Răng Sư Tử

Lượt đọc: 65 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

❊ ❊ ❊

6

Kim cương hai mặt

“Người này đã phá hủy hầu hết tất cả những gì mà các cơ quan tình báo Anh từng làm kể từ khi kết thúc Đệ nhị thế chiến!”

Chánh án Tòa hòa giải tối cao nước Anh, Nam tước Parker xứ Waddington, nói tháng 5-1961

Vào khoảng giữa năm 1953, KGB đứng trước một lựa chọn khó khăn: Tìm người liên lạc và chỉ huy một điệp viên của mình đang hoạt động ở London dưới mật danh Diomid. Sau khi điệp viên huyền thoại Harold Kim Philby, người đứng đầu Bộ Ngũ Cambridge bị phản gián Anh - Mỹ nghi ngờ và đẩy ra khỏi vị trí trọng yếu trong nội bộ cơ quan tình báo Anh thì Diomid là viên kim cương trên chiếc vương miện hoạt động tình báo của KGB ở London. Điệp viên này làm việc ở Ban Y trong Cục Tình báo mật MI6, là nơi có thể tiếp cận được những chiến dịch mật mang tính khoa học kĩ thuật chống lại người Xô viết. Người này có khả năng cung cấp những thông tin tuyệt mật từ ngay trong cơ quan đầu não của tình báo phương Tây và không được phép có bất cứ một sơ suất nào khiến anh ta có thể bị phát hiện.

Tổng hành dinh KGB ở Moscow biết rằng tất cả nhân viên tình báo KGB hoạt động dưới vỏ bọc nằm trong sứ quán Liên Xô ở London đều bị phản gián Anh theo dõi gắt gao. Do đó, cần phải lựa chọn một điệp viên KGB còn trẻ, chưa bị phản gián Anh nhận diện. Anh ta phải có những kiến thức cơ bản về ngoại giao để có thể thực hiện công việc dưới vỏ bọc công khai ở sứ quán Liên Xô, đồng thời sở hữu kinh nghiệm hoạt động chiến dịch trên thực địa, đặc biệt là phải nắm vững các kĩ năng giám sát và chống giám sát nhằm loại bỏ các nhân viên phản gián Anh có thể theo vết để lần ra Diomid.

Người được chọn là điệp viên KGB Sergei Aleksandrovich Kondrashev, một sĩ quan tình báo trẻ tuổi, từng tham gia theo dõi các nhân viên sứ quán Mỹ tại Moscow. Một ngày kia, S. Kondrashev được cấp trên gọi lên, thông báo vắn tắt rằng sẽ được cử tới địa bàn London, nơi anh chưa từng hoạt động bao giờ, để làm việc với một nguồn tin cực kì quan trọng. Tất cả mệnh lệnh chỉ có thế.

Để chuẩn bị cho sứ mệnh của mình ở London, S. Kondrashev phải đọc kĩ các hồ sơ của Diomid, nghiên cứu tỉ mỉ bản đồ thành phố London, tìm hiểu những phương thức theo dõi, giám sát của phản gián Anh. Công việc của S. Kondrashev trong việc giám sát sứ quán Mỹ tại Moscow rất có ích trong trường hợp này bởi cũng như người Mỹ, S. Kondrashev buộc phải tìm mọi cách để thoát khỏi sự giám sát của đối phương.

Tháng 10-1953, S. Kondrashev tới London dưới vỏ bọc bí thư thứ nhất sứ quán Liên Xô phụ trách quan hệ văn hóa. S. Kondrashev làm đủ mọi thứ việc linh tinh, từ sắp xếp lịch biểu diễn ở Anh cho danh cầm violin người Nga David Oistrakh cho tới việc mua vé cho những nhân vật VIP của Liên Xô tới Anh tham dự các hoạt động thể thao. S. Kondrashev cũng hoạt động như một điệp viên KGB địa bàn tạm thời cho đến khi Sergei Leonidovich Tikhvinsky tới thay thế Nikolai Borisovich Rodin, người phụ trách địa bàn London trong thời gian đó.

Nhưng trách nhiệm chính của S. Kondrashev là chiến dịch liên quan đến Diomid: Chỉ có duy nhất Kondrashev biết tên thật cũng như vị trí công tác của nguồn tin quý báu này. Phải hết sức thận trọng khi tiến hành liên lạc với Diomid trong bối cảnh theo dõi ngặt nghèo của phản gián Anh. Do tầm quan trọng của điệp vụ này, không có chỗ cho bất cứ một sơ sẩy nào.

Cuộc gặp đầu tiên của S. Kondrashev với Diomid diễn ra vào một ngày cuối tháng 10-1953. Hôm đó, điệp viên Diomid rời cơ quan vào lúc 6 giờ tối như thường lệ, thong dong đi bộ qua khu buôn bán sầm uất Soho của London, tới đường Oxford. Tại đó, điệp viên này ghé vào quán cà phê, uống một tách trà rồi cẩn thận quan sát xem liệu có bị bám đuôi hay không. Khi biết chắc là không có một cái đuôi nào bám theo, người này đi bộ quay trở lại trạm tàu điện ngầm Charing Cross, đầu mối chuyển tiếp các chuyến tàu ở London. Ở đó, anh ta lên tàu ở Tuyến Bắc, đi về phía Bắc London. Tới ga sau, khi cửa toa tàu sắp đóng, anh ta nhảy ra khỏi toa, đợi cho hai chuyến tàu tiếp theo đi qua rồi mới tiếp tục lên chuyến thứ ba. Đến bến Belsize, một lần nữa, anh ta lại đợi cho đến khi cửa toa tàu sắp sập lại thì mới lách ra khỏi toa.

Như đã thỏa thuận với nhân viên KGB trong cuộc gặp trước đó ở Hague, Hà Lan, trong cuộc gặp lần này với người sẽ phụ trách mình ở London, tay trái Diomid cầm một tờ báo. Tới quãng đường vắng, một người đàn ông đi ngược chiều hiện ra, tay trái cũng cầm tờ báo. Đầu đội chiếc mũ mềm màu xám, người khoác một chiếc áo mưa cũng màu xám, người đàn ông như lẫn vào trong màn sương đêm của London. Đó là S. Kondrashev.

Đây là cuộc gặp gỡ giúp hai người làm quen với nhau, thỏa thuận về những cuộc gặp tiếp theo cũng như bàn cách đáp ứng nhu cầu của Diomid muốn có một chiếc máy ảnh để chụp lại các tài liệu mật qua tay ông.

Cũng trong cuộc gặp đầu tiên này, Diomid đã chuyển cho S. Kondrashev những tài liệu đầu tiên liên quan đến hoạt động nghe lén của tình báo Anh, do Ban Y trong MI6 thực hiện. Các hoạt động này bao gồm hai chiến dịch nghe lén điện thoại cũng như gài rệp điện tử vào sứ quán các nước khối Đông Âu ở London. Đặc biệt, các tài liệu cũng lần đầu tiên cho biết về chiến dịch do P. Lunn và các đồng sự ở MI6 tiến hành gài máy nghe lén vào đường cáp thông tin của phía Xô viết ở Vienna. Những “khách hàng” nhận các thông tin nghe lén này là quan chức chính phủ Anh và cả các nhà hoạch định chính sách Mỹ ở Washington.

Bất chấp những nguy hiểm có thể xảy ra khi tiến hành gặp gỡ, điệp viên Diomid hoàn toàn có vẻ tự chủ và bình tĩnh. Cả hai thỏa thuận sẽ gặp nhau khoảng 3 hoặc 4 tuần một lần, tại những địa điểm định trước và phải sau khi đã thực hiện các thủ thuật chống theo dõi, giám sát.

Ba tuần sau, S. Kondrashev chuyển cho Diomid một chiếc máy ảnh hiệu Minox để điệp viên này có thể chụp lại những tài liệu cần thiết. Trong một cuộc gặp sau đó, Diomid chuyển cho S. Kondrashev khoảng bốn chục trang tài liệu, cung cấp chi tiết về chiến dịch Smoky Joe’s / Silver do MI6 thực hiện tại Vienna, ghi lại động thái các hoạt động của quân đội Xô viết tại Áo.

Việc chỉ đạo hoạt động của Diomid ở London không dễ dàng. Trung tâm tình báo Moscow kiểm soát mọi bước của chiến dịch, không cho phép nhân viên KGB địa bàn có những sáng kiến hoặc hành động có thể dẫn tới việc làm chệch hướng quá trình đã được hoạch định từ trước. Một lần, Diomid không xuất hiện tại cuộc gặp gỡ thường kì và cũng không có mặt ở buổi gặp dự bị đã được thỏa thuận trước. Khi sự vụ này được báo về Moscow, Trung tâm chỉ thị hãy chờ cho đến buổi gặp thường kì tiếp theo. Khi Diomid vẫn không xuất hiện ở buổi gặp này, S. Kondrashev liền đề nghị cho phép được gặp Diomid trên đường người này đi tới cơ quan. Moscow từ chối và chỉ thị tiếp tục chờ cho tới lần gặp gỡ sau đó. Lần này, Diomid hẹn gặp tại một rạp chiếu phim ở London và giải thích cho S. Kondrashev lí do ông vắng mặt trong mấy buổi gặp trước. Hóa ra Diomid lo ngại về việc Petrov, một điệp viên KGB khi đó vừa mới đào thoát sang Úc, là người biết về mối liên hệ giữa Diomid với tình báo Xô viết. Diomid muốn chắc chắn rằng MI6 không tiến hành các hoạt động giám sát mình.

Rồi đến trước kì lễ Giáng sinh năm 1953, Diomid tham gia vào cuộc gặp mặt bí mật giữa CIA và MI6 ở trụ sở Ban Y để thảo luận những chi tiết chiến dịch Stopwatch / Gold.

Ngày 18-1-1954, S. Kondrashev thực hiện cuộc gặp với Diomid. Là người phụ trách các vấn đề văn hóa ở sứ quán, với lí do tiễn một đoàn vận động viên cờ vua của Liên Xô, S. Kondrashev hộ tống đoàn vận động viên ra phi trường Heathrow ở London. Thời gian còn lại trong ngày, S. Kondrashev đi mua sắm, xem phim. Trong suốt quá trình này, S. Kondrashev hai lần dùng một nhân viên KGB địa bàn khác kiểm tra xem có sự theo dõi hay không ở những địa điểm đã định trước trên lộ trình của mình.

Khi biết chắc chắn không bị theo dõi, S. Kondrashev lên một chiếc xe buýt hai tầng quen thuộc ở London và gặp Diomid ở tầng trên của xe. Diomid chuyển cho sĩ quan KGB phụ trách mình một gói tài liệu mật. Sau khi nhận được những tài liệu của Diomid chuyển cho, S. Kondrashev nói lời tạm biệt rồi trên đường về tiếp tục kiểm tra xem có đuôi bám theo ở mấy trạm dừng nữa trước khi được một nhân viên KGB đón lên chiếc xe đỗ ở gần đó.

Trong gói tài liệu mà Diomid chuyển cho S. Kondrashev ngày 18-1-1954 ấy có một bản sao chính xác biên bản cuộc họp diễn ra từ 15 đến 18-12-1953 ở London giữa các đại diện của CIA và MI6 để bàn thảo về dự án tuyệt mật về đường hầm nghe lén ở Berlin. Tình báo Mỹ đặt mật danh cho chiến dịch là Gold, còn MI6 gọi nó là Stopwatch. Diomid nằm trong danh sách những đại diện cho MI6 tham gia cuộc họp này.

Đến ngày 12-2-1954, toàn bộ tài liệu này được đưa ra để xem xét. Đích thân S. Kondrashev soạn và chụp lại bản báo cáo rồi gửi về Moscow theo đường túi thư ngoại giao dưới dạng phim âm bản. Những bản sao biên bản cuộc họp trung tuần tháng 12-1953 giữa MI6 và CIA và nhiều cuộc họp khác nữa mà Diomid chuyển, do khá rõ nét nên S. Kondrashev gửi thẳng chúng về Moscow mà không cần chụp lại nữa. Dưới các bản báo cáo gửi về đều kí mật danh của S. Kondrashev là Rostov.

Bản sao biên bản cuộc họp MI6/CIA diễn ra vào trung tuần tháng 12-1953 liệt kê danh sách những người tham gia, mô tả lại những đề xuất nhằm thực hiện chiến dịch Stopwatch / Gold, nội dung thảo luận về các vấn đề kĩ thuật để gắn máy nghe trộm vào đường cáp thông tin thông qua một đường hầm được đào đến khu vực có các dây cáp này. Nó cũng cho biết một đơn vị đặc biệt sẽ cắm chốt ở London để xử lí nhanh những tài liệu điện tín thu thập được. Ngoài ra, hai bên thỏa thuận các thông tin nghe trộm sẽ được chuyển tới Cơ quan truyền thông chính phủ Anh (GCHQ) và Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ (NSA), hai cơ quan tình báo của Anh và Mỹ chuyên về lĩnh vực tình báo điện tử để xử lí...

Có thể nói KGB đã phát giác Đường hầm Berlin ngay cả trước khi những nhát cuốc đầu tiên bổ xuống để đào con đường hầm nghe lén này. Stopwatch/Gold, một trong những chiến dịch tình báo liều lĩnh tốn kém nhiều triệu đô la do CIA phối hợp với MI6 tiến hành, đã đổ vỡ từ điểm khởi đầu.

Người góp công lớn cho KGB trong vụ này là điệp viên nhị trùng Diomid, viên kim cương hai mặt quý giá của tình báo Liên Xô, George Blake.

+++++

Theo giấy tờ khai sinh, George Blake sinh vào lúc 3 giờ chiều ngày 11-11-1922 tại căn nhà của bố mẹ ở 104 đường Gedempte Botersloot, thành phố Rotterdam, Hà Lan. Ông bố Albert William Behar là người Ai Cập gốc Do Thái và mẹ Catherine là người Hà Lan. Hai người đặt tên cho đứa con đầu lòng là George Behar để bày tỏ sự tôn kính nhà vua Anh George V, người mà ông Albert Behar đã chiến đấu dưới cờ trong Đệ nhất thế chiến, được thưởng Huân chương Đế chế Anh và Huân chương Danh dự của Pháp trước khi vào làm việc trong phòng tình báo của Thống chế Anh Douglas Haig.

Công việc buôn bán phát đạt nhưng sức khỏe của ông Albert Behar không được tốt lắm do những di chứng của khí độc bị nhiễm phải trong thời gian chiến đấu ngoài mặt trận hồi Đệ nhất thế chiến. Để tránh làn khói bụi ô nhiễm của thành phố công nghiệp Rotterdam, ông Albert Behar quyết định mua một biệt thự ở Scheveningen, cách thành phố Hague vài dặm bên bờ Biển Bắc, nơi có không khí trong lành và chuyển cả gia đình tới sống ở đó.

Tuy nhiên, việc di chuyển tới sống ở vùng ven biển vẫn không thể giảm bớt những tác hại lên sức khỏe ông Albert Behar do di chứng từ thời chiến tranh. Ông bị mắc bệnh ung thư và tháng 4 năm 1936 thì mất. Trước khi mất, ông bắt vợ phải hứa gửi cậu con trai cả tới chỗ một người em gái của ông đang sống ở Cairo. Người em gái này lấy một chủ ngân hàng khá giàu có ở thủ đô Ai Cập. Ngoài ra, ông Albert Behar còn có một vài người họ hàng khác cũng đang sinh sống tại đây.

Sau khi cha mất, George Behar được gửi tới học một trường tiếng Anh ở Cairo và dành phần lớn thời gian sống cùng ông chú Henri Curiel, một thành viên quan trọng trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Ai Cập. Có lẽ chính sự tiếp xúc rất sớm từ thuở niên thiếu với ông chú có quan điểm cánh tả đã ảnh hưởng khá rõ đến nhãn quan chính trị của George Behar sau này.

Ở Ai Cập được hai năm, George Behar quay về Hà Lan vào dịp Giáng sinh năm 1938, vào học trường Phổ thông trung học Hà Lan MULO. Trong thời gian này, George Behar luôn tỏ ra nổi trội hơn các bạn cùng trang lứa, đặc biệt là về ngoại ngữ. George Behar có thể nói lưu loát tiếng Anh, Pháp và Đức, sẵn sàng giúp đỡ bạn bè nếu có dịp nhưng sống khá tách biệt, ít giao lưu, đặc biệt là không bao giờ mời bạn đến chơi nhà mình. Chàng trai George Behar để rất nhiều thời gian vào công việc đọc sách, tập thể thao.

Ngày 28-4-1940, George Behar gặp gỡ cả gia đình lần cuối cùng ở Hà Lan khi tất cả cùng tề tựu tại Rotterdam trong ngày sinh nhật bà mẹ Catherine Behar. Sau hôm đó, bà Catherine cùng hai cô em gái quay về thành phố bên bờ biển Scheveningen, trong khi George Behar ở lại Rotterdam để học tiếp.

Ngày 10-5-1940, Đức Quốc xã tiến công Hà Lan và chỉ một tuần sau đã hoàn toàn làm chủ Vùng đất thấp. Một người bạn của gia đình là D. W. Child, cũng là một sĩ quan tình báo, khuyên Catherine đưa hai cô con gái tới thành phố Hook, nơi ba chiếc tàu chiến của Anh tới đón gia đình Hoàng gia Hà Lan cùng các gia đình khác sơ tán sang Anh.

Khi ấy, George Behar vẫn đang ở Rotterdam và may mắn sống sót sau trận ném bom hủy diệt do không quân Đức Quốc xã tiến hành hôm 14-5-1940, giết chết chừng 30.000 người dân, mặc dù lực lượng kháng chiến Hà Lan khi ấy đã quyết định ngưng chiến. Quang cảnh tang thương của thành phố bốc cháy nơi nơi, với tiếng kêu khóc không ngừng nghỉ của trẻ con cùng những ngôi nhà đổ sụp chỉ còn trơ khung đã tác động mạnh mẽ lên tâm trí của chàng trai trẻ 18 tuổi.

Chỉ ít ngày sau trận ném bom, khi Hà Lan đã hoàn toàn nằm trong tay các lực lượng Đức phát xít, nhân viên mật vụ Quốc xã Gestapo sục đến chỗ George Behar đang sống cùng người bà của mình. Một người hàng xóm đã tố cáo với Gestapo rằng George Behar là người Anh, bởi vì mặc dù sinh ra ở Hà Lan nhưng có ông bố là người Ai Cập quốc tịch Anh. Gestapo bắt giữ George Behar và tống chàng trai vào trại tập trung ở Schoorl, gần Alkmaar, cách thành phố Amsterdam khoảng 20 dặm về phía bắc.

Trại tập trung Schoorl trước đó vốn từng là một cơ sở quân sự của quân đội Hà Lan. Nay khi bị biến thành trại tập trung, nơi giam giữ những thành phần bị cho là nguy hiểm chống đối nhà nước Quốc xã, nó được các lực lượng xung kích SS canh giữ ngày đêm. Mặc dù vậy, chàng trai George Behar vẫn nung nấu ý định bỏ trốn và cuối cùng đã thoát khỏi đây ngày 16-10-1940, lần về nhà một người bác ở Wameveld, gần Zutphen tại Gelderland.

Người bác cho George Behar ẩn náu một thời gian ngắn, sau đó chuyển chàng trai tới một trang trại gần đó có tên là The Cow's Tai. Người chủ trang trại tên là Boer Weenink cho George Behar làm việc trong trang trại, đồng thời theo học môn thần học cùng một mục sư trong vùng với ý định sẽ trở thành thành viên Giáo hội Tin Lành.

Được một thời gian ngắn, chàng trai trẻ sục sôi nhiệt huyết yêu nước quẳng những cuốn sách thần học đi và bắt đầu tham gia vào nhóm kháng chiến bí mật chống quân Đức ở địa phương, vẫn làm việc tại trang trại, chàng trai tự đổi tên thành Max Van Vries, thực hiện một số công việc nguy hiểm cho tổ chức kháng chiến địa phương.

Đầu năm 1941, nghe nói lực lượng kháng chiến có căn cứ rất mạnh ở Limburg, cách The Cow's Tai chừng 80 dặm về phía nam, George Behar liền tìm đến Limburg, bất chấp khả năng nếu bị bắt thì có thể phải trả giá bằng mạng sống của mình. Ở Limburg, George Behar hoạt động trong nhóm kháng chiến tại đây, vốn tuyển mộ các thành viên là những binh sĩ của quân đội Hà Lan rã ngũ, lính hải quân và cảnh sát. Tổ chức kháng chiến này có quan hệ khá mật thiết với chính phủ Hà Lan đang lưu vong ở London cũng như với Cục Tình báo mật MI6 và SOE, Bộ phận các chiến dịch đặc biệt chuyên thực hiện những nhiệm vụ phá hoại trong vùng lãnh thổ bị kẻ thù chiếm đóng.

Trong thời kì này, sự non yếu về mặt nghiệp vụ điệp báo của bộ phận Hà Lan trong SOE đã phải trả giá rất đắt. Phản gián Đức Quốc xã đã bắt giữ được một phái viên của tình báo Anh vừa đặt chân tới Amsterdam. Không chịu nổi đòn tra tấn, người này đồng ý hợp tác, gửi điện tín về London. Trong bức điện tín, người này khéo léo gài vào đó ám ngữ thông báo rằng mình đã bị bắt, nhưng không hiểu sao bộ phận Hà Lan trong SOE không nhận ra điều này. Đồng thời, phản gián Đức Quốc xã cũng giám sát, bắt giữ và khống chế nhiều trạm điện đài của lực lượng kháng chiến Hà Lan và thông qua các trạm này, yêu cầu London gửi hàng tiếp tế cùng người sang xúc tiến hoạt động trong vùng lãnh thổ bị Đức chiếm đóng. Chiến dịch phản gián hết sức thành công này của người Đức đã mang lại hậu quả bi thảm cho tình báo Anh cũng như lực lượng kháng chiến Hà Lan: Ngoài một lượng lớn vũ khí trang bị rơi vào tay phản gián Quốc xã, 54 điệp viên SOE nhảy dù bị Đức bắt giữ, trong đó 47 người bị tra tấn đến chết trong trại tập trung Mauthausen. Đây là một trong những thất bại tệ hại nhất của tình báo Anh trong thời kì Đệ nhị thế chiến.

Cũng trong thời gian này, George Behar thực hiện một số sứ mệnh nguy hiểm cho lực lượng kháng chiến với tư cách một giao thông viên. Nhiều đêm, George Behar phải đạp xe tới 40 cây số để chuyển giao thông tin, tài liệu.

Tuy nhiên, George Behar nhận thấy có gì đó không ổn trong các hoạt động của lực lượng kháng chiến. Những tổn thất liên tục của lực lượng kháng chiến cho thấy phản gián Đức Quốc xã nắm khá rõ các bí mật của lực lượng này. George Behar liên lạc với người bạn cũ của gia đình, sĩ quan tình báo D. W. Child, khi ấy vẫn còn ở lại Hà Lan. D. W. Child cảnh báo rằng Gestapo đang lùng bắt một người tên là Max Van Vries, chính là George Behar!

D. W. Child cũng khuyên George Behar phải rời khỏi Hà Lan ngay lập tức bởi chẳng sớm thì muộn Gestapo cũng sẽ lần tới nơi. Để thoát khỏi Hà Lan, George Behar cần phải sử dụng một tuyến giao liên mà SOE thường sử dụng để giúp những người cần trốn thoát khỏi lưới vây bắt của phản gián Đức Quốc xã. D. W. Child cho George Behar địa chỉ một số ngôi nhà an toàn mà chàng trai trẻ sẽ phải sử dụng trên đường trốn chạy.

Năm 1942, George Behar quyết định làm theo lời khuyên của viên sĩ quan tình báo. Được ông bác Anthony cho một khoản tiền, George Behar mua chiếc xe đạp rồi đóng vai tu sĩ dòng tu khổ hạnh là Cha Peter của tu viện St. Servatius ở Maastrichs, bắt đầu hành trình chạy trốn. Một nhà tu khổ hạnh trên chiếc xe đạp là hình ảnh khá quen thuộc ở miền Nam Hà Lan lúc bấy giờ nên các lực lượng giám sát Đức Quốc xã không để ý đến George Behar. Chàng trai vượt qua biên giới vào Bỉ ở khu vực gần thành phố miền nam Breda. Tới Brussels, George Behar được bố trí ở trong một ngôi nhà an toàn nằm dưới sự điều hành của bác sĩ người Bỉ Albert Guèrisse, được biết ở London dưới mật danh Pat O’Leary. Vị bác sĩ này điều hành một tuyến giao liên bí mật, cứu thoát nhiều tù nhân chiến tranh, các phi công quân Đồng minh bị Đức Quốc xã bắn rơi và cả các điệp viên của Đồng minh.

Từ Bỉ, George Behar qua Pháp, khi ấy đã nằm dưới quyền thống trị của Đức Quốc xã. Biên giới khu vực eo biển Manche giữa Pháp với Anh bị mật vụ Đức phát xít kiểm soát chặt chẽ. Hành trình của “nhà tu khổ hạnh” bắt đầu từ thành phố Lille ở miền bắc nước Pháp, đi dần về phía nam, qua Paris, Lyon rồi tới thành phố cực nam Perpignan, nơi George Behar cùng với một số người nữa bí mật vượt biên vào Tây Ban Nha. Sau gần hai tháng bị giữ lại ở một khu trại tại Miranda de Ebro, nơi tập trung công dân của các nước Đồng minh xâm nhập bất hợp pháp vào Tây Ban Nha, George Behar liên hệ được với sứ quán Anh tại Madrid. “Nhà tu khổ hạnh” được phép đi tàu hỏa tới Gibraltar, nơi được coi là một phần lãnh thổ của Anh. Sau cuộc thẩm vấn kĩ càng của sĩ quan an ninh, George Behar được một chiếc tàu thủy đưa sang Anh, hoàn tất hành trình trốn chạy nhiều nguy hiểm trước mũi phản gián Đức Quốc xã.

Tới Anh, George Behar được đưa tới Trung tâm thẩm vấn ở Wandsworth, chuyên thẩm vấn những người chạy trốn khỏi các vùng lãnh thổ bị Đức Quốc xã chiếm đóng hoặc từ các nước trung lập. Sau khi trải qua các cuộc thẩm vấn tại đây, giới chức Anh công nhận George Behar không gây nguy hiểm gì cho nước Anh và cho phép về đoàn tụ với gia đình.

Người ta khuyên George Behar nên làm đơn xin gia nhập Văn phòng chiến tranh của Anh, nơi có thể điều George Behar về Bộ phận chiến dịch đặc biệt SOE. Tuy nhiên, đơn của George Behar xin vào Văn phòng chiến tranh không được chấp nhận. Trong thời gian này, chàng trai sống với mẹ và hai cô em gái ở gần High Wycombe.

Trong một lần tới London, George Behar gặp lại người bạn cũ của gia đình, sĩ quan tình báo D. W. Child, khi ấy cũng vừa trốn thoát khỏi Hà Lan. D. W. Child khuyên nên gia nhập hải quân Hoàng gia Anh và George Behar làm theo. Ít ngày trước sinh nhật lần thứ 21, vào tháng 11-1943, George Behar gia nhập hải quân Hoàng gia Anh trong tư cách một người lính bình thường.

George Behar tới đơn vị ở cảng Portsmouth và sau một khóa huấn luyện ngắn ngày, được điều vào đội quét mìn. Vài tháng sau, chỉ huy của George Behar phát hiện ra anh chàng dưới quyền mình có thể nói thông thạo cả tiếng Anh, tiếng Pháp lẫn tiếng Đức cũng như có hiểu biết rất sâu về Đức Quốc xã nên quyết định không để phí phạm một nhân tài như vậy được. George Behar được cử đi học một khóa huấn luyện trên tàu King Alfred, mùa xuân năm 1944 được phong quân hàm thiếu úy trong đơn vị quân dự bị tình nguyện của hải quân Hoàng gia, thường được biết đến dưới tên gọi là “Hải quân Wavy”.

Trước đấy, vào tháng 11-1943, cũng như mẹ và các em gái mình, George Behar quyết định đổi họ. Cái họ Ai Cập Behar được đổi thành Blake. Thế là George Behar trở thành George Blake.

+++++

Sau khóa huấn luyện trên tàu King Alfred, Thiếu úy George Blake được điều về tàu chiến Dolphin của hải quân Hoàng gia Anh và lại phải trải qua một khóa huấn luyện làm việc dưới tàu ngầm ở đây. Đây là một tàu chiến nằm trong khu vực Sở chỉ huy tàu ngầm cảng Portsmouth. Công việc của George Blake là hằng ngày leo lên đài quan sát, dùng ống kính viễn vọng theo dõi các tàu ra vào cảng để báo cho chỉ huy.

Một ngày, thuyền trưởng tàu Dolphin gọi George Blake lên và hỏi liệu anh chàng thiếu úy có muốn tham gia vào một đội tàu tác chiến nhanh hay không. Nếu đồng ý thì ngày hôm sau George Blake phải có mặt tại một ngôi nhà trên đường Palace ở thủ đô London.

Đúng hẹn, sáng hôm sau George Blake có mặt ở địa chỉ được chỉ dẫn trước. Một viên đại úy hải quân hỏi han rất kĩ về gia đình, quá trình hoạt động trong lực lượng kháng chiến cũng như cuộc chạy trốn khỏi Hà Lan của George Blake. George Blake phải viết tất cả các chi tiết ra một tờ giấy và viên đại úy hẹn buổi chiều quay lại.

Sau bữa trưa, George Blake quay lại chỗ cũ và cùng viên đại úy đi bộ tới một tòa nhà cao tầng, đối diện với lối vào ga tàu điện ngầm St. James’s. Tại đây, một thiếu tá mặc thường phục nói tiếng Hà Lan rất lưu loát một lần nữa lại tra hỏi kĩ càng về tất cả những chi tiết trong cuộc đời của George Blake cho tới lúc đó. Khi kết thúc cuộc phỏng vấn, George Blake được yêu cầu phải điền đầy đủ vào một bản kê khai 4 trang giấy, trả lời các câu hỏi về cha mẹ, trường học, sở thích cũng như nhiều thông tin cá nhân khác.

Khoảng một tuần lễ sau đó, George Blake lại được mời tới ngôi nhà trên đường Palace vào lúc 2 giờ chiều, vẫn viên đại úy hôm trước đưa chàng trai George Blake trong tâm trạng hồi hộp tới một căn phòng rộng rãi trong tòa nhà cao tầng đối diện với lối vào ga tàu điện ngầm St. James’s. Đã có năm người ngồi chờ sẵn một bên chiếc bàn lớn ở trong phòng; George Blake ngồi đối diện phía bên kia.

Trong suốt nửa giờ đồng hồ sau đó, năm người thay phiên nhau hỏi George Blake về mọi chi tiết trong cuộc sống của viên thiếu úy hải quân. Sau khi cuộc tra hỏi kết thúc, George Blake được yêu cầu ra ngồi chờ bên ngoài. Mười phút sau, viên đại úy quay ra, nói rằng George Blake hãy đến nhận lệnh vào lúc 10 giờ sáng của ngày thứ hai kế tiếp đó. Người giao nhiệm vụ sẽ là Thiếu tá Seymour.

Đúng hẹn, George Blake đến ngôi nhà ở số 54 phố Broadway. Seymour hóa ra chính là viên thiếu tá nói thạo tiếng Hà Lan mà George Blake đã gặp hôm trước. Trước khi giao nhiệm vụ, Thiếu tá Seymour đưa George Blake đến gặp Đại tá Cordeaux, được giới thiệu là chỉ huy trưởng của đơn vị mới mà George Blake sẽ làm việc.

Trước sự choáng váng của viên thiếu úy hải quân, Đại tá Cordeaux thông báo George Blake, khi ấy mới 21 tuổi, được chính thức nhận vào làm việc ở Cơ quan tình báo Hải quân Hoàng gia Anh. Đấy là một điều vượt xa mọi mơ ước của chàng trai trẻ, vốn ưa thích những câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm.

Trong vai trò của một sĩ quan tình báo hải quân Hoàng gia Anh, George Blake chứng kiến sự đầu hàng của các lực lượng Đức Quốc xã tại khu vực Lüneburg Heath ở tây bắc châu Âu. Tiếp đó, George Blake được chuyển tới Hamburg để thu thập các thông tin trong đơn vị tàu ngầm của Thống chế Đức Quốc xã Donitz nhằm phục vụ cho Tòa án quốc tế xét xử các tội phạm chiến tranh sau Đệ nhị thế chiến.

MI6 phát hiện ra tài năng tình báo của George Blake nhờ Andrew King, một nhân viên tình báo lão luyện tốt nghiệp Đại học Cambridge, con trai trong một gia đình giàu có. Andrew King là sĩ quan tình báo có kinh nghiệm từng thực hiện nhiều chiến dịch cho MI6 trong thời kì Đệ nhị thế chiến ở địa bàn Thụy Sĩ, tại các thành phố Zürich, Geneva, Berne. Sau chiến tranh, A. King được điều chuyển sang hoạt động ở các địa bàn Áo và Đức, trở thành một trong những người lãnh đạo MI6.

Một lần đến Hamburg vào năm 1946, A. King biết về các hoạt động tình báo của George Blake trong Hải quân Hoàng gia Anh. Khi trở về London, ông ta giới thiệu tên George Blake cho Kenneth Cohen, giám đốc phụ trách các chiến dịch châu Âu của MI6. Khi biết George Blake có thể nói rất giỏi tiếng Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, đồng thời có một lí lịch đa văn hóa khi đã từng sống ở rất nhiều địa bàn như Hà Lan, Ai Cập, Anh, Đức, cả hai rất ấn tượng. Hơn nữa, George Blake cũng từng tham gia phong trào kháng chiến bí mật chống Đức Quốc xã ở Hà Lan và hiện đang làm cho tình báo hải quân, nền tảng kinh nghiệm rất tốt để có thể đào luyện thành một điệp viên thượng thặng. Khó có thể tìm được một người như George Blake ở Anh. Sau chiến tranh, MI6 cần tiếp thêm dòng máu mới và chuẩn bị cho những chiến dịch mật trong cuộc Chiến tranh Lạnh đang xuất hiện ở phía chân trời.

Vậy là năm 1947, MI6 chính thức tuyển mộ George Blake.

George Blake được gửi tới trường Downing thuộc Đại học Cambridge để tham dự khóa học tiếng Nga trong hai năm 1947-1948. Mùa hè năm 1948, George Blake được cử sang Ban Viễn Đông của MI6, nhận lệnh phải nắm mọi thông tin cơ bản về tình hình bán đảo Triều Tiên để chuẩn bị cho công việc sắp tới.

Để thực hiện điều này, George Blake gặp Kermode, tổng lãnh sự Anh tại Seoul vừa mới kết thúc nhiệm kì ở Hàn Quốc, tìm hiểu kĩ mọi thông tin về đất nước mà có thể mình sẽ được cử sang hoạt động.

George Blake cũng đọc rất nhiều tài liệu, trong đó có một cuốn sách khổ nhỏ có tên là Lí thuyết và thực tiễn của Chủ nghĩa cộng sản, do Ban 9 của MI6 biên soạn, với phương châm mọi sĩ quan tình báo phải tìm hiểu kĩ về kẻ thù. Tác giả của cuốn sách này là Carew Hunt, một cựu quan chức của MI6 chuyên nghiên cứu về chủ nghĩa Marx. Cuốn sách do một học giả biên soạn không nhằm mục đích tuyên truyền mà cung cấp một cách có hệ thống về mọi khía cạnh triết học, kinh tế, chính trị của chủ nghĩa Marx, lí giải vì sao nó lại thu hút được hàng triệu người trên thế giới.

Cuốn sách nhỏ này đã tác động rất mạnh đến nhận thức của George Blake, người trước đấy hầu như không biết mà cũng chẳng tìm hiểu gì về chủ nghĩa Marx. Sau khi đọc cuốn sách, George Blake rút ra một kết luận là lí thuyết của những người cộng sản có vẻ đáng tin! Nó cũng không khác mấy so với những lí tưởng của người theo đạo Cơ Đốc. George Blake bắt đầu tự hỏi, phải chăng chủ nghĩa cộng sản không phải là một thứ quỷ dữ như người ta vẫn nói?

Tháng 10-1949, MI6 cử George Blake tới hoạt động ở Seoul, dưới vỏ bọc của một nhân viên ngoại giao, phó lãnh sự Anh tại Hàn Quốc.

+++++

Tới Seoul, người đầu tiên mà George Blake tiếp xúc là Đại úy Vyvyan Holt, tổng lãnh sự Anh tại Hàn Quốc, người mà ít tháng sau đó được thăng hàm đại sứ đặc mệnh toàn quyền khi Anh chính thức công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc.

Nhiệm vụ bí mật mà George Blake được giao đảm nhiệm tại Seoul là xây dựng mạng lưới hoạt động tình báo ở các tỉnh ven biển của Liên bang Xô viết, cụ thể là khu vực Vladivostok. Chỉ sau một thời gian ngắn, George Blake nhận ra đó là một sứ mạng bất khả thi. Khi cử George Blake tới đây với ý định mở một trạm MI6 để triển khai các hoạt động xâm nhập tình báo vào Liên bang Xô viết, có lẽ các sếp của George Blake ở MI6 nhìn trên bản đồ và thấy Seoul là điểm gần nhất để có thể vươn tới các địa phương ven biển vùng Viễn Đông của Liên Xô. Mặc dù đó là một thực tế về địa lí, nhưng hoàn toàn không tồn tại bất cứ một mối liên hệ nào giữa Hàn Quốc với khu vực Viễn Đông của Liên Xô. Không có giao thương buôn bán cũng như chẳng hề có bất kì mối quan hệ nào để có thể khai thác cho mục đích tình báo.

Vậy là George Blake bèn tập trung vào nhiệm vụ thứ hai, cũng bí mật, là mở rộng mối quan hệ với người Hàn Quốc, hi vọng là trong trường hợp lực lượng cộng sản Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên tấn công và tràn ngập Seoul thì trạm MI6 ở đây sẽ đóng vai trò như là sở chỉ huy để điều phối các hoạt động kháng cự lại nguy cơ này.

George Blake có một lợi thế lớn để thực hiện nhiệm vụ thứ hai này vì được quyền cấp thị thực cho những thương nhân Hàn Quốc muốn mở rộng cơ hội làm ăn ở Hong Kong, thuộc địa của Anh tại Trung Quốc. Trong tờ khai thị thực, các thương nhân này phải liệt kê ra rất nhiều thông tin cá nhân để George Blake có thể căn cứ vào đó thiết lập các mối quan hệ có ích sau này.

George Blake cũng mở rộng các mối quan hệ xã hội với nhân viên tòa Đại sứ quán Mỹ tại Seoul, sứ quán lớn nhất của Mỹ ở nước ngoài trong thời gian đó, và với tổng lãnh sự Pháp, ông M. Perruche cũng như với các thành viên của Ủy ban Liên hợp quốc về Triều Tiên trú đóng ở đây. Sau khi Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945, giữa Liên Xô và Mỹ đã có thỏa thuận về việc Liên Xô đóng quân ở phía bắc bán đảo Triều Tiên, còn Mỹ đóng quân ở phía nam bán đảo Triều Tiên. Với việc cả hai phía đều dựng lên những chính quyền có mô hình hệt như Liên Xô và Mỹ ở mỗi vùng chiếm đóng, khả năng xây dựng một chính quyền duy nhất trên toàn bộ lãnh thổ bán đảo Triều Tiên là điều không thể.

Cùng với làn sóng quấn Mỹ đổ bộ vào Hàn Quốc, ngày càng nhiều người Triều Tiên sống lưu vong ở Hawaii và các thành phố bờ biển phía tây nước Mỹ trong thời Nhật Bản chiếm đóng, lựa chọn con đường quay trở lại Hàn Quốc. Hầu hết họ có tư cách công dân Mỹ, nói tiếng Anh và chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Mỹ.

Với việc không có một ai trong phái bộ quân sự Mỹ ở Hàn Quốc biết nói tiếng Hàn hay thậm chí có chút hiểu biết về văn hóa Hàn Quốc, hầu hết những người Hàn Quốc sống lưu vong trở về nước được huy động vào các vị trí của chính quyền địa phương. Dần dà, những người này là mối dây duy nhất để chính quyền quân sự liên hệ với dân chúng và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong xã hội Hàn Quốc. Năm 1948, khi Hàn Quốc tuyên bố độc lập, trở thành nước cộng hòa, những người này đều trở thành quan chức cấp cao, trong nhiều trường hợp nắm giữ vị trí bộ trưởng trong chính quyền mới. Bản thân tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc, ông Lý Thừa Vãn, cũng từng là một người Hàn sống nhiều năm ở Mỹ và Hawaii.

Như George Blake có thể tận mắt quan sát, hệ thống chính quyền dựa chủ yếu vào những người Hàn Quốc từng sống lưu vong này đã bộc lộ những khiếm khuyết không thể chấp nhận được, trong đó tình trạng ăn chặn, bớt xén tiền viện trợ của Mỹ - lên tới nhiều triệu đô la - trở nên hết sức phổ biến. Một số lớn thương gia cấu kết với quan chức chính quyền để thu vén cá nhân, trong khi đại đa số người dân hầu như không được hưởng bất cứ lợi lộc gì từ những khoản viện trợ khổng lồ của Mỹ. Trong khi ở Seoul có một tầng lớp người sống phè phỡn xa hoa thì ở các vùng nông thôn rộng lớn, những người nông dân phải chịu cảnh ăn đói mặc rách. Trước đấy, chưa bao giờ viên phó lãnh sự Anh từng chứng kiến một bức tranh đối nghịch giữa giàu và nghèo đến vậy.

Càng hiểu biết về chính quyền của Tổng thống Lý Thừa Vãn, George Blake càng thấy không ưa nó. Đây là một chính quyền độc tài, khi mà Quốc hội có bất cứ một dấu hiệu nào tỏ ra độc lập thì sẽ lập tức bị giải tán để bầu ra những người mới với đủ các trò bịp bợm trong khi tiến hành bầu cử. Các nhà lãnh đạo chính trị đối lập bị hăm dọa, bị bắt giam với lí do là nghi can cộng sản. Cơ quan An ninh Hàn Quốc tiến hành đàn áp bất cứ một biểu hiện đối lập nào, dù chỉ mới manh nha xuất hiện trong xã hội.

Thực trạng đó đã dẫn tới một tình cảm lạ lùng xuất hiện trong con người George Blake: Thông cảm với bất cứ ai đối lập với chính thể Hàn Quốc lúc đó. Mà đó chính là lực lượng du kích hoạt động ở các vùng núi non hiểm trở, quấy rối quân chính phủ, hoặc mạng lưới những người cộng sản hoạt động ngầm chống chính quyền trong những điều kiện hết sức ngặt nghèo. George Blake không thấy có sự giống nhau giữa các lực lượng này với phong trào kháng chiến chống phát xít ở châu Âu thời Đệ nhị thế chiến, nhưng lại thấy chính quyền của Tổng thống Lý Thừa Vãn có những nét tương đồng với chính quyền phát xít. Bộ trưởng giáo dục trong chính quyền là một người từng bày tỏ công khai quan điểm thân Quốc xã và trong phòng làm việc của ông này có treo cả một bức ảnh của Hitler!

Cũng tương tự, George Blake thấy hoạt động đàn áp phe đối lập của lực lượng cảnh sát mật Hàn Quốc có những nét tương đồng với Gestapo. Một nguồn tin của George Blake trong Sở Cảnh sát Seoul thường xuyên kể chi tiết cho George Blake nghe về các biện pháp tra tấn dã man những người cộng sản. Có nhấn nước, gí đầu thuốc lá đang cháy vào những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể hay quay điện... George Blake nghe những câu chuyện này với tâm trạng kinh hãi, nhưng phải cố hết sức mình để giấu cảm xúc thật dưới vẻ mặt bình thản.

+++++

Đêm thứ bảy, 24-6-1950, George Blake dự bữa tiệc nhân ngày thánh John Baptist. Khoảng 9 giờ 30 phút sáng hôm sau, chủ nhật, 25-6-1950, cùng với đại sứ Anh tại Hàn Quốc, Đại úy Hold, viên phó lãnh sự Anh tới nhà thờ dự buổi lễ ngày chủ nhật như thường lệ. Trên các đường phố Seoul không có bất cứ một biểu hiện bất thường nào. Nhưng khi buổi lễ vừa bắt đầu thì một sĩ quan Mỹ bước vào, nhanh chóng tiến tới chỗ các sĩ quan và nhân viên sứ quán Mỹ tham dự buổi lễ, thì thầm điều gì đó vào tai họ. Rồi lần lượt từng người một rời khỏi nhà thờ, để lại vợ con tiếp tục tham gia buổi lễ. Bên ngoài nhà thờ, những nhóm người tụ tập, trao đổi với vẻ căng thẳng, kích động. Vợ một viên đại tá Mỹ nói với George Blake rằng sáng sớm hôm đó, quân đội Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên đã vượt qua vĩ tuyến 38. Các cuộc chiến đấu ác liệt đang diễn ra ở khắp nơi và chiến tranh đã bùng nổ.

Khoảng một tuần trước đó, những tin đồn về các cuộc chuyển quân lớn của cả hai phía đã đến tai George Blake. Viên phó lãnh sự gọi cho một đầu mối nằm trong phái bộ quân sự Mỹ, hỏi xem điều gì thực sự đang xảy ra. Người này nói đúng là có những cuộc điều động lực lượng lớn của hai phía ở khu vực biên giới, nhưng đây không phải là lần đầu tiên điều đó xảy ra. George Blake hỏi tiếp là nếu như trong trường hợp quân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên tiến vào miền Nam bán đảo Triều Tiên thì Mỹ sẽ phản ứng như thế nào? Người này nói một cách rập khuôn, rằng trong trường hợp đó, phía Mỹ sẽ tổ chức tuyến phòng thủ trên biển Nhật Bản, ngăn giữa Nhật Bản với bán đảo Triều Tiên; sẽ không có chuyện các lực lượng vũ trang Mỹ can thiệp trực tiếp vào Hàn Quốc nếu có chiến tranh.

Trong ngày đầu tiên của chiến tranh, mọi sự diễn ra trong không khí hỗn loạn. Không một ai biết chính xác điều gì đang xảy ra. Một số nguồn tin nói quân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên đã thọc sâu vào lãnh thổ Hàn Quốc và đang hướng tới Seoul; nguồn tin khác lại nói quân đội Hàn Quốc đã phản công, chiếm được thành phố Haeju của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên.

Bản thân George Blake, khi ấy không ở khu vực vĩ tuyến 38 nên cũng không biết thực sự là bên nào tấn công trước. George Blake không loại trừ khả năng là Tổng thống Hàn Quốc Lý Thừa Vãn, biết rằng quân đội Hàn Quốc yếu hơn so với miền Bắc, đã chủ động khiêu khích gây chiến để kéo người Mỹ vào đối đầu với Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Tổng thống Lý Thừa Vãn có thể đã tính toán rằng người Mỹ sẽ không đời nào bỏ mặc miền Nam cho phía Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên chiếm đóng. Có một điều mà George Blake biết chắc là người Mỹ hoàn toàn bất ngờ trước cuộc chiến này.

Vào cuối buổi chiều hôm đó, lãnh sự Mỹ ở trong sứ quán Hoa Kỳ chủ động gọi điện thoại cho Đại sứ Anh Hold. Tình hình diễn biến rất xấu. Quân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên đang tiến rất nhanh, trực chỉ Seoul. Đại sứ Mỹ đã ra lệnh cho tất cả mọi người Mỹ phải sơ tán sang Nhật Bản. Viên lãnh sự Mỹ nói Hold cũng nên ra lệnh tương tự với những người trong phái bộ ngoại giao Anh và có thể nhờ người Mỹ giúp phương tiện để sơ tán. Viên lãnh sự không hề nói một lời nào về phản ứng của chính phủ Mỹ trước tình hình đang diễn ra một cách gấp gáp.

George Blake lên một chiếc xe jeep và đi triệu tập toàn bộ những người Anh đang sống ở Seoul, đúng 8 giờ tối hôm đó tập trung lại khu nhà của sứ quán Anh. George Blake thông báo tình hình, nói rằng những người quyết định ở lại sẽ phải chịu rủi ro cao. Chỉ có ba người quyết định ở lại, còn tất cả đồng ý rời đi. Một chiếc xe buýt của quân đội Mỹ đưa những người này cùng với Bí thư thứ nhất sứ quán Faithful ra phi trường Kimpo, nơi họ sẽ rời Hàn Quốc.

Trong lúc đó, Đại sứ Hold gửi một bức điện tín khẩn về London, yêu cầu cho chỉ thị hành động trong trường hợp quân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên tràn ngập Seoul. Mặc dù người ta đã dự báo từ trước là chiến tranh có thể nổ ra, nhưng không có bất cứ một chỉ thị nào của Bộ Ngoại giao Anh về việc phải hành động ra sao trong tình huống xấu nhất. Sứ quán Anh cũng không có đường liên lạc bằng vô tuyến điện mà phải phụ thuộc vào Công ty vô tuyến điện và cáp Hàn Quốc. Câu trả lời từ London chỉ có thể đến sớm nhất vào hôm thứ tư, 28-6-1950.

Hôm sau, thứ hai, tiếp tục có những tin xấu. Quân đội Hàn Quốc đã triệt thoái trên diện rộng và theo như các đồng nghiệp Mỹ của George Blake ước tính, quân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên sẽ tràn ngập Seoul vào quãng chiều tối ngày hôm sau. Tướng Mỹ MacArthur đã cử một số phi đội máy bay ném bom quấy rối nhằm hãm bớt đà tiến công của quân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, nhưng vẫn chưa có một phản ứng chính thức nào của chính phủ Mỹ. Chính phủ Hàn Quốc đã rời Seoul đến một nơi nào không rõ, trong khi tất cả những người Mỹ được lệnh phải ngay lập tức rời thủ đô Hàn Quốc đi Tokyo.

Đại sứ Hold triệu tập tất cả những nhân viên còn lại trong sứ quán Anh, thông báo tình hình, cho biết là đến khi nhận được chỉ thị từ London thì có thể đã quá trễ. Tất cả phải tự đưa ra quyết định. Nếu như biết chính phủ Hàn Quốc đang sơ tán ở đâu thì rất có thể là Đại sứ Hold sẽ tới đó, nhưng điều trớ trêu là chính phủ Hàn Quốc đã sơ tán bằng máy bay và không hề thông báo cho các phái bộ ngoại giao nước ngoài là họ sẽ đi đâu. Nếu di chuyển bằng đường bộ trong khi chiến sự nổ ra khắp xung quanh và cũng không biết phải đi đến đâu thì quá rủi ro. Bị quân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên bắt giữ trên một vùng núi nào đó quanh Seoul sẽ nguy hiểm hơn nhiều nếu như ở lại trong khu ngoại giao đoàn của Anh. Nước Anh không liên can gì đến cuộc chiến tranh nên các quan chức Anh không có lí do gì để rời đi.

Đại sứ Hold hỏi George Blake quyết định thế nào? Câu trả lời của viên sĩ quan tình báo trẻ tuổi là chỉ thị mà MI6 giao cho hết sức rõ ràng: Cần phải tiếp tục điều hành các hoạt động tình báo dưới vỏ bọc của ngoại giao đoàn chống lại ách xâm chiếm của quân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Đó chính là lí do MI6 gửi George Blake đến Seoul. Vì thế, George Blake sẽ ở lại.

Trợ lí của George Blake là Norman Owen, khi ấy đã để vợ con ở Anh, cũng đồng ý ở lại.

Đến cuối ngày thứ hai, George Blake biết rằng các đồng nghiệp ở cơ quan lãnh sự Pháp cũng có quyết định tương tự.

Hai hôm sau, Seoul hoàn toàn rơi vào trong vòng kiểm soát của quân đội Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Tiếng súng ngừng hẳn trên các đường phố và xung quanh Seoul. Buổi tối hôm ấy, Đại sứ Hold, George Blake, trợ lí Norman Owen cùng với ba người Anh quyết định ở lại tụ tập trong phòng ăn của Đại sứ Hold, chăm chú nghe đài BBC. Tất cả sững sờ khi nghe thấy Thủ tướng Anh Clement Attlee phát biểu trước Quốc hội Anh, công kích kịch liệt cuộc tấn công của phía miền Đắc, gọi đó là một cuộc “xâm lược”. Thủ tướng Anh cũng thông báo rằng Anh đã quyết định gửi quân trợ giúp quân đội Mỹ tham gia chiến đấu ủng hộ chính phủ Hàn Quốc dưới ngọn cờ Liên hợp quốc. Vậy là thay vì giữ vị thế trung lập như George Blake và các đồng sự của mình suy tính thì nước Anh đã thực sự tham chiến. George Blake cùng các đồng sự của mình đang ở trên lãnh thổ của kẻ thù! Sớm hay muộn, họ cũng sẽ bị bắt.

Ngay đêm hôm ấy, George Blake cùng các đồng sự trong sứ quán hì hục hủy tất cả tài liệu mật cùng những bảng khóa sử dụng để mã hóa các bức điện mật. Rồi tất cả chờ đợi trong sự phấp phỏng.

Ngày hôm sau, một sĩ quan cùng hai người lính Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên tới gõ cửa sứ quán, yêu cầu hạ lá cờ Anh xuống để tránh trở thành mục tiêu cho các cuộc ném bom, rồi bỏ đi.

Đến chủ nhật, một tuần sau khi chiến tranh nổ ra, các nhân viên ngoại giao Anh được triệu lên trụ sở cảnh sát trước đấy ở Seoul. Tất cả bị kiểm tra giấy tờ rồi giữ lại ở đó. Đến đêm, họ bị chất lên một chiếc xe tải rồi chiếc xe khởi hành đi về hướng bắc. Đến đêm hôm sau, chiếc xe tới Bình Nhưỡng, thủ đô Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên trong tình cảnh những người trên xe đều kiệt quệ vì đói và mệt. Tất cả bị giam tại một ngôi trường trung học phổ thông nằm ở ngoại ô Bình Nhưỡng.

Trong những tuần lễ sau đó, số lượng người nước ngoài tham gia vào nhóm bị bắt giữ ngày càng nhiều. Có cả các nhân viên của Lãnh sự quán Pháp, các gia đình người Nga, người Tatar, quản lí một khách sạn người Thụy Sĩ và một phóng viên chiến trường của tờ The Observer.

Cả đoàn tù binh bị giữ lại ở khu trường học ngoại ô Bình Nhưỡng trong hai tháng trời rồi đến cuối tháng 8-1950, tiếp tục di chuyển lên phía bắc bằng tàu hỏa. Lúc này có thêm gần 700 lính Mỹ bị bắt làm tù binh ngoài mặt trận cũng gia nhập đoàn. Tất cả được đưa tới một trại tù nằm ở Manpo, thành phố nhỏ nằm ở phía cực bắc Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, ngay bên sông Áp Lục, biên giới tự nhiên giữa bán đảo Triều Tiên với vùng Mãn Châu của Trung Quốc. Cuộc sống trong trại khá dễ chịu.

Khi quân đội của tướng Mỹ MacArthur phản công và đẩy lùi quân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên về gần sông Áp Lục, rõ ràng là với ý định thống nhất cả hai miền bán đảo Triều Tiên dưới sự cai trị của Mỹ, cuộc sống dễ chịu của những người tù binh chấm dứt. Trung Quốc quyết định trực tiếp tham chiến, gửi lực lượng Chí nguyện quân chiến đấu với quân Mỹ và lại nhanh chóng đẩy lùi các lực lượng của tướng MacArthur lui trở về vĩ tuyến 38. Toàn bộ bán đảo Triều Tiên trở thành một chiến trường khổng lồ, bị tàn phá không khác gì nước Đức mà George Blake đã từng chứng kiến hồi cuối Đệ nhị thế chiến.

Trong suốt thời kì hỗn loạn này, George Blake đã hai lần thực hiện vượt trại tù để tìm đường về phía nam nhưng đều bị bắt lại. Đến tháng 2-1951, chiến sự dần lắng lại với việc xác lập giới tuyến tạm thời ngăn cách giữa hai miền Nam - Bắc bán đảo Triều Tiên ở vĩ tuyến 38. Nhóm các nhà ngoại giao Anh và Pháp được tách ra, giam giữ tại một trại nằm trong khu trại nhỏ ở thung lũng phía bắc Mampo.

Rồi một ngày mùa xuân năm 1951, trước sự ngạc nhiên của các tù nhân, cùng với thức ăn, một gói sách cũng được gửi cho những người trong trại. Trong số đó chỉ có duy nhất một cuốn sách bằng tiếng Anh, cuốn Đảo giấu vàng mà George Blake đã đọc đi đọc lại nhiều lần để giết thời gian. Những cuốn sách khác đều viết bằng tiếng Nga và có nội dung chính trị. Đó là hai tập Tư bản luận của Marx cùng với cuốn Nhà nước và cách mạng của Lenin.

+++++

Việc thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1949 đã tạo điều kiện cho tình báo Liên Xô mở rộng địa bàn hoạt động của mình. Cơ quan tình báo Liên Xô, khi ấy vẫn còn được gọi là Bộ An ninh quốc gia MGB (sang năm 1954 mới đổi thành Ủy ban An ninh quốc gia Liên Xô KGB), đề xuất với chính quyền Trung Hoa mới sẽ gửi một số lớn cố vấn sang giúp nước cộng hòa nhân dân anh em; đồng thời phía Trung Quốc cũng cử các nhân viên an ninh còn non kinh nghiêm sang Liên Xô để KGB huấn luyện nghiệp vụ. Mao Trạch Đông đồng ý với cả hai đề xuất này, nhưng khác với nhiều đồng minh Đông Âu của Liên Xô, cơ quan tình báo Trung Quốc sẽ không chịu sự kiểm soát của KGB. KGB cũng không được phép tiến hành các chiến dịch tình báo trên lãnh thổ Trung Quốc.

Tuy nhiên, khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra với sự tham gia của Chí nguyện quân Trung Hoa, phía Trung Quốc đã chuyển giao cho KGB khá nhiều trang thiết bị quân sự của Mỹ mà họ thu được để KGB nghiên cứu. KGB cũng được phép thiết lập một cơ sở trên lãnh thổ Trung Quốc để huấn luyện các điệp viên sở tại thực hiện những chiến dịch phản gián, tình báo chống lại Mỹ và các đồng minh. KGB được tiếp cận không hạn chế với các tù binh chiến tranh phương Tây mà phía Trung Quốc và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên bắt được trong chiến tranh.

Trong khi ấy, tại trại giam giữ tù bình ở gần Mãn Châu, đang có những biến chuyển dữ dội trong nhận thức vị Phó lãnh sự Anh tại Hàn Quốc.

Do trong trại giam khi ấy chỉ có duy nhất Đại sứ Hold và George Blake biết tiếng Nga nên hiển nhiên những cuốn sách kinh điển của Karl Marx và Lenin chỉ có hai người đọc. Nhưng Hold, thị lực rất kém, mà chiếc kính duy nhất lại bị mất trong một lần chạy trú ẩn khi hai máy bay Mỹ tấn công trại giam bằng súng máy, nên không thể tự mình đọc được sách. Kết quả là trong những ngày dài đằng đẵng ở trại giam, George Blake là người duy nhất phải đọc tất cả những cuốn sách tiếng Nga cho Đại sứ Hold nghe để giết thời gian.

Để tránh làm phiền những người khác, hai người chọn một khu nghĩa địa gia đình phía sau khu nhà giam giữ để George Blake đọc những tác phẩm kinh điển của các ông tổ chủ nghĩa cộng sản. Tại đó, trong suốt cả mùa hè và thu năm 1951, George Blake đã đọc cho Hold nghe toàn bộ tác phẩm Tư bản luận của Marx cùng cuốn Nhà nước và cách mạng của Lenin.

Không chỉ đọc và nghe từ trang đầu đến trang cuối, giữa hai người còn nảy sinh những cuộc tranh luận về lí thuyết của những người cộng sản cũng như ảnh hưởng của chúng đối với lịch sử thế giới.

Đại sứ Hold là một người có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, từng có thời nghiêm túc cân nhắc khả năng rời khỏi Bộ Ngoại giao Anh để ứng cử một chân nghị sĩ trong Quốc hội. Tuy nhiên, Hold không biết mình sẽ đại diện cho đảng nào trong cơ quan lập pháp Vương quốc Anh. Nhân thân, nền tảng giáo dục cũng như quá trình trưởng thành cho thấy Hold rõ ràng là một ứng viên đại diện cho Đảng Bảo thủ, nhưng quan điểm cũng như tình cảm của ông lại nằm về phía Công Đảng. Chính vì vậy mà Hold đã không bao giờ thực hiện bước đi có tính quyết định nhằm thay đổi nghề nghiệp của mình.

Trong suốt cả sự nghiệp, Hold đã tận mắt chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ rồi sau đó là quá trình suy vong của đế chế Anh để rồi khi ở trong một trại giam của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, ông miễn cưỡng nhận ra rằng bước tiếp theo trong quá trình phát triển của loài người thuộc về chủ nghĩa cộng sản. Cá tính không cho phép Hold thích hợp với một xã hội cộng sản, nhưng từng là một chuyên gia về Trung Đông, Hold không thể không ấn tượng trước những gì mà chính quyền Liên Xô đã làm được ở khu vực Trung Á. Người Xô viết đã tìm mọi cách để nâng cao mức sống của người dân nơi đây. Dĩ nhiên là so với tiêu chuẩn của phương Tây thì như thế chưa hẳn đã cao, nhưng nếu so với những quốc gia Trung Đông có lịch sử và nền văn hóa tương tự thì mức sống của cư dân vùng này vượt trội hơn nhiều.

Miễn cưỡng chấp nhận khả năng thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa cộng sản, trong suốt các cuộc tranh luận, Đại sứ Hold cũng chia sẻ với George Blake về một hình mẫu xã hội cộng sản mà viên phó lãnh sự Anh ngày càng cảm thấy bị cuốn hút một cách mạnh mẽ.

Việc Đại sứ Hold, một người lớn tuổi hơn, có hiểu biết nhiều hơn George Blake rất nhiều, lại có thiên hướng chính trị nghiêng về cánh tả như vậy, đã tác động vô cùng mạnh mẽ đến nhận thức của viên phó lãnh sự, sĩ quan tình báo MI6. Từ một người có quan điểm chính trị chung chung, trưởng thành trong một môi trường chống cộng, George Blake nhanh chóng trở thành tín đồ ủng hộ một cách nhiệt thành chủ nghĩa mà mình đã được đào tạo và tuyên thệ chống lại đến cùng.

Đối với George Blake, việc xây dựng một xã hội cộng sản vừa mang tính hiện thực, lại vừa mang hơi hướng của một khát khao mãnh liệt. Tính chất tổng hòa của chủ nghĩa Marx đặc biệt hấp dẫn George Blake. Đối với viên phó lãnh sự Anh, việc xây dựng một thế giới đại đồng, nơi mọi đường biên giới bị xóa bỏ, mọi phân cách thù địch giữa người với người bị triệt tiêu, là phương cách duy nhất để nhân loại thoát ra khỏi những ám ảnh ghê sợ của chiến tranh.

Một trong những khuynh hướng đặc biệt trong lí thuyết chủ nghĩa Marx khiến George Blake thấy đồng cảm là việc xóa bỏ sự khác biệt giữa các giai cấp. George Blake luôn cảm thấy phẫn nộ khi chứng kiến những khác biệt về giai cấp tồn tại trong các xã hội Tây Âu, đặc biệt là ở Anh. Trước đấy, George Blake đã lờ mờ cảm thấy có một sự sai sót căn bản nào đó trong hệ thống xã hội mình từng sống, khi con người được đánh giá qua bề ngoài, qua tài sản, thân thế, giai cấp. Nó trái với tinh thần Cơ Đốc giáo, tạo ra hàng rào ngăn cách giữa người với người và là nguồn cơn của sự bất bình đẳng trong xã hội.

Là một người không bao giờ đi xem các cuộc thi đấu thể thao, căm ghét các cuộc đua tranh, dù chỉ là thi đấu trên sân vận động, George Blake cũng thấy khía cạnh hấp dẫn khác trong chủ thuyết của những người cộng sản, đó là xây dựng một xã hội người với người sống hòa thuận, làm việc tốt vì bản thân muốn thế chứ không phải để cạnh tranh, đấu đá với nhau. Đó quả thật là một hình mẫu xã hội lí tưởng. Khẩu hiệu "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” của những người cộng sản là chân lí và việc góp phần xây dựng một xã hội như thế có khác nào xây dựng Vương quốc của Chúa trên trái đất? Những gì mà Cơ Đốc giáo không làm được chỉ bằng cách cầu nguyện thì những người cộng sản có thể thực hiện được bằng hành động trong thực tế.

Từng chứng kiến những hành động thô bạo của cảnh sát dưới chế độ Lý Thừa Vãn khiến dễ liên tưởng đến tổ chức mật vụ khét tiếng Gestapo thời Đức Quốc xã, George Blake cảm thấy phẫn nộ trước một chế độ phi nhân mà chính phủ của mình ủng hộ. Nay, khi là một tù binh trong trại giam giữ ở một nơi heo hút nơi cực bắc bán đảo Triều Tiên, George Blake lại phải nhìn thấy những đợt ném bom dữ dội của máy bay Mỹ xuống các làng mạc của người dân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên trên các vùng đồi núi gần đó, khiến bao dân thường phải chịu cảnh tang tóc. Phải chăng người Mỹ đang ủng hộ một chế độ độc tài, giết hại tràn lan những thường dân vô tội? Nước Anh rõ ràng không liên quan, mà cũng chẳng có lợi ích gì trong một cuộc chiến tranh ở nơi xa xôi như thế này. Đệ nhị thế chiến mới chấm dứt chưa lâu, Mỹ, Anh và Liên Xô vừa mới là đồng minh chung chiến hào trong trận chiến sinh tử chống phát xít, vậy nhưng các hoạt động trong MI6 mà George Blake tận mắt chứng kiến và tham gia đều hướng về một mục tiêu chủ yếu: Chống Liên Xô! Rồi những cảm nhận về lí tưởng cánh tả khi ở cùng với ông chú Henri Curiel trong những ngày niên thiếu ở Cairo lại hiện về sống động trong tâm trí của người nhân viên tình báo MI6!

Thế nên viên phó lãnh sự Anh đi tới một quyết định mang tính định mệnh, sẽ làm thay đổi toàn bộ cuộc đời cũng như sự nghiệp của mình: Đứng về phía những người cộng sản để đấu tranh vì một xã hội mới, tự do, bình đẳng, bác ái.

George Blake cân nhắc trước ba lựa chọn.

Thứ nhất là khi Chiến tranh Triều Tiên chấm dứt sẽ xin ở lại Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên để cùng người dân ở đây xây dựng lại đất nước.

Thứ hai là quay về Anh, xin ra khỏi Cục Tình báo mật MI6, gia nhập Đảng Cộng sản, đi bán những tờ báo Công nhân hằng ngày của đảng hoặc tham gia các hoạt động tuyên truyền, cổ động cho Đảng Cộng sản.

Thứ ba, cũng là khả năng cuối cùng, ở lại trong MI6, sử dụng vị thế của mình để chuyển những thông tin về các chiến dịch do MI6 và các cơ quan đặc biệt phương Tây khác thực hiện chống lại những nước thuộc khối cộng sản và phong trào cách mạng thế giới.

George Blake loại bỏ ngay phương án đầu tiên. Những kĩ năng mà George Blake có được sẽ chẳng giúp ích được gì nhiều cho Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên xây dựng lại đất nước của họ sau chiến tranh. Nếu ở lại, nhiều khả năng George Blake sẽ trở thành gánh nặng hơn là giúp ích cho họ.

Chỉ còn lại hai khả năng và George Blake cân nhắc rất thận trọng trong một thời gian dài trước khi đi tới quyết định. Không có gì phải nghi ngờ là việc quay về Anh, rời MI6 và công khai tham gia phong trào của những người cộng sản sẽ là một phương án trọng danh dự và ít nguy hiểm hơn nhiều. Một người đấu tranh công khai vì niềm tin và lí tưởng sẽ được tôn trọng hơn so với một điệp viên hoạt động bí mật, luôn phải mang mặt nạ để che giấu con người thật của mình. Việc lựa chọn phương án này, trong trường hợp của George Blake, sẽ là tối ưu hơn cả.

Tuy nhiên, George Blake không thể tự đánh lừa bản thân trước một sự thật rằng phương án thứ ba mới phù hợp với bản chất con người mình. Khi ấy, George Blake đang sống trong một hoàn cảnh đặc biệt, là một tù binh trong trại giam giữ với điều kiện sống khắc nghiệt, khi mà các hành vi chiến tranh bạo lực diễn ra khắp xung quanh. Nếu như đang trong ở một căn hộ êm ấm tiện nghị ở London thì rất có thể George Blake đã không lựa chọn phương án thứ ba, nhưng trong hoàn cảnh lúc ấy, đó là quyết định mang tính định mệnh mà viên phó lãnh sự Anh đưa ra sau một thời gian dài cân nhắc kĩ lưỡng.

Sau khi đã quyết định, George Blake bắt đầu suy tính, tìm cách bắt liên lạc với tình báo Liên Xô. Vì sao lại là Liên Xô chứ không phải là nhà chức trách Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên hay Trung Quốc cộng sản, những người mà George Blake có thể xúc tiến việc liên lạc dễ dàng hơn nhiều? Bởi vì Liên bang Xô viết, trong con mắt của George Blake, là quốc gia đầu tiên trên thế giới bắt tay vào xây dựng một xã hội mang gương mặt con người. Đấy là một quá trình cực kì gian khó, ngay từ bước khởi đầu đã gặp muôn vàn trở ngại nhưng người Xô viết đã vượt qua và xây dựng thành công với những hi sinh vô cùng to lớn. Thứ nữa, đấy là quốc gia mà các hoạt động phá hoại của cả MI6 và CIA trực tiếp hướng vào. Thế nên quốc gia này ở vào đúng vị trí có thể sử dụng các thông tin do George Blake cung cấp để đấu tranh chống lại những nỗ lực phá hoại đó một cách hiệu quả nhất. Cuối cùng, những người Xô viết cũng là người châu Âu như George Blake. Viên phó lãnh sự có thể nói tiếng nói của họ, dễ dàng tìm kiếm những điểm tương đồng để cùng hợp tác hơn so với người Trung Quốc hay Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên.

+++++

Một đêm mùa thu năm 1951, George Blake chuyển bức thư viết bằng tiếng Nga cho viên thiếu tá phụ trách đội lính canh trại giam giữ, đề nghị gửi cho sứ quán Liên Xô tại Bình Nhưỡng. Trong bức thư viết vào buổi chiều hôm ấy, George Blake đề nghị được gặp người thích hợp để thông báo những điều quan trọng. George Blake cũng viết thêm rằng vì lí do đảm bảo an ninh cho bản thân, tất cả những người trong nhóm nhỏ các nhà ngoại giao đang bị giam giữ đều nên bị đưa đi thẩm vấn một cách riêng rẽ để tránh gây sự chú ý đặc biệt đối với cá nhân George Blake.

Sáu tuần sau, Đại sứ Hold là người đầu tiên được đưa đi thẩm vấn riêng ở thành phố Mampo, cách nơi giam giữ chừng 45 phút đi bộ. Khi quay về, Đại sứ Hold kể lại rằng đã được một người đàn ông trẻ tuổi, nói tiếng Anh, thẩm vấn. Người này hỏi Đại sứ Hold quan điểm về cuộc Chiến tranh Triều Tiên, phát một số tài liệu tuyên truyền rồi đưa cho một tờ thông cáo, hỏi rằng Đại sứ Hold có muốn kí vào đó để tuyên bố chống lại cuộc Chiến tranh Triều Tiên hay không; Đại sứ Hold từ chối. Trước khi ra về, Đại sứ Hold còn được phép viết một bản kiến nghị phản đối việc giam giữ các nhà ngoại giao để người đàn ông trẻ tuổi nọ sẽ chuyển tới sứ quán Liên Xô ở Bình Nhưỡng, rồi được đãi một bữa xúp với thịt và trà nóng.

Ngày hôm sau, đến lượt George Blake được đưa tới Mampo. Tại đây, người mà George Blake gặp không phải là người đàn ông trẻ tuổi mà Đại sứ Hold đã mô tả khi quay về trại. Đó là một người Nga cao lớn tầm tuổi ngoài 40, có thái độ hết sức thân thiện. Sau này, George Blake biết rằng đó chính là điệp viên KGB phụ trách toàn bộ địa bàn khu vực ven biển vùng Viễn Đông của Liên Xô.

Mở đầu, George Blake nói với người đàn ông rằng ngoài vai trò là một phó lãnh sự của cơ quan ngoại giao Anh tại Hàn Quốc, mình còn là một sĩ quan của Cục Tình báo mật MI6. George Blake bày tỏ sự chán ghét chính sách của phương Tây can thiệp vào bán đảo Triều Tiên, nói rằng mình tình nguyên làm việc cho phía Xô viết.

Sau khi giải thích lí do dẫn tới quyết định này, George Blake nhấn mạnh một số điều kiện để hợp tác với phía Xô viết. Các điều kiện đó bao gồm:

- George Blake sẽ chỉ cung cấp thông tin về những chiến dịch bí mật của MI6 trực tiếp chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản thế giới; các chiến dịch ngoài phạm vi này sẽ không thuộc diện cung cấp thông tin của George Blake.

- George Blake sẽ không chấp nhận bất cứ một khoản trợ giúp về tài chính hoặc vật chất nào cho các hoạt động của mình.

- George Blake không mong muốn được phóng thích sớm hay nhận bất cứ sự biệt đãi hay đối xử khác biệt nào so với những người đang cùng bị giam giữ cùng với mình do tuyên bố hay các hành động hợp tác trong tương lai với phía Xô viết.

Quả thật là trong suốt quãng đời hoạt dộng cho KGB sau này, George Blake đã không nhận bất cứ một đồng nào từ phía tình báo Xô viết.

Người đàn ông lắng nghe rất cẩn thận, đề nghị George Blake viết bằng tiếng Anh tất cả những gì cần thiết vào một tờ giấy, hỏi thêm về quãng đời trước đó cũng như các hoạt động của George Blake trong MI6.

Sau khi quay về trại, George Blake kể lại rằng mình đã gặp đúng người đàn ông trẻ tuổi đã thẩm vấn Đại sứ Hold, cũng được yêu cầu tương tự và cũng từ chối kí vào bản tuyên bố chống Chiến tranh Triều Tiên.

Những ngày sau đó, tất cả những người trong nhóm bị giam giữ đều trải qua một quy trình giống hệt như thế.

Quá trình này kéo dài trong vài tháng. Trong suốt thời gian đó, George Blake đã gặp đại diện KGB chừng ba, bốn lần. Mối liên hệ trở nên bền chắc hơn và lòng tin dần dần được xác lập giữa đôi bên. Những bước đầu tiên của chiến dịch tuyển mộ một trong những điệp viên xuất chúng nhất trong lịch sử KGB đã hoàn thành mà không gây nên bất cứ sự nghi ngờ nào.

+++++

Image
Image

Sau khi nhận được tất cả những thông tin cần thiết từ George Blake, trạm KGB Mãn Châu báo về Moscow và nhận được lệnh chính thức tuyển mộ George Blake. Vasily Dozhdalev, một người có khả năng nói thông thạo tiếng Anh, đã trực tiếp sang Mãn Châu để tiếp xúc và đánh giá về George Blake. Dựa trên bản đánh giá này, Nikolai Borisovich Rodin, biệt danh Korovin, người đang là điệp viên địa bàn London của KGB, đi ngang qua toàn bộ lãnh thổ nước Nga và Trung Quốc để tới Mãn Châu.

Cuộc gặp đầu tiên giữa George Blake với N. Rodin diễn ra vào tháng 4-1953, trước khi các tù nhân được trao trả về nhà. Địa điểm gặp là một nơi khá biệt lập ở Otpor, nơi chuyến tàu xuyên Siberia chở các tù nhân, trước đó được đưa từ Bình Nhưỡng tới Bắc Kinh rồi từ đây đi Moscow, chạy ngang qua biên giới giữa Trung Quốc và Liên Xô.

N. Rodin, khoảng 50 tuổi, nói tiếng Anh chuẩn nhưng vẫn với âm sắc của người Slav, là điệp viên có nhiều kinh nghiệm hoạt động địa bàn ở Anh. George Blake rất ấn tượng với phong cách làm việc chuyên nghiệp cũng như cách quan hệ với điệp viên của N. Rodin.

Cả hai nhanh chóng đi vào các chi tiết của những bước tiếp theo. Khi George Blake quay về nước Anh, làm thế nào để họ có thể gặp được nhau - N. Rodin hỏi. George Blake nhanh chóng trả lời rằng có thể gặp tại Hà Lan, nơi người điệp viên MI6 coi như quê hương và ở một địa bàn quen thuộc như thế, bản năng có thể mách bảo George Blake nếu như có nguy hiểm. Hai người thỏa thuận cuộc gặp sẽ diễn ra vào tháng 7, với một số phương án dự phòng nếu như có trục trặc nào đó xảy ra. Mỗi người sẽ mang theo mình số ra hôm trước của tờ báo Nieuwe Rotterdamse Courant làm tín hiệu nhận biết. Mật danh của George Blake sẽ là Diomid. Dịch nghĩa ra, nó có nghĩa là Kim cương, mang các đặc tính “quý báu”, “sạch” và “hiếm”. Nó cho thấy cơ quan tình báo Liên Xô, ngay từ những bước đi đầu tiên, đã đánh giá chuẩn xác và hết sức coi trọng giá trị của George Blake.

Vậy là vào một buổi sáng tháng 4-1953, chiếc máy bay của không lực Hoàng gia Anh hạ cánh xuống sân bay Abingdon ở London sau chặng bay ngắn từ Berlin. Trên máy bay có sáu hành khách, những tù nhân trở về từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Cả một rừng người, gồm đội ngũ dàn nhạc đón tiếp, các phóng viên, người thân trong gia đình chờ đón những người hùng trở về.

Trong số những tù binh trở về hôm ấy có một người đàn ông mang râu quai nón trạc ngoài 30 tuổi, được mẹ đến đón, đưa về căn hộ ở Reigate. Điệp viên nhị trùng Diomid đã quay lại nước Anh!

MI6 rất ấn tượng về người của mình đã có thể sống sót qua những trại giam khắc nghiệt của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên và Trung Quốc để trở về như một người hùng. Đích thân Giám đốc MI6 Sir John Sinclair, biệt danh “C”, nói với George Blake là nên nghỉ ngơi một thời gian trong khi bộ phận nhân sự sẽ tìm cho người nhân viên của mình một công việc thích hợp.

Mùa hè năm ấy, George Blake mua một chiếc xe hơi hiệu Ford Anglia và đưa mẹ cùng vợ chồng người em gái đi chơi Tây Ban Nha. Trên đường về, George Blake và mẹ ghé qua Rotterdam, ở lại một tuần tại nhà người dì. Đây là cơ hội để George Blake gặp lại người điều khiển mình, điệp viên KGB N. Rodin.

Cuộc gặp được bố trí ở Hague, tại một quảng trường nhỏ gần vườn hoa cuối đại lộ Laan van Meerdervoort dài nhất thành phố. George Blake nói với mẹ mình phải đi có chút việc rồi lái xe tới Hague.

Sau khi kiểm tra kĩ càng để chắc chắn không có cái đuôi nào bám theo, George Blake tới chỗ hẹn với tờ báo cầm bên tay phải. Trên một chiếc ghế, N. Rodin đã chờ sẵn, cũng với tờ báo như đã thỏa thuận. Để tới được đây là việc hoàn toàn không hề đơn giản đối với N. Rodin. Các nhân viên phản gián MI5 của Anh đã theo N. Rodin ngay khi ông này rời khỏi sứ quán Liên Xô ở London và bám theo trên suốt đường đi tới Hà Lan. Tới Hà Lan, nhóm theo dõi của MI5 buộc phải bàn giao việc giám sát lại cho các đồng nghiệp phản gián của Hà Lan, những người nhanh chóng bị N. Rodin bỏ rơi.

Trong cuộc gặp, George Blake thông báo cho N. Rodin biết là mình mới được bổ nhiệm làm phó cho Tom Gimson, người phụ trách Ban Y trong MI6, chịu trách nhiệm về các chiến dịch tình báo kĩ thuật. Hai người thống nhất cuộc gặp sau sẽ diễn ra tại London. Sau 20 phút, hai người chia tay. Các nhân viên phản gián Hà Lan chỉ “phát hiện” lại được N. Rodin khi người này lên phà để quay lại Anh. Cả MI5 lẫn phản gián Hà Lan đều không tài nào xác định được N. Rodin đã làm gì trong thời gian “biến mất” khỏi sự giám sát của họ.

Nhưng rồi đến lúc Trung tâm KGB ở Moscow nhận thấy không thể để một điệp viên quý giá như Diomid phải chịu rủi ro vì liên lạc với N. Rodin, do các nhân viên phản gián MI5 của Anh đã nhẵn mặt điệp viên KGB địa bàn London. Sergei Aleksandrovich Kondrashev được chọn và sau đó là cuộc trao đổi tài liệu mật diễn ra trên tầng 2 của chiếc xe buýt chạy ở London, khiến cả một chiến dịch tối mật trị giá nhiều triệu USD của tình báo Anh - Mỹ bị phá sản từ trong trứng nước.

+++++

Sau khi Moscow nhận được báo cáo tháng 2-1954 của S. Kondrashev về dự án đường hầm gài máy nghe trộm, ưu tiên hàng đầu của lãnh đạo KGB là phải bảo vệ George Blake. Chỉ có ba người trong Tổng cục 1 KGB được biết về sự tồn tại của nguồn tin này. Người đứng đầu Tổng cục 1 nhận thấy rằng thông tin của George Blake liên quan đến an ninh truyền thông, tức là thuộc về trách nhiệm của Tổng cục 8 trong KGB. Bởi vậy, ông ta mời người đứng đầu Tổng cục 8 tới phòng làm việc của mình và đưa cho xem một bản sao tài liệu, đã được cẩn thận xóa đi một số điểm nhạy cảm, mà George Blake cung cấp trước đó. Tất nhiên người đứng đầu Tổng cục 8 KGB cũng không được biết về danh tính của nguồn cung cấp tin.

Ngay trong nội bộ Tổng cục 1 KGB, ngày 9-4-1954, Arseny Vasilievich Tishkov, phó ban phụ trách các chiến dịch tình báo kĩ thuật đã ban hành một mệnh lệnh tới tất cả các trưởng chi nhánh về việc bảo mật nguồn tin liên quan đến những chiến dịch nghe trộm của tình báo phương Tây. A. Tishkov là một trong những sĩ quan tình báo giàu kinh nghiệm nhất của KGB trong lĩnh vực này và đó chính là lí do khiến ông được lựa chọn là người giám sát chiến dịch dựa trên những tin tức mà George Blake báo về.

A. Tishkov được quyền làm bất cứ điều gì cần thiết để bảo vệ nguồn tín quý giá này. A. Tishkov chỉ thị: “Những biện pháp như bóc gỡ, vô hiệu hóa hay thậm chí lợi dụng các phương tiện của đối phương để tung tin giả đều phải dựa trên cơ sở thực hiện các biện pháp nghiệp vụ ngụy trang kĩ càng, không để lộ nguồn tin. Các biện pháp này cũng không được tiến hành chỉ một lần rồi ảnh hưởng tới toàn bộ chiến dịch mà phải dần dần từng bước... Để thực hiện những biện pháp này, cần phải tuyệt đối bí mật. Tất cả mọi tiếp cận với những thông tin này đều phải được báo cáo qua tôi và mọi biện pháp thực hiện đều phải có sự cho phép của tôi”.

Bản chỉ thị này thể hiện rõ sự thận trọng của lãnh đạo tình báo Xô viết. Họ biết rất rõ về đường hầm sẽ được đào ở Berlin, nhưng nhất thời không làm bất cứ điều gì do lo ngại đến sự an nguy của George Blake. Theo chỉ thị này của A. Tishkov, tất cả các ban, trạm KGB không được tiến hành bất kì một hoạt động nào nhằm vào các chiến dịch nghe trộm của đối phương mà không có sự cho phép của A. Tishkov.

Để bảo vệ George Blake, KGB tiến hành hàng loạt đòn phép nghiệp vụ nhằm tránh khả năng các cơ quan phản gián Anh - Mỹ có thể hướng nghi ngờ vào điệp viên quý báu của mình. Việc đầu tiên là KGB cũng gài máy ghi âm vào đúng những đường cáp mà họ biết là phía Anh - Mỹ đã gài máy nghe trộm vào, sau đó mang những băng ghi âm này đến cho Tổng chỉ huy quân đội Liên Xô trên đất Đông Đức, Nguyên soái Andrei Grechko. Vị nguyên soái hoảng hốt khi nghe thấy các sĩ quan dưới quyền mình, trong khi tán gẫu qua điện thoại, đã để lộ quá nhiều bí mật. Thế là một mệnh lệnh được phát ra: Những cuộc nói chuyện điện thoại sẽ bị theo dõi ngày đêm. Các sĩ quan Hồng quân từ đó buộc phải giữ mồm giữ miệng mỗi khi nói chuyện qua điện thoại.

Nhưng quan trọng hơn cả là A. Tishkov đã bác bỏ mọi đề nghị nếu như biết rằng nó có thể gây ra dù chỉ một chút xíu nguy hiểm cho George Blake. KGB từng có rất nhiều kinh nghiệm trong việc phát hiện ra những hoạt động nghe trộm của đối phương rồi “gậy ông đập lưng ông”, sử dụng chúng như một kênh để tung tin giả ngược trở lại, trong khi vẫn cẩn thận bảo vệ được nguồn tin. Nhưng trong khi theo sát chiến dịch Stopwatch/Gold của MI6 và CIA, S. Kondrashev ra một mệnh lệnh không được phép tranh cãi, là không được sử dụng việc lắp đặt máy nghe trộm của đối phương vào các đường cáp thông tin để tiến hành bất cứ một biện pháp tung tin giả nào. S. Kondrashev biết rằng MI6 và CIA có thừa những nguồn tin khác để phối kiểm những thông tin nghe lén họ nhận được và nếu phát hiện ra là thông tin giả thì điều đó có thể gây nguy hiểm trực tiếp cho George Blake.

Thế nên các máy nghe lén của Mỹ - Anh vẫn ghi được một số lượng lớn các cuộc nói chuyện điện thoại vô tư, không bị phía Xô viết kiểm soát. Những cảnh báo của KGB đối với việc nghe lén đường cáp thông tin có vẻ không có mấy tác dụng đối với các sĩ quan quân đội Xô viết. Trong suốt thời gian hơn một năm Đường hầm Berlin hoạt động, CIA đã soạn thảo tới 1.750 báo cáo mật dựa trên những dữ liệu của khoảng 400.000 cuộc nói chuyện điện thoại giữa các cấp chỉ huy quân đội Xô viết, trong đó có không ít thông tin có giá trị. Trong bối cảnh căng thẳng của cuộc chiến Chiến tranh Lạnh có nguy cơ chuyển sang chiến tranh nóng bất cứ lúc nào, đó là một sự hi sinh to lớn của KGB để bảo vệ nguồn tin của mình. Giống như trong một ván cờ, KGB chấp nhận phải hi sinh con pháo để bảo vệ tướng - George Blake!

Một ví dụ khác cho thấy KGB quan tâm bảo vệ George Blake như thế nào là việc KGB đã xử lí những thông tin của George Blake về Silver, chiến dịch MI6 tiến hành lắp đặt máy nghe trộm ở Vienna trước đó. Các nhà lãnh đạo quân sự Xô viết rất ngạc nhiên trước những thông tin có chất lượng và đầy đủ về việc tình báo phương Tây đã nghe lén các cuộc đàm thoại của sĩ quan quân đội trên lãnh thổ Áo và Hungary. Tuy vậy, họ đã không có bất kì một hành động ngăn chặn nào do lo ngại sẽ gây nguy hiểm đến nguồn tin.

Mặc dù George Blake đã thông báo ngay lập tức về chiến dịch này ngay khi ông bắt đầu làm việc trong nhóm kĩ thuật của MI6 từ tháng 9-1953, nhưng mãi một năm sau đó, đến tháng 9-1954, chủ tịch KGB khi đó là Valentin Serov mới gửi một tài liệu cho Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô Nikolai Aleksandrovich Bulganin, thông báo rằng “một tài liệu của tình báo Anh cho thấy đã có những hoạt động bí mật nhằm vào các đơn vị quân đội Xô viết đang đóng quân trên lãnh thổ Áo và Hungary vào nửa cuối tháng 11-1953”.

Tài liệu này chỉ ra rằng “các hoạt dộng nhằm vào lực lượng vũ trang Xô viết gồm có nghe trộm những cuộc trao đổi qua điện thoại của các sĩ quan chỉ huy và lập danh sách các vị trí đóng quân của quân đội Xô viết trên lãnh thổ Áo và Hungary”. Nó cũng nhấn mạnh rằng tài liệu gồm chín trang này không được chuyển cho quân đội Xô viết cho tới sau khi MI6 đã hoàn thành chiến dịch này. Điều này loại trừ hoàn toàn những mối nghi ngờ khỏi George Blake.

Việc không có những hành động vội vã, thiếu suy nghĩ chính là để cho George Blake có thể tiếp tục theo dõi và thông báo đầy đủ cho phía Liên Xô mọi diễn tiến của chiến dịch. Kết quả là không có một ai ở Đông Đức, kể cả Yevgeny Pitovranov, người đứng đầu bộ máy KGB ở Karlshorst, được thông báo về sự tồn tại chiến dịch Đường hầm Berlin, cho đến khi công việc của George Blake ở bộ phận tình báo kĩ thuật MI6 tại London kết thúc vào mùa xuân năm 1955.

+++++

Sự thận trọng tối đa của KGB nhằm bảo vệ tuyệt đối an toàn cho siêu điệp viên George Blake sau khi phát giác chiến dịch Đường hầm Berlin đã được tưởng thưởng xứng đáng.

Tháng 4-1955, George Blake được cử tới hoạt động ở Berlin, trạm MI6 lớn nhất trên thế giới vào thời điểm đó. Hai tháng trước đó, Đường hầm Berlin, sản phẩm của chiến dịch hỗn hợp Stopwatch/Gold đã bước vào hoạt động trong sự im ắng của phía Xô viết. KGB trông chờ vào những phát giác tiếp theo của điệp viên Diomid.

Một trong những phát hiện quan trọng mà Diomid cung cấp cho KGB chính là danh tính cũng như vị trí của Trung tướng Robert Bialek, cựu tổng thanh tra Bộ An ninh Quốc gia Đông Đức (SSD) đã đào thoát sang phương Tây từ năm 1953 và sống dưới một cái tên giả ở khu Platanenallee tại Tây Berlin, gần nơi George Blake sống. Phía Tây Đức đã tiến hành những biện pháp bảo vệ đặc biệt cho viên cựu tổng thanh tra SSD. Cửa chính lắp đặt khóa tự động, cửa chớp bằng thép trong khi hệ thống báo động được gắn khắp căn hộ và nối trực tiếp với văn phòng an ninh của Anh. Theo quy tắc bảo đảm an ninh, Robert Bialek không được phép ra khỏi căn hộ nếu như không có nhân viên bảo vệ đi kèm cùng với con chó nòi Alsatian của ông ta. Nhưng vào một buổi tối tháng 2-1956, không chờ được người nhân viên an ninh bào vệ, Robert Bialek ra khỏi nhà dẫn chó đi dạo. Ở góc phố giữa Platanenallee và Leistik, hai người đàn ông nhô ra từ trong bóng tối, vô hiệu hóa Robert Bialek rồi tống ông ta vào một cái xe đang chờ sẵn, đưa về tổng hành dinh của SSD. Cả chỉ huy lực lượng Anh ở Tây Berlin lẫn chính phủ Anh đều ra sức phản dối nhưng phía Xô viết bác bỏ mọi dính líu vào vụ mất tích của Robert Bialek. Sau khi trải qua nhiều cuộc thẩm vấn kĩ càng, ông ta bị hành quyết.

Đặc biệt quan trọng là nhờ có thông tin do điệp viên Diomid cung cấp, KGB phát giác ra sự phản bội của Trung tá Peter Popov, điệp viên của Tổng cục Tình báo quân đội Liên Xô GRU.

Peter Popov làm việc tại trạm GRU ở Vienna, thủ đô Áo. Năm 1953, P. Popov chủ động liên lạc với tình báo Mỹ bằng cách bỏ mẩu giấy nhắn tin tình nguyện làm việc cho CIA vào ghế trước chiếc xe của một nhà ngoại giao Mỹ tại Vienna. CIA giao việc điều khiển P. Popov cho George Kisevalter, một nhân viên CIA sinh tại St. Petersburg trước Cách mạng Tháng Mười, gia nhập Ban Nga Xô viết trong CIA từ năm 1952. G. Kisevalter có thể nói thạo tiếng Nga, Pháp, Đức và Ý. P. Popov là “chuột chũi” quan trọng bậc nhất đến thời điểm đó mà CIA có được trong hệ thống tình báo của phía Xô viết. Trong vòng hai năm trời, P. Popov đã cung cấp cho CIA một lượng lớn tài liệu mật có giá trị về GRU, trong đó có danh tính, mật danh hay tên tắt của 370 điệp viên Liên Xô hoạt động bất hợp pháp trên lãnh thổ các nước phương Tây. Căn cứ vào đó, CIA có thể đối chiếu và lần ra tên thật của các điệp viên này.

Năm 1955, P. Popov quay về Moscow trong 6 tuần lễ rồi được cử sang địa bàn Đông Đức. Cho tới tận lúc này, phía Xô viết vẫn hoàn toàn không biết gì về vai trò nhị trùng của viên trung tá GRU. Tuy vậy, việc thuyên chuyển bất ngờ này khiến cho CIA bị mất liên lạc với điệp viên quý giá của mình. Trong tình thế bí bách, P. Popov đành phải viết một bức thư giải thích về tình trạng của mình rồi chuyển nó cho một thành viên phái đoàn quân sự Anh tại Berlin có dịp sang Đông Đức. Người này chuyển bức thư cho trạm MI6 ở Berlin, khi ấy trụ sở nằm trong Tòa nhà sân vận động Olympic để rồi MI6 chuyển bức thư cho G. Kisevalter. Nhân viên MI6 chịu trách nhiệm xử lí quá trình này là George Blake!

Sau khi P. Popov bắt liên lạc lại được với G. Kisevalter, hai người tiếp tục gặp nhau thường xuyên và viên trung tá GRU nối lại công việc chuyển các tài liệu mật cho CIA.

Tuy vậy, P. Popov bị GRU chú ý khi anh ta được lệnh cử một nữ điệp viên có tên là Tairova sang New York. Tairova sử dụng hộ chiếu Mỹ của một nữ nhân viên làm việc trong tiệm cắt tóc sống ở Chicago; người nữ nhân viên tiệm cắt tóc này có gốc Ba Lan và trong một chuyến về thăm quê hương đã bị “mất” hộ chiếu. Được P. Popov báo trước, CIA liền chuyển thông tin này cho FBI. Thế nên ngay từ khi đặt chân xuống phi trường Idlewild ở New York, nữ điệp viên này bị FBI đặt dưới sự giám sát chặt chẽ và nhanh chóng nhận ra mình đã bị “đánh dấu”. Nữ điệp viên này quyết định quay về Moscow và Tổng hành dinh GRU lập tức triệu hồi P. Popov về để làm rõ mọi chuyện, P. Popov giải thích với GRU rằng mọi sự đều bình thường và FBI có khả năng theo dõi mọi đối tượng mà họ nghi ngờ. Lời giải thích này được GRU chấp nhận, nhưng những thông tin do George Blake cung cấp đã đánh dấu chấm hết cho sự nghiệp gián điệp nhị trùng của viên trung tá GRU.

Năm 1959, sau khi George Blake rời Berlin trở lại London, P. Popov được lệnh quay về Moscow. Tại đây, anh ta được CIA “chuyển giao” cho người điều khiển mới là Russell Langrelle, một điệp viên CIA hoạt động dưới vỏ bọc ngoại giao tại sứ quán Mỹ ở Moscow. Ngày 16-10-1959, cả hai bị KGB mật phục bắt giữ trên một chiếc xe buýt khi P. Popov đang chuyển giao tài liệu cho R. Langrelle. R. Langrelle có quyền miễn trừ ngoại giao nên không sao, nhưng P. Popov thì không may mắn như thế.

Năm 1963, phiên tòa xét xử kín P. Popov diễn ra kéo dài hơn hai giờ đồng hồ tại phòng lớn trong câu lạc bộ sĩ quan ở Tổng hành dinh KGB tại Moscow, P. Popov chịu án tử hình, bị một đội hành quyết của KGB xử bắn.

Hans Mohring, sinh tháng 3-1917, một quan chức làm việc trong Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Cộng hòa dân chủ Đức đã nhiều năm làm việc cho Cục Tình báo mật MI6. Nhờ những thông tin do George Blake cung cấp, Hans Mohring bị bắt giữ năm 1959, trải qua 324 ngày trong nhà tù của Bộ An ninh Quốc gia Cộng hòa dân chủ Đức Stasi trước khi bị kết án chung thân vì tội “làm gián điệp” trong một phiên tòa diễn ra năm 1960. Đến năm 1976, phía Tây Đức chuộc được Hans Mohring ra khỏi nhà tù với khoản tiền 500.000 mác.

Otto Georgi, một nhân viên tốc kí sinh năm 1894 và bắt đầu làm việc cho chính phủ Đức kể từ năm 1918. Tháng 3-1958, Otto Georgi bị bắt và giam giữ tại nhà tù của Stasi ở Hohenschönhausen. Tháng 2-1959, Otto Georgi nhận án chung thân. Đến tháng 9-1964, nhà lãnh đạo Cộng hòa dân chủ Đức Walter Ulbricht ra lệnh phóng thích Otto Georgi khỏi nhà tù và ông này tiếp tục sống ở Đông Berlin cho tới khi chết vào những năm 1970.

Cùng với các thông tin mật do điệp viên người Anh Kim Philby trong Bộ Ngũ Cambridge cung cấp từ trước và từ một nguồn khác là điệp viên Xô viết Heinz Felfe hoạt động trong Cục Tình báo Tây Đức BND, những tin tức của George Blake đã giúp KGB quét sạch mạng lưới điệp viên phương Tây ở Cộng hòa dân chủ Đức trong giai đoạn 1953-1955. Cũng nhờ George Blake mà hầu hết các điệp viên phương Tây ở địa bàn Trung và Đông Âu cũng bị KGB vô hiệu hóa.

+++++

Cũng chính ở Berlin, George Blake đã tham gia vào một trong những chiến dịch tung tin giả thành công nhất của KGB sang các cơ quan đặc vụ phương Tây, liên quan tới một nhân vật có bí danh là Boris.

Khi tới công tác tại trạm MI6 Berlin, George Blake được giao nhiệm vụ trọng tâm là móc nối, tuyển mộ các công dân Liên Xô, Đông Âu làm việc cho tình báo Anh. Ở thời điểm đó, tình báo Anh - Mỹ khát khao tin tức ở phía bên kia Bức Màn sắt hơn bao giờ hết, bởi Chiến tranh Lạnh đang được cả hai bên đẩy lên đến điểm cao trào. Mà không chỉ giới hạn ở những thông tin tình báo về quân sự, ngay cả các thông tin văn hóa, kinh tế, xã hội cũng rất được quan tâm.

Nhưng đây cũng là một nhiệm vụ gần như bất khả thi với các điệp viên MI6 bởi phía Liên Xô nhận thức rất rõ nguy cơ công dân của mình bị tuyển mộ, làm việc cho phương Tây. Ngoại trừ những chuyến đi được hoạch định trước, người Anh bị hạn chế tới Đông Berlin trong khi những nhân viên MI6 như George Blake, nắm giữ các bí mật của tình báo Anh, hiển nhiên là cũng không được phép tới đó. Không gặp gỡ được nhau, làm thế nào để có thể tuyển mộ người ở Đông Berlin làm việc cho tình báo phương Tây?

George Blake bàn với đầu mối KGB liên lạc với mình ở Berlin, lập ra kế hoạch “tuyển mộ” một quan chức Liên Xô làm “điệp viên” cho George Blake. Với MI6, đây sẽ là hạt ngọc trên vương miện hoạt động tình báo của George Blake, đồng thời cũng là một kênh liên lạc dự phòng giữa George Blake với KGB trong những tình huống khẩn cấp, cho dù ở Berlin, việc trao đổi những tài liệu mà George Blake thu thập được cho KGB dễ dàng hơn nhiều so với khi ở London. Người này sẽ không biết gì về thân phận thực của George Blake, còn về phần mình, George Blake sẽ phải điều khiển “điệp viên” của mình một cách thực thụ để tránh gây nghi ngờ từ phía phản gián Anh - Mỹ.

George Blake thực hiện kế hoạch này thông qua một nhân viên của MI6 có biệt danh là Mickey, do anh ta có khuôn mặt khá giống với chú chuột nổi tiếng trong bộ phim hoạt hình cùng tên. Thực chất, Mickey tên thật là Horst Eitner, một điệp viên của Đức, đồng thời làm việc cho tình báo Anh, chỉ huy cả một mạng lưới điệp viên của MI6. Khi tiếp xúc với Horst Eitner, George Blake không sử dụng tên thật của mình mà dùng tên thời còn hoạt động trong lực lượng kháng chiến chống Đức Quốc xã ở Hà Lan là Max Van Vries. Sau một thời gian làm việc với Horst Eitner, George Blake được đầu mối KGB của mình cảnh báo rằng Horst Eitner - Mickey, cùng với cô vợ xinh đẹp của anh ta, đã bị Tổng cục Tình báo quân đội Liên Xô GRU tuyển mộ. Thời gian khi còn trẻ sống ở Đông Đức, cô vợ của Mickey đã được tình báo Mỹ tuyển mộ và bị người Nga phát hiện, kết án 25 năm tù ở Siberia vì tội làm gián điệp cho Mỹ. Sau 5 năm, cô ta được phóng thích vì lí do nhân đạo, qua sống ở Tây Berlin, gặp và cưới Mickey. Nói cách khác, cả hai vợ chồng họ đều là những điệp viên nhị trùng giống như George Blake! Tuy nhiên, cả hai đều không biết rằng George Blake từ lâu đã làm việc cho KGB.

George Blake bố trí cho Mickey làm chân giúp việc trong một cửa hàng bán đồ ở bên phía tây đường biên giới giữa Đông và Tây Berlin. Nhiệm vụ của người này là báo cho George Blake bất cứ điểm nào đáng chú ý của những khách hàng từ Đông Berlin tới mua hàng của anh ta. Ngoài ra, bằng việc bán những mặt hàng cho người Nga với chính sách giá cả “hợp lí”, rất có thể là những khách hàng đó sẽ quay lại cửa hàng và mở ra khả năng tiếp xúc lâu dài hơn để tuyển mộ.

Chính qua cửa hàng này mà George Blake đã có thể báo cáo lên cấp trên rằng mình tuyển mộ được Boris, một chuyên viên cao cấp làm việc ở Hội đồng tương trợ kinh tế COMECON (còn gọi là khối SEV), khối cộng đồng kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Trong bối cảnh các cơ quan tình báo phương Tây đói khát tin tức vào thời điểm đó, những tin tức của Boris đúng là quý giá hơn vàng ròng.

Thực tế, Boris là Vsevolod Ivanovich Sowa, một chuyên viên làm phiên dịch cho đại diện kinh tế của Liên Xô tại Berlin. Boris từng phiên dịch cho nhiều yếu nhân Liên Xô như Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng A. N. Kosygin, Phó chủ tịch thứ nhất Hội đồng bộ trưởng A. I. Mikoyan... tại các cuộc hội nghị hội thảo về kinh tế, thương mại, có khả năng cung cấp những thông tin ở mức độ tin cậy cao về nội tình chính sách kinh tế của Liên Xô cùng các đồng minh xã hội chủ nghĩa của mình.

Tin tức về việc George Blake tuyển mộ thành công, tổ chức được một nội gián trong khối xã hội chủ nghĩa lan nhanh trong cộng đồng tình báo phương Tây. Các đồng nghiệp MI6 ở trạm Tây Berlin nhìn George Blake với vẻ kính nể, đồng thời các đơn “đặt hàng” tới tấp được gửi tới chỗ George Blake để đến lượt mình, người điệp viên MI6 lại gửi cho Boris để tìm câu trả lời. Chưa lần nào Boris làm cho các “khách hàng” của mình phải thất vọng. Khi những thông tin của Boris được chuyển tới, George Blake làm nhiệm vụ “đánh bóng” để chúng mang một ý nghĩa nào đó - về phương diện này thì George Blake là một bậc thầy - rồi chuyển cho các “khách hàng” của mình. Bằng cách này, KGB có thể chủ động định hướng thông tin cho MI6 trong suốt 5 năm trời!

Đây đúng là một đòn phép tuyệt hảo mà George Blake cùng các đồng nghiệp KGB của mình phối hợp thực hiện để qua mặt các cơ quan tình báo phương Tây một cách đơn giản nhưng cực kì hữu hiệu.

Trong 4 năm George Blake ở trạm MI6 tại Tây Berlin, thông qua George Blake, Boris đã hoàn thành xuất sắc vai trò tung các tin tức đáp ứng yêu cầu của tình báo phương Tây.

Đầu năm 1959, George Blake, khi ấy vẫn hoạt động ở Berlin dưới vỏ bọc ngoại giao, được Bộ Ngoại giao Anh thông báo rằng sẽ được chuyển sang Ban Trung Đông trong Bộ Ngoại giao. George Blake rời Berlin quay về London, trình diện ở Bộ Ngoại giao trước khi được điều đi học ở khoa nghiên cứu Ả Rập tại trường Cao đẳng Trung Đông của Bộ Ngoại giao Anh tại thủ đô Beirut ở Lebanon. Trong thời gian ở London, George Blake đã có các cuộc tiếp xúc với sĩ quan KGB địa bàn và nhận những chỉ dẫn cần thiết.

Tháng 9-1960, George Blake cùng gia đình tới sống ở Shemlan, một thị trấn tuyệt đẹp cách Beirut chừng hai mươi dặm, nơi có trường Cao đẳng Trung Đông tọa lạc. Cũng như Berlin, khi ấy Beirut đầy rẫy những điệp viên hai mang, nơi diễn ra hoạt động gián điệp và phản gián của các cơ quan điệp báo hàng đầu thế giới. Trong số những người ở Beirut khi ấy có Harold Kim Philby, đã được chính phủ Anh xóa bỏ các cáo buộc làm gián điệp liên quan đến vụ đào thoát của hai điệp viên Liên Xô trong Bộ Ngũ Cambridge là Burgess và Maclean. Kim Philby làm phóng viên cho các tờ báo nổi tiếng The EconomistThe Observer.

Hai người, Kim Philby và George Blake, hoàn toàn không biết gì về con người thực của nhau, cũng không có bất cứ liên hệ nào với nhau.

+++++

Vụ việc khởi đầu từ Berne, Thụy Sĩ, vào đầu năm 1959, khi Đại sứ Mỹ tại đây, Henry J. Taylor, nhận được một bức thư đánh máy có dấu gửi từ bưu điện Zürich. Trên phong bì đề địa chỉ người nhận là giám đốc CIA. Đại sứ Mỹ gửi bức thư cùng với tài liệu kèm theo cho Trưởng trạm CIA tại Thụy Sĩ. Trưởng trạm CIA mở phong bì ra, trong đó có một bức thư đánh máy bằng tiếng Đức, người viết kí tên Đức dưới mật danh Heckenschütze, có nghĩa là Kẻ bắn tỉa.

Đấy là bức thư đầu tiên trong số lần lượt 14 bức thư mà Kẻ bắn tỉa gửi cho CIA, trong đó mô tả chi tiết các chiến dịch của tình báo Ba Lan và Xô viết ở các nước phương Tây.

CIA quyết định giao sự vụ điều khiển nội gián trời cho này cho trạm CIA Berlin, khi ấy vẫn do Bill Harvey, người đã dính líu tới thất bại của chiến dịch Đường hầm Berlin, làm trạm trưởng.

Các chuyên viên phân tích của CIA ở Langley kết luận rằng Kẻ bắn tỉa chắc chắn không phải là người Nga; bức thư được đánh máy trên một máy đánh chữ do Đông Âu sản xuất và giấy viết thư cũng có xuất xứ ở các quốc gia Đông Âu.

Mặc dù những thông tin này không được kiểm chứng nhưng cũng đủ làm cơ sở để CIA chia sẻ thông tin về vụ việc cho Cục An ninh MI5 và Cơ quan An ninh Thụy Điển, khi ấy do Commodore Henning đứng đầu.

Kẻ bắn tỉa thông báo rằng một sĩ quan cấp cao trong không lực Thụy Điển, người cũng từng là một điệp viên hoạt động cho CIA, đã bị người Nga tuyển mộ khi làm việc ở sứ quán Thụy Điển tại Moscow trong vai trò tùy viên quốc phòng về không quân. Người ta lục lại các hồ sơ và nhận ra Đại tá Stig Wennerström, tùy viên không quân Thụy Điển ở Moscow trong thời kì 1948 và 1951, đã từng thực hiện một số sứ mệnh không quan trọng lắm cho người Mỹ. Sau đấy, người này cũng từng là tùy viên không quân Thụy Điển ở Washington từ tháng 4-1952 đến tháng 3-1957. Vào thời điểm Kẻ bắn tỉa cung cấp thông tin về nội gián này thì ông ta đang là một sĩ quan cao cấp trong Không quân thuộc Bộ Quốc phòng Thụy Điển ở Stockholm. Việc theo dõi Stig Wennerström kéo dài dằng dai cho mãi tới ngày 20-6-1963, ông ta mới bị bắt giữ và thú nhận đã hoạt động tình báo 14 năm cho người Xô viết; kết cục ông ta nhận án cải tạo lao động chung thân.

Nhưng quan trọng hơn cả, những thông tin mà Kẻ bắn tỉa (khi được CIA chia sẻ thông tin, tình báo Anh đặt mật danh cho Kẻ bắn tỉaLavinia) cung cấp đã giúp cho phản gián Anh lần ra được hai điệp viên cực kì quan trọng của tình báo Liên Xô đang hoạt dộng tại Anh mà phản gián MI5 đặt tên lần lượt là Lambda 1Lambda 2.

Trong hai điệp viên nội gián này thì những thông tin do Kẻ bắn tỉa cung cấp về Lambda 2 có vẻ như chi tiết và cụ thể hơn. Người này có thể đã bị tình báo Liên Xô tuyển mộ vào đầu những năm 1950 khi được bổ nhiệm tới văn phòng của Đại úy Nigel Austen, tùy viên hải quân trong sứ quán Anh tại thủ đô Warsaw của Ba Lan. Tên của người này có chữ H ở đầu và có thể đọc na ná như “Horton”, có khả năng tiếp cận được các tài liệu mật về tàu ngầm trong Hải quân Hoàng gia Anh.

Tất cả những thông tin đó chỉ phù hợp duy nhất với một người: Harry Houghton. Người này là một nhân viên dân sự đã bị kỉ luật ở Warsaw vì buôn bán chợ đen trong khi được biệt phái làm một chân nhân viên bàn giấy tại sứ quán Anh từ tháng 7-1951 đến tháng 10-1952.

Sau khi rời khỏi Hải quân Hoàng gia Anh vào năm 1945 do bị thải hồi cùng với một khoản tiền lương hưu còm cõi cho 24 năm phục vụ, H. Houghton kiếm được một chân làm việc ở xưởng đóng tàu của Hải quân tại Gosport. Trước chiến tranh, ông ta đã cưới một góa phụ ở thành phố quê nhà Lincoln, nhưng cuộc hôn nhân kéo dài 23 năm không có con cái của họ kết thúc khi hai người li dị vào năm 1958. Ông ta sống trong một căn nhà nhỏ có 4 buồng ở số 8 đường Meadow View, thuộc khu Broadway.

Khi trở về từ Warsaw, H. Houghton làm một chân thư kí cho Cơ quan dò tìm dưới nước ở Portland, tại Dorset. Đây là một địa điểm khá nhạy cảm và có ý nghĩa chiến lược đối với tình báo Xô viết bởi rất nhiều hoạt động nghiên cứu và thử nghiệm hệ thống chống tàu ngầm được tiến hành tại cơ sở này. Hệ thống đầu dò nhằm phát hiện các tàu ngầm của khối Hiệp ước Warsaw bằng cách dùng các tàu mặt nước kéo theo tháp dò thụ động phía sau tàu hoặc dùng máy bay trực thăng thả xuống nước đều được nghiên cứu tại vùng biển ngoài khơi Portland. Tình báo Xô viết tìm mọi cách để xâm nhập vào hệ thống an ninh của căn cứ và hẳn là họ đã rất thất vọng khi vào tháng giêng năm 1957, H. Houghton bị thuyên chuyển sang Đơn vị sửa chữa hỗ trợ cảng trong cùng căn cứ, sau được đổi tên thành Cơ quan vũ khí dưới nước thuộc Bộ Hải quân.

Lục tìm lại hồ sơ lưu trữ, phản gián MI5 của Anh nhận thấy H. Houghton đã từng một lần bị đặt vào diện nghi vấn khi bà vợ Peggy, đúng vào thời điểm họ li dị, đã tố cáo ông chồng mình làm gián điệp, bằng cách liên lạc với một người nước ngoài ở London.

Nhân viên MI5 điều tra vụ việc khi ấy sau khi xem xét đã kết luận rằng lời tố cáo đó xuất phát từ một bà vợ ghen tuông, không có cơ sở, nên đóng hồ sơ lại.

Đến khi có những thông tin của Kẻ bắn tỉa cung cấp thì MI5 liền đặt H. Houghton, khi ấy 56 tuổi, dưới sự giám sát chặt chẽ. Ngày thứ bảy, 9-7-1960, các đặc vụ MI5 theo vết H. Houghton và phát hiện được ông ta đi London, gặp một người đàn ông trung niên phục phịch ở đường Waterloo. H. Houghton trao cho người đàn ông này một túi giấy và nhận lại một cái phong bì. Khi hai đối tượng chia tay nhau, các đặc vụ chia làm hai nhóm, một nhóm bám theo H. Houghton quay về Dorset, còn nhóm kia bám theo người đàn ông nọ. Khi người này quay về chiếc xe hơi Studebaker màu trắng, các nhân viên MI5 ghi được biển số xe. Dựa vào biển số này, kiểm tra qua cơ quan đăng kí xe, xác định được chiếc xe thuộc về một người quốc tịch Canada tên là Gordon A. Lonsdale. Người đàn ông này bị bám theo về đến một khách sạn ở Bayswater, nơi ông ta cũng đăng kí dưới cái tên Gordon A. Lonsdale.

Ngay lập tức, Gordon A. Lonsdale bị đặt dưới sự theo dõi ngặt nghèo của MI5. Người này điều hành một cơ sở cho thuê máy hát tự động ở số 19 đường Wardour. MI5 xác định những cuộc gặp giữa H. Houghton và G. Lonsdale diễn ra vào ngày thứ bảy đầu tiên trong tháng. Trong cuộc gặp tiếp theo giữa hai người tại một quán cà phê ở gần rạp hát Old Vie vào thứ bảy, 6-8-1960, H. Houghton đi cùng với cô bạn gái tên là Ethel Gee, cũng là một đồng nghiệp với H. Houghton ở Portland. Vị trí công tác mới của H. Houghton khó có thể tiếp cận được những tài liệu mật nhưng bù lại, Ethel Gee, với vai trò một nhân viên văn phòng kĩ thuật, có khả năng cao hơn nhiều trong việc sao chụp những tài liệu nhạy cảm tại Cơ sở nghiên cứu vũ khí dưới nước của Hải quân Hoàng gia Anh. Ngay lập tức, cả E. Gee cũng bị đặt dưới sự giám sát chặt chẽ.

Thứ sáu, 26-8-1960, các nhân viên phản gián MI5 theo dấu G. Lonsdale tới ngân hàng Midland ở đường Great Portland và nhận thấy người này gửi vào hộp kí gửi an toàn tại ngân hàng một cái hộp nhỏ và một chiếc cặp ngoại giao. Đến chủ nhật, G. Lonsdale nói với một người bạn rằng ông đi Canada rồi biến mất.

Đến ngày 5-9-1960, MI5 bí mật tiến hành kiểm tra các gói đồ G. Lonsdale gửi tại ngân hàng, phát hiện trong chiếc cặp có một chiếc máy ảnh Minox cỡ nhỏ, một cái bật lửa hiệu Ronson đặt trong hộp gỗ, một máy ảnh Praktica cùng các cuộn phim, một cuốn sách dạy đánh máy chữ và một tờ giấy có ghi tên các đường phố London...

Nhân viên kĩ thuật của MI5 dùng tia X chiếu vào cái bật lửa Ronson thì phát hiện dưới đáy có một ngăn nhỏ, bên trong chứa hai bộ mật mã thu nhỏ, trong đó một bộ đang được sử dụng... Các nhân viên MI5 cẩn thận sao chụp lại toàn bộ các hiện vật rồi sau đó trả chúng về chỗ cũ ở ngân hàng. Sau rất nhiều cuộc điều tra lao tâm khổ tứ thì chỉ nhờ vào sự cộng tác bất ngờ của Kẻ bắn tỉa, cuối cùng MI5 cũng đã định vị được một điệp viên mà không nghi ngờ gì nữa, có lẽ chỉ đạo hoạt động cả một mạng lưới điệp báo quan trọng của Liên Xô tại Anh.

Ngày 17-10-1960, G. Lonsdale xuất hiện trở lại và tiếp tục lọt vào tầm ngắm của các nhân viên phản gián MI5. Các sĩ quan phụ trách việc theo dõi G. Lonsdale đã xác định chắc chắn đây là một điệp viên của tình báo Liên Xô hoạt động bất hợp pháp tại Anh và với kinh nghiệm của mình, có thể phát hiện ra các hoạt động đeo bám của phản gián Anh. Bởi thế, MI5 quyết định sử dụng phương thức theo dõi tĩnh, mỗi ngày sử dụng một toán nhân viên theo dõi G. Lonsdale trên một chặng nhất định rồi thôi, ngày hôm sau lại có một toán khác theo dõi ở chặng tiếp theo. Bằng cách này, trong vòng hai tuần lễ, MI5 đã kiên nhẫn theo dấu G. Lonsdale và tới ngày 6-11, xác định được G. Lonsdale tới một căn nhà ở 45 đường Cranley. Căn nhà này thuộc về một cặp vợ chồng người New Zealand có tên là Helen và Peter Kroger, quản lí một tiệm bán sách cổ. Cặp vợ chồng này tới Anh vào tháng 12-1954. Hàng xóm nói rằng cặp vợ chồng này tới từ Canada. Căn nhà cùng vợ chồng người chủ lại tiếp tục nằm dưới sự giám sát chặt chẽ của MI5.

Các đặc vụ MI5 nhận thấy vợ chồng Kroger tới Anh bằng hộ chiếu New Zealand nhưng cả hai nói tiếng Anh với giọng Mỹ, kiểu nhấn trọng âm nặng của người vùng Bronx ở New York. Hộ chiếu New Zealand của họ là thật, được cơ quan lãnh sự New Zealand tại Paris cấp.

Tiến trình theo dõi được tiếp tục cho đến đầu tháng giêng năm 1961 thì CIA thông báo cho MI5 biết rằng Kẻ bắn tỉa, nhận thấy những dấu hiệu nguy hiểm cho thấy phản gián của Liên Xô đã phát hiện ra có nội gián xâm nhập, báo cho CIA biết anh ta sẽ đào thoát sang phương Tây vào ngày 5 tháng giêng năm 1961. Trong khi đó, theo kế hoạch mà MI5 nắm được thì G. Lonsdale và H. Houghton cùng cô bạn gái E. Gee thường gặp nhau vào thứ bảy đầu tiên trong tháng, tức là vào ngày 7-1-1961. Lo ngại vụ đào thoát của Kẻ bắn tỉa có thể đánh động các gián điệp nên MI5 tăng cường giám sát, theo dõi mọi động tĩnh của cả ba đối tượng, đề phòng họ chạy trốn.

Cuối cùng thì MI5 đã tổ chức thành công vụ bắt giữ G. Lonsdale, H. Houghton và E. Gee khi cả ba người gặp nhau tại Lower March, bên ngoài rạp hát Old Vic trên bờ nam sông Thames ở London.

Ngay sau đó, vợ chồng Kroger cũng bị bắt giữ tại căn hộ của họ ở đường Cranley.

MI5 xác định G. Lonsdale, hay diệp viên Lambda 2, chính là Đại tá KGB Konon Trofimovich Molody, con trai một người Ukraine, là một trong những điệp viên quan trọng nhất của tình báo Liên Xô hoạt động bất hợp pháp trên địa bàn Anh quốc ở thời điểm đó. Nhiều chuyên gia trong MI5 nhận định rằng có lẽ K. Molody đã chỉ huy một mạng lưới điệp viên rộng khắp hoạt động tại Anh nhưng vụ bắt giữ K. Molody sớm hơn so với dự kiến đã tạo điều kiện cho một số điệp viên trong mạng lưới này kịp thời trốn thoát.

Đến khi bắt được vợ chồng Kroger, MI5 vẫn không xác định được họ là ai. Chỉ đến khi nhờ có sự trợ giúp của FBI Hoa Kỳ, các nhân viên phản gián MI5 mới ngã ngửa người ra khi biết rằng họ đã vô tình bắt được những điệp viên sừng sỏ của KGB. Đó không phải ai khác mà chính là cặp vợ chồng Morris và Lona (Leontine) Cohen, các điệp viên nguyên tử của tình báo Liên Xô, những người đã góp công cực lớn trong việc đánh cắp các bí mật nguyên tử của Mỹ thời kì trong và sau Đệ nhị thế chiến. Cả hai vợ chồng đã có thời gian hoạt động chung với Đại tá Abel thời kì ở New York trong mười tháng trời, đã hoàn thành những công việc cực kì tinh tế và nhạy cảm liên quan đến việc đánh cắp bí mật chương trình phát triển bom nguyên tử tối mật Manhattan của Mỹ.

Năm 1950, hai người được điệp viên Kim Philby, khi ấy giữ vai trò sĩ quan liên lạc giữa tình báo Anh với tình báo Mỹ, báo động về chương trình giải mã mang mật danh Venona mà CIA đang tiến hành, có thể giúp cho tình báo Mỹ lần ra sự thật về họ. Bởi thế, hai người đã nhanh chóng rời khỏi nước Mỹ và đến năm 1951 thì bị FBI phát lệnh truy nã. Sau nhiều năm bôn ba với các hoạt động khác nhau cho tình báo Liên Xô, hai vợ chồng tới Anh và làm việc trong mạng lưới tình báo do Đại tá K. Molody chỉ huy.

Tại phiên tòa kéo dài 6 ngày diễn ra sau đấy, vào tháng 3-1961, cả năm điệp viên bị bắt trong vụ này, thường được biết đến dưới tên gọi “Đường dây gián điệp Portland”, bị kết án nặng. K. Molody nhận án 25 năm tù, vợ chồng Kroger mỗi người 20 năm tù còn H. Houghton và E. Gee mỗi người bị 15 năm tù.

Cùng với cô bạn gái đào thoát sang Tây Berlin vào đầu tháng giêng năm 1961, Kẻ bắn tỉa cuối cùng cũng đã bộc lộ danh tính. Đó là Michael Goleniewski, Phó Giám đốc Cục thông tin của Cơ quan tình báo quân đội Ba Lan. Một chiếc máy bay của CIA ngay lập tức đưa M. Goleniewski tới căn cứ không quân Andrews ở Washington, nơi anh ta tiếp tục được đưa về Trang trại Ashford, một cơ sở của CIA ở Maryland. Đây là vị trí tuyệt mật trên lãnh thổ Mỹ, nơi tiếp nhận các điệp viên đào thoát từ phía bên kia Bức Màn sắt.

Khi đào thoát sang phương Tây, M. Goleniewski không mang theo mình bất kì tài liệu mật nào mà chỉ có khoảng 300 tấm ảnh anh ta đã chụp các tài liệu ở Warsaw cũng như trạm CIA tại thủ đô Ba Lan. Những tài liệu này đã chỉ rõ rằng có một điệp viên MI6 từng hoạt động ở Berlin là người của KGB. Mặc dù không thể nói chính xác tên nhưng chỉ cần như thế là đủ để phản gián Anh thu hẹp diện điều tra và xác định một người hoàn toàn trùng khớp với mô tả trong tài liệu của M. Goleniewski; đó là George Blake, điệp viên được MI5 đặt bí danh Lambda 1.

+++++

Image

Khi đã có những bằng chứng đủ mạnh để xác thực George Blake là một điệp viên hoạt động cho KGB, vụ việc được Cục An ninh MI5 và Cục Tình báo mật MI6 phối hợp xử lí. Vào thời điểm ấy, George Blake vẫn đang trong khóa học nghiên cứu về Ả Rập tại trường Cao đẳng Trung Đông của Bộ Ngoại giao Anh ở Lebanon. Sau khi tới đây, George Blake nhanh chóng thiết lập mối liên hệ với đại diện của tình báo Liên Xô tại Beirut. Do tập trung toàn bộ thời gian vào khóa học nên George Blake cũng không có nhiều thông tin quan trọng nào để chuyển giao cho phía Liên Xô. Hai bên thống nhất chỉ gặp nhau hai tháng một lần và George Blake được cho một số điện thoại để gọi trong trường hợp khẩn cấp.

Để tránh đánh động người điệp viên, MI6 gửi một bức điện tới Trưởng trạm MI6 của cơ quan này ở Beirut là Nicholas Elliott và đến lượt ông này chuyển nó cho George Blake. MI6 đang tính chuyện sẽ bổ nhiệm George Blake vào một vị trí công tác mới; liệu George Blake có tính chuyện bay về London sau lễ Phục sinh để bàn về chuyện đó không?

Không phải trong George Blake không gợn lên những nghi ngờ khi mà việc triệu hồi về London lại diễn ra đúng vào lúc kì thi tốt nghiệp khóa học đang đến gần. Tuy nhiên, khi gặp và hỏi ý kiến đại diện của tình báo Liên Xô tại Lebanon, George Blake được thông báo rằng Moscow không thấy có lí do gì để cảm thấy người điệp viên của họ đang bị đe dọa. George Blake có thể an tâm quay về London.

Một ngày sau lễ Phục sinh năm 1961, thứ hai ngày 3-4-1961, George Blake về tới London, bước thẳng vào cái bẫy đã được giăng sẵn.

Ngày hôm sau, lúc 10 giờ sáng, theo chỉ dẫn, George Blake tới trình diện ở Ban nhân sự của MI6 trên đường Petty France. Tại đó đã có một người quen cũ của George Blake chờ sẵn. Đó là Harold Shergold, một chuyên gia về Liên Xô của MI6. H. Shergold nói cần thảo luận một số vấn đề liên quan đến công việc của George Blake thời kì ở Berlin. Nhưng thay vì đưa George Blake tới Tổng hành dinh của MI6 ở Broadway, H. Shergold lại đưa George Blake tới tòa nhà của Ban Y trong MI6 ở số 2 Carlton Gardens, nơi trước đấy George Blake từng làm việc. Ở đó đã có thêm hai người nữa, cũng là các chuyên gia về Liên Xô mà George Blake quen biết từ trước.

Các nhân viên MI6, chủ yếu là H. Shergold, bắt đầu tra hỏi George Blake, trước hết là về điệp viên người Đức Horst Eitner, mật danh Mickey, người đã làm việc cho cả tình báo Đức lẫn tình báo Anh và Liên Xô thời kì George Blake hoạt động tại trạm Berlin. Sau khi George Blake rời Berlin và “bàn giao” Mickey lại cho sĩ quan chỉ huy thay thế mình ở MI6 là Johnny Spears, các chuyên gia phản gián Anh, nhờ sự tố cáo của vợ Mickey, đã phát hiện ra hai máy ghi âm nhỏ xíu gắn trong căn hộ của anh này. Theo lời vợ của Mickey thì những máy ghi âm đó là do tình báo Liên Xô gài vào để ghi lại những cuộc trao đổi giữa Mickey với chỉ huy mới người Anh của mình. MI6 muốn nghe lời giải thích vì sao chỉ sau khi George Blake rời khỏi Berlin và bàn giao Mickey lại cho người kế nhiệm, những người chỉ huy tình báo Xô viết của Mickey mới tiến hành gài máy ghi âm nghe lén trong căn hộ của Mickey?

Tiếp đó là những câu hỏi liên quan đến điệp viên Boris mà George Blake đã “tuyển mộ” thành công và điều khiển trong thời gian hoạt động ở Berlin. Nếu Mickey là một điệp viên hoạt động cho phía Xô viết thì Boris chắc hẳn cũng nằm trong một âm mưu chung của KGB nhằm xỏ mũi người Anh?

George Blake phủ nhận tất cả. Ông dĩ nhiên không thể giải thích cho những người thẩm vấn mình vì sao tình báo quân đội Liên Xô lại gài máy ghi âm vào căn hộ của Mickey sau khi ông rời khỏi Berlin. Nếu muốn biết thì phản gián Anh phải hỏi GRU chứ! Còn nếu có những bằng chứng cho thấy Boris là một phần trong kế hoạch của tình báo Liên Xô nhằm tung tin giả đánh lừa người Anh thì hẳn là Mickey đã được phía Liên Xô sử dụng thành công vào mục đích này. Trong hoạt động tình báo, phản gián, tung tin giả, những chuyện như thế vẫn có thể xảy ra với bất kì một ai và điều đó không có nghĩa ông là gián điệp của Liên Xô.

Đến chiều, những người thẩm vấn George Blake tiếp tục đưa ra những bằng chứng cho thấy có một nguồn thông tin ở cấp rất cao trong Cơ quan tình báo Ba Lan đã báo động cho MI6 biết rằng, có những tài liệu tối mật của MI6 đã nằm trong tay tình báo Ba Lan và trong số những người có khả năng tiếp cận các tài liệu này có George Blake. “Làm sao tôi có thể chịu trách nhiệm về việc đó được?” George Blake trả lời.

Hết ngày thẩm vấn đầu tiên, George Blake vẫn được phép quay trở về căn hộ của mẹ mình ở Radlett, nhưng khi ấy ông tin rằng phản gián Anh đã xác định chắc chắn mình làm việc cho tình báo Xô viết. Trong hai ngày tiếp theo đó, George Blake tiếp tục phủ nhận các mối liên hệ với tình báo Xô viết rồi lại tiếp tục được cho về nhà!

Sang đến ngày thứ tư, những người thẩm vấn George Blake chuyển sang một cách tiếp cận khác, chủ yếu về mặt tâm lí. “Chúng tôi biết anh làm việc cho tình báo Xô viết và hiểu rõ lí do vì sao. Trong thời kì bị bắt làm tù binh ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, anh đã bị tra tấn và buộc phải thừa nhận rằng mình là nhân viên tình báo Anh. Từ đó, anh đã bị hăm dọa và ép buộc làm việc cho họ”, nhân viên thẩm vấn của MI6 nói.

Đến lúc đó thì George Blake bất ngờ bình thản thừa nhận rằng ông chính là một điệp viên Xô viết, làm việc vì lí do tư tưởng chứ hoàn toàn không phải do bị ép buộc hay vì những lợi lộc tiền bạc. Những người thẩm vấn nghe lời thừa nhận của George Blake mà không giấu nổi vẻ sửng sốt. Tối đó, một chiếc xe vẫn đưa George Blake về nhà mẹ mình, nơi ông giải thích với mẹ rằng có lẽ mình sẽ phải quay lại Beirut để dự một hội nghị khẩn cấp.

Đến ngày thứ sáu cuối tuần, ngày mà lẽ ra George Blake dự định quay về Beirut, một chiếc xe lại đến nhà đón George Blake tới nơi thẩm vấn ông suốt mấy ngày trước ở số 2 Carlton Gardens. Tại đó đã có H. Shergold, thêm một nhân viên thẩm vấn khác và John Quine, người mà George Blake cũng quen biết khi ông này là Trưởng trạm MI6 ở Tokyo trong thời kì George Blake ở Hàn Quốc. John Quine lúc này là trưởng Nhóm R5, bộ phận phản gián của MI6 có quan hệ rất mật thiết với Cục An ninh MI5. Cả nhóm lên một chiếc xe, có xe của cảnh sát hộ tống cả trước lẫn sau và trực chỉ tới một làng nhỏ ở Hampshire, nơi H. Shergold có nhà nghỉ ở dó.

Trong ba ngày cuối tuần đó, cảnh tượng gần như siêu thực, khi các nhân viên phản gián Anh cùng với George Blake, siêu diệp viên của tình báo Xô viết đã bị phát hiện, trải qua những ngày nghỉ cuối tuần vui vẻ như giữa những người bạn thân thiết. Chỉ có khác một điều là xung quanh khu nhà nghỉ của H. Shergold dày đặc các đặc vụ của cơ quan an ninh Anh. Mỗi khi George Blake cùng các nhân viên thẩm vấn mình đi dạo, một chiếc xe của cảnh sát lừ lừ đi phía đằng sau. George Blake vào bếp làm món bánh kếp - một việc mà ông rất thạo - để chiêu đãi mọi người. Buổi tối, John Quine ở cùng với George Blake và cố gắng tìm hiểu động lực nào đã thúc đẩy George Blake tình nguyện làm việc cho tình báo Xô viết.

Đến chiều chủ nhật, tất cả lại lên xe và quay về London, nơi George Blake được đưa tới một căn nhà rộng rãi ở khu ngoại ô phía tây thành phố. Sáng hôm sau, thứ hai, sau bữa sáng, hai nhân viên và một thanh tra của cơ quan an ninh Anh tới và chính thức bắt giữ George Blake. Các nhân viên an ninh giải George Blake tới Sở Cảnh sát Anh và tuyên bố George Blake bị buộc tội theo Luật bí mật quốc gia của Anh quốc. Từ Sở Cảnh sát, George Blake được đưa tới nhà tù Brixton. Ngày hôm sau, 12-4-1961, Yuri Gagarin, công dân Liên Xô, trở thành người đầu tiên trên thế giới bay vào vũ trụ. Khi đọc thấy tin này trên báo, George Blake cảm thấy một sự an ủi to lớn về mặt tinh thần. Ông tin rằng công việc mình làm đã góp phần cho tiến bộ xã hội và giúp nhân loại trở nên hạnh phúc hơn.

+++++

Ngày 3-5-1961, tại Phòng xử số 1 của Tòa án Anh quốc ở Old Bailey đã diễn ra phiên tòa xét xử George Blake vì tội làm gián điệp cho Liên Xô. Công tố viên buộc George Blake phạm 5 tội trạng theo Luật bí mật quốc gia. Tại phiên tòa, George Blake từ chối nói lời xin lỗi về những gì mình đã làm trong thời gian 9 năm hoạt động gián điệp cho Liên Xô, chuyển giao cho phía Xô viết tất cả những tài liệu mật nào mà ông cảm thấy có giá trị. Theo Luật bí mật quốc gia, mức án tối đa dành cho tội chuyển giao tài liệu bí mật quốc gia trong thời bình là 14 năm tù.

Sau phiên tranh tụng và thảo luận, chánh án phiên tòa, Chủ tịch Tòa hòa giải tối cao nước Anh, Nam tước Parker xứ Waddington, đọc một bài phát biểu ngắn, khẳng định tội trạng mà George Blake phạm phải đã gây những hậu quả hết sức nặng nề cho tình báo Anh nói riêng và nước Anh nói chung. Phải trừng phạt thật nặng!

Cuối cùng, Nam tước Parker xứ Waddington kết án George Blake 42 năm tù, một thời hạn thụ án dài chưa từng có trong lịch sử tư pháp của nước Anh tính cho tới lúc đó!

Sau này có nhiều nguồn tin nói rằng sở dĩ Tòa án Anh kết án George Blake 42 năm tù vì George Blake đã thông báo cho KGB biết về 42 điệp viên phương Tây và cứ mỗi một năm tù tương đương với một điệp viên của phương Tây bị lộ. Nếu đúng là như vậy thì có lẽ tòa án phải kết án George Blake khoảng 400 năm tù vì đó là số điệp viên phương Tây mà George Blake đã mật báo cho KGB.

Sự thực đơn giản hơn nhiều. Tòa cho rằng trong số 5 tội trạng của George Blake, có ba tội trạng George Blake phải chịu hình phạt tối đa 14 năm tù liên tiếp, còn hai tội trạng còn lại thì chịu án đồng thời với các tội trạng kia, vì vậy tổng cộng sẽ là 42 năm tù. Nếu được giảm án ở mức tối đa, thời gian phóng thích sớm nhất sẽ là vào năm 1989, còn nếu thụ án đầy đủ thì thời gian ra tù của George Blake muộn nhất sẽ vào năm 2003.

Khi ấy, George Blake 39 tuổi.

George Blake được đưa tới Wormwood Scrubs, một nhà tù được canh gác cẩn mật nằm ở phía tây London.

+++++

Câu chuyện bắt đầu vào ngày thứ hai đầu tiên của tháng 9 năm 1965, Khi ấy, George Blake thụ án tại nhà tù Wormwood Scrubs đã được hơn 4 năm trong bản án dài dằng dặc 42 năm. Sean Bourke, một tù nhân người Ireland bị kết án 7 năm tù vì tội gửi một quả bom tự chế qua bưu điện cho cảnh sát, đang trong những tháng cuối cùng của thời gian chịu án tại nhà tù Wormwood Scrubs. Trong 2 năm đầu thụ án tại đây, S. Bourke được cử làm ở bộ phận may mặc trong nhà tù, sau đó làm biên tập viên chính của New Horizon, một tờ tạp chí 24 trang đôi ra hằng tháng, mỗi lần có 200 bản, để phân phát cho các tù nhân trong nhà tù Wormwood Scrubs.

George Blake và S. Bourke quen nhau từ 4 năm trước đấy khi hai người cùng tham gia vào khóa học về văn học Anh do trường Đại học Tổng hợp London tổ chức trong nhà tù. George Blake nổi tiếng trong đám tù nhân bởi tác phong điềm tĩnh, biết lắng nghe các bạn tù. Mặc dù chịu một mức án lâu chưa từng có trong lịch sử Anh quốc nhưng George Blake không tỏ vẻ gì là tuyệt vọng. Khác với S. Bourke được đi lại khá tự do trong nhà tù, khi di chuyển ra khỏi khu giam giữ, George Blake luôn có cai ngục kè kè đi theo.

Khi George Blake mới “nhập kho” vào Wormwood Scrubs thì đã có sẵn một điệp viên Liên Xô khác ở đấy. Người đó không phải ai khác chính là Lambda 2, điệp viên G. Lonsdale hay Đại tá K. Molody, người đã bị bắt gần như đồng thời với George Blake trong vụ án “Đường dây gián điệp Portland”. G. Lonsdale bị kết án 25 năm tù và không bao giờ chịu thừa nhận danh tính thật của mình. Trong một lần tình cờ G. Lonsdale gặp George Blake khi đang đi dạo trong nhà tù, chỉ ít lâu trước khi G. Lonsdale bị chuyển đi một nhà tù khác ở miền Bắc nước Anh, G. Lonsdale đã nói với George Blake: “Tôi không biết điều gì sẽ xảy ra nhưng có một điều chắc chắn rằng cả anh và tôi sẽ có mặt trên Quảng trường Đỏ để xem diễu binh nhân 50 năm kỉ niệm Cách mạng Tháng Mười”. Mà dịp kỉ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười sẽ là năm 1967.

Đấy có vẻ như là một lời tiên đoán lạc quan hơn là một khả năng thực tế, nhưng G. Lonsdale đã nói không sai, ít nhất về phần mình. Tháng 4-1964, một chiếc máy bay của không lực Hoàng gia Anh đưa G. Lonsdale từ Anh tới Tây Berlin. Vào lúc 5 giờ rưỡi sáng 22-4-1964, G. Lonsdale, ngồi trên băng ghế sau của một chiếc Mercedes, được đưa tới cửa khẩu Heerstraße nối với Đông Berlin. Tại đó, G. Lonsdale đã được trao đổi với Greville Wynne, doanh nhân người Anh được MI6 sử dụng như một người liên lạc nhận tài liệu mật từ Oleg Penkovsky, điệp viên của Tổng cục Tình báo quân đội Liên Xô GRU tình nguyện làm việc cho phương Tây. Cả hai bị KGB tổ chức bắt giữ và Greville Wynne nhận án 8 năm tù.

George Blake đã thụ án được hơn 4 năm và đối với ông, mức án 42 năm có vẻ như không thực. Trong thời gian đầu, ông vẫn hi vọng là sẽ có điều gì đó xảy ra, như một vụ trao đổi điệp viên với phía Liên Xô chẳng hạn. Tuy nhiên, khi thời gian trôi đi, George Blake nhận thấy rằng một vụ trao đổi như vậy sẽ không xảy ra. G. Lonsdale được KGB tiến hành đàm phán để giải thoát khỏi nhà tù Anh vì là một điệp viên người Ukraine, nhưng George Blake nghĩ mình không có mấy hi vọng được giải thoát theo kiểu đó bởi ông không phải là công dân Liên Xô.

Bởi thế, ông quyết định rằng đã đến lúc tự giải cứu mình bằng cách vượt ngục, với sự giúp đỡ của S. Bourke!

Vào cái hôm thứ hai ấy, George Blake gặp S. Bourke khi đi dạo trong khoảng thời gian ngắn ngùi trước giờ ăn trưa của tù nhân. Trong lúc chỉ có hai người với nhau, George Blake nói rằng có một đề nghị với S. Bourke, mà nếu như không chấp thuận thì Sean Bourke cứ coi như chưa hề nghe thấy đề nghị đó.

Khi nghe thấy lời đề nghị giúp đỡ của George Blake, S. Bourke sửng sốt. George Blake nói S. Bourke có thể suy nghĩ trong vài ngày trước khi trả lời nhưng S. Bourke không cần nhiều thời gian đến thế. Gần như ngay lập tức, S. Bourke đồng ý với đề nghị của George Blake. Ngoài lí do yêu mến George Blake với tư cách một tù nhân hoạt động vì lí tưởng, S. Bourke nhận lời giúp George Blake còn bởi vì đó là một hành động phản kháng lại chính quyền đã kết án George Blake với mức án cao đến mức không tưởng.

Trong nhiều tháng sau đó, hai người mất nhiều thời gian gặp gỡ và bàn bạc kĩ lưỡng để vạch ra các kế hoạch khác nhau cho cuộc vượt ngục. Cuối cùng, có 3 phương án được chọn:

A - Tổ chức vượt ngục trong thời gian diễn ra buổi chiếu phim vào tối thứ bảy hằng tuần ở khu D trong nhà tù.

B - Phá một cửa sổ trên tường trên đường đến thư viện vào chiều thứ bảy.

C - Phá một cửa sổ trên bức tường phía bắc nhà tù trong khi các tù nhân khác đang ở chỗ của họ vào chiều chủ nhật.

Điểm mấu chốt của cả ba phương án này là S. Bourke, từ bên ngoài tường nhà tù, phải ném được vào bên trong một chiếc thang dây.

Sau khi S. Bourke ra tù, liên lạc giữa hai người sẽ thông qua các bức thư gửi cho Peter Martin, một bạn tù người London đang chịu án 6 năm tù ở Wormwood Scrubs.

Cả hai tính toán rằng để thực hiện kế hoạch sẽ phải tiêu tốn khoảng 700 bảng và George Blake quyết định rằng một khi đã ra khỏi nhà tù, S. Bourke sẽ tới gặp mẹ của George Blake để lấy số tiền đó. George Blake sẽ khôn khéo thông báo cho mẹ mình biết ý định vượt ngục khi bà tới thăm George Blake trong lần thăm tiếp theo. Để cho mẹ của George Blake có thể tin tưởng vào S. Bourke, George Blake lấy tấm ảnh đứa con trai ba tuổi của mình đang chơi trong một khu vườn mà ông được phép mang theo vào trong phòng giam, cắt đôi nó ra và đưa một nửa cho S. Bourke. Nửa còn lại của tấm ảnh, George Blake khéo léo chuyển cho mẹ mình trong một lần bà tới thăm George Blake ở nhà tù.

Trước khi mãn hạn tù một thời gian, S. Bourke được hưởng chế độ tự giác, chuyển tới ở khu kí túc xá trong nhà tù, nơi ban ngày anh ta có thể ra bên ngoài làm một công việc bình thường gì đó, đến tối quay trở lại nhà tù. Trong thời gian này, S. Bourke đã thu xếp có những cuộc gặp với mẹ của George Blake, rồi sau đó với chị gái của George Blake nhằm kiếm được 700 bảng dể thu xếp cho cuộc vượt ngục. Tuy nhiên, mẹ và chị gái George Blake không dồng ý với kế hoạch do S. Bourke trình bày và cũng không chi 700 bảng như S. Bourke yêu cầu.

Để có thể duy trì liên lạc thường xuyên với George Blake mà không mất thời gian cho những lá thư qua lại, S. Bourke tìm mua được hai chiếc máy bộ đàm, sau đó thông qua Peter Martin để người này chuyển cho George Blake. Thậm chí S. Bourke còn chuyển được cho Peter Martin một chiếc máy ảnh nhỏ xíu cùng ba cuộn phim để có thể chụp ảnh chân dung George Blake, chuẩn bị cho việc làm hộ chiếu sau này!

Tất cả đã đầy đủ, chỉ thiếu 700 bảng để mua quần áo, một chiếc xe cũ và thuê một căn hộ cho George Blake ẩn náu sau khi thoát khỏi nhà tù.

Tháng 11-1965, S. Bourke ra tù và bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị đã bàn bạc kĩ với George Blake từ trước, S. Bourke tìm thuê được một căn hộ nhỏ chỉ cách nhà tù khoảng 5 phút di bộ, dùng tiền mình được trả trong thời gian lao động trong nhà tù mua một chiếc xe cũ hiệu Humber Hawk đời 1955 với giá 60 bảng. Không chỉ thiếu khoản tiền để mua những vật dụng cần thiết dùng cho vụ vượt ngục, cả S. Bourke và George Blake đều hiểu rằng còn cần đến sự giúp dỡ của những người khác nữa bởi sau khi vượt ra khỏi những bức tường nhà tù, George Blake phải ẩn náu đâu đó một thời gian rồi sau đó mới tìm cách thoát khỏi nước Anh. Một mình S. Bourke không thể làm được điều đó, ấy là chưa kể sau khi giúp George Blake vượt ngục, hoàn toàn có khả năng là cảnh sát Anh sẽ lần ra vai trò của S. Bourke trong vụ này và khi ấy, bản thân anh ta cũng trở thành đối tượng tầm nã của cảnh sát.

George Blake lập tức nhớ đến hai người bạn mình đã quen trước đó trong tù. Quãng tháng 5-1962, George Blake gặp Michael Randle và Pat Pottle, hai thành viên Ủy ban 100, một tổ chức chống chiến tranh theo đường lối phi bạo động được thành lập năm 1960 tại Anh. Hai người bị bắt và kết án 18 tháng tù tại nhà tù Wormwood Scrubs sau một cuộc biểu tình hòa bình tại căn cứ không quân Mỹ ở Wethersfield, cả hai đều tỏ ra cảm thông với hoàn cảnh của người điệp viên, đặc biệt phẫn nộ với mức án 42 năm tù mà George Blake phải chịu, coi đó là một án tù tàn nhẫn và phi nhân tính. Trong một dịp hiếm hoi chỉ có ba người với nhau, Michael Randle và Pat Pottle nói rằng nếu như có ý định chạy trốn, George Blake có thể trông chờ vào sự giúp đỡ của họ. Sau khi ra tù, hằng năm, hai người vẫn gửi thiệp mừng Giáng sinh vào trong tù cho George Blake.

Thế nên vừa ra khỏi nhà tù, S. Bourke lập tức bắt liên lạc với Michael Randle và Pat Pottle. Cả hai nhanh chóng nhận lời giúp đỡ, trước hết phải kiếm một khoản tiền để trang trải cho vụ vượt ngục.

S. Bourke dùng dây nilon bện xong một chiếc thang dây được gia cố thêm những thanh chống để nó không bị chùng khi có người trèo lên.

Những sự cố thỉnh thoảng xảy ra như việc cảnh sát tăng cường tuần tra sau các vụ vượt ngục lẻ tẻ hoặc bắn cảnh sát đã khiến thời gian chuẩn bị tỉ mỉ kéo dài trong suốt gần một năm trời. Đến giữa tháng 9-1966, S. Bourke xin thôi công việc đang làm và quay trở về quê hương Ireland.

Ba tuần sau, S. Bourke quay lại dưới một cái tên giả, trong vai phóng viên tự do và thuê một căn hộ đã chọn từ trước. Đó sẽ là nơi George Blake dùng để ẩn náu. Qua liên lạc bộ đàm, S. Bourke và George Blake thống nhất tiến hành cuộc vượt ngục vào tối thứ bảy, 22-10-1966. Giờ khởi sự sẽ là 6 giờ 15 phút tối, khi hầu hết tù nhân trong nhà tù được phép ra khỏi phòng giam để tập trung xem phim.

+++++

Tại nhà tù Wormwood Scrubs, các tù nhân đang thụ án được phân chia vào 4 khối nhà đánh dấu lần lượt là A, B, C, D. Cổng chính nhà tù hướng ra đường Du Cane, còn bên hông nhà tù, gần với khối nhà D nơi George Blake bị giam giữ là đường Artillery, vuông góc với đường Du Cane. George Blake và S. Bourke thống nhất là George Blake sẽ phá chấn song cửa sổ theo phong cách giả kiểu Gothic nằm trên một bức tường trong khối nhà D, chui qua cửa sổ ra ngoài rồi chờ S. Bourke ném thang dây qua bức tường nhà tù phía đường Artillery, S. Bourke sẽ đỗ xe chờ sẵn ở đó, đối diện với cổng bên của bệnh viện Hammersmith, trong tay cầm một bó hoa làm như thể đang chờ để thăm ai đó trong bệnh viện. George Blake thống nhất với hai người bạn M. Randle và P. Pottle là S. Bourke sẽ không mang theo vũ khí cũng như không hành động bạo lực trong bất kể tình huống nào.

Vào quãng gần 5 giờ chiều ngày 22-10-1966, trời bỗng đổ mưa tầm tã và kéo dài suốt mấy giờ đồng hồ sau đó, tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho cuộc vượt ngục.

Đúng 6 giờ 15 phút tối, George Blake bật máy bộ đàm liên lạc với S. Bourke và được thông báo hãy khởi sự kế hoạch. Với sự giúp đỡ của một người bạn tù, chỉ trong vòng 3 phút đồng hồ, chấn song của cửa sổ đã bị bẻ cong, nong ra đủ rộng để George Blake có thể chui lọt ra ngoài. George Blake thận trọng di chuyển một đoạn trên gờ tường rồi dễ dàng bám theo ống máng nước, tụt xuống đất, ẩn vào một hốc tường. Bật máy bộ đàm trở lại, George Blake liên lạc với S. Bourke và được thông báo rằng phải chờ một lúc vì có sự cố! Thời gian cứ trôi đi trong khi mưa càng nặng hạt.

Ở bên ngoài tường nhà tù, đúng vào lúc S. Bourke đỗ chiếc xe ở vào vị trí đón George Blake thì có một chiếc xe, có lẽ của người tuần đêm, dừng lại trước mũi xe của anh ta và quan sát với vẻ dò xét. Không có cách nào khác, S. Bourke buộc phải đánh xe rời đi, làm một vòng quanh nhà tù. Đến khi quay lại, chiếc xe của người tuần đêm đã rời đi, nhưng thay vào đó là một chiếc xe khác, trong đó có một đôi nam nữ đang âu yếm nhau! Lại phải tiếp tục chờ đợi, trong khi thời gian cứ trôi và giọng George Blake thúc giục khẩn thiết trong bộ đàm. Đã 6 giờ 40 phút tối. Buổi chiếu phim sắp kết thúc, các tù nhân chuẩn bị quay về phòng giam và đội tuần tra nhà tù có thể phát hiện ra sự vắng mặt của George Blake bất cứ lúc nào.

Không có cách nào khác, S. Bourke ra khỏi xe và đứng nhìn chằm chằm vào đôi nam nữ đang âu yếm nhau trong cabin xe của họ. Đôi nam nữ có vẻ không thấy thoải mái nên lái xe rời đi. Tiếp đó, lại có thêm hai chiếc xe nữa tới đỗ trên phố nhả ra mấy người khách khiến cho S. Bourke không sao có thể bắt đầu công việc theo kế hoạch được.

Chỉ đến khoảng 7 giờ kém 10 phút tối, khi mà George Blake, ở chỗ nấp của mình trong hốc tường, có thể nghe thấy tiếng xôn xao của những tù nhân đầu tiên từ chỗ xem phim quay trở về phòng giam, đường Artillery mới vắng lặng đôi chút trong cơn mưa và S. Bourke lái chiếc xe của mình đến sát bức tường nhà tù. Để thu ngắn bớt khoảng cách với chiều cao bức tường, S. Bourke leo lên nóc chiếc ô tô của mình và thận trọng tung chiếc thang dây qua bức tường.

Ở phía trong, đúng lúc George Blake có thể nghe thấy tiếng chuông đóng cửa các phòng giam, tiếng điểm danh các tù nhân và gần như từ bỏ hẳn hi vọng thì nhìn thấy chiếc thang dây vắt qua bức tường. Ông bỏ chiếc máy bộ đàm vào chiếc túi ướt sũng nước rồi lom khom chạy bổ tới chỗ chiếc thang dây, cố gắng tránh tầm mắt từ ụ quan sát của lính canh nhà tù ở đầu chót bức tường phía xa. George Blake dễ dàng bám vào chiếc thang dây, leo lên tới đỉnh bức tường, vượt qua rồi bám vào thang dây bên kia tường trong khi S. Bourke ghì chặt đầu thang dây.

Căng thẳng vì lo lắng một chiếc ô tô bất chợt có thể rẽ vào đường Artillery bất cứ lúc nào và đèn pha của nó sẽ làm bại lộ hai kẻ âm mưu vượt ngục, S. Bourke hối thúc George Blake: “Nhanh lên! Nhảy xuống đi!”.

George Blake làm theo. Trong khi buông người xuống khỏi thang dây, ông cố tránh không để rơi thẳng vào người S. Bourke vì có thể làm anh ta bị thương. Bởi thế nên cú tiếp đất không hoàn hảo lắm. Đầu của George Blake đập xuống nền lớp sỏi rải đường, trong khi tay trái ông đau nhói. Trong chốc lát, S. Bourke dìu George Blake vào ngồi ở ghế sau chiếc xe còn anh ta lên ghế trước nổ máy. Máu chảy tràn ra trên mặt George Blake và ông dùng khăn tay lau bớt đi. Đúng lúc ấy, một chiếc xe bật đèn pha sáng quắc rẽ vào đường Artillery. Nếu nó đến sớm chỉ vài giây thôi là đã có thể nhìn thấy hai kẻ đào tẩu bên bức tường nhà tù. Từ từ lấy lại bình tĩnh sau khi những giây phút căng thẳng nhất đã qua đi, S. Bourke lái xe ra khu ngoại ô và dừng lại gần ngôi nhà 3 tầng số 28 đường Highlever. Đó là nơi George Blake sẽ tạm thời ẩn náu trong khi tìm một chỗ trú ẩn mới.

Hơn một tiếng đồng hồ sau, bản tin thời sự trên truyền hình lúc 9 giờ tối bị ngưng đột ngột rồi một bức ảnh chân dung to tướng của George Blake hiện ra trên màn hình. Tiếp đó là một thông báo khẩn cấp của nhà chức trách Anh về vụ vượt ngục ở nhà tù Wormwood Scrubs. Bắt đầu một chiến dịch săn lùng George Blake cùng với đồng phạm giúp vượt ngục. Tất cả các nhà ga, bến tàu, sân bay đều bị phong tỏa và kiểm soát gắt gao. Sứ quán của các quốc gia nằm bên kia Bức Màn sắt bị đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt. Một trong những cuộc tầm nã tù vượt ngục lớn nhất trong lịch sử nước Anh dưới sự điều hành của cảnh sát và phản gián Anh diễn ra trên phạm vi toàn quốc.

+++++

Ngày hôm sau, cánh tay bị gãy của George Blake sưng tấy, gây nhức nhối, vết thương có nguy cơ trở nên nghiêm trọng hơn nhiều, S. Bourke gọi điện cho người bạn Michael Randle của George Blake, thuật lại tình hình. Tối hôm ấy, Michael xuất hiện ở chỗ George Blake cùng với một người bác sĩ. Không hỏi một lời, người bác sĩ tiêm cho George Blake mũi giảm đau, nắn rồi bó bột cố định chỗ xương bị gãy. Trong khi ấy, vợ của Michael là Anne và người bạn Pat Pottle cũng tới ngôi nhà nơi George Blake đang ẩn náu. Cả ba thống nhất là cần phải chuyển George Blake tới một ngôi nhà khác, an toàn hơn. Hai hôm sau, George Blake được chuyển tới ngôi nhà vợ chồng một người bạn của Michael trên đường Cromwell, trong khi S. Bourke vẫn ở lại ngôi nhà số 28 đường Highlever.

George Blake không ở lại lâu được tại ngôi nhà trên đường Cromwell bởi vợ chồng người chủ nhà quá căng thẳng khi phải chứa chấp trong nhà một người tù vượt ngục. Bàn đi tính lại, cuối cùng những người bạn của George Blake quyết định rằng nơi ẩn náu lâu dài của ông chính là căn hộ của Pat Pottle trên đường Hampstead và chuyển người tù vượt ngục tới đó. Đến ngày 7-11, S. Bourke, lúc này cũng đã bị thông báo truy nã, ảnh chân dung xuất hiện đầy trên báo, tới chỗ căn hộ của Pat Pottle và ở lại đó cùng George Blake.

Tất cả bắt đầu bàn luận phương thức làm thế nào để đưa George Blake - và cả S. Bourke - ra khỏi nước Anh. Thoạt đầu, xuất hiện một ý tưởng là sẽ hóa trang George Blake thành một người Ấn Độ hoặc Ả Rập rồi ra đi với một cái hộ chiếu giả. Để thực hiện điều này, cần phải cho George Blake uống loại thuốc tên là meladinin trong khoảng thời gian 6 tuần để có thể làm thay đổi các sắc tố da, đồng thời thường xuyên dùng đèn tử ngoại chiếu để George Blake có nước da sẫm màu trong một thời gian. Hộ chiếu giả thì S. Bourke sẽ liên hệ với bạn bè anh ta trong thế giới ngầm để mua. Các bạn của George Blake đã mua thuốc và đèn chiếu tia tử ngoại, nhưng George Blake có vẻ không thích ý tưởng này cho lắm, bởi ông không tin là mình sẽ lấy lại được nước da ban đầu! Cuối cùng, phải hủy bỏ kế hoạch này bởi với tình trạng đang bị truy nã gắt gao, hầu như S. Bourke chắc chắn sẽ bị phát hiện nếu anh ta liên hệ với các đầu mối để tìm mua hộ chiếu giả.

Tiếp đó, lại có ý kiến đề xuất George Blake chạy vào sứ quán Liên Xô tại Kensington Gardens ở London rồi xin tị nạn chính trị ở đó. Một lần nữa, George Blake bác bỏ kế hoạch này. Ông không muốn mình đã trốn thoát khỏi nhà tù Wormwood Scrubs rồi lại sống suốt phần đời còn lại trong cảnh bị giam hãm ở sứ quán Liên Xô.

Cuối cùng, các bạn của George Blake đi tới một ý tưởng mà bản thân George Blake cũng thấy khả dĩ có thể chấp nhận được. Họ sẽ giấu George Blake trong ngăn bí mật trên một chiếc xe rồi tự mình lái xe đưa ông tới một quốc gia khác, nơi George Blake sẽ được an toàn.

Câu hỏi tiếp theo là vậy thì George Blake sẽ đi đâu? George Blake muốn tới Ai Cập, nơi ông có gốc gác và họ hàng ở đó, nhưng xem ra thì tới đó quá xa và cực kì phức tạp. Nam Tư gần hơn nhưng phải đi qua rất nhiều đường biên giới. Thụy Sĩ tuy là quốc gia trung lập nhưng cũng bị loại bỏ ngay bởi ai cũng biết về mối quan hệ khá mật thiết giữa Cục Tình báo mật MI6 với Cơ quan An ninh Sureté của nước này. Cuối cùng chỉ có Đông Đức là thích hợp hơn cả, bởi đó là nơi gần nhất mà George Blake có thể an toàn, cũng là nơi ông thông tỏ đường đi lối lại vì có một thời gian dài hoạt động tại trạm MI6 ở Berlin.

Những người bạn của George Blake không hề muốn mình dính dáng vào vụ việc mà sau này có thể bị quy kết là đã liên hệ với một tổ chức hay chính phủ ở phía bên kia Bức Màn sắt để thực hiện chiến dịch bí mật liên quan đến một điệp viên. Tất cả những gì họ làm để giải cứu George Blake chỉ dựa trên cơ sở căn bản là tính nhân đạo giữa người với người. Bởi thế nên George Blake thỏa thuận là nếu thoát được về tới lãnh thổ Cộng hòa dân chủ Đức, họ sẽ để ông lại gần trạm gác ngoại ô Berlin rồi quay lại vùng lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của các nước phương Tây. Sẽ không có bất kì một sự tiếp xúc nào giữa những người bạn của George Blake với nhà chức trách bên kia Bức Màn sắt. Phương án này được tất cả chấp nhận.

Vấn đề còn lại là S. Bourke sẽ đi đâu, bởi chắc chắn rằng người đàn ông này, trong tình trạng bị truy nã gắt gao do có liên quan tới việc giúp George Blake vượt ngục, sẽ không thể cứ ẩn nấp mãi được. Do cá tính bốc đồng, lại ham uống rượu, hầu như chắc chắn S. Bourke sẽ sớm rơi vào tay cảnh sát. Sau khi xác định được vai trò của S. Bourke trong vụ giải cứu George Blake, cảnh sát đã tới thẩm vấn mẹ của S. Bourke đang ở Ireland. Khả năng S. Bourke có thể lẩn trốn ở Ireland hầu như là không thể.

Cuối cùng, George Blake gợi ý rằng S. Bourke sẽ cùng ông tới Liên Xô và ở lại đó, chờ cho đến khi những tin tức về vụ vượt ngục dần lắng xuống, S. Bourke thoạt đầu phản đối ý tưởng này, nhưng rồi phải miễn cưỡng đồng ý, lí do bởi nếu anh ta bị bắt thì chắc chắn sẽ bị thẩm vấn và nếu bị tiêm thuốc “sự thật” thì kiểu gì anh ta cũng sẽ phải khai ra những người bạn của George Blake.

Nhưng S. Bourke sẽ không thoát ra khỏi nước Anh theo cùng phương thức trốn trong ngăn bí mật trên xe ô tô như George Blake, S. Bourke có ngoại hình to lớn hơn George Blake nhiều và chắc chắn anh ta không thể nào chịu đựng nổi khi phải chui vào trong một cái hòm tối đen, chật chội trong tám hay chín tiếng đồng hồ liền, là quãng thời gian cần thiết để đi từ London tới Ostend trên lãnh thổ Bỉ. Pat Pottle nói có khả năng sử dụng một tấm hộ chiếu đã quá hạn của mình, thay thế ảnh mình bằng anh của S. Bourke. Dự kiến khoảng một tuần lễ sau khi George Blake đã tới Đông Berlin an toàn, S. Bourke sẽ đi xe lửa từ London tới Paris. Từ thủ đô nước Pháp, S. Bourke sẽ bay tới Tây Berlin và dùng hộ chiếu thật của mình qua điểm kiểm soát Charlie để sang Đông Berlin, nơi George Blake thu xếp để đón anh ta một cách chu dáo.

Quá trình làm tấm hộ chiếu giả cho S. Bourke diễn ra một cách suôn sẻ; S. Bourke có một tấm hộ chiếu giống thật không chê vào đâu được.

+++++

Michael Randle và Pat Pottle mua một một chiếc xe bán tải thùng kín hiệu Dormobile, vốn vẫn thường dùng để chở các gia đình ở châu Âu đi du lịch đường dài. Hai người nhờ những người bạn có đủ kĩ năng đóng một ngăn chứa bí mật nằm bên dưới giường ngủ ở phía sau cái tủ nhà bếp nhỏ trên khoang sau của chiếc Dormobile. Toàn bộ chi phí dành cho việc mua chiếc xe cũng như công tác chuẩn bị đều do những người bạn của hai người đóng góp.

Với việc Michael Randle là người duy nhất có bằng lái xe còn hiệu lực, anh ta sẽ đảm nhiệm việc lái chiếc xe đưa George Blake đi. Cô vợ Anne sẽ đi cùng. Hai người cũng quyết định mang theo hai đứa con trai, một đứa hai tuổi, một đứa ba tuổi. George Blake thoạt đầu không đồng ý vì điều đó có thể gây nguy hiểm cho cả gia đình Michael và hai đứa con nhỏ, nhưng hai vợ chồng ra sức thuyết phục rằng việc mang theo hai đứa con sẽ khiến cho mọi việc trở nên bình thường và đó là cách tối ưu nhất để họ an toàn, còn George Blake có thể thoát ra khỏi nước Anh.

Tất cả thống nhất thời gian khởi hành vào thứ bảy, 17-12-1966. Đấy là quãng thời gian gần lễ Noel, lưu lượng người đi lại tăng lên đáng kể và tất cả hi vọng rằng các biện pháp kiểm soát ngặt nghèo được thực hiện trên toàn lãnh thổ nước Anh sau vụ vượt ngục của George Blake sẽ lơi lỏng chút ít.

Mà thật ra thì sau gần hai tháng tiến hành một trong những chiến dịch tầm soát có quy mô lớn nhất trong lịch sử thực thi pháp luật của Anh, các nhân viên cơ quan phản gián cũng như cảnh sát Anh quốc đã có thái độ hầu như buông xuôi. Lí do căn bản là họ càng ngày càng tin rằng vụ vượt ngục là kết quả của một trong những chiến dịch do KGB tiến hành tổ chức một cách kĩ lưỡng, chuyên nghiệp, chứ không thể do những tay mơ thực hiện chỉ với lí do là có cảm tình với George Blake. Theo suy đoán này thì một khi KGB đã nhúng tay vào thực hiện vụ giải cứu thì hoàn toàn có khả năng họ đã thành công trong việc đưa George Blake ra khỏi nước Anh. Mà nếu George Blake đã ra khỏi nước Anh rồi thì kiểm soát chặt chẽ các cửa khẩu, các đường biên giới làm gì nữa!

Đó cũng là một lợi thế cho những người tổ chức cuộc vượt ngục.

Vào lúc 6 rưỡi sáng ngày 17-12-1966, cả gia đình Michael đi trên chiếc xe bán tải thùng kín tới nhà Pat đón George Blake rồi sau bữa sáng từ biệt, cả nhóm xuất phát. George Blake chui vào trong ngăn chứa bí mật giống như một cái ngăn kéo rồi vợ chồng Michael hạ chiếc giường của bọn trẻ con lên trên. Trước khi George Blake chui vào chỗ ẩn nấp, Michael đưa cho George Blake một cái chai cao su. Mặc dù hạn chế uống nước nhưng vì George Blake sẽ phải nấp trong đó gần 9 tiếng đồng hồ, thế nên George Blake có thể dùng cái chai để đi tiểu. Ngay sau khi hạ giường xuống, Anne đưa hai đứa trẻ nằm lên trên.

Thoạt đầu, George Blake cảm thấy khá thoải mái trong cái “ngăn kéo”, thế nhưng xe càng đi, ông càng cảm thấy khó thở. Rắc rối chính là cái chai cao su. Trong không gian hết sức chật hẹp của chỗ nấp, mùi cao su tỏa ra khiến George Blake cảm thấy buồn nôn và ngạt thở. Chịu đựng được một thời gian, cảm thấy sắp ngất đến nơi, George Blake buộc phải gõ báo động, vốn đã được thỏa thuận trong trường hợp khẩn cấp. Michael đỗ xe ở một con đường vắng vẻ gần bến cảng Dover. Bọn trẻ con được Anne đưa lên ghế trước, trùm chăn, trong khi Michael mở “ngăn kéo” để George Blake lóp ngóp chui ra. Ông vứt cái chai cao su đi, hít thở không khí trong lành bên ngoài một lúc, lấy lại sức lực rồi chui trở lại cái “ngăn kéo”.

Xe chạy đến cửa khẩu Dover trên đất Anh trước khi xuống phà biển để qua đất Bỉ. Các nhân viên cửa khẩu kiểm tra hộ chiếu của nhà Michael rồi ra hiệu cho xe xuống phà. Khoảng một tiếng rưỡi sau, phà cập bến Ostend trên đất Bỉ và một lần nữa, các nhân viên kiểm soát cửa khẩu của Bỉ dễ dàng cho gia đình Michael cùng với chiếc xe có chứa “kiện hàng” trong “ngăn kéo” bí mật, nhập cảnh vào Bỉ. Chặng nguy hiểm nhất của hành trình đã qua.

Sang đến lãnh thổ Bỉ, khi không còn nguy hiểm nữa, George Blake có thể chui ra khỏi chỗ nấp, ngồi trò chuyện với vợ chồng Michael và chơi đùa với hai đứa nhỏ. Bọn trẻ chẳng hề tỏ vẻ ngạc nhiên khi có một vị khách không biết từ đâu ra bỗng dưng xuất hiện trên xe.

Tới biên giới giữa Bỉ và Tây Đức, George Blake lại chui vào trong “ngăn kéo” bí mật. Việc kiểm tra hộ chiếu diễn ra nhanh chóng và chỉ chừng mười lăm phút sau, George Blake lại có thể chui ra khỏi chỗ nấp. Trong suốt cả ngày chủ nhật, xe chạy trên lãnh thổ Tây Đức và tới 8 rưỡi tối, đã tới biên giới giữa Tây Đức và Đông Đức, gần Helmstedt. Một lần nữa, George Blake lại chui vào chỗ ẩn náu bí mật của mình. Việc kiểm soát giấy tờ diễn ra suôn sẻ và chỉ ít phút sau, chiếc xe đã chạy trên lãnh thổ Đông Đức.

Khi xe đến gần trạm kiểm soát vào Đông Berlin hôm 19-12-1966 thì Michael dừng lại. Michael đã lái xe không ngừng nghỉ suốt hơn 24 giờ đồng hồ. Đã đến lúc chia tay. Michael và Anne cùng với hai đứa con của họ để George Blake lại ở bên đường, trong bóng đêm rồi tiếp tục lái xe đi. Còn George Blake bước đến điểm kiểm soát, không có bất cứ một thứ giấy tờ nào trong túi.

Lẽ dĩ nhiên là những người lính gác biên phòng Đông Đức rất ngạc nhiên khi thấy một người đàn ông lạ mặt không giấy tờ tùy thân xuất hiện trước mặt họ, tự giới thiệu tên là George Blake và yêu cầu được gặp nhà chức trách Xô viết. Họ bố trí cho George Blake một cái giường nghỉ qua đêm ngay trong trạm kiểm soát.

Sáng hôm sau, trong khi George Blake đang ăn sáng thì có ba người đàn ông mở cửa phòng bước vào. Một người trong số họ nhìn thấy George Blake thì kêu toáng lên: “Chính anh ấy đây rồi! Chính anh ấy đây rồi!”, rồi lao bổ đến ôm chầm lấy George Blake. Đó chính là Vassili, người mà George Blake đã nhiều phen đi dạo cùng ở khu ngoại ô London. George Blake cũng vô cùng ngạc nhiên, không hiểu làm sao mà người điệp viên KGB lại có thể vượt qua một chặng đường dài ngay trong đêm, từ Moscow tới ngay điểm kiểm soát ở Đông Berlin này để gặp ông. Nhưng hóa ra chỉ là một sự tình cờ: Vassili có một cuộc họp ở Đông Berlin, vừa định quay về Moscow thì sếp trạm KGB gọi anh ta lại, nói có một người đàn ông tự xưng là George Blake xuất hiện ở trạm kiểm soát; anh ta có thể tới ngay để nhận dạng không.

Hai tuần sau đó, George Blake gặp lại S. Bourke. Anh ta đã thực hiện đúng lộ trình như đã vạch ra trước đó và tới Đông Berlin một cách suôn sẻ. Sau đó, trên hai chuyến máy bay quân sự riêng rẽ, KGB bố trí cho hai người bay về Moscow.

Con sư tử George Blake trên chiến trường điệp báo đã vượt qua muôn trùng vây để quay về với rừng rậm.

+++++

Image
Image

Tuy nhiên, một thời gian sau khi về đến Moscow, quan hệ giữa George Blake với S. Bourke rạn nứt và tiến tới gần như đổ vỡ, chủ yếu do tính cách của S. Bourke. Anh ta không tài nào thích nghi được với cuộc sống ở Liên bang Xô viết vào thời kì đó, nơi mà mỗi bước đi của những người nước ngoài đều bị giám sát chặt chẽ và hàng hóa thì cực kì khan hiếm. Hai năm sau, với sự giúp đỡ của KGB cùng với người anh trai Kevin, S. Bourke quay trở lại quê hương Ireland, nơi anh ta cùng các luật sư đấu tranh thành công trong việc chống lại một lệnh dẫn độ từ phía Anh do vai trò của mình trong việc giúp George Blake vượt ngục.

Sau này, Tướng KGB Oleg Kalugin đưa ra một thuyết âm mưu rằng S. Bourke bị KGB cho vào trong cơ thể một loại thuốc có tác dụng hủy hoại não dần dần. Tuyên bố này của O. Kalugin không bao giờ được kiểm chứng.

Ngày 26-1-1982, S. Bourke bị đột quỵ trong khi đang đi trên một con phố ở Kilkee, khu nghỉ dưỡng ven biển ở Ireland, S. Bourke được đưa tới bệnh viện, ngày hôm sau thì qua đời bởi chứng phù phổi, suy tâm thất trái và nghẽn động mạch vành. Lệnh bắt giữ của nhà chức trách Anh đã không làm gì được S. Bourke, nhưng thói quen uống rượu vô độ đã bắt kịp anh ta ở tuổi 49.

Khi đã an toàn tại Moscow, điệp viên Diomid - George Blake dường như đã chấm dứt những tháng năm hoạt động sôi động nhiều thăng trầm trong vai trò của một trong những điệp viên nhị trùng vĩ đại nhất thời kì Chiến tranh Lạnh. Các hoạt động tình báo cũng như vụ vượt ngục thần kì của George Blake biến ông trở thành huyền thoại trong giới điệp báo quốc tế ngay từ khi còn sống. Người Xô viết đối xử với ông như một anh hùng. George Blake được Liên Xô trao tặng Huân chương Lenin của Nhà nước và Huân chương Cờ đỏ của Hồng quân, đều là những huân chương cao quý nhất của Liên bang Xô viết dành cho những ai đã cống hiến và can đảm trong công cuộc bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người Anh cực kì giận dữ trước những phần thưởng này dành cho George Blake bởi trong lịch sử dài lâu của tình báo Anh, ít có điệp viên nhị trùng nào gây tổn thất lớn về tài nguyên và nhân sự cho họ như Diomid!

Sau khi trở về từ Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, George Blake yêu một cô gái xinh đẹp tên là Gillian Allan, cũng làm việc trong Cục Tình báo mật MI6, là thư kí văn phòng nơi George Blake làm việc. Năm 1954, hai người làm lễ cưới tại nhà thờ Thánh Peter và Thánh Thomas ở quận Marylebone, London. Khi George Blake bị bắt năm 1961, Gillian Allan đang mang thai đứa con thứ ba. Ngay cả khi George Blake đã thụ án tại nhà tù Wormwood Scrubs, Gillian vẫn tiếp tục vào thăm George Blake trong 5 năm sau đó. Nhưng điều không tránh khỏi đối với một người tù chịu mức án 42 năm cũng phải diễn ra: Hai người li dị. Khi thoát khỏi nhà tù ở Anh, George Blake là một người đàn ông độc thân.

Mùa xuân năm 1968, trong một chuyến đi dã ngoại bằng tàu trên sông Volga, George Blake gặp một cô gái Nga tên là Ida. Hai người nhanh chóng rơi vào vòng tay của nhau và năm sau đó làm lễ cưới.

Quãng đầu năm 1970, trong buổi tiệc trưa tổ chức tại một trong những căn hộ sang trọng của KGB, George Blake bất chợt gặp lại một đồng nghiệp cũ từng làm việc dưới vỏ bọc trong Cục Tình báo mật. Mặc dù cả hai từng cùng làm việc tại trụ sở của MI6 nhưng không hề quen biết nhau và tất cả những gì mà họ biết về nhau là nhờ đọc trên báo! Kể từ lần gặp gỡ tình cờ này, George Blake và người đồng nghiệp cũ thường xuyên gặp nhau tại nhà của George Blake. Người đồng nghiệp cũ của George Blake đang ở vào một giai đoạn khó khăn trong cuộc đời. Ông ta mới li dị người vợ thứ ba, cảm thấy cô đơn và uống rượu liên miên.

Mùa hè năm đó, con trai út người đồng nghiệp cũ của George Blake tên là Tommy tới Moscow thăm cha. Để giúp cho chàng trai đi đây đi đó ở Moscow, người vợ Ida của George Blake giới thiệu cô bạn cùng chỗ làm việc tên là Rufa hướng dẫn Tommy đi xem biểu diễn trên băng và rồi khi đưa chàng trai về nhà, Rufa đã gặp cha của cậu ta ở đó. Mặc dù hơn Rufa tới gần hai mươi tuổi nhưng giữa hai người nhanh chóng nảy sinh mối quan hệ thân thiết, kết thúc bằng việc người đồng nghiệp cũ của George Blake ngỏ lời cầu hôn cô gái. Rufa đồng ý với điều kiện người đồng nghiệp cũ của George Blake phải bớt uống rượu; ông ta chấp nhận.

Kể từ đó, vợ chồng George Blake cùng con cái thường xuyên tới căn nhà nghỉ ngoại ô của người đồng nghiệp cũ và hai gia đình tận hưởng những ngày nghỉ cuối tuần thư thả trong không khí thoáng đãng, trong lành ở ngoại ô Moscow.

Con đường đi của hai điệp viên vĩ đại trong thời kì Chiến tranh Lạnh cuối cùng đã giao nhau ở Moscow. Người đồng nghiệp cũ trong Cục Tình báo mật của George Blake cũng là một người Anh, tên là Harold Kim Philby.

s trong một cuộc họp của đảng. Họ trở thành bạn bè và Ethel đánh máy giúp Julius những bản báo cáo về kĩ thuật. Julius thường xuyên mang quà cho cậu em trai của Ethel là David Greenglass, người sau đó cũng gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ. Quãng đ
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Yên Ba

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.