8
Sinh nghề tử nghiệp
“Đây là điệp viên quan trọng nhất mà chúng ta có được sau nhiều năm trời. Tầm quan trọng của điệp viên này thể hiện ở chỗ đã giúp cho tổng thống có được cái nhìn toàn cảnh để đối phó với những vấn đề gay cấn ở Berlin”.
James Angleton - Giám đốc bộ phận phản gián CIA từ 1954 đến 1975
Khi từ tầng hầm ấm áp của quán ăn bước ra bầu không khí giá lạnh trên phố Gorky ở thủ đô Moscow, Oleg Penkovsky nghe thấy ai đó gọi tên mình. Hôm đó là ngày 22-10-1962. Nhìn qua bên kia đường, O. Penkovsky thấy Sergei Nasedkin vẫy tay với mình qua dòng người đang hối hả lưu thông trên đường phố. Ngạc nhiên, O. Penkovsky vẫy tay đáp trả. Từ bên kia đường, S. Nasedkin nhanh nhẹn tiến về phía O. Penkovsky, cẩn thận tránh những chiếc xe tải loang lổ bùn đất đang chạy qua làm đám chim bồ câu trên mặt đường giật mình bay vù lên.
- Chào, Sergei. - O. Penkovsky nói khi S. Nasedkin tới được vỉa hè bên này và hai người bắt tay nhau. - Căng tin bên anh hôm nay đóng cửa à?
S. Nasedkin là một sĩ quan KGB và hai người hiếm khi mạo hiểm ra ngoài ăn trưa cùng nhau. O. Penkovsky là một đại tá trong Tổng cục Tình báo quân đội Liên Xô GRU. Bất chấp mối hiềm khích dai dẳng luôn tồn tại giữa hai cơ quan điệp báo hàng đầu của Liên bang Xô viết, hai người vẫn duy trì một tình bạn lâu dài kể từ thời học sinh trung học. Thỉnh thoảng hai người lại ngồi nhậu với nhau nhưng lần gần nhất cách đây đã vài tháng rồi.
S. Nasedkin cười với O. Penkovsky vẻ ranh mãnh:
- Tôi đi ngang đây thì tình cờ trông thấy anh. - Viên sĩ quan KGB nói. - Tôi đang trên đường đến cơ quan anh thì thấy anh chui ra từ chỗ ẩn náu!
O. Penkovsky bỗng ngửi thấy mùi xúp cải bắp bám trên quần áo của mình. Với cấp bậc đại tá, O. Penkovsky hoàn toàn có thể ăn ở những tiệm ăn sang trọng hơn, nhưng anh ta thích ăn các món xào; hơn nữa, ở thời điểm hiện tại, anh ta không thể ăn ở những chỗ đắt đỏ hơn được.
- Chuyện công việc hả Sergei? - O. Penkovsky hỏi, cố làm ra vẻ không mấy quan tâm.
- Cũng không hẳn. - S. Nasedkin trả lời. - Chuyện cái hộ chiếu của anh ấy mà. Xong rồi. Fedorchuk định cử một cậu mang đến chỗ anh, nhưng tôi nghe thấy thế bèn bảo để tôi đích thân mang tới.
S. Nasedkin dùng tay diễn tả, cứ như một ảo thuật gia vừa biến mất đã xuất hiện trở lại, “Vì thế nên tôi ở đây”.
O. Penkovsky gật đầu nhẹ nhõm. Vài tháng trước, anh ta đã làm thủ tục xin cấp hộ chiếu ngoại giao nhưng sau một thời gian dài chờ đợi, chẳng thấy có phản hồi gì. O. Penkovsky đã đi tới kết luận rằng rất có thể KGB không còn tin tưởng để có thể cấp hộ chiếu cho mình nữa. Nhưng cuối cùng hóa ra thì mọi sự cũng suôn sẻ cả.
- Thật vui được gặp anh ở đây, Sergei. - O. Penkovsky nói. - Quay lại cơ quan tôi và đưa tôi hộ chiếu ở đấy nhé. Tôi muốn nghe anh kể mọi tin tức. Anh cũng có thể ngồi cùng chúng tôi để nghe xem Kennedy nói gì. Chúng tôi mới lắp đặt một cái máy vô tuyến truyền hình ở trên tầng thượng.
Dự kiến trưa hôm ấy theo giờ Moscow, tổng thống Mỹ có bài phát biểu về “một cuộc khủng hoảng quốc tế trầm trọng” và hầu hết mọi người đều muốn nghe xem ông ta nói gì. Nhiều khả năng bài phát biểu sẽ đề cập đến tình hình Liên Xô lắp đặt tên lửa hạt nhân ở Cuba.
- Tôi muốn vậy lắm, nhưng không chắc có chờ được đến lúc ông ta phát biểu không. - S. Nasedkin nói. - Có cả đống giấy tờ đang chờ tôi, anh biết rồi đấy. Anh thế nào? Nghe nói anh bị ốm phải không?
O. Penkovsky mỉm cười yếu ớt:
- Đúng là không có gì mà anh không biết. Tháng trước tôi mới nằm viện vì bị một bệnh gì đó ngoài da. Khá đau nhưng sau vài ngày thì khỏi.
Thực tế là thời gian bị bệnh kéo dài tới ba tuần lễ và khá đau đớn bởi O. Penkovsky bị một loại mụn rộp ở mông, nhưng không cần thiết phải cho Sergei biết điều đó.
Một cơn gió mạnh thổi dọc theo phố, cuốn những chiếc lá bay luẩn quẩn xung quanh hai người. S. Nasedkin dựng cổ áo khoác ngoài lên để chống lại cái lạnh. O. Penkovsky nhận thấy cái áo khoác rất đẹp, ôm trọn lấy thân hình người mặc và còn khá mới. O. Penkovsky có hẳn một bộ sưu tập những bộ com lê và áo sơ mi theo phong cách phương Tây nhưng áo khoác của anh ta dùng bốn năm rồi, các ống tay áo đã cũ và quanh cổ tay áo bắt đầu xổ ra những đầu sợi vải. Cái bọn KGB được trả lương cao thật, anh ta nghĩ thầm. Sergei trẻ hơn anh ta một tuổi, quân hàm còn thấp hơn anh ta vài bậc, vậy mà vẫn có những cái áo khoác bảnh chọe và không nghi ngờ gì nữa, hẳn là căn hộ của hắn ta cũng rộng hơn của O. Penkovsky.
Khi cơn gió đã dịu, O. Penkovsky bắt đầu đi ngược lại trên phố, S. Nasedkin đi ngay bên cạnh. Bỗng một chiếc Chaika đen bóng lượn vào sát vỉa hè, cánh cửa sau mở rộng. “Oleg!” giọng một người ngồi ở ghế sau trong xe gọi.
Cái gì vậy? O. Penkovsky chăm chú nhìn vào trong xe nhưng chỉ thấy hình dáng một cánh tay. Viên đại tá GRU nghiêng người cúi nhìn cho rõ hơn thì cảm thấy một cú thúc mạnh vào lưng, đẩy anh ta ngã nhào vào trong xe. Cánh cửa đóng sập lại sau lưng O. Penkovsky, chiếc xe giật mạnh, chồm lên hướng về phía trước, tiếng động cơ rền vang dội lại trong não O. Penkovsky.
Viên đại tá GRU cố nhấc người khỏi mặt ghế bằng nhựa dẻo lạnh lẽo và nhổm lên. Người đàn ông đã gọi tên dụ O. Penkovsky vào xe đang nhìn chằm chằm vào anh ta. Một chiếc mũ che gần nửa khuôn mặt khiến O. Penkovsky chỉ nhìn thấy cằm và một phần mũi của người đó.
- Cái quái gì vậy? - O. Penkovsky hỏi. - Anh có biết tôi là ai không?
Khuôn mặt người đàn ông lóe lên trong ánh sáng bên ngoài soi qua cửa kính ô tô khi ông ta nói:
- Im ngay, thằng phản bội!
Nghe thấy hai chữ “phản bội”, O. Penkovsky ngả người vào đệm ghế. Vậy là cuối cùng ngày đó cũng đã tới.
Một chiếc Chaika thứ hai của KGB lúc này đã vượt lên đi song song cùng với xe chở O. Penkovsky. Liếc vào gương chiếu hậu, O. Penkovsky thấy Sergei kéo tà áo khoác lên khi bước vào chiếc xe thứ ba khi ấy cũng vừa trờ tới. Làm sao mà mình lại có thể sa vào câu chuyện tào lao về tấm hộ chiếu chứ, O. Penkovsky nghĩ. Lẽ ra mình phải nhận biết những gì bất thường sớm hơn. Nhưng quả thật họ đã rất thông minh khi sử dụng Sergei trong kịch bản này. Tình bạn với Sergei đã khiến O. Penkovsky không hề nghi ngờ một chút nào khi bước chân vào bẫy.
O. Penkovsky nhắm mắt lại và nhớ đến Vera. Anh ta đã gặp cô trong thời gian chiến tranh, khi cô mới chỉ là cô bé 14 tuổi, còn anh ta là một sĩ quan Hồng quân trẻ tuổi. Chủ nhiệm chính trị Quân khu Moscow D. Gapanovich đã mời anh ta tới nhà gặp vợ mình và cô con gái. Cô đứng đó, với nụ cười tỏa sáng rạng rỡ. Sau chiến tranh, anh ta đã cưới cô và cảm thấy hạnh phúc vô cùng, nhưng tình trạng đó không kéo dài được lâu. Sau khi sinh cô con gái đầu Galina, gia đình của họ dần rạn vỡ khi anh ta bắt đầu uống rượu và có những người đàn bà khác. Sự im lặng giữa hai vợ chồng chỉ bị phá vỡ bởi những cuộc cãi vã. “Anh đã phá hủy cuộc đời tôi!” cô đã hét vào mặt O. Penkovsky đêm hôm trước, khi anh ta về nhà vào lúc 3 giờ sáng, trên người còn nồng nặc mùi đàn bà và làm đứa con của họ đang ngủ say bị thức dậy.
Phải rồi, giờ đây thì anh ta đã thực sự phá hủy cuộc đời Vera. Làm vợ một kẻ phản bội là việc quá sức chịu đựng của cô. Ở đất nước này, khi mà lòng trung thành với tổ quốc được đặt cao hơn hết thảy thì điều đó thậm chí còn tồi tệ hơn cả cái chết. Cảm giác tội lỗi khiến cho O. Penkovsky thấy buồn nôn. Anh ta thấy món thịt cừu nướng mình vừa ăn trong bữa trưa cuộn lên trong dạ dày, nhưng lấy làm ngạc nhiên không hiểu vì sao lại có cảm giác khá bình thản. Tất cả những gì mà anh ta có được trước thời điểm bị đẩy vào chiếc xe Chaika giờ đây trở nên vô nghĩa, xa vời. Anh ta sẽ không bao giờ còn được ăn trong quán ăn quen thuộc, tới phòng làm việc hay đi bộ trên hè phố nữa... Từ giờ phút này, mọi sự đều đã thay đổi.
Thực ra, O. Penkovsky biết rằng tất cả đều đã thay đổi từ một đêm mưa trước đó hơn hai năm.
+++++
Moscow, đêm 12-8-1960. Cơn mưa nhỏ làm cho những viên đá lát trên Quảng trường Đỏ và bức tường đá cẩm thạch ở Lăng Lenin lấp lánh trong ánh đèn khuya. Lúc gần 11 giờ đêm, hai khách du lịch Mỹ trẻ tuổi đi ngang qua khu vực nhà thờ Thánh Basil, được ánh đèn đêm chiếu sáng những họa tiết màu da cam, đỏ, xanh trên cái mái hình củ hành to tướng của nó. Eldon Ray Cox và Henry Lee Cobb đang trở về khách sạn sau khi xem một buổi biểu diễn ở nhà hát Bolshoi. Họ hướng về phía cầu Moskvoretsky bắc qua sông Moscow. Khi hai người đi tới gần cây cầu, một công dân Xô viết lại gần, kéo tay áo Cobb và hỏi xin lửa châm thuốc. Anh ta bắt đầu nói bằng tiếng Anh, hỏi họ có phải là người Mỹ và lần đầu tiên tới Liên bang Xô viết hay không. Hai người trẻ tuổi đáp: “Đúng rồi!”. Người đàn ông có vẻ bị kích động và nói gấp gáp. Anh ta nhìn quanh xem có ai theo dõi hay không. Khoảng chừng bốn mươi tuổi, vóc dáng tầm thước, chỉ cao chừng hơn một mét sáu, mái tóc nâu đỏ của người đàn ông đã ngả sang màu xám ở chỗ tóc mai. Anh ta mặc cái áo khoác bên ngoài sơ mi, đeo cà vạt và có vẻ là một người đứng đắn.
Trong lúc cả ba người cùng rảo bước qua cầu, người đàn ông nói vẻ năn nỉ:
- Xin các anh hãy giúp tôi. Mấy hôm trước, tôi đã đi cùng các anh trên chuyến tàu đêm từ Kiev. Các anh thuộc một nhóm sinh viên mà tôi đi cùng. Ở đó có một đặc vụ theo dõi các anh nên tôi không thể tiếp cận được.
Cox và Cobb tiếp tục đi trong khi người đàn ông tỏ vẻ căng thẳng và thấp thỏm quan sát xung quanh. Khi biết chắc rằng chỉ có ba người, người đàn ông tiếp tục:
- Tôi đã từng có thời làm việc ở sứ quán Liên Xô tại Thổ Nhĩ Kỳ. Tôi có một người bạn rất thân ở sứ quán Mỹ tại đó và tôi đã tự hỏi không biết bao nhiêu lần là làm sao để mình có thể được như anh ấy.
Người đàn ông tự giới thiệu anh ta từng là một sĩ quan pháo binh.
- Anh là đảng viên cộng sản chứ? - Một trong hai anh chàng du lịch người Mỹ hỏi.
- Tôi là đảng viên. - Người đàn ông đáp. Tiếng Anh của anh ta có vẻ cũng tàm tạm.
Những công dân Nga đôi khi tiếp cận với khách du lịch nước ngoài để thực hành tiếng Anh, nhưng không phải vào lúc 11 giờ trong một đêm mưa thế này. Thoạt đầu, Cox cảm thấy hơi lo lắng nhưng dần dần, thấy thu hút bởi người đàn ông và bộ dạng của anh ta. Trong đầu Cox đã lóe lên ý nghĩ rằng đây là một cái bẫy của KGB. Rất có thể là một trò khiêu khích để hăm dọa hoặc tống tiền. Khi người đàn ông tiếp tục nói thì Cox càng cảm thấy tin hơn vào sự thành thực của anh ta. Cox có thể thấy rõ vẻ tuyệt vọng nơi người đàn ông.
- Tôi không thể tự mình tới sứ quán Mỹ được. - Người đàn ông nói.
Khi một người khác đi ngang qua họ trên cầu, người đàn ông chuyển sang nói chuyện về thời tiết, hỏi hai người Mỹ cảm tưởng về Liên bang Xô viết. Rồi khi người kia đã đi xa và chỉ còn lại ba người trên đường, người đàn ông nói tiếp:
- Tôi đã cố gắng tiếp xúc với nhiều người Mỹ khác nhưng không được vì rất ít người biết nói tiếng Nga. Tôi nhận thấy các anh là những người Mỹ thông minh. Tôi có một số thông tin muốn chuyển trực tiếp cho sứ quán Mỹ.
Người đàn ông nói với hai vị khách du lịch Mỹ rằng anh ta muốn chuyển thông tin chỉ cho Edward Freers, phó đại diện ngoại giao của Mỹ hoặc tùy viên quốc phòng. Cả tháng nay, anh ta đã mang theo một lá thư với hi vọng có thể chuyển nó cho người nào thích hợp. Những thông tin trong bức thư có thể giúp anh ta một ngày nào đó sang phương Tây.
- Đừng mở thư và cũng đừng giữ nó qua đêm ở khách sạn chỗ các anh. Hãy mang nó tới ngay sứ quán Mỹ, - người đàn ông đề nghị, - chính phủ các anh sẽ rất vui mừng khi có được những thông tin đó.
Người đàn ông ấn một chiếc phong bì vào tay Cox rồi nhắc lại tầm quan trọng của việc đưa trực tiếp hai bức thư trong phong bì tới sứ quán Mỹ. Anh ta từ chối nói tên mình nhưng cuộc nói chuyện giữa ba người vẫn tiếp tục.
Trong khi đi trên con đường ven sông Moscow, người đàn ông nói với hai vị khách du lịch Mỹ rằng anh ta có những thông tin mật về vụ bắn rơi chiếc máy bay U-2 của Mỹ do phi công Francis Gary Powers lái trên vùng trời Sverdlovsk gần ba tháng rưỡi trước đó, vào ngày 1-5-1960. F. Powers bị bắt sống và vụ việc vẫn đang nóng hổi bởi vì sau bốn ngày nữa, viên phi công gián điệp sẽ bị đưa ra tòa vào ngày 16-8-1960.
Không một ai ở Mỹ biết chính xác điều gì đã thực sự diễn ra, chiếc U-2 bị bắn rơi như thế nào và vì sao F. Powers vẫn còn sống. Không có bất cứ một quan chức Mỹ nào được gặp và hỏi chuyện F. Powers. Tuyên bố chính thức của phía Xô viết cho thấy chiếc U-2 đã bị bắn rơi chỉ bằng một quả tên lửa đất đối không duy nhất gây nên nhiều ngờ vực bởi vào thời điểm ấy, loại máy bay U-2 có trần bay cao hơn tầm với của mọi loại tên lửa phòng không Xô viết.
Những gì người đàn ông nói với hai vị khách du lịch Mỹ đã làm sáng tỏ những thắc mắc này. Theo người đàn ông thì tổng cộng đã có tất cả 14 quả tên lửa SAM-2 đất đối không bắn về phía chiếc U-2 của F. Powers (trên thực tế con số này chưa hẳn đã chính xác; theo số liệu sau này thì có tổng cộng ba quả bắn lên trong loạt đầu tiên và ba quả bắn trong loạt thứ hai đã trúng vào một chiếc MiG của phía Xô viết). Không có một quả tên lửa nào thực sự bắn trúng chiếc máy bay, nhưng một quả đã nổ gần chiếc U-2 và làm viên phi công mất quyền kiểm soát máy bay. Trong khi chiếc U-2 rơi xuống, F. Powers bung dù nhưng bất tỉnh khi chạm đất. Khi ấy, một chiếc MiG-19 của Liên Xô bám theo chiếc U-2 ở tầm thấp cũng bị một trong những quả tên lửa đó bắn trúng và viên phi công trẻ thiệt mạng.
Người đàn ông cũng nói thêm về vụ chiếc máy bay do thám RB-47 của Mỹ bị phía Liên Xô bắn rơi trên vùng biển Barents sau đó, ngày 1-7-1960. Nó đã bị trúng tên lửa của một chiếc MiG-19 khi đang bay trên vùng biển quốc tế phía trên biển Barents, chứ không phải trên lãnh thổ Liên Xô như Moscow thông báo.
Cox cảm thấy hồi hộp khi nghe người đàn ông nói chuyện. Anh ta đã từng gặp rất nhiều người ở những vùng đất từng đi du lịch qua, Nhật Bản, Philippines, Mexico, nhưng chưa gặp một ai gây ấn tượng mạnh như người đàn ông này. Cox cảm thấy như mình vừa gặp lại một người bạn cũ.
Nhưng Cox vẫn thấy không thoải mái với ý nghĩ rằng rất có thể người đàn ông là một kẻ khiêu khích. Bởi thế, anh ta quyết định quay về phòng ở khách sạn Baltschug gần đó. Cả ba đi tới gần lối vào của tòa nhà rồi chia tay.
Cox thấy rất ấn tượng trước những thông tin về vụ bắn rơi chiếc máy bay U-2 và quyết định tới thẳng sứ quán Mỹ. Khi anh ta bắt được một chiếc taxi thì người đàn ông lạ đã biến mất. Mặc dù không bớt phần lo lắng nhưng Cox vẫn quyết tâm tận dụng cơ hội bởi tin vào bản năng mách bảo rằng người đàn ông đó không phải là một kẻ khiêu khích.
Taxi đưa Cox tới sứ quán Mỹ trên phố Tchaikovsky. Do hộ chiếu đã bị để lại ở chỗ quầy tiếp tân khách sạn, Cox trình giấy phép lái xe cho người lính Liên Xô gác cửa và sau khi kiểm tra, người này vẫy tay cho phép Cox đi vào trong. Lúc ấy đã là quá nửa đêm ngày 12-8-1960.
+++++
Cox nhanh chóng tới chỗ viên lính thủy đánh bộ đang canh gác sứ quán, trình giấy tờ và xin được gặp Phó đại diện Mỹ Edward Freers. Lúc ấy, phó đại diện Mỹ không có mặt. Sĩ quan phụ trách an ninh sứ quán John Abidian, theo danh sách chính thức là cố vấn đặc biệt của Đại sứ Llewellyn Thompson, đang làm việc muộn trên tầng chín của tòa nhà sứ quán, xuống gặp Cox.
J. Abidian chăm chú nghe Cox thuật lại câu chuyện gặp gỡ trên cây cầu bắc qua sông Moscow. Cuộc gặp mặt diễn ra ở đầu nào của cây cầu? Những bức thư được chuyển ở chỗ nào? Cox nói cuộc gặp chỉ kéo dài không tới nửa tiếng, chỉ trong khoảng hai mươi phút đồng hồ.
Cox kể cho J. Abidian rằng mình và Cobb từng cùng phục vụ trong không quân Mỹ với tư cách là những chuyên gia tiếng Nga. Sau khi rời khỏi không quân, Cobb tiếp tục nghiên cứu tiếng Nga ở Đại học Tổng hợp Indiana. Cox là người ưa thích du lịch nên sau khi vừa trở về nhà ở Texas sau một chuyến phượt bằng mô tô dài 1.500 dặm, nhận được lời mời của Cobb tham dự một khóa mùa hè kéo dài hai tuần lễ ở Liên Xô của Đại học Tổng hợp Indiana, Cox đồng ý ngay. Nay thì cả hai sắp kết thúc khóa học và sẽ rời Moscow vào ngày 15-8-1960.
Cox hỏi sứ quán sẽ làm gì với những bức thư? J. Abidian nói sứ quán “vẫn thường nhận được vô số những thứ tầm phào kiểu như thế này từ các khách du lịch”. Nếu cần, sứ quán sẽ liên lạc với Cox, J. Abidian trấn an. Cox quay về khách sạn Baltschug thì anh bạn Cobb đã ngủ say.
Khi rời khỏi sứ quán, Cox vẫn nghĩ rằng viên sĩ quan an ninh người Mỹ không quan tâm mấy đến câu chuyện của anh ta, nhưng thực tế không phải thế. J. Abidjan chỉ không muốn hai vị khách du lịch Mỹ có thêm những tiếp xúc với người Nga trong thời gian còn lại ở Moscow. Ngay lúc 2 giờ sáng hôm ấy, J. Abidian đã viết một báo cáo về cuộc nói chuyện với Cox, đồng thời điện thoại cho Phó đại diện E. Freers để thông báo về những bức thư.
10 giờ sáng hôm sau, J. Abidian cùng với E. Freers và Vladimir Toumanoff, Tham tán chính trị của sứ quán, gặp nhau trong căn phòng cách âm và chống nghe lén của sứ quán. J. Abidian và E. Freers mở phong bì ra. Bên trong có hai bức thư đóng dấu dán kín.
V. Toumanoff, một người gốc Nga, dịch bức thư thứ nhất.
Bức thư viết:
“Các bạn thân mến!
Tôi đề nghị các bạn chuyển những thông tin sau tới nhà chức trách Hoa Kỳ. Đây là một người bạn tốt đã chuyển sang hàng ngũ các bạn, một người bạn đã sẵn sàng trở thành chiến binh đấu tranh cho Sự thật, vì những lí tưởng của một thế giới Tự do và Dân chủ cho Nhân loại; Tổng thống, chính phủ và nhân dân của các bạn (nay là của tôi) đã hi sinh rất nhiều để đấu tranh vì những lí tưởng đó.
Một cách có ý thức, tôi đã bắt đầu con đường đấu tranh này. Có rất nhiều điều đã dẫn tôi tới quyết định đó. Trong cuộc đời tôi, ba năm vừa qua là thời kì vô cùng biến động, cả trong suy nghĩ của tôi cũng như những việc khác mà tôi sẽ trình bày dưới đây.
Tôi đã suy nghĩ rất lâu và cẩn trọng trước khi đi tới quyết định. Nay thì đã đến lúc tôi đưa ra quyết định đúng đắn cuối cùng và nó thúc đẩy tôi tiếp xúc với các bạn.
Tôi muốn các bạn tin tưởng vào sự chân thực trong suy nghĩ cũng như mong mỏi được phục vụ các bạn của tôi. Tôi mong muốn được đóng góp phần mình, có thể là khiêm tốn nhưng theo tôi là quan trọng, vào việc thực hiện những mục tiêu chung của chúng ta và từ nay trở đi, như một người lính của các bạn, sẵn sàng thực hiện những công việc được giao phó.
Các bạn cần tin tưởng rằng tôi sẽ đem tất cả sức lực, hiểu biết và cả cuộc đời mình để thực hiện trách nhiệm mới này.
Như tôi đã đề cập ở trên, tôi muốn nói rằng tôi không bắt đầu công việc mới của mình với hai bàn tay trắng. Tôi hiểu rất rõ và cân nhắc cẩn trọng từ ngữ cũng như phải đưa ra những bằng chứng cụ thể để chứng minh những gì tôi nói. Tôi có thể, và nay hoàn toàn có khả năng, để thực hiện những điều này.
Vào thời điểm này, tôi được quyền sử dụng những tài liệu rất quan trọng, trên nhiều lĩnh vực có tầm quan trọng và lợi ích rất lớn đối với chính phủ của các bạn.
Tôi sẽ ngay lập tức chuyển giao những tài liệu này để các bạn nghiên cứu, phân tích và sử dụng, cần phải hành động nhanh nhất trong khả năng cho phép. Các bạn sẽ tự mình quyết định xem việc tổ chức chuyển giao các tài liệu này như thế nào. Tối ưu nhất là việc chuyển giao không diễn ra trực tiếp mà thông qua hộp thư chết.
Một lần nữa, vì nhiều lí do chắc chắn, tôi khẩn cầu các bạn nhanh chóng tìm cách tiếp nhận các tài liệu mà tôi đã chuẩn bị cho các bạn.
Trả lời của các bạn: Hãy thông báo cho tôi (bằng tiếng Nga thì tốt hơn) thông qua hộp thư chết số 1 (xem mô tả và cách sử dụng), những kiểu dạng, cung cách, thời gian và vị trí để chuyển giao các tài liệu tôi đã nói ở trên.
Nếu các bạn tự quyết định về hộp thư chết của chính các bạn, xin lưu ý là hộp thư chết đó phải đủ lớn để chứa những tư liệu có kích thước cỡ một quyển sách như cuốn Van Clibum của tác giả S. Khentov, xuất bản năm 1959 (Van Cliburn, 23 tuổi, nghệ sĩ dương cầm người Mỹ xuất thân từ bang Texas, là người đã đoạt giải nhất cuộc thi Tchaikovsky tại Moscow vào tháng 4-1958.)
Sau khi nhận được các tài liệu, các bạn cần cân nhắc tổ chức một cuộc gặp cá nhân giữa tôi với người đại diện của các bạn vào nửa cuối tháng 8 năm nay. Chúng ta cần phải thảo luận kĩ về nhiều chi tiết. Thời gian thuận tiện cho tôi là vào thứ bảy, chủ nhật và các buổi tối. Các bạn sẽ quyết định cách thức cũng như địa điểm gặp mặt.
Tôi chờ những phản hồi từ phía các bạn cho những vấn đề tôi nêu trên đây tại hộp thư chết số 1, bắt đầu từ ngày 15-8-1960.
Tôi đề nghị khi tiến hành công việc cùng tôi, các bạn phải tuân thủ những nguyên tắc chuyên nghiệp và đảm bảo an ninh, không cho phép để xảy ra bất kì một sai sót nào. Hãy bảo vệ tôi.
Rất có thể những lí tưởng và mục đích mà vì chúng, tôi cống hiến cuộc đời mình kể từ ngày hôm nay, sẽ giúp chúng ta hợp tác trong tương lai.
Luôn thuộc về các bạn.
Ngày 19-7-1960.
Tái bút. Xin gửi lời chào tốt đẹp nhất tới người bạn tốt của tôi, Đại tá Charles MacLean Peeke và vợ của ông ấy. Tôi cũng muốn gửi lời chào đến các bạn Cotter, Koehler, Ditta, Beckett, Daniel, Glassbrook và những người khác. Tôi nhớ mãi thời gian ở bên họ. Tôi dự định gặp đại diện của các bạn và chuyển lá thư này trước ngày 9-8-1960 nhưng không thực hiện được. Nay thì phải hoãn đến ngày 15-8”.
Bằng lá thư này, một điệp viên Xô viết đã tình nguyện trở thành một trong những gián điệp quan trọng nhất trong lịch sử tình báo Hoa Kỳ, đóng vai trò trọng yếu trong hai cuộc khủng hoảng lớn nhất thời kì Chiến tranh Lạnh đã đẩy nhân loại đến bên bờ vực của chiến tranh hạt nhân.
+++++
Đọc xong bức thư, Phó đại diện Mỹ tại Liên Xô E. Freers quyết định phải gửi nó về Tổng hành dinh CIA. Cùng với một báo cáo tóm tắt thuật lại lời kể của Cox về thông tin liên quan đến hai vụ bắn rơi máy bay U-2 và RB -47, các bức thư cùng với phong bì được gửi qua đường túi thư ngoại giao miễn kiểm tra về cho Bộ Ngoại giao Mỹ ở Washington rồi từ đây, ngay lập tức được chuyển tới John M. (Jack) Maury, trưởng Ban Xô viết trong Phòng tác chiến của CIA (Phòng các chiến dịch mật).
Đến lượt mình, J. Maury chuyển các bức thư cho Joseph J. Bulik, người đứng đầu phân ban phụ trách các chiến dịch mật của CIA bên trong lãnh thổ Liên bang Xô viết.
J. Bulik, 44 tuổi, xuất thân từ vùng phía đông dãy Carpathian ở Slovakia, thông thạo tiếng Nga, là một đặc vụ có tính cách nghiêm cẩn, tỉ mỉ khi xử lí công việc. Trước khi xem xét hai bức thư, J. Bulik cẩn thận kiểm tra một tư liệu thứ ba cũng được gửi kèm trong phong bì. Đó là bức ảnh chụp nhóm ba người tại một buổi tiếp tân nào đó. Trong bức ảnh có một người cao lớn mặc bộ quân phục đại tá quân đội Mỹ, người đàn ông lạ ghi đè lên, chú thích là Đại tá C. MacLean Peeke. Người đàn ông thấp đứng giữa có khuôn mặt đã bị xóa khỏi bức ảnh, có thể là bằng dao cạo, chỉ còn lại phần chỏm đầu và thân. Phía trên có dòng chữ: “Đây là tôi”. Quả là một cách tự giới thiệu độc đáo! Nhiệm vụ của J. Bulik là phải xác minh xem đó là ai và liệu mong muốn được phục vụ nước Mỹ của anh ta có xác thực hay không. Nếu khẳng định được đó là sự thật thì với cấp bậc cao như thế, đó sẽ là một báu vật của CIA. Nhưng cũng không loại trừ khả năng KGB chủ động đánh điệp viên sang và làm CIA lạc hướng.
J. Bulik đọc kĩ cả hai bức thư cũng như báo cáo về cuộc nói chuyện của người đàn ông lạ mặt với hai vị khách du lịch Mỹ. Với chuyên môn của mình, J. Bulik nhận thấy rõ ràng những thông tin về vụ bắn rơi chiếc máy bay U-2 và chiếc RB-47 được xếp vào hàng có độ mật cực cao. KGB không phung phí đến mức cung cấp những thông tin mật cỡ đó chỉ với mục đích để điệp viên của mình xâm nhập vào CIA.
Bức thư thứ hai của người đàn ông lạ gây cho J. Bulik sự chú ý đặc biệt. Nó hướng dẫn một cách rất tỉ mỉ cách liên lạc với người đàn ông qua một hộp thư chết ở Moscow, nằm tại góc đường Khudozhestvennogo Teatra với đường Pushkinskaya, giữa một cửa hàng thực phẩm với một hiệu bán giày phụ nữ. Cùng với những chỉ dẫn tỉ mỉ, tác giả bức thư nói anh ta sẽ chờ tín hiệu liên lạc qua hộp thư chết từ sau 12 giờ trưa và sau 21 giờ tối mỗi ngày, kể từ 15 8-1960.
J. Bulik nhanh chóng có ấn tượng người đàn ông viết bức thư chắc chắn là một điệp viên chuyên nghiệp, hiểu rất rõ công việc mình làm. Cần phải xác minh và tiếp xúc với người đàn ông này càng sớm càng tốt. Nếu thành công, CIA sẽ có một nguồn tin không gì sánh nổi ở ngay Moscow.
Bước tiếp theo là phải xác định danh tính của người đàn ông. Anh ta đã nói với Cox rằng có thời từng làm việc ở Thổ Nhĩ Kỳ. Không khó để xác định danh tính của viên đại tá Mỹ trong ảnh, bởi nó cũng đã được người đàn ông đề cập đến trong bức thư thứ nhất. Đó là Đại tá Charles MacLean Peeke, tùy viên quân sự Mỹ tại Thổ Nhĩ Kỳ trong thời kì từ 1955 đến 1956. J. Bulik lục tìm trong hồ sơ lưu trữ của CIA ảnh của các tùy viên quân sự Liên Xô ở Thổ Nhĩ Kỳ trong cùng thời kì này. CIA luôn lưu lại toàn bộ hồ sơ của mọi tùy viên quân sự Liên Xô ở khắp nơi trên thế giới vì biết rằng hầu hết họ đều là những nhân viên tình báo. Theo hồ sơ, tùy viên quân sự Liên Xô thời gian đó là Thiếu tướng Nikolai Petrovich Rubenko, hay còn gọi là Savchenko. Trợ lí cho tùy viên quân sự là một viên đại tá có tên là Oleg Vladimirovich Penkovsky.
Đối chiếu với những bức ảnh có trong hồ sơ CIA, J. Bulik cũng nhận thấy Đại tá O. Penkovsky có vẻ phù hợp về mặt hình thể với người đàn ông không mặt trong ảnh hơn là Thiếu tướng N. Rubenko.
Qua các hồ sơ của CIA, J. Bulik xác định được rằng cả Thiếu tướng N. Rubenko lẫn Đại tá O. Penkovsky đều là những điệp viên của Tổng cục Tình báo quân đội Liên Xô GRU, thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Xô viết. Trên cương vị tùy viên quân sự và trợ lí, cả hai người đều tiến hành các hoạt động thu thập tin tức tình báo, điều khiển các điệp viên hoạt động ở địa bàn nơi họ công tác.
Tiếp tục công việc phối kiểm, J. Bulik sắp xếp cuộc gặp với Cobb, một trong hai khách du lịch trẻ tuổi người Mỹ mà người đàn ông lạ đã tiếp xúc ở Moscow. Cuộc gặp diễn ra tại một trong những ngôi nhà an toàn của CIA, nơi thường được sử dụng để tổ chức các cuộc gặp với điệp viên hoặc nguồn tin. J. Bulik không nói cho Cobb biết tên của viên đại tá mà chỉ trải ra trên mặt bàn chừng một chục tấm ảnh chụp các sĩ quan mặc quân phục Hồng quân và ngay lập tức, Cobb chỉ vào người đàn ông mà anh ta cùng bạn đã gặp trên cây cầu ở Moscow.
J. Bulik cảm thấy mình đã đi đúng hướng nhưng vẫn muốn có thêm sự khẳng định chắc chắn hơn nữa. J. Bulik bay đi Anchorage để gặp Cox, khi ấy đang làm đốc công cho công ty điện lực liên bang xây dựng một hệ thống radar nhằm cảnh báo sớm các vụ tấn công bằng tên lửa hạt nhân. Gặp J. Bulik, Cox có vẻ rất vui vì nghĩ rằng sự liều lĩnh của mình ở Moscow đã được đền đáp. Chính phủ Mỹ đã cân nhắc nghiêm túc câu chuyện của anh ta. Rồi khi nhìn những tấm ảnh mà J. Bulik bày ra trên mặt bàn, Cox nhanh chóng chỉ tay vào ảnh của O. Penkovsky. Đó chính là người đàn ông đã chuyển cho Cox chiếc phong bì bên bờ sông ở Moscow.
Không nghi ngờ gì nữa, người đàn ông đã chủ động tiếp xúc để tình nguyện làm việc cho các cơ quan tình báo Mỹ, là một điệp viên GRU, Đại tá Oleg Penkovsky.
+++++
O. Penkovsky sinh ngày 23-4-1919 tại thành phố Ordzonikidze (tên cũ là Vladikavkaz), vùng Caucasus, trong một gia đình công chức làm công ăn lương. Cha của O. Penkovsky, ông Vladimir Florianovich Penkovsky, là người thuộc lực lượng Bạch vệ chống chính quyền Xô viết, đã chết trong cuộc nội chiến ở Liên Xô đúng vào năm O. Penkovsky sinh ra. KGB có lẽ không biết về xu hướng chính trị của ông Vladimir Florianovich Penkovsky, chứ nếu biết thì hẳn là mọi cánh cửa đã đóng sập lại trước mặt O. Penkovsky, cho dù người cha chết khi O. Penkovsky mới được vài tháng tuổi. Trong gia đình, O. Penkovsky là con trai độc nhất, không có anh chị em.
Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, năm mười tám tuổi, O. Penkovsky vào học tại Trường Pháo binh số 2 ở Kiev. Ở nước Nga, kể từ thời Pie Đại đế, binh chủng pháo binh luôn được coi trọng.
Năm 1939, tốt nghiệp Trường Pháo binh số 2 Kiev với cấp bậc trung úy, thay vì được bổ nhiệm làm sĩ quan chỉ huy pháo binh, O. Penkovsky lại chuyển sang ngạch làm cán bộ chính trị trong một đơn vị pháo binh. Đơn vị của O. Penkovsky đã tham gia cuộc chiến tranh với Phần Lan và bị thương vong nặng nề. Kết thúc chiến tranh, O. Penkovsky, do thành tích ngoài mặt trận, nhận phần thưởng là một chiếc hộp đựng thuốc lá và được Tổng cục Chính trị Hồng quân Liên Xô gọi về Moscow, làm chân trợ lí chủ nhiệm chính trị Đoàn Thanh niên cộng sản ở Trường Pháo binh Krasin.
Cuộc sống nhàn tản của O. Penkovsky trong vai trò một sĩ quan chính trị ở Moscow kết thúc khi phát xít Đức bất thần tấn công Liên Xô và chỉ trong một thời gian ngắn đã tiến đến gần Moscow, O. Penkovsky được chuyển từ trường pháo binh sang Tổng cục Chính trị quân khu Moscow. Thời kì diễn ra trận chiến bảo vệ Moscow, O. Penkovsky cực kì ấn tượng trước tài cầm quân và ý chí sắt thép của Tướng Zhukov, người đã chỉ huy thành công cuộc chiến đấu bảo vệ thủ đô và sau đấy phản công thắng lợi, đẩy lùi quân Đức ra xa Moscow.
Mùa hè năm 1942, O. Penkovsky được thuyên chuyển sang Bộ chỉ huy quân sự quân khu Moscow, vẫn làm công tác chính trị. Ở vị trí mới này, O. Penkovsky đã quen biết với Thiếu tướng Dmitry Afanasievich Gapanovich, chủ nhiệm chính trị quân khu. Một lần, tướng D. Gapanovich mời O. Penkovsky tới nhà và tại đó, O. Penkovsky đã gặp cô con gái Vera tóc đen, khi ấy mới mười bốn tuổi.
Trong suốt thời kì đầu chiến tranh, O. Penkovsky nhiều lần đề nghị xin ra mặt trận chiến đấu và đến tháng 11-1943 thì toại nguyện, được chuyển tới Phương diện quân Ukraine thứ nhất, tuy nhiên vẫn chỉ làm chỉ huy một đơn vị huấn luyện cho pháo binh chống tăng. Trong thời gian ở đây, O. Penkovsky đã quen biết với Thiếu tướng pháo binh Sergei Sergeyevich Varentsov, chỉ huy pháo binh của Phương diện quân, người sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời O. Penkovsky sau này.
Tháng 2-1944, O. Penkovsky được gửi đến Lữ đoàn cận vệ pháo binh chống tăng số 8, chỉ huy một trung đoàn pháo binh, tham gia trận đánh tái chiếm Kiev. Tháng 6-1944, trong khi tham gia một trận phản công của Phương diện quân Ukraine thứ nhất, O. Penkovsky bị thương nặng ở đầu và được đưa về tuyến sau điều trị. Sau hai tháng ở bệnh viện, O. Penkovsky có một thời gian ngắn quay về Moscow. Ở đây, O. Penkovsky qua thăm nhà Tướng D. Gapanovich và gặp lại cô con gái Vera; hai người yêu nhau. Vera khi ấy mới mười sáu tuổi, rất xinh đẹp.
Tướng D. Gapanovich nói với O. Penkovsky rằng Tướng S. Varentsov hiện cũng đang nằm điều trị tại một bệnh viện ở Moscow sau một tai nạn ngoài mặt trận. Chiếc xe chở Tướng S. Varentsov đã đâm phải một chiếc xe tăng và ông bị gãy xương hông. Bác sĩ nói Tướng S. Varentsov sẽ phải đi bằng một chân suốt phần đời còn lại.
Khi O. Penkovsky tới thăm Tướng S. Varentsov ở bệnh viện thì tinh thần của vị tướng đang sa sút ở mức rất thấp. Không chỉ vì vết thương hông, tướng S. Varentsov còn bị trầm cảm vì những tin tức liên quan đến gia đình mình, lúc ấy hiện đang sống ở Lviv, nơi có sở chỉ huy của Phương diện quân Ukraine thứ nhất. Tướng S. Varentsov bổ nhiệm O. Penkovsky làm sĩ quan liên lạc cá nhân giữa ông với Sở chỉ huy pháo binh của Phương diện quân Ukraine thứ nhất. Tướng S. Varentsov nhờ O. Penkovsky quay về Lviv để xác minh xem điều gì đã xảy ra với người mẹ và hai cô con gái của mình ở đó và nếu cần thì giúp đỡ họ.
O. Penkovsky tới Lviv tìm hiểu và thấy quả thật đã xảy ra thảm kịch đối với gia đình Tướng S. Varentsov. Tướng S. Varentsov có hai lần kết hôn. Người vợ đầu Anya bị chết vì bệnh lao phổi khi ở Leningrad; sau đấy Tướng S. Varentsov cưới người vợ thứ hai Yekaterina Pavlovna, cũng đã li dị một lần với người chồng là bác sĩ.
Trong cuộc hôn nhân thứ nhất, Tướng S. Varentsov có với người vợ đầu cô con gái Nina, làm việc tại một bệnh viện ở Lviv. Cô con gái này lấy chồng là viên thiếu tá gốc Do Thái tên Loshak. Một hôm, viên thiếu tá này đã bị SMERSH (một cơ quan đặc biệt của Liên Xô thời kì chiến tranh có tên nghĩa là “Cái chết dành cho bọn gián điệp”) bắt giữ. Cùng với hai viên sĩ quan khác nữa, Loshak bị kết tội ăn cắp “tài sản xã hội chủ nghĩa”, phá hoại ngầm và làm giảm sức chiến đấu của Hồng quân, bị đưa ra tòa án binh và xử bắn. Trên thực tế, bọn họ đã bán một chiếc xe trên thị trường chợ đen và lấy tiền chia nhau.
Nina rơi vào tình trạng khủng hoảng tâm lí nặng nề khi bị cô lập hoàn toàn trong bệnh viện. Không ai muốn dây dưa với vợ của một kẻ đã bị xử bắn. Vậy là trong một lần ở hành lang bệnh viện, khi đi ngang qua một viên trung úy bị thương, Nina đã chộp lấy khẩu súng ngắn của anh ta và dùng nó tự sát.
Vào thời gian đó, người mẹ già của Tướng S. Varentsov đang ở Lviv nhưng không thể tổ chức được đám tang cho Nina và cũng không ai muốn giúp bà. Khi biết được toàn bộ câu chuyện, O. Penkovsky bèn bán chiếc đồng hồ của mình đi, mua một cỗ áo quan, bộ quần áo tang và tổ chức đám tang cho Nina. O. Penkovsky cũng mua thức ăn và củi sưởi cho người mẹ của Tướng S. Varentsov, khi ấy đang sống trong một ngôi nhà lạnh cóng.
Quay về Moscow, O. Penkovsky kể lại cho Tướng S. Varentsov tất cả câu chuyện và những gì mình đã làm ở Lviv. Tướng S. Varentsov cảm động ôm hôn O. Penkovsky rồi nói: “Cậu bây giờ như con trai của tôi vậy”.
Mối quan hệ cũng như tai họa trong gia đình Tướng S. Varentsov đã ảnh hưởng rất lớn đến số phận cũng như suy nghĩ của O. Penkovsky sau này.
Chiến tranh kết thúc, O. Penkovsky, lúc này đã mang quân hàm trung tá, có sáu huân chương trong chiến đấu, nói với Tướng S. Varentsov ý định muốn vào Học viện Quân sự Frunze và đến tháng 8-1945, với sự giới thiệu của Tướng S. Varentsov, đã vào học ở học viện này. Cũng trong thời gian này, O. Penkovsky cưới Vera, con gái của tướng D. Gapanovich. Đứa con gái của họ ra đời năm 1946, tên là Galina.
Tốt nghiệp Học viện Quân sự Frunze năm 1948, O. Penkovsky phân vân trước ngã ba đường của sự nghiệp. Lúc ấy đã có đề nghị O. Penkovsky vào Học viện Ngoại giao quân sự để trở thành một sĩ quan tình báo quân đội và có thể làm tùy viên quân sự ở nước ngoài, nhưng ông bố vợ khuyên nên về Quân khu Moscow, O. Penkovsky nghe theo và về làm việc ở Bộ Tư lệnh Quân khu Moscow trong sáu tháng, sau đó chuyển sang Bộ Tư lệnh Lục quân.
Đến cuối năm 1949, một lần nữa lại có đề nghị O. Penkovsky vào học ở Học viện Ngoại giao quân sự và lần này thì O. Penkovsky đồng ý, trở thành một sĩ quan tình báo quân đội chuyên nghiệp. Ngày 6-2-1950, O. Penkovsky được thăng quân hàm thượng tá.
Trong 3 năm học ở Học viện Ngoại giao quân sự, O. Penkovsky được đào tạo kĩ năng tiến hành các chiến dịch hoạt động tình báo quân sự, đồng thời hoàn thành khóa học ba năm tiếng Anh với kết quả đạt loại ưu. Ngày 22-7-1953, O. Penkovsky tốt nghiệp và được điều về Tổng cục Tình báo quân đội Liên Xô GRU, Ban 4, phụ trách địa bàn Cận Đông. Các hoạt động của O. Penkovsky chủ yếu hướng vào địa bàn Ai Cập.
Tháng 8-1954, O. Penkovsky chuyển sang Phòng Pakistan và chuẩn bị được điều đi làm trợ lí tùy viên quân sự tại Karachi. Tuy nhiên, do phía Pakistan từ chối cho phép mở rộng cơ quan tùy viên quân sự ở Karachi nên cuối cùng, O. Penkovsky lại được điều sang Thổ Nhĩ Kỳ. Mùa hè năm 1955, cùng với vợ, O. Penkovsky tới Ankara.
Nửa năm sau đó, tháng 1-1956, Thiếu tướng Nikolai Petrovich Rubenko được cử tới Ankara làm tùy viên quân sự. O. Penkovsky xung khắc với N. Rubenko và quan hệ giữa hai người nhanh chóng trở nên căng thẳng. Tháng 11-1956, O. Penkovsky bị triệu hồi về Moscow để giải trình về những sai sót nghiệp vụ của tổ tình báo GRU ở Thổ Nhĩ Kỳ. Vụ việc lên đến tận chỗ N. Khrushchev và nhà lãnh đạo Xô viết yêu cầu phải có một cuộc điều tra cặn kẽ.
Cuối cùng thì O. Penkovsky giành phần thắng với việc tướng N. Rubenko bị GRU sa thải. Mặc dù vậy sự nghiệp của O. Penkovsky cũng không vì thế mà hanh thông, đơn giản vì N. Rubenko là một vị tướng, trong khi O. Penkovsky mới chỉ mang cấp hàm thượng tá. Thế nên O. Penkovsky lại chạy đến chỗ người bảo trợ của mình, tướng S. Varentsov, đề đạt nguyên vọng xin được quay trở lại binh chủng pháo binh.
Sau thời gian dài chờ đợi, tháng 9-1958, O. Penkovsky được cử sang học tại Học viện Công nghệ pháo binh quân sự mang tên Dzerzhinsky, chuyên ngành tên lửa. Lúc này, O. Penkovsky được thăng quân hàm đại tá và nghĩ rằng mình đã đoạn tuyệt với GRU. Thế nhưng sau khóa học chín tháng, O. Penkovsky được điều lại về Ban 4 của GRU, phụ trách địa bàn châu Á.
Vào thời gian này, những sự kiện đấu tranh bè phái giữa các nhà lãnh đạo Liên Xô gây ảnh hưởng tiêu cực đến các lực lượng vũ trang Xô viết đã khiến O. Penkovsky vô cùng thất vọng, góp phần vào những quyết định sau này của O. Penkovsky. Đặc biệt nghiêm trọng là những gì mà nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev đối xử với vị nguyên soái huyền thoại của quân đội Xô viết, Georgy Zhukov.
Sau khi J. Stalin chết vào tháng 3-1953, nhờ sự giúp đỡ mang tính quyết định của Nguyên soái G. Zhukov, N. Khrushchev đã loại bỏ được Lavrenti Pavlovich Beria, phó thủ tướng thứ nhất, ông trùm lực lượng an ninh và cảnh sát mật dưới thời J. Stalin, thành công trong việc đưa ông này ra hành quyết vào tháng 12-1953.
Từ tháng 2-1956, là thời gian diễn ra Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô, N. Khrushchev ra sức lên án chủ nghĩa sùng bái cá nhân của J. Stalin nhưng đồng thời lại tự xây dựng một sự sùng bái cá nhân cho chính mình. Điều này khiến một số nhà lãnh đạo Xô viết khác trong Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao, bao gồm G. Malenkov, L. Kaganovich và Bộ trưởng Ngoại giao V. Molotov, không thể chấp nhận được. Họ đã có ý định loại bỏ N. Khrushchev tại một phiên họp của Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao (tương đương với Bộ Chính trị). Một lần nữa, tại phiên họp này, Nguyên soái Zhukov lại cứu N. Khrushchev thoát hiểm khi công khai đứng về phía N. Khrushchev.
Sau đấy, tháng 6-1957, N. Khrushchev đã làm một cuộc phản công, tống tất cả các nhà lãnh đạo như Bulganin, Molotov, Malenkov, Shepilov, Pervukhin cùng một số người khác vào cái gọi là “Nhóm chống Đảng”, loại bỏ hoàn toàn những người này ra khỏi đời sống chính trị và lên nắm quyền lãnh đạo tối cao.
Tuy nhiên, uy tín quá lớn của Nguyên soái G. Zhukov trong nhân dân cũng như lực lượng vũ trang khiến N. Khrushchev lo ngại và tìm cách loại bỏ vị nguyên soái huyền thoại của quân đội Xô viết. Bốn tháng sau khi G. Zhucov cứu N. Khrushchev khỏi vụ lật đổ của các nhà lãnh đạo Xô viết, cuối tháng 10-1957, N. Khrushchev đã tổ chức một đợt phê phán rầm rộ “tệ sùng bái cá nhân theo kiểu Napoléon đối với đồng chí G. Zhukov” trong thời gian vị nguyên soái đang tiến hành chuyến thăm Nam Tư. Khi G. Zhukov trở về từ Nam Tư, ngay tại sân bay, người ta thông báo cho ông biết là đã bị bãi miễn chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng, “ngồi chơi xơi nước” cho đến hết đời. “Điểu tận cung tàng, thố tử cẩu phanh”, chim muông hết thì cung nỏ phải cất vào kho, thỏ hoang chết thì chó săn bị mổ ăn thịt, N. Khrushchev đã đối xử với G. Zhukov theo đúng phương châm này.
Vụ việc này khiến O. Penkovsky vô cùng thất vọng.
Lẽ ra O. Penkovsky đã có chân tùy viên quân sự ở Ấn Độ, vị trí hứa hẹn sẽ mang lại quân hàm cấp tướng, nhưng một sự cố xảy ra khiến con đường công danh sự nghiệp của O. Penkovsky đi vào ngõ cụt. Sau một thời gian dài điều tra, KGB xác định được rằng người cha của O. Penkovsky là một sĩ quan Bạch vệ. Khi Thiếu tướng Shumsky, người phụ trách nhân sự của GRU trưng ra các bằng chứng cho O. Penkovsky biết về người cha của mình, sự việc trở nên nghiêm trọng, O. Penkovsky giải thích mình mới vài tháng tuổi khi cha chết, chưa từng có bất cứ một liên hệ cũng như chẳng có ấn tượng gì về người cha của mình. Sau cùng, người ta ra quyết định rằng quá khứ Bạch vệ của người cha không hề ảnh hưởng gì đến tư tưởng của người con và O. Penkovsky được điều trở lại Ban 4 của GRU làm việc. Tuy nhiên, vị trí tùy viên quân sự ở Ấn Độ cho O. Penkovsky không bao giờ được nhắc tới nữa.
Tháng 6-1960, O. Penkovsky được bổ nhiệm vào vị trí trưởng ban tuyển sinh vào Học viện Ngoại giao quân sự, chuyên phụ trách khâu đầu vào cho GRU, một vị trí mà người ta thường dành cho những người có quân hàm cấp tướng. Tuy nhiên, O. Penkovsky không hề thấy một biểu hiện gì cho thấy có cơ hội thăng tiến trên con đường công danh sự nghiệp của mình. “Tôi có thể lên được cấp tướng, nhưng có lẽ trong một quân đội khác”, có lần O. Penkovsky đã tự trào như thế.
Ngày 15-11-1960, O. Penkovsky cùng với một nhóm sĩ quan GRU được cử sang làm việc ở Ủy ban quốc gia về hợp tác nghiên cứu khoa học Liên Xô, sau này là Ủy ban quốc gia về khoa học và công nghệ.
Ba tháng trước đó là cuộc gặp gỡ trong đêm với hai vị du khách Mỹ trên cây cầu qua sông Moscow.
+++++
Khi đã xác định được chính xác Đại tá GRU O. Penkovsky chính là người muốn tiếp xúc với tình báo phương Tây để chuyển tài liệu mật, trưởng phân ban phụ trách các chiến dịch mật bên trong lãnh thổ Liên Xô của CIA là J. Bulik khẩn trương bắt tay vào việc tổ chức bắt mối với O. Penkovsky. Vẫn không thể loại trừ khả năng đây là một đòn phép khiêu khích của KGB, nhưng hầu hết các biểu hiện đều cho thấy không phải như thế. Nếu gặp may, CIA sẽ có một nguồn tin quý giá bậc nhất bên trong các cơ quan bí mật của Liên Xô kể từ vụ Pyotr Popov, cũng là điệp viên của GRU tình nguyện hoạt động cho phương Tây.
Năm 1953, Trung tá GRU Pyotr Popov bắt mối với CIA và bắt đầu đều đặn cung cấp tài liệu mật cho tình báo Mỹ. Khi P. Popov được điều sang hoạt động ở địa bàn Đông Đức từ năm 1955, sự có mặt của điệp viên Diomid, tức George Blake, ở trạm MI6 tại Berlin khiến cho P. Popov chẳng có cơ may nào để không bị lộ. KGB bắt giữ P. Popov nhưng ép điệp viên này làm như mọi việc vẫn bình thường và trong nhiều tháng trời tiếp tục truyền thông tin giả cho CIA. Trong cuộc gặp ở một tiệm ăn với đầu mối của CIA, P. Popov gắng thông báo cho sĩ quan CIA đang điều khiển mình biết là đã bị KGB khống chế và hoạt động theo sự chỉ đạo của tình báo Liên Xô. KGB sau đó bắt quả tang điệp viên CIA R. Langrelle đang trao đổi tài liệu với P. Popov trên một chiếc xe buýt. Có vỏ bọc ngoại giao, R. Langrelle bị tuyên bố là “nhân vật không được hoan nghênh” và chịu trục xuất, còn P. Popov thì ra đứng trước một đội hành quyết của KGB sau phiên tòa xử kín vào năm 1963.
Tuy nhiên, J. Bulik đã gặp phải hai trở ngại lớn khi tiến hành bắt mối với O. Penkovsky. Thứ nhất là đại sứ Mỹ tại Moscow, Llewellyn Thompson, sau những rắc rối trong vụ bắt giữ P. Popov và điệp viên CIA đội lốt nhân viên ngoại giao một năm trước đấy, đã từ chối thẳng thừng đề nghị của CIA cử một điệp viên tới hoạt động ở sứ quán Mỹ dưới vỏ bọc ngoại giao. Thay vào đó, Đại sứ Llewellyn Thompson chỉ chấp nhận cho CIA sử dụng một chân gác cổng ở Nhà Mỹ, khu chung cư nằm tại số 3 đường Kropotkinskaya bên sông Moscow, là nơi nhiều nhân viên sứ quán và lính thủy đánh bộ Mỹ chịu trách nhiệm bảo đảm an ninh cho sứ quán Mỹ, sống tại đó.
J. Bulik không có cách nào khác là phải đồng ý.
Nhưng lúc này khó khăn thứ hai lại xuất hiện: CIA không có người phù hợp cho công việc này. Ở Moscow, KGB có mặt ở hầu khắp mọi nơi và sẽ thật mạo hiểm nếu cử một quan chức CIA cấp cao đến để bất mối với O. Penkovsky vì KGB sẽ dễ dàng phát hiện ra ngay.
Cuối cùng CIA chọn một sĩ quan trẻ đang làm việc tại Ban Xô viết ở Tổng hành dinh Langley đi thực hiện sứ mạng bắt liên lạc với O. Penkovsky. Đấy là một điệp viên trẻ đầy nhiệt huyết đã từng hoạt động ở Đức, biết chút ít tiếng Nga. CIA đặt mật danh cho điệp viên này là Compass. Ngày 4-10-1960, Compass tới Moscow và được bố trí ở một phòng trong khu Nhà Mỹ. Chỉ có ba người gồm đại sứ Mỹ, trưởng trạm và phó trưởng trạm CIA tại Moscow biết về sứ mệnh thực sự của Compass.
Tuy nhiên, điệp vụ của Compass gặp khó khăn hơn rất nhiều so với điều mà CIA có thể hình dung. Dù đi bất cứ đâu trong Moscow, Compass cũng bị một đội giám sát của KGB theo sát gót, không hở ra dù chỉ một giây. Liên hệ trực tiếp với O. Penkovsky, lúc này được CIA đặt mật danh Chalk, không được, Compass đề xuất sử dụng hộp thư chết trên phố Pushkinskaya theo như đề nghị trong bức thư thứ hai của O. Penkovsky. Muốn vậy, phải tìm cách báo cho Chalk biết. Compass muốn vẽ một kí hiệu nào đó trên bức tường xung quanh khu Nhà Mỹ để thông báo cho Chalk, nhưng bản thân bức tường này, theo Compass, cũng bị KGB giám sát chặt. Cũng không có cách nào báo cho Chalk biết là sẽ có kí hiệu trên bức tường này...
Cho tới tận tháng 12-1960, tức là hai tháng sau khi Compass tới Moscow, CIA vẫn không có cách nào liên lạc được với O. Penkovsky.
Trong khi Compass loay hoay không biết làm cách nào để bắt liên lạc với điệp viên Chalk thì O. Penkovsky cũng tìm đủ mọi cách để tự mình thiết lập đường dây với tình báo phương Tây.
Cơ hội xuất hiện khi một đoàn đại biểu đại diện cho các doanh nghiệp của Anh được cử tới Liên Xô để bàn chuyện làm ăn. Thu xếp cho việc này là Greville Maynard Wynne, một thương gia người Anh 41 tuổi, đang làm tư vấn kinh doanh cho các công ty điện, thép và chế tạo máy của Anh muốn làm ăn tại Đông Âu và Liên Xô.
Trong một chuyến thăm Liên Xô vào ngày 1-12-1960, G. Wynne nói với các đại diện Ban Đối ngoại của Ủy ban quốc gia về hợp tác nghiên cứu khoa học Liên Xô (GKKNIR) rằng, thay vì mang những tờ rơi hay bản quảng cáo tới các bộ ngành của Liên Xô thì ủy ban nên cho phép bản thân G. Wynne tổ chức một đoàn các chuyên gia khoa học của tám công ty mà ông ta làm đại diện tới thăm Liên Xô để có thể bàn bạc trực tiếp với nhau về các phương thức hợp tác.
Đề nghị của G. Wynne nhận được sự hoan nghênh và ngày 8-12-1960, một đoàn gồm mười hai đại biểu như vậy đã tới thăm Liên Xô. Là người của GKKNIR, O. Penkovsky được giao nhiệm vụ làm sĩ quan liên lạc, chịu trách nhiệm thu xếp mọi chi tiết cho chuyến viếng thăm.
Trong thời gian đi cùng đoàn, O. Penkovsky đã cố gắng tiếp xúc với tiến sĩ A. D. Merriman, một chuyên gia về kim loại học. Khi tới khách sạn ở Leningrad, O. Penkovsky đã tới phòng của A. D. Merriman, vặn máy nước ở phòng tắm hết cỡ để đề phòng khả năng bị nghe lén, rồi trao cho A. D. Merriman một phong bì dán kín, nói rằng đó là tài liệu tối mật và nhờ chuyển cho sứ quán Mỹ. Nghi ngờ rằng bị khiêu khích, A. D. Merriman từ chối nhận phong bì này.
Khi tiễn đoàn ra sân bay Sheremetyevo ở Moscow để quay về Anh, chỉ năm phút trước khi A. D. Merriman lên máy bay, O. Penkovsky kéo riêng vị tiến sĩ kim loại học ra một chỗ rồi nói: “Tôi biết là ông không muốn dính đến rắc rối, nhưng việc tôi liên lạc được với sứ quán Mỹ thực sự rất quan trọng. Ông hãy nói với họ là gọi cho tôi vào số máy 717-184 lúc 10 giờ sáng mỗi chủ nhật. Tất cả những gì cần làm chỉ là gọi vào số máy đó và tôi sẽ chỉ dẫn cho họ biết cần làm gì tiếp theo”.
Quay về London, A. D. Merriman thông báo cho MI6 những gì O. Penkovsky đã làm ở Leningrad và nói ở sân bay Moscow. MI6 thông báo cho sứ quán Mỹ ở London diễn biến những gì A. D. Merriman đã trải qua ở Liên Xô, và sứ quán Mỹ, đến lượt mình, thông báo lại cho trạm CIA ở London.
Không nhận được bất cứ một phản hồi nào từ phía Mỹ, trong khi những người Anh trong phái đoàn thương mại từ chối việc chuyển giúp tài liệu, O. Penkovsky quyết định quay sang phía Canada! Ngày 30-12-1960, theo lời mời của Ủy ban quốc gia về hợp tác nghiên cứu khoa học Liên Xô, một đoàn các doanh nhân và nhà khoa học Canada sang thăm Liên Xô. Là người chịu trách nhiệm tổ chức cho chuyến đi của đoàn, O. Penkovsky bèn tiếp cận tiến sĩ J. M. Harrison, giám đốc Cơ quan thăm dò địa chất của Canada và thông qua ông này, tiếp xúc với Lãnh sự phụ trách thương mại tại sứ quán Canada William Van Vliet. Trong các cuộc tiếp xúc, O. Penkovsky đều đề nghị hai người Canada chuyển giúp những tài liệu “giá trị” cho phía Mỹ, hoặc ít nhất tổ chức gặp một ai đó ở sứ quán Mỹ. O. Penkovsky giải thích rằng mình không thể đến thẳng sứ quán Mỹ được vì có lính canh ở bên ngoài; tốt nhất là với danh nghĩa của sứ quán Canada tổ chức một bữa ăn trưa, tại đó O. Penkovsky có thể tiếp xúc với người Mỹ bởi nếu gặp gỡ qua kênh Ủy ban quốc gia về hợp tác nghiên cứu khoa học Liên Xô thì theo quy định, mỗi khi công dân Liên Xô gặp một người nước ngoài đều phải có mặt từ hai người trở lên. O. Penkovsky còn để lại trong phòng của W. Van Vliet một bức thư, nhờ chuyển cho “một người bạn Mỹ” thông qua tùy viên quân sự Mỹ ở Moscow.
Lo ngại bị khiêu khích, cả hai người Canada đều từ chối những đề nghị của O. Penkovsky, William Van Vliet thì trả lại bức thư cho O. Penkovsky. Sau đấy, cả hai người đều báo cáo lại sự việc cho đại sứ Canada.
+++++
Trong khi O. Penkovsky nỗ lực kết nối với tình báo phương Tây thì điệp viên Compass, trong nỗ lực cuối cùng, tìm cách liên lạc với O. Penkovsky. CIA được tiến sĩ A. D. Merriman báo lại về thời gian O. Penkovsky sẽ chờ ở nhà vào 10 giờ sáng mỗi chủ nhật nên bật đèn xanh cho Compass gọi điện thoại trực tiếp về căn hộ của O. Penkovsky ở Moscow. Đã bốn tháng trôi qua kể từ khi đặt chân tới Moscow, Compass vẫn không có cách nào thoát khỏi sự đeo bám của KGB.
Sáng hôm ấy, chủ nhật, 5-2-1961, Compass bấm số 717-184, nhưng thay vì thực hiện cuộc điện thoại vào lúc 10 giờ sáng như O. Penkovsky đã nhắn nhủ thì mãi tới 11 giờ trưa, Compass mới gọi. Một sai lầm thứ hai nữa là lẽ ra phải nói tiếng Nga thì Compass lại nói bằng tiếng Anh. O. Penkovsky nhấc máy nhưng với vốn tiếng Anh hạn chế, không hiểu Compass nói gì! Hơn thế nữa, cuộc gọi đã không đến đúng vào thời gian đã định. O. Penkovsky gác máy. Kết nối thất bại.
Lo lắng một sự bất cẩn nữa có thể gây nguy hiểm cho O. Penkovsky, CIA bèn lẳng lặng rút Compass về nước.
Đến lúc này thì CIA nhận thấy không thể chần chừ nữa trong việc liên lạc với O. Penkovsky. Sau khi biết chắc sứ quán Mỹ ở Moscow sẽ không tham gia hỗ trợ điệp vụ bắt liên lạc cũng như điều khiển O. Penkovsky, đồng thời nhận báo cáo của trạm CIA ở London về việc O. Penkovsky đã nỗ lực tiếp cận với chuyên gia về kim loại học người Anh A. D. Merriman, CIA đi tới quyết định phải liên lạc với điệp viên Chalk thông qua kênh của Cục Tình báo mật MI6.
Tuy nhiên, việc đưa người Anh vào cùng tham gia chiến dịch gây nên mối lo ngại lớn trong CIA. Họ vẫn chưa quên vụ việc hai nhân viên của Bộ Ngoại giao Anh, D. Maclean và G. Burgess, thật ra là những điệp viên của KGB trong mạng lưới có tên Bộ Ngũ Cambridge, đã đào thoát thành công sang Moscow mười năm trước đó. Việc tiến hành một chiến dịch hỗn hợp giữa hai cơ quan tình báo Anh - Mỹ tiềm ẩn những rủi ro rất lớn. Tuy vậy, thời gian cấp bách khiến CIA không có lựa chọn nào khác. Thà hợp tác với MI6 còn hơn là nhờ đến sự giúp đỡ của Bộ Ngoại giao Mỹ! Richard Helms, trưởng Phòng tác chiến (DP) của CIA, chịu trách nhiệm thực hiện các chiến dịch mật, chuẩn y sự hợp tác này.
Ngày 27-1-1961, một trong những điệp viên MI6 là Harold Taplin Shergold tới Tổng hành dinh CIA ở Langley. Là một điệp viên giàu kinh nghiệm, H. Shergold thường được huy động cho những điệp vụ tối quan trọng của MI6. Vào dịp cuối tháng 1 ấy, khi tới Langley, H. Shergold được J. Bulik thông báo về việc O. Penkovsky đã tiếp xúc với hai khách du lịch người Mỹ năm tháng trước ở Moscow. Cả những thông tin mật về hai vụ bắn rơi máy bay U-2 và RB-47 do O. Penkovsky cung cấp cũng được phía Mỹ cung cấp cho H. Shergold. Những thông tin đó đã thuyết phục tình báo Anh rằng O. Penkovsky có lẽ không phải là một kẻ khiêu khích.
Hai bên thống nhất sẽ thành lập một đội đặc nhiệm hỗn hợp CIA - MI6 để cùng nhau xử lí điệp vụ O. Penkovsky.
Phía Mỹ cũng được phản gián Canada thông báo về nỗ lực tiếp xúc của O. Penkovsky với hai người Canada ở Moscow. Để tránh nguy cơ O. Penkovsky có thể bị lộ qua “kênh” Canada, từ ngày 6 đến 8-2-1961, một quan chức cấp cao CIA đã bay tới Ottawa, để gặp đối tác phản gián Canada tại đây và đảm bảo tất cả những báo cáo của J. M. Harrison và W. Van Vliet về O. Penkovsky được loại bỏ khỏi mọi hồ sơ an ninh của phía Canada.
Các nhân viên tình báo Anh và Mỹ đi tới nhận định thống nhất rằng cách an toàn nhất để tiếp cận với O. Penkovsky không thể bằng các điệp viên chuyên nghiệp mà tốt nhất là qua một nhân viên dân sự nào đó. Người thích hợp nhất cho nhiệm vụ này là Greville Maynard Wynne, doanh nhân người Anh đã tổ chức cho đoàn đại diện các công ty của Anh tới thăm Liên Xô hồi đầu tháng 12-1960.
Điệp viên Dickie Franks, người điều hành Ban DP4 trong MI6, mời G. Wynne đi ăn trưa tại tiệm ăn Ivy ở London. D. Franks đề nghị G. Wynne cộng tác với MI6 bằng việc quay lại Liên Xô và thiết kế một đoàn đại biểu của các doanh nghiệp và nhà khoa học Liên Xô sang thăm Anh “đáp lễ” chuyến thăm Liên Xô trước đấy. Cần phải làm sao để O. Penkovsky là một thành viên trong đoàn đại biểu này. Khi đã tới được London, cách xa mọi sự giám sát ngặt nghèo của KGB thì việc bắt mối với O. Penkovsky sẽ dễ dàng hơn nhiều. G. Wynne nhận lời.
Đầu tháng 4-1961, G. Wynne quay lại Moscow để bàn với các đối tác trong Ủy ban quốc gia về hợp tác nghiên cứu khoa học Liên Xô tổ chức một đoàn đại biểu của Ủy ban đi thăm Anh. Phía Liên Xô đồng ý, dự kiến chuyến thăm sẽ bắt đầu vào ngày 20-4-1961. Nhưng O. Penkovsky không muốn bỏ lỡ thời cơ. Ngày 6-4, O. Penkovsky tới phòng của G. Wynne trong khách sạn Berlin ở Moscow và sau khi đã vặn vòi nước trong buồng tắm chảy ồ ồ để át hết mọi lời trao đổi, trao cho G. Wynne một số tài liệu mật.
Đến ngày 11-4, khi tiễn G. Wynne ở sân bay Sheremetyevo, O. Penkovsky tiếp tục trao cho G. Wynne một bức thư gửi các nhà lãnh đạo Anh - Mỹ, trong đó thúc giục phía Anh - Mỹ đẩy nhanh việc thiết lập cơ chế để O. Penkovsky có thể chuyển giao các tài liệu mật, hoặc nhanh chóng tổ chức cuộc gặp giữa O. Penkovsky với các đại diện của tình báo Anh - Mỹ.
Cuộc gặp như vậy đã diễn ra vào buổi tối hôm 20-4-1961, tại khách sạn Mount Royal gần công viên Hyde ở London. Buổi sáng hôm ấy, phái đoàn Liên Xô tới sân bay Heathrow và được G. Wynne đón về khách sạn Mount Royal. Ngay tại sân bay, O. Penkovsky đã kịp trao cho G. Wynne một phong bì tài liệu mật mà sau đấy, vị thương gia người Anh này chuyển lại cho các nhân viên tình báo Anh - Mỹ. Nhóm tình báo hỗn hợp Anh - Mỹ cũng thuê ngay phòng số 360 trong khách sạn, ngay tầng trên nơi phái đoàn Liên Xô ở. Hai điệp viên Mỹ trong nhóm hỗn hợp là J. Bulik và trợ lí, George “Teddy Bear” Kisevalter, một người biết tiếng Nga khá tốt. Còn hai người Anh đại diện cho MI6 là H. Shergold và một sĩ quan trẻ tên là Michael Stokes. Mới hơn một tuần trước đó, H. Shergold đã thành công trong việc buộc điệp viên Diomid, tức George Blake, thú tội làm gián điệp cho Liên Xô, khiến điệp viên này sau đấy phải nhận án bốn mươi hai năm tù trong nhà giam của nước Anh.
Lúc hơn 8 giờ tối, O. Penkovsky gõ cửa phòng và bước vào. Cuộc gặp mặt đầu tiên dẫn tới một trong những điệp vụ lớn nhất thế kỉ diễn ra quanh chiếc bàn nhỏ, trên có chai vang trắng và vài cái cốc. Một cái máy ghi âm giấu trong chiếc cặp của H. Shergold ghi âm lại toàn bộ nội dung cuộc nói chuyện để các chuyên viên tình báo Anh - Mỹ sau đấy sẽ phân tích, mổ xẻ kĩ lưỡng.
Trong cuộc nói chuyện này, O. Penkovsky đã thuật lại sơ yếu lí lịch bản thân, lí giải nguyên nhân thúc đẩy mình chủ động tiếp xúc với tình báo phương Tây. Một phần vì O. Penkovsky cảm thấy thất vọng với tình trạng trì trệ của xã hội và quân đội Xô viết; mặt khác bất mãn vì đã mang quân hàm đại tá mười một năm nhưng hầu như không có cơ hội nào khả dĩ để có thể leo lên cấp tướng, bởi những phát hiện mới của KGB về người cha Bạch vệ hầu như đã đóng sập mọi cánh cửa thăng tiến trước mặt O. Penkovsky.
O. Penkovsky nói với các nhân viên tình báo có mặt trong cuộc gặp rằng mình không có ý định đào thoát, bỏ gia đình ở lại Liên Xô. Thay vào đó, O. Penkovsky hi vọng một ngày nào đó sẽ có được cấp hàm trong quân đội Mỹ, đồng thời cần những khoản tiền để chuẩn bị cho cuộc sống sau này; trước mắt, O. Penkovsky nói, mình cần khoảng 10.000 rúp tiền mặt để có thể mua được một nhà nghỉ ở ngoại ô. Việc có nhiều tiền không gây ra sự nghi ngờ bởi ở Liên Xô, những ai từng ra nước ngoài như O. Penkovsky đều có thể tiết kiệm những khoản tiền lớn.
G. Kisevalter nói sẽ cung cấp tất cả những gì cần thiết như O. Penkovsky yêu cầu, đồng thời một khoản tiền hằng tháng sẽ được rót vào một tài khoản nhà băng cho O. Penkovsky.
Trước khi kết thúc cuộc gặp, O. Penkovsky yêu cầu được cung cấp một máy ảnh Minox để có thể chụp lại các tài liệu, đồng thời đề nghị các điệp viên Anh - Mỹ có mặt nhanh chóng thiết lập phương thức liên lạc một khi chuyến thăm của đoàn đại biểu Liên Xô kết thúc và O. Penkovsky quay về Moscow.
Quá trình kết nối với một trong những điệp viên quan trọng nhất mà tình báo Anh - Mỹ có được trong thời kì Chiến tranh Lạnh kết thúc. Cuộc gặp diễn ra trong vòng 3 tiếng 35 phút. Vào lúc hơn 1 giờ sáng ngày 21-4-1961, O. Penkovsky quay về phòng mình trong khách sạn.
+++++
Sau cuộc gặp đầu tiên, nhóm hỗn hợp tình báo Anh - Mỹ biết rằng họ đã vớ được một mỏ vàng. O. Penkovsky chắc chắn không phải là một kẻ khiêu khích do tình báo Liên Xô chủ động cài cắm mà là một điệp viên tình nguyện làm việc cho phương Tây. Trước đấy, tình báo Anh - Mỹ chưa từng có được một điệp viên nào cỡ như O. Penkovsky. Nếu cần tìm một động cơ thì đã rõ: O. Penkovsky bất mãn vì đà thăng tiến của mình trong GRU bị chặn lại vì lí lịch người cha Bạch vệ bị KGB phát hiện, đồng thời cũng cần tiền cho một cuộc sống dư dả hơn. Điều quan trọng hơn cả là O. Penkovsky đã chứng tỏ cho thấy có khả năng tiếp cận những tài liệu tối mật mà ngay cả trong mơ, các thành viên trong nhóm tình báo hỗn hợp Anh - Mỹ cũng không tưởng tượng ra nổi.
Ấn tượng nhất mà O. Penkovsky gây ra cho các nhân viên tình báo Anh - Mỹ chính là tiết lộ khả năng thực sự về sức mạnh tên lửa hạt nhân của Liên Xô. Kể từ khi Liên Xô phóng thành công vệ tinh Sputnik vào năm 1957, nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev liên tục nói về sự vượt trội tiềm lực tên lửa hạt nhân của Liên Xô so với phương Tây. Tháng 11-1959, N. Khrushchev tuyên bố rằng Liên bang Xô viết có “kho dự trữ tên lửa với các đầu đạn nguyên tử và hạt nhân đủ để nếu bị tấn công, có thể xóa sổ mọi kẻ thù khỏi bề mặt trái đất”. N. Khrushchev từng tuyên bố một nhà máy của Liên Xô có thể chế tạo tới 250 tên lửa đạn đạo một năm. Nói chuyện với một nhóm phóng viên, N. Khrushchev mô tả “các tên lửa của chúng tôi được lắp ráp giống như những khoanh xúc xích được sản xuất trên dây chuyền tự động”, rằng Liên Xô có số lượng vũ khí hạt nhân nhiều hơn, hiện đại hơn rất nhiều so với phương Tây. Nhưng theo những lời O. Penkovsky nói trong cuộc gặp mặt đầu tiên với các nhân viên tình báo trong nhóm hỗn hợp Anh - Mỹ thì thực tế có vẻ không phải như thế.
Gói tài liệu mà O. Penkovsky trao cho G. Wynne ở sân bay khi mới tới London chứa những tài liệu tối mật, phần lớn do O. Penkovsky tự chụp lấy. Đó là hình ảnh một cấu trúc bệ phóng tên lửa sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba sau này. Cũng có các tài liệu mật về hệ thống S-75, thường được biết đến dưới tên gọi SA-2, còn NATO gọi là Guideline, một hệ thống phòng không chống tên lửa mà phương Tây còn chưa biết gì nhiều vào thời điểm ấy. Ngoài ra, trong mớ tài liệu này có thông tin về hệ thống các tên lửa tầm trung R-5, R-11, R-12, R-14 (phương Tây lần lượt gọi là SS-6, SS-1, SS-4 và SS-5) cùng các phụ kiện kèm theo. Trong số này có mã của các thuật ngữ mà tình báo Liên Xô thường dùng, một bản tài liệu mật năm trang ghi lại ý kiến của N. Khrushchev về “tăng cường hiệu quả, giảm quy mô các lực lượng vũ trang, cắt giảm tiền lương hưu và chi phí quân sự” của quân đội Liên Xô.
Chương trình làm việc tại Anh của Đoàn đại biểu Ủy ban quốc gia về hợp tác nghiên cứu khoa học Liên Xô mà O. Penkovsky là một thành viên kéo dài từ 20-4 đến 6-5-1961. Ngoài London, đoàn còn đi thăm các nhà máy ở các thành phố Leeds và Birmingham của nước Anh. Tình báo Liên Xô nhân dịp này cài nhiều nhân viên của mình trong đoàn đại biểu với hi vọng tận dụng cơ hội để đánh cắp bí mật công nghệ ở các nhà máy của Anh. Nhiệm vụ cụ thể mà GRU giao cho O. Penkovsky trong chuyến đi này là thu thập thông tin về loại thép chịu được nhiệt độ cao có thể dùng trong chế tạo tên lửa.
Ban ngày, O. Penkovsky đi theo các hoạt động của đoàn, còn tối tối, tách khỏi đoàn để gặp gỡ các thành viên trong nhóm tình báo hỗn hợp Anh - Mỹ. Khi đoàn rời London đi Leeds và Birmingham thì nhóm hỗn hợp cũng đi theo và để tạo điều kiện thuận lợi cho O. Penkovsky, thường thuê phòng ở ngay trong cùng khách sạn với đoàn đại biểu Liên Xô. Theo giờ đã hẹn trước, O. Penkovsky xuống sảnh khách sạn, thấy G. Kisevalter từ xa. Hai người ra hiệu bằng mắt cho nhau và O. Penkovsky theo G. Kisevalter tới căn phòng nơi sẽ diễn ra các cuộc gặp gỡ.
Trong suốt chuyến đi này, O. Penkovsky đã có tổng cộng mười bảy cuộc gặp bí mật với các nhân viên nhóm hỗn hợp tình báo Anh - Mỹ.
Ngoài việc giới thiệu về bản thân cũng như động cơ chủ yếu dẫn tới việc tình nguyện làm việc cho phương Tây, trong các cuộc gặp, O. Penkovsky đã cung cấp một lượng thông tin mật khổng lồ cho nhóm hỗn hợp. Rất nhiều thông tin trong số đó được O. Penkovsky thu thập qua người cha đỡ đầu S. Varentsov, khi ấy đã lên đến chức vụ nguyên soái, vì thế có độ tin cậy đặc biệt.
Một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhân viên tình báo Anh - Mỹ là kho vũ khí hạt nhân của Liên Xô và các nước Đông Âu. O. Penkovsky cho biết Liên Xô đã triển khai các đơn vị tên lửa hạt nhân trên lãnh thổ hầu hết các nước Đông Âu, chỉ ngoại trừ Albania, vì nước này đã công khai chỉ trích báo cáo của N. Khrushchev tại Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1956 liên quan đến những sai lầm của J. Stalin. Trong số các tên lửa được triển khai có R-11, mà phương Tây gọi là SS-1, loại tên lửa đạn đạo tầm trung rất uy lực. Riêng ở Cộng hòa dân chủ Đức, Liên Xô có bốn lữ đoàn tên lửa đạn đạo, trong đó chỉ có hai lữ đoàn được trang bị đầu đạn hạt nhân. Hai đơn vị này được bố trí ở hai vị trí độc lập với nhau, người chỉ huy là Thiếu tướng N. Zhdanov, chỉ huy trưởng binh chủng pháo binh. Toàn bộ các đơn vị tên lửa nằm trên lãnh thổ các nước Đông Âu này đều nằm dưới quyền kiểm soát của quân đội Liên Xô. Việc bảo vệ an ninh các kho vũ khí hạt nhân sẽ do các sư đoàn KGB đặc biệt đảm nhiệm.
O. Penkovsky tiết lộ các vị trí thử tên lửa Liên Xô thường sử dụng là ở Kapustin Yar, cách khoảng 60 dặm về phía đông nam thành phố Volgograd (tên mới của Stalingrad) và một bãi thử khác trên lãnh thổ Kazakhstan ở vùng Trung Á. Ngoài các nhà khoa học Liên Xô, một số nhà khoa họcĐức từng liên quan đến chương trình phát triển bom bay V-2 của phát xít Đức trước đấy cũng được phía Liên Xô trưng dụng cho chương trình phát triển tên lửa của mình. Đó cũng là phương thức tương tự mà Mỹ sử dụng cho chương trình tên lửa đạn đạo của Mỹ. Các nhà khoa học này cùng gia đình sống tập trung ở một thành phố nhỏ tên là Krasnogorsk, nằm ở ngoại vi phía tây bắc Moscow; họ không bao giờ xuất hiện công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng.
Về trình độ phát triển tên lửa đạn đạo của Liên Xô, theo O. Penkovsky, còn xa mới đạt tới được sự hoàn hảo như nhà lãnh đạo N. Khrushchev thường khoe khoang. Nhiều vụ thử tên lửa bị thất bại mà một trong số đó đã gây ra cái chết của Nguyên soái pháo binh M. Nedelin vào ngày 24-10-1960, vốn chỉ được truyền thông Liên Xô thông báo là do tai nạn hàng không. Nhiên liệu mà phía Liên Xô sử dụng cho tên lửa đạn đạo mới chỉ ở dạng lỏng chứ chưa phải là ở dạng rắn. Ngay cả tên lửa dùng để phóng vệ tinh Sputnik cũng là loại tên lửa hai tầng dùng nhiên liệu lỏng...
Những tiết lộ của O. Penkovsky về quá trình sử dụng nhiên liệu lỏng cho tên lửa của Liên Xô có ý nghĩa tối quan trọng đối với các chuyên gia khoa học của CIA. Nó cho phép họ đánh giá được chính xác thực trạng phát triển của hệ thống tên lửa chiến lược Xô viết, từ đó đưa ra những đối sách, khuyến nghị thích hợp cho các nhà hoạch định chính sách.
O. Penkovsky cho nhóm hỗn hợp biết địa chỉ Sở chỉ huy lực lượng tên lửa chiến lược Liên Xô dưới quyền Nguyên soái Kirill S. Moskalenko nằm ở thành phố nhỏ Perkhushkovo, cách Moscow khoảng năm mươi dặm. Một thành phố khác cách Moscow khoảng hai trăm dặm về phía tây nam có tên Klintsy là nơi tập trung cất giữ các đầu đạn hạt nhân. Cơ sở tên lửa chính nhằm vào nước Anh nằm ở phía bắc Leningrad, tại thành phố có tên là Severomorsk trong vùng Murmansk. Tại đó Liên Xô bố trí một lữ đoàn tên lửa trang bị tên lửa đất đối không S-75 (SA-2).
O. Penkovsky cũng chỉ ra hàng loạt các trung tâm đào tạo sĩ quan chỉ huy tên lửa, những trung tâm chỉ huy, nhà máy sản xuất và kho tàng niêm cất các đầu đạn hạt nhân. O. Penkovsky nhấn mạnh rằng nhà lãnh dạo Xô viết N. Khrushchev không từ bỏ ý định sử dụng “những trận mưa tên lửa để xóa sổ chủ nghĩa đế quốc”. Mặc dù vậy, N. Khrushchev chưa muốn phát động chiến tranh mà sẽ chỉ triển khai tên lửa ở nhiều nơi, trong đó có Cuba. Liên quan đến chuyện này, O. Penkovsky cho các nhân viên tình báo Anh - Mỹ biết về việc các tên lửa đất đối không SA-2 đang được gửi tới Cuba, tuy nhiên chưa có quyết định về việc triển khai tên lửa chiến lược tại đây.
Như vậy là mười tám tháng trước khi nổ ra cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, O. Penkovsky đã đưa ra những thông tin cảnh báo đầu tiên cho phương Tây về cuộc khủng hoảng.
O. Penkovsky tiết lộ Liên Xô mới chỉ sản xuất được những đầu đạn nguyên tử nhỏ nhất cỡ 5 kiloton chứ chưa sản xuất được những đầu đạn cỡ nhỏ hơn. Thông tin này do chính Nguyên soái S. Valentsov nói với O. Penkovsky. Phía Liên Xô đã thử thành công bom khinh khí có đương lượng nổ lớn hơn 25 kiloton, nhưng O. Penkovsky không biết loại bom này được cất giấu ở đâu.
Trong một cuộc gặp, các điệp viên nhóm hỗn hợp Anh - Mỹ sửng sốt khi O. Penkovsky gợi ý về việc phương Tây có thể thực hiện những cuộc tiến công bằng vũ khí nguyên tử cỡ nhỏ, chừng 2 kiloton có thể nhét vừa trong một chiếc cặp, vào các mục tiêu trọng yếu của Liên Xô như Bộ Tổng tham mưu, Tổng hành dinh KGB, trụ sở Ủy ban trung ương Đảng Cộng sản. Những cuộc tấn công vào các mục tiêu này sẽ nhanh chóng đánh sập toàn bộ sức kháng cự của phía Xô viết.
Theo O. Penkovsky, nếu chiến tranh nổ ra, phương Tây cần nhanh chóng loại bỏ chừng 50.000 người chủ chốt ở Moscow, gồm 28.000 người của Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang, 5.000 người thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, từ 5.000 đến 6.000 nhân viên KGB, một số nhân viên của không quân, hải quân. Ngoài ra, cũng phải tiêu diệt chừng 100.000 tướng lĩnh, sĩ quan, quân nhân ở 20 quân khu trên khắp lãnh thổ Liên Xô. Tổng cộng sẽ vào khoảng 150.000 người. Nếu thực hiện được việc tiêu diệt 150.000 người này, các lực lượng vũ trang Xô viết sẽ mau chóng bị đánh quỵ.
Tuy nhiên, O. Penkovsky nói thêm, sẽ khó có thể gây nguy hiểm được cho bản thân nhà lãnh đạo N. Khrushchev, bởi ông này luôn ở một trong ba nhà nghỉ ngoại ô, một cái ở gần trường Đại học Tổng hợp Moscow, cái thứ hai nằm trên đường cao tốc Rublevskoe gần Kuntsevo, cách Moscow chừng bảy dặm và cái cuối cùng nằm ở khu vực Dmitrievo.
Các điệp viên trong nhóm hỗn hợp phân vân không rõ O. Penkovsky có thật sự nghiêm túc khi đưa ra một kế hoạch không tưởng như vậy hay không, nhưng họ không nói gì. Michael Stokes, điệp viên trẻ tuổi biết tiếng Nga của tình báo Anh trong nhóm hỗn hợp nghĩ rằng có lẽ O. Penkovsky bị điên! Còn theo đánh giá của Giám đốc Cục Tình báo mật MI6 Sir Dick White, thì O. Penkovsky thuộc mẫu điệp viên cổ điển, có hơi hướng bệnh lí đánh giá quá mức tầm quan trọng của hoạt động gián điệp, cho rằng một tay mình cũng có thể làm thay đổi cán cân lực lượng giữa các cường quốc.
Các điệp viên Anh - Mỹ hết sức quan tâm đến lực lượng tàu ngầm hạt nhân của Liên Xô. O. Penkovsky cho biết xưởng đóng các tàu ngầm này nằm ở thành phố Menzelinsk, cách Moscow chừng năm trăm bốn mươi dặm về phía đông, trong địa bàn Quân khu Moscow. Tàu ngầm hạt nhân được bố trí tại các căn cứ nằm ở vùng Leningrad. G. Kisevalter và O. Penkovsky đã thảo luận về khả năng phóng tên lửa từ dưới mặt nước hoặc trên mặt nước của các tàu ngầm Liên Xô.
Bổ sung thêm thông tin về hai vụ Liên Xô bắn hạ máy bay U-2 và RB-47 đã kể cho hai du khách người Mỹ ở Moscow trước đó, O. Penkovsky cho biết chiếc RB-47 đã bị trúng một quả tên lửa từ một chiếc MiG-19 khi đang bay trên vùng trời của biển Barents. Còn sau khi chiếc U-2 bị bắn rơi, viên phi công F. Powers đã được đưa về Moscow bằng máy bay, và khi anh ta tới nơi, KGB không có một phiên dịch tiếng Anh nào! Quân đội Xô viết bắn rơi chiếc máy bay nhưng KGB đã giành lấy việc hỏi cung F. Powers vì giám đốc KGB khi ấy là A. Shelepin muốn tự mình đích thân báo cáo lên N. Khrushchev về vụ việc. Lẽ ra O. Penkovsky đã được trưng dụng làm người phiên dịch để hỏi cung F. Powers, nhưng đến phút cuối cùng, A. Shelepin tìm được một phiên dịch và O. Penkovsky bị gạt ra rìa.
Ở một trong những cuộc gặp bí mật, O. Penkovsky đã kí vào một văn bản cam kết tình nguyện làm việc cho cả chính phủ Mỹ và chính phủ Anh “như một chiến sĩ đấu tranh cho thế giới tự do”, theo như lời trong văn bản cam kết này. Theo yêu cầu của O. Penkovsky, các điệp viên cũng cung cấp một chiếc máy ảnh hiệu Minox nhỏ xíu để vừa trong lòng bàn tay và hướng dẫn O. Penkovsky cách sử dụng.
Trong một đêm hiếm hoi các điệp viên không gặp gỡ với O. Penkovsky, viên đại tá cùng với G. Wynne tới một hộp đêm, và sau đấy, O. Penkovsky qua đêm với một cô gái làng chơi hai mươi ba tuổi. G. Wynne đã chuẩn bị sẵn cho O. Penkovsky một hộp bao cao su nhưng viên đại tá GRU không sử dụng!
Ở một buổi gặp mặt khác, O. Penkovsky nói với các thành viên trong nhóm tình báo hỗn hợp rằng mình muốn được diện kiến Nữ hoàng Anh Elizabeth và nếu có thể, cả “Hoàng gia” Mỹ, ý nói đến Tổng thống Mỹ John Kennedy. Các điệp viên giải thích cho O. Penkovsky rằng việc gặp gỡ Nữ hoàng Anh là không thể được mà cũng gây ra rất nhiều rủi ro, còn nếu như có cơ hội sang Mỹ thì J. Bulik có thể thu xếp để O. Penkovsky gặp được Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy, em trai của tổng thống.
Thay cho việc gặp Nữ hoàng Anh, các điệp viên đã bố trí để O. Penkovsky gặp Giám đốc Cục Tình báo mật MI6 Sir Dick White. Trong cuộc gặp này, Sir Dick White nói rằng mình đại diện cho cá nhân Bộ trưởng Quốc phòng Anh Lord Mountbatten, cảm ơn O. Penkovsky về những thông tin quý giá mà viên đại tá GRU đã chuyển cho tình báo phương Tây.
Để chăm sóc chu đáo O. Penkovsky, các diệp viên Anh - Mỹ cho viên đại tá GRU xem năm mẫu nguyên liệu làm răng để thay thế cho sáu chiếc răng giả của O. Penkovsky. Viên cựu sĩ quan pháo binh đã mất sáu chiếc răng này khi bị thương trong một trận đánh thời Đệ nhị thế chiến. Nguyên liệu làm răng giả ở Moscow chất lượng rất kém, không sử dụng được lâu. O. Penkovsky tỏ vẻ rất hài lòng khi chọn được mẫu nguyên liệu phù hợp với những chiếc răng thật của mình!
Ngoài những tiết lộ vô giá về hệ thống tên lửa chiến thuật, chiến lược, tàu ngầm hạt nhân của Liên Xô, O. Penkovsky cũng mô tả cặn kẽ cơ cấu hoạt động của GRU, các phương thức sử dụng điện đài, xe ô tô trong các chiến dịch bí mật. O. Penkovsky cho biết mình không biết tên thật của trưởng trạm GRU tại London, nhưng đã báo cho các điệp viên Anh - Mỹ về cuộc gặp của sĩ quan GRU ở trạm London, Shapovalov, với một điệp viên mà GRU tuyển mộ ở London trong thời gian đoàn đại biểu của Liên Xô đang thăm Anh, qua đó tình báo Anh - Mỹ có thể theo sát và chụp ảnh được cả hai người này.
O. Penkovsky cho nhóm hỗn hợp biết về Đại tá Federov, người tốt nghiệp trường tình báo cùng với O. Penkovsky, đã từng có thời gian hoạt động tại Anh và ở thời điểm đó đang hoạt động dưới vỏ bọc tùy viên quân sự tại một nước vùng Scandinavia. Nhóm tình báo hỗn hợp hết sức vui mừng khi O. Penkovsky hứa sẽ cung cấp danh sách mười lăm điệp viên GRU khi ấy đang hoạt động ở Ceylon (tên gọi cũ của Sri Lanka), Pakistan và Ấn Độ. O. Penkovsky có được thông tin về những người này khi chuẩn bị đi làm tùy viên quân sự tại Ấn Độ.
Một thành công lớn khác mà các điệp viên nhóm hỗn hợp Anh - Mỹ gặt hái được là khi cho O. Penkovsky xem ảnh và hồ sơ của chừng 7.000 người lấy ra từ các kho lưu trữ mật của CIA, MI5 và MI6. O. Penkovsky nhận diện được khoảng từ 7% đến 10% trong số này, hầu hết đều là điệp viên của GRU. Ngoài ra, O. Penkovsky cũng xác nhận với nhóm hỗn hợp chừng từ 200 đến 300 sĩ quan KGB trong số các bức ảnh. Có được thông tin quý giá này, CIA và MI6 sẽ bám sát các điệp viên KGB và GRU để phát hiện ra các đầu mối của tình báo Liên Xô.
Cuối cùng, trước khi O. Penkovsky cùng đoàn đại biểu Liên Xô rời Anh, các điệp viên trong nhóm hỗn hợp cùng với O. Penkovsky bàn thảo kĩ càng về các phương thức liên lạc ở Moscow. G. Wynne sẽ tìm cách thường xuyên sang Liên Xô, đóng vai trò liên lạc viên chuyển tài liệu cho O. Penkovsky. Các điệp viên hướng dẫn O. Penkovsky cách nghe mật mã qua sóng vô tuyến điện và chuyển các cụm số thành chữ trên văn bản. Ngoài ra, còn có các đầu mối liên lạc ở Moscow, thông qua một người phụ nữ có con nhỏ tại đó. Các cuộc chuyển giao tài liệu sẽ diễn ra ít nhất một tháng một lần.
+++++
Đầu tháng 6-1961, trong cuộc gặp thượng đỉnh Xô - Mỹ diễn ra tại Vienna, Áo, lãnh tụ Liên Xô Nikita Khrushchev đã cảnh báo Tổng thống Mỹ John Kennedy rằng do việc vi phạm Hiệp định Potsdam, các nước phương Tây sẽ phải rút khỏi phần lãnh thổ Tây Berlin. Cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai bắt đầu đi tới đỉnh điểm căng thẳng.
Cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ nhất xảy ra vào năm 1948, khi J. Stalin cố gắng đẩy các lực lượng phương Tây ra khỏi Tây Berlin bằng cách “khóa” hành lang nối Tây Berlin với những khu vực do quân đội ba nước Đồng minh phương Tây kiểm soát. Trong vòng mười lăm tháng, từ tháng 6-1948 đến tháng 9-1949, các nước đồng minh, đứng đầu là Mỹ, đã tổ chức chiến dịch không vận khổng lồ, vận chuyển hàng trăm ngàn tấn hàng hóa, thiết bị để tiếp tế cho Tây Berlin. Nay thì nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev lại thách thức Tổng thống J. Kennedy bằng cách đe dọa sẽ kiểm soát những hành lang đi qua lãnh thổ Đông Đức nối với Tây Berlin.
Trong khoảng thời gian còn lại của tháng 6-1961, chính quyền Tổng thống J. Kennedy tập trung vào việc xây dựng một kế hoạch nhằm chuẩn bị cho khả năng cuộc khủng hoảng Berlin lần hai bùng phát dẫn tới việc tiếp cận với phần lãnh thổ Tây Berlin của các nước phương Tây bị ngăn chặn.
Nhân vật chính trong kịch bản này là cựu Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Dean Acheson, được Tổng thống J. Kennedy mời làm cố vấn về các vấn đề an ninh quốc gia. Trong báo cáo đầu tiên lên Tổng thống Mỹ vào ngày 28-6-1961, Dean Acheson đưa ra những đề nghị cứng rắn: Phải cho N. Khrushchev biết rằng ông ta sẽ không thể thành công trong việc đẩy các lực lượng quân Đồng minh phương Tây ra khỏi Tây Berlin. Cựu Ngoại trưởng Mỹ nhấn mạnh rằng quân đội Mỹ sẽ sẵn sàng sử dụng sức mạnh nếu như quyền tiếp cận với Berlin bị thách thức!
Hai ngày sau đó, cố vấn Hội đồng An ninh McGeorge Bundy công bố Nghị định thư số 58 của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, trong đó ở phần thứ bảy có yêu cầu Bộ trưởng Ngoại giao và Giám đốc Cục Tình báo trung ương Hoa Kỳ CIA phải “chuẩn bị để tạo ra một tình trạng bất ổn ở Đông Đức cũng như Đông Âu và những công việc này phải được hoàn thành trước ngày 15-10”. G. Bundy cũng gợi ý rằng “phải làm cho người Xô viết lo đối phó với những bất ổn này trước khi họ có những quyết định xung quanh Berlin”.
Ban Đông Âu của CIA thì không ảo tưởng như vậy. Trong một cuộc gặp tại Tổng hành dinh CIA ngày 22-6-1961, Bill Harvey, cựu Trưởng trạm CIA tại Berlin nói: “Quả là không hiện thực chút nào nếu như cho rằng chúng ta có thể cấy sang địa bàn miền Đông mạng lưới điệp viên nằm vùng để đóng vai trò then chốt trong một phong trào chống đối có tổ chức nào đó và duy trì nó cho các chiến dịch quân sự. Khả năng của chúng ta không tương xứng với một nhiệm vụ như vậy, nhất là nếu so sánh với năng lực của Bộ An ninh Cộng hòa dân chủ Đức”.
Quan điểm này của Harvey hoàn toàn được Ban Đông Âu của CIA nhất trí; hầu hết bọn họ vẫn còn nhớ rõ sự sụp đổ của phong trào bán quân sự bên trong lãnh thổ Cộng hòa dân chủ Đức liên quan đến cái tên Free Jurists. Đó là một tổ chức có tên là Ủy ban điều tra Free Jurists, do một luật sư tên là Horst Erdmann, biệt danh Theo Friedenau, thành lập năm 1949 ở Tây Berlin, hoàn toàn do Mỹ nuôi dưỡng về tài chính. Chính thức mà nói, nhiệm vụ của Ủy ban này là giúp những người dân Đông Đức có được các tư vấn pháp lí nhằm di cư một cách tự do. Nhưng trên thực tế, ủy ban này điều hành các hoạt động gián điệp chống Cộng hòa dân chủ Đức với sự hỗ trợ của các điệp viên nằm vùng.
Cơ quan An ninh Cộng hòa dân chủ Đức xâm nhập vào hầu hết các tiểu tổ của tổ chức này và đến năm 1958 thì H. Erdmann, người đứng đầu tổ chức phải tuyên bố từ chức. Hoạt động của ủy ban này coi như bị xóa sổ. Gợi ý về việc tiến hành các bước tiếp theo nhằm “làm tăng dòng người tị nạn” cũng bị nhất trí bác bỏ. Nếu như các hoạt động quân sự có tổ chức theo kế hoạch của cố vấn D. Acheson được thực thi thì điều đó có nghĩa là “chúng ta đã thúc đẩy cuộc khủng hoảng Berlin tới chỗ buộc phía Đông Đức phong tỏa thành phố này”, CIA kết luận.
Người Mỹ tiếp tục tập trung vào khả năng cuộc khủng hoảng Berlin sẽ dẫn tới việc họ khó có thể tiếp cận được với Berlin, dự đoán sẽ xảy ra vào khoảng mùa thu năm 1961 sau khi Liên Xô kí với Cộng hòa dân chủ Đức hiệp định hòa bình riêng rẽ.
+++++
Ngày 6-5-1961, O. Penkovsky cùng đoàn đại biểu rời Anh quay về Liên Xô thì ba tuần lễ sau, G. Wynne cũng tới Moscow dưới danh nghĩa tham dự một hội chợ thương mại của Pháp và thu xếp để tổ chức đoàn doanh nghiệp Anh sang thăm Liên Xô.
Trên đường đưa G. Wynne về khách sạn Metropol là nơi vị thương gia người Anh sẽ tạm trú trong thời gian ở Moscow, O. Penkovsky đã kịp chuyển giao ba gói giấy cho G. Wynne. Đó là những tài liệu tối mật mà trong thời gian ba tuần trước đó, O. Penkovsky kịp dùng chiếc máy ảnh Minox chụp lại ở thư viện của Bộ Tư lệnh Pháo binh trong Bộ Quốc phòng Liên Xô, một khu liên hợp các tòa nhà nằm trên phố Frunze. Nguyên soái S. Varentsov đã xoay cho O. Penkovsky một giấy ra vào đặc biệt để có thể tiếp cận được những tài liệu mật này.
G. Wynne nhanh chóng chuyển các tài liệu mật này cho đại diện của MI6 ở Moscow, Roderick Chisholm, làm việc dưới vỏ bọc nhân viên tại sứ quán Anh nằm trên phố Maurice Thorez, đối diện với điện Kremlin.
Lần này tới Moscow, G. Wynne cũng cho O. Penkovsky xem tấm ảnh đen trắng, chụp hình một phụ nữ xinh đẹp với ba đứa con kháu khỉnh ngồi trên một chiếc ghế ở công viên. Đó là Janet Chisholm, vợ của điệp viên MI6 Roderick Chisholm, chính là người sẽ nhận các tài liệu mà O. Penkovsky chuyển giao. O. Penkovsky sẽ phải ngồi trên một gờ tường ở lối vào công viên nằm trên Đại lộ Tsvetnoy, gần chợ Trung tâm. Khi Janet cùng với những đứa con xuất hiện, O. Penkovsky sẽ lại gần để đưa cho chúng hộp kẹo sô cô la. Janet nhận hộp kẹo, giấu xuống dưới tấm chăn đắp trong chiếc xe nôi và đưa một hộp kẹo giống hệt cho bọn trẻ. Cuộc gặp sẽ được bố trí vào quãng 3 giờ rưỡi chiều. Mật danh của Janet là Anne, còn O. Penkovsky được người Anh đặt mật danh là Yoga, người Mỹ đặt là Hero.
Ở thời điểm ấy, Janet Chisholm mới ba mươi hai tuổi, cũng là một thư kí làm việc cho MI6. Việc các nhân viên nhóm tình báo hỗn hợp Anh - Mỹ lựa chọn Janet Chisholm làm người liên lạc với O. Penkovsky ở Moscow dựa trên suy đoán KGB sẽ không mấy để ý đến vợ con các nhà ngoại giao làm việc trong sứ quán Anh ở Moscow. Họ không ngờ rằng đấy là một tính toán sai lầm chết người.
Đúng vào thời điểm cuộc khủng hoảng Berlin bắt đầu được đẩy lên sau cuộc gặp thượng đỉnh tại Vienna giữa nhà lãnh đạo Liên Xô N. Khrushchev với Tổng thống Mỹ J. Kennedy thì ngày 2-7, O. Penkovsky có cuộc gặp với Janet Chisholm ở công viên trên đại lộ Tsvetnoy.
Trong “hộp kẹo” mà O. Penkovsky chuyển cho Janet Chisholm có hai tờ giấy đánh máy và bảy cuộn phim, ghi lại nội dung cuộc nói chuyện của O. Penkovsky với Nguyên soái S. Varentsov tại nhà nghỉ của ông này hôm 25-6-1961 và thông tin chi tiết về các lữ đoàn tên lửa Xô viết trên lãnh thổ Cộng hòa dân chủ Đức. Trong cuộc nói chuyện này, Nguyên soái S. Varentsov nói nhà lãnh đạo N. Khrushchev đã quyết định Liên Xô sẽ kí hiệp định riêng rẽ với Cộng hòa dân chủ Đức; lực lượng vũ trang Cộng hòa dân chủ Đức sẽ tiến hành phong tỏa Tây Berlin. Liên Xô sẵn sàng cung cấp xe tăng và các trang thiết bị quân sự cho Cộng hòa dân chủ Đức nếu phương Tây sử dụng xe tăng để cố tiếp cận với Tây Berlin. Phía Liên Xô cho rằng việc kí hiệp ước riêng rẽ với Đông Đức có thể gây ra một số rủi ro, nhưng xác định rằng phía Tây Đức chưa sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh, ít nhất là trong vòng hai, ba năm trước mắt. Vì thế, cả Mỹ, Anh, Pháp cũng sẽ không mạo hiểm đi tới chiến tranh và phải lùi bước.
Ngày 4-7, O. Penkovsky được sếp GRU là Dzherman Gvishiani gọi vào phòng làm việc, thông báo rằng do đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chuyến đi Anh, O. Penkovsky được thăng chức Phó ban đối ngoại của Ủy ban quốc gia về hợp tác nghiên cứu khoa học Liên Xô và sẽ có chuyến quay lại Anh vào cuối tháng 7 để thu xếp cho một đoàn đại biểu của Ủy ban đi thăm Anh.
+++++



Ngày 20-7-1961, Giám đốc KGB Alexander Shelepin gửi một báo cáo riêng đến N. Khrushchev, trong đó thể hiện hầu hết những nội dung báo cáo của KGB về phiên họp Hội đồng NATO diễn ra trong tháng 5 ở Oslo, Na Uy. Tại cuộc họp này, Bộ trưởng Ngoại giao của các nước Mỹ, Anh, Pháp và Cộng hòa liên bang Đức đã có các cuộc gặp riêng rẽ để thảo luận về cuộc khủng hoảng Berlin.
Bản báo cáo thể hiện nỗ lực lớn lao của các điệp viên KGB hoạt động ở những vị trí cấp cao, theo lời A. Shelepin, là “ở Bộ Ngoại giao, Bộ Tổng tham mưu, các cơ quan chính phủ trong hệ thống quyền lực phương Tây cũng như trong bộ máy NATO”. Báo cáo này cho phép N. Khrushchev có được nhận định vô cùng quan trọng về khả năng phản ứng của quân đội các nước phương Tây một khi quyền tiếp cận với Tây Berlin bị thách thức.
Báo cáo đề cập khái quát đến chiến dịch lập một cầu hàng không nằm trong tổng thể kế hoạch quân sự của quân đội các nước NATO gồm Mỹ, Anh và Pháp mang mật danh Live Oak nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng Berlin. Báo cáo của A. Shelepin cũng đề cập đến nội dung cuộc thảo luận giữa các nước đồng minh phương Tây về thời gian cũng như trong điều kiện nào có thể sử dụng đến vũ khí hạt nhân. Theo nguồn tin của KGB, các cường quốc phương Tây dã không thông qua một quyết định tối hậu nào nhằm tiến hành những hoạt động chống lại Liên bang Xô viết, Cộng hòa dân chủ Đức hay các nước khác tham gia vào hiệp ước hòa bình. Các thành viên NATO lo ngại rằng họ chỉ có hai lựa chọn nếu như phía Liên Xô ngăn chặn quyền tiếp cận với phần lãnh thổ Berlin của các nước phương Tây: Hoặc là cam chịu, hoặc là bước vào một cuộc “chiến tranh trả đũa”.
KGB trông chờ sẽ kéo dài cuộc khủng hoảng. Trong một báo cáo gửi N. Khrushchev hôm 29-7, Giám đốc KGB A. Shelepin đề nghị rằng Liên Xô phải tạo ra “một tình trạng phức tạp ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của Mỹ, làm giảm bớt ý nghĩa của một hiệp ước hòa bình giữa Liên Xô và Đông Đức đối với Tây Berlin”. Kế hoạch cũng bao gồm việc ‘làm cho trong các hành lang quyền lực ở các cường quốc phương Tây hiểu rằng nếu gây ra một cuộc xung đột quân sự xung quanh vấn đề Tây Berlin sẽ dẫn tới việc phương Tây không chỉ mất đi các vị trí của họ ở châu Âu mà còn cả ở Mỹ Latinh, châu Á và châu Phi”.
Đề xuất này rõ ràng đã được N. Khrushchev thông qua. Trong danh sách những biện pháp mà A. Shelepin đề nghị, Bộ trưởng Quốc phòng Rodion Malinovsky và Phó giám đốc KGB Piotr Ivanovic Ivashutin đã lựa chọn vài kịch bản để làm cho phương Tây tin rằng phía Liên Xô “đã chuẩn bị mở một đòn tiến công vào các lực lượng vũ trang phương Tây để giáng trả sự khiêu khích xung quanh khu vực Tây Berlin”. Cả hai người đều cho rằng điều quan trọng là phải đánh lừa các nước phương Tây về khả năng của quân đội Xô viết: “Phải làm cho phương Tây tin rằng Liên Xô đã tiến hành bay thử nghiệm những máy bay với động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân!”.
Ở thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng Berlin, việc phương Tây đọ sức với nền quân sự Xô viết có vẻ như ngày càng gặp khó khăn. Bất chấp những kết quả do thám của tình báo phương Tây, các nhà hoạch định chính sách của phương Tây liên tục tranh cãi về quy mô, phạm vi và tầm quan trọng của quân đội Xô viết. Mối quan tâm chủ yếu là về chương trình tên lửa Xô viết; những cuộc trình diễn hoành tráng của phía Liên Xô trên vũ trụ cho thấy thiết kế vượt trội về tầm bắn của tên lửa liên lục địa. Tất cả đều hiểu rõ tên lửa có khả năng phóng vệ tinh hoặc người vào không gian thì cũng có khả năng phóng một vũ khí hạt nhân có sức công phá khủng khiếp đi hàng nghìn cây số. Những tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Liên Xô mà nhà lãnh đạo N. Khruschev tự tin rằng có thể “bắn trúng một con ruồi trong không gian”, cho thấy một sức mạnh khổng lồ so với lực lượng tên lửa chiến lược ICBM của Mỹ.
Nói tóm lại, con át chù bài trong tay nhà lãnh đạo Liên Xô N. Khrushchev trong cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai là làm cho phương Tây tin rằng lực lượng vũ trang Liên Xô vượt trội hơn rất nhiều so với phương Tây. Nếu các nước phương Tây thách thức, chiến tranh nổ ra và phương Tây sẽ chuốc lấy thất bại chắc chắn.
Rất nhiều nhà hoạch định chính sách cấp cao của Anh và Mỹ khi ấy tin rằng có một “khoảng cách tên lửa” to lớn giữa Liên Xô và phương Tây, trong đó ưu thế tuyệt đối nghiêng về phía Liên Xô.
+++++
Để xử lí gói tài liệu O. Penkovsky chuyển qua Janet Chisholm hôm 2-7-1961, CIA thành lập một nhóm dịch thuật gồm hai mươi nữ cựu quân nhân, bố trí tại một tòa nhà xấu xí ở Arlington, Virginia. Phía Anh cũng thành lập một nhóm tương tự gồm mười người ở London để dịch các tài liệu này. Toàn bộ các tài liệu đều thuộc dạng tối mật và chưa từng được phương Tây biết đến trước đó.
Trong số các tài liệu này, đặc biệt có giá trị đối với tình báo phương Tây là 36 trang hướng dẫn kĩ thuật điều hành các chiến dịch mật của GRU cũng như 68 trang chỉ dẫn phương thức liên lạc và điều hành các điệp viên. O. Penkovsky cũng cung cấp danh sách 60 học viên mới được tuyển vào Học viện Ngoại giao quân sự ở Moscow. Đấy chính là những điệp viên tương lai của GRU và ngay khi họ còn chưa ra trường CIA đã biết tường tận về các điệp viên này, qua đó sẽ nắm được những chiến dịch bí mật của GRU ở hải ngoại.
Chiều 11-7-1961, Dick Helms, giám đốc bộ phận thực hiện các chiến dịch mật và Jack Maury, trưởng Ban Xô viết của CIA, gặp Giám đốc CIA Allen Dulles để bàn thảo về việc sử dụng các tài liệu liên quan đến cuộc khủng hoảng Berlin do O. Penkovsky mới chuyển giao. Allen Dulles nói Hội đồng An ninh sẽ nhóm họp vào ngày hôm sau 12-7 và ông ta sẽ gặp tổng thống vào sáng thứ sáu, ngày 14-7-1961. “Tôi sẽ đích thân chuyển cho tổng thống những tài liệu này”, - Allen Dulles nói. Để giữ tuyệt đối bí mật, tên của O. Penkovsky sẽ không được nêu ra trong bất kì tài liệu nào.
Ngày 14-7-1961, trong cuộc gặp gỡ tại Nhà Trắng, Giám đốc CIA Allen Dulles thông báo cho Tổng thống J. Kennedy biết rằng CIA và MI6 đang tiến hành một chiến dịch hỗn hợp để điều khiển một viên đại tá trong Bộ Tổng tham mưu quân đội Xô viết làm gián điệp cho phương Tây. Allen Dulles cũng thuật lại nội dung cuộc trò chuyện ở nhà Nguyên soái s. Varentsov hôm 25-6-1961, nói với tổng thống Mỹ về những gợi ý của O. Penkovsky, rằng liên quan đến cuộc khủng hoảng Berlin, để đối phó với N. Khrushchev, cần phải cứng rắn, không cho N. Khrushchev cảm thấy có thể đe dọa được phương Tây.
Ngày 18-7-1961, O. Penkovsky quay trở lại London dưới danh nghĩa làm việc trong ba tuần lễ tại ban lễ tân trong một triển lãm Liên Xô tổ chức tại đây. Cùng đi với O. Penkovsky có vợ và con gái của giám đốc GRU lúc bấy giờ là Ivan Serov. Ngoài việc chính là tham gia triển lãm, O. Penkovsky còn có nhiệm vụ chăm sóc cho vợ con I. Serov, lần này đi London để du lịch, mua sắm.
Tất nhiên, O. Penkovsky còn một nhiệm vụ thứ ba nữa là gặp gỡ các điệp viên trong nhóm điều khiển hỗn hợp Anh - Mỹ.
Cuộc khủng hoảng Berlin đã đến hồi cao trào; các điệp viên Anh - Mỹ nóng lòng muốn gặp O. Penkovsky nhằm tìm hiểu tường tận những gì đang diễn ra để có thể giúp lãnh đạo Anh - Mỹ, trước hết là Tổng thống J. Kennedy, có đủ dữ liệu đối phó với N. Khrushchev. Nhóm hỗn hợp được Tổng hành dinh CIA thông báo rằng thông tin trong “hộp kẹo” mà O. Penkovsky chuyển giao hôm 2-7 ở Moscow được các quan chức cấp cao nhất của Bộ Ngoại giao Mỹ đặc biệt quan tâm.
O. Penkovsky đã làm rõ nhiều điều trong cuộc gặp diễn ra ngay tối 18-7-1961 tại một nhà an toàn nằm trên đường Kensington ở London.
O. Penkovsky lưu ý là trong cuộc khủng hoảng Berlin, phương Tây cần phải tăng cường tối đa khả năng của các đơn vị chống tăng bởi lẽ phía Liên Xô có hai đơn vị xe tăng với hỏa lực cực mạnh bố trí trên lãnh thổ Đông Đức. N. Khrushchev hết sức chú trọng vai trò của xe tăng và sẽ chủ yếu sử dụng lực lượng này trong quá trình diễn ra khủng hoảng. Chớ có tin vào những lời nói khoa trương của N. Khrushchev về lực lượng không quân bởi vì phía Liên Xô không có đủ số lượng áp đảo so với phương Tây. Lực lượng đóng vai trò chủ chốt để Liên Xô gây sức ép sẽ là xe tăng, tên lửa và tàu ngầm. Sau khi kí hiệp định riêng rẽ với Cộng hòa dân chủ Đức, Liên Xô sẽ sử dụng xe tăng để phong tỏa các hành lang dẫn tới Tây Berlin. Các đơn vị chống tăng của phương Tây cần phải diễn tập đều đặn hằng ngày, như nhạc công violin luyện tập với cây đàn của mình vậy. Mà phải diễn tập bắn bằng đạn thật chứ không chỉ bằng những tình huống giả định, cần phải đáp trả hết sức cứng rắn với những thách thức của phía Xô viết. N. Khrushchev muốn nếu chiến tranh xảy ra sẽ chỉ trong một giới hạn nhất định, nhưng cần làm cho ông ta hiểu rằng phía Mỹ và Anh sẽ giáng trả bằng toàn bộ sức mạnh của mình và phá hủy hầu hết lực lượng Xô viết. Nếu Tổng thống Mỹ J. Kennedy và Thủ tướng Anh Macmillan đồng lòng tuyên bố lập trường cứng rắn như vậy thì điều đó sẽ khiến Moscow mất ăn mất ngủ.
Lo ngại về lực lượng hạt nhân của Liên Xô, G. Kisevalter hỏi O. Penkovsky liệu phía Xô viết có sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh hạt nhân hay chưa, viên đại tá GRU trả lời dứt khoát: “Họ chưa sẵn sàng. Những bài phát biểu của N. Khrushchev về chuyện này là lừa phỉnh thôi. Ông ta chỉ muốn một cuộc chiến giới hạn bằng xe tăng và không muốn mở rộng thêm vì biết tiềm lực vũ khí hạt nhân của NATO khá mạnh. Nhưng ông ta cũng cho rằng phương Tây sẽ không sử dụng vũ khí hạt nhân trong giai đoạn đầu của cuộc xung đột. Nếu có đủ lực lượng hạt nhân, ông ta sẽ sử dụng chúng cho một đòn tiến công phủ đầu, nhưng vì không có đủ nên ông ta sẽ không thể làm thế. Quan điểm này cũng khá phổ biến trong số các tướng lĩnh Bộ Tổng tham mưu Xô viết. Không ai muốn có thêm một cuộc chiến tranh nữa trên đất Đông Đức”.
Ngày 25-7-1961, Tổng thống Mỹ J. Kennedy có bài phát biểu quan trọng với nhân dân Mỹ, trong đó đề cập đến mối quan tâm sống còn của Mỹ về Tây Berlin, các kế hoạch quân sự cũng như biện pháp đáp trả khác mà Mỹ có thể tiến hành nếu như phía Xô viết thách thức quyền tiếp cận với phần phía tây của thành phố Berlin. Đấy là một bài phát biểu u ám nhưng hết sức cứng rắn. Tổng thống Mỹ nói: “Tây Berlin đã trở thành nơi thử nghiệm lòng can đảm và ý chí của phương Tây, là nơi chúng ta thực hiện nghiêm túc các cam kết của mình... Tham vọng của phía Xô viết đã gặp phải thách thức nghiêm trọng”.
Tổng thống Mỹ không tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia nhưng đề nghị Quốc hội Mỹ nâng ngân sách quốc phòng lên 3,2 tỉ USD. Trong khi đó, các đơn vị vũ khí hạt nhân của NATO bố trí ở châu Âu cũng trong tình trạng sẵn sàng. Cả hai phía đều cố gắng tối đa để tránh nguy cơ nổ ra cuộc chiến tranh hạt nhân, nhưng bất kì một sự tính toán nhầm nào cũng có thể dẫn tới thảm họa. Cả thế giới khi ấy lơ lửng bên bờ vực một cuộc đối đầu hạt nhân.
Ngày 28-7-1961, trong cuộc gặp vẫn diễn ra tại ngôi nhà an toàn trên đường Kensington, G. Kisevalter đưa cho O. Penkovsky một bản báo cáo của Tổng hành dinh CIA liên quan đến bài phát biểu ngày 25-7 của tổng thống Mỹ về cuộc khủng hoảng Berlin. “Đây là bằng chứng cho thấy những thông tin của anh đã được chuyển tới lãnh đạo cao nhất của chúng tôi. Tôi không đọc cho anh từng điểm cụ thể nhưng có thể chắc chắn rằng một số điều anh gợi ý đã được tổng thống đưa vào trong bài phát biểu của mình”, G. Kisevalter nói.
Trong cuộc đối đầu với nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev khi nổ ra cuộc khủng hoảng Berlin năm 1961, nhờ những tài liệu mật tối quan trọng do O. Penkovsky cung cấp, Tổng thống Mỹ J. Kennedy đã hoàn toàn trên cơ vì nắm bắt được toàn bộ ý đồ cũng như thực chất sức mạnh hạt nhân của quân đội Xô viết, từ đó đề ra được quyết sách không nhượng bộ phía Xô viết, cho dù phải đối mặt với hiểm họa của một cuộc chiến tranh hạt nhân.
Sự cứng rắn của phương Tây trong cuộc khủng hoảng cùng với làn sóng di tản của số đông người Đông Đức sang Tây Berlin vào thời điểm đó đã khiến cho Liên Xô và Cộng hòa dân chủ Đức đi tới hiện thực hóa một ý định manh nha từ lâu: “Bao vây” Tây Berlin bằng một bức tường!
Quyết định chính thức về việc xây dựng một bức tường giữa Đông và Tây Berlin được Đoàn Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Bộ Chính trị Ủy ban Trung ương Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức đưa ra vào ngày 6-8-1961.
Ngày 7-8-1961, tại phiên họp đặc biệt của Bộ Chính trị Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức diễn ra ở Đông Berlin, nhà lãnh đạo Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức Walter Ulbricht thông báo cho các đồng sự của mình “quyết định của đồng chí N. Khrushchev về việc đóng cửa biên giới vào đêm 12, rạng ngày 13-8”. Tiếp đó, Volkskammer (Quốc hội Đông Đức) họp ngày 11-8 để “phê chuẩn việc nhanh chóng tiến tới một hiệp ước hòa bình”.
Cuối ngày 11-8, Bộ trưởng Bộ An ninh Quốc gia Cộng hòa dân chủ Đức Erich Mielke gặp các phụ tá của mình để thông báo về quyết định của Quốc hội và một chiến dịch mang mật danh Rose sẽ được thực hiện trong ít ngày tiếp sau, theo đó “tất cả mọi công việc chuẩn bị đều phải thực hiện trong điều kiện tuyệt đối bí mật”.
Người Xô viết và Đông Đức giữ bí mật cho toàn bộ chiến dịch này tốt đến nỗi trong suốt quá trình đưa ra các quyết định cũng như chuẩn bị đóng cửa biên giới, xây một bức tường ngăn đôi Berlin, trạm CIA Tây Berlin với trưởng trạm là Bob Graver hoàn toàn không nắm được bất kì thông tin xác thực nào.
Chiến dịch đóng cửa biên giới do một nhóm nhỏ người thực hiện dưới sự lãnh đạo của Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức Erich Honecker, bắt đầu vào cuối thứ bảy, ngày 12-8-1961. Vào khoảng sau nửa đêm hôm đó, việc đi lại giữa các vùng kiểm soát của các bên ở Berlin bị đình chỉ. Phía Cộng hòa dân chủ Đức dựng lên những hàng rào dây thép gai trên suốt dọc chiều dài đường biên giới.
Kể từ hôm đó, một bức tường được dựng lên; Berlin bị ngăn đôi.
+++++
Từ 14 đến 20-5-1962, nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev thực hiện chuyến thăm chính thức Bulgaria, một đồng minh của Liên Xô ở Đông Âu. Cùng đi với N. Khrushchev có Bộ trưởng Quốc phòng là Nguyên soái Rodion Malinovsky. Trong một buổi đi dạo bên bờ Biển Đen, Nguyên soái R. Malinovsky chỉ tay sang bờ bên kia, phía Thổ Nhĩ Kỳ và nói: “Chỉ trong vài phút là những tên lửa hạt nhân của Mỹ bố trí tại các căn cứ ở Thổ Nhĩ Kỳ có thể bắn tới Moscow, Kiev hay Minsk và phá hủy các thành phố của chúng ta”. N. Khrushchev ngay lập tức đặt câu hỏi: “Vậy tại sao chúng ta không làm điều tương tự, bố trí tên lửa hạt nhân ở ngay sát nách của Mỹ?”
Địa điểm lí tưởng là Cuba. Hơn một năm trước đó, đêm 17-4-1961, khoảng 1.700 phần tử Cuba lưu vong được CIA cố vấn và trang bị vũ khí đã đổ bộ lên bãi biển Giron ở phía nam hòn đảo với ý định lật đổ chính quyền cộng sản của nhà lãnh đạo Fidel Castro. Cuộc khủng hoảng này - được gọi là vụ “Vịnh Con Lợn” - kết thúc trong hỗn loạn khi các phần tử lưu vong lớp bị giết, lớp bị bắt. CIA bẽ bàng và người phải lĩnh hậu quả là Allen Dulles, giám đốc CIA từ tháng 2-1953. Tổng thống J. Kennedy quyết định thay thế Allen Dulles bằng một giám đốc mới, A. McCone.
Cuba kêu gọi Liên Xô giúp đỡ và kể từ tháng 4-1961, phía Liên Xô bắt đầu xúc tiến việc lắp đặt các bệ phóng tên lửa thông thường ở Cuba. Việc lắp đặt các tên lửa hạt nhân tầm trung chưa hề được đặt ra.
Ngày 20-5-1962, N. Khrushchev thông báo với Bộ trưởng Ngoại giao Andrei Gromyko về ý định triển khai các tên lửa đạn đạo mang đầu đạn hạt nhân ở Cuba, cách bờ biển nước Mỹ chỉ khoảng 90 dặm ở nơi gần nhất. Việc triển khai tên lửa này nhằm hai mục đích: Bảo vệ Cuba khỏi những cuộc xâm lược trong tương lai và thiết lập một sự cân bằng về sức mạnh để ngăn ngừa Mỹ mở rộng các hoạt động ở vùng Caribe.
N. Khrushchev muốn triển khai tên lửa ở Cuba còn bởi vì từ tháng 3-1962, GRU đã soạn thảo hai báo cáo, trong đó khẳng định lại một đánh giá của KGB, rằng Mỹ đang cân nhắc khả năng giáng đòn phủ đầu hạt nhân vào Liên bang Xô viết. GRU cho rằng thật ra, Mỹ đã từng có ý định mở một đòn tấn công hạt nhân vào tháng 9-1961, nhưng sau phải từ bỏ kế hoạch này vì xác định rằng kho vũ khí hạt nhân của Liên Xô lớn hơn nhiều so với ước đoán của Mỹ.
Ngày 8-6-1962, sau khi một đoàn đại biểu Liên Xô đi thăm Cuba quay về Moscow, N. Khrushchev thông báo cho Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao biết về kế hoạch lắp đặt tên lửa hạt nhân ở Cuba. Liên Xô sẽ triển khai tổng cộng 40 tên lửa hạt nhân ở Cuba, gồm các loại tên lửa đạn đạo tầm trung R-12 và R-14. Cũng sẽ xúc tiến xây dựng một căn cứ tàu ngầm ở Cuba. Khoảng 50.000 quân nhân Xô viết sẽ trú đóng tại đó.
Chiến dịch này mang mật danh Anadyr, tên một con sông ở Siberia, được xếp vào dạng tuyệt mật.
+++++
Ngày 18-9-1962, Tướng Matvei Zakharov, Tổng tham mưu trưởng quân đội và Đô đốc Vitaliy Fokin, phó tư lệnh hải quân Xô viết gửi một bức điện tối mật trực tiếp cho nhà lãnh đạo N. Khrushchev, thông báo về kế hoạch của hải quân đưa tàu sang Cuba. Lực lượng này bao gồm một lữ đoàn tàu ngầm phóng lôi và một sư đoàn tàu ngầm có trang bị tên lửa, ban ngày sẽ lặn sâu và chỉ nổi lên vào ban đêm. Sau đó một tuần lễ, họ gửi tiếp bức điện thứ hai, báo cáo rằng 114 tàu đã tới Cuba và có kế hoạch gửi tiếp 35 chiếc khác. Hai chỉ huy quân đội Xô viết cũng thông báo rằng hiện hải quân đã có kế hoạch trang bị cho bốn tàu ngầm phóng lôi các đầu đạn hạt nhân và ngày 7-10, tàu vận tải Aleksandrovsk, được một tàu ngầm hạt nhân Dự án 627 hộ tống, cũng cập cảng Cuba.
Trước đó, ngày 29-8, phía Xô viết thông báo số lượng tàu biển cập cảng Cuba trong năm 1962 đã nhiều gấp đôi năm 1961. Ngày 1-9, Liên Xô tiếp tục thông báo một hiệp định cung cấp vũ khí và các trang thiết bị cho Cuba đã được kí kết. Khi được hỏi về những động thái này tại một cuộc họp báo, Tổng thống Mỹ J. Kennedy trả lời rằng “Hoa Kỳ sẽ làm tất cả những gì cần thiết” để ngăn ngừa hành vi hiếu chiến của Cuba chống lại phần còn lại ở Tây bán cầu; tuy nhiên, tổng thống Mỹ thòng thêm một câu: “Các bằng chứng về việc xây dựng cơ sở quân sự ở Cuba cho thấy không có dấu hiệu của hệ thống vũ khí tiến công”.
Hầu hết các thành viên trong nội các của Tổng thống J. Kennedy đều nghĩ như thế, chỉ trừ một người, Giám dốc CIA John McCone, người mới thay thế Allen Dulles.
Ngày 10-8-1962, John McCone gửi một giác thư cho tổng thống, nói rằng ông ta tin là những tên lửa đạn đạo tầm trung sẽ được triển khai ở Cuba. Sở dĩ John McCone đoan chắc điều này vì đã xem kĩ các bức ảnh do máy bay do thám U-2 của Mỹ vừa mới chụp được trên không phận Cuba và đem so sánh chúng với những tài liệu mật về hệ thống tên lửa tầm trung mà O. Penkovsky đã cung cấp trước đấy cho nhóm tình báo hỗn hợp Anh - Mỹ. Các bức ảnh do máy bay U-2 chụp được cho thấy những hợp phần của bệ phóng tên lửa đất đối không mang tính phòng thủ. Trong cuộc gặp lần đầu tiên ở London năm 1961, O. Penkovsky đã chỉ rõ cho các thành viên trong nhóm hỗn hợp những đặc điểm của hệ thống tên lửa phòng không SAM và chi tiết của loại tên lửa SA-2. McCone suy luận: “Hệ thống tên lửa SAM không bảo vệ các sân bay thì đang bảo vệ cái gì? Có lẽ đó là các tên lửa tiến công chiến lược của Liên Xô được lắp đặt tại Cuba”.
Mặc dù không phát hiện thấy bất cứ một tên lửa nào trên các tàu biển của Liên Xô tấp nập cập cảng Cuba nhưng McCone tiếp tục suy diễn rằng với việc tập trung tới 16.000 quân cùng một lượng lớn tàu bè tới Cuba, “hàng hóa” mà các tàu này mang theo không gì khác ngoài tên lửa đạn đạo.
Tuy nhiên, quan điểm này của McCone, một thành viên của Đảng Cộng hòa, đã bị hầu hết các thành viên trong nội các của Tổng thống J. Kennedy, đều là người của Đảng Dân chủ, bác bỏ. Những tranh cãi xung quanh vấn đề này tạm dừng khi McCone làm đám cưới ngày 29-8-1962 và có chuyến đi hưởng tuần trăng mật ở miền Nam nước Pháp. Đến ngày 6-9, McCone bỏ dở tuần trăng mật để tới Paris gặp Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Roswell Gilpatric và Cố vấn an ninh quốc gia McGeorge Bundy, cố gắng cảnh báo họ rằng ông ta tin chắc Liên Xô đang lắp đặt các tên lửa đạn đạo ở Cuba. Cũng từ Pháp, McCone điện về Bộ phận ước đoán tình báo quốc gia đặc biệt, nói rằng hệ thống tên lửa SAM ở Cuba chính nhằm mục đích để bảo vệ cho các bệ phóng tên lửa đạn đạo đất đối đất lắp đặt ở đây. Các cảnh báo này của McCone đều bị phớt lờ.
Khi quay về từ tuần trăng mật, McCone mới phát hiện ra rằng trong thời gian ông ta đi vắng, các chuyến bay do thám U-2 trên lãnh thổ Cuba đều đã bị dừng lại. Ông ta ngay lập tức cho nối lại các chuyến bay này.
Khi tình trạng căng thẳng xung quanh việc các tàu của Liên Xô tấp nập tới Cuba tiếp tục tăng lên, ngày 8-10-1962, sĩ quan GRU Georgi Bolshakov, làm việc dưới vỏ bọc là một nhân viên truyền thông tại sứ quán Liên Xô ở Washington, gặp Robert Kennedy, em trai của tổng thống, khi ấy đang giữ chức vụ tổng chưởng lí ở Bộ Tư pháp Mỹ. Kể từ Hội nghị thượng đỉnh ở Vienna năm 1960, giữa Liên Xô và Mỹ vẫn duy trì một kênh liên lạc không chính thức như vậy để tránh cho các nhà lãnh đạo cấp cao trực tiếp liên quan đến các vụ việc. Trong cuộc gặp, G. Bolshakov chuyển cho Robert Kennedy một thông điệp cá nhân của N. Khrushchev: Phía Liên Xô chỉ cung cấp cho Cuba những vũ khí phòng thủ! Trên thực tế thì G. Bolshakov cũng chỉ tham gia một cách vô tình vào chiến dịch đánh lạc hướng được thực hiện từ cấp lãnh đạo cao nhất của Liên Xô: Anh ta hoàn toàn không biết rằng những tên lửa được lắp đặt là vũ khí tiến công.
Những lời khẳng định của sĩ quan GRU G. Bolshakov với em trai tổng thống nhanh chóng sụp đổ. Ngày 14-10-1962, Thiếu tá Richard Heyser thực hiện chuyến bay U-2, sử dụng hệ thống máy ảnh có độ phân giải cao chụp ảnh vùng lãnh thổ phía tây Cuba. Buổi chiều hôm sau, Trung tâm phân tích ảnh quốc gia của CIA xem xét kĩ những bức ảnh do Thiếu tá R. Heyser chụp ngày hôm trước. Họ bàng hoàng nhận ra hình dáng của một quả tên lửa có chiều dài lớn hơn nhiều so với những tên lửa đất đối không thông thường, xuất hiện trên một bãi phóng tên lửa ở San Cristóbal. Trước đấy, chưa từng có bất kì một hình ảnh tương tự nào được phát hiện trên lãnh thổ Cuba.
CIA có một tập hồ sơ được gọi bằng tiếng lóng là “Sách đen”, trong đó lưu trữ tất cả thông tin thu thập được về các hệ thống vũ khí của Liên Xô, kể cả những bức ảnh chụp xe tên lửa mà Liên Xô thường cho diễu hành trên Quảng trường Đỏ vào ngày Quốc tế Lao động hằng năm. Bản thân O. Penkovsky, trong cuộc gặp ở London trước đó vào năm 1961, đã giúp các thành viên trong nhóm hỗn hợp Anh - Mỹ nhận diện rất kĩ về các tên lửa đạn đạo này, trong đó có loại tên lửa R-12 mà NATO gọi là SS-4. Các tài liệu mật do O. Penkovsky chụp bằng chiếc máy Minox và chuyển giao cho phương Tây qua những lần gặp gỡ với Janet Chisholm ở Moscow cũng mô tả chính xác loại tên lửa đạn đạo dùng nhiên liệu lỏng này. Đối chiếu với những bức không ảnh do Thiếu tá R. Heyser chụp trên chuyến bay U-2 ngày 14-10, các chuyên viên phân tích của CIA khẳng định dứt khoát rằng tại Cuba, Liên Xô đã lắp đặt loại tên lửa đạn đạo SS-4.
Với tầm bắn khoảng 1.100 dặm, những tên lửa này có thể vươn tới mọi mục tiêu trong một bán kính hình tròn, từ thủ đô Washington tới thành phố Dallas của nước Mỹ. Nó được lắp một đầu đạn hạt nhân có đương lượng nổ tương đương với một triệu tấn thuốc nổ TNT, trong khi quả bom nguyên tử mà Mỹ thả xuống Hiroshima chỉ có đương lượng nổ tương đương với 14.000 tấn thuốc nổ TNT.
Sáng 16-10-1962, những bức ảnh cùng kết luận chắc chắn của CIA về việc Liên Xô đã lắp đặt tên lửa đạn đạo trên lãnh thổ Cuba được đặt lên bàn làm việc của Tổng thống Mỹ J. Kennedy.
Ba ngày sau, 19-10-1962, CIA làm một bản phân tích kĩ càng về những dấu vết của tên lửa dạn đạo SS-4 do Liên Xô triển khai ở Cuba, dựa chủ yếu vào các tài liệu mật do O. Penkovsky cung cấp. Căn cứ vào những tài liệu này, CIA có thể ước tính được thời gian cần thiết để có thể hoàn thành việc lắp đặt các tên lửa SS-4 trên đất Cuba. Những đánh giá này được gửi trực tiếp cho J. Kennedy, giúp tổng thống Mỹ có thời gian đưa ra các quyết định triển khai quân đội để đối phó với Liên Xô. Những tài liệu mật do O. Penkovsky cung cấp có giá trị mang tính xoay chuyển tình hình và phần nào đó, cả tiến trình lịch sử, bởi nó được sử dụng đúng lúc nhà lãnh đạo cao nhất của nước Mỹ phải đưa ra các quyết định mang tính trọng đại.
Một lần nữa, những tài liệu mật do O. Penkovsky cung cấp lại đóng vai trò mang tính sống còn trong một cuộc khủng hoảng đã đẩy nhân loại đến bên bờ vực của một cuộc chiến tranh hạt nhân.
Vào 7 giờ tối ngày 22-10-1962 theo giờ Washington, cách tám múi giờ đang là buổi trưa theo giờ Moscow, Tổng thống J. Kennedy có bài phát biểu với nhân dân Mỹ về cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba. Tổng thống Mỹ nói: “Trong vài tuần lễ qua, những bằng chứng không thể chối cãi cho thấy một hệ thống các bệ phóng tên lửa tiến công đã được lắp dặt trên hòn đảo tù ngục. Mục đích của những bệ phóng này không gì khác hơn là giáng đòn tiến công hạt nhân nhằm vào Tây bán cầu...". Quân đội Mỹ được lệnh chuyển sang mức độ báo động 3, tình trạng sẵn sàng chờ những mệnh lệnh tiếp theo để xử lí khủng hoảng.
Cũng trong buổi trưa tháng 10 lạnh lẽo ấy ở Moscow, O. Penkovsky vừa từ một tiệm ăn ra và gặp lại người bạn bên KGB, Sergei Nasedkin...
+++++
Không một ai biết chắc tai họa bắt đầu từ đâu.
Kể từ sau Đệ nhị thế chiến, tình báo Liên Xô đã tổ chức được những mạng lưới gián điệp hoạt động rộng khắp trên lãnh thổ nhiều nước phương Tây, đối thủ chủ yếu trong cuộc chiến điệp báo khốc liệt diễn ra suốt thời kì Chiến tranh Lạnh. Điệp viên trong các mạng lưới này, có người được tuyển mộ, có người tự nguyên, làm việc vì tiền hay vì lí tưởng, đã cung cấp lượng thông tin khổng lồ mà các chuyên gia phân tích của KGB có thể căn cứ vào đó để tổng hợp, hình dung ra bức tranh toàn cảnh cũng như tìm ra các điệp viên phản bội trong hàng ngũ của mình.
Jack E. Dunlap là một cựu binh Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên, từng được tặng thưởng Huân chương Trái tim đỏ tía và Ngôi sao đồng vì lòng dũng cảm. J. Dunlap được KGB tuyển mộ năm 1957 trong thời gian làm sĩ quan chặn bắt điện tín ở căn cứ Sinop tại Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1960, với quân hàm trung sĩ, J. Dunlap được phân công làm lái xe riêng cho Thiếu tướng Garrison Coverdale tại Tổng hành dinh Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ NSA của Mỹ ở Fort Meade. J. Dunlap được Thiếu tướng G. Coverdale tin cậy giao nhiệm vụ nhận và chuyển tài liệu mật từ các bộ phận khác nhau trong NSA.
Khoảng giữa năm 1960, có lẽ do cần tiền, J. Dunlap tới sứ quán Liên Xô ở Washington và đề nghị trao đổi tài liệu mật lấy tiền. Trong gần hai năm rưỡi, J. Dunlap đã trao cho GRU hàng loạt tài liệu về hoạt động của NSA, trong đó đặc biệt quan trọng có các chi tiết về hệ thống máy mã hóa ở cơ quan này. Có cả những ước đoán tình báo của CIA về lực lượng Xô viết bố trí ở Đông Âu. Những tài liệu này được KGB phân tích rất kĩ và một câu hỏi đặt ra: Vì sao CIA lại có những số liệu xác thực đến thế về sự phân bổ lực lượng của quân đội Xô viết?
Một nguồn tin khác trong Bộ Quốc phòng Mỹ cũng rất quan trọng đối với KGB là Trung tá William H. Whalen, sĩ quan trong Bộ chỉ huy liên quân Mỹ ở Lầu Năm Góc. Từ tháng 7-1955, W. Whalen được điều về làm công tác phân tích tình báo tại Phòng Tình báo quân đội trong Bộ chỉ huy liên quân Mỹ, vị trí giúp W. Whalen có khả năng tiếp cận số lượng lớn các tin tức bí mật về khả năng quốc phòng cũng như những đánh giá về lực lượng vũ trang Xô viết được gửi cho các chỉ huy cấp cao trong quân đội Mỹ. Tháng 12-1959, W. Whalen được Trung tá Sergei Edemsky, trợ lí tùy viên quân sự Liên Xô tại Washington tuyển mộ và bắt đầu cung cấp các tin tức bí mật thu thập ở Lầu Năm Góc để đổi lấy tiền. Từ tháng 12-1959 đến tháng 3-1961, W. Whalen đã được KGB trả 5.500 USD cho những tài liệu về lực lượng tên lửa và cả vũ khí nguyên tử của Mỹ mà anh này chuyển giao cho KGB.
Trong thời kì đầu Chiến tranh Lạnh, điệp viên quan trọng bậc nhất của KGB có lẽ là Robert Lee Johnson, mang mật danh George, một trung sĩ bất mãn trong quân đội Mỹ từng đóng quân ở Tây Berlin. Năm 1953, cùng với cô vợ chưa cưới Hedy, R. Johnson vượt tuyến sang Đông Berlin xin tị nạn chính trị. KGB phân tích, khuyến khích R. Johnson ở lại phương Tây hoạt dộng gián điệp, thu thập các tin tức tình báo về quân đội Mỹ. Từ 1957 đến 1959, R. Johnson đã làm chân lính gác tại các căn cứ tên lửa của Mỹ ở California và Texas, nơi viên trung sĩ này có thể đánh cắp được tài liệu, chụp ảnh và thậm chí cả mẫu nhiên liệu dùng cho tên lửa của Mỹ để chuyển cho KGB.
Năm 1961, R. Johnson chuyển tới làm chân lính gác tại Trung tâm thông tin quân đội Mỹ tại sân bay Orly, gần thủ đô Paris, một trong những căn cứ tuyệt mật của Mỹ ở châu Âu. Trong thời gian sau đó, R. Johnson đã chuyển giao 1.600 trang tài liệu tối mật cho KGB, trong đó có các báo cáo của tình báo Mỹ về sự phát triển của công nghệ tên lửa, hàng không và nghiên cứu khoa học của Liên Xô, tình trạng sẵn sàng chiến đấu của không quân Đông Đức... Các tài liệu mật do R. Johnson cung cấp đã cho phép KGB có được cái nhìn thấu đáo cả về lực lượng của Mỹ ở châu Âu, nhưng đồng thời cũng cho thấy phương Tây hiểu rõ về lực lượng vũ trang của khối Hiệp ước Warsaw như thế nào.
Ngoài ra, những nguồn tin khác của KGB ở Anh như John Vassall, một thư kí ở Bộ Tư lệnh Hải quân hay Frank Brossard, sĩ quan tình báo thuộc Văn phòng tình báo hỗn hợp được KGB tuyển mộ từ năm 1961, cũng cung cấp những thông tin, cho thấy phương Tây nắm khá rõ về tình hình của các lực lượng vũ trang Xô viết.
Cho dù trong tài liệu mật gửi về từ các nguồn không bao giờ đề cập đến danh tính hay mật danh của người cung cấp tin nhưng tổng hợp lại, KGB thất kinh khi rút ra một kết luận: Chắc chắn có một nguồn tin ở cấp rất cao trong quân đội Liên Xô cung cấp những tài liệu thuộc diện tuyệt mật của quân đội Liên Xô cho tình báo phương Tây!
KGB tiến hành sàng lọc, khoanh vùng những đối tượng có khả năng tiếp cận với các tài liệu mật mà KGB tin chắc là tình báo phương Tây đã được cung cấp. Tổng cộng có khoảng 1.000 người!
Để điều tra cặn kẽ một số lượng lớn các đối tượng như vậy không hề đơn giản và cần rất nhiều thời gian. KGB xác định rằng chắc chắn nguồn tin đó phải nằm ở một trong các cơ quan đầu não của quân đội Liên Xô tại Moscow. KGB dễ dàng đi tới một suy luận hợp lí: Nguồn tin đó sẽ phải cung cấp tài liệu cho tình báo phương Tây thông qua các điệp viên CIA hay MI6 đang hoạt động ở Moscow.
Từ suy luận này, KGB đi tới một quyết định hết sức đơn giản nhưng chính xác: Muốn lần ra nguồn tin trong nội bộ, cần phải tiến hành theo dõi toàn bộ những điệp viên CIA và MI6 tại Moscow.
KGB không nắm được danh tính toàn bộ các điệp viên CIA và MI6 đang hoạt động ở Moscow, nhưng ít nhất, KGB cũng tiến hành giám sát chặt chẽ tất cả những ai mà KGB tin chắc là điệp viên của Anh hoặc Mỹ.
Trong số này, có Charles Roderick Chisholm, từ tháng 6-1960 đã tới Moscow với cương vị bí thư thứ hai trong sứ quán Anh tại đây.
Câu chuyện quay trở lại thời kì giữa những năm 50, khi C. Chisholm được điều tới hoạt động tại trạm MI6 ở Tây Berlin với nhiệm vụ tuyển mộ các nhân viên quân sự của Liên Xô làm việc cho phương Tây. Cùng hoạt động tại trạm này với C. Chisholm có George Blake, điệp viên mang mật danh Diomid của KGB. Diomid đã cung cấp cho KGB danh sách toàn bộ những điệp viên MI6 làm việc ở trạm Tây Berlin, trong đó có C. Chisholm. Bởi vậy nên năm 1960, khi C. Chisholm vừa đặt chân tới Moscow dưới vỏ bọc ngoại giao thì KGB đã xác định được chắc chắn đây là điệp viên của MI6 và đặt viên chức ngoại giao này dưới sự giám sát ngặt nghèo.
Năm 1959, nhờ điệp viên Diomid, tức George Blake, KGB phát giác ra sự phản bội của Trung tá Peter Popov, sĩ quan GRU làm việc cho CIA. Trước đấy, KGB vẫn nghĩ các điệp viên phương Tây hoạt động ở Moscow không dám mạo hiểm trao đổi tài liệu trực tiếp mà chỉ thông qua các hộp thư chết. Sau vụ bắt giữ P. Popov ở Moscow và thẩm vấn viên trung tá GRU này, KGB xác định được một phương thức liên lạc mới mà tình báo phương Tây áp dụng để trao đổi tài liệu, gọi là “va chạm chớp nhoáng”: Hai người đi trên phố hoặc trên phương tiện giao thông công cộng chỉ cần lướt qua nhau trong tích tắc là đã có thể kịp trao tài liệu. Kể từ đó, KGB đề ra một phương thức theo dõi mới: Không chỉ các điệp viên phương Tây mà kể cả người thân của họ cũng phải chịu sự giám sát chặt chẽ.
Bởi thế nên cho dù không xác định được vợ của C. Chisholm, Janet Chisholm, có phải là người của MI6 hay không thì từ năm 1961, KGB vẫn tiến hành theo dõi Janet. Khi sử dụng Janet Chisholm làm người liên lạc với O. Penkovsky ở Moscow, các nhân viên trong nhóm tình báo hỗn hợp Anh - Mỹ đã phạm phải hai sai lầm chết người: Cử một điệp viên đã bị lộ danh tính như C. Chisholm tới Moscow và nghĩ rằng người thân của điệp viên này - hoạt động như một nhân viên ngoại giao - sẽ không bị KGB giám sát.
Hai sai lầm này có thể đã là nguyên nhân dẫn tới sự đổ vỡ một trong những chiến dịch quan trọng nhất của tình báo phương Tây thời kì Chiến tranh Lạnh.
+++++
Kể từ khi cuộc khủng hoảng Berlin tạm thời lắng xuống với việc Đông Đức, có sự hỗ trợ của quân đội Liên Xô phía sau, xây dựng bức tường chia đôi Berlin, O. Penkovsky tiếp tục cung cấp những tin tức quý giá cho tình báo phương Tây. Thật ra, O. Penkovsky đã nắm được những thông tin chi tiết về việc xây dựng bức tường mấy ngày trước khi nó diễn ra vào đêm 12-8-1961, nhưng không có cách nào để chuyển giao cho phía Anh - Mỹ. Mãi đến ngày 23-8, O. Penkovsky mới chuyển được những tài liệu này cho G. Wynne khi viên thương gia người Anh tới Moscow để thu xếp cho một đoàn đại biểu Anh tới Liên Xô vào mùa thu.
Từ nửa cuối tháng 9 đến giữa tháng 10-1961, O. Penkovsky có chuyến đi tới Paris để tham dự Hội chợ thương mại Liên Xô tổ chức tại đây và lại có tổng cộng mười hai cuộc gặp bí mật với các thành viên trong nhóm hỗn hợp Anh - Mỹ tại một ngôi nhà an toàn nằm bên bờ phải sông Seme, số 6 đường Hameau Béranger.
Ngay khi tới nơi, G. Wynne đã đón O. Penkovsky và nhận từ tay viên gián điệp nhị trùng mười một cuộn vi phim cùng các bản ghi chú. “Greville, thật không thể tưởng tượng được”, viên đại tá hào hứng khi lần đầu tới kinh đô hoa lệ của nước Pháp, “Paris, tôi đã tới đây!”
Hai người đi dạo trên đại lộ Champs-Élysées, nhìn ngắm những phụ nữ xinh đẹp qua lại. G. Wynne cũng mê thích phụ nữ đẹp không kém gì O. Penkovsky. G. Wynne cùng O. Penkovsky vào rạp và trong khi một bộ phim gián điệp đang chiếu trên màn ảnh, hai người thì thào với nhau.
- Có thể tôi sẽ học hỏi được điều gì đấy ở bộ phim này. - O. Penkovsky nói nửa đùa nửa thật.
- Tôi thì không nghĩ thế. - G. Wynne trả lời.
- Có một điều anh phải nhận thấy là chắc chắn những câu chuyện ấy đều kết thúc có hậu. - O. Penkovsky tư lự nói tiếp.
- Tôi đoán là gã gián điệp ấy thế nào cũng có được cô gái. - G. Wynne thì thào.
- Tôi thì nghĩ nhiều hơn về người đàn ông. - O. Penkovsky ngừng một lát rồi nói tiếp. - Tôi không thể quay lại. Có lẽ tôi sẽ ở lại phương Tây.
- Cái đó tùy thuộc vào anh. - G. Wynne nói. Anh ta đã được MI6 dặn dò kĩ lưỡng là dù bằng cách nào đi nữa thì cũng chớ có gây sức ép lên người điệp viên cực kì quý giá đang hoạt động cho họ.
O. Penkovsky giải thích rằng việc phải đưa ra quyết định đã dằn vặt anh ta ghê gớm.
- Thực sự là có hai con người trong tôi, anh có hiểu không? - O. Penkovsky nói với G. Wynne.
- Vâng, - Wynne nói, - tôi hiểu chứ.
- Liệu chúng ta có thể sống như những người bình thường ở đây không? - O. Penkovsky hất đầu về phía những khán giả trong rạp đang chăm chú xem phim. - Tôi tự hỏi không biết điều gì sẽ xảy ra nếu như chúng ta quay lại từ đầu nhỉ.
- Sẽ vẫn hệt như thế thôi. Anh biết rõ điều đó mà. - G. Wynne nói, bối rối không biết nên tiếp tục câu chuyện như thế nào nhưng O. Penkovsky lúc ấy đã hướng sự chú ý vào một cô gái tóc vàng ngồi gần bên.
O. Penkovsky đặc biệt ưa thích có các mối quan hệ với đàn bà trong những chuyến công tác nước ngoài như thế này. Một lần, O. Penkovsky nói với G. Wynne: “Greville à, điều phiền phức là tôi thực sự rất cần những cô gái. Không phải để trao cho họ trái tim tôi, điều đó quá nguy hiểm, mà thật sự là muốn có thời gian dễ chịu cùng họ, để sự ngọt ngào của các cô gái giúp tôi quên đi bản thân mình là ai”.
Các nhân viên trong đội hỗn hợp Anh - Mỹ nhận thấy O. Penkovsky không bao giờ kể về bất cứ một người bạn trai thân thiết nào.
Trong thực tế, cuộc sống của các điệp viên Anh với phụ nữ không hoang đàng phóng túng như nhân vật James Bond thể hiện trên màn ảnh. Tuy nhiên, khi cần thiết do nhu cầu công việc thì MI6 vẫn sẵn sàng bố trí những phụ nữ gợi cảm để quan hệ với các điệp viên. G. Wynne đã giới thiệu O. Penkovsky với vài cô gái người Anh như vậy nhưng không tiết lộ rằng MI6 lựa chọn các cô gái này hết sức cẩn thận, tránh khả năng người điệp viên của họ quan hệ với các cô gái bản xứ và có thể để lộ bí mật trong các cuộc trò chuyện thân mật. Nhưng sau một lần gặp như vậy, O. Penkovsky phàn nàn rằng anh ta không thể là chính mình được bởi cô gái không hề biết một chút gì về công việc của anh ta, cũng chẳng muốn có một mối quan hệ lâu dài bền vững; nói cách khác, anh ta cảm thấy mình cũng chỉ là một khách hàng như mọi người đàn ông khác.
Paris không phải là một địa điểm thuận tiện cho các cuộc gặp mặt bí mật như ở London. Cảnh sát Pháp có mặt trên khắp các đường phố, không phải để bắt gián điệp, mà để đề phòng những người gốc Algeria gây bạo loạn. Những người Mỹ trong đội hỗn hợp hết sức ngạc nhiên trước cơ ngơi giàu có của MI6 ở đây, những ngôi nhà an toàn, xe cộ... Họ cũng có những tay lái lụa, khi cần cắt đuôi có thể điều khiển xe với tốc độ khiến các nhân viên đội hỗn hợp ngồi trên xe nín thở vì sợ.
Trong buổi gặp đầu tiên, O. Penkovsky tặng các nhân viên nhóm hỗn hợp Anh - Mỹ món trứng cá Nga và một món đồ lưu niệm của người Georgia, “để tượng trưng cho sự giàu có, phồn thịnh”, viên đại tá GRU nói.
Kể từ lần gặp trước ở London đến lần gặp này tại Paris, đã có nhiều sự biến động dữ dội ở châu Âu. Bức tường đã được dựng lên ở Berlin, chia đôi hai thế giới Đông - Tây. Việc cả MI6 lẫn CIA đều không dự báo trước được việc hình thành bức tường là một nỗi hổ thẹn lớn của cả hai cơ quan này và các thành viên nhóm hỗn hợp chăm chú lắng nghe O. Penkovsky thuật lại những gì đã xảy ra trong thời gian đó.
Trước đó hơn một tháng, ngày 10-8-1961 là sinh nhật lần thứ sáu mươi của Nguyên soái Sergei Varentsov, người bảo trợ quyền thế cho O. Penkovsky ở Moscow. Vị nguyên soái đã tổ chức một buổi lễ sinh nhật trọng thể với khách mời là các tướng soái cấp cao của quân đội Liên Xô, hầu hết đều từ cấp trung tướng trở lên. Cả bộ trưởng quốc phòng Liên Xô cũng có mặt. O. Penkovsky không phải khách mời - cấp bậc của anh ta quá nhỏ so với các vị khách - nhưng được giao nhiệm vụ tổ chức bữa tiệc. O. Penkovsky tự hào đưa ra cho các vị khách xem một chai cognac có năm đóng chai đúng vào năm mà vị nguyên soái chủ nhà sinh ra. Thực ra, cái nhãn hiệu năm đóng chai đó là do MI6 làm giả để chuẩn bị sẵn cho O. Penkovsky gây ấn tượng với người bảo trợ của mình. “Con trai tôi”, vị nguyên soái nói đầy vẻ âu yếm khi O. Penkovsky bật nắp chai rượu trước sự ngưỡng mộ của các vị khách. Trong suốt buổi tiệc, O. Penkovsky căng tai ghi nhớ những gì các vị khách trao đổi với nhau, đặc biệt là việc điều chuyển các đơn vị quân đội ở Berlin trong trường hợp nổ ra chiến tranh. Tất cả những chi tiết đó được O. Penkovsky cẩn thận thuật lại cho nhóm hỗn hợp Anh - Mỹ.
Trong cuộc gặp ở Paris, đã nảy sinh tranh cãi giữa các thành viên của nhóm hỗn hợp Anh - Mỹ, từ việc có nên tìm cho O. Penkovsky một cô gái điếm hay không, đến vai trò của G. Wynne trong chiến dịch nguy hiểm nhiều rủi ro này. G. Wynne chỉ là một thương gia, không phải là điệp viên được đào tạo chuyên nghiệp. CIA đặc biệt không thích sử dụng ông này trong vai trò làm liên lạc viên với O. Penkovsky. Tối 27-9-1961, O. Penkovsky nói với thành viên nhóm hỗn hợp rằng đã có lần G. Wynne nói với anh ta là muốn thoát ra khỏi trò chơi này.
Trong các cuộc gặp này, O. Penkovsky tiếp tục cung cấp thông tin chi tiết về những căn cứ tên lửa chiến lược của Liên Xô ở vùng Đất Mới, gần Bắc Cực, nơi bố trí những tên lửa đạn đạo tầm trung R-12 và R-14 mà phương Tây gọi là SS-4 và SS-5. Những thông tin này sẽ đóng vai trò cực kì quan trọng trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba sau này.
O. Penkovsky thảo luận với các thành viên trong nhóm tình báo hỗn hợp về khả năng nếu bị lộ, sẽ đào tẩu khỏi Liên Xô theo hướng các nước vùng Baltic ở phía bắc Liên Xô. Các điệp viên gợi ý một hướng khác an toàn hơn là khu vực Batumi ở Biển Đen, gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ. Chỉ cần dùng một chiếc thuyền nhỏ đi thẳng ra khơi và phía Anh - Mỹ sẽ sử dụng tàu để đón. Khả năng chạy vào một sứ quán phương Tây là không thể bởi sẽ không có cách nào đưa được O. Penkovsky ra khỏi lãnh thổ Liên Xô.
Cũng tại Paris, O. Penkovsky được nhóm tình báo hỗn hợp bố trí cho gặp Janet Chisholm để hai người thảo luận chi tiết về những cuộc gặp trao đổi tài liệu tiếp theo ở Moscow. Hai người thống nhất là kể từ ngày 20-10-1961, hằng tuần họ sẽ gặp nhau tại một cửa hàng sau buổi học ba lê của Janet. Hai người ra hiệu bằng mắt cho nhau rồi người nọ sẽ đi theo người kia tới một chỗ kín đáo để thực hiện quy trình “trao đổi chớp nhoáng”.
Một chuyên viên kĩ thuật của CIA tên là “John”, trên thực tế là Quentin Johnson, trưởng phòng các chiến dịch trong Ban Xô viết, giới thiệu cho O. Penkovsky một thiết bị cực kì hiện đại để có thề truyền tin đi với tốc độ siêu nhanh. Thiết bị này có thể truyền đi một bức điện tín trong phạm vi bán kính 800 mét với thời gian chỉ 29 giây, các thiết bị dò tìm của KGB sẽ khó phát hiện nổi. Tất cả những việc O. Penkovsky cần làm là tới gần sứ quán Mỹ ở tầm hiệu quả nhất, cách khoảng 400 mét, không để các kiến trúc che chắn bằng cách chỉ cần nhìn thấy mái nhà của sứ quán, rồi bấm nút thiết bị được đặt mật danh là Distant này; một thiết bị đặc biệt đặt bên trong sứ quán Mỹ sẽ nhận điện tín. Distant sẽ được sử dụng trong trường hợp O. Penkovsky có những thông tin cực kì quan trọng mà không có cách nào tiếp xúc để chuyển trực tiếp tài liệu.
Quay về Moscow, trong khoảng thời gian từ cuối năm 1961 đến đầu năm 1962, O. Penkovsky tiếp tục chuyển giao các cuộn phim chụp bằng máy ảnh Minox cho tình báo phương Tây thông qua các cuộc gặp đều đặn với Janet Chisholm, khi thì tại một cửa hàng bán đồ cũ hoặc gần tiệm ăn Praga, lúc ở công viên trên Đại lộ Tsvetnoy hoặc tại những buổi tiếp tân ngoại giao chính thức. Từ ngày 20-10-1961 đến 5-1-1962, hai người gặp nhau cả thảy 11 lần và O. Penkovsky chuyển cho Janet tổng cộng 27 cuộn phim chụp tài liệu mật. Việc gặp gỡ quá thường xuyên giữa hai điệp viên Hero và Anne khiến cho các thành viên trong nhóm tình báo hỗn hợp Anh - Mỹ cảm thấy lo lắng bởi rủi ro rất lớn.
Đến đầu tháng 1-1962, Janet biết mình có bầu đứa con thứ tư. Tình huống mới xuất hiện này khiến nhóm hỗn hợp phải tính toán để rút Janet cùng chồng ra khỏi chiến dịch vào quãng tháng 6 hoặc chậm nhất là đầu tháng 7-1962. Thay thế hai vợ chồng Chisholm sẽ là một cặp đôi khác, Gervase Cowell và vợ, Pamela, cũng là một cựu thư kí làm việc trong MI6.
Tuy nhiên, từ đầu tháng 1-1962, O. Penkovsky bắt đầu nhận thấy các biện pháp giám sát chặt chẽ của KGB đối với Janet. Sau cuộc gặp với Janet hôm 5-1-1962, O. Penkovsky nhận thấy một chiếc xe có biểu hiện lạ, vi phạm luật giao thông khi bất ngờ quay đầu trên làn đường một chiều, trên băng ghế sau xe có hai người đàn ông mặc áo khoác thẫm màu. Ở cuộc gặp ngày 12-1, O. Penkovsky không nhận thấy điều gì bất thường nhưng sau cuộc gặp hôm 19-1, O. Penkovsky nhận ra khi Janet Chisholm đi bộ dọc theo phố Arbat, chính chiếc xe màu nâu hôm trước với người đàn ông mặc áo khoác sẫm màu đang chạy dọc theo phố Bolshaya Molchanovka theo hướng tới Quảng trường Arbatskaya. Janet đã bị KGB bám theo, O. Penkovsky tin chắc như thế.
Bởi vậy nên O. Penkovsky liên tiếp hủy các cuộc gặp Janet theo dự kiến trong tháng 2 và mãi đến trung tuần tháng 3 mới tìm cách báo được cho nhóm hỗn hợp Anh - Mỹ biết về tình thế mới thông qua một thành viên trong phái đoàn các công ti giấy của Mỹ tới thăm Moscow và Leningrad.
O. Penkovsky tin rằng KGB đang thực hiện việc theo dõi Janet như bình thường, hoàn toàn không biết rằng ở thời điểm ấy, bản thân mình đã bị KGB đặt vào tầm ngắm.
+++++
Không một ai biết lí do thực sự nào giúp KGB khẳng định chắc chắn O. Penkovsky hoạt động cho tình báo phương Tây. Đó có thể là do các đội theo dõi của KGB đã đeo bám Janet Chisholm - vợ một nhà ngoại giao Anh - và “tình cờ” phát hiện ra cuộc gặp của người phụ nữ này với một công dân Liên Xô, chính là Đại tá GRU O. Penkovsky.
Cũng hoàn toàn có khả năng một điệp viên Xô viết nào đó nằm ở một trong những vị trí quan trọng trong các cơ quan bí mật của phương Tây đã lật tẩy được các hoạt động bí mật của điệp viên Hero và báo cho KGB.
Chỉ có điều là sau khi đã xác định được chắc chắn O. Penkovsky có liên hệ với Janet Chisholm, KGB tiến hành hàng loạt biện pháp nhằm đẩy sâu cuộc điều tra.
Căn hộ của O. Penkovsky tại Moscow nằm ở một vị trí khá biệt lập bên sông Moscow nên rất khó để có thể tiến hành các hoạt động giám sát. KGB bèn tổ chức một kịch bản hoàn hảo. Một ngày kia, khi O. Penkovsky ăn xong bữa trưa tại nhà hàng quen thuộc trên phố Gorky thì bỗng cảm thấy đau bụng dữ dội. KGB đã tìm cách bỏ vào thức ăn của O. Penkovsky một hóa chất nào đó. Một người đàn ông đứng tuổi trong nhà hàng chạy tới đề nghị giúp đỡ, nói O. Penkovsky cần phải tới bác sĩ và cấp tốc đưa O. Penkovsky đến Bệnh viện đa khoa Kremlin.
Trong khi đó, một đội giám sát của KGB đột nhập vào căn hộ của O. Penkovsky, tiến hành lục soát nhưng không tìm thấy gì vì các cuộn phim của máy ảnh Minox, bảng mật mã sử dụng một lần cùng các thiết bị hoạt động gián điệp khác đã được O. Penkovsky giấu trong một ngăn kéo giả ở bàn làm việc.
O. Penkovsky vẫn bị giữ lại điều trị ở bệnh viện trong khi một đội chuyên gia khác của KGB tìm hiểu về người chủ nhà tầng trên nơi căn hộ của O. Penkovsky, là nhân viên hành chính của một công ty thép, sếp của anh ta được khuyến cáo bố trí cho nhân viên của mình đi nghỉ ở vùng Caucasus và khi biết chắc chắn người chủ nhà đã đi xa, đội chuyên gia bèn đột nhập vào căn hộ của anh ta. Họ đục một lỗ nhỏ trên sàn căn hộ để có thể lắp một máy quay phim ghi lại toàn bộ các hoạt động của O. Penkovsky trong phòng ngủ phía dưới. Từ ban công tầng trên phía ngoài căn hộ của O. Penkovsky, một máy quay thứ hai được khéo léo lắp đặt ở góc có thể ghi lại các hình ảnh của O. Penkovsky qua cửa sổ căn hộ. Phía bên kia sông Moscow, đối diện với căn hộ của O. Penkovsky, KGB cũng thiết lập một trạm quan sát, ghi lại mọi động tĩnh trong căn hộ của O. Penkovsky.
Trong khoảng thời gian ngắn trước khi quyết định bắt giữ O. Penkovsky, KGB tiếp tục sử dụng lại ngón nghề này lần nữa bằng cách bôi một hóa chất vào ghế ngồi của O. Penkovsky tại phòng làm việc trong trụ sở Ủy ban quốc gia về hợp tác nghiên cứu khoa học Liên Xô. Đấy chính là lí do khiến O. Penkovsky bị rộp da ở mông và phải đi nằm điều trị trong bệnh viện ba tuần lễ. Trong thời gian này, các nhân viên kĩ thuật KGB cũng lắp một máy quay bí mật trong phòng làm việc của O. Penkovsky, ghi lại mọi hoạt động của viên đại tá GRU.
Tuy nhiên, vẫn có một câu hỏi lớn được đặt ra liên quan đến quyết định bắt giữ O. Penkovsky vào ngày 22-10-1961. Gần như chắc chắn là KGB đã tiến hành theo dõi Janet Chisholm từ rất sớm, quãng đầu năm 1961 và nhiều khả năng phát hiện ra mối liên hệ đáng ngờ giữa vợ của một nhân viên tình báo Anh MI6 với viên đại tá GRU. Tuy nhiên, phải mãi đến mười tháng sau, KGB mới thực hiện việc bắt giữ O. Penkovsky trên phố Gorky ở Moscow. Vì sao phải cần nhiều thời gian đến thế để đưa ra quyết định vô hiệu hóa hoạt động gián điệp của một nhân viên cao cấp nằm trong nội bộ cơ quan tình báo quan trọng như GRU?
Câu trả lời có thể là KGB không hoàn toàn nắm được mức độ hợp tác của O. Penkovsky với các cơ quan tình báo Anh - Mỹ và do đó, không lượng định được tầm nghiêm trọng cũng như mức độ tổn hại mà các tài liệu mật O. Penkovsky trao cho phương Tây có thể gây ra cho phía Xô viết. Do đó, KGB cần có thời gian tiếp tục theo dõi, tìm những bằng chứng đủ tin cậy để có thể buộc tội O. Penkovsky. Trong lịch sử phát triển các cơ quan bí mật của Liên Xô, đã luôn tồn tại một sự cạnh tranh quyết liệt giữa KGB với GRU, và trong con mắt nhiều điệp viên cũng như lãnh đạo của GRU, KGB là “ông bạn láng giềng đáng ghét”. Việc kết tội gián điệp một sĩ quan cao cấp của GRU mà không có bằng chứng đủ mạnh sẽ ẩn chứa nhiều rủi ro đối với KGB. Cho đến tháng 8-1962, Trung tướng Oleg Gribanov, chỉ huy trưởng Tổng cục 2 phụ trách các chiến dịch phản gián và an ninh nội địa của KGB, người chỉ huy toàn bộ chiến dịch liên quan đến O. Penkovsky, khi xin tướng Nikolai F. Christyakov, phụ trách điều tra của KGB lệnh bắt O. Penkovsky, thì tướng Nikolai F. Chistyakov trả lời: “Cần điều tra kĩ thêm đã”.
Cũng còn một khả năng thứ hai liên quan đến quyết định bắt giữ O. Penkovsky khá lâu sau khi điệp viên này đã “lộ sáng” và do vậy để cho O. Penkovsky - trong một thời gian dài - tiếp tục tuồn các thông tin mật quan trọng cho phương Tây; đó là KGB đã biết O. Penkovsky làm gián điệp cho tình báo Anh - Mỹ từ lâu, nhưng thông tin này do một điệp viên KGB chui sâu leo cao trong hàng ngũ các cơ quan đặc vụ phương Tây tiết lộ. Nếu sớm bắt giữ O. Penkovsky thì có thể các cơ quan tình báo phương Tây sẽ nhanh chóng xác định được nơi rò rỉ tin tức và vô hiệu hóa điệp viên của KGB.
Tình báo Xô viết vốn nổi tiếng mưu mẹo trong các hoạt động nghi binh, đánh lạc hướng để bảo vệ nguồn tin của mình. Việc KGB hi sinh rất lớn để bảo vệ George Blake - điệp viên Diomid - và chỉ “tình cờ” phát hiện ra Đường hầm Berlin sau một thời gian dài, là một ví dụ điển hình.
+++++
Không phải tay mơ nên O. Penkovsky nhanh chóng nhận ra những biểu hiện bất thường diễn ra xung quanh mình. Một chuyến đi tham dự Triển lãm quốc tế về động cơ ở Geneva, Thụy Sĩ dự định diễn ra vào đầu tháng 3-1962, tiếp đến là chuyến đi tham dự Hội chợ triển lãm thương mại thế giới tổ chức vào ngày 19-4 ở Seattle, Mỹ, của O. Penkovsky đều bị hủy bỏ.
Tiếp đó, O. Penkovsky được GRU cho phép dẫn đầu một nhóm các thành viên của Ủy ban quốc gia về hợp tác nghiên cứu khoa học Liên Xô đi dự Triển lãm công nghiệp Xô viết ở Brazil, sẽ diễn ra vào giữa tháng 4-1962. O. Penkovsky đã nhận được thị thực nhập cảnh và cả tiền tiêu vặt, nhưng hai ngày trước khi lên đường, một bức điện từ KGB đã gọi cho Giám đốc GRU I. Serov, đề nghị hủy chuyến đi. Lí do đưa ra là không nên cử O. Penkovsky đi châu Mỹ vì các cơ quan đặc vụ phương Tây đã chú ý đến viên đại tá GRU và có thể tiến hành các hoạt động khiêu khích ở triển lãm.
KGB không muốn mạo hiểm thả gà ra rồi đi đuổi!
Trưa 2-7-1962, G. Wynne quay lại Moscow, vẫn dưới danh nghĩa gặp Ủy ban quốc gia về hợp tác nghiên cứu khoa học Liên Xô và Bộ Ngoại thương để thảo luận về việc tổ chức một cuộc triển lãm các sản phẩm công nghiệp của Anh tại Liên Xô. Vẫn O. Penkovsky ra đón G. Wynne ở sân bay rồi trên đường về khách sạn Ukraine ở trung tâm Moscow, kịp trao cho vị thương gia Anh chín cuộn phim mới chụp trước đó.
Tối hôm ấy, khi gặp nhau trong phòng khách sạn của G. Wynne, sau khi đã bật đài và mở máy nước chảy hết cỡ trong phòng tắm với hi vọng loại bỏ các máy nghe lén mà KGB có thể cài đặt trong phòng, O. Penkovsky bật khóc, nói rằng mình sẽ phải rời Liên Xô. Theo O. Penkovsky, lí lịch liên quan đến người cha Bạch vệ tiếp tục ám ảnh sự nghiệp của viên đại tá GRU. Một chuyến đi ra nước ngoài của O. Penkovsky, lần này là tới Cyprus, lại bị đình hoãn ở phút cuối. Nếu bị buộc phải về hưu sau hai mươi lăm năm phục vụ trong quân đội, O. Penkovsky sẽ chỉ nhận được một khoản lương hưu còm cõi 200 rúp một tháng. O. Penkovsky nói với G. Wynne rằng người Anh có một kế hoạch sử dụng tàu ngầm để giải cứu trong trường hợp O. Penkovsky bị lộ và phải khẩn cấp trốn khỏi Liên Xô.
Đến ngày 5-7-1962, trong một cuộc gặp cũng ở khách sạn Ukraine, O. Penkovsky trao cho G. Wynne hai cuộn phim mới chụp, một bức thư, hai trang lấy từ cuốn sổ mã hóa sử dụng một lần và sáu bức ảnh của mình để dùng cho hộ chiếu. Có vẻ như O. Penkovsky đã linh cảm thấy là sớm muộn cũng sẽ phải rời khỏi Liên bang Xô viết và bắt đầu chuẩn bị cho quá trình này.
G. Wynne cho O. Penkovsky xem bức ảnh một phụ nữ, là người sẽ thay thế Janet Chisholm để liên lạc với O. Penkovsky ở Moscow. Đó là Pamela Cowell, vợ của Gervase Cowell, điệp viên địa bàn mới của MI6 ở Moscow. Ngoài ra, G. Wynne còn cho O. Penkovsky xem ảnh Rodney Carlson, mới được bổ nhiệm làm trợ lí tùy viên quân sự ở sứ quán Mỹ. Đó cũng sẽ là một đầu mối liên lạc khác của O. Penkovsky.
Trong chuyến đi này tới Moscow, lần đầu tiên G. Wynne phát hiện ra mình bị một đội giám sát của KGB theo sát, va li để trong phòng khách sạn bị lục soát. Chính vì vậy mà sau cuộc gặp ở khách sạn Ukraine, G. Wynne và O. Penkovsky hết sức thận trọng. Hai người phải hủy một cuộc gặp tiếp theo đã định trước ở bên ngoài tiệm ăn Peking. Chỉ đến sáng sớm 6-7-1962, khi G. Wynne ra sân bay Sheremetyevo để bay đi Copenhagen, dưới danh nghĩa là người của Ủy ban quốc gia về hợp tác nghiên cứu khoa học Liên Xô ra tiễn khách của ủy ban, O. Penkovsky mới gặp G. Wynne trực tiếp ở quán cà phê trong sân bay. O. Penkovsky nói hầu như chắc chắn G. Wynne đang chịu sự giám sát chặt chẽ của KGB. Sếp của O. Penkovsky ở ủy ban, một đại tá KGB là Yevgeny Levin hôm trước đó đã hỏi O. Penkovsky rất nhiều về G. Wynne, trong đó đặc biệt chú ý đến một thực tế là G. Wynne thường xuyên quay lại Liên Xô một mình mà không đi cùng với đoàn đại biểu nào cả.
Kể từ thời điểm sau chuyến đi tới Moscow của G. Wynne, các thành viên nhóm tình báo hỗn hợp cảm thấy tình thế của O. Penkovsky ngày càng trở nên khó khăn. Biết chắc cả O. Penkovsky lẫn G. Wynne đều phải chịu sự giám sát chặt chẽ của KGB, nhóm tình báo hỗn hợp đề xuất cần phải bằng mọi giá duy trì liên hệ với điệp viên Hero, nhưng trong trường hợp điệp viên Hero ra nước ngoài thì sẽ không khuyến khích điệp viên này quay lại Liên Xô; cần hạn chế tối đa số người có thể tiếp cận với những thông tin về Hero, đồng thời bắt đầu vạch các phương án cho một cuộc đào thoát khỏi Liên bang Xô viết trong trường hợp khẩn cấp; sẽ dần dần giảm bớt vai trò và sự tham gia của G. Wynne trong chiến dịch.
Khi cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba bắt đầu bùng lên từ cuối tháng 8-1962, O. Penkovsky đã xuất hiện ở một buổi tiếp tân tại nhà của tùy viên nông nghiệp sứ quán Mỹ trên phố Tchaikovsky vào ngày 27-8. Tại đó, trong phòng tắm, O. Penkovsky đã trao cho Trợ lí tùy viên quân sự Mỹ Rodney Carlson một gói tài liệu gồm bảy cuộn phim và ba bức điện tín. Đổi lại, O. Penkovsky cũng nhận một gói đồ do R. Carlson trao cho được bọc trong giấy chống thấm nước, trong đó có một cuốn hộ chiếu đề tên Vladimir Grigoryevich Butov, nhân viên làm việc tại một viện thiết kế đồ họa tại Moscow, trên có dán ảnh O. Penkovsky. Đấy là tấm hộ chiếu giả CIA làm riêng cho O. Penkovsky trong trường hợp khẩn cấp cần phải trốn khỏi Moscow, ảnh do O. Penkovsky đưa cho G. Wynne trong lần gặp trước đó.
Một trong số ba bức điện tín do O. Penkovsky viết lần này đề cập đến việc nếu chạy trốn sang phương Tây, O. Penkovsky muốn có một khoản tiền lớn; theo tính toán của O. Penkovsky, trong tài khoản hiện tại anh ta chỉ có chừng từ 35.000 đến 40.000 USD, không đủ để bắt đầu một cuộc sống mới.
Đến thứ tư, ngày 5-9-1962, R. Carlson lần cuối cùng gặp O. Penkovsky trong một buổi tiếp tân của sứ quán Mỹ chào đón đoàn đại biểu các công ty năng lượng điện của Mỹ tại tòa nhà Spasso. Cả hai cùng được mời tới buổi tiếp tân và trao đổi vài câu chuyện vặt vãnh, nhưng O. Penkovsky không trao cho R. Carlson bất cứ một tài liệu nào.
Tối hôm sau, 6-9, O. Penkovsky tới dự buổi chiếu bộ phim Hương vị mật ong của sứ quán Anh, tổ chức ở văn phòng của tùy viên văn hóa và khoa học. Người thay thế R. Chisholm ở sứ quán Anh là Gervase Cowell, điệp viên địa bàn mới của MI6, cũng có mặt ở buổi chiếu phim. Hai người chỉ có thể dùng mắt để ra hiệu cho nhau mà không có bất kì một câu trao đổi nào. O. Penkovsky đã được xem ảnh vợ của G. Cowell nhưng hôm đó Pamela không có mặt ở đấy.
Đến ngày 10-9, H. Shergold, thành viên MI6 trong nhóm tình báo hỗn hợp soạn sẵn một bức thư để trả lời bức điện tín O. Penkovsky gửi hôm trước, thông báo rằng tình báo phương Tây sẽ để dành sẵn 250.000 USD cho O. Penkovsky một khi viên đại tá GRU bắt buộc phải đào thoát sang phương Tây.
Ngày 12-9, Pamela Cowell, lúc này mang mật danh Pansy, tới Moscow. Tối hôm sau sẽ có một bữa tiệc chia tay tiến sĩ David Senior, tùy viên khoa học của sứ quán Anh. Hai vợ chồng nhà Cowell cũng như cả O. Penkovsky và vợ là Vera cũng được mời. Tiếp đó, có thêm một buổi tiệc khác diễn ra vào tối 15-9 do lãnh sự phụ trách kinh tế Carroll Woods chủ trì. Khi biết về buổi tiệc này, điệp viên MI6 ở sứ quán Anh R. Carlson thu xếp để mình cũng có tên trong danh sách khách mời. R. Carlson dự tính rằng nếu trong buổi tiếp tân ngày 13-9, Pamela Cowell không tiếp xúc được với O. Penkovsky thì tự mình sẽ nhận tài liệu trong buổi tiệc hôm 15-9.
O. Penkovsky không xuất hiện trong cả hai buổi tiệc.
+++++
Trong suốt gần hai tháng trời sau đó, cả CIA lẫn MI6 không biết điều gì đã xảy ra với O. Penkovsky. Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba đang đến hồi quyết liệt và cả thế giới bị đẩy đến bên bờ vực của một cuộc chiến tranh hạt nhân. CIA nóng lòng muốn tiếp xúc với O. Penkovsky càng sớm càng tốt, hi vọng sẽ có thêm những thông tin mới nhất về ý định của nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev để Tổng thống J. Kennedy có thể đưa ra các đối sách thích hợp. Nhưng không một ai nhìn thấy O. Penkovsky xuất hiện ở đâu cả. Ngày 22-10-1962, J. Bulik, thành viên Mỹ trong nhóm tình báo hỗn hợp gửi một bức điện mật tới trạm CIA ở Moscow, hối thúc các điệp viên ở đây là nếu tiếp xúc được với điệp viên Hero thì nhấn mạnh những thông tin về ý định sử dụng vũ khí hạt nhân của phía Liên Xô phải là ưu tiên hàng đầu.
Đến ngày 2-11-1962, vào lúc 9 giờ sáng, có hai cú điện thoại gọi tới một số máy đã được cung cấp cho O. Penkovsky trước đấy. Khi nhân viên tình báo Mỹ nhấc máy thì đầu dây bên kia không có ai nói gì. Đó là tín hiệu đã thỏa thuận trước cho thấy có tài liệu mật ở hộp thư chết trên phố Pushkinskaya. Tiếp đó, kiểm tra buồng điện thoại công cộng số 35 trên Đại lộ Kutuzovsky, nhân viên tình báo sứ quán Mỹ thấy có một chữ X viết bằng phấn. Có nghĩa là O. Penkovsky đã để lại một thông điệp khẩn ở hộp thư chết tại số 5/6 phố Pushkinskaya. Theo thỏa thuận từ trước với O. Penkovsky, đó là dấu hiệu O. Penkovsky cảnh báo khẩn rằng chiến tranh sắp nổ ra. Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba vẫn đang ở thời điểm cực kì căng thẳng. Liên Xô sắp mở đòn tấn công hạt nhân phủ đầu nhằm vào Mỹ chăng?
Do tính chất khẩn trương của tình hình nên CIA lập tức phải tìm hiểu xem thông báo khẩn của O. Penkovsky là gì. Nhiệm vụ đi lấy tài liệu mật ở hộp thư chết được giao cho Richard Jacob, một điệp viên CIA 25 tuổi hoạt động dưới vỏ bọc là nhân viên lưu trữ hồ sơ tại sứ quán Mỹ. Đây là điệp vụ đầu tiên ở hải ngoại của R. Jacob, một người nói tiếng Nga rất khá. Lúc 3 giờ chiều ngày 2-11-1962, R. Jacob tới phố Pushkinskaya. Sau khi quan sát kĩ và tin rằng không bị ai theo dõi, R. Jacob đi vào bên trong tòa nhà, nơi có đặt hộp thư chết và lấy từ đó ra một hộp nhỏ bằng bao diêm. Vừa bước ra đến cửa, bốn người đàn ông bất thần xuất hiện như chui từ dưới đất lên, nhanh chóng vô hiệu hóa R. Jacob và dẫn anh ta tới một chiếc Volga màu xanh đỗ gần dó rồi đưa về đồn công an.
Về tới đồn công an, R. Jacob, đã từng được CIA huấn luyện cẩn thận, không chịu nói một lời nào bằng tiếng Nga mà chỉ dùng tiếng Anh, nói mình là nhân viên ngoại giao và nằng nặc đòi được liên lạc với “sứ quán của tôi”. “Sứ quán nào?” một trong số những người thẩm vấn R. Jacob hỏi. “Sứ quán Mỹ”, R. Jacob trả lời. Các nhân viên KGB rất ngạc nhiên bởi họ đã giám sát O. Penkovsky trong một thời gian dài và biết viên đại tá GRU liên lạc qua Janet Chisholm, một phụ nữ người Anh, nay bỗng dưng lại nảy nòi ra một gã người Mỹ!
Sau một thời gian dài tra hỏi, R. Jacob cương quyết không nói gì và khăng khăng đòi liên lạc với sứ quán Mỹ theo quy chế dành cho nhân viên ngoại giao. Cuối cùng, những người bắt giữ R. Jacob phải nhượng bộ và Bí thư thứ nhất sứ quán Mỹ Richard Davies tới nhận R. Jacob về. Đến ngày 6-11, phía Liên Xô tuyên bố R. Jacob là “nhân vật không được hoan nghênh” và viên sĩ quan CIA trẻ tuổi bị trục xuất, rời Liên Xô về Mỹ.
Sau này, có một giả thiết cho rằng có thể khi bị bắt giữ, O. Penkovsky đã giả vờ hợp tác với KGB, đánh lừa nhân viên thẩm vấn mình về ý nghĩa của tín hiệu thông báo cho CIA ở buồng điện thoại công cộng. Có lẽ O. Penkovsky muốn phát đi thông báo giả về việc Liên Xô sắp mở cuộc tiến công hạt nhân phủ đầu nhằm vào nước Mỹ và hi vọng Mỹ sẽ ra đòn hạt nhân trước, dìm cả thế giới vào một mùa đông hạt nhân lạnh lẽo. Rất may là các nhân viên CIA ở Moscow đã không hấp tấp truyền thông điệp sai lạc này về Langley và từ đó tới các cấp ra quyết định ở Washington.
Trong khi ấy, cũng ngày 2-11-1962, tại Budapest, G. Wynne chủ trì một bữa tiệc cocktail chào mừng các quan chức Hungary tới dự cuộc triển lãm lưu động về ngành công nghiệp gỗ của Anh tại công viên Városliget. Trước khi sang Hungary, G. Wynne cùng vợ tới Vienna nghỉ cuối tuần trong ba ngày và từ đây, G. Wynne gọi điện về London theo một số được MI6 cho từ trước. Một nhân viên MI6 khuyên G. Wynne không nên sang một quốc gia bên kia Bức Màn sắt bởi rất nguy hiểm, vì đã không nghe được bất cứ tin tức gì từ O. Penkovsky kể từ đầu tháng 9-1962. Không ai biết vì sao G. Wynne vẫn quyết định tới Budapest vào ngày 29-10-1962.
Từ trong tòa nhà nơi tổ chức bữa tiệc bước ra ngoài cùng với người phiên dịch tên là Ambrus, khi đi xuống bậc thềm, G. Wynne bỗng thấy xuất hiện bốn người đàn ông vây quanh mình. Một người hỏi: “Ông là Veen?” “Tôi đây”, G. Wynne trả lời. Cảm thấy nguy hiểm, G. Wynne cất tiếng gọi Ambrus nhưng người phiên dịch nói: “Họ nói được tiếng Anh đấy”, rồi bước đi. Một chiếc xe Moskvitch trờ tới, cửa sau mở ra. Trước khi bị đẩy vào trong xe, G. Wynne vẫn còn kịp kêu to báo hiệu cho người lái xe của mình là Charles đang đứng gần đấy.
G. Wynne được đưa về một nhà tù của Hungary, sau đấy chuyển cho KGB rồi bị áp giải về Moscow trên chuyến bay ngày 4-11-1962. Ngày 6-11, các phương tiện truyền thông phương Tây chính thức đưa tin về vụ bắt giữ G. Wynne.
Việc KGB đồng thời bắt giữ R. Jacob và G. Wynne trong ngày 2-11- 1962 cho phép CIA và MI6 khẳng định chắc chắn O. Penkovsky đã bị lộ và đang nằm trong tay KGB. Một trong những chiến dịch thành công bậc nhất trong lịch sử tình báo phương Tây đã kết thúc.
+++++
Cuối cùng đáp ứng lại sự “sốt ruột” của cả CIA lẫn MI6, ngày 11-12-1962, hãng thông tấn TASS của Liên Xô ra thông báo về vụ bắt giữ O. Penkovsky, nói rằng O. Penkovsky đã chuyển giao những bí mật quân sự, chính trị và khoa học kĩ thuật cho tình báo Anh - Mỹ. Bản thông báo cũng nói rõ là O. Penkovsky đã sử dụng hộp thư chết ở số 5/6 phố Pushkinskaya để chuyển tài liệu và nhân viên R. Jacob của sứ quán Mỹ đã bị bắt quả tang hôm 2-11-1962 khi đang nhận tài liệu tại đó. Ngoài ra, thông báo nêu rõ thương gia người Anh G. Wynne cũng bị cáo buộc liên quan đến vụ án này.
Sau sáu tháng, kịch bản mà CIA và MI6 lo ngại đã xảy ra: Một phiên tòa công khai xét xử O. Penkovsky và G. Wynne được tổ chức ở Moscow. Cả hai người đều bị buộc tội làm gián điệp và ra tòa ngày 7-5-1963.
Phiên tòa diễn ra tại phòng xử án của Tòa án quân sự tối cao nằm trên phố Vorovsky ở Moscow. Chủ tọa phiên tòa là Trung tướng V. V. Borisoglebsky, công tố viên buộc tội là Trung tướng A. G. Gorny. Khác với phiên tòa mấy năm trước đó xử phi công gián điệp F. Powers có tới 2.000 người được mời dự để nhằm mục đích tuyên truyền, tham dự phiên tòa xử O. Penkovsky và G. Wynne chỉ có chừng 300 người được lựa chọn kĩ càng cùng một số ít các nhà ngoại giao nước ngoài và phóng viên.
Tại phiên tòa, cáo trạng nói rõ O. Penkovsky đã có các cuộc gặp bí mật với các nhân viên tình báo Anh - Mỹ; phía Anh có Grille (Harold Shergold), Mail (Michael Stokes), Mỹ có Oslaf (Joseph Bulik) và Alexander (George Kisevalter). Đó là những tên giả mà O. Penkovsky tiết lộ với KGB, phỏng theo âm na ná với những cái tên mà O. Penkovsky khai rằng các điệp viên Anh - Mỹ đã nói với mình. Rất có thể O. Penkovsky quyết tâm không khai thật danh tính các điệp viên trong nhóm hỗn hợp Anh - Mỹ, nhưng việc sử dụng những cái tên này tại phiên tòa cũng cho thấy một khả năng là KGB không nắm được hết các chi tiết của vụ án gián điệp nghiêm trọng này.
Tại phiên tòa, O. Penkovsky chấp nhận những tội trạng do cáo trạng đưa ra, trong khi chiến thuật bào chữa của G. Wynne là bản thân mình không phải điệp viên và cũng không biết gì về nội dung của những tài liệu mà mình đã chuyển giao.
Phiên tòa kéo dài trong bốn ngày. Đến 16 giờ 5 phút chiều 11-5- 1963, tòa bắt đầu tuyên án. O. Penkovsky bị kết tội “phản quốc” và nhận án tử hình, bị tước bỏ cấp bậc đại tá cùng tất cả huân huy chương, tài sản bị tịch thu sung công.
G. Wynne bị kết án tước quyền tự do tám năm, trong đó ba năm đầu tiên tù giam, năm năm sau lao động trong trại cải tạo.
Bản án của O. Penkovsky không được chuyển lên xét xử lại ở tòa án cấp cao hơn nhưng O. Penkovsky có quyền đưa đơn lên Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao xin ân xá. G. Wynne, chịu án nhẹ hơn, có quyền đưa đơn xin giảm nhẹ hình phạt.
Các điệp viên Mỹ trong nhóm tình báo hỗn hợp là J. Bulik và G. Kisevalter hết sức thất vọng khi nghe tin O. Penkovsky bị kết án tử hình. Từ ngày 10- 5-1963, một ngày trước khi phiên tòa ở Moscow kết thúc, J. Bulik đã đề xuất một kế hoạch nhằm “tận dụng những cơ hội nhỏ nhất để cứu mạng O. Penkovsky”. Ngay sau khi biết O. Penkovsky bị bắt, tháng 11-1962, J. Bulik đã đề xuất với Howard Osborne, sếp của Ban Xô viết và James Angleton, người đứng đầu bộ phận phản gián trong CIA, một kế hoạch để cứu mạng O. Penkovsky. Nội dung đề xuất này là liên hệ với KGB và GRU để tiến hành một vụ trao đổi điệp viên, trong đó có O. Penkovsky.
H. Osborne không đưa đề xuất này đi bất cứ đâu trong CIA nhưng J. Angleton, người có mối liên hệ cấp cao với tình báo Anh, đã chuyển ý tưởng này cho MI6 để tình báo Anh cân nhắc. MI6 nhanh chóng bác bỏ ý tưởng này. Lí do vì người Anh luôn phủ nhận sự tồn tại của cơ quan tình báo Anh MI6 và việc dính dáng vào một vụ trao đổi gián điệp sẽ chính thức hóa sự tồn tại các hoạt động gián điệp của nước Anh.
Nhưng còn một nguyên nhân khác đằng sau sự từ chối thẳng thừng của người Anh đối với kế hoạch cứu mạng điệp viên Hero do phía Mỹ đề xuất.
Sau phiên tòa xử O. Penkovsky và G. Wynne ở Moscow, người Anh nhận thấy khả năng sẽ đơn phương tiến hành một vụ trao đổi điệp viên để cứu G. Wynne ra khỏi nhà tù Liên Xô. Trước đấy, nhờ sự phát giác của một điệp viên cấp cao của tình báo Ba Lan là Michael Goleniewski, mật danh Sniper - Kẻ bắn tỉa, phản gián Anh đã phát hiện ra Đại tá KGB Konon Trofimovich Molody, người mang tên giả là Gordon Arnold Lonsdale khi hoạt động ở Anh, cùng các điệp viên trong vụ án gọi là “Đường dây gián điệp Portland”. Tháng 5-1961, tòa án Anh quốc đã kết án Đại tá K. Molody hai mươi lăm năm tù giam.
Người Anh tính toán rằng mặc dù có đầy đủ các bằng chứng nhưng ở trước tòa của hai phía, cả Đại tá K. Molody lẫn G. Wynne đều không nhận tội làm gián điệp, trong khi O. Penkovsky nhận tội. Dù sao thì G. Wynne vẫn là người Anh trong khi O. Penkovsky, dù là điệp viên vô cùng giá trị, nhưng là công dân Xô viết. Người Anh muốn cứu mạng người của mình bằng cách đổi Đại tá KGB K. Molody lấy viên thương gia. Sự trao đổi như thế sẽ công bằng cho dù Đại tá K. Molody là một điệp viên giá trị hơn nhiều so với G. Wynne. Phía Anh không loại trừ khả năng bản án khá nặng mà Liên Xô dành cho G. Wynne chính là để chuẩn bị cho vụ trao đổi với K. Molody.
Quả nhiên, KGB đã đi trước bằng một lá thư đề ngày 10-7-1963, tức khoảng hai tháng sau phiên tòa, đứng tên người viết là Halma Lonsdale, vợ của G. Lonsdale, từ Warsaw, Ba Lan, gửi cho vợ của G. Wynne là Sheila. Trong thư đề nghị hai người phụ nữ gửi đơn lên chính phủ hai bên để tiến hành cuộc trao đổi, đưa chồng họ về sum họp với gia đình.
Các hoạt động cần thiết cho cuộc trao đổi được hai bên xúc tiến. Vào một ngày tháng 4-1964, G. Wynne ra khỏi buồng giam trong nhà tù Lubyanka của KGB ở Moscow, được đưa tới sân bay và bay sang Đông Đức. Vào lúc 5 giờ 35 phút sáng 22-4-1964, cuộc trao đổi G. Lonsdale và G. Wynne diễn ra suôn sẻ tại cửa khẩu Heerstraße giữa Đông Berlin và Tây Berlin. Sau mười sáu tháng trong nhà tù Xô viết, G. Wynne cuối cùng đã được về nhà.
+++++



Trong khi ấy thì ngay sau phiên tòa, CIA tiếp tục các nỗ lực nhằm cứu O. Penkovsky. J. Bulik và G. Kisevalter đồng kí tên vào một giác thư, yêu cầu các trạm CIA ở Tây Đức, Hà Lan, Ý, Đan Mạch chuyển giác thư này cho đại diện của KGB và GRU tại các địa bàn. Giác thư khẩn thiết đề nghị phía Xô viết để O. Penkovsky được sống “cho đến khi một thỏa thuận song phương có thể làm hài lòng cả đôi bên”. Bức giác thư đề nghị phía Xô viết trả lời chậm nhất vào ngày 1-6-1963.
Không có bất cứ một câu trả lời nào cả.
Vào lúc bình minh ngày 16-5-1963, một nhóm người tới xà lim, nơi giam giữ O. Penkovsky ở nhà tù Lubyanka của KGB. O. Penkovsky biết rằng thời gian của mình đã hết. KGB thực hiện việc bắt giữ nhưng không phải là đơn vị thi hành bản án mà công việc này thuộc về trách nhiệm của một đơn vị thuộc Bộ Nội vụ. O. Penkovsky được đưa tới nhà tù Butyrka nằm trên phố Novoslobodskaya. Vào lúc 4 giờ 17 phút chiều 16-5-1963, O. Penkovsky bị hành quyết và đến 9 giờ 45 phút tối, xác của O. Penkovsky được hỏa thiêu. Theo một số nguồn tin, tro được rải ở nghĩa trang Donskoy tại Moscow nhưng không có nấm mồ cố định.
Hôm sau, 17-5-1963, tờ Pravda đưa một mẩu tin ngắn: Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao đã bác đơn xin ân xá của Oleg Penkovsky; bản án đã được thi hành.
Sinh nghề tử nghiệp, điệp viên nhị trùng O. Penkovsky bị hành quyết khi mới 44 tuổi, quá trẻ để chết đối với một người bình thường, nhưng là định mệnh mà một điệp viên phải gánh chịu khi chấp nhận đưa mình vào giữa những hàm răng sư tử. Điệp viên Hero, “chiến sĩ điệp báo” của tình báo Anh - Mỹ, đã chết mà không có lấy một nấm mồ. Theo luật của Liên Xô thời kì đó, gia đình tử tội bị hành quyết sẽ không được nhận xác người thân của mình.
Việc KGB bắt giữ được O. Penkovsky, một đại tá của Tổng cục Tình báo quân đội Liên Xô GRU, đã gây nên những tác động to lớn đối với GRU cũng như cả mạng lưới tình báo Anh - Mỹ. Ngay sau vụ việc, phụ trách GRU, tướng Ivan Serov, người “bảo trợ” cho O. Penkovsky, bị thuyên chuyển rồi giáng cấp. Ít nhất 300 điệp viên GRU hoạt động ở các địa bàn hải ngoại bị triệu hồi về Moscow để điều tra xem có dính líu đến viên đại tá phản bội hay không.
Sau phiên tòa xử O. Penkovsky, phía Xô viết liệt tám nhà ngoại giao Anh và năm nhà ngoại giao Mỹ vào dạng “nhân vật không được hoan nghênh” và trục xuất những người này khỏi Liên bang Xô viết.
Cái chết của O. Penkovsky chấm dứt một trong những chiến dịch điệp báo thành công nhất thời kì Chiến tranh Lạnh của CIA và MI6. Trong hai lần O. Penkovsky tới London và một lần tới Paris, các điệp viên Anh - Mỹ đã gặp gỡ viên đại tá GRU tổng cộng khoảng 140 tiếng đồng hồ; các cuộc nói chuyện được ghi lại trên 1.300 trang giấy. O. Penkovsky đã chuyển giao cho tình báo phương Tây 111 cuộn phim, rửa ra khoảng 5.000 bức ảnh trong đó có tới 99% rõ nét. Tổng cộng những tài liệu mà O. Penkovsky chuyển giao cũng như nói miệng cho các thành viên nhóm tình báo hỗn hợp được ghi lại xấp xỉ 10.000 trang báo cáo tình báo. Trị giá của chúng ước tính lên tới hàng tỉ đô la.
Nhờ những tài liệu mật do O. Penkovsky cung cấp, Mỹ đã có thể nắm bắt được ý đồ của lãnh đạo cao cấp nhất Liên Xô cũng như tiềm lực thực sự của lực lượng hạt nhân Xô viết trong hai cuộc khủng hoảng nghiêm trọng thời kì Chiến tranh Lạnh, rồi xử lí hai cuộc khủng hoảng này theo chiều hướng có lợi nhất cho mình. CIA coi đây là một điệp vụ gây tổn hại bậc nhất cho Liên bang Xô viết và là một trong những chiến dịch thành công nhất trong lịch sử của mình.
KGB, về phần mình, cũng không phải chờ đợi lâu để có thể trả đũa Mỹ một cách đích đáng! Chỉ bốn năm sau phiên tòa xử O. Penkovsky, trên đất Mỹ, KGB cũng bắt đầu một điệp vụ mà họ đánh giá là quan trọng bậc nhất trong lịch sử tồn tại của mình. Do điệp vụ này mà Mỹ đã phải tốn ít nhất cả tỉ đô la để khắc phục hậu quả và KGB đánh giá nó gây tổn hại cho phía Mỹ không kém gì so với những tổn hại O. Penkovsky đã gây ra cho phía Xô viết.
Nhưng điều quan trọng hơn cả là nhờ điệp vụ này mà trong một thời gian dài kỉ lục tới mười bảy năm, KGB đã có thể nắm bắt được hầu như mọi bí mật mang tính sống còn của quân đội Mỹ. Nói một cách đơn giản thì nếu chiến tranh giữa hai bên xảy ra trong thời gian diễn ra điệp vụ đó thì rất có thể nước Mỹ đã thua trận!
Đó là điệp vụ “Đường dây nhà Walker”.