị loại khỏi vị trí điều hành mạng lưới điệp viên Perlo/Kramer. Sự bất mãn, nỗi tức giận trong E. Bentley lớn dần. Áp lực căng thẳng của cuộc sống hai mặt, việc bị loại bỏ ra khỏi cương vị điều hành hai đường dây điệp báo cùng với cái chết của người tình khiến người nữ điệp viên cảm thấy cô độc và lại tìm đến rượu.
Nhận thấy nguy cơ khủng hoảng tâm lí ở E. Bentley, điệp viên phụ trách Gorsky bố trí bữa ăn tối tại một tiệm ăn bên bờ sông ở Washington. Trong bữa ăn này, Gorsky thông báo rằng do những thành tích đặc biệt xuất sắc trong hoạt động tình báo, điệp viên E. Bentley được phía Xô viết trao tặng Huân chương Sao đỏ, dành cho những cá nhân có hành động can trường và dũng cảm trong chiến đấu bảo vệ nhân dân và đất nước Liên Xô.
Phần thưởng này không xoa dịu được nỗi bất bình của E. Bentley. Tháng 9-1945, Quý bà hoàn hảo bí mật liên hệ với FBI và ngày 7-11-1945, bắt đầu chính thức khai báo với FBI về toàn bộ mạng lưới gián điệp của Liên Xô mà mình nắm được trong những năm hoạt động bí mật.
Những tiết lộ của nữ điệp viên E. Bentley là một “mỏ vàng” đối với FBI. E. Bentley đã tiết lộ danh tính của hàng trăm điệp viên hoạt động cho tình báo Liên Xô, trong đó có ít nhất 35 viên chức làm việc cho chính phủ Mỹ. Chỉ một ngày sau khi E. Bentley khai báo, Giám đốc FBI Edgar Hoover đã gửi cho Tổng thống Mỹ Harry Truman một danh sách 14 điệp viên là những quan chức cấp cao trong chính phủ, trong đó có Trợ lí Bộ trưởng Tài chính Harry Dexter White, Trợ lí hành chính Ban điều hành Cục Phục vụ chiến lược OSS (tiền thân CIA) Duncan C. Lee, cựu Trợ lí cùa Tổng thống Mỹ Roosevelt, Lauchlin Currie...
Mạng lưới điệp báo Liên Xô nhanh chóng phát tín hiệu báo động. Hoàn toàn không biết gì về việc E. Bentley đã bí mật khai báo với FBI ngày 7-11-1945, điệp viên Gorsky vẫn còn gặp E. Bentley tại quán cà phê Bickford nằm trên giao lộ giữa đường 23 và Đại lộ số 6 ở New York vào ngày 20-11-1945 mà không biết rằng cuộc gặp mặt nằm trong vòng giám sát bí mật của FBI. Trong cuộc gặp này, Gorsky nói rằng E. Bentley cần phải nhanh chóng “quay trở lại các hoạt động bí mật” và hẹn cuộc gặp tiếp theo sẽ diễn ra vào ngày 20-1-1946. Tuy nhiên, chưa đến thời điểm diễn ra cuộc gặp sau thì do nhận được lệnh báo động từ Trung tâm, Gorsky đã nhanh chóng bay về Moscow.
Ít tháng sau đó, điệp viên địa bàn New York, Roland Abbiate, mang mật danh Pravdin, cũng được rút về. Mặc dù Trung tâm Moscow xác định là ngoài cái tên Bill mà I. Akhmerov dùng khi tiếp xúc với E. Bentley, nữ điệp viên này không biết được tên thật, địa chỉ cũng như số điện thoại của điệp viên hoạt động bất hợp pháp I. Akhmerov, nhưng để phòng xa, vợ chồng điệp viên này cũng nhanh chóng rời Mỹ quay về Liên Xô.
Vụ đào thoát của điệp viên E. Bentley, người được truyền thông Mỹ nhanh chóng phong tặng danh hiệu Nữ hoàng gián điệp Đỏ, đã gây tổn thất nặng nề cho mạng lưới điệp viên của Liên Xô tại Bắc Mỹ. Cùng với vụ đào thoát của I. Gouzenko trước đó cũng như việc phản gián Mỹ bắt đầu lần ra các tên tuổi điệp viên bí mật nhờ chiến dịch giải mã mang mật danh Venona, phần lớn các điệp viên Xô viết hoặc bị gọi về nước, hoặc được lệnh nằm im chờ thời. Mạng lưới điệp báo Xô viết hoạt động trong thời kì chiến tranh hầu như tê liệt.
Trong bối cảnh ấy, điệp viên W. Fisher đơn độc xâm nhập vào nước Mỹ với sứ mệnh gây dựng lại mạng lưới điệp báo Xô viết ở địa bàn Tây bán cầu.
+++++
Kích hoạt lại mạng lưới điệp viên hoạt động tại Mỹ, W. Fisher không chỉ giới hạn ở việc tiếp tục khơi lại dòng thông tin liên quan đến các bí mật của vũ khí nguyên tử Mỹ mà còn rộng lớn hơn nhiều. Nhiệm vụ của người điệp viên Xô viết là tiếp cận những thông tin mật về bố trí binh lực của Mỹ, các cơ sở quân sự, kho tiếp liệu dùng cho chiến tranh.
Từ những đồng minh thân cận trong thời gian Đệ nhị thế chiến, quan hệ giữa Mỹ cùng các đồng minh phương Tây với Liên Xô đã nhanh chóng chuyển sang thù địch. Thủ tướng Anh W. Churchill, trong một bài phát biểu công khai ngày 5-3-1946 đã chính thức đề cập tới sự hình thành và tồn tại của một Bức Màn sắt ở lục địa châu Âu. Tháng 6-1948, chỉ ít tháng trước khi W. Fisher đặt chân tới Mỹ, Liên Xô cũng đã nỗ lực kiểm soát thủ đô Berlin của nước Đức "bằng việc phong tỏa mọi đường vào thành phố này, mở ra cuộc “khủng hoảng Berlin” lần thứ nhất...
Một trong những nhu cầu thiết yếu bậc nhất của lãnh đạo Liên Xô lúc đó là phải nắm được thông tin về việc phía Mỹ sẽ cần bao nhiêu thời gian để tái bố trí lại binh lực ở châu Âu trong trường hợp chiến tranh nổ ra.
Trong trường hợp những căng thẳng giữa hai phía bùng nổ thành một cuộc chiến, mà rất có thể là Đệ tam thế chiến, Liên Xô cần phải nhanh chóng nắm bắt được các thông tin về đối thủ mà Tây bán cầu là địa bàn cung cấp thông tin có tầm quan trọng sống còn. W. Fisher, với những nhiệm vụ được Trung tâm Moscow giao phó khi bước chân xuống tàu vượt Đại Tây Dương sang Mỹ, vì vậy, là một điệp viên chiến lược.
Sau khi đặt chân tới Mỹ, W. Fisher đã có những chuyến hành trình dài ngày bằng xe buýt liên tiểu bang, rong ruổi ở vùng New England phía Đông Bắc nước Mỹ để nối lại tiếp xúc với các mối liên hệ cũ. Trung tâm chỉ huy mạng lưới sẽ nằm ở New York, thành phố khổng lồ của nước Mỹ, nơi một cá nhân nhạt nhòa như W. Fisher có thể dễ dàng hòa trộn vào đám đông vô số các sắc dân của thành phố này.
Tiếp đó, W. Fisher làm một chuyến hành trình ngang lãnh thổ Mỹ, sang khu Bờ Tây nhiều nắng ấm mà trọng điểm là California. Nhiệm vụ của W. Fisher là phải xác định những thông tin về việc Mỹ cung cấp vũ khí, trang bị quân sự cho quân đội của Tưởng Giới Thạch, khi ấy đang dốc sức chiến đấu chống lại lực lượng cộng sản của Mao Trạch Đông ở Trung Quốc. Các tàu vận chuyển khí tài quân sự của Mỹ thường xuất phát từ cảng Long Beach ven bờ biển ở thành phố Long Beach, California.
Để thực hiện nhiệm vụ này, W. Fisher đã gây dựng được một mạng lưới “mật báo viên”, gồm nhiều nhân mối nằm trong cộng đồng người Đức gốc Do Thái ở khu vực này. Trong trường hợp nổ ra chiến tranh giữa Liên Xô và Mỹ, các “mật báo viên” này sẽ tham gia vào một lực lượng bí mật, ngụy trang như là các nghiệp đoàn công nhân tới từ Trung Mỹ, tiến hành các hoạt động phá hoại một cách có hệ thống, làm tê liệt hệ thống phòng thủ ở Bờ Tây nước Mỹ.
Trên đường từ Bờ Tây trở lại New York, đầu xuân năm 1949, W. Fisher dừng lại ở thành phố Santa Fe.
Là thủ phủ của bang New Mexico nằm ở phía tây nam nước Mỹ, ngoài việc là địa điểm thu hút khá đông khách du lịch, Santa Fe còn là chiến địa trong cuộc chiến điệp báo giành giật bí mật nguyên tử giữa các điệp viên Xô viết với phản gián Mỹ. Do nằm cách không xa Los Alamos, trung tâm nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử của Mỹ, nên FBI đặc biệt để ý đến Santa Fe. Những người lạ xuất hiện ở thành phố đều nằm trong tầm ngắm của đặc vụ Mỹ.
Các điệp viên Xô viết cũng coi đây là địa bàn lí tưởng để tiếp xúc, nhận tài liệu mật từ các điệp viên nằm vùng ở Los Alamos, những người mà trong một vài dịp hiếm hoi, được phép ra khỏi khu vực phòng thí nghiệm do các cơ quan phản gián Mỹ bảo vệ cực kì nghiêm ngặt. Chính ở đây, trong thời gian chiến tranh, tình báo Xô viết đã nhận được các tài liệu cơ bản nhất về thiết kế cũng như quy trình chế tạo một quả bom nguyên tử, những thông tin có tầm quan trọng sống còn đối với nhà khoa học I. Kurchatov cùng các đồng sự cũng đang trong cuộc đua gấp gáp ở bên kia Đại Tây Dương.
Ở Santa Fe, W. Fisher về ngụ tại một ngôi nhà an toàn của NKVD, tồn tại dưới vỏ bọc của một cửa hàng dược phẩm có tên gọi là Hiệu thuốc Zook. Sở dĩ NKVD thiết lập ngôi nhà an toàn này bởi Santa Fe chính là bàn đạp gần biên giới Mexico để các điệp viên Xô viết từ Mỹ xâm nhập sang Mexico hồi năm 1940, phục vụ chiến dịch bí mật ám sát Trotsky ở thủ đô Mexico City.
Tại Santa Fe, W. Fisher đã bắt lại liên lạc với những đầu mối cũ của NKVD và đưa họ quay lại hoạt động điệp báo. Trước khi W. Fisher tới Santa Fe, đây đã từng là địa bàn hoạt động của Kitty Harris, một nữ điệp viên có ít nhất 17 cái tên giả và mang những mật danh như Gypsy, Norma, Ada. Được NKVD tuyển mộ từ tháng 4-1931, Kitty Harris từng trải qua các lớp huấn luyện ở Moscow mà người dạy kĩ năng chụp ảnh cũng như sử dụng điện đài không phải ai khác chính là W. Fisher.
Ngày 11-7-1949, đúng vào dịp sinh nhật thứ 46, W. Fisher quay lại New York. Tại đây, W. Fisher bí mật gặp gỡ điệp viên hoạt động hợp pháp dưới vỏ bọc nhân viên ở Lãnh sự quán Liên Xô, nhận một khoản tiền để hoạt động cùng những mệnh lệnh mới từ Trung tâm Moscow. Nhiệm vụ cấp thời của W. Fisher là phải nhanh chóng khôi phục lại mạng lưới điệp viên mang mật danh Volunteer.
Volunteer chính là mạng lưới điệp viên đóng vai trò chủ yếu trong điệp vụ đánh cắp và cung cấp những thông tin bí mật về vũ khí nguyên tử của Mỹ. Mạng lưới này hoạt động cực kì có hiệu quả trong suốt thời kì chiến tranh, nhưng phải tạm thời nằm im ngay sau khi Đệ nhị thế chiến kết thúc. Cho đến thời điểm W. Fisher đặt chân tới nước Mỹ, chương trình phát triển vũ khí nguyên tử của Liên Xô vẫn chưa đi đến đích cuối cùng là một vụ nổ thử bom nguyên tử. Các nhà khoa học Liên Xô dưới quyền chỉ huy của viện sĩ I. Kurchatov vẫn cần tiếp tục cập nhật những thông tin mang tính sống còn về quá trình cực kì phức tạp để chế tạo loại vũ khí có sức hủy diệt lớn này.
Chọn New York làm địa bàn hoạt động chính yếu để chỉ huy mạng lưới điệp viên bất hợp pháp rộng lớn ở Bắc Mỹ, W. Fisher không xin vào làm việc ở một công sở nào do lo ngại quá trình thẩm tra để nhận người làm việc có thể khiến vỏ bọc của mình bị phá vỡ. Thay vào đó, dưới cái tên giả Emil Robert Goldfus, người điệp viên Xô viết thuê một địa điểm làm xưởng vẽ, tự mình làm các công việc liên quan đến hoạt động mĩ thuật. E. Goldfus nhanh chóng thiết lập được quan hệ rộng rãi với giới nghệ sĩ New York.
Trong vai trò một ông chủ xưởng vẽ, E. Goldfus đã khiến cho những người bạn trong cộng đồng làm nghệ thuật ở New York ngạc nhiên bởi sự hiểu biết cũng như lòng ngưỡng mộ đối với các tác phẩm của danh họa Nga cuối thế kỉ XIX Levitan, người mà hầu hết các họa sĩ Mỹ còn chưa nghe thấy bao giờ.
Ông chủ xưởng vẽ E. Goldfus cũng không giấu giếm nỗi ác cảm của mình đối với nghệ thuật hội họa trừu tượng. “Bạn biết đấy”, E. Goldfus nói với các bạn bè trong giới nghệ sĩ, “tôi cho rằng nghệ thuật đương đại đang đi vào ngõ cụt”.
Những điệp viên chủ yếu điều hành mạng lưới Volunteer là vợ chồng Morris và Lona Cohen. Trong mạng lưới điệp viên này, Morris mang mật danh Luis và Volunteer, còn Lona mang mật danh Leslie. Morris là người đã bắt mối với nhà khoa học mang bí danh Arthur Fielding, chính là Theodore Alvin “Ted” Hall, được tình báo Xô viết đặt cho mật danh Perseus hoặc Mlad. Cùng với điệp viên nguyên tử K. Fuchs, điệp viên “Ted” Hall đã chuyển nhiều thông tin bí mật về đề án nguyên tử Manhattan cho tình báo Liên Xô. Tháng 7-1945, chính Lona Cohen là người đã tới Santa Fe nhận những tài liệu về vụ thử bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ mang mật danh Trinity từ “Ted” Hall để mang về New York trong một chiếc hộp đựng giấy ăn.
Sau vụ đào thoát vào cuối năm 1945 của nữ điệp viên Elizabeth Bentley, do lo ngại FBI có thể nhân cơ hội đó lần ra các điệp viên Xô viết ở Mỹ, từ đầu năm 1946, Trung tâm Moscow phải tạm thời cắt đứt liên lạc với vợ chồng Cohen. Một năm sau, họ nối lại liên lạc với vợ chồng Cohen ở Paris nhưng mãi đến khi W. Fisher sang Mỹ, vào đầu năm 1949, cặp vợ chồng điệp viên này mới chính thức quay trở lại hoạt động sau cuộc gặp bí mật giữa Lona với W. Fisher ở vườn thú khu Bronx tại New York.
Thông qua vợ chồng điệp viên Cohen, W. Fisher tiếp tục điều hành hoạt động của điệp viên “Ted” Hall, tức nhà khoa học Arthur Fielding, người mang mật danh Mlad trong mạng lưới điệp báo Xô viết. Trước dấy, vào quãng đầu năm 1948, “Ted” Hall, đang làm luận án tiến sĩ ở Đại học Tổng hợp Chicago, đã cùng với người vợ của mình là Joan, gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ. Mục tiêu của “Ted” Hall là làm việc trong chiến dịch tranh cử của ứng cử viên Henry Wallace đại diện Đảng Tiến bộ, một nhánh tách ra từ Đảng Dân chủ, trong cuộc bầu cử tổng thống năm đó. H. Wallace là người có khuynh hướng chính trị ủng hộ Liên Xô.
Lo ngại sẽ mất đi một thành viên quý giá trong mạng lưới điệp viên của mình, W. Fisher, thông qua Morris Cohen, yêu cầu “Ted” Hall từ bỏ hoạt động chính trị, quay trở lại làm việc trong lưới điệp viên. Ngày 2-8-1948, trạm điệp báo Washington gửi một bức điện mật về Trung tâm Moscow:
“Luis đã gặp Mlad. Anh ấy đề nghị Mlad cắt đứt liên hệ với Đảng Tiến bộ, tập trung vào công tác nghiên cứu khoa học. Những thông tin quan trọng có được từ hai nguồn tin mới của Mlad. Họ tuyên bố muốn chuyển giao những dữ liệu về đề án Enormous (chương trình phát triển vũ khí nguyên tử) với hai điều kiện: Mlad là đầu mối tiếp xúc duy nhất và tên của họ không được cung cấp cho người của Artemis (cơ quan tình báo Xô viết)”.
Như vậy là W. Fisher đã tiếp nhận và tiếp tục phát triển mạng lưới điệp viên Volunteer. Trong mạng lưới này, ngoài vợ chồng Cohen và Mlad, còn có ba điệp viên khác mang các mật danh là Aden, Serb và Silver mà hai người trong số này chắc chắn là các nhà vật lí nguyên tử do “Ted” Hall tuyển mộ. Mạng lưới điệp viên Volunteer đã giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong việc đánh cắp được những thông tin siêu mật về công việc chế tạo bom nguyên tử của nước Mỹ để chuyển về Moscow trong giai đoạn cuối đề án phát triển bom nguyên tử của Liên Xô.
Ngày 29-8-1949, Liên Xô cho nổ thành công quả bom nguyên tử đầu tiên. Do tham gia vào giai đoạn cuối và hoàn thành xuất sắc điệp vụ này, cũng trong tháng 8-1949, W. Fisher đã được Nhà nước Liên Xô tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ.
Một năm sau đó bắt đầu xảy ra hàng loạt vụ bắt giữ các điệp viên trong mạng lưới của W. Fisher.
+++++


Vụ phản phé của Nữ hoàng gián điệp Đỏ E. Bentley cuối năm 1945 đã gây di họa nặng nề cho mạng lưới điệp viên Xô viết trên đất Mỹ.
Trong các khai báo của mình với FBI, E. Bentley nói rằng mình từng làm liên lạc viên trong thời gian ngắn cho một người tên là Abraham Brothman. Người này lại có liên hệ với một loạt các nhà hóa học và kĩ sư khác, những người bằng cách này hay cách khác đều lần lượt có mặt trong các hồ sơ của FBI vì nhân thân cánh tả của mình.
Hai năm sau khi E. Bentley đào thoát, năm 1947, một bồi thẩm đoàn bắt đầu để ý đến những lời khai của nữ điệp viên này và gọi Abraham Brothman ra trước một phiên tòa để đối chứng. A. Brothman thừa nhận rằng mình có biết E. Bentley và cả người tình của cô này là Golos, nhưng những thông tin ông ta cung cấp cho hai người này hoàn toàn vô hại. A. Brothman khai rằng mình quen biết Golos thông qua một nhà hóa học tên là Harry Gold.
Đến lượt Harry Gold bị gọi ra đối chất. Trước tòa, Harry Gold nói mình có quen Golos nhưng chỉ coi người này là một doanh nhân bình thường. Ở thời điểm ấy, bồi thẩm đoàn không có chứng cứ đủ mạnh để buộc tội A. Brothman và H. Gold làm gián điệp, nhưng kể từ đó, FBI đã âm thầm đưa cả hai người vào diện nghi vấn.
Vụ thử thành công quả bom nguyên tử đầu tiên của Liên Xô ngày 29-8-1949 đã dẫn tới những hệ lụy không tránh khỏi đối với hoạt động điệp báo của cả Liên Xô lẫn phương Tây. Trong suốt thời gian đầu tháng 9-1949, các đầu đo phóng xạ của Ủy ban Năng lượng nguyên tử Mỹ và Hải quân Hoa Kỳ âm thầm đo lượng phóng xạ trên lãnh thổ Liên Xô và các nhà khoa học Mỹ đi tới kết luận chắc chắn là Liên Xô đã thử thành công một vụ nổ nguyên tử vào thời gian cuối tháng 8-1949. Đến ngày 23-9-1949, Tổng thống Mỹ Harry Truman chính thức thông báo với thế giới rằng phía Xô viết đã có vũ khí nguyên tử.
Cộng đồng tình báo và phản gián Mỹ hoàn toàn rúng động trước sự kiện này. Hàng loạt câu hỏi ngay lập tức đặt ra, trong đó quan trọng nhất là liệu các nhà khoa học Xô viết đã tự mình có những bước tiến vượt bậc, tiến hành thành công vụ nổ sớm hơn vài năm so với ước đoán trước đấy của tình báo Hoa Kỳ, hay họ đã được hỗ trợ bởi những thông tin tình báo đánh cắp được từ Mỹ?
Phản gián Mỹ đánh giá các điệp viên Xô viết là những bậc thầy trong hoạt động điệp báo, là đối thủ xứng tầm với Mỹ trong bất cứ lĩnh vực nào, dù là gián điệp kinh tế, khoa học công nghệ hay tình báo chính trị. Tuy nhiên, ở thời điểm đầu tháng 9-1949 ấy, phản gián Mỹ không thể xác định được chính xác các điệp viên Xô viết xâm nhập vào hàng ngũ các nhà khoa học trên đất Mỹ đã đóng góp được bao nhiêu phần trong việc Liên Xô thử thành công quả bom nguyên tử sớm hơn vài năm so với dự tính.
Để trả lời câu hỏi này, các lực lượng phản gián Mỹ bèn đẩy nhanh tiến độ thực hiện Venona, một chiến dịch siêu mật được phản gián Mỹ bắt đầu triển khai từ thời kì chiến tranh.
Venona được khởi sự từ năm 1943 nhằm phá khóa mã những bức điện mật trao đi đổi lại giữa Moscow với các chỉ huy quân sự cũng như các nhà ngoại giao Liên Xô ở Mỹ do bộ phận kĩ thuật của phản gián Mỹ chặn bắt được. Ở thời điểm đó, Đại tá Carter Clarke, Chỉ huy trưởng Ban đặc biệt của quân đội Mỹ, một bộ phận trong Phòng Tình báo Quân đội thuộc Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ, muốn biết liệu các nhà lãnh đạo Xô viết có ý định đàm phán hòa bình riêng rẽ với Đức Quốc xã hay không.
Để thực hiện mục tiêu này, Đại tá Carter Clarke ra lệnh đặt máy nghe lén đường cáp truyền thông tin của các nhà ngoại giao Xô viết. Nếu phá được khóa mã những bức điện mật đó thì có thể biết được ý định của nhà lãnh đạo Xô viết J. Stalin trong thời gian chiến tranh.
Từ tháng 2-1943, Đại tá Carter Clarke hạ lệnh nghe lén các đường truyền thông tin của phía Xô viết. Đến năm 1945, Meredith Gardner, một nhân viên phá khóa mã tài năng của Cục An ninh Quân đội Mỹ được giao nhiệm vụ chính trong việc phá khóa mã của tình báo Liên Xô. M. Gardner có khả năng nói được sáu đến bảy ngoại ngữ và là một trong số rất hiếm hoi các chuyên gia của tình báo Mỹ có thể đọc được tiếng Phạn. Việc phá khóa các bức điện mật vô cùng khó khăn bởi vì phía Xô viết sử dụng loại mã chỉ dùng một lần. Rất may cho Meredith Gardner là năm 1941, có lẽ trong điều kiện gấp gáp của chiến tranh, một nhân viên dịch mã của trạm tình báo Liên Xô ở New York đã sơ hở dùng hai lần dịch cho cùng một loại mã. Tận dụng sơ hở này, Meredith Gardner có thể so sánh, đối chứng để tìm khóa mã.
Mặc dù vậy, công việc tiến triển khá chậm chạp. Mãi đến năm 1946, những bức điện mật đầu tiên mới dần dần được phá khóa và các nhà điều tra Mỹ, thay vì hiểu được ý định của lãnh đạo Xô viết, lại phát hiện ra một sự thật khiến họ ngỡ ngàng: Điệp viên Xô viết xâm nhập và hoạt động ở khắp Hoa Kỳ, ở cả những cấp rất cao, kể cả gần gũi với tổng thống Mỹ! Phạm vi hoạt động của họ xuất hiện cả trong những lĩnh vực hết sức nhạy cảm như dự án chế tạo vũ khí nguyên tử.
Dự án phá khóa mã của phía Xô viết do người Mỹ tiến hành ban đầu được đặt mật danh là Bride, sau đổi thành Venona. Chỉ có rất ít người được biết về dự án có độ mật rất cao này: Một số lãnh đạo cấp cao của quân đội Mỹ, một ít nhân viên của FBI và CIA có liên quan. Tổng thống Mỹ Harry Truman không liên hệ trực tiếp tới dự án mà chỉ nghe lại các báo cáo nếu như liên quan đến các vụ án gián điệp.
Để đảm bảo bí mật tuyệt đối cho dự án Venona, một câu chuyện giả tưởng được phản gián Mỹ dựng lên: Năm 1941, sau một trận chiến đấu trong chiến tranh với Phần Lan, một cuốn sổ ghi khóa mã của tình báo Liên Xô được một nhân viên NKVD thủ tiêu, đốt cháy không hết đã bị phía Phần Lan thu được, sau đó trao cho Mỹ; người Mỹ đã dựa vào cuốn sổ này để dần dà lần ra cách đọc các bức điện mật của phía Xô viết!
Không loại trừ một khả năng là những bức điện mật do nhân viên mã thám GRU I. Gouzenko mang theo khi đào thoát ở Canada năm 1945 cũng đã góp phần đẩy nhanh tốc độ phá khóa mã của người Mỹ.
+++++
Đến giữa tháng 9-1949, tức là ngay trước thời điểm Tổng thống Mỹ H. Truman chính thức thông báo với thế giới là Liên Xô đã có bom nguyên tử, dựa trên những thông tin giải mã ít ỏi do Venona cung cấp, phản gián Mỹ đã đọc được một phần các bức điện mật do tình báo Liên Xô gửi về Trung tâm trong thời kì 1944 -1945.
Những nội dung này cho thấy dường như phía Liên Xô đã có được các thông tin tối mật lấy trực tiếp từ trong nội bộ đề án vũ khí nguyên tử Manhattan và không nghi ngờ gì nữa, phía Xô viết đã sử dụng những thông tin này để rút ngắn thời gian chế tạo nên quả bom nguyên tử của mình.
Cũng trong số các bức điện mật do dự án Venona giúp mở được, phản gián Mỹ xác định một điều cực kì quan trọng: Trong khoảng thời gian năm 1944, cơ sở tình báo Liên Xô tại New York đã có một nguồn tin nằm trong phái bộ các nhà khoa học Anh tham gia vào đề án Manhattan.
Phản gián Mỹ ngay lập tức cho kiểm tra lại hồ sơ các nhà khoa học Anh trong phái bộ đã tham gia đề án Manhattan. Chỉ trong một thời gian ngắn, các đặc vụ Mỹ phát hiện ra một người có các đặc điểm trùng khớp với những nội dung các bức điện mật của tình báo Liên Xô ở New York. Đó là nhà khoa học Đức Klaus Fuchs.
K. Fuchs không phải là đối tượng duy nhất mà phản gián Mỹ đặt vào vòng ngắm. Một nhà khoa học khác trong phái bộ Anh là Rudolf Peierls cũng bị tình nghi. Nhưng sau một thời gian kiểm tra các bằng chứng thu thập được, phản gián Mỹ loại bỏ ông này ra khỏi danh sách các nghi phạm.
Trong khi ấy thì phản gián Mỹ tiếp tục đào sâu tìm kiếm các bằng chứng chống lại K. Fuchs, người sau chiến tranh đã quay về Anh, vào làm việc tại Viện nghiên cứu khoa học ở Harwell.
Một trong những bằng chứng quý giá mà phản gián Mỹ có được trong tay là những tài liệu mật phía Mỹ thu thập được sau chiến tranh của Gestapo, cơ quan mật vụ sắt máu Đức Quốc xã trong Đệ nhị thế chiến. Các tài liệu của Gestapo chỉ ra rằng vào năm 1933, K. Fuchs là một thành viên Đảng Cộng sản Đức và nếu phát hiện được thì Gestapo phải lập tức bắt giữ.
Bằng chứng thứ hai là việc tên của K. Fuchs xuất hiện trong một cuốn sổ ghi địa chỉ được tìm thấy ở nhà Israel Halperin, người từng là một điệp viên của Tổng cục Tình báo Quân đội Liên Xô GRU ở Canada. Cuốn sổ này bị các nhân viên an ninh Canada phát hiện sau vụ đào thoát năm 1945 của điệp viên GRU I. Gouzenko rồi sau đó chuyển cho phản gián Mỹ.
Chỉ có một điều khiến cho các đặc vụ Mỹ cảm thấy bối rối là nếu như các bức điện mật của tình báo Liên Xô trong năm 1944 cho thấy hoạt động của người - có thể là K. Fuchs - thuộc quyền quản lí của NKGB (tên tắt Cơ quan Tình báo Liên Xô lúc đó, sau này mới đổi thành KGB), trong khi tài liệu thu được ở Canada lại cho thấy người này là một điệp viên hoạt động cho Tổng cục Tình báo Quân đội Liên Xô GRU. Kinh nghiệm cho thấy đến lúc đó, các chiến dịch của NKGB và GRU thường độc lập, ít khi liên quan đến nhau.
Mặc dù vậy nhưng đặc vụ Robert J. Lamphere của FBI vẫn thảo một bức điện mật gửi Cục An ninh MI5. Trong bức điện này, R. Lamphere nói rõ về những thông tin thu thập được nhờ giải mã các bức điện mật của tình báo Liên Xô về nhân vật có khả năng là K. Fuchs, cũng như hai bằng chứng gồm hồ sơ của Gestapo và cuốn sổ thu được ở Canada. R. Lamphere khẳng định với phản gián Anh rằng nhà khoa học K. Fuchs là nhân vật tình nghi số một trong cuộc điều tra.
Các điều tra mở rộng của phản gián Mỹ cũng cho thấy K. Fuchs có một người em gái tên là Kristel đang sống cùng chồng, Robert Heinemann, và ba đứa con ở gần Boston.
Vài tuần lễ sau, MI5 gửi một bức điện trả lời FBI. Trong bức điện này, MI5 cũng khẳng định rằng K. Fuchs là nhân vật tình nghi số một. Tuy nhiên, MI5 nói rằng không có đủ cơ sở để có thể bắt giữ K. Fuchs vì tội làm gián điệp. Khó khăn nằm ở chỗ cả MI5 lẫn FBI đều không thể sử dụng những bằng chứng mình có trong tay, đặc biệt là các bức điện mật bị phá khóa, trong một phiên tòa công khai.
Đến tháng 12-1949 thì MI5 quyết định đi một nước cờ liều. Cơ quan này sử dụng một điệp viên dày dạn kinh nghiệm tên là William Skardon tiếp cận K. Fuchs với mục đích khuyến khích, gây sức ép để bằng mọi cách buộc K. Fuchs phải tự nguyện thú tội.
Ngoài những bằng chứng do phản gián Mỹ cung cấp, MI5 còn có những thông tin về người cha của K. Fuchs, khi ấy đang giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp Leipzig, trong khu vực Đông Đức quản lí. Việc một người như K. Fuchs đang làm việc tại một viện nghiên cứu về nguyên tử ở Harwell của nước Anh trong khi người cha làm việc ở một nơi dễ dàng bị tình báo Xô viết tiếp cận, rõ ràng không phải là chuyện dễ chịu gì đối với phản gián Anh. Tình thế đó dễ đặt K. Fuchs vào vị trí bị bắt bí. Thực ra thì K. Fuchs đã từng thảo luận về vấn đề này với một nhân viên an ninh tại Viện nghiên cứu Harwell nơi mình làm việc.
Vậy là trong vài tuần lễ của tháng 12-1949, W. Skardon đã có vài lần gặp gỡ K. Fuchs trong sứ mệnh khuyến khích nhà khoa học nguyên tử tự nguyện thú tội. W. Skardon cẩn thận không để lộ ra với K. Fuchs rằng FBI và MI5 đã có các thông tin xác định K. Fuchs làm gián điệp nhờ đọc được các bức điện mật của tình báo Liên Xô. Thay vào đó, W. Skardon chỉ nói rằng nhà chức trách có rất nhiều thông tin xác thực về hoạt động gián điệp của K. Fuchs trong thời gian ở Hoa Kỳ.
Thoạt đầu, K. Fuchs bác bỏ mọi cáo buộc của W. Skardon rằng mình làm gián điệp cho phía Liên Xô. Nhưng đến ngày 22-1-1950, K. Fuchs nói với người đứng đầu bộ phận an ninh của Viện nghiên cứu Harwell, đề nghị thu xếp một cuộc gặp lại W. Skardon.
Từ ngày 24-1-1950, K. Fuchs bắt đầu thú tội với W. Skardon, kể cặn kẽ về quá khứ liên quan tới những người cộng sản cũng như các hoạt động điệp báo cho Liên Xô. Đến lúc ấy, phản gián Anh mới xác định được rằng K. Fuchs đã hoạt động gián điệp ở Anh trong thời gian chiến tranh, sau đó tại Hoa Kỳ trong phái bộ các nhà khoa học Anh, rồi sau khi chiến tranh kết thúc vẫn tiếp tục hoạt động cho phía Liên Xô.
Phải hơn một tuần kể từ khi K. Fuchs bắt đầu thú tội, ngày 2-2-1950, phản gián Anh mới tiến hành bắt giữ nhà khoa học Đức, người đã góp công rất lớn trong chiến dịch đánh cắp bí mật vũ khí nguyên tử của phương Tây để cung cấp cho tình báo Liên Xô.
Do không thể sử dụng các thông tin từ dự án mật Venona làm bằng chứng độc lập để kết tội nên Tổng chưởng lí Anh Sir Hartley Shawcross quyết định rằng K. Fuchs sẽ không bị xử vì tội làm gián điệp. Thay vào đó, K. Fuchs bị đưa ra tòa xét xử vì tội vi phạm Đạo luật Bí mật nhà nước của Anh. Ngày 1-3-1950, điệp viên nguyên tử K. Fuchs bị kết án ở khung hình phạt cao nhất theo Đạo luật Bí mật nhà nước với mức án 14 năm tù giam.
+++++
Trong các bản cung, K. Fuchs khai với nhân viên thẩm vấn của MI5 rằng mình đã chuyển các bí mật nguyên tử trên đất Mỹ cho tình báo Xô viết thông qua một liên lạc viên mang mật danh là Raymond. Những nội dung trong bản khai này được chuyển cho phía Mỹ và ngay lập tức, toàn bộ hệ thống phản gián Mỹ dốc toàn lực vào việc điều tra để tìm ra Raymond. Giám đốc FBI Edgar Hoover ra mật lệnh bằng mọi giá phải tìm được điệp viên này vì có thể từ đó sẽ lần ra mạng lưới điệp viên của Liên Xô hoạt động trên đất Mỹ đã góp phần vào việc đánh cắp bí mật nguyên tử.
FBI được quyền huy động mọi văn phòng và nguồn nhân lực ở các địa phương để thực hiện cuộc truy lùng Raymond!
Một trong những trọng tâm mà các đặc vụ FBI hướng vào là thẩm vấn những người thân của K. Fuchs trên đất Mỹ, cô em gái Kristel Heinemann và anh chồng Robert.
Khi ấy, cô em gái Kristel đang điều trị tại một bệnh viện tâm thần ở gần Boston. Khi đặc vụ FBI hỏi, Kristel vẫn nhớ người đàn ông đã tới nhà mình vào dịp cuối năm 1944, sau đó còn trở lại trong năm 1945 để cố gắng liên lạc với anh trai cô. Trong lần gặp đầu, cô nói với người đàn ông là hãy quay trở lại vào sau dịp lễ Giáng sinh, khi K. Fuchs về thăm nhà em gái và người đàn ông đó đã làm đúng như thế.
Vợ chồng Heinemann đều nhớ về người đàn ông bí ẩn đó, nhưng những mô tả của họ có thể khớp với hàng triệu người Mỹ: Da trắng, chừng 40 đến 45 tuổi, cao khoảng 1 mét 70, tóc nâu sẫm, vai rộng, mặt tròn. Cả hai đều tin rằng ông ta thuộc dạng người nước ngoài di cư tới Mỹ thế hệ thứ nhất.
Các đặc vụ FBI gửi những mô tả này cho MI5 để phản gián Anh đưa nó cho K. Fuchs. K. Fuchs xác nhận những đặc điểm đó hoàn toàn trùng khớp, đồng thời cung cấp thêm một chi tiết cực kì quan trọng: Qua những cuộc trao đổi giữa K. Fuchs với người dàn ông nọ, K. Fuchs có cảm giác người đàn ông đó có những hiểu biết về hóa học và kĩ thuật.
K. Fuchs khai đã gặp Raymond cả thảy chín lần. Từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1944 họ gặp nhau năm lần ở New York. Sau đó K. Fuchs tới Los Alamos và Raymond tìm đến nhà Kristel để nối lại liên lạc với K. Fuchs. Theo lời K. Fuchs thì họ gặp nhau hai lần ở Cambridge vào đầu năm 1945, sau đó có thêm hai lần gặp nữa ở Santa Fe vào tháng 6 và tháng 9 năm 1945.
FBI cho rằng manh mối quan trọng bậc nhất có thể giúp lần ra Raymond là yếu tố liên quan đến “hiểu biết về hóa học và kĩ thuật” của người này. Dựa trên các hồ sơ lưu của FBI, các đặc vụ tập hợp được gần một ngàn người có những đặc điểm này cùng với những yếu tố nhận dạng do K. Fuchs và vợ chồng nhà Heinemann mô tả. Tất cả đều có ảnh. Các đặc vụ FBI bèn đem tất cả ảnh này cho vợ chồng Heinemann xem, đồng thời gửi sang Anh để MI5 cho K. Fuchs nhận dạng.
Thoạt đầu, K. Fuchs không nhận ra một ai; nhưng đến ngày 13-3-1950, điệp viên nguyên tử người Đức cho rằng có thể Raymond là một người tên Joseph Regenstreich, còn gọi là Robbins.
Tuy nhiên, khi FBI mang ảnh Robbins tới cho vợ chồng Heinemann thì cả hai đều khẳng định rằng đó không phải là Raymond.
Thêm nữa, một cuộc điều tra nhanh chóng sau đấy cho thấy Robbins không ở New York và Cambridge hay Santa Fe trong cùng thời gian K. Fuchs gặp Raymond.
Các đặc vụ FBI kiểm tra lại toàn bộ các phòng thí nghiệm nằm ở vùng bờ biển phía đông nước Mỹ có liên quan đến các sản phẩm hóa học. Họ kinh hoàng nhận thấy rằng chỉ tính riêng trong năm 1945, đã có tới gần 75.000 bằng sáng chế trong lĩnh vực hóa học được cấp cho chỉ riêng thành phố New York. Việc tìm kiếm một người trong cả biển thông tin như thế là điều hầu như không thể.
FBI cũng thực hiện phương pháp cầu may bằng cách hỏi han những người ở các trạm xe buýt và sân bay bang New Mexico, xem liệu họ có nhận thấy một người đáng ngờ nào trong khoảng năm 1945 hay không. Không có bất cứ câu trả lời xác định nào từ những cuộc hỏi han ngẫu nhiên này.
Cuộc điều tra truy lùng Raymond của FBI đi vào chỗ bế tắc.
Đúng lúc ấy thì một đặc vụ FBI trong đội tìm kiếm do Robert J. Lamphere chỉ huy tên là Ernie Van Loon đột nhiên nảy ra ý nghĩ là biết đâu nhân vật Raymond bí ẩn lại có liên quan đến những điệp viên Xô viết mà Nữ hoàng gián điệp Đỏ E. Bentley đã khai ra với FBI hồi năm 1945. E. Bentley từng khai rằng có một thời gian ngắn làm liên lạc viên cho Abraham Brothman, mà người này lại có quan hệ với một số người có nền tảng học vấn liên quan đến hóa học và kĩ thuật như Harry Gold, Oscar Vago, Jules Korchein, Fred Heller. Tất cả những người này đều đã bị đưa vào trong hồ sơ theo dõi của FBI từ trước đó.
Trước đấy, FBI từng chuyển ảnh của tất cả những người này cho K. Fuchs nhận dạng nhưng nhà khoa học gián điệp khẳng định rằng trong số đó không có ai là Raymond.
Từ ý tưởng của Emie Van Loon, các đặc vụ FBI một lần nữa mang hồ sơ của những người đã bị FBI đặt vào diện tình nghi sau lời khai của nữ điệp viên E. Bentley ra xem lại. Họ nhận thấy có một sự trùng khớp kì lạ giữa mô tả nhân dạng trong hồ sơ của Harry Gold với những miêu tả về Raymond của vợ chồng Heinemann và K. Fuchs.
Tổng hành dinh FBI bèn chỉ thị cho văn phòng FBI ở Philadelphia tiếp tục đào sâu điều tra về Harry Gold. Kết quả điều tra ở Philadelphia cho thấy các số liệu lịch trình di chuyển của Harry Gold trong thời gian trước đó đều trùng với lời khai của K. Fuchs về những thời thời điểm mà hai người gặp nhau.
Nhưng khi đưa ảnh của H. Gold cho K. Fuchs xem lại thì nhà khoa học vẫn khăng khăng đấy không phải là người FBI muốn tìm.
Hai đặc vụ FBI là R. Lamphere và Emie Van Loon cho rằng vì K. Fuchs nhận dạng H. Gold qua những bức ảnh cũ trong hồ sơ nên có thể nhầm lẫn. Việc nhận dạng sẽ dễ dàng hơn nếu có những bức ảnh hiện tại của đối tượng, hoặc khi đối tượng đang di chuyển. Bởi thế, họ yêu cầu văn phòng FBI Philadelphia bí mật chụp lại một số bức ảnh mới, đồng thời quay phim cả một số di chuyển của H. Gold.
K. Fuchs bị tòa án ở Anh kết án tù từ đầu tháng 3-1950 nhưng mãi đến tháng 5-1950, phía Anh mới đồng ý cho phép các đặc vụ FBI trực tiếp thẩm vấn nhà khoa học làm việc cho tình báo Xô viết.
Trung tuần tháng 5-1950, cùng với Trợ lí giám đốc FBI phụ trách Ban đào tạo và điều tra Hugh Clegg, đặc vụ R. Lamphere bay sang London.
Ngày 20-5-1950, cả hai được đại diện MI5, đặc vụ W. Skardon, người đã thuyết phục K. Fuchs thú tội, đưa tới nhà tù Wormwood Scrubs được canh gác cẩn mật ở ngoại vi London. Đây là nhà tù chuyên giam giữ các điệp viên Xô viết bị bắt giữ trên đất Anh và sau K. Fuchs, sẽ còn nhiều điệp viên Xô viết khác phải trải qua những năm tháng thụ án dài đằng đẵng ở đây.
Tại đây, trong một căn phòng đóng kín, R. Lamphere trải lên mặt bàn chừng hơn một chục bức ảnh chụp những người khác nhau, trong đó có ảnh của H. Gold, cả cũ lẫn mới và đề nghị K. Fuchs xem xét thật kĩ. Sau khi loại bỏ từng ảnh một, cuối cùng chỉ còn lại ba bức ảnh FBI vừa mới chụp H. Gold mấy hôm trước đó. K. Fuchs nói: “Tôi không chắc chắn có thể loại bỏ tất cả ba bức ảnh này. Nhưng những bức ảnh này vẫn chưa đủ rõ để tôi có thể chắc chắn đấy là Raymond!”.
Ngày hôm sau, 21-5-1950, hai đặc vụ FBI lại tới gặp K. Fuchs ở nhà tù một lần nữa. Họ cho K. Fuchs xem những đoạn phim ngắn do các đặc vụ FBI bí mật ghi lại hình ảnh chuyển động của H. Gold. Sau khi xem một lần, K. Fuchs tuyên bố rằng người trong đoạn phim “rất giống” với người mang tên Raymond; tuy nhiên cũng không có gì đảm bảo chắc chắn lắm! Chẳng gì thì năm năm cũng đã trôi qua kể từ lần cuối cùng K. Fuchs gặp Raymond.
Các đặc vụ FBI cho K. Fuchs xem lại các đoạn phim thêm hai lần nữa, phóng to hình ảnh của H. Gold lên. Sau khi xem xong, câu trả lời của K. Fuchs vẫn chỉ là “rất giống”, rõ ràng không làm các đặc vụ FBI đã phải cất công bay từ Mỹ sang hài lòng.
Trong khi ấy thì tại Philadelphia, trong cùng ngày 21-5, các đặc vụ FBI là Scotty Miller và Richard Brennan bắt đầu thẩm vấn H. Gold. Dĩ nhiên là H. Gold bác bỏ hết mọi cáo buộc, nói rằng mình không hề quen biết K. Fuchs, chưa từng gặp gỡ Kristel Heinemann và thậm chí chưa bao giờ tới Boston hoặc tới vùng phía tây sông Mississippi.
Được sự đồng ý của H. Gold, ngày hôm sau, 22-5-1950, hai đặc vụ bắt đầu khám xét căn hộ của H. Gold.
Trên giá sách của H. Gold, S. Miller và R. Brennan tìm thấy một bảng ghi giờ tàu đi Boston. Tiếp đó, đặc vụ S. Miller rút ra một tờ rơi ghi rõ của Phòng thương mại ở Santa Fe. “Anh nói với chúng tôi rằng chưa bao giờ đi tới vùng phía tây nước Mỹ cơ mà!”, S. Miller nhận xét.
Mặt tái nhợt, H. Gold ngồi xuống ghế và nói: “Tôi chính là người mà K. Fuchs chuyển giao thông tin”.
Ngày 24-5-1950, một lần nữa các đặc vụ FBI ở London lại tới nhà tù Wormwood Scrubs với những đoạn phim và bức ảnh của H. Gold được chụp và ghi lại trong điều kiện ánh sáng tốt hơn. Các đặc vụ không nói cho K. Fuchs biết là ở Mỹ H. Gold đã thú tội.
Khi các bức ảnh mới chụp và những đoạn phim quay cảnh H. Gold di chuyển được máy chiếu phóng to lên tường, phản ứng của K. Fuchs gần như tức thì: “Vâng, đây là người liên lạc của tôi ở Mỹ”, nhà khoa học khẳng định.
Raymond chính là Harry Gold.
+++++
Từ ngày 22-5 đến 1-6-1950, H. Gold khai rất ít với FBI về hoạt động của mình, chỉ trừ việc thừa nhận rằng đã làm liên lạc viên chuyển giao các tài liệu mật của K. Fuchs cho tình báo Liên Xô. Nhưng từ ngày 1-6 trở đi, H. Gold bắt đầu khai toàn bộ các hoạt động, các đầu mối tiếp xúc của mình từ khi bắt đầu cộng tác với tình báo Xô viết.
Đấy quả là một dòng thác lũ thông tin, với vô số những dữ liệu, những đầu mối, tên tuổi mà lần đầu tiên FBI được biết. Dựa trên các thông tin do H. Gold cung cấp, FBI đã mở ra tới 49 vụ điều tra riêng rẽ khác nhau!
Giám đốc FBI E. Hoover, người luôn muốn khoe khoang những chiến tích của cơ quan mình, đã gọi vụ án gián điệp Fuchs/Gold là “Tội phạm Thế kỉ”!
Đến thời điểm này, một sai lầm trong thời kì chiến tranh của điệp viên địa bàn New York, Yakovlev, mật danh John, người phụ trách H. Gold, đã khiến lưới tình báo Liên Xô phải trả giá nặng nề, kể cả bằng tính mạng các điệp viên của mình.
Đó chính là chuyến đi của H. Gold tới Santa Fe hồi tháng 6-1945 để nhận các tài liệu mật do K. Fuchs chuyển giao. Trong chuyến đi này, mặc dù H. Gold phản đối nhưng Yakovlev vẫn ép anh ta, sau khi nhận tài liệu từ K. Fuchs, phải từ Santa Fe đi tới thành phố Albuquerque gần đó để gặp một đầu mối thứ hai nhận tiếp tài liệu.
H. Gold đã hoàn thành công việc trót lọt, gặp vợ chồng David và Ruth Greenglass, ở 209 đường High, thành phố Albuquerque, nhận tài liệu rồi quay về New York trao lại cho Yakovlev.
Năm năm sau, khi khai nhận với các điệp viên FBI, H. Gold đã mô tả hình dáng của cặp vợ chồng nọ nhưng không nhớ rõ họ tên, chỉ mang máng rằng người vợ có lẽ tên là Ruth. Anh ta cũng không nhớ tên đường nơi có ngôi nhà của cặp vợ chồng, chỉ biết chắc là căn hộ họ ở trên tầng hai hoặc tầng ba của một ngôi nhà. H. Gold nói với các điệp viên FBI là nếu có một tấm bản đồ thì sẽ chỉ chính xác hơn vị trí của căn nhà.
Một tấm bản đồ Albuquerque lập tức dược mang tới. H. Gold khoanh tròn vào vị trí một khu nhà nằm ở đường High.
Trước đấy, từ tháng 2-1950, cũng dựa trên những bức điện mật của tình báo Liên Xô thời kì 1944 mà Venona giải mã được, đặc vụ FBI R. Lamphere xác định được rằng có một ai đó ở vị trí cấp thấp làm việc tại Los Alamos, người đã có một chuyến đi nghỉ phép vào cuối năm 1944, đầu năm 1945, là một điệp viên hoạt động cho tình báo Liên Xô. Người này có thể sống ở thành phố Albuquerque hoặc St. Louis, nhưng khả năng ở Albuquerque lớn hơn vì thành phố này gần với Los Alamos hơn. R. Lamphere nhấn mạnh với các đặc vụ tham gia điều tra rằng người đó có một kì nghỉ vào tháng 11-1944 và đã rời New York vào tháng 1-1945.
Trong khi cuộc điều tra này còn chưa đưa đến kết quả nào thì một cuộc điều tra khác cũng được FBI ở Albuquerque tiến hành song song liên quan đến vụ đánh cắp mẫu uranium từ phòng thí nghiệm Los Alamos. Trong quá trình điều tra này, nhiều người đã bị thẩm vấn, trong đó có một người là David Greenglass, bị thẩm vấn ngày 31-3-1950. D. Greenglass phủ nhận mọi cáo buộc liên quan đến việc đánh cắp mẫu uranium và các đặc vụ FBI cũng không có lí do nào để nghi ngờ anh ta.
Đến đầu tháng 6-1950, khi các bản cung khai của H. Gold được gửi cho văn phòng FBI ở Albuquerque thì các đặc vụ tại đây đối chiếu với danh sách những người từng bị thẩm vấn trong vụ nghi ngờ đánh cắp mẫu uranium. Họ nhận thấy sự trùng hợp giữa các đặc điểm do H. Gold mô tả với một người bị thẩm vấn, hiện đang sống với vợ tên là Ruth ở căn hộ số 209 đường High từ năm 1945. Người này là David Greenglass.
Các đặc vụ FBI Albuquerque bèn bí mật giám sát và chụp ảnh David Greenglass, đồng thời tìm được một tấm ảnh chụp người này vào quãng thời gian năm 1940 rồi gửi các bức ảnh này về Philadelphia. Ngày 3-6- 1950, hai đặc vụ S. Miller và R. Brennan đưa những tấm ảnh cho H. Gold xem. H. Gold không nhận ra người đàn ông trong các bức ảnh chụp trộm khi giám sát là ai, nhưng với bức ảnh chụp từ năm 1940 thì thấy khá giống với người mình đã gặp hồi năm 1945.
Ngày 7-6-1950, các đặc vụ FBI chiếu cho H. Gold xem những đoạn phim quay cảnh những ngôi nhà nằm trên đường High, trong đó có căn nhà mang số 209. H. Gold nhận thấy nó khá giống với ngôi nhà mà mình từng đến vào năm 1945, nhưng nhận xét rằng có lẽ đã có một số cải tạo, thay đổi.
Đến ngày 15-6-1950, FBI gần như đã chắc chắn rằng người đàn ông mà họ tìm kiếm từ hồi tháng 2-1950 dựa trên những thông tin giải mã điện mật của tình báo Xô viết với người mà H. Gold từng gặp gỡ hồi năm 1945 ở Albuquerque là cùng một người. Đó có thể là David Greenglass. Các thông tin giải mật cho thấy người FBI tìm kiếm đã có kì nghỉ vào tháng 11-1944 và tới New York vào tháng 1-1945, gần khớp với số liệu của quân đội Mỹ cho thấy D. Greenglass có kì nghỉ vào cuối tháng 12-1944 và tới New York vào tháng 1-1945. Các đặc vụ FBI bắt đầu tiến hành thẩm vấn D. Greenglass.
Trong khi thẩm vấn, các đặc vụ FBI đề nghị với D. Greenglass cho phép khám nhà và người này đồng ý. Khi khám nhà, các đặc vụ FBI tìm thấy một vài bức ảnh chụp David với vợ mình là Ruth. Đến cuối ngày 15-6-1950, FBI Albuquerque gửi những bức ảnh này về Philadelphia. Khi xem những bức ảnh này, H. Gold nhận ra một bức ảnh chụp David và Ruth ngồi trên bậc thềm ngôi nhà số 209 đường High, phía sau ảnh có ghi ngày rửa ảnh ở một hiệu ảnh là 8-11-1945.
H. Gold viết vào bên cạnh đó hàng chữ: “Đây là người tôi đã tiếp xúc tại Albuquerque vào tháng 6-1945 theo sự chỉ dẫn từ người chỉ huy của tôi, điệp viên John. Người đàn ông trong ảnh đã chuyển cho tôi những thông tin về công việc của anh ta ở Los Alamos, bang New Mexico mà sau đó tôi đã chuyển những thông tin này cho John”.
Đêm 15-6-1950, D. Greenglass bị đưa về văn phòng FBI ở Quảng trường Foley tại New York để thẩm vấn. D. Greenglass nhanh chóng thừa nhận rằng đúng như H. Gold đã viết, mình đã chuyển các thông tin về Los Alamos cho người liên lạc. Anh ta cũng nhấn mạnh rằng vợ mình, Ruth, và người anh rể, cũng hoạt động gián điệp.
Người anh rể này tên là Julius Rosenberg.
+++++
Julius Rosenberg là con trai trong gia đình người đứng đầu cộng đồng Do Thái ở khu Đông New York. Cha của Julius làm đại diện công đoàn trong ngành công nghiệp may mặc, mong muốn con trai mình trở thành một giáo sĩ Do Thái giáo. Khi học ở trường phổ thông Seward Park, vào cuối mỗi ngày học, Julius thường tới học thêm ở trường trung học dành cho trẻ em Do Thái.
Nhưng khi 16 tuổi thì Julius không tuân theo kế hoạch của cha mình nữa mà quyết định trở thành một kĩ sư điện bằng cách vào học ở trường Công nghệ thuộc Cao đẳng thành phố New York vào tháng 6-1934. Trong thời gian học ở trường này, Julius bắt đầu quan tâm đến chủ nghĩa cộng sản và trở thành người tuyên truyền cho lí tưởng của những người cộng sản. Ban ngày, Julius học ở trường, còn ban đêm thì làm bài tập ở trong một căn hộ của gia đình nhà Greenglass.
Cô bé Ethel Greenglass mơ ước trở thành một nhà thơ, diễn viên, vũ công, ca sĩ và nhạc công piano. Năm 1931, khi 16 tuổi, Ethel tốt nghiệp phổ thông và bắt đầu làm công việc của một nhân viên tốc kí. Cô gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ và gặp Julius trong một cuộc họp của đảng. Họ trở thành bạn bè và Ethel đánh máy giúp Julius những bản báo cáo về kĩ thuật. Julius thường xuyên mang quà cho cậu em trai của Ethel là David Greenglass, người sau đó cũng gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ.
Quãng đầu những năm 1940, cơ quan lãnh sự Xô viết ở New York hoạt động với tư cách một trung tâm hoạt động tình báo trong lĩnh vực khoa học công nghệ để thu thập thông tin bí mật cho cơ quan an ninh NKGB. Trong cơ quan lãnh sự có một bộ phận bí mật mang mật danh là Ban XY, chuyên thu thập tin tức tình báo công nghệ. Nhu cầu cần phải có những nhân viên hiểu biết về khoa học công nghệ trở nên gấp rút. Bernard Schuster, một đảng viên Đảng Cộng sản Mỹ đã quyết định tuyển mộ Julius Rosenberg vào mạng lưới hoạt động ngầm của NKGB.
Đến năm 1942, Trung tâm tình báo Moscow rút ra kết luận rằng Jacob Golos, người lâu nay vẫn đứng đầu mạng lưới cung cấp tin tình báo cho NKGB, không có đủ những kiến thức khoa học cần thiết để làm việc trong lĩnh vực này. Julius Rosenberg được lựa chọn để thay thế cho J. Golos.
Vào ngày Quốc tế Lao động 1-5-1942, B. Schuster bố trí một cuộc gặp ở Công viên trung tâm New York giữa Julius Rosenberg và điệp viên Xô viết Semyon Semyonov, mang mật danh Sam. Kể từ đó, Julius làm việc với Sam, cung cấp các thông tin khoa học công nghệ thu thập được cho tình báo Xô viết. Mật danh hoạt động ngầm của Julius Rosenberg trong mạng lưới là Antenna, sau đó đổi thành Liberal. Để giữ bí mật cho hoạt động của mình, Julius phải từ bỏ mọi mối liên hệ với những người cộng sản Mỹ.
Đến tháng 10-1942, Julius Rosenberg trải qua một khóa đào tạo ngắn hạn về công tác điệp báo. Nhiệm vụ của Julius là cung cấp thông tin cho Ban XY về quá trình nghiên cứu, phát triển các hệ thống vũ khí của quân đội Mỹ. Bom nguyên tử nằm trong đề án Manhattan là một loại vũ khí như vậy.
Đến tháng 3-1943, Julius và Ethel, trước đó đã cưới nhau hồi mùa hè năm 1939, có cậu con trai Michael và chuyển cả gia đình đến một căn hộ ở Knickerbocker thuộc khu vực Hạ New York.
Mạng lưới điệp báo liên quan đến gia đình Rosenberg được mở rộng vào quãng thời gian cuối Đệ nhị thế chiến. Tháng 11-1944, Leonid Kvasnikov, chỉ huy lưới tình báo Xô viết về các vấn đề khoa học công nghệ ở New York từ tháng 2-1943, gửi một bức điện mật về Trung tâm Moscow, thông báo rằng đã tuyển mộ được vợ chồng người em của Ethel Rosenberg là David Greenglass và Ruth Greenglass. Trong mạng lưới điệp viên do Julius phụ trách này, David Greenglass mang mật danh Bumblebee và Calibre, còn Ruth Greenglass mang mật danh Wasp. Trong căn hộ của L. Kvasnikov ở New York, rất nhiều lần các thông tin mật do mạng lưới điệp viên của Julius thu thập đã được chụp lại và chuyển về Trung tâm tình báo Moscow.
Sau khi điệp viên Xô viết Semyon Semyonov quay về Liên Xô năm 1944, người chịu trách nhiệm làm việc với Julius Rosenberg là điệp viên Aleksandr Feklisov.
Lưới điệp viên này hoạt động suôn sẻ trong suốt thời kì sau chiến tranh, cho đến khi phản gián Mỹ, chủ yếu dựa trên các bức điện mật đọc được nhờ dự án Venona, bắt đầu lần ra được điệp viên nguyên tử K. Fuchs. Từ lời thú tội của K. Fuchs, các đặc vụ FBI tiếp tục lần ra Raymond tức Harry Gold, người liên lạc của K. Fuchs trong thời gian chiến tranh rồi từ H. Gold, tiếp tục phát hiện ra vợ chồng David Greenglass.
+++++
Rạng sáng ngày 16-6-1950, sau khi thừa nhận với FBI rằng mình đã hoạt động gián điệp cho Liên Xô và khai tiếp về vợ cùng với người anh rể Julius Rosenberg, David Greenglass nói rằng lẽ ra mình đã rời khỏi Mỹ sau khi biết tin H. Gold đã bị bắt. Sở dĩ D. Greenglass chần chừ không chịu đi bởi vì ở thời điểm ấy vợ anh ta đang nằm trong bệnh viện với đứa con vừa mới sinh vài ngày.
D. Greenglass cũng nói với các đặc vụ thẩm vấn rằng mình sẽ không bao giờ làm chứng chống lại người anh rể Julius Rosenberg. Trong cuộc thẩm vấn này, D. Greenglass không hề đả động bất cứ một lời nào đến chị gái Ethel Rosenberg của mình có liên quan đến hoạt động gián điệp.
Lo ngại Julius Rosenberg có thể chạy trốn ngay sau khi biết tin D. Greenglass đã bị bắt nên sáng sớm ngày 16-6-1950, các đặc vụ FBI đã xộc đến căn hộ của vợ chồng Julius Rosenberg ở khu Knickerbocker tại New York. Khi bị dựng dậy vào lúc sáng sớm, Julius Rosenberg từ chối cho phép các đặc vụ FBI khám nhà nếu không có trát bắt giữ, nhưng đồng ý đến trụ sở FBI trên Quảng trường Foley để chịu thẩm vấn.
Tuy vậy, khi về tới trụ sở FBI, J. Rosenberg yêu cầu có một luật sư. Được tư vấn rằng khi ấy vẫn chưa chính thức bị bắt giữ, J. Rosenberg chào các đặc vụ rồi rời khỏi trụ sở FBI!
Nhưng cũng từ thời điểm ấy, các đặc vụ FBI theo sát từng bước chân của J. Rosenberg mặc dù đến lúc đó, FBI vẫn chưa thể xác định được chính xác vai trò của J. Rosenberg trong mạng lưới gián điệp Xô viết.
Trong khi đó thì ở Philadelphia, H. Gold tiếp tục khai với FBI những tình tiết mới liên quan đến hoạt động của vợ chồng Greenglass. Đến ngày 26-6-1950, H. Gold khẳng định với nhân viên thẩm vấn rằng trong chuyến đi hồi năm 1945, mình được quyền tiếp xúc với Ruth Greenglass trong trường hợp anh chồng David không có mặt ở Albuquerque. H. Gold cũng nói rằng Ruth có mặt trong phòng hoặc ít nhất là cũng có thể nghe được toàn bộ nội dung câu chuyện khi H. Gold trao đổi với David Greenglass về việc chuyển giao thông tin mật.
Bị thẩm vấn ở bệnh viện, Ruth Greenglass thoạt tiên nói với các đặc vụ FBI rằng mình không hề nhớ một chút gì về chuyến viếng thăm của H. Gold, rằng rất có thể David đã nhớ nhầm về mọi việc.
Cũng trong ngày 26-6-1950 ấy, nước Mỹ biết rằng vào buổi sáng hôm trước, 25-6, khoảng 90.000 quân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên được trang bị xe tăng của Liên Xô đã vượt qua vĩ tuyến 38, tiến công các lực lượng quân Hàn Quốc ở phía nam bán đảo Triều Tiên, mở màn cho cuộc Chiến tranh Triều Tiên, cuộc chiến tranh mà có những thời điểm khả năng sử dụng bom nguyên tử đã được Mỹ nghiêm túc cân nhắc và rất có thể sẽ dẫn tới Đệ tam thế chiến!
Đến ngày 28-6-1950, sau khi gặp gỡ vợ chồng David Greenglass, luật sư Roger thông báo với các đặc vụ FBI ở New York rằng các thân chủ của ông ta sẵn sàng hợp tác toàn diện, khai nhận về các hoạt động gián điệp cũng như chỉ ra các điệp viên trong lưới hoạt động của họ. Rất có thể vị luật sư này đã thuyết phục thành công vợ chồng nhà Greenglass rằng việc khai ra những đồng phạm là cách tốt nhất để họ tự bảo vệ trước tòa.
Vợ chồng Greenglass không muốn phiên tòa diễn ra ở bang New Mexico, nơi họ có những mối quan hệ từ hồi chiến tranh. Bởi vậy, ngày 12-7-1950, phiên tòa được tổ chức ở New York.
Hai ngày sau, David và Ruth bắt đầu khai với FBI. Cả hai khẳng định rằng Julius và Ethel Rosenberg đã tuyển mộ và điều khiển David hoạt động cho tình báo Xô viết. Ruth nhớ lại rằng vợ chồng nhà Rosenberg đã nói với cô về đề án tối mật ở Los Alamos, nơi David làm việc. Ruth khai vợ chồng Rosenberg nói cô phải thuyết phục chồng lấy cắp các dữ liệu mật ở Los Alamos chuyển cho Julius rồi anh rể cô chuyển cho người Nga.
David thì khai chi tiết về những gì mình đã chuyển giao cho H. Gold trong cuộc gặp hồi tháng 6-1945, nói rằng thật ra chuyến đi đó H. Gold phải thay thế cho một liên lạc viên khác tên là Anne Sidorovich, người lẽ ra phải tới New Mexico để nhận các thông tin từ David.
Hai vợ chồng Greenglass cũng lần đầu tiên khai rằng Julius đã có kế hoạch đưa họ trốn khỏi Mỹ qua ngả Mexico để sang Liên Xô. Sau khi K. Fuchs bị bắt giữ hồi tháng 2 rồi sau đó H. Gold bị thẩm vấn hồi tháng 5, Julius tỏ ra hết sức lo lắng. Ông yêu cầu vợ chồng Greenglass phải luôn sẵn sàng cho một cuộc đào thoát. Đầu tháng 6-1950, Julius đưa cho David 1.000 USD, sau đó đưa thêm 4.000 USD nữa để David chi phí đưa cả gia đình rời khỏi nước Mỹ.
David thật ra cũng rất lo sợ nhưng ở thời điểm đó, Ruth đang trong bệnh viện, còn đứa con của họ vừa mới sinh. David bèn nghĩ ra một giải pháp dung hòa, đi xe buýt tới Catskills để tìm một nơi có thể ẩn náu tạm thời cho cả gia đình. Nhưng trong suốt chuyến đi, David phát hiện ra những chiếc xe lạ bám theo mình không rời một giây nên biết chắc là đã ở trong tầm theo dõi, đành phải quay lại New York. David sau đó đã trả lại phần lớn số tiền này cho vợ chồng Rosenberg.
FBI bị sốc khi nghe David khai nhận mạng lưới của Julius Rosenberg còn có nhiều người khác ở rải rác trên khắp nước Mỹ. Nhiều người trong số họ là sinh viên ở các trường đại học, theo học các khóa mà học bổng do phía Liên Xô chỉ trả. Bản thân Julius cũng có lần nói sẽ cấp học bổng nếu David vào học ngành vật lí nguyên tử ở Học viện Công nghệ Massachusetts.
Theo lời khai của David thì những thông tin do mạng lưới của Julius thu thập được chụp lại trong các cuộn vi phim tại hai căn hộ nằm ở khu Hạ Manhattan ở New York.
Ngày 17-7-1950, dựa trên những lời khai của David, FBI tiến hành bắt giữ Julius Rosenberg vì tội đồng mưu cùng Greenglass và những người khác hoạt động gián điệp.
Đến ngày 11-8-1950, vợ của Julius, Ethel Rosenberg, cũng bị bắt giữ với tội danh tương tự.
+++++
Vụ bắt giữ rồi phiên tòa xét xử vợ chồng Rosenberg đã gây tranh cãi trong nhiều năm sau này. Nhờ dự án Venona giải mã được các bức điện của tình báo Liên Xô thời kì 1944 -1945, dựa trên các lời khai của H. Gold và vợ chồng nhà Greenglass, FBI lần lượt khám phá ra các thành viên trong mạng lưới điệp viên có sự tham gia của vợ chồng Rosenberg. Một số được báo động và kịp thời trốn thoát, một số bị bắt giữ. Bất chấp việc một số thành viên tiếp tục khai báo với FBI, vợ chồng điệp viên Rosenberg cương quyết không thừa nhận mình hoạt động gián điệp cho Liên Xô.
Phiên tòa xét xử vợ chồng Rosenberg mở ra vào ngày 6-3-1951 tại tòa án Quận Nam New York, trong bối cảnh cuộc Chiến tranh Triều Tiên diễn ra ác liệt với việc Mỹ đang phải chịu thương vong khá lớn. Đặc biệt, phiên tòa diễn ra khi không khí chống cộng đang lên đến đỉnh điểm ở nước Mỹ. Hơn một năm trước đó, Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy đã dấy lên một làn sóng chống lại những người cộng sản trên toàn nước Mỹ. Trong bài phát biểu ngày 9-2-1950 tại Wheeling, Tây Virginia, vị thượng nghị sĩ này khẳng định rằng những người cộng sản đã xâm nhập vào mọi ngõ ngách, mọi cơ quan chính quyền Mỹ. Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy tuyên bố chỉ riêng trong Bộ Ngoại giao Mỹ, ông ta đã có trong tay danh sách 205 điệp viên cộng sản, những người đã “gây ảnh hưởng” đến chính sách đối ngoại của Mỹ! Tâm lí lo ngại về sự tồn tại của những “kẻ thù bên trong” ám ảnh nhiều người Mỹ trong thời gian đó.
David Greenglass là một trong những nhân chứng chủ chốt tại phiên tòa.
Trong lời khai trước tòa, David kể về công việc của mình ở Los Alamos, nói anh ta đã bị vợ chồng người chị là Julius và Ethel móc nối tuyển mộ làm gián điệp. Anh ta nói chị gái mình là Ethel đã cùng với anh rể Julius đề nghị cung cấp những bí mật cho Liên Xô thông qua người liên lạc là H. Gold.
Cả người vợ của David là Ruth Greenglass cũng ra tòa làm chứng chống lại anh chị mình với những lời khai còn chi tiết hơn. Ruth nhấn mạnh rằng chính chị gái Ethel đã kiên nhẫn thuyết phục mình yêu cầu chồng đánh cắp tài liệu mật ở Los Alamos để cung cấp cho phía Liên Xô và nhiều lần chứng kiến Ethel đánh máy các tài liệu mật này.
Bởi vậy, Ethel bị coi là đồng phạm không thể chối cãi của chồng trong vụ án gián điệp Rosenberg. Những lời khai trước tòa của vợ chồng David và Ruth Greenglass đã trở thành án tử đối với vợ chồng điệp viên Rosenberg.
H. Gold cũng dự phiên tòa với tư cách một nhân chứng. Khi bắt đầu khai, H. Gold thông báo với bồi thẩm đoàn rằng mình trước đấy đã bị kết án 30 năm tù vì tội làm gián điệp cho phía Xô viết. H. Gold khai trước tòa với một thái độ vô cảm và khá rành mạch. H. Gold kể lại chi tiết về quá trình làm việc trong nhiều năm với điệp viên Xô viết Anatoly Yakovlev. H. Gold mô tả Yakovlev dã ra lệnh bắt liên lạc với David Greenglass ở Albuquerque bằng câu: “Julius cử tôi đến!” cũng như đưa cho David một mảnh của chiếc hộp bìa hiệu Jell-O để nhận ra nhau.
H. Gold thuật lại là David Greenglass đã hẹn mình đến chiều quay trở lại khiến cho H. Gold phải tìm đến khách sạn Hilton để chợp mắt vài tiếng trong thời gian chờ đợi.
Để củng cố cho lời khai này, phía công tố trình ra một bằng chứng là tấm thẻ đăng kí vào ở khách sạn Hilton có chữ kí của H. Gold vào ngày 3-6-1945, nhưng mặt sau đóng dấu ngày 4-6-1945. Phía công tố nói với bên biện hộ rằng sẵn sàng đưa người quản lí của khách sạn Hilton là Fletcher Brumit từ Albuquerque tới tòa để làm chứng, nhưng phía biện hộ cho vợ chồng Rosenberg nói rằng không cần thiết.
Sau này, những lời chỉ trích vụ xử án vợ chồng Rosenberg nhằm vào chính sự khác biệt về thời gian trên tấm thẻ này, cho rằng đó là bằng chứng về sự giả mạo do FBI dựng lên.
Trước tòa, vợ chồng Rosenberg cương quyết phủ nhận mọi lời buộc tội làm gián điệp do bên công tố đưa ra. Bồi thẩm đoàn 12 người, sau nhiều phiên hội ý căng thẳng, cuối cùng đã đưa ra phán quyết là cả vợ chồng Rosenberg và Morton Sobell, một điệp viên khác trong mạng lưới cũng bị phát hiện và đưa ra xử trong vụ án này, là “có tội”.
Đến ngày 5-4-1951, chánh án Irving Kaufman chính thức mở phiên tuyên án những người bị xét xử tội làm gián điệp trong vụ án bi thảm này. Trước tòa, Chánh án I. Kaufman tuyên bố rằng tội lỗi của những người bị xét xử “còn tệ hơn là sát nhân”. Chánh án I. Kaufman nói những kẻ âm mưu đã chuyển bom A vào tay người Nga “nhiều năm trước khi các nhà khoa học xuất chúng của chúng ta (Mỹ) dự báo rằng phía Nga có thể có một quả bom hoàn chỉnh”. Theo Chánh án I. Kaufman, chính điều này đã là “nguyên nhân” dẫn tới việc những người cộng sản gây chiến ở bán đảo Triều Tiên làm 50.000 người Mỹ thương vong. “Sự phản bội của các người”, Chánh án I. Kaufman kết thúc lời kết án của mình, “không nghi ngờ gì nữa đã phá hoại tiến trình lịch sử, gây tổn hại đến đất nước chúng ta (Mỹ)”.
Chánh án I. Kaufman tuyên án cả Julius và Ethel Rosenberg phải chịu tử hình trên ghế điện trong tuần lễ từ 21-5-1951; Morton Sobell chịu án 30 năm tù không ân xá.
Ngày hôm sau, chánh án I. Kaufman kết án David Greenglass, người đã chịu nhận tội trước khi phiên tòa diễn ra, 15 năm tù giam.
Trong suốt thời gian dài sau đó, một làn sóng đòi xem xét lại bản án nghiệt ngã đối với vợ chồng điệp viên Rosenberg dấy lên khắp nước Mỹ và cả trên thế giới. Dĩ nhiên, cơ quan tình báo Liên Xô cũng tìm mọi cách thúc đẩy làn sóng này nhằm tìm kiếm cơ hội cứu hai điệp viên của mình thoát khỏi án tử. Các ủy ban đòi xem xét lại bản án được lập ra ở 24 quốc gia. Nhà bác học lừng danh Albert Einstein, người mà lí thuyết vật lí mang tên ông đóng vai trò nền tảng trong việc chế tạo ra bom nguyên tử, đã viết một bức thư ngỏ, trong đó nói rằng đạo đức của nước Mỹ sẽ được vãn hồi nếu để cho vợ chồng nhà khoa học Rosenberg được sống.
Làn sóng phản đối cùng áp lực mạnh mẽ từ công luận khiến việc thi hành án tử vợ chồng điệp viên Rosenberg được hoãn lại. Tổng thống Mỹ H. Truman quyết định rằng sẽ chuyển gánh nặng xử lí vụ án này cho người kế nhiệm mình ở Nhà Trắng sau cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào cuối năm 1952.
Bất chấp tất cả những nỗ lực nhằm cứu sống vợ chồng điệp viên Rosenberg, ngày 11-2-1953, tân Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower bác đơn xin ân xá cho vợ chồng Rosenberg.
Làn sóng đòi xét lại án tử cho vợ chồng điệp viên Rosenberg cùng những tranh cãi pháp lí trong hệ thống tư pháp Mỹ cũng chỉ trì hoãn việc thực hiện án tử hình đối với hai người cho đến tháng 6-1953.
Đầu giờ tối ngày 19-6-1953, khi gặp mặt lần cuối cùng với Trợ lí Giám đốc FBI, đặc vụ Al Belmont, ở nhà tù Sing Sing, vợ chồng điệp viên Rosenberg vẫn cương quyết từ chối thú tội để cứu mạng mình.
Julius Rosenberg lên ghế điện trước, chết lúc 8 giờ 05 phút tối; 10 phút sau, Ethel Rosenberg cũng đi theo chồng, chết trên ghế điện vào lúc 8 giờ 15 phút tối 19-6-1953.
+++++
Các vụ bắt giữ điệp viên của Liên Xô diễn ra trong quãng thời gian đầu thập kỉ 50 tất nhiên ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động lưới điệp viên của W. Fisher trên đất Mỹ. Năm 1950, khi biết vợ chồng Rosenberg bị FBI bắt giữ, ngay lập tức, vợ chồng Cohen được báo động và kịp thời thoát sang Mexico, được hai điệp viên Xô viết là thành viên Đảng Cộng sản Tây Ban Nha có biệt danh Orel và Fish che giấu, trước khi an toàn quay về Moscow.
Việc vợ chồng điệp viên Rosenberg cương quyết không khai đã khiến FBI không thể lần tới W. Fisher. Tuy nhiên, do các nguyên tắc bảo đảm an toàn trong hoạt động bất hợp pháp trên lãnh thổ kẻ thù, bản thân W. Fisher cũng phải tạm thời nằm im một thời gian trước làn sóng “săn lùng gián điệp” ở Mỹ do Thượng nghị sĩ McCarthy khởi xướng. Nhưng chính chủ nghĩa chống cộng cực đoan của McCarthy khi ấy lại cho thấy tầm quan trọng của việc duy trì và mở rộng lưới điệp viên bất hợp pháp của Liên Xô trên đất Mỹ. Bởi các điệp viên hoạt động hợp pháp dưới vỏ bọc ngoại giao hay trong các cơ sở thương mại của Liên Xô đều bị FBI theo sát như hình với bóng, không cựa quậy gì được.
Trong khi đó, các điệp viên bất hợp pháp có được lợi thế không nằm trong tầm giám sát của FBI nên có thể tự do thực hiện các chiến dịch bí mật, dĩ nhiên phải trong điều kiện chưa bị phát hiện. Thậm chí Trung tâm tình báo Moscow đã cân nhắc một cách nghiêm túc khả năng trong trường hợp khủng hoảng hay chiến tranh nổ ra thì mạng lưới điệp viên bất hợp pháp sẽ đảm nhiệm tiến hành toàn bộ các chiến dịch ở Mỹ, bởi gần như chắc chắn là khi ấy, các phái bộ Liên Xô hoặc điệp viên hợp pháp sẽ bị “nhổ” ra khỏi địa bàn lãnh thổ Mỹ.
Như một con sư tử cô độc với hàm răng sắc nhọn, người điệp viên Xô viết tiếp tục âm thầm hoạt động. Ngay cả án tử hình của cặp vợ chồng điệp viên Rosenberg năm 1953 cũng không ngăn được W. Fisher làm tiếp công việc của mình.
Để tăng cường nhân sự cho mạng lưới điệp viên hoạt động bất hợp pháp ở Mỹ, Trung tâm Moscow quyết định bổ sung thêm người cho W. Fisher. Bắt đầu từ mùa hè năm 1954, W. Fisher có thêm một trợ thủ, điệp viên Reino Häyhänen, người tới Mỹ từ năm 1952 trên con tàu Queen Mary.
Lai lịch của R. Häyhänen điển hình cho một điệp viên Xô viết chuyên nghiệp. R. Häyhänen xuất thân từ một làng nhỏ ở gần Leningrad, có cha mẹ là công dân Xô viết gốc Phần Lan, bởi thế có thể nói được tiếng Phần Lan. Trong thời kì Chiến tranh Liên Xô - Phần Lan, R. Häyhänen làm phiên dịch ở vùng bán đảo Karelia. Sau đó, anh ta chuyển tới Estonia để học tiếng Anh và năm 1948, được gửi tới Tallinn để đào tạo tình báo.
Một năm sau đó, R. Häyhänen được một phóng viên của hãng thông tấn Tass đưa sang Helsinki và mất hai năm trời để tạo vỏ bọc dưới cái tên Eugene Maki, con trai của một người Mỹ gốc Phần Lan có quan điểm ôn hòa. Đây là giai đoạn “tạo nền” của chiến dịch, thiết lập nhân thân và cácgiấy tờ cần thiết trước khi tung điệp viên vào đất địch, là phần chủ yếu của chiến dịch. R. Häyhänen được “tạo nền” qua kênh Phần Lan và để tạo một vỏ bọc chắc chắn hơn, anh ta cưới một cô gái 27 tuổi tóc vàng ở địa phương tên là Hannah Kurikka, mặc dù đã có vợ và con trai ở Nga.
Năm 1951, R. Häyhänen đến sứ quán Mỹ ở Helsinki, đưa ra một giấy khai sinh thật chứng minh anh ta là Eugene N. Maki, sinh ngày 30- 5-1919, ở Enaville, bang Idaho và kí vào một bản khai thông thường khẳng định rằng anh ta chưa bao giờ tham gia quân đội Phần Lan cũng như đi bầu trong một cuộc bầu cử nào ở Phần Lan. Đó là hai điều có thể khiến anh ta không được công nhận là công dân Mỹ. Sau khi đơn xin hộ chiếu Mỹ được chấp nhận, R. Häyhänen quay về Moscow để nhận nhiệm vụ chính: Tới New York cùng với cô vợ Hannah, người đã ở Moscow trước anh ta 6 tháng.
Sử dụng các giấy tờ thật, R. Häyhänen, lúc này mang mật danh Vik, tới Anh năm 1952 và đón tàu Queen Mary từ cảng Southampton vượt Đại Tây Dương tới New York ngày 20-10-1952. Ngay sau khi tới nơi, vợ chồng R. Häyhänen thuê một căn hộ ở Brooklyn; tới tháng 3-1953, họ mua một căn nhà ở Peekskill, New York.
Trong hai năm đầu tiên trên đất Mỹ, R. Häyhänen là một điệp viên hoạt động độc lập, chỉ một, hai lần có cuộc gặp bí mật ở nhà ga tàu điện ngầm Prospect Park với sĩ quan KGB tên là Mikhail N. Svirin, người mà anh ta đã từng tình cờ gặp ở Moscow khi mới bắt đầu sự nghiệp. Người này là sĩ quan KGB chỉ huy R. Häyhänen trong thời gian đó.
Vì sao một điệp viên như R. Häyhänen, với đủ mọi thói hư tật xấu cũng như phong cách bất cẩn khi hoạt động bí mật, mà vẫn được Trung tâm tình báo Moscow tin dùng để trở thành nhân vật chính ở một trong những vụ án gián điệp kinh thiên động địa của thế kỉ 20, mãi mãi vẫn là một bí ẩn. Rất có thể là ở thời điểm đó, do đã quá mất công đào tạo cũng như “tạo nền” cho hoạt động bí mật của R. Häyhänen nên lãnh đạo tình báo Xô viết không muốn bỏ phí việc sử dụng điệp viên này. Điều đó đã dẫn tới những hệ lụy nặng nề cho hoạt động của điệp báo Xô viết trên lãnh thổ Mỹ.
Tháng 10-1952, một tuần sau khi đặt chân lên đất Mỹ, đúng như được chỉ dẫn từ trước, R. Häyhänen tiến hành liên lạc với nhân mối có sẵn ở đây bằng cách gắn một chiếc đinh ghim màu trắng lên thân một cột tín hiệu giao thông nằm ở lối vào Công viên Trung tâm New York trên đường 79. Vì cột giao thông này cũng được sơn màu trắng, tiệp với màu của chiếc đinh ghim nên phải có ai đó cố gắng nhìn thật kĩ mới nhận ra.
Sáu tuần sau, đầu tháng 12-1952, R. Häyhänen nhận được tín hiệu trả lời, cho biết điệp viên phụ trách địa bàn New York đã nhận biết tín hiệu liên lạc bằng chiếc đinh ghim của anh ta. Tín hiệu trả lời này là một đồng 5 xu rỗng có hình Tổng thống Jefferson phát hành năm 1948, đặt ở một hộp thư chết được quy định từ trước cho R. Häyhänen tới lấy. Điệp viên phụ trách địa bàn New York này không phải ai khác chính là Abel.
Có tổng cộng ba hộp thư chết được Abel sử dụng để trao đổi thông tin với R. Häyhänen. Hộp thư chết số 1 là cái hốc nhỏ trên một bức tường ở khu Bronx. Hộp số 2 nằm trên một chiếc cầu dành cho người đi bộ trong Công viên Trung tâm New York. Hộp số 3 nằm dưới chân một cột đèn ở Công viên Fort Tryon, phía bắc cầu George Washington.
Để báo cho R. Häyhänen biết có thông tin đặt ở hộp thư chết số mấy, Abel sẽ dùng phấn vạch số vạch tương ứng lên bức tường ở ga xe điện ngầm nằm trên đường 80 và khu Tây Công viên Trung tâm New York.
Nhận được đồng 5 xu từ hộp thư chết nhưng không thèm để ý xem đồng xu này đặc biệt thế nào, R. Häyhänen có thể đã đánh rơi hoặc thậm chí dùng đồng xu này để mua một món đồ lặt vặt nào đó. Vậy là đồng xu đặc biệt này trôi nổi ở New York trong suốt 7 tháng trời, qua tay nhiều người trước khi đến chỗ một căn hộ ở khu Brooklyn. Đây là căn hộ mà hai nữ giáo viên phổ thông là Donnelly và Ash thuê chung ở New York.
Cuối giờ chiều ngày thứ sáu, 22-6-1953, cậu bé giao báo 13 tuổi tên là James Bozart, thường xuyên giao tờ Brooklyn Eagle cho chủ nhân các căn hộ ở khu vực Brooklyn, được hai cô giáo Donnelly và Ash cho thêm tiền boa là 25 xu, gồm hai đồng 10 xu và một đồng 5 xu.
Không để ý đến khoản tiền boa, khi đi xuống từ cầu thang bên ngoài căn hộ của hai cô giáo, James Bozart bất ngờ bị trượt chân và đánh rơi đồng 5 xu. Trước sự ngạc nhiên của cậu bé, đồng xu tách ra làm đôi. Cậu bé tò mò cầm xem và nhận thấy bên trong nó còn có một vật gì nữa.
Mới ba ngày trước đấy, cặp vợ chồng gián điệp Rosenberg vừa bị tử hình trên ghế điện ở nhà tù Sing Sing. Thượng nghị sĩ McCarthy đã thành công trong việc gieo rắc vào đầu óc nhiều người Mỹ về âm mưu của những gián điệp cộng sản đang len lỏi trong mọi ngõ ngách để phá hoại nước Mỹ.
J. Bozart biết một người bạn gái cùng học phổ thông với mình tên là Carolyn Lewind có cha làm nhân viên Sở cảnh sát New York. Cậu mang đồng xu tới nhà Carolyn nhưng hôm đó cha của cô bé không có nhà. Thế nên cậu mang nó về nhà, đưa cho cha mình xem nhưng cả hai đều không biết cụ thể nó là cái gì.
Ngày hôm sau, Lewind, cha của Carolyn về nhà, được vợ thông báo là tối hôm trước cậu bạn trai của con gái có mang tới một vật gì đó rất kì dị, dường như là một bức điện tín bí mật trên một tấm vi phim. Ngay lập tức, viên cảnh sát gọi thêm một đồng nghiệp nữa tới nhà J. Bozart để lấy đồng 5 xu cùng với vật thể chứa bên trong nó.
Từ Sở Cảnh sát New York, đồng xu rỗng cùng với tấm phim bên trong được chuyển tới Văn phòng FBI New York. Đó là một tổ hợp gồm các hàng có 5 chữ số được sắp xếp theo quy luật có vẻ ngẫu nhiên, chắc chắn là mã hóa một thông điệp nào đó mà ở thời điểm ấy, FBI không tài nào đọc được. Hai cô giáo Donnelly và Ash bị FBI thẩm vấn cũng chỉ nói rằng rất có thể họ đã nhận đồng xu lẻ trả lại ở siêu thị hoặc từ phòng bán vé tàu điện ngầm. Sau khi thẩm tra kĩ lưỡng, FBI loại hai người ra khỏi diện nghi ngờ.
+++++
Một cách ngẫu nhiên, vào tháng 8-1954, R. Häyhänen mới trực tiếp gặp W. Fisher. Trong mắt R. Häyhänen, W. Fisher là điệp viên KGB phụ trách địa bàn New York, một người rõ ràng có trình độ nghề nghiệp rất cao. Lẽ ra, R. Häyhänen không được trực tiếp gặp điệp viên KGB phụ trách địa bàn, nhưng vì một điệp viên KGB khác có mật danh là Robert, chính là người được cử sang Mỹ để làm liên lạc viên cho W. Fisher, đã bất ngờ chết trong một vụ đắm tàu ở biển Baltic, thế nên R. Häyhänen được cử thay cho Robert. Trong hoạt động điệp báo, đôi khi tiến trình sự việc bị tác động bởi những bất ngờ ngẫu nhiên như thế.
Cuộc gặp định mệnh giữa R. Häyhänen với W. Fisher diễn ra tại phòng hút thuốc bên dưới rạp chiếu phim RKO Keith ở khu Queen của New York. Như được chỉ dẫn từ trước, R. Häyhänen đeo cà vạt màu xanh có sọc và phì phèo một tẩu thuốc. Vừa mới gặp, chưa kịp nói gì, người kia đã nói với R. Häyhänen: “Không cần mật khẩu. Tôi biết rõ anh là ai. Hãy đi ra bên ngoài nào”.
Hai người chuyển đến ngồi ở một quán cà phê cách đó ba khối nhà. R. Häyhänen chỉ biết người mình gặp có mật danh là Mark. Trong cuộc gặp này, R. Häyhänen nhận được những mệnh lệnh đầu tiên từ người chỉ huy của mình, phải mở một cửa hàng ảnh ở Newark, New Jersey, phù hợp với vỏ bọc của anh ta. Đó sẽ là nơi các điệp viên trong mạng lưới sử dụng làm địa điểm liên lạc. Mark quy định hai người sẽ gặp nhau mỗi tuần một lần.
Trong hai năm rưỡi sau đó, hai người đều đặn gặp nhau. Trong một lần gặp, Mark chuyền cho R. Häyhänen một chiếc đài thu sóng ngắn. Lần khác là một bảng khóa đề mã hóa điện mật. Mark cũng đưa cho R. Häyhänen 200 USD để tìm mua một giấy thông hành giả. Mark huấn luyện lại cho R. Häyhänen cách đánh tín hiệu morse, chụp ảnh cũng như đưa vào vi phim các tài liệu thu thập được. Hai người còn cùng nhau đến khu Poughkeepsie ở New York để tìm vị trí thích hợp đặt một máy phát sóng ngắn.
Sau một thời gian, Mark chán nản nhận ra R. Häyhänen hoàn toàn không phải là người chăm chỉ, có ý định học hỏi nghiệp vụ một cách nghiêm túc.
Đã hai lần, Mark phải lôi R. Häyhänen tới căn nhà kho mà mình thuê gần xưởng vẽ trên phố Fulton để huấn luyện cho người điệp viên lười biếng các kĩ năng sử dụng điện đài và máy ảnh. Những lần tới nhà kho này sẽ để lại hậu họa cho điệp viên W. Fisher.
Từ mùa hè năm 1954, R. Häyhänen chịu trách nhiệm chuyển giao những tài liệu do một điệp viên Xô viết làm việc trong Ban thư kí của Liên Hợp Quốc có mật danh Orizo, vốn là một nhà kinh tế học người Pháp, tới chỗ một hộp thư chết để W. Fisher tới lấy đi.
Một nhiệm vụ khác là vào mùa hè năm 1955, R. Häyhänen phải tới khu công viên Núi Gấu để lấy khoản tiền 5.000 USD chôn tại một khu vực hẻo lánh ở đấy. W. Fisher chỉ dẫn cho R. Häyhänen tới lấy rồi chuyển khoản tiền này cho Helen Sobell, vợ của Morton Sobell, người bị phía Mỹ bắt trong đường dây gián điệp nguyên tử của vợ chồng Rosenberg và bị kết án 30 năm tù. Sau đó, R. Häyhänen báo cáo với W. Fisher rằng anh ta đã trao khoản tiền đó cho vợ của người điệp viên bị kết án tù, còn dặn dò chị ta hãy chi tiêu cẩn thận; trên thực tế, R. Häyhänen chẳng hề trao số tiền mà ỉm đi, giữ lấy cho riêng mình để đóng tiền thế chấp ngôi nhà mà anh ta thuê từ mùa thu năm 1955.
Không biết về thói tắt mắt của R. Häyhänen, W. Fisher cũng không biết luôn về tật nghiện rượu của người trợ thủ. Mùa đông đầu tiên sau khi tới Mỹ, R. Häyhänen bắt đầu nhận được khoản tiền 500 USD hằng tháng. R. Häyhänen sử dụng hầu hết số tiền lương này cùng với khoản tiền 4.000 USD được cấp để tạo vỏ bọc vào việc... uống rượu.
Ngày 24-5-1956, lúc 8 rưỡi sáng, cảnh sát Mỹ ở Newark, New Jersey nhận được một cú điện thoại khẩn từ số nhà 806 trên phố Bergen ở Peekskill trong thung lũng Hudson, cách Manhattan chừng 1 giờ rưỡi xe chạy. Những người hàng xóm trong khu nhà ba tầng này gọi cảnh sát đến căn hộ của “vợ chồng Maki” vì có người bị thương. Tới nơi, họ thấy cả hai vợ chồng chủ nhà say mèm, riêng anh chồng bị một con dao cắm vào chân mà anh ta nói là do bị “tai nạn”. Người đàn ông có giọng nói của vùng Scandinavia được đưa tới bệnh viện, khâu ba mũi chỗ vết thương bị dao đâm. Cuối năm đó, R. Häyhänen tiếp tục bị thu bằng lái do lái xe trong tình trạng say xỉn.
Đó không phải là cuộc sống thích hợp với một điệp viên hoạt động bí mật trên đất địch. Tình trạng này khiến W. Fisher phải báo cáo về Trung tâm và một lệnh triệu hồi được gửi tới, yêu cầu R. Häyhänen phải gấp rút quay về Moscow trong tháng 1-1957.
Đến lúc ấy, J. Stalin chết đã được bốn năm. Tuy nhiên, có vẻ như những trại cải tạo lao động Gulag vẫn còn đủ chỗ cho các điệp viên vô kỉ luật hoặc phản bội. R. Häyhänen biết rõ điều đó. Lo ngại sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc, R. Häyhänen tìm mọi cớ để trì hoãn quay về Liên Xô. Anh ta bịa ra với W. Fisher là phát hiện ra ba người đàn ông bám theo, sau đó lại nói rằng bị FBI ngăn cản không cho lên tàu Queen Mary, là nơi anh ta đã đặt sẵn chỗ để quay về châu Âu.
Tin vào lời R. Häyhänen, W. Fisher cho rằng các đặc vụ FBI đang theo sát cộng sự của mình. Bởi thế nên khi họ gặp nhau lần cuối ở công viên Fort Tryon, W. Fisher đã nấp kín trong một bụi cây ở gần điểm hẹn để thận trọng quan sát xem liệu R. Häyhänen có bị bám theo không rồi mới ra mặt gặp gỡ. Dĩ nhiên là W. Fisher không phát hiện ra ai bởi thực tế là không có bất cứ một đặc vụ nào theo dõi R. Häyhänen ở thời điểm đó.
Cảm thấy tình thế trở nên nguy hiểm, W. Fisher ra lệnh cho R. Häyhänen phải ngay lập tức rời Mỹ để thoát khỏi sự giám sát của FBI, đồng thời đưa cho anh ta 200 USD làm lộ phí đi đường. Theo chỉ dẫn của W. Fisher, R. Häyhänen trước hết phải tới Pháp, sau đó quay về Moscow qua ngả Tiệp Khắc.
Ngày 24-4-1957, R. Häyhänen lên tàu La Liberté tới cảng Le Havre của Pháp, sau đó đi Paris.
Tới Paris ngày 1-5-1957, hôm sau, theo chỉ dẫn của W. Fisher, R. Häyhänen gọi điện thoại tới một số đặc biệt, KLE-3341. Khi người bên kia nhấc ống nghe, R. Häyhänen hỏi: “Liệu tôi có thể gửi qua văn phòng của ông hai bưu kiện tới Liên bang Xô viết mà không cần phải qua Công ty Mori hay không?”.
Bằng cách đó, R. Häyhänen bắt liên lạc được với điệp viên KGB ở đây và nhận thêm 200 USD nữa để hoàn thành nốt chặng đường từ Paris về Moscow.
Bốn ngày sau, 6-5-1957, thay vì quay về Moscow, R. Häyhänen quyết định dào thoát. Khi bước vào sứ quán Mỹ trên đại lộ Gabriel ở thủ đô Paris xin gặp đại diện của CIA, miệng R. Häyhänen vẫn sặc mùi rượu.
Hôm đó, Jim Hunt, Trưởng trạm CIA tại Paris dang ở nước ngoài vì con trai ông ta mới chết. Bởi vậy R. Häyhänen được đưa tới gặp Charlie Grey, một điệp viên CIA làm việc lâu năm trong sứ quán ở Paris từ năm 1944, thường dành phần lớn thời gian của mình la cà ở câu lạc bộ danh tiếng Traveller.
R. Häyhänen tự giới thiệu: “Tôi là trung tá thuộc cơ quan tình báo Liên Xô. Trong 5 năm qua, tôi hoạt động trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Nay tôi cần các ông giúp đỡ!”.
Viên trung tá KGB phản bội nói với C. Grey rằng anh ta tình nguyện hợp tác với phản gián Mỹ để đổi lại việc được tị nạn ở Hoa Kỳ. Để làm tin, R. Häyhänen đưa ra một đồng xu 5 mác Phần Lan bị rỗng ruột, bên trong có thể giấu được những tấm phim âm bản cực mỏng. Mặc dù đó chưa hoàn toàn là một chứng cứ đáng tin cậy nhưng CIA đã khuyến khích việc đào tẩu của R. Häyhänen. C. Grey bố trí cho R. Häyhänen một phòng trong khu nhà của mình ở ngoại ô Paris. Tại đó, trong 3 ngày, các bác sĩ ở sứ quán Mỹ đã tiến hành chữa trị bệnh nghiện rượu nặng của R. Häyhänen để chuẩn bị cho chuyến đi của anh ta tới Washington.
Ngày 11-5-1957, sau một chuyến bay vượt Đại Tây Dương trên máy bay của hãng TWA với sự hộ tống của điệp viên CIA John Robert, R. Häyhänen về tới New York. Trước đó, vào cuối mỗi ngày, những lời khai với điệp viên CIA ở Paris của R. Häyhänen đều được Trạm CIA tại Paris mã hóa, chuyển về Tổng hành dinh CIA tại Washington, tới tay Giám đốc CIA Allen Dulles.
Khi biết tin về chuyến bay vượt đại dương của R. Häyhänen, Allen Dulles bay xuống New York để đích thân đón tiếp người điệp viên Xô viết đào thoát. Giám đốc CIA muốn chứng tỏ rằng chính CIA đã phát hiện ra R. Häyhänen và từ người này có thể tìm ra các điệp viên Xô viết nằm vùng.
Do chức năng nhiệm vụ các cơ quan bí mật của Mỹ, kể từ khi R. Häyhänen đặt chân xuống New York thì mọi động thái liên quan đến quá trình điều tra sẽ phải chuyển giao cho FBI, cơ quan cũng đang rất cần thông tin để giúp lần ra lưới điệp viên Liên Xô đang hoạt động trên đất Mỹ.
+++++

Trong các ngày 12,14,15,16,17, 20 và 22-5-1957, tại một khách sạn do FBI bố trí ở New York, R. Häyhänen liên tục bị FBI thẩm vấn. Trong những bản khai đầu tiên, R. Häyhänen cho biết người giao nhiệm vụ cho anh ta ở Moscow tên là Vitali G. Pavlov, một sĩ quan KGB đã đóng một vai trò quan trọng trong vụ đào thoát của I. Gouzenko ở Canada vài năm trước đó. V. Pavlov đã hoạt động ở Canberra từ tháng 10-1952 đến tháng 2-1953. Theo R. Häyhänen thì V. Pavlov được cử làm Phó Ban KGB phụ trách địa bàn Mỹ và trực tiếp điều hành anh ta. Chỉ huy cao nhất là Đại tá Aleksandr Korotkov, một người đứng đầu lâu năm của Tuyến N, phụ trách các hoạt động tình báo nước ngoài hay còn được biết dưới tên gọi là Ban K thuộc Tổng cục 1 Ủy ban An ninh Quốc gia Liên Xô, khi ấy đã được đổi tên thành KGB. A. Korotkov từng đóng vai trò trong việc chỉ huy điệp viên Boris Morrov, một nhà sản xuất phim ở Hollywood. Tên tuổi của ông cũng được các điệp viên của KGB đào thoát là Ilya Dzhirkvelov và Vladimir Petrov nhắc tới.
R. Häyhänen khai rằng trong 5 năm hoạt động ở Hoa Kỳ đã gửi về Moscow khoảng 30 bức điện mật và nhận được khoảng 25 bức. Rất tình cờ là bức điện đầu tiên Trung tâm Moscow gửi cho anh ta lại có trong tấm vi phim giấu bên trong đồng 5 xu rỗng có hình Tổng thống Jefferson phát hành năm 1948, từng bị FBI thu được bốn năm trước đó.
Mặc dù có được tấm vi phim này nhưng ở thời điểm đó, FBI không tài nào giải mã được. R. Häyhänen tiết lộ mật mã riêng của anh ta và giải thích quy luật hình thành các nhóm 5 chữ số bằng cách trừ đi 4 số cơ bản: Số chữ số đại diện cho 8 chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Nga tạo thành chữ Snegopad, có nghĩa là “tuyết lở”; số chỉ ngày 3-8-1945, ngày kết thúc cuộc Chiến tranh Nga - Nhật; 20 từ đầu tiên của một bài dân ca Nga; và cuối cùng là số 13, con số của chính Häyhänen.
Dựa trên những chỉ dẫn này, bản mật mã ghi vào vi phim giấu trong đồng xu rỗng được FBI giải mã. Đó là lời chào mừng, một số chỉ dẫn về việc cung cấp tài chính cho hoạt động kinh doanh tạo vỏ bọc của Häyhänen, một lời nhắc nhở rằng sẽ nguy hiểm nếu như chuyển cho R. Häyhänen máy phát điện tín Gamma quá sớm và một số quy tắc về bảo đảm an ninh.
Bức điện này Moscow gửi cho R. Häyhänen 6 tuần sau khi anh ta tới Hoa Kỳ:
“Chúng tôi chào mừng anh đã tới an toàn. Chúng tôi đã nhận được bức thư của anh, tới địa chỉ V, lập lại V, và coi đó là bức thư số 1. Về mặt tổ chức, chúng tôi được chỉ thị chuyển cho anh 3.000 USD bằng tiền địa phương. Hãy tham khảo ý kiến chúng tôi trước khi đầu tư vào bất cứ lĩnh vực kinh doanh nào, thận trọng suy xét tính chất của công việc kinh doanh đó. Theo yêu cầu của anh, chúng tôi chuyển cho anh công thức thuốc tráng phim cùng với thư của mẹ anh. Sẽ là quá sớm nếu chuyển cho anh máy phát Gamma. Hãy mã hóa tất cả các bức thư, cố gắng viết ngắn, còn nếu dài thì có thể truyền xen kẽ. Mọi số liệu về bản thân, nơi làm việc, địa chỉ... tuyệt đối không được đưa vào trong nội dung các bức điện. Chuyển các bức điện xen kẽ nhau một cách độc lập. Cái gói đã được chuyển cho vợ anh. Gia đình anh vẫn khỏe. Chúng tôi chúc anh thành công. Gửi lời chào nồng nhiệt từ các bạn của anh. 3-12”.
Trong tháng 5-1957, R. Häyhänen hoàn thành bản cung khai dài 37 trang và giao nộp nó cho FBI, trong đó anh ta kể lại một số công việc mà mình đã làm. R. Häyhänen nhớ lại rằng vào năm 1953, tại Hoboken, anh ta đã gặp liên lạc viên, một thủy thủ Phần Lan có biệt danh là Asko. Người này đã trả tiền cho một số tin tức mà R. Häyhänen cung cấp. R. Häyhänen cũng khai rằng chỉ huy của mình, điệp viên phụ trách địa bàn New York, đã giao cho anh ta 3 nhiệm vụ, trong đó có một vụ khiến FBI đặc biệt quan tâm. Đó là việc Moscow yêu cầu R. Häyhänen lần theo dấu vết của 3 người: Một kĩ sư tàu biển tên là Olaf Carlson có lẽ sống ở Boston; một người có lẽ đã được KGB tuyển mộ sống ở Arleigh, New Jersey; và cuối cùng là Thượng sĩ Roy Rhodes.
Chỉ với người cuối cùng, R. Häyhänen mới đạt được chút ít kết quả. Anh ta đã tìm thấy chị gái của R. Rhodes đang sống ở Salida, Colorado, và qua cô ta, moi được địa chỉ của R. Rhodes. Những cuộc điều tra của FBI sau đó cho thấy R. Rhodes, người từng làm việc ở sứ quán Mỹ tại Moscow từ 1951 đến 1953 trong vai trò thợ cơ khí và lái xe, đã từng hợp tác với KGB.
Tại căn hộ của R. Häyhänen ở Peekskill, trong một cái chốt cửa bằng thép rỗng ruột, FBI tìm thấy một bản chỉ thị làm bằng chứng liên quan đến R. Rhodes:
“Roy A. Rhodes (mật danh Quebec) sinh năm 1917 ở Oiltown, bang Oklahoma. Anh ta là một thượng sĩ thuộc biên chế của Bộ Chiến tranh và là một cựu nhân viên làm việc trong Cơ quan tùy viên quân sự Mỹ ở nước ta (Liên Xô). Anh ta là Trưởng Xưởng sửa chữa ô tô của sứ quán. Tháng 1-1952, tại nước ta, anh ta đã được tuyển mộ và rời nước ta năm 1953. Anh ta được tuyển mộ trên cơ sở trao đổi vật chất. Các thông tin do anh ta cung cấp đều do tự tay anh ta viết lấy. Anh ta từng được học mã hóa ở trong quân đội trước khi vào làm ở sứ quán, nhưng ở sứ quán, anh ta không làm việc như một nhân viên mã hóa. Sau khi rời nước ta, Rhodes được cử tới làm việc tại Trường Thông tin thuộc Cục Phản gián Quân đội ở thành phố San Luisobispo, bang California. Anh ta được đào tạo làm nhân viên cơ khí cho các máy mã hóa. Anh ta hoàn toàn đồng ý tiếp tục cộng tác với chúng ta tại Mỹ hoặc ở bất cứ một nước thứ ba nào khác. Đã thỏa thuận là anh ta sẽ viết một bức thư đặc biệt gửi tới sứ quán chúng ta, nhưng cho tới năm ngoái, chúng tôi vẫn không nhận được gì. Gần đây, được biết Rhodes đang ở tại Red Bank, bang New Jersey, nơi anh ta có 3 xưởng sửa chữa ô tô. Các xưởng này do vợ anh ta điều hành. Cha anh ta, ông W. A. Rhodes, sống tại Mỹ. Người em anh ta là một kĩ sư tại nhà máy điện nguyên tử ở Camp Georgia”.
Hồi năm 1951, khi đang ở Moscow, trong dịp Giáng sinh, R. Rhodes bị sa vào cái bẫy ngọt ngào khi anh ta được cho biết là đã làm một cô gái Nga mang bầu sau cuộc chè chén say sưa. Tháng 6-1953, anh ta trở về Mỹ, chấp nhận một khoản tiền nhỏ của KGB và đồng ý tiếp tục làm việc có nhận lương cho KGB. Bị FBI thẩm vấn, R. Rhodes thừa nhận là ở Moscow, anh ta đã gặp các nhân viên tình báo Nga 15 lần và được trả khoảng từ 2.500 USD đến 3.000 USD. Sau 6 tháng làm việc tại cơ sở thông tin liên lạc ở San Luis Obispo, California, R. Rhodes được chuyển tới căn cứ Fort Monmouth, bang New Jersey và sống tại một ngôi nhà gần đó, trên Quảng trường Linden, Red Bank.
Vào thời điểm người phụ trách R. Häyhänen viết bản chỉ thị cho R. Häyhänen thì R. Rhodes đã được chuyển về căn cứ đóng quân thường xuyên của đơn vị ở Fort Huachuca, bang Arizona, nơi ngày 17-11-1955 anh ta đã nhận sự tưởng thưởng khi kết thúc thời gian phục vụ trong quân ngũ.
Nhưng vào tháng giêng năm sau, anh ta lại được gọi trở lại quân đội, làm nhân viên mã hóa ở căn cứ Fort Monmouth. Với cương vị này, R. Rhodes có khả năng tiếp cận được các tài liệu mật. Nhưng anh ta từ chối nối lại các cuộc tiếp xúc với tình báo Liên Xô như đã được chỉ dẫn và đó chính là lí do khiến cho chỉ huy của R. Häyhänen chỉ thị xúc tiến việc xác định nơi ở của R. Rhodes.
Tháng 6-1957, khi đối chất với bản khai của R. Häyhänen, R. Rhodes nhận tội và sau này ra tòa với tư cách nhân chứng trong vụ xử người chỉ huy của R. Häyhänen. Còn sau đó, trong phiên tòa xét xử chính anh ta, R. Rhodes bị xử 5 năm lao động cải tạo tại Fort Leavenworth. R. Häyhänen được bố trí định cư tại Keene, bang New Hampshire, sau chết vì bệnh xơ gan vào năm 1961.
+++++
Nhận thấy R. Häyhänen không quay về Moscow như kế hoạch, mặc dù không xác định được chắc chắn là liệu anh ta có đào thoát không nhưng vào quãng cuối tháng 5, đầu tháng 6-1957, Trung tâm tình báo ở Moscow đã gửi lời cảnh báo tới W. Fisher, người chỉ huy R. Häyhänen, ra lệnh phải rời khỏi Mỹ ngay lập tức. Nhờ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Canada, điệp viên KGB ở Ottawa đã có được một tấm hộ chiếu mang tên Robert Callan, sinh ngày 10-3-1903 ở Fort William, Ontario, sẵn sàng để W. Fisher sử dụng sau khi vượt biên sang Canada.
Vì những lí do bí ẩn nào đó mà không một ai biết, W. Fisher đã không tuân theo lệnh của Trung tâm, tiếp tục ở lại Hoa Kỳ, đánh cược số mệnh của mình giữa những hàm răng của con sư tử.
Trong các lời khai ban đầu, R. Häyhänen nói với những người thẩm vấn mình rằng từ năm 1952, chỉ huy anh ta ở New York trong hai năm đầu sau khi tới Mỹ là một người tên “Mikhail”. Theo mô tả của R. Häyhänen, “Mikhail” ở tầm tuổi trung niên, có thân hình đậm, mũi nhọn, tóc đen. Khi được cho xem hàng loạt ảnh do FBI chụp các quan chức Xô viết trong thời kì từ 1952 đến 1954 có nhân dạng gần giống như anh ta mô tả, R. Häyhänen lập tức cầm lên tấm ảnh của sĩ quan KGB Mikhail Svirin. Nhưng M. Svirin đã quay về Moscow từ hai năm trước rồi!
Vậy sau M. Svirin, người tiếp tục chỉ huy R. Häyhänen là ai - các đặc vụ FBI truy hỏi R. Häyhänen.
“Một người tên là Mark”, R. Häyhänen trả lời. Đó là tất cả những gì mà anh ta biết về tên người chỉ huy của mình kể từ năm 1954.
Nhưng ngoài việc chỉ biết ít ỏi về mật danh của điệp viên KGB địa bàn New York phụ trách mình, R. Häyhänen vẫn có thể cung cấp những thông tin hữu ích cho FBI. R. Häyhänen nhớ lại đã có hai lần anh ta tới căn nhà kho của người điệp viên nọ ở tầng 4 hoặc tầng 5 một tòa nhà trên phố Fulton, thuộc khu vực Brooklyn của New York.
Dựa vào lời khai này, FBI tìm ra một xưởng vẽ cùng nhà kho ở trên tầng năm của tòa nhà số 252 phố Fulton, đứng tên người thuê từ tháng 1-1954 là họa sĩ chuyên vẽ tranh để bán có tên là Emil R. Goldfus.
Từ ngày 16-5-1957, các đặc vụ FBI bắt đầu đặt toàn bộ tòa nhà số 252 phố Fulton dưới sự giám sát chặt chẽ. Họ đóng chốt ở trên nóc và trong một vài căn phòng trên tầng 12 khách sạn Touraine phía bên kia đường, lệch hai khối nhà trông sang xưởng vẽ. Đối diện với lối ra vào của tòa nhà 252 có một công viên nhỏ; các đặc vụ FBI cũng thay phiên nhau ngồi trên ghế đá trong công viên để quan sát mọi người ra vào tòa nhà. Được trang bị ống nhòm nhìn xa, các đặc vụ FBI kiên nhẫn ngồi uống hết li cà phê này đến li khác trong khi theo dõi tòa nhà. Tổng cộng có chừng ba chục đặc vụ FBI được huy động cho chiến dịch giám sát này.
Các đặc vụ FBI theo dõi tòa nhà không hề biết rằng ba tuần lễ trước đó, vào sáng thứ sáu, 26-4-1957, W. Fisher đã rời khỏi một khách sạn rẻ tiền ở khu Broadway, nơi ông ở cả tuần lễ dưới cái tên Martin Collins. Hai ngày trước, R. Häyhänen đã được lệnh xuống tàu thủy đi Pháp. W. Fisher cũng trả trước tiền thuê hai tháng khu nhà kho trên phố Fulton, nói với những người hàng xóm là mình có một chuyến đi nghỉ dài ngày. Rồi sau đó ông tới nhà ga Pennsylvania ở khu Manhattan bắt chuyến tàu đi Florida.
Tới Florida, ngày 28-4-1957, W. Fisher đăng kí vào ở khách sạn Plaza trên khu bờ biển Daytona. Trong suốt ba tuần lễ tiếp theo, người điệp viên Xô viết thư thả ngồi vẽ những bức tranh phong cảnh biển.
Trong suốt thời gian tháng 4 và đầu tháng 5-1957 ấy, trên các trang báo và tạp chí Mỹ tràn ngập tin bài về việc Mỹ đã sản xuất và thử nghiệm thành công tên lửa đạn đạo liên lục địa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân ICBM. Cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô trong lĩnh vực tên lửa chiến lược đã bắt đầu.
Khoảng ngày 23-5-1957, sự kiên nhẫn của các đặc vụ FBI giám sát tòa nhà trên phố Fulton được đền đáp. Vào lúc 10 giờ 45 phút tối, từ vị trí quan sát của mình trên tầng 12 trong khách sạn Touraine, đặc vụ Neil Heiner nhận thấy căn phòng bên trong xưởng vẽ bật sáng, báo hiệu người chủ của nó đã quay về. N. Heiner nhận thấy bóng một người đàn ông đi đi lại lại trong căn phòng. Người này trạc tuổi trung niên, đeo kính, tóc hoa râm, đầu hói.
Sau nửa đêm một chút, người đàn ông ra khỏi tòa nhà số 252, đầu đội chiếc mũ phớt sẫm màu có một dải băng trắng xung quanh và lẫn vào bóng đêm. Từ vườn hoa phía đối diện tòa nhà, đặc vụ FBI Joe MacDonald lập tức bám theo.
Người đàn ông đi dọc theo phố Clinton xuôi tới bến tàu điện ngầm Borough Hall. Khi ấy đã quá nửa đêm. Người đàn ông đi về phía cuối sân ga trong khi đặc vụ Joe MacDonald đứng cách ông ta chừng gần mươi mét. Một đám đông hành khách ào tới sân ga đợi chuyến tàu đêm quay về Manhattan. Đặc vụ Joe MacDonald đứng lẫn vào trong đám đông.
Khi tàu tới, người đàn ông lên toa thứ hai tính từ phía cuối đoàn tàu, trong khi đặc vụ Joe MacDonald nhảy vội lên toa cuối cùng, mắt vẫn không rời khỏi đối tượng mà anh ta đang theo dõi. Tới ga City Hall, cả hai cùng ra khỏi tàu, lên mặt đất. Người đàn ông đi bộ hướng về phía Broadway. Ông ta tới góc đường Chamber rồi đứng đợi, trong khi đặc vụ Joe MacDonald ẩn vào lối ra một tòa nhà gần đấy. Cả hai cùng chờ đợi. Khi một chiếc xe buýt trờ tới, người đàn ông rõ ràng biết về lịch trình của nó, lên xe. Đặc vụ Joe MacDonald ngoắc vội một chiếc taxi bám theo. Khi chiếc xe buýt đi về phía bắc Broadway, tới chỗ giao cắt với phố 27, người đàn ông xuống xe buýt, đi về hướng Đại lộ số Năm, ngoặt vào góc phố 28. Khi Joe MacDonald vội vã đuổi theo tới chỗ ngoặt thì người đàn ông đã biến mất. Chỉ trong thoáng chốc, đặc vụ Joe MacDonald đã mất dấu ông ta.
Do chưa có thêm bất cứ manh mối nào về người đàn ông bí ẩn nên tòa nhà số 252 có xưởng vẽ nằm trên phố Fulton vẫn là đầu mối duy nhất để FBI hi vọng có thể lần ra Mark, người chỉ huy của R. Häyhänen.
Ngày 28-5, các đặc vụ FBI phát hiện thấy người đàn ông ở vị trí gần một công viên, nơi mười hôm trước đặc vụ Joe MacDonald đã để mất dấu. Người đàn ông có vẻ căng thẳng, dường như đang tìm kiếm một người nào đó. Lúc 6 giờ 50 phút tối, ông ta rời đi, không có đặc vụ FBI nào bám theo.
Hơn hai tuần sau đó, đêm 13-6-1957, người đàn ông tái xuất hiện trong xưởng vẽ. Lần này, vẫn đặc vụ N. Heiner là người trực ở trạm quan sát trong khách sạn Touraine phía bên kia xưởng vẽ, nhưng người giám sát lối vào tòa nhà số 252 không phải là Joe MacDonald nữa mà là đặc vụ Ronald Carlson. Đặc vụ này cũng không nấp trong công viên đối diện với lối vào tòa nhà mà ẩn mình trong một trạm bưu điện gần đó.
N. Heiner phát hiện thấy đèn trong xưởng vẽ ở phòng số 505 trong tòa nhà bật lên lúc 10 giờ tối và tắt lúc 11 giờ 52 phút. Cũng như lần trước, người đàn ông đội chiếc mũ phớt xám có vành trắng, khoác một chiếc áo thể thao sáng màu. Trước lúc nửa đêm một chút, người đàn ông rời đi. Dùng bộ đàm, đặc vụ N. Heiner báo cho R. Carlson đang ở vị trí giám sát trong trạm bưu điện. Đến lượt R. Carlson dùng bộ đàm báo cho các đặc vụ khác đang rải rác dọc con đường mà người đàn ông đi qua. Lần này, người bám theo là đặc vụ Fred Sowick. Đấy là một đêm New York ấm áp. Trên phố Fulton đông nghịt người nhưng chiếc mũ của người đàn ông giúp cho Fred Sowick dễ dàng nhận ra đối tượng trong đám đông. Lần theo dõi này có vẻ dễ dàng. Người đàn ông ra khỏi bến xe điện ngầm và dẫn Fred Sowick đến thẳng nơi mình đang trú ngụ, một khách sạn tên là Latham trên đường 28 Đông ở Manhattan.
Ở đây, các đặc vụ FBI xác định được người đàn ông đăng kí dưới cái tên là Martin Collins, thuê căn phòng số 839 trên tầng 8 với giá 28 USD một tuần, trả vào các ngày thứ bảy cuối tuần.
Như vậy là từ người đứng tên Emil R. Goldfus thuê xưởng vẽ đã biến thành người mang tên Martin Collins thuê phòng ở khách sạn Latham.
Một bức ảnh các đặc vụ FBI chụp trộm Emil Goldfus/Martin Collins được đưa cho R. Häyhänen để đối chiếu nhận dạng; điệp viên đào thoát xác nhận đó chính là người phụ trách mạng lưới điệp viên KGB ở New York, chỉ huy của anh ta!
+++++
Mặc dù có sự hợp tác chỉ điểm của R. Häyhänen, thế nhưng cho đến lúc đó, các bằng chứng để có thể kết tội gián điệp đối với Emil R. Goldfus còn rất yếu. Việc bắt giữ Thượng sĩ Roy A. Rhodes, người rơi vào cái bẫy mĩ nhân kế của KGB trong thời gian anh này làm việc ở sứ quán Mỹ tại Moscow cũng không giúp được gì cho việc củng cố bằng chứng chống lại Emil R. Goldfus bởi chẳng có một mối dây liên hệ nào giữa Roy A. Rhodes với Emil R. Goldfus. Về mặt pháp lí mà nói, Emil R. Goldfus hoặc Martin Collins hay là bất cứ ai dưới hai cái tên giả đó vẫn là người vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội.
Để có thể buộc tội được người đàn ông đó, cần có một người đứng trên bục nhân chứng để chống lại ông ta với những bằng chứng xác thực. Nhân chứng đó, không ai khác, chỉ có thể là R. Häyhänen, người duy nhất biết đôi chút về các hoạt động của chỉ huy anh ta. Trong hai ngày 18 và 19-6-1957, các nhân viên tư pháp Hoa Kỳ gặp và ra sức thuyết phục R. Häyhänen đồng ý ra làm nhân chứng nếu như một vụ án được đem ra trước tòa. Nhưng người điệp viên Xô viết đào thoát cương quyết từ chối ra làm chứng trước một phiên tòa công khai. Anh ta nói nếu làm vậy thì những người thân của mình hiện đang sống ở Liên Xô, mẹ, các anh chị em, sẽ gặp nguy hiểm.
Vậy là không có được những bằng chứng đủ mạnh để có thể kết tội người đàn ông đó làm gián điệp.
Trợ lí Tổng chưởng lí Hoa Kỳ William F. Tompkins biết rất rõ những điểm yếu về mặt pháp lí đó nhưng cũng như FBI, ông ta cho rằng không thể chậm trễ trong việc bắt giữ người đàn ông có tên là Emil R. Goldfus. Cuộc chạy đua vũ khí nguyên tử giữa hai cường quốc Mỹ và Liên Xô đã bước sang một giai đoạn mới: Vũ khí nhiệt hạch. Có nhiều dấu hiệu cho thấy những bước tiến vũ bão của phía Liên Xô trong việc tiến hành thử thành công vũ khí nhiệt hạch là nhờ sự trợ giúp của những tin tức tình báo đánh cắp của Mỹ.
Cuối cùng, Trợ lí Tổng chưởng lí William F. Tompkins cho rằng chỉ còn duy nhất một cách để có thể bắt giữ Emil R. Goldfus một cách hợp pháp, theo cái cách mà trước đấy rất lâu, người ta đã xử lí khi bắt giữ trùm mafia Chicago Al Capone: Hắn ta bị bắt vì tội trốn thuế! Emil R. Goldfus sẽ bị bắt giữ với tội danh nhập cư trái phép vào Hoa Kỳ.
Đến thời điểm đó, Emil R. Goldfus, hay Martin Collins, tức W. Fisher, đã xâm nhập thành công và hoạt động bí mật ở Mỹ được chín năm rồi. Khi để lại vợ con ở Moscow và dấn thân vào con đường vô định của một điệp viên bất hợp pháp, W. Fisher không thể biết được quãng thời gian mình ở Mỹ sẽ kéo dài bao lâu. Đứa con gái, khi người điệp viên rời đi vẫn còn là một đứa trẻ, nay đã kết hôn. Còn người vợ thì không nguôi thương nhớ chồng, vỏ bọc hoàn hảo cùng với tài nghệ nhập vai của W. Fisher khiến cho không có bất cứ ai nghi ngờ sự tồn tại của một điệp viên Xô viết thượng thặng ở ngay bên cạnh họ. Ngay cả FBI, bị ảnh hưởng bởi làn sóng chống cộng do Thượng nghị sĩ McCarthy khuấy động mấy năm trước đó, trong cuộc săn tìm ráo riết các điệp viên cộng sản cũng không có bất cứ mối nghi ngờ nào. Chỉ nhờ có sự phản bội của R. Häyhänen mà FBI mới cố được những manh mối đầu tiên để kiên nhẫn lần tìm ra người đàn ông bí ẩn ở khách sạn Latham trên đường 28 Đông New York.
Cuối ngày 20-6-1957, năm nhân viên của Sở Di trú và Nhập cư Hoa Kỳ có mặt tại trụ sở của cơ quan này trên Đại lộ Columbus ở New York. Ba người trong số đó thuộc địa phương, hai người tới từ Washington. Quá nửa đêm hôm đó, họ tới văn phòng FBI New York và trong suốt hai giờ đồng hồ, tập dượt các tình huống theo kịch bản vụ bắt giữ.
Đêm 20-6 là một đêm nóng bức, không có gió. Các đặc vụ FBI thuê căn phòng 841 khách sạn Latham, ngay cạnh phòng số 839 mà Emil R. Goldfus thuê. Suốt đêm, tám đặc vụ FBI, mỗi người đứng ở đầu một tầng trong cả tám tầng khách sạn, theo dõi mọi động tĩnh ở các hành lang.
Khoảng trước 7 giờ sáng, các nhân viên Sở Di trú và Nhập cư Hoa Kỳ tới khách sạn và được yêu cầu ngồi chờ ở phòng 841, nếu có lệnh gọi thì mới xuất hiện.
Đúng 7 giờ sáng ngày 21-6, đặc vụ Ed Gamber gõ cửa phòng số 839. Từ bên trong vọng ra tiếng của một người đang ngái ngủ: “Chờ một lát!”. Cánh cửa hé ra. Đặc vụ Ed Gamber đẩy mạnh cửa mở rộng ra rồi bước vào trong phòng, theo sau là đặc vụ Blassco. Cả hai vẫn để cánh cửa phòng mở ở phía sau lưng, đưa phù hiệu FBI gài trong ví cho người đàn ông, lúc này trên người chỉ mặc mỗi chiếc quần lót. Người này cầm phù hiệu xem kĩ rồi đưa trả lại. Tiếp đó, đặc vụ thứ ba, Joseph Phelan, cũng vào trong phòng.
- Ông mặc cái gì vào đi. - Một đặc vụ nói.
Người đàn ông mặc bộ quần áo ngủ ra bên ngoài.
- Hãy ngồi ở giường. - Một đặc vụ khác ra lệnh.
Người đàn ông ngồi theo lệnh của đặc vụ.
- Chắc ông biết rõ chúng tôi là ai và làm việc cho cơ quan chính phủ nào chứ?
- Vâng.
- FBI chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề an ninh của Hoa Kỳ. Chúng tôi muốn nói chuyện với ông về các vấn đề an ninh nội địa của Hoa Kỳ.
Người đàn ông im lặng.
Cuộc tra hỏi bắt đầu, với những câu hỏi lịch thiệp, mang tính quy chuẩn, cứng nhắc. Người đàn ông tham gia cuộc chơi với dáng vẻ ủ rũ.
- Tên ông là gì?
- Martin Collins.
- Ngày sinh?
-15-6. À không, 15-7.
- Cái gì?
Trong bộ quần áo lót, người đàn ông ngước lên nhìn.
- Tôi có thể lấy hàm răng giả được không? - Người đàn ông gần như thì thầm. - Nó ở trong buồng tắm.
Đặc vụ Phelan, người đang đứng dựa vào cánh cửa buồng tắm, vào bên trong lấy ra hàm răng giả để người đàn ông lắp vào miệng rồi cuộc tra hỏi tiếp tục.
- Ngày sinh?
-15-7-1897.
Các đặc vụ muốn biết vì sao lúc đầu người đàn ông nói ngày sinh là “15-6” rồi sau đó lại đổi thành ngày “15-7”.
Người đàn ông không trả lời.
- Ông sinh ở đâu?
- Thành phố New York.
- Ông sống ở đâu?
- Ở đây.
- Ông đã ở khách sạn Latham trong bao lâu rồi?
Người đàn ông dường như ngẫm nghĩ như thể câu hỏi ẩn chứa một ý nghĩa nào đó. Không có câu trả lời.
- Trước khi ngụ tại khách sạn Latham, ông ở đâu?
Im lặng.
- Tên của mẹ ông?
- Martha Collins.
- Tên thời con gái của bà ấy là gì?
Người đàn ông lưỡng lự: “Rollins”.
- Ông có làm việc ở đâu không?
- Không
- Công việc gần đây nhất của ông là vào lúc nào?
- Trước đây mấy năm.
Các đặc vụ muốn người đàn ông nói chi tiết hơn về công việc đó. Không có câu trả lời.
- Tên cha ông là gì?
Im lặng.
Rồi đến lượt Gamber ra đòn:
- Đại tá, chúng tôi có những tin tức cho thấy ông liên quan đến hoạt động gián điệp!
Người đàn ông không nói một lời.
Khi nghe thấy E. Gamber nói đến cấp bậc “đại tá”, W. Fisher lập tức hiểu rằng vậy là R. Häyhänen đã phản bội và khai ra mình. Ở bên ngoài lãnh thổ Liên Xô, không có bất cứ một ai biết về cấp bậc của W. Fisher ngoại trừ R. Häyhänen.
Các đặc vụ nói nếu không “hợp tác”, người đàn ông sẽ bị bắt giữ trước khi rời khỏi phòng.
Im lặng.
Trước đấy, các đặc vụ đã nhận được chỉ thị rõ ràng. Nếu người đàn ông “hợp tác”, cung cấp những thông tin xác thực về bản thân và các hoạt động mà ông ta tiến hành trên lãnh thổ Hoa Kỳ, ngay lập tức họ sẽ gọi điện cho chỉ huy ở Văn phòng FBI New York để báo cáo về mức độ “hợp tác” của người đàn ông. Còn nếu như người đàn ông từ chối “hợp tác”, họ sẽ phảigọi các nhân viên Sở Di trú và Nhập cư Hoa Kỳ đang đợi ở phòng bên cạnh để bắt giữ ông ta.
Rõ ràng người đàn ông đã từ chối hợp tác. Hai mươi ba phút đã trôi qua, người đàn ông vẫn im lặng.
Hai đặc vụ Blassco và Gamber lùi vào bàn bạc trong góc phòng. Rồi họ quyết định để đặc vụ Phelan sang phòng bên cạnh mời các nhân viên Sở Di trú và Nhập cư Hoa Kỳ đang chờ ở đó. Hai nhân viên Sở Di trú và Nhập cư Hoa Kỳ, Farley và Boyle bước vào phòng.
- Ông tên là gì? - Nhân viên Boyle hỏi người đàn ông, lúc này vẫn ngồi khoanh chân trên giường, hai tay chống cằm.
- Martin Collins.
Boyle và Farley chìa phù hiệu của họ ra.
Boyle lấy từ trong túi ra lệnh bắt giữ do quyền Giám đốc Sở Di trú và Nhập cư Hoa Kỳ L. Murff kí đúng ngày hôm trước, 20-6-1957. Theo lệnh này, người đàn ông mang tên Martin Collins với bí danh Emil Goldfus bị bắt vì vi phạm Luật Nhập cư của Hoa Kỳ do đã xâm nhập vào Mỹ từ một điểm chưa được xác định trên biên giới với Canada vào năm 1949.
Khi Boyle đọc lệnh bắt, người đàn ông lắng nghe trong im lặng.
- Ông được quyền có một luật sư, - Boyle nói sau khi đọc xong lệnh bắt. - Ông cũng được quyền giữ im lặng.
Lúc đó là 7 giờ 35 phút sáng 21-6-1957.
+++++
Các nhân viên Sở Di trú và Nhập cư Hoa Kỳ yêu cầu người đàn ông mặc quần áo chỉnh tề và Farley bắt đầu thu dọn đồ đạc của người đàn ông để ông ta mang theo. Quan sát Farley thu dọn, người đàn ông có vẻ không hài lòng. Ông ta đề nghị được tự mình gói ghém những gì cần mang theo và được các nhân viên Sở Di trú và Nhập cư Hoa Kỳ cho phép. Nhân viên Robert Schoenenberger theo dõi sát sao từng động tác của người đàn ông. Ông ta cẩn thận xếp từng món đồ vào trong chiếc va li nhỏ của mình. Những thứ có vẻ không cần thiết, người đàn ông ném vào trong thùng rác. Trong số này có vài tuýp màu dùng để vẽ tranh trước đó đặt trên bệ cửa sổ, một nắm bút chì, mấy hộp khăn giấy hiệu Kleenex, các thứ dây nhợ lằng nhằng, giấy viết và sáu cuốn sách, trong đó có cuốn Thời gian để sống và thời gian để chết của Erich Maria Remarque.
Trong khi theo dõi sát sao người đàn ông gói ghém đồ đạc, nhân viên Robert Schoenenberger phát hiện thấy người đàn ông lấy mấy mẩu giấy từ một cái ví và cố gắng giấu nó vào dưới ống tay áo. Lập tức Robert Schoenenberger giữ tay người đàn ông và thu được ba mẩu giấy, hai trong số đó có những hàng chữ và số ghi trên giấy có kẻ ngang.
Một mẩu giấy ghi: Balmora, Avenida Oberon, 3 giờ chiều. Xuất hiện ở bên trái lối vào. I. “Bức tranh này đẹp đấy chứ?” L. “Vâng. Ông có muốn xem nó không, ông Brandt?” L. hút tẩu và cầm một cuốn sách bìa màu đỏ bên tay trái.
Mẩu giấy thứ hai có những hàng chữ đánh máy ghi hai địa chỉ: ông Vladinec. Hòm thư P. O Box 348, M-w, K-9, Liên bang Xô viết. Kí tên “Arthur”, W. Merkulov, Bưu điện Restante, M-a, Liên bang Xô viết (Nga). Kí tên “Jack”.
Mẩu giấy thứ ba có những hàng chữ viết tay: Ở Mex: Kí tên “T” tại cột đối diện # 191 Chihnaahva (Chihvahaa) Thánh (Fonolia Roma), sử dụng mặt bên cột hướng về phía đường cái. Thứ bảy hoặc chủ nhật, thứ ba hoặc thứ năm. Gặp vào thứ hai, thứ tư, thứ sáu vào lúc 3 giờ chiều, rạp chiếu phim “Balmora”.
Sau khoảng một giờ đồng hồ lục soát và gói ghém, người đàn ông bị còng tay và giải đi. Trước khi rời khách sạn, các nhân viên sở Di trú và Nhập cư Hoa Kỳ trả tiền thuê khách sạn cho người đàn ông đến ngày hôm đó, 21-6-1957. Họ nói với người đàn ông là sau đấy sẽ làm thủ tục rời khách sạn cho người đàn ông. Ông ta bị dẫn ra khỏi khách sạn theo lối cửa ngách, vào một chiếc ô tô đang chờ sẵn và được đưa về trụ sở của Sở Di trú và Nhập cư Hoa Kỳ ở số 70 đại lộ Columbus, Manhattan, New York.
Sau khi người đàn ông bị các nhân viên Sở Di trú và Nhập cư Hoa Kỳ dẫn giải đi, các đặc vụ FBI bắt đầu tiến hành lục soát cẩn thận căn phòng 839 khách sạn Latham. Trong căn phòng vẫn còn nhiều đầu mối để FBI lần theo các dấu vết của người đàn ông.
Dựa vào những hóa đơn khách sạn tìm thấy trong phòng của Collins/Goldfus, FBI biết được rằng người họ mới bắt vừa trở về từ bãi biển Daytona ở Florida, nơi ông ta ẩn mình sau khi biết R. Häyhänen đào thoát. Ông ta đã vào Hoa Kỳ từ ngả Canada hồi tháng 11-1948. Trước đó, ông ta đã tới Quebec từ Le Havre trên chiếc tàu Scythia, với hộ chiếu thật của Mỹ mang tên Andrew Kayotis, một công dân Mỹ sống ở Detroit có quan điểm trung dung. Trên thực tế, Kayotis “thật”, một người gốc Lithuania đã bị ốm nặng ở Kaunas (Lithuania) vào tháng 7-1947 và ít lâu sau đó đã chết.
Trong quãng thời gian sau khi tới Hoa Kỳ và cho đến khi xuất hiện vào đầu những năm 50 để thuê một căn hộ tại New York, người đàn ông ở những đâu thì không một ai biết. Ngay cả cái tên Goldfus cũng không phải tên thật của ông ta. Giấy khai sinh mà ông ta mang theo là thật, nhưng nó thuộc về một đứa trẻ sinh ở Manhattan ngày 2-8-1902 trong gia đình một kiều dân Đức và đã chết khi mới hơn một tuổi, vào tháng 10-1903. Một giấy khai sinh khác mang tên Martin Collins, đề ngày sinh là 2-7-1897. Nhờ nó, người đàn ông có được tấm giấy thông hành mang tên Martin Collins. Đây là cái tên mà người đàn ông dùng để đăng kí tại khách sạn Latham.
Các đặc vụ FBI tìm thấy 6.500 USD tiền mặt trong phòng, gồm 4.000 USD loại tờ 20 USD trong một cái va li nhỏ có khóa kéo; 2.500 USD còn lại cũng gồm các tờ 20 USD và 50 USD. Một trương mục mở ở Ngân hàng tiết kiệm East River vào tháng 6-1950 có một tài khoản 1.386 USD và 22 xu, khoản gửi vào mới nhất là ngày 5-4-1957.
Một khoản tiền khác trị giá 15.000 USD đã được phát hiện tại một ngăn kéo an toàn của Công ty ủy thác Manufacturers, dưới tên một người quen của ông ta.
Trong căn phòng của người đàn ông, các nhân viên FBI tìm thấy một bảng mật mã với các nhóm năm chữ số trên một mẩu giấy, một mẩu gỗ được bọc trong một miếng giấy ráp xé ra từ một cuốn sổ dày 250 trang có hai màu xanh đỏ cùng với một bảng ghi các tần số vô tuyến.
Kiểm tra kĩ hơn, các nhân viên FBI phát hiện thấy bên trong lõi của một cái bút chì bình thường có 18 tấm vi phim. Một số trong những tấm vi phim này ghi nội dung những bức thư của vợ và con gái ông ta gửi từ Moscow.
Do bị bắt vì tội nhập cư trái phép, ngày hôm sau, thứ bảy, 22-6-1957, “Goldfus” được đưa bằng máy bay DC-3 tới trung tâm dành cho người di cư ở McAllen, bang Texas. Các đặc vụ FBI cố gắng phá vỡ sự im lặng của người đàn ông; tuy nhiên tất cả các biện pháp thẩm vấn đều vô hiệu. Những cuộc thẩm vấn sau đó có thêm sự tham gia của các điệp viên CIA, cơ quan nóng lòng muốn biết về hoạt động gián điệp của Liên Xô ở khu vực Bắc Mỹ. Emil R. Goldfus phủ nhận tất cả mọi cáo buộc liên quan đến hoạt động gián điệp. Khi một điệp viên CIA đề nghị khoản tiền lương 10.000 USD một năm, số tiền rất lớn ở thời điểm đó, để đổi lấy sự cộng tác của ông ta, Emil R. Goldfus mỉm cười, không trả lời.
Ngày 27-6-1957, Collins/Goldlfus tuyên bố ông ta là Rudolf Ivanovich Abel, một công dân Nga. Câu chuyện ông ta kể lại cho các đặc vụ thẩm vấn mình là sau chiến tranh, ông ngẫu nhiên tìm thấy trong nhà kho cũ một số tiền lớn bằng đô la Mỹ; ông sang Đan Mạch dùng số tiền đó mua một tấm hộ chiếu Mỹ rồi nhập cảnh trái phép vào Mỹ qua ngả Canada vào năm 1948. Ông nói mình học phổ thông cơ sở từ 1910 đến 1916 và phổ thông trung học từ 1916 đến 1920 ở Moscow. Abel nêu tên cha mình, Ivan Abel, là một thầy giáo dạy tiếng Anh ở Moscow, hiện không rõ còn sống hay đã chết. Theo Abel, mẹ mình tên là Karneeva Lubow, sinh tháng 12, không rõ năm, ở thành phố Saratov, Nga. Địa chỉ gần nhất mà Abel nói mình sống cho tới tháng 8-1948 nằm ở đại lộ Nikitsky, Moscow. Tất cả chỉ có thế, tin hay không thì tùy!
Abel thừa nhận rằng mình đáng bị trục xuất. Khi được hỏi muốn trục xuất về đâu, Abel trả lời: Liên bang Xô viết.
Trong suốt gần ba tuần lễ, hằng ngày, các đặc vụ FBI thay phiên nhau hỏi cung Abel. Họ nhắc đi nhắc lại rằng nếu “hợp tác”, Abel sẽ được cung cấp thức ăn ngon, rượu, chuyển tới phòng khách sạn có điều hòa ở Texas. Các đặc vụ FBI cũng hứa sẽ tìm cho Abel một công việc với thu nhập 10.000 USD ở một cơ quan chính phủ Mỹ.
Trước những đề nghị đó, Abel lịch sự từ chối. Sau ba tuần lễ, các đặc vụ FBI đành bỏ cuộc.
Các nhân viên thẩm vấn muốn biết cái tên Abel xuất phát từ đâu? Ở miền Nam bang Texas, cái tên Abel khá phổ biến.
Abel cười, trả lời: “Thật ra đó là một cái tên có nguồn gốc từ Đức”.
Chỉ có điều Abel không nói với nhân viên thẩm vấn rằng “Rudolf Abel” là tên một người bạn cùng hoạt động tình báo trong thời kì chiến tranh. Khi khai với các đặc vụ FBI mình là Rudolf Abel, hẳn W. Fisher tính toán kĩ rằng Trung tâm Moscow sẽ ngay lập tức biết mình đã bị bắt một khi cái tên đó xuất hiện tràn ngập trên các trang báo của Mỹ.
Cùng với việc R. Häyhänen tiết lộ cấp bậc của người chỉ huy mình là “đại tá” và cái tên “Abel” tự nhận, kể từ đó, người điệp viện Xô viết được biết đến với tên gọi phổ biến: Đại tá Abel!
Đại tá Abel phủ nhận mọi cáo buộc liên quan đến hoạt động gián điệp, đặc biệt là việc thu thập các thông tin về vũ khí nguyên tử. Đại tá Abel tuyên bố rằng đơn thuần chỉ vì tò mò muốn tìm hiểu mà ở một hiệu sách công cộng, ông đã mua một cuốn sách về “sử dụng năng lượng nguyên tử trong các nhà máy công nghiệp”.
FBI nhận thấy có quá ít bằng chứng đủ sức nặng để chống lại ông ta.
Một cuộc điều tra tỉ mỉ về các hoạt động của Đại tá Abel trong chín năm ông ở Hoa Kỳ đã không tìm thấy bằng chứng đáng kể nào về hoạt động gián điệp. Mặc dù trong căn hộ của Đại tá Abel, FBI đã tìm thấy một số đồ dùng linh tinh mang tính chất tội phạm, bao gồm cả một máy thu vô tuyến hiệu Hallicrafter, một bảng các tần số vô tuyến, vi phim và một số lượng lớn tiền mặt, thế nhưng đó không phải là những chứng cứ thuyết phục về việc ông ta đã thu thập tin tức tình báo. Sau khi được dịch ra, những bản mật mã mới nhất mà ông ta gửi về nhà hoặc nhận được chứa đựng những thông tin hoàn toàn vô hại, lời thăm hỏi bà mẹ, những thông tin về loại vật liệu hóa học mới của một loại phim mỏng, lời hồi báo của vợ ông ta về một gói quà nào đó. Một số bức điện mã hóa đã được đánh đi từ Mexico City, có lẽ là nơi ông ta đã chuẩn bị cho một kế hoạch chạy trốn.
Trong số những bức điện mã hóa mà FBI thu được có cả bảy bức thư của người vợ Đại tá Abel, Ilya, và cô con gái vừa mới lập gia đình Evelyn. Những bức thư này kể chuyện lặt vặt trong gia đình, cả về con chó của họ. Phân tích những thông tin trong các bức thư, FBI cho rằng Đại tá Abel đã rời New York đi Moscow vào ngày 10-6-1955, ngang qua Paris và Vienna. Một số trong những bức thư này đã được đọc trong phiên tòa xử Đại tá Abel sau này như là bằng chứng để chống lại ông.
+++++
Mặc dù chứa đựng rất ít giá trị về mặt tình báo nhưng những bức thư gửi Đại tá Abel có thể giúp soi rọi một phần ánh sáng vào đời sống gia đình người điệp viên. Một bức thư của cô con gái đề ngày 20-2-1956 cho thấy Đại tá Abel đã rời Moscow trước tháng 11-1955. Bức thư viết:
“Đã ba tháng kể từ ngày cha đi. Mặc dù không phải là vô tận nhưng thời gian đã đủ dài và có vô khối chuyện xảy ra. Đầu tiên, con muốn báo cho cha biết là con sắp lấy chồng. Cha đừng kinh ngạc. Bản thân con cũng lấy làm ngạc nhiên, thế nhưng đó là việc chắc chắn sẽ xảy ra. Chồng tương lai của con là một người tốt. Anh ấy là một kĩ sư vô tuyến, 34 tuổi. Mẹ rất thích anh ấy. Chúng con đã gặp nhau trong bữa tiệc sinh nhật tại nhà của một người bạn. Lễ cưới sẽ được tổ chức vào ngày 25-2. Con hi vọng là khi về, cha sẽ thích anh ấy. Con nghĩ là cha sẽ có nhiều việc để trò chuyện với anh ấy. Tin thứ hai mà con muốn báo cho cha biết là nhà ta có một căn hộ mới hai phòng. Đây không phải là đòi hỏi của nhà ta nhưng đó là căn hộ của chúng ta và dù sao thì nó cũng tốt hơn nhiều so với căn hộ hiện nay. Tin thứ ba là con đã kiếm được việc làm trong ngành hàng không, và nay có thể bằng cách nào đó ở gần cha hơn. Công việc có vẻ rất tốt. Họ hứa trả lương con và người sếp của con có lẽ là một người rất lịch sự và thông minh. Con đã từng làm vài công việc lặt vặt trước đây và kiếm được một số tiền. Cả con và chồng con đều rất mê chụp ảnh, đặc biệt là ảnh màu. Anh ấy có một chiếc xe hiệu Olympia và chúng con rất vui thích khi sử dụng nó. Con và mẹ đã nhận được cả hai bức thư của cha và chiếc chìa khóa của cái va li, thế nhưng bản thân cái va li thì vẫn lang thang ở đâu đó. Người bạn cũ của gia đình ta vẫn viết đều đặn và gửi tới cha lời chúc tốt đẹp nhất. Tất cả bạn bè đều mong cha khỏe mạnh, hạnh phúc và sớm quay về. Thôi con đã nói nhiều rồi. Con của cha, Evelyn”.
Vợ của Đại tá Abel cũng rất khó khăn khi phải làm quen với hoàn cảnh xa chồng. Một vật gì đó của ông, có lẽ là chiếc đàn guitar, đã gợi nhớ đến sự vắng mặt của Đại tá Abel. Trong một bức thư không đề ngày tháng, bà viết:
“Sau khi anh đi, em bị ốm. Quả là nặng nề đối với trái tim em. Em bị mất ngủ và cũng không ra phố. Em chỉ đi lại trên ban công nhà mình. Thỉnh thoảng, em chạm vào vật anh để lại, nhìn nó và mơ tưởng rằng một ngày nào đó sẽ lại được nghe anh chơi để cho em chìm vào không khí buồn bã dễ chịu, về số tiền còn lại, em bảo họ gửi hết cho anh. Evelyn đã cưới chồng vào cuối tháng hai. Sau khi cưới, nó vẫn nói rằng không có được người đàn ông nào như cha nó và có lẽ nó cũng không yêu chồng lắm. Anh là tất cả đối với mẹ con em. Và xin anh đừng cau mày, tất cả những ai đã biết anh đều nói như vậy. Nếu như anh nhìn nhận sự việc với một vẻ triết học thì xin hãy vô cùng cẩn trọng. Em hôn anh thắm thiết và chúc mừng anh. Anh cố gắng thu xếp mọi chuyện để đừng lỡ cuộc gặp của chúng ta. Năm tháng và tuổi tác sẽ không chờ đợi chúng mình. Ở đó anh ra sao? Cái dạ dày có hành hạ anh không? Hãy bảo trọng. Em muốn sống cùng anh”.
Một bức thư khác của Evelyn không đề ngày, có lẽ được viết ngay trước ngày sinh nhật của Đại tá Abel, 2-7-1956, bởi vì căn cứ vào thời gian nêu trong bức thư và ngày cô cưới chồng là 25-2-1956. Bức thư viết:
“Hạnh phúc đã trở lại. Cha thân yêu, con nhớ cha vô cùng. Cha không thể nào tưởng tượng nổi là đối với con, cha có ý nghĩa đến nhường nào đâu. Những tin tức duy nhất con nghe được về cha là từ khi cha lên đường. Bốn tháng trời đã trôi qua kể từ đám cưới của con và đối với con, đó là một quãng thời gian dài hầu như vô tận, đôi khi nhàm chán. Nhìn chung, chồng con là một người tốt, nhưng anh ấy không phải là cha. Con đã có việc làm. Sếp của con cũng hơi giống cha mặc dù không khoáng đạt và uyên bác bằng cha. Dẫu sao thì hắn ta cũng rất thông minh. Thôi con phải vội đi làm đây”.
Bức thư tiếp theo của vợ Đại tá Abel đề ngày 6-4-1956, trong đó bà nói rằng đã không nhận được thư trả lời cho bức thư trước đó của bà:
“Em viết cho anh lá thư thứ hai kể từ ngày anh lên đường. Cho tới nay, em không nhận được tin tức nào của anh. Em rất sốt ruột, không biết hiện giờ anh ra sao, có khỏe không? Em thường ngồi một mình và nghĩ về anh. Em có thể đi nghỉ mát, nhưng em rất sợ phải đi một mình. Bởi vậy, mặc dù đã có phiếu nghỉ nhưng em vẫn chưa biết là có nên đi hay không. Chính vào lúc này, em mới thấy nhớ anh xiết bao. Thật may là anh không phải gánh chịu cái cảm giác nặng nề của mẹ con em. Evelyn chỉ làm việc hợp đồng. Vào thời gian rảnh rỗi, không phải lo cho chồng hoặc công việc, nó đưa em tới chỗ bác sĩ để khám bệnh cho em và cho chính nó. Mùa xuân năm nay lại đến muộn. Đến hôm nay vẫn còn tuyết lạnh và ẩm ướt. Mùa đông thực kinh khủng. Em rất lo cho cây mận nhà ta. Evelyn nói rằng nếu bị lạnh quá, nó sẽ không nở hoa được. Cha em cũng mong anh về sớm và mặc dù biết là ngớ ngẩn nhưng em đang đếm từng ngày để mong đến dịp anh trở về. Em vẫn chưa nhận được gói quà của anh. Người bạn thuở thiếu thời có đến chơi nhà ta. Bọn em đã trò chuyện rất lâu, ngồi hồi tưởng lại những kỉ niệm xa xưa và mơ mộng. Đừng để cho mẹ con em thất vọng. Toàn bộ cuộc sống của mẹ con em hầu như là sự chờ đợi anh về. Thật vậy đó, anh thân yêu! Anh hãy thường xuyên viết thư cho mẹ con em nếu như có thể. Bọn trẻ, nay đã có hai đứa, gửi lời thăm hỏi. Con trai không muốn làm phiền anh. Nó có lẽ sẽ không viết thư cho anh đâu. Hôn anh thắm thiết. Cầu mong anh khỏe, may mắn và sớm trở về”.
Vào ngày 21-6-1956, ngày mà vợ của Đại tá Abel viết lá thư sau nữa thì bà đã nhận được tin tức về ông. Một hồi ức về việc Đại tá Abel đã đi hái táo trong vụ thu hoạch táo năm trước cho phép suy đoán chắc chắn thời gian Đại tá Abel đã quay trở về Liên Xô trong năm trước đó, còn những lời kể về căn nhà nghỉ và người giúp việc cho thấy gia đình ông sống không đến nỗi nào. Bức thư viết:
“Cuối cùng thì mẹ con em cũng đã nhận được gói quà của anh. Mẹ con em vô cùng hạnh phúc vì những quan tâm chăm sóc của anh cho mẹ con em. Mẹ con em cũng đã nhận được thư anh và biết rằng anh vẫn bình an. Chỉ buồn là anh đã không nhận được thư của mẹ con em. Đã quá lâu rồi còn gì. Em đã gửi cho anh mấy bức thư. Chúc mừng anh nhân ngày sinh nhật anh. Mẹ con em đã nâng cốc để chúc sức khỏe anh và mong anh sớm trở về. Mẹ con em hiện đang ở nhà nghỉ mùa hè. Cái vườn của chúng ta hầu như chẳng được chăm sóc gì cả. Trên những cây táo mà hồi năm ngoái anh đã hái bao nhiêu là quả, giờ đây những lá non mới bắt đầu nhú. Em vẫn hay tranh cãi với người giúp việc và vẫn chưa tìm được người khác thay thế... Ti vi vẫn đang bật nhưng hiếm khi em ngồi xem. Con chó rất dễ thương. Nó chờ chủ nó về và em cũng chờ. Có một người chồng ở trong nhà quả là điều đáng mơ ước. Vào lúc này, em càng cảm thấy thiếu vắng anh hơn, nhất là khi em đã có thời gian ở bên anh và nhớ về những gì anh đã hứa với em trước khi ra đi. Vị chỉ huy mới rất tuyệt, lịch thiệp và chu đáo”.
Bức thư cuối cùng của vợ Đại tá Abel đề ngày 20-8-1956, cho biết là đã nhận được quà của chồng. Món quà này được gửi đi từ Mỹ, có thể bằng cách kèm theo cặp ngoại giao hoặc ngang qua một nước thứ ba. Bức thư viết:
“Em rất mừng vì anh đã nhận được một bức thư của em. Mẹ con em đã nhận được quà của anh từ hồi tháng năm. Em rất buồn phải báo cho anh biết rằng một trong hai cây lan dạ hương đã bị chết. Những cây còn lại chắc đã bám rễ. Có lẽ đó là một điềm báo tốt lành của anh chăng? Vào năm sau, chắc chúng sẽ nở hoa. Mẹ con em đang tính từng tháng trôi qua. Anh hãy nhớ nhé”.
Một ngày sau khi bà mẹ viết bức thư này, cô con gái Evelyn viết bức thư thứ ba đề ngày 21-8-1956 gửi cho cha mình, rõ ràng là để đáp lại một bức thư đã nhận được từ ông:
“Con và mẹ mong sự có mặt của cha ở đây biết bao. Mẹ và con đã trồng những cây lan dạ hương và hiện ba cây trong số đó đang đâm chồi. Cha nói rằng muốn biết nhiều hơn về chồng con. Con sẽ cố gắng để cho cha có thể hiểu tốt về anh ấy. Anh ấy người tầm thước, mắt xanh, khá đẹp trai. Anh ấy hơi có vẻ mềm yếu và nói nhiều mỗi khi tranh luận về xe ô tô hoặc bóng đá. Anh ấy là một kĩ sư, nhưng có vẻ khá lười biếng... Cha hỏi con có hạnh phúc với anh ấy hay không? Một trong những nhà thơ vĩ đại của chúng ta đã từng nói rằng không có hạnh phúc trong cuộc sống nhưng có sự thanh bình và khát vọng tự do. Điều duy nhất khiến con cảm thấy không ổn là thỉnh thoảng, bên anh ấy, con cảm thấy vô vị. Còn những người đằng nhà chồng con cũng thực kinh khủng. Con chỉ mong cha có mặt ở đây với mẹ và con. Khi đó thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Con nhớ cha vô cùng. Con đã từng nghĩ rằng chồng con có thể bù đắp được cho sự thiếu vắng cha phần nào, nhưng bấy giờ thì con thấy là mình đã nhầm. Còn công việc của con thì vẫn ổn. Con có một ông sếp tuyệt vời. Đó là một người đàn ông thú vị, thông minh, tài năng, nhân hậu và đẹp trai. Bọn con rất quý nhau và dành nhiều thì giờ để nói về đủ mọi thứ chuyện. Ông ấy 44 tuổi, vẫn còn độc thân và có vẻ không được hạnh phúc lắm. Con mong rằng cha có cơ hội gặp và nói chuyện với ông ấy. Con vẫn khỏe.
Tái bút: Con bắt đầu làm thơ. Lần sau, con sẽ gửi cho cha một bài để cha xem”.
Do giọng nói Đại tá Abel là của người sinh sống ở miền bắc nước Anh, các nhân viên điều tra Mỹ cho rằng ông đã sử dụng giấy căn cước của người khác, một thương gia Anh có tên là “ông Milton”. Người đàn ông này được biết đã có một bữa ăn tối với vợ chồng “điệp viên nguyên tử” Morris và Lona Cohen tại căn hộ của họ ở 71 phố Đông tại New York vào tháng 2-1950. Các nhân viên điều tra cũng cho rằng Morris Cohen, một kĩ sư điện tử, có thể đã là điện báo viên cho Đại tá Abel trong một thời gian ngắn.
Thế nhưng ngoài hai bức ảnh hộ chiếu của vợ chồng Cohen được tìm thấy trong va li của Đại tá Abel và một số cuống phiếu chi, người ta chẳng tìm thấy thêm bằng chứng nào có sức thuyết phục nữa. Có lẽ chính bó cuống phiếu chi này chứ không phải những nhân chứng mà FBI đã thẩm vấn trong vụ điều tra về vợ chồng nhà bác học Rosenberg, mới là bằng chứng khả dĩ chứng minh hoạt động gián điệp của Đại tá Abel.
+++++


Thứ hai, ngày 14-10-1957, Tòa án Liên bang Quận Đông New York mở phiên tòa theo hồ sơ số 45094, xét xử Rudolf Ivanovich Abel, bí danh Mark, cũng được biết dưới tên gọi Martin Collins và Emil R. Goldfus, bị buộc tội làm gián điệp cho Liên Xô.
Chánh án chủ tọa phiên tòa là Mortimer W. Byers; công tố viên đại diện cho chính phủ Mỹ đứng tên buộc tội là William F. Tompkins. Người bào chữa cho Đại tá Abel trước tòa là James B. Donovan, một luật sư được tòa chỉ định vào tháng 8-1957, rất có uy tín trong giới tư pháp Mỹ. J. Donovan đã từng có thời gian làm việc trong tình báo hải quân, rồi trong thời kì Đệ nhị thế chiến có 3 năm phục vụ trong Cục Phục vụ chiến lược OSS, tiền thân của CIA.
Phiên tòa gây chấn động toàn cầu bởi vào thời điểm đó, một điệp viên thượng thặng cỡ như Đại tá Abel bị bắt và đem ra xét xử là điều vô cùng hiếm hoi, đặc biệt là trong bối cảnh căng thẳng Chiến tranh Lạnh đang lên cao trào. Tin tức về vụ bắt giữ rồi sau đó là phiên tòa xử Đại tá Abel xuất hiện trên mọi trang báo lớn trên thế giới, từ Tokyo cho tới Johannesburg.
Chỉ có truyền thông Xô viết là tỏ ra hững hờ với những tin tức về vụ án liên quan đến một điệp viên của họ. Nhà lãnh đạo Xô viết Nikita Khrushchev tuyên bố: “Có Chúa chứng giám, chúng tôi không có gián điệp!”.
Lẽ dĩ nhiên, ai cũng hiểu rằng đó chỉ là những động thái bên ngoài nhằm tránh khả năng xảy ra các vụ bê bối lớn hơn về mặt ngoại giao giữa Liên Xô và Mỹ. Còn trong nội bộ, các cơ quan bí mật của Liên bang Xô viết theo dõi sát sao vụ án và số phận của Đại tá Abel.
Phiên tòa diễn ra trong bối cảnh khuynh hướng chống cộng của Thượng nghị sĩ McCarthy trong xã hội Mỹ bắt đầu thoái trào. Liên Xô tiếp tục trang bị vũ khí cho các quốc gia Ả Rập chống lại Israel. Mươi ngày trước đó, Liên Xô cũng vừa phóng thành công vệ tinh đầu tiên trên thế giới - Sputnik 1 - vào quỹ đạo.
Rudolf Abel phải đối mặt với ba tội danh: “Âm mưu chuyển cho Liên Xô những thông tin mật về quân sự và vũ khí nguyên tử; âm mưu thu thập những thông tin mật đó; cư trú trên lãnh thổ Mỹ với tư cách điệp viên của một cường quốc nước ngoài mà không được sự cho phép của Bộ Ngoại giao Mỹ”.
Nếu bị buộc tất cả các tội danh này, Đại tá Abel sẽ phải đối mặt với án tử hình. Ở thời điểm đó, đối với tòa án Hoa Kỳ, việc Đại tá Abel không chịu thừa nhận bất cứ một tội danh nào không thành vấn đề. Họ đã từng kết án tử hình vợ chồng điệp viên Rosenberg chỉ dựa vào những lời khai trên bục nhân chứng của một số điệp viên cùng bị bắt trong đường dây. Cặp vợ chồng điệp viên đó đã bác bỏ mọi cáo buộc, bước lên ghế điện trong tư thế của những kẻ tuẫn đạo.
Bất chấp việc trước đó tuyên bố sẽ không ra làm chứng chống lại Đại tá Abel, điệp viên đào thoát R. Häyhänen vẫn xuất hiện tại phiên tòa trong dáng vẻ tự tin. Trong nhiều ngày sau phiên khai mạc, từ bục nhân chứng, trả lời các câu hỏi của công tố viên William F. Tompkins, R. Häyhänen chỉ rõ người có mặt tại phiên tòa, ngồi cách chừng sáu thước mà anh ta chỉ biết dưới mật danh Mark, là điệp viên hoạt động cho Ủy ban An ninh Quốc gia Liên Xô KGB. R. Häyhänen khai lần đầu tiên gặp Mark vào năm 1954 và cấp bậc của người này là “đại tá”. Hai người gặp nhau hằng tuần một hoặc hai lần; lần gặp nhau cuối cùng trước phiên tòa vào quãng giữa tháng 2-1957.
R. Häyhänen kể tỉ mỉ về một trong những nhiệm vụ mà Đại tá Abel giao cho là tìm cách định vị điệp viên Roy Rhodes, người mang mật danh Quebec. Nhưng nguy hiểm hơn cả là R. Häyhänen đã khai về chuyến đi cùng với Mark tới Công viên Núi Gấu để chôn giấu một khoản tiền trị giá 5.000 USD. R. Häyhänen nói Mark sau đấy đã chỉ thị cho anh ta tới đào khoản tiền này lên để chuyển cho vợ của một điệp viên có mật danh là Stone. Stone chính là điệp viên Morton Sobell, người bị phía Mỹ bắt trong đường dây gián điệp nguyên tử của vợ chồng Rosenberg và bị kết án 30 năm tù.
Nói cách khác, qua lời khai của R. Häyhänen tại tòa, Mark có liên hệ với đường dây gián điệp nguyên tử của vợ chồng điệp viên Rosenberg, những người trước đấy đã bị kết án tử hình trên ghế điện. Đó là một dự cảm xấu cho số phận của Đại tá Abel.
Thông qua các câu hỏi chi tiết R. Häyhänen, công tố viên W. Tompkins đã dựng nên hình ảnh về một cỗ máy hoạt động gián điệp với Đại tá Abel là nhân vật trung tâm. Công tố viên W. Tompkins khéo léo tạo ấn tượng về Abel, người mà theo ông ta, không nghi ngờ gì nữa, là một mối nguy hiểm cho an ninh nước Mỹ.
Sau R. Häyhänen, tòa còn lần lượt gọi nhiều nhân chứng ra đối chất, trong đó có những hàng xóm của người đàn ông mang tên Emil Goldfus, nhân viên tại khách sạn Latham, một số đặc vụ FBI từng tham gia điều tra vụ án... Cả cậu bé James Bozart, người đã tình cờ phát hiện ra đồng xu rỗng hơn 4 năm trước cũng xuất hiện tại phiên tòa với tư cách nhân chứng.
Đến ngày 21-10-1957, công tố viên W. Tompkins quyết định gọi Thượng sĩ Roy Rhodes ra làm nhân chứng. Trước tòa, Thượng sĩ Roy Rhodes kể lại tỉ mỉ việc mình đã sa vào cái bẫy mĩ nhân kế của người Nga như thế nào khi làm việc trong xưởng sửa chữa ô tô tại Đại sứ quán Mỹ ở Moscow. Mục đích của công tố viên W. Tompkins là nhằm chứng minh Đại tá Abel đã đứng đằng sau kế hoạch tái tuyển mộ viên thượng sĩ này vào đường dây hoạt động gián điệp sau khi anh ta trở lại Mỹ. Tuy nhiên, bằng những thủ pháp kiểm tra chéo ngay tại tòa, luật sư J. Donovan đã chứng minh được rằng viên Thượng sĩ Roy Rhodes chưa bao giờ nghe đến bất cứ cái tên nào, dù đó là Abel, Emil Goldfus, Martin Collins hay Häyhänen!
Tiếp đó, trong bài bào chữa đọc tại tòa ngày 24-10-1957, luật sư J. Donovan đã hùng hồn chứng minh rằng người đàn ông mang tên Reino Häyhänen là kẻ lấy hai vợ cùng một lúc, nghiện rượu và dối trá.
Trong suốt thời gian diễn ra phiên tòa, ngoài những lúc hỗ trợ luật sư J. Donovan bằng các lời ghi chú ngắn ghi ra một tập giấy, Đại tá Abel hí hoáy ngồi... vẽ các nhân vật tham gia phiên tòa. Ông kí họa chân dung chánh án Byers, công tố viên Tompkins và cả... Häyhänen! Luật sư J. Donovan làm hết sức mình để bào chữa cho Đại tá Abel, nói rằng những bằng chứng thu thập được chỉ đủ để trục xuất Abel khỏi nước Mỹ.
Chiều ngày 25-10-1957, sau hơn ba tiếng rưỡi đồng hồ bàn bạc thảo luận, bồi thẩm đoàn 12 người tuyên bố bị cáo, Đại tá Abel, “có tội”. Chánh án Byers công bố đến ngày 15-11-1957, tòa sẽ tuyên án. Án tử lơ lửng trên đầu điệp viên Xô viết, Đại tá Abel.
Thứ năm, ngày 14-11-1957, cơ quan tình báo Xô viết phá vỡ sự im lặng bấy lâu liên quan đến số phận điệp viên của mình. Phía Xô viết đã lựa chọn cẩn thận thời điểm để tung ra ý kiến nhằm tác động dư luận đúng một ngày trước khi tòa tuyên án bởi biết rằng nó sẽ được các cơ quan truyền thông phương Tây đăng tải lại ngay lập tức vào sáng hôm sau. Một bài báo xuất hiện trên Tạp chí Văn học, một tờ tạp chí dành cho giới văn chương nhưng chắc chắn chịu sự kiểm soát của các cơ quan đặc biệt Liên Xô. Bài báo gọi vụ án Abel là “một câu chuyện tội phạm hư cấu vô văn hóa”, là “sự bịa đặt của J. Edgar Hoover và FBI nhằm làm cho công chúng Mỹ quên đi những khía cạnh bẩn thỉu trong hoạt động của cơ quan này”, biến Abel, một thợ ảnh, “thành đầu não một mạng lưới gián điệp do Moscow giật dây”.
Cũng trong ngày hôm ấy, luật sư J. Donovan đã viết một bức thư quan trọng gửi chánh án Byers, trình bày lí do vì sao cần để cho điệp viên Abel sống mà không phải chịu số phận bi thảm như vợ chồng điệp viên Rosenberg.
Điểm quan trọng nhất trong bức thư này là ngay từ lúc đó, luật sư J. Donovan đã mường tượng ra viễn cảnh về một vụ trao đổi điệp viên, ở phần 5 của bức thư, ông trình bày với chánh án Mortimer W. Byers: “Hoàn toàn có thể trong tương lai, một người Mỹ có tầm quan trọng tương tự cũng bị phía Liên Xô hoặc đồng minh của họ bắt giữ. Khi ấy, một cuộc trao đổi tù nhân thông qua các kênh ngoại giao có thể được cân nhắc thực hiện vì lợi ích của chính Hoa Kỳ”.
Luật sư J. Donovan kết bức thư bằng những dòng chữ: “Bị cáo Abel đã 55 tuổi. Ông ấy đã trung thành phụng sự tổ quốc của ông ấy. Dù đúng hay sai, đó là đất nước của ông ấy và tòa nên cân nhắc một điều là chúng ta đang có quan hệ hòa bình với nước này”.
Hôm sau, thứ sáu ngày 15-11-1957, tòa tuyên Đại tá Abel phạm cả ba tội với mức án lần lượt là 30 năm, 10 năm và 5 năm, tổng hợp hình phạt 30 năm tù giam, biệt giam tại một nhà tù ở New York trước khi được chuyển đến Nhà tù Liên bang ở Atlanta. Tổng số tiền phạt là 3.000 USD.
Luật sư J. Donovan gửi đơn kháng án nhưng đến ngày 28-3-1960, bị Tòa phúc thẩm khu vực Hai của thành phố New York bác đơn.
Trong thời gian thụ án ở Nhà tù Liên bang, Đại tá Abel có điều kiện kết bạn với hai người cũng bị kết tội làm gián điệp cho phía Xô viết. Trong những lúc được ra ngoài buồng giam, Đại tá Abel đánh cờ với Morton Sobell, người bị bắt trong vụ án Rosenberg và nhận án 30 năm tù giam không giảm án. Người thứ hai là Kurt Ponger, người Mỹ gốc Áo năm 1953 bị kết án từ 5 đến 15 năm tù vì tội âm mưu đánh cắp các tài liệu mật khi phục vụ trong lực lượng quân đội Mỹ đóng quân ở Áo để trao cho phía Liên Xô. K. Ponger làm việc trong bộ phận nha khoa của bệnh viện nhà tù liên bang nên có điều kiện chăm sóc cho Đại tá Abel, người phải dùng răng giả. Trung tâm Moscow nghi K. Ponger là điệp viên nhị trùng do phản gián Mỹ dựng lên nhưng Đại tá Abel thì hoàn toàn tin tưởng vào người này. Sau này, Đại tá Abel đã đề nghị với KGB phải có các khoản trợ cấp tài chính cho K. Ponger khi điệp viên này được phóng thích vào tháng 9-1962.
Cũng trong thời gian thụ án ở Nhà tù Liên bang Atlanta, Đại tá Abel đã chứng tỏ rằng ông là một họa sĩ bậc thầy và đã để lại một số bức tranh có giá trị. Những bức tranh này sau đó trở thành đối tượng bị săn lùng gắt gao bởi các nhà sưu tập. Sau này, Tổng chưởng lí Hoa Kỳ Robert Kennedy, em trai của Tổng thống John Kennedy, đã chuyển một lời đề nghị qua sứ quán Liên Xô ở Washington, rằng liệu Đại tá Abel có thể gửi lại bức chân dung Tổng thống John Kennedy mà ông đã vẽ trong thời gian ở Nhà tù Liên bang, để Tổng thống có thể treo ở trong Nhà Trắng?
Trung tâm tình báo Moscow lo ngại đó có thể là một kế hoạch khiêu khích nên quyết định từ chối.
Thoát án tử nhưng với một người đã 55 tuổi như Đại tá Abel, mức án 30 năm tù giam không khác gì một án chung thân. Tuy nhiên, Chiến tranh Lạnh, mà một trong những hạt nhân của nó là cuộc đối chiến trên mặt trận điệp báo, có những bất ngờ không ai có thể lường trước được. Sau gần 5 năm thụ án, sáng sớm ngày 10-2-1962, Đại tá Abel được đưa đến một bên đầu cây cầu Glienicke bắc ngang sông Havel trên biên giới giữa Tây Berlin và Potsdam của Cộng hòa dân chủ Đức.
Từ phía đối diện bên kia cầu, tiến lại gần Đại tá Abel là một người bị phía Liên Xô kết án 10 năm tù vì tội làm gián điệp sau khi chiếc máy bay do thám U-2 của anh ta bị bắn rơi trên vùng trời gần Sverdlovsk vào tháng 5-1960.
Đó là viên phi công lái máy bay do thám U-2 người Mỹ, Francis Gary Powers.