Răng Sư Tử

Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

11

Nghệ thuật đổi phe

“Không loại trừ đây là một âm mưu có chủ định hay một kế hoạch được sắp đặt kĩ lưỡng”.

Tổng thống Mỹ Ronald Reagan

David Shore, điệp viên Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA hoạt động tại Trạm Rome nằm trong sứ quán Mỹ nhìn chăm chú vào chiếc điện thoại trên mặt bàn, chờ đợi. Lúc đó là 14 giờ 35 phút chiều ngày 1-8-1985. Trước đấy, anh ta đã nghe các đồng nghiệp CIA báo lại rằng có một người đàn ông gọi tới, nói tiếng Anh nhưng với chất giọng khá nặng của người Slav, rằng ông ta “muốn gặp ông David Shore, người từng làm việc ở Leningrad”. Người đàn ông đó tự xưng rằng ông ta là một quan chức Xô viết muốn “chuyển sang phe các ông”. Theo đánh giá ban đầu của các đồng nghiệp thì người đàn ông đó có vẻ nghiêm túc, không phải dạng người khùng khùng vẫn hay gọi điện thoại để chọc phá. Các đồng nghiệp của D. Shore đã hẹn để người đàn ông gọi lại sau mười phút.

Sau đúng mười phút chờ đợi, điện thoại đổ chuông. D. Shore đợi đến hồi chuông thứ ba mới nhấc máy.

- Tôi Shore đây. - Anh ta nói.

Người đàn ông ở đầu dây bên kia bắt đầu nói:

- Ông Shore, tôi là một viên chức Xô viết muốn...

- Ông đang ở đâu? - D. Shore cắt ngang.

- Bên kia đường, đối diện với lối vào sứ quán của các ông.

- Ông hãy gác máy và qua đường, đi vào sứ quán ngay bây giờ. Tôi sẽ đón ông ở lối vào.

D. Shore đi ra vọng gác số 1 có lắp kính chống đạn của lính thủy đánh bộ, lối vào chính của sứ quán Mỹ. Đây là tòa nhà mang tên Nữ hoàng Margherita theo phong cách từ thế kỉ XIX ở đường Via Veneto của thủ đô Rome. Được biết dưới cái tên Lâu đài Margherita, tòa nhà được xây dựng từ năm 1890 trên khu đất của Hồng y giáo chủ Ludovico Ludovisi, người cũng sở hữu một bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng thế giới. Tòa nhà được mang tên Margherita di Savoia, nữ hoàng nước Ý, người đã mua nó sau cái chết của chồng là Vua Umberto I. Chính phủ Mỹ mua lại tòa nhà vào năm 1946, gồm cả một phần bộ sưu tập của Hồng y giáo chủ Ludovisi. Các bức tượng bán thân của Caesar, Augustus và Venus vẫn được trưng bày để trang trí cho những căn phòng sang trọng của tòa nhà.

Via Veneto là một đường phố rộng rãi có hai hàng cây hai bên, những quán cà phê sang trọng nằm kề nhau, cách bến xe điện Rome khoảng gần nửa dặm về phía tây bắc. Người đàn ông cẩn thận quan sát hai đầu đường rồi bước vội qua, hướng về phía sứ quán Mỹ.

Trong khi D. Shore ra chỗ vọng gác thì một đồng nghiệp CIA đã đợi sẵn ở căn phòng nhỏ trong sứ quán, nơi D. Shore sẽ tiếp vị khách Xô viết. Các máy quay và băng ghi âm, những thiết bị cần thiết để đón bất cứ một người đào thoát nào, được chuẩn bị sẵn sàng.

D. Shore ra tới chỗ vọng gác số 1 thì cũng vừa lúc một người đàn ông cao lớn xuất hiện và bước qua cửa. D. Shore chặn người đàn ông lại trước khi bất kì một ai ở vọng gác có thể tiếp cận được ông ta.

- Ông có giấy tờ tùy thân nào không? - D. Shore hỏi.

- Tôi là Vitaly Sergeyevich Yurchenko, đại tá KGB, thuộc Ban 1, Tổng cục 1 KGB. - Người đàn ông nói rồi đưa cho D. Shore tấm hộ chiếu ngoại giao của ông ta.

D. Shore có thời gian làm việc đủ lâu tại Ban Liên Xô - Đông Âu trong CIA để biết rằng vận may lớn nhất trong sự nghiệp bỗng dưng rơi vào đầu anh ta. Nếu người đàn ông đang đứng trước mặt anh ta đào thoát sang Mỹ thì chắc chắn đây là sĩ quan phản gián cấp hàm cao nhất của KGB mà CIA có được trong lịch sử cơ quan này. Cấp trên ở CIA sẽ phải ghi công đầu cho D. Shore trong việc tiếp nhận một “con cá lớn” cỡ như vậy, dù cho người đàn ông này hoàn toàn tự nguyện và D. Shore chẳng hề có mảy may tác động nào đối với quyết định của ông ta.

D. Shore không hề biết rằng hơn một tuần trước đấy, V. Yurchenko đã từ Moscow bay tới Rome với lí do thẩm tra lại trường hợp một thành viên trong quân đội Mỹ đang có ý định làm việc cho tình báo Liên Xô. Người đó là Thomas Hayden, một nhân viên điện đài của hải quân có khả năng tiếp cận được với những tài liệu tối mật của hải quân Hoa Kỳ. Nếu quả thật Thomas Hayden thực tâm muốn làm việc cho tình báo Liên Xô thì đây đúng là một món quà trời cho đối với KGB. Vừa mới hai tháng trước, John Walker, người cầm đầu “đường dây gián điệp nhà Walker” bao gồm chính anh ta, anh trai Arthur, con trai Michael và người bạn thân Jerry Whitworth, đã bị FBI bắt giữ. Việc FBI bóc gỡ được đường dây gián điệp này sau khi nó hoạt động suôn sẻ trong suốt nhiều năm trời là một đòn nặng giáng vào KGB bởi đây là một trong những điệp vụ thành công bậc nhất trong lịch sử cơ quan điệp báo khét tiếng này. “Đường dây nhà Walker” là một tài sản vô giá mà KGB mới đánh mất và không dễ để ngay lập tức tìm được những nguồn tin thay thế có giá trị tương đương. Nhưng nếu tuyển mộ được Thomas Hayden thì ít nhất cũng sẽ phần nào bù đắp lượng tin tức thiếu hụt do mất đi “Đường dây nhà Walker”.

Bay tới Rome hôm 24-7-1985 thì bốn hôm sau, vào chiều ngày 28-7, V. Yurchenko cùng với điệp viên KGB hoạt động ở trạm Rome là Aleksandr Chepil gặp được Thomas Hayden tại một địa điểm khuất nẻo nằm gần bờ biển phía nam Rome. Sau cuộc trò chuyện kéo dài, thực chất là một cuộc thẩm vấn tinh vi, V. Yurchenko rút ra kết luận là có quá nhiều điều đáng nghi trong câu chuyện của viên sĩ quan phụ trách điện đài trong hải quân Mỹ. Nhiều khả năng đây là một đòn khiêu khích của phản gián Mỹ nhằm vào KGB. Rất có thể phản gián Mỹ suy luận là tình báo Liên Xô đang gấp rút tìm một nguồn tin thay thế cho “Đường dây nhà Walker” và họ tung Thomas Hayden ra để làm mồi nhử.

Nhưng thật ra, điều đó cũng không quá quan trọng đối với V. Yurchenko. Viên đại tá KGB bay tới Rome với một mục đích hoàn toàn khác.

Khi tới Rome, một trong những yêu cầu đặc biệt mà V. Yurchenko đặt ra với trạm KGB tại đây là cung cấp cho mình danh sách những nhân viên CIA đang làm việc trong sứ quán Mỹ tại thủ đô nước Ý. Nhận được danh sách này, V. Yurchenko biết rằng người đứng đầu trạm CIA ở Rome là Alan D. Wolf. Nhưng viên chỉ huy trạm Rome của tình báo Mỹ không phải là người mà V. Yurchenko quan tâm. V. Yurchenko biết trong danh sách này có cả những người Mỹ làm việc trong sứ quán đúng là người của Bộ Ngoại giao nhưng KGB lại xác định nhầm họ đang hoạt động điệp báo. Cần phải hết sức thận trong để xác định chính xác người nào thật sự là một điệp viên CIA.

Cuối cùng V. Yurchenko dừng lại ở cái tên David Shore.

V. Yurchenko biết khoảng mười năm trước, D. Shore đã bị bắt ở Leningrad cùng với một điệp viên khác của CIA, người đang hoạt động trong ngành công nghiệp quốc phòng của Liên Xô. D. Shore bị bắt quả tang khi tới hộp thư chết ở một đường hầm qua đường tại Leningrad. Chiến dịch này do Tổng cục 2 và Tổng cục 7 của KGB phối hợp thực hiện để báo thù cho vụ một điệp viên KGB bị FBI bắt giữ tại New York hai tháng trước đấy.

Khi thấy tên D. Shore trong danh sách mà trạm KGB tại Rome đưa cho, V. Yurchenko biết chắc người mình cần phải gặp là ai. Viên đại tá KGB cẩn thận lưu lại số điện thoại của D. Shore cũng được ghi kèm trong bản danh sách.

Sáng sớm 1-8-1985, V. Yurchenko rời tòa biệt thự dành cho các nhân viên sứ quán Liên Xô ở Abamelek, khu ngoại ô phía tây Rome. V. Yurchenko nói với các đồng nghiệp rằng mình sẽ tới sứ quán, ghé qua trạm KGB vài giờ đồng hồ, sau đó đi dạo loanh quanh xem xét các bảo tàng trong phần thời gian còn lại trong ngày. Trước đấy, V Yurchenko từng ngụ ý mình có một cuộc tiếp xúc đặc biệt với nguồn tin rất nhạy cảm và trạm Rome không nhất thiết phải biết tường tận về cuộc tiếp xúc này. V. Yurchenko nói với các đồng nghiệp KGB là mình sẽ quay về vào bữa ăn tối.

Trong suốt buổi sáng hôm ấy, V. Yurchenko di dạo xung quanh Vatican như một khách du lịch nhàn tản, thăm Quảng trường Thánh Peter, hòa lẫn vào dòng khách du lịch dường như bất tận ở Rome. Đến đầu giờ chiều, sau khi biết chắc chắn không có bất cứ một ai bám đuôi, V. Yurchenko gọi một chiếc taxi, nói với người lái xe: “Đưa tôi tới khách sạn Ambasciatore, đường Via Veneto”.

Khách sạn Ambasciatore nằm đối diện với sứ quán Mỹ. Từ buồng điện thoại công cộng ở hành lang khách sạn, V. Yurchenko gọi vào số máy của D. Shore và chỉ ít phút sau, đã đứng trước mặt người điệp viên CIA trong sứ quán Mỹ tại Rome.

+++++

D. Shore dẫn người khách lạ vào trong căn phòng đặc biệt dành cho những người đào thoát, đề nghị ông ta ngồi xuống chiếc ghế ở một bên bàn. Bản thân anh ta lấy chiếc ghế khác ngồi đối diện với V. Yurchenko rồi bấm một nút gắn dưới mặt bàn để chiếc máy quay lắp ẩn bên trong giá sách ở phía sau lưng bắt đầu hoạt động. Một xấp tài liệu để trước mặt D. Shore, trong đó có cả một số văn bản, mẫu đơn bằng cả hai thứ tiếng Nga và tiếng Anh để V. Yurchenko có thể đọc và kí.

- Xin ông hãy nói tỉ mỉ ông là ai và vì sao đến với chúng tôi. - D. Shore nói trong khi đưa tay bấm nút chiếc máy ghi âm để trên mặt bàn.

V. Yurchenko ngồi thẳng góc với chiếc máy quay bí mật lắp trong giá sách. Bằng một giọng tiếng Anh khá nặng, V. Yurchenko bắt đầu: “Tôi là Vitaly Sergeyevich Yurchenko, cấp bậc của tôi là đại tá và chuẩn bị thăng lên quân hàm cấp tướng trong KGB...”

+++++

Vitaly Sergeyevich Yurchenko sinh ngày 2-5-1936 ở làng Bolshoye Shkundino, vùng Khislavichskiy, tỉnh Smolensk, cách Moscow khoảng ba trăm dặm về phía tây nam. Cha của ông, Sergei, là một công nhân phục vụ trong quân đội, đã chết trong cuộc phong tỏa Leningrad. Khi đó, V. Yurchenko mới lên năm tuổi và chỉ còn nhớ rất lờ mờ về người cha của mình. Mẹ của ông, Vera, làm việc ở nông trang hoặc các nông trại gần Smolensk cho tới năm 1946. Sau đó, bà chuyển đến Leningrad và ở đó cho tới tận khi mất vào mùa xuân năm 1985.

Từ 1948 đến 1954, V. Yurchenko vào học trường trung học dành riêng cho những người sẽ phục vụ trong lực lượng hải quân Georgia. Sau đó, V. Yurchenko vào học tại trường Cao đẳng Hải quân Leningrad thuộc Thành đoàn, khoa Hoa tiêu tàu ngầm và tốt nghiệp vào năm 1958.

Được biên chế về Hạm đội Thái Bình Dương có căn cứ đóng tại Vladivostok, V. Yurchenko phục vụ ở Lữ đoàn tàu ngầm độc lập số 4. Thoạt đầu, ông là sĩ quan hoa tiêu trên tàu ngầm. Những năm cuối, V. Yurchenko được chuyển sang bộ phận phụ trách việc sửa chữa, phục hồi những tàu ngầm đã cũ hoặc thử nghiệm các thiết bị mới trên tàu ngầm.

Năm 1959, V. Yurchenko được giới thiệu vào làm việc ở Tổng cục 3 của KGB, chuyên tiến hành các hoạt động phản gián trong lực lượng vũ trang Xô viết. Một năm sau, ông vào học ở trường của Tổng cục 3 mang mật danh Trường 311 tại Novosibirsk, thành phố lớn nhất ở vùng Siberia. Cũng thời gian đó, ông vào Đảng Cộng sản.

Từ năm 1961, V. Yurchenko bắt đầu làm việc như sĩ quan điều hành chiến dịch trong một ban đặc biệt của KGB thuộc Hạm đội Biển Đen có căn cứ ở Balaklava, nơi đã diễn ra Chiến tranh Crimea. Ông đảm nhiệm công tác phản gián trong hai lữ đoàn tàu ngầm ở Sevastopol, căn cứ hải quân lớn nhất của lực lượng vũ trang Xô viết tại Biển Đen và trong trường Cao đẳng Kĩ thuật Hải quân Sevastopol. Hai năm sau, V. Yuchenko đã trở thành một nhân viên trọng yếu điều hành các chiến dịch của KGB.

Năm 1965, V. Yurchenko vào học Trường 101 của KGB nhằm chuẩn bị cho việc chuyển sang làm việc tại Tổng cục 1, bộ phận trong KGB có chức năng tương tự như CIA và chuyên thu thập tin tình báo. Tuy vậy, đến năm 1967, ông quay trở lại Tổng cục 3. Trên thực tế, đây là một bước lùi trong sự nghiệp của V. Yurchenko bởi vì Tổng cục 1 có thanh thế và tầm quan trọng hơn nhiều so với Tổng cục 3. Sau này, ông được giải thích rằng việc thuyên chuyển này là nhằm đáp ứng những yêu cầu mới nảy sinh do cuộc chiến tranh Ả Rập - Israel mới xảy ra. Kể từ khi Tổng cục 3 chịu trách nhiệm tiến hành các hoạt động phản gián trong lực lượng vũ trang, đây là dịp nhằm tăng cường hoạt động của tổng cục này khi mà những người Xô viết có cơ hội đứng bên cạnh các quốc gia Ả Rập trong cuộc chiến tranh.

Tháng 8 năm 1967, V. Yurchenko được đề bạt lên chức vụ chỉ huy phó đơn vị đặc biệt trong Hải đoàn Địa Trung Hải số 5 thuộc Hạm đội Biển Đen. Ở cương vị này, V. Yurchenko vừa phải chịu trách nhiệm tổ chức, giám sát hoạt động của các nhân viên KGB trong hải đoàn, đồng thời phải bảo đảm sự an toàn của các sĩ quan và binh sĩ hải quân trong những chuyến ghé thăm các hải cảng nước ngoài.

Tháng 12-1968, V. Yurchenko được bổ nhiệm vào vị trí điều hành toàn bộ các hoạt động của KGB tại Ai Cập, dưới vỏ bọc là cố vấn cho Hạm đội Ai Cập ở Alexandria. Phạm vi công việc của V. Yurchenko là ngăn cản hoạt động móc nối của các cơ quan tình báo phương Tây, hướng dẫn hoạt động của các cố vấn và vợ họ, thu thập những tin tức chính trị và giúp tuyển mộ các điệp viên quân sự của Ai Cập.

Tháng 5-1972, V. Yurchenko trở thành phó phòng của Phòng 3 thuộc Tổng cục 3 KGB. Phạm vi trách nhiệm của V. Yurchenko là chỉ huy nhân viên phản gián tiến hành hoạt động tuyển mộ người nước ngoài và cả các điệp viên thuộc khối Xô viết đang theo học tại các nhà trường, học viện quân sự tại Liên Xô. V. Yurchenko thu thập tin tức qua các cuộc tiếp xúc với những điệp viên nước ngoài, tung điệp viên vào các cơ quan tình báo phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Ngoài ra, V. Yurchenko cũng nắm giữ những điệp viên nhị trùng chuyên làm công tác gây nhiễu các cơ quan tình báo phương Tây.

Việc V. Yurchenko ba năm sau đó được cử làm sĩ quan an ninh tại sứ quán Liên Xô ở Washington trùng hợp với việc Dmitri I. Yakushkin được bổ nhiệm phụ trách trạm KGB tại đây. 51 tuổi, cao hơn một mét tám, rắn chắc, D. Yakushkin là người có hàm tướng trong KGB và có bằng về khoa học kinh tế. Tóc trắng, có một bộ râu kiểu quý tộc, không bao giờ mặc quân phục, nhưng ở D. Yakushkin vẫn toát ra vẻ cứng nhắc, gợi lên hình ảnh của một quân nhân. Vợ của ông, Irina, là một phiên dịch và cũng là nhân viên KGB.

D. Yakushkin đánh giá cao năng lực của V. Yurchenko và cả hai nhanh chóng có một mối quan hệ thân mật. Cuối cùng, D. Yakushkin chọn V. Yurchenko làm phó cho ông, thực hiện các chiến dịch của KGB tại Mỹ và Canada. Chính thức, V. Yurchenko vẫn có nhiệm vụ là bảo vệ an ninh sứ quán, bảo vệ các nhân viên và lẽ dĩ nhiên là phải bảo mật những “thông tin có độ nhạy cảm cao” của sứ quán.

Sau khi rời Washington vào tháng 8-1980, V. Yurchenko về làm trưởng phòng của Phòng 5, thuộc Ban K, nằm trong Tổng cục 1 KGB. Người đứng đầu Tổng cục 1 chính là Vladimir Alexandrovich Kryuchkov, sau này trở thành giám đốc KGB. Trong KGB, chức năng của Tổng cục 1 tương đương với CIA, Tổng cục 2 tương đương với FBI và Tổng cục 8 tương đương với Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ NSA.

Ở vị trí công tác mới, V. Yurchenko trở thành người giám sát, bảo vệ nội bộ của Tổng cục 1. Ông chịu trách nhiệm tiến hành hoạt động điều tra các cá nhân liên quan đến KGB bị nghi ngờ hoạt động gián điệp, những vụ rò rỉ thông tin, phân tích các vụ bắt giữ hoặc “đi đêm” của điệp viên đang làm việc cho Tổng cục 1, đào tạo sĩ quan an ninh và nhân viên biên phòng để gửi ra nước ngoài, tái móc nối các điệp viên của Ban K đã bị đối phương mua chuộc, giảng dạy cho các nhân viên chuẩn bị ra hoạt động ở nước ngoài...

V. Yurchenko cũng được giao trách nhiệm phụ trách bộ phận làm việc với các điệp viên của đối phương đào thoát sang Liên Xô. Ở cương vị này, ông từng kiểm tra các điệp viên huyền thoại của Cục Tình báo mật MI6 là Harold Kim Philby và George Blake. Ngoài ra, V. Yurchenko cũng giám sát việc sử dụng loại thuốc đặc biệt trong các cuộc thẩm vấn hoặc ám sát.

Tháng 4-1985, sau ba tháng tham dự một lớp đào tạo cho các sĩ quan có cấp hàm tướng, V. Yurchenko được bổ nhiệm làm phó ban của Ban 1 thuộc Tổng cục 1 KGB. D. Yakushkin, sếp cũ của V. Yurchenko tại sứ quán Liên Xô ở Washington, đã trở thành người đứng đầu Ban 1 từ năm 1982. D. Yakushkin từng phụ trách công việc của KGB tại Washington trong thời gian sáu năm.

Công việc mới của V. Yurchenko liên quan đến các hoạt động tình báo hơn là phản gián, khác với thời ông còn ở Ban K. Điều đó cũng có nghĩa ông là nhân vật số hai trong KGB trực tiếp điều hành các hoạt động tình báo chống lại Hoa Kỳ tại bất kì nơi nào trên thế giới.

+++++

Ngay sau cuộc thẩm vấn sơ bộ ban đầu V. Yurchenko, trạm CIA ở Rome gửi về Tổng hành dinh CIA ở Langley, Virginia, một bức điện mật, trong đó nêu những nội dung chủ yếu thu thập được sau cuộc thẩm vấn. Được truyền qua vệ tinh với tốc độ 9.600 tín hiệu mã hóa trong một giây, bức điện chỉ được sao thành sáu bản và đưa bằng tay tới các nhân vật hàng đầu của CIA. Bức điện mật này về tới Tổng hành dinh CIA vào lúc 16 giờ 20 phút chiều 1-8-1985 theo giờ Washington:

“1. Những chi tiết bổ sung cuộc thẩm vấn Đại tá KGB Vitaly Sergeyevich Yurchenko, sinh ngày 2-5-1936 tại Smolensk, Liên bang Xô viết. Cuộc thẩm vấn diễn ra tại ‘Phòng đào thoát’, trong đó Yurchenko đưa ra một số điểm đáng chú ý sau:

A. Liên Xô hiện không có một kế hoạch nào chuẩn bị tấn công Hoa Kỳ.

B. Yurchenko biết về một điệp viên Mỹ tình nguyện làm việc cho KGB, mật danh là Robert, từng là một cựu nhân viên CIA dự tính được bổ nhiệm tới hoạt động ở Moscow, nhưng sau đó bị hủy nhiệm vụ do không phù hợp và liên quan đến quá trình kiểm tra trên máy phát hiện nói dối, thời kì 1983 - 1984. Yurchenko cho rằng Robert chính là người đã tiết lộ danh tính của chuyên gia Xô viết làm việc trong lĩnh vực quốc phòng Adolf Tolkachev, người mới bị bắt giữ tại Moscow vào tháng 6 năm nay vì tội làm gián điệp cho CIA, cũng như điệp viên CIA tại Budapest, một đại tá Xô viết, có thể là nhân viên tình báo, được biết trong nội bộ CIA với biệt danh Đại tá Giận dữ. Bộ phận phản gián của KGB đã ráo riết truy tìm Đại tá Giận dữ nhưng không thu được kết quả.

C. Yurchenko cũng tuyên bố Robert đã tiết lộ về chiến dịch kĩ thuật của CIA tại Moscow và có thể về một chiến dịch kĩ thuật khác mà CIA đang tiến hành chống Liên bang Xô viết.

D. Robert được biết đã bí mật gặp gỡ điệp viên KGB ở Vienna (Áo) trong khoảng thời gian vài tuần gần đây.

E. Yurchenko cũng cho biết KGB tuyển mộ được một nhân viên của NSA, người đã cung cấp những chi tiết rất nhạy cảm về các chiến dịch trong lĩnh vực hải quân của NSA chống lại Hạm đội tàu ngầm Biển Bắc của phía Xô viết. Yurchenko không thể nhớ tên người nhân viên NSA này, nhưng đã từng gặp gỡ người này trong thời gian Yurchenko làm việc tại sứ quán Liên Xô ở Washington.

F. Yurchenko nói rằng phó trạm của trạm KGB tại London, người mà ông ta không nhớ tên, đã bị triệu hồi về nước hồi tháng 5 và bị bộ phận phản gián/điều tra của KGB thẩm vấn. Yurchenko nói rằng đã nghe tin người này bị KGB sử dụng “thuốc nói thật” trong quá trình thẩm vấn tại một địa điểm hẻo lánh. Không có thêm chi tiết.

2. Yurchenko đã kí vào giấy tờ xin tị nạn. Các điện tín sẽ được tiếp tục gửi ngay sau đây trong khi diễn ra quá trình thẩm vấn.

3. Chúng tôi tin rằng khôn ngoan hơn cả là phải nhanh chóng chuyển Yurchenko trực tiếp tới một vùng lãnh thổ Hoa Kỳ gần kề càng sớm càng tốt. Yurchenko tin rằng chỉ có từ 3 đến 4 giờ đồng hồ trước khi trạm KGB ở Rome bắt đầu tiến hành truy tìm ông ta và họ có thể nhờ sự giúp sức của lực lượng an ninh Ý. Sẽ tốt hơn nhiều nếu chúng tôi có thể vận chuyển ông ta qua đường hàng không trước khi chuyện đó xảy ra. Chờ xin chỉ thị”.

+++++

Một thông tin trong bức điện mật gửi về từ Rome khiến cho các quan chức CIA đặc biệt chú ý. Đó là thông tin về việc phó trạm của trạm KGB tại London ít tháng trước đó đã bị triệu hồi về Moscow, bị đánh thuốc mê bằng “thuốc nói thật” trong khi bị thẩm vấn. Ở cuộc nói chuyện trong căn phòng đặc biệt của sứ quán Mỹ tại Rome, V. Yurchenko đã ngụ ý với các điệp viên CIA thẩm vấn mình rằng “đó có thể là người của các ông”. Nhưng CIA biết chắc rằng đó không phải là người của mình.

Thật ra, tình báo Anh MI6 vừa mới thông báo cho CIA, trong tình trạng tuyệt mật, biết về sự tồn tại của nguồn tin quý giá này trong KGB hồi tháng 3-1985, với thiện ý hai bên sẽ cùng phối hợp khai thác. Một bức điện tín khẩn lập tức được CIA gửi cho tình báo Anh. Người Anh biết ngay rằng đó là O. Gordievsky, điệp viên mà họ vừa mới giải cứu thành công đúng mười ngày trước. Thời gian đó, V. Yurchenko vừa mới bay đi Rome nên chắc chắn không biết chuyện O. Gordievsky đã thoát khỏi sự giám sát của KGB và vượt biên thành công. Người Anh trả lời người Mỹ: “Đúng, đó là người của chúng tôi và hiện chúng tôi đã có anh ta rồi!”.

Với đề nghị của trạm CIA tại Rome về việc cần khẩn cấp đưa V. Yurchenko tới khu vực lãnh thổ Mỹ để đảm bảo an toàn, Tổng hành dinh CIA nhanh chóng đáp ứng.

Ở Rome, các điệp viên CIA cấp cho V. Yurchenko một chứng minh thư quân đội dưới tên giả, sẽ là một trong vô số những biệt danh của V. Yurchenko sau này. V. Yurchenko được đưa lên một chiếc ô tô và chở đi thành phố Naples ở phía nam nước Ý, nơi một chiếc máy bay của hải quân Mỹ tiếp tục đưa V. Yurchenko tới Frankfurt trên lãnh thổ Tây Đức.

Tại đây, một chiếc máy bay vận tải C-5A, loại máy bay lớn nhất của không lực Mỹ, đưa V. Yurchenko vượt Đại Tây Dương tới căn cứ không quân Andrew ở Maryland, phía đông nam Washington. Chiếc máy bay chỉ để dành riêng cho những phi vụ như thế này. Trong khoang chiếc C-5A rộng như sân bóng bầu dục và cao tương đương với tòa nhà sáu tầng, chỉ có duy nhất V. Yurchenko và một người đi kèm cùng ngồi.

Không quân Mỹ đã tính với CIA chi phí vụ “vận chuyển” này trị giá hơn 50.000 USD.

Sau chuyến bay dài vượt Đại Tây Dương, một nhân viên của Sở Di trú và nhập cư Hoa Kỳ đón V. Yurchenko ở phi trường Andrew và trao cho ông tờ khai 1-94 để ông điền vào. Được in hai màu đen và đỏ, nó là bản kê khai cho những người mới đặt chân tới nước Mỹ. V. Yurchenko ghi cái tên giả trong chứng minh thư quân đội mà các nhân viên CIA đưa cho ở Rome vào bản kê khai của Sở Di trú và nhập cư Hoa Kỳ. Sau này, một nhân viên đặc biệt Ban Liên Xô - Đông Âu sẽ gặp Sở Di trú và nhập cư Hoa Kỳ để kê khai tên thật của V. Yurchenko vào tờ khai 1-94, khác với cái tên giả mà CIA đã chọn một cách ngẫu nhiên là Robert Rodman.

Một đội hỗn hợp gồm các đặc vụ FBI và nhân viên CIA đón V. Yurchenko tại phi trường. Trưởng ban Ban Liên Xô - Đông Âu B. Gerber chỉ định Paul J. Redmond Jr., người từng hoạt động trong “Nhóm Liên Xô” thuộc Ban Liên Xô - Đông Âu làm trưởng nhóm giám sát V. Yurchenko. B. Gerber cũng giao cho một nhân viên CIA khác, dưới cái tên giả là Art, một người biết rõ về V. Yurchenko, chịu trách nhiệm giám sát người điệp viên KGB đào thoát. Art là nhân viên CIA duy nhất biết tiếng Nga được giao nhiệm vụ giám sát trong vụ V. Yurchenko. Khi đó, ông ta đang là người đứng đầu bộ phận Liên Xô thuộc nhóm phản gián trong Ban Liên Xô - Đông Âu, vẫn tiếp tục thực hiện công tác của mình trong thời gian đảm nhiệm vụ V. Yurchenko.

Về phía FBI, vừa chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn cho V. Yurchenko, vừa cập nhật những thông tin của V. Yurchenko mà không nghi ngờ gì, sẽ rất hữu ích trong việc phát hiện ra các gián điệp hoạt động cho phía Xô viết trên lãnh thổ Mỹ, cũng thành lập nhóm giám sát riêng. Robert B. Wade, trưởng bộ phận Liên Xô trong FBI mà trách nhiệm chính là giám sát các hoạt động của Ban K trong Tổng cục 1 KGB đã chọn đặc vụ Mike Rochford là một trong hai nhân viên FBI giám sát V. Yurchenko. Ngoài việc nói được tiếng Nga, M. Rochford, trông giống như cổ động viên bóng chày, còn có tính cách hoạt bát, một đặc điểm có lợi cho việc khai thác V. Yurchenko.

Nhân viên thứ hai được R. Wade và văn phòng FBI Washington chọn là Reid P. Brose, một người gốc miền Nam trầm tĩnh, có mái tóc màu sẫm chải lật ra đằng sau và thường xuyên đeo kính. Cả hai tham gia vào việc đón V. Yurchenko ở phi trường và sẽ ở lại chỗ V. Yurchenko khi viên đại tá KGB được đưa về ngôi nhà an toàn.

Từ phi trường Andrew, Rodney L. Leffler, quyền Trưởng ban Liên Xô của FBI vào xe ngồi với V. Yurchenko cùng điệp viên Art của CIA. Để đảm bảo không bị một ai bám theo, ba xe khác của FBI, một chiếc phía trước và hai chiếc đi sau bọc lấy chiếc xe chở V. Yurchenko và cả toán rời phi trường. Sau khi vượt qua cầu Woodrow Wilson bắc ngang sông Potomac, đoàn xe dừng lại ở ngôi nhà sang trọng số 2079 đường Shawn Leigh, khu Vienna, Virginia, cách Langley khoảng năm dặm về phía tây nam. Đây là một trong số vài ngôi nhà mà CIA đã thuê sẵn dùng cho trường hợp có người của đối phương đào thoát.

Những người chủ của ngôi nhà lát gạch nâu không hề biết CIA là chủ thuê nó cũng như những người thường xuyên ra vào ngôi nhà là ai. Cách trường Trung học Oakton khoảng ba khối nhà, ngôi nhà CIA thuê nằm trong khu vực yên tĩnh với những vườn cỏ bao quanh, giữa đường 243 và đường 66, gần nhà ga xe điện ngầm Vienna. Đây chỉ là một ngôi nhà an toàn tạm thời. Từ khi các nhà ngoại giao Xô viết bị giới hạn đi lại trong bán kính 25 dặm kể từ Nhà Trắng, các nhân viên của CIA thường đưa những người đào thoát tới những nơi hẻo lánh nằm ngoài phạm vi người Xô viết được phép đặt chân tới.

Ngôi nhà ba tầng có bảy phòng, tầng trên cùng là phòng ngủ sang trọng với buồng tắm riêng, bên cạnh có thêm hai phòng ngủ với những buồng tắm khác nữa. Tầng giữa được dùng làm phòng khách, phòng ăn, bếp và một buồng tắm. Tầng dưới cùng là một căn phòng với những ô cửa sổ sẫm màu, có lò sưởi, quầy rượu, buồng tắm và một phòng xép. Tường được sơn trắng và sàn tầng hai, tầng ba trải thảm màu sẫm.

V. Yurchenko mang theo rất ít hành lí. Ông đã lĩnh vài trăm đô la bằng tiền mặt tại trạm KGB ở Rome với lí do cần sử dụng trong thời gian ở Ý. Trên đường bay về Mỹ, ở chặng dừng chân Frankfurt, các nhân viên CIA đưa cho V. Yurchenko một cái túi khoác vai. Bên trong cái túi, V. Yurchenko bỏ vào ít thuốc làm từ một loại cỏ của Nga mà V. Yurchenko để trong vài cái lọ nhỏ, đề phòng trường hợp lên cơn đau dạ dày. Sau này, người ta chẩn đoán rằng V. Yurchenko bị viêm ruột kết. Ngoài hộ chiếu, V. Yurchenko không mang theo bất cứ tài liệu hoặc tấm ảnh nào khác. Nếu bị bắt thì chúng sẽ là những bằng chứng cho thấy ông chuẩn bị kế hoạch đào thoát. Cho tới khi đến Mỹ, V. Yurchenko vẫn mặc bộ đồ mà ông đã mặc hôm vào sứ quán Mỹ ở Rome trước đó, một chiếc áo thể thao sặc sỡ khoác bên ngoài sơ mi màu xanh nhạt và cái quần màu xám.

Khá mệt mỏi bởi chuyến đi nhưng V. Yurchenko tỏ ra rất hồ hởi. Ông muốn chứng minh ngay lập tức giá trị của mình. Nếu như những người đào thoát bình thường phải để một ngày sau đó mới bắt đầu làm việc với những người trong đơn vị giám sát thì V. Yurchenko đã ngay lập tức nói liên tục với Art và cả nhân viên FBI về những điều mà ông cho là cần thiết.

V. Yurchenko nói rằng trước đây ông đã đôi khi nghĩ đến chuyện đào thoát. Trong thời gian làm sĩ quan an ninh ở sứ quán Liên Xô tại Washington, ông đã bị ấn tượng rất mạnh bởi nước Mỹ và người Mỹ. Phong cách quý tộc của Ed Joyce, sĩ quan liên lạc FBI với sứ quán Liên Xô thời kì đó ảnh hưởng nhiều đến quyết định của ông. V. Yurchenko nói rằng ông ngưỡng mộ dân chủ và tự do.

Việc người mẹ mới mất do căn bệnh ung thư dạ dày cũng đã đẩy V. Yurchenko đi nhanh tới quyết định đào thoát. Ông không nói một lời nào về người vợ Jeanette.

+++++

Vài ngày sau, các nhân viên CIA đưa V. Yurchenko theo lộ trình vòng vèo để tới một trụ sở bí mật của CIA ở Great Falls, Virginia. Để tránh bị theo dõi, những người lái xe đi vào một số ngõ cụt, tăng tốc độ trên 70 dặm một giờ rồi lại giảm xuống 20 dặm một giờ. Tại một vị trí, họ đi ngang qua chiếc xe khác của CIA đỗ gần đó, có khả năng phát hiện ra những ai có ý đồ “bám đuôi” V. Yurchenko. Không thấy gì, những chiếc ô tô của CIA tiếp tục chạy lướt qua một nhóm khác. Trên thực tế, lộ trình chuyến đi mất khoảng 20 phút từ ngôi nhà an toàn của CIA tại Vienna tới trụ sở CIA ở Great Falls đã được kéo dài gấp đôi.

Hai điệp viên Colin Thompson và Art trong nhóm giám sát đón V. Yurchenko tại trụ sở bí mật của CIA ở Great Falls, một dãy nhà ba phòng nằm xen giữa những dinh thự lát gạch, mái lợp gỗ, cách sông Potomac ở Washington D.C. khoảng một dặm về phía tây.

Ba người đàn ông ngồi quanh chiếc bàn hình chữ nhật trong trụ sở của CIA ở Great Falls. Bên cạnh căn phòng chính có phòng khách, phòng tiếp tân và phòng tắm. C. Thompson bật chiếc cát sét hiệu Sony và họ bắt đầu đi sâu vào những chi tiết mà trước đó mới chỉ thảo luận sơ sơ.

V. Yurchenko giải thích rằng ông mới trở thành phó ban của Ban 1 thuộc Tổng cục 1 KGB vào tháng 4-1985, bởi vậy phần lớn những thông tin của ông về các chiến dịch chống lại Hoa Kỳ có được đều do công việc mà ông phụ trách trước đây là phản gián cũng như vị trí chỉ huy an ninh tại Đại sứ quán Liên Xô ở Washington. Theo V. Yurchenko, phạm vi của Ban 1 là giám sát công việc của trạm KGB tại Mỹ và Canada, các thành phố Washington, San Francisco, New York và Ottawa; điều phối các hoạt động chống lại tình báo Mỹ bởi một đơn vị đặc biệt khác thuộc Tổng cục 1 KGB tên là Nhóm Bắc, gồm những điệp viên cứng cựa có nhiều kinh nghiệm hoạt động tại Mỹ; trợ giúp tất cả các bộ phận khác nằm ngoài Tổng cục 1 trong những điệp vụ chống lại Hoa Kỳ; phối hợp với cơ quan an ninh của các nước xã hội chủ nghĩa, bao gồm cả Cuba, để tiến hành các chiến dịch tình báo trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

Trong ít tháng làm việc ở cương vị phó ban của Ban 1, V. Yurchenko nắm khá nhiều tin tức về hoạt động tình báo ở Canada như tên tuổi của một số quan chức cấp thấp trong chính phủ và một số nhà báo làm việc cho KGB. V. Yurchenko chịu trách nhiệm trực tiếp giám sát những hoạt động của chi nhánh KGB tại Ottawa và Montreal, tuyển mộ những điệp viên kiểu như trong “Đường dây nhà Walker” làm công việc do thám ngay trên đất Mỹ, trợ giúp cơ quan tình báo các nước xã hội chủ nghĩa tiến hành các chiến dịch chống lại Mỹ ở bất kì nơi nào trên thế giới. Thêm nữa, trong trường hợp xảy ra chiến tranh, Ban 1 của V. Yurchenko còn chuẩn bị sẵn kế hoạch tác chiến, móc nối điệp viên cũng như chuẩn bị các kế hoạch do thám bằng thiết bị điện tử.

Theo tiết lộ của Stanislav Levchenko, nhân viên KGB đào thoát sang Mỹ tại Tokyo từ năm 1979 thì được chuẩn bị đào tạo theo tiêu chuẩn của cấp tướng, V. Yurchenko thuộc vào hàng ngũ khoảng một chục người quan trọng nhất trong Tổng cục 1 KGB.

Những công việc mà V. Yurchenko đảm nhiệm ở nhiều vị trí khác nhau trong KGB cho phép ông biết rõ về khoảng hơn một chục điệp viên đang hoạt động trong các cơ quan tình báo phương Tây. Trên thực tế, các nhân viên CIA đã kinh hoàng trước mức độ xâm nhập của KGB vào tổ chức của họ.

Trong cuộc gặp ở Great Falls, V. Yurchenko mô tả sơ bộ về hai người mà ông coi như những điệp viên người Mỹ cừ khôi hoạt động cho KGB. Các điệp viên CIA hết sức hồi hộp khi nghe những thông tin về một điệp viên chuyển giao các tài liệu mật của CIA cho phía Liên Xô thông qua điểm trung chuyển Áo từ mùa thu năm 1984. Biệt danh của anh ta là Robert.

- Tôi biết về vụ này khi đọc một bức điện tín của trạm KGB đánh về từ Áo. - V. Yurchenko nói. - Robert đã báo cáo cho KGB biết về ba nguồn tin, trong đó có hai người của CIA trong KGB.

+++++

Ngay từ khi nhận được bức điện mật đầu tiên gửi về từ trạm Rome đề cập đến một điệp viên hoạt động cho phía Xô viết mang mật danh Robert, B. Gerber, Trưởng ban của Ban Liên Xô - Đông Âu, đã nói với Phó ban là Milton Bearden: “Không nghi ngờ gì nữa, Robert là Edward Lee Howard. Anh ta đã phản bội chúng ta”.

Là con trai một trung sĩ trong lực lượng không quân Mỹ, E. Howard đã có bốn năm làm việc trong Đội Hòa Bình Mỹ trước khi nhận được bằng thạc sĩ môn quản trị kinh doanh trường Đại học Tổng hợp American tại Washington D.C. vào năm 1976. Sau đó E. Howard vào làm việc cho Cơ quan phát triển quốc tế tại Peru trong ba năm. Sau khi làm việc trong thời gian ngắn cho một công ty có liên quan đến các chất thải nguy hiểm, năm 1980, E. Howard xin vào làm việc cho CIA. Trong bản tự khai cá nhân, E. Howard thừa nhận có sử dụng một số loại ma túy, bao gồm cả cần sa, marijuana và cocain.

Rõ ràng những khuyết tật đó không gây trở ngại gì cho sự nghiệp của E. Howard trong CIA, và tháng 1-1981, CIA đã nhận E. Howard vào làm việc như một nhân viên tập sự ở chi nhánh Liên Xô trong Nhóm chiến dịch trong nước thuộc Ban Liên Xô - Đông Âu.

Giống như các điệp viên CIA khác, E. Howard phải trải qua một khóa đào tạo về các kĩ năng phát hiện cũng như cắt bỏ sự theo dõi. Khi đó, CIA dự định phái E. Howard tới Moscow, một trong những địa bàn trọng yếu nhất trên thế giới. Lí do thật dễ hiểu: Một người mới được tuyển dụng sẽ khó bị nhận diện là nhân viên của CIA. Như vậy, E. Howard khi đó có đầy đủ tư cách là điệp viên CIA.

Nhưng trước khi được cử đi Moscow vào năm 1982, E. Howard lại phải trải qua một cuộc kiểm tra định kì trên máy phát hiện nói dối. Cuộc kiểm tra này đã phát hiện E. Howard nghiện rượu, vẫn sử dụng ma túy. Như vậy là quá nhiều đối với một nhân viên CIA, và Giám đốc CIA William Casey đồng ý với lời đề nghị của cấp dưới là sa thải E. Howard.

Biết rất nhiều về các bí mật của CIA cũng như những nguồn tin của CIA ở Liên Xô, E. Howard quả thực là một quả bom nổ chậm. Có thể thấy rằng E. Howard biết tên của hầu hết mọi điệp viên CIA ở Moscow. Thông thường, các cuộc trao đổi cũng như các bức điện tín do điệp viên CIA đánh về Tổng hành dinh đều dưới dạng mật mã. Thế nhưng danh tính thật của anh ta sẽ có trong tủ hồ sơ của Ban Liên Xô - Đông Âu. Ngay cả trong trường hợp các hồ sơ này không nêu lên tên thật của các điệp viên thì nó cũng có những thông tin về cá nhân đủ để nhận diện mọi điệp viên đang hoạt động cho CIA tại Moscow.

E. Howard thường tới Tổng hành dinh CIA ở Langley vào ngày thứ bảy hằng tuần. Các hồ sơ được giữ trong những két sắt màu xám, nom giống như tủ hồ sơ hai cửa hoặc có bốn ngăn kéo. Một số được khóa cẩn thận, trong khi một số khác thì để ngỏ. E. Howard có thể đọc chúng và dần dần, sau một thời gian dài, nắm được hầu như mọi tài liệu của Ban Liên Xô - Đông Âu, nhiều hơn bất cứ nhân viên nào của ban này.

Thay vì tìm cho E. Howard một nghề nghiệp mới, mùa hè năm 1982, CIA đã phạm thêm sai lầm nữa là ngắn gọn thông báo với E. Howard rằng anh ta bị sa thải. E. Howard bỗng dưng thấy mình không nghề nghiệp, không thu nhập. Trong những cuộc cãi vã dữ dội trong nội bộ CIA về biện pháp xử lí đối với E. Howard, một số nhân viên CIA đã cảnh báo rằng sa thải có thể dẫn tới việc E. Howard tiết lộ những tin tức mật của CIA cho phía Liên Xô. Nhưng những người khác lại lập luận rằng trước E. Howard, CIA đã từng sa thải nhiều người mà đâu có gây nên hậu quả nào nghiêm trọng. Ý tưởng về việc giúp E. Howard đi tìm một việc làm mới, một lẽ tự nhiên đối với mọi cơ quan, từ tòa báo đến những xưởng mĩ phẩm, rõ ràng đã không bao giờ được đặt ra trong CIA.

E. Howard chuyển tới Santa Fe, bang New Mexico và tìm được việc làm ở một công ty luật của nhà nước. Năm 1984, E. Howard bị án treo năm năm vì tội sử dụng trái phép khẩu súng lục Magnum 44 trong cuộc cãi vã với một phụ nữ.

Hai tháng trước vụ đào thoát của V. Yurchenko, nhân viên phản gián của Liên Xô đã bắt giữ Paul M. Stombaugh Jr., điệp viên của CIA nhận các tài liệu mật từ Adolf Tolkachev, một nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quân sự của ngành công nghiệp quốc phòng Liên Xô. Rất có thể chính E. Howard đã thông báo cho KGB rằng Adotf Tolkachev là một trong số các cơ sở của CIA. Trong nhiều năm trời, A. Tolkachev đã chuyển cho CIA ảnh chụp nhiều căn cứ quân sự của Liên Xô hoặc những chỉ dẫn quý giá về kĩ thuật quân sự, trong đó có bí mật về các loại máy bay hay tàu ngầm thế hệ mới của Liên Xô. Những tài liệu này cứ hai tháng một lần được A. Tolkachev chuyển qua một hộp thư chết ở Moscow. Các cuộn phim được giấu trong những cái hộp trông giống như viên đá hoặc đôi khi là loại hộp đặc biệt - sản phẩm khéo léo của Ban kĩ thuật trong CIA - được một chú chó tha đến và “đánh rơi” ở địa điểm đã quy định trước, P. Stombaugh bị bắt tại trận khi mang theo số tiền rúp tương đương 150.000 USD, một máy ảnh tí hon, thuốc biệt dược và nhiều thiết bị gián điệp khác mà CIA định cung cấp cho A. Tolkachev.

Những thông tin của A. Tolkachev giúp cho hải quân Mỹ tiết kiệm được hàng tỉ đô la bởi vì nó cho thấy Mỹ và các đồng minh của mình đã đi theo một hướng sai lạc trong nghiên cứu nhằm phát hiện và tiêu diệt các tàu ngầm của hải quân Xô viết.

Có vẻ như mọi việc bắt đầu trở nên rõ ràng. Dường như E. Howard đã báo cho KGB biết về A. Tolkachev, người sau đó bị xử tử ngay lập tức vì tội phản bội. Đồng thời, phía Liên Xô cũng trục xuất điệp viên P. Stombaugh khỏi Moscow. Cũng có thể E. Howard còn phải chịu trách nhiệm về hàng loạt thất bại khác của CIA với việc các điệp viên hoạt động dưới vỏ bọc ngoại giao bị trục xuất, còn những điệp viên bất hợp pháp tại Moscow liên tiếp bị phản gián Xô viết phát hiện và xử tử.

+++++

Ngồi dựa thoải mái trên ghế trong căn phòng ở cơ sở bí mật của CIA tại Great Falls, V. Yurchenko bắt đầu quay sang kể về một điệp viên khác đang hoạt động tại Mỹ.

Người này đã làm việc cho Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ NSA, cơ quan tuyệt mật mà trụ sở là một tổ hợp nằm ở phía bắc Washington, có nhiệm vụ nghe lén mọi thông tin điện tử trên khắp địa cầu. V. Yurchenko nhớ lại rằng khi còn làm sĩ quan an ninh tại sứ quán Liên Xô ở Washington, bản thân từng có một cuộc gặp với nhân viên NSA này. Ông có thể nhớ được lần gặp đầu tiên với anh ta, nhưng cũng không chắc chắn lắm. Cuộc gặp diễn ra trong khoảng thời gian giữa năm 1977 và 1979. Khi người Mỹ này vào bên trong sứ quán, phía Liên Xô nhận thấy có một sự thay đổi đột biến trong làn sóng điện các trạm vô tuyến của FBI ở xung quanh sứ quán. Các nhân viên FBI có nhiệm vụ theo dõi sứ quán rối rít bắt liên lạc với nhau, cố xác định xem người đàn ông đó là ai. Người đàn ông lộ vẻ bồn chồn. Phải mất vài phút, anh ta mới bắt đầu đi vào câu chuyện.

Người đàn ông đó mang theo tài liệu chứng tỏ anh ta đã tốt nghiệp một khóa đào tạo của NSA. Anh ta nói muốn những tài liệu mà anh ta bán sẽ được thanh toán bằng vàng thỏi. Do sự khác biệt về ngôn ngữ, V. Yurchenko nghĩ rằng ý của anh ta muốn nói đến món xúp gà... Nhưng KGB nhận ngay ra người đàn ông này là một điệp viên đáng giá. Theo V. Yurchenko, sau ba giờ ở trong sứ quán, các nhân viên an ninh Xô viết đã cạo bộ râu của người đàn ông này rồi khoác cho anh ta một chiếc áo thụng mà những công dân làm việc trong sứ quán vẫn mặc. Anh ta được lén đưa qua cửa ngách của sứ quán tới một chiếc ô tô tải, trên đó có đầy người của sứ quán.

Họ đưa anh ta tới khu nhà ở của các nhân viên Liên Xô tại khu vực sứ quán mới trên đỉnh Alto. Ở đó, anh ta ăn bữa tối và được chỉ dẫn làm cách nào gặp lại những người Xô viết ở thủ đô Vienna của Áo. Những người Xô viết hiếm khi bố trí gặp các điệp viên Mỹ trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Trường hợp từng xảy ra trước đó khi họ trực tiếp gặp John Walker trong thời kì đầu xác lập “đường dây gián điệp nhà Walker” là chuyện chẳng đặng đừng, sau đó đã cương quyết chuyển các cuộc tiếp xúc trực tiếp ra nước ngoài...

Sau bữa ăn ở khu nhà mới của sứ quán Liên Xô tại đỉnh Alto, người đàn ông quay trở lại nơi anh ta đỗ chiếc ô tô, cách xa tòa nhà sứ quán cũ của Liên Xô.

V. Yurchenko không bao giờ biết tên thật của người đàn ông mà chỉ biết được biệt danh của anh ta là Long.

Nhấp một ngụm rượu nóng, thứ nước mà V. Yurchenko ưa thích do bị bệnh đau dạ dày, V. Yurchenko nói người đàn ông đó đã thông báo cho KGB biết những thông tin điện tử nào của phía Xô viết mà NSA quan tâm nghe lén. Anh ta cũng thông báo cho KGB biết về một chiến dịch tuyệt mật, được ưu tiên số một của NSA. Vài năm trước đó, những người Xô viết đã đặt một đường cáp ngầm dưới biển Okhotsk, nối giữa căn cứ tàu ngầm ở thành phố Petropavlovsk với Sở chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương ở Vladivostok. Người đàn ông tiết lộ rằng các nhân viên của NSA đặt được một máy nghe lén vào đường cáp và có thể nắm toàn bộ nội dung các cuộc nói chuyện qua đường cáp này. Bắt đầu từ tháng 8-1972, chiến dịch này của NSA được mang mật danh là Ivy Bells. Sau đó, dựa trên sự chỉ dẫn của người đàn ông, những người Xô viết đã tìm thấy máy nghe lén và gỡ nó đi.

V. Yurchenko nói rằng ít ngày trước khi đào thoát, ông đã gặp nhân viên KGB phụ trách điệp vụ có liên quan đến người đàn ông nọ. Anh ta nói với V. Yurchenko rằng người cựu nhân viên của NSA đã có hai lần gặp nhân viên KGB tại Vienna, thành phố KGB thường tổ chức các cuộc gặp mặt với các điệp viên đang hoạt động trên lãnh thổ hải ngoại.

V. Yurchenko nói người đàn ông đó trạc tuổi từ 35 đến 38, đã có vợ, lái một chiếc xe màu xanh và có mái tóc màu hung. V. Yurchenko chỉ vào mặt bàn gỗ sồi màu đồng và nói rằng màu tóc của người đàn ông cũng tương tự như vậy.

Ngoài hai điệp viên của KGB ở Mỹ, V. Yurchenko còn tiết lộ nhiều chiến dịch xâm nhập vào các cơ quan tình báo phương Tây mà KGB đã thực hiện. Đó là đầu mối về các điệp viên của KGB hoạt động ở CIA hoặc NSA trong nhiều thời kì khác nhau, hoặc những điệp viên làm việc tại các cơ quan quân sự. Nhiều vụ đã ở trong quá khứ, nhưng cũng có những vụ hoặc đã bị bắt giữ, phát hiện, hoặc vẫn còn đang tiếp tục diễn ra.

V. Yurchenko kể tỉ mỉ về Chiến dịch audio - những “con rệp” điện tử hoặc máy ghi âm - được KGB gài vào hầu hết các hệ thống thông tin của Mỹ trên khắp thế giới. Rồi cả những nhân vật đã hợp tác với KGB, các chiến dịch tuyên truyền, tung tin giả. Phía Liên Xô cũng đã xác định được danh tính các điệp viên nhị trùng của FBI hoặc CIA, những người Mỹ đã làm việc cho các cơ quan này và giả vờ phản bội.

Trong số những tiết lộ của V. Yurchenko có một điều rất đáng chú ý. KGB có một ban đặc biệt được gọi là Nhóm dự trữ, bao gồm những điệp viên cực kì bí mật. Họ chỉ được sử dụng trong trường hợp xảy ra chiến tranh hoặc toàn bộ các điệp viên dưới vỏ bọc ngoại giao bị trục xuất khỏi một nước nào đó. Còn khi không cần thiết, các điệp viên này hoạt động như những nhân viên ngoại giao bình thường. V. Yurchenko cũng cung cấp tên của một số điệp viên thuộc loại này.

Không nhìn những người ngồi nói chuyện với mình, V. Yurchenko thừa nhận rằng cặp rượu cognac và vodka mà ông tặng cho Ed Joyce, sĩ quan liên lạc của FBI với sứ quán Liên Xô năm 1980, người mà ông đã kết thân, có lớp giấy bọc được tẩm một loại “bụi” đặc biệt. Đây không phải là lần đầu các điệp viên đào thoát đề cập tới loại “bụi” này, thế nhưng V. Yurchenko là người hiểu rõ hơn tất cả điệp viên đào thoát trước đó về việc KGB sử dụng loại “bụi” này như thế nào để dò tìm những người làm việc cho CIA.

- Những hợp chất này được rắc lên vô lăng ô tô. - V. Yurchenko nói. - Khi chạm tay vào vô lăng sẽ để lại vết. Rất khó tẩy những vết này đi. Chúng sẽ phát quang khi được chiếu một loại ánh sáng đặc biệt.

V. Yurchenko nói thêm rằng ông lấy làm tiếc là đã tặng những chai rượu có “bụi” cho E. Joyce.

Sau này, một đặc vụ cùng cơ quan FBI với E. Joyce đã hỏi V. Yurchenko liệu có muốn gặp lại Ed Joyce không.

- Không. - V. Yurchenko nói vẻ cay đắng. - Trước đây chúng tôi bình đẳng với nhau, mỗi người có công việc của mình. Chúng tôi có thể gặp nhau thường xuyên. Bây giờ thì anh ấy có việc của anh ấy, còn tôi là một kẻ phản bội. Tôi không thể gặp anh ấy được.

+++++

Image
Image

Ngay cả khi nói rằng từ lâu đã có ý định đào thoát, thế nhưng V. Yurchenko không hề có ý thức thu thập một cách hệ thống những thông tin quý giá cho CIA. Theo V. Yurchenko, ý tưởng rời Liên Xô được ông giữ kín ở trong đầu và chỉ cái chết của bà mẹ trước đấy vài tháng mới dẫn V. Yurchenko tới quyết định đào thoát.

Ông từng có thông tin về vụ Farewell, mật danh của Đại tá Vladimir I. Vetrov, sĩ quan KGB bị Tổng cục An ninh quốc gia DST của Pháp tuyển mộ. Trong một cuộc gặp thượng đỉnh diễn ra ngày 19-7-1981 ở Ottawa, tổng thống Pháp khi ấy là François Mitterrand đã tiết lộ với Tổng thống Mỹ Ronald Reagan về điệp viên này, người làm việc ở Ban T trong KGB, chuyên chịu trách nhiệm đánh cắp những bí mật khoa học công nghệ của phương Tây. Phía Pháp đề nghị tình báo Mỹ hợp tác cùng khai thác Farewell. Tháng 8-1981, hồ sơ về điệp viên Farewell được chuyển giao cho phía Mỹ. Giám đốc CIA William Casey đề nghị sử dụng Farewell cho các hoạt động đánh lừa công nghệ. Các thiết bị công nghệ bán cho Liên Xô được cài vào đó những chương trình lỗi. Những “con rệp” điện tử mà Liên Xô bí mật nhập về bị cài virus và không hoạt động theo ý muốn. Thậm chí đã xảy ra một số vụ nổ nhỏ mà phía Liên Xô không sao xác định được nguyên nhân. Hoạt động gián điệp của V. Vetrov cho phương Tây bất ngờ kết thúc vào tháng 2-1982 khi dính vào một vụ scandal, đâm bị thương người tình của mình, cũng là một điệp viên KGB bố trí để theo dõi anh ta. Bị kết án mười hai năm tù vì tội giết người, V. Vetrov đều đặn viết thư cho vợ, những lá thư mà KGB kiểm tra và phát hiện ra các chi tiết liên quan đến một cuộc sống khác của viên sĩ quan cao cấp KGB. V. Vetrov bị thẩm vấn, thú tội làm gián điệp cho phương Tây và sáu tháng trước khi V. Yurchenko đào thoát, bị KGB xử tử ngày 23-1-1985.

Khi được giao nhiệm vụ làm sĩ quan an ninh tại sứ quán Liên Xô ở Washington, V. Yurchenko nói, ông cũng biết KGB từng tiến hành một “chiến dịch lớn” nhưng thông tin chỉ có thế mà thôi. Sau này, V. Yurchenko mới biết đó là chiến dịch tuyển mộ sĩ quan hải quân John Walker, người đã xây dựng “đường dây gián điệp nhà Walker”.

- Đó là chiến dịch điệp báo thành công nhất trong lịch sử KGB. - V. Yurchenko nói với các nhân viên CIA và FBI giám sát. - Chúng tôi đã giải mã được hàng triệu bức điện của các anh. Nếu nổ ra một cuộc chiến tranh thì hẳn là phía Xô viết đã thắng.

Cũng có những vụ việc trong quá khứ mà V. Yurchenko biết khá rõ, như điệp vụ liên quan đến Nicholas G. Shadrin. Từ lực lượng hải quân Xô viết, N. Shadrin, tên thật là Nikolai F. Artamonov, đào thoát sang CIA nhưng rồi sau đó đã biến mất ở Vienna, Áo, vào ngày 20-12-1975, khi anh ta tới một cuộc gặp với nhân viên KGB theo yêu cầu của FBI và CIA.

Trong biên niên sử của các cơ quan tình báo Mỹ, có lẽ không có vụ nào kết thúc thảm hại như vụ N. Shadrin. Nó bắt đầu vào một ngày thứ bảy năm 1966, khi sĩ quan KGB Igor R. Kozlov gọi điện về nhà riêng của Richard Helms, lúc đó là giám đốc CIA. I. Kozlov, người trong vụ này được đặt mật danh là Kitty Hawk, đã nói chuyện với Julia, vợ của R. Helms. Anh ta nói có một số thông tin mà CIA quan tâm.

Giám đốc R. Helms không bao giờ nói chuyện trực tiếp với I. Kozlov. Theo chỉ đạo của sếp bộ phận phản gián CIA là James Angleton, một nhân viên CIA đã tiến hành tiếp xúc với I. Kozlov. I. Kozlov tuyên bố anh ta có thể cung cấp cho CIA mọi thông tin cần thiết về KGB. Sau vài cuộc tiếp xúc, I. Kozlov nói rằng anh ta cần sự giúp đỡ để làm vỏ bọc cho công việc của mình và việc này đã dẫn tới Nicholas Shadrin.

Nhìn bề ngoài, đề nghị này có vẻ ngớ ngẩn, giống như một người tù đề nghị phải cho anh ta một triệu USD để cung cấp những thông tin về sự lừa gạt của nhà băng. Điều không bình thường đối với một điệp viên được tuyển mộ tại chỗ, người đã giúp phía Mỹ rất nhiều trong khi vẫn đang làm việc cho KGB, là yêu cầu sự giúp đỡ từ các đồng nghiệp của chính anh ta. Lẽ ra, một đề nghị như vậy phải là tiếng chuông báo động, rằng người này là một nhân vật đáng ngờ. Đã có quy luật bất thành văn trong cộng đồng tình báo Mỹ rằng các điệp viên Xô viết đào thoát phải được bảo vệ bằng mọi giá. Ngay cả trong trường hợp phía Mỹ chắc chắn rằng I. Kozlov là một người được tuyển mộ chứ không phải điệp viên nhị trùng đánh sang để lừa người Mỹ thì cũng không được làm gì để gây hại cho N. Shadrin. Nhưng J. Angleton đã rơi vào cái bẫy đơn giản và cả FBI cũng vậy.

Cả CIA và FBI đều nói với N. Shadrin, người làm việc cho Cơ quan tình báo quốc phòng DIA, rằng nếu như KGB tiếp xúc với anh ta thì hãy báo lại cho CIA và FBI. Trong khi đó, hai điệp viên khác chỉ cho I. Kozlov nơi N. Shadrin thường đi mua hàng. Khi I. Kozlov đến gặp, N. Shadrin liền báo lại cho FBI và CIA. Anh ta được chỉ dẫn là chấp nhận trò chơi, giả vờ làm việc cho KGB. Không ai nói với N. Shadrin rằng CIA và FBI đã tiết lộ cho I. Kozlov về công việc của anh ta. N. Shadrin phản đối nhưng người phụ trách anh ta trong DIA cũng khuyến khích anh ta tiếp tục trò chơi. N. Shadrin đành chấp nhận với hi vọng rằng anh ta vẫn sẽ được đảm bảo an toàn.

Trong thời gian làm việc ở Mỹ, I. Kozlov cung cấp cho N. Shadrin một vài tin lặt vặt về hoạt động gián điệp khiến cho FBI và CIA đều hài lòng. Nhưng I. Kozlov không bao giờ tiết lộ thông tin nào có giá trị và cũng không có bất cứ vụ án nào được xét xử từ những tin tức mà anh ta cung cấp.

N. Shadrin cũng “lại quả”, cung cấp cho I. Kozlov những tin tương tự, nhưng ở đây có một điều khác biệt lớn: Phía Xô viết biết chắc N. Shadrin hiện đang nằm trong tầm kiểm soát của các cơ quan tình báo Mỹ. CIA và FBI vẫn hi vọng rằng I. Kozlov sẽ giúp ích cho Mỹ.

Vài tháng sau, I. Kozlov nói anh ta được thuyên chuyển về Moscow. Anh ta giới thiệu N. Shadrin với một điệp viên khác của KGB. Trong mười năm sau đó, N. Shadrin đã gặp các điệp viên KGB ở Montreal và một lần tại Vienna, Áo. Trong thời gian này, không một ai trong các cơ quan tình báo của Mỹ nghĩ rằng họ đã bị chơi xỏ. Cũng không ai có ý tưởng rõ ràng là trò chơi gián điệp này sẽ dẫn tới đâu. Trong bối cảnh chính quyền của Tổng thống R. Reagan thỏa thuận buôn bán vũ khí để đổi lấy con tin ở Iran, các cơ quan tình báo Mỹ chẳng bao giờ xét xem họ được những gì và mất gì.

Ngây thơ một cách đáng ngạc nhiên, FBI và CIA hi vọng rằng I. Kozlov sẽ quay trở lại vào một ngày nào đó và tiếp tục tiết lộ các tin tức như anh ta đã hứa. Điều này phù hợp với nỗi ám ảnh của người phụ trách phản gián trong CIA J. Angleton về việc tìm ra những “chuột chũi” - điệp viên KGB - chui sâu trong CIA. J. Angleton muốn I. Kozlov xác định xem Yuri Nosenko, người đào thoát sang Mỹ từ năm 1964, có thực sự là điệp viên đào thoát giá trị hay không. Nếu Y. Nosenko là một nhân vật giả trá thì điều này sẽ chứng minh cho lời khai của Anatoliy Golistin, điệp viên đào thoát được J. Angleton ưa thích, rằng trong hàng ngũ cấp cao của CIA đã có một con “chuột chũi”, biệt danh là Sasha, thâm nhập vào.

Quả là có một Sasha thật nhưng không phải trong hàng ngũ cấp cao. Trên thực tế, anh ta không hoạt động bên trong CIA và đã chấm dứt làm việc với CIA từ năm 1961. Đó là Igor Orlov, một người Nga làm việc theo chế độ hợp đồng với CIA tại Đức từ năm 1949. Sau khi CIA chỉ thị cho Orlov tới Mỹ thì CIA cũng cắt đứt mối liên hệ với anh ta.

Những cung cách làm việc kiểu như vậy đã mang đến hậu quả thảm khốc cho N. Shadrin. Tháng 12-1975, KGB triệu tập N. Shadrin tới Vienna lần thứ hai. Anh ta đi cùng với vợ là Ewa.

N. Shadrin bảo Ewa cùng đi với mình sang Áo để trượt tuyết. N. Shadrin nói với cô rằng anh ta có kế hoạch gặp một người Xô viết đã làm việc cho Mỹ hai mươi lăm năm rồi. Trên thực tế, người này là nhân viên KGB mà I. Kozlov - có biệt danh là Kitty Hawk - đã giới thiệu.

Sau khi đặt phòng ở khách sạn Bristol tại Vienna, thứ năm, ngày 18-12-1975, N. Shadrin gặp nhân viên KGB. Hôm sau, N. Shadrin nói sẽ gặp lại người đó vào tối thứ bảy. Ewa nói muốn đi xem vở Gypsy Baron ở nhà hát opera ngay phía bên kia đường. N. Shadrin mua một vé buổi diễn tối thứ bảy. Anh ta nói sẽ gặp lại vợ ở khách sạn khi buổi biểu diễn kết thúc.

Tới 11 giờ đêm, Ewa chưa thấy chồng mình về nhà. Đến sau 12 giờ đêm thì cô bắt đầu cảm thấy lo lắng.

N. Shadrin có để lại cho Ewa số điện thoại của Cynthia Hausmann, nhân viên CIA cùng tới Vienna để giám sát cuộc gặp. Khi còn ở Washington, N. Shadrin đã giới thiệu cô ta với Ewa, nói rằng đó là một người bạn tên là Ann Martin. Anh ta không nói Cynthia là người của CIA. Ewa ngay lập tức thấy không ưa Cynthia. Cô ta quá lạnh lùng và cách biệt. Nhưng vào lúc này, khi mối lo lắng về sự biến mất của chồng tăng lên, Ewa đành gọi cho C. Hausmann ở khách sạn của cô ta. Không có người trả lời.

Đến 1 giờ 55 phút sáng, Ewa gọi lại và lần này thì C. Hausmann nhấc máy.

C. Hausmann nói Ewa đừng lo lắng. Ở cuộc gặp trước, N. Shadrin đã từng về muộn.

- Hãy gọi lại cho tôi nếu anh ấy không về. - C. Hausmann dặn, nói sẽ tới khách sạn chỗ Ewa đang ở. Khi cô ta tới, Ewa bắt đầu khóc.

- Hãy cho tôi biết nơi các bạn định trượt tuyết. - C. Hausmann nói vẻ lạnh nhạt.

Ewa biết rằng họ đâu có định đi trượt tuyết.

- Tại sao chị không kiểm tra người đàn ông mà N. Shadrin sẽ gặp? - Ewa hỏi C. Hausmann.

- Chúng tôi không biết anh ta.

- Chị nói gì vậy? Anh ta làm việc cho các chị hai mươi lăm năm rồi cơ mà. - Ewa nói, nhớ đến những lời mà N. Shadrin đã nói với cô trước khi họ đi Vienna.

Khi đó, Ewa đã biết chắc người phụ nữ lạnh lùng này làm việc cho CIA. Cô chưa bao giờ gặp một người nào vô cảm như cô ta.

- Lạy Chúa, tôi biết phải làm gì nếu thiếu Nick? - Ewa nức nở.

- Có lẽ chị phải quen với việc đó thôi. - C. Hausmann trả lời.

N. Shadrin không bao giờ quay lại. Nếu như đã có một nguyên tắc là phải bảo vệ các điệp viên đào thoát khỏi sự phát hiện của KGB ngay ở trên lãnh thổ Mỹ thì quả thực là không thể nào lại nghĩ rằng có thể cho phép họ gặp nhân viên KGB ở nước ngoài. Theo luật pháp Xô viết, đào thoát là một tội đáng tử hình. N. Shadrin đã bị kết án tử hình vắng mặt. Cho phép N. Shadrin gặp nhân viên KGB trong trường hợp này có thể coi như đẩy anh ta ra đứng trước một đội hành quyết.

Những năm sau đó, Ewa can đảm lao vào cuộc tìm kiếm xem điều gì đã xảy ra với chồng mình. Chính phủ Mỹ lẩn tránh quanh quẩn. Richard D. Copaken, một luật sư của công ty Covington & Burling ở Washington đã nhận vụ này miễn phí cho Ewa.

Bị sức ép từ Ewa Shadrin và luật sư của cô, Bộ Ngoại giao Mỹ lên tiếng phản đối phía Xô viết. Kết quả là nhà lãnh đạo Xô viết Leonid I. Brezhnev gửi thư cho Tổng thống Mỹ G. Ford, nói rằng N. Shadrin không hề tới cuộc gặp thứ hai của anh ta ở Vienna. Dựa trên bức thư này, Ewa Shadrin cho rằng phía Mỹ hẳn có nhiều thông tin về việc chồng cô mất tích, thế nhưng đã giấu giếm.

V. Yurchenko đã giúp CIA khép lại chương cuối của câu chuyện bi thảm này. Lưu ý rằng những thông tin chỉ được nghe ở hành lang của trụ sở KGB, V. Yurchenko nói rằng KGB đã bắt cóc N. Shadrin ở Vienna và dùng thuốc mê nhằm đưa anh ta ra khỏi Áo.

- Họ đã cho thuốc mê quá liều. - V. Yurchenko nói. - Anh ta chết trên đường tới biên giới Tiệp Khắc.

+++++

Ngoài vụ bắt cóc bất thành N. Shadrin, V. Yurchenko tiếp tục tiết lộ về một số vụ ám sát khác do cơ quan đặc vụ đồng minh của KGB tiến hành, là cơ quan tình báo Bulgaria, Durzhavna Sigurnost. Cơ quan này đã chế tạo một loại ô che có thể bắn ra những viên đạn tẩm thuốc độc sử dụng để thực hiện các điệp vụ ám sát. Loại vũ khí đặc biệt này đã được dùng vào năm 1978 tại London để ám sát Georgi I. Markov, một nhà báo và là người bất đồng chính kiến. G. Markov khiến Sofia tức giận vì đã mô tả cuộc sống của những quan chức cao cấp chính phủ Bulgaria trong các bài nói chuyện hằng tuần trên đài phát thanh Radio Liberty. Trong khi đang leo lên những bậc đá gần cầu Westminster ở London, G. Markov bỗng thấy có một vật gì thúc mạnh vào bắp đùi. Một người đàn ông đi bên cạnh xin lỗi và cúi xuống nhặt cái ô bị rơi trên mặt đất. G. Markov chết hai ngày sau đó.

Các điệp viên CIA bắt đầu hỏi về những tin tức nói rằng KGB đã sử dụng điệp viên Bulgaria để ám sát Giáo hoàng John Paul II ngày 13-5-1981.

- Theo chỗ tôi biết thì KGB không có liên quan gì. Nhưng tôi không chắc lắm. - V. Yurchenko nói, có ý đề cập đến vai trò của Tổng cục 2 KGB. - Họ có thể làm mọi điều.

Những tin tức của V. Yurchenko về vụ này cũng phù hợp với thông tin mà CIA nắm được. Bất chấp những lời khai của tên ám sát người Thổ Mehmet Ali Ağca rằng y thực hiện vụ ám sát theo lệnh của cơ quan mật vụ Bulgaria, CIA vẫn tin KGB không dính líu gì đến âm mưu này. M. Ağca, người chịu án tù chung thân tại một nhà tù ở Ý vì tội bắn giáo hoàng trên Quảng trường Thánh Peter, trong phiên tòa kéo dài mười tháng cùng với ba đồng mưu khác, đã đảo lộn mọi lời khai bằng cách nhắc đi nhắc lại rằng: “Tôi là Chúa Jesus!”

Khi điệp viên CIA Art rót thêm một li cà phê từ máy pha cà phê đưa cho V. Yurchenko, ông bắt đầu giải thích lí do tại sao không muốn CIA hay bất cứ cơ quan nào của Mỹ công bố về vụ đào thoát của mình.

- KGB có thể cho rằng tôi đã đào thoát, - V. Yurchenko nói, - nhưng họ sẽ cần có thêm bằng chứng trước khi tiến hành các hành động chống lại gia đình, vợ và các con tôi. Nếu KGB có thể khẳng định tôi đã từ bỏ đất nước thì họ sẽ đuổi vợ tôi và không cho con trai tôi hưởng chế độ giáo dục đối với gia đình các nhân viên nhà nước. Vợ tôi chắc phải đi lau sàn nhà. Tôi chắc rằng họ cũng sẽ cắt hết mọi khoản tiền trợ cấp hưu của cô ấy.

Do lo ngại KGB sẽ có bằng chứng về việc ông đã đào thoát, V Yurchenko phản đối khi CIA muốn chụp ảnh ông. Để có giấy đi lại cho V. Yurchenko mà không cần ảnh, cuối cùng CIA quyết định làm cho ông bằng lái xe tại một bang của Mỹ không yêu cầu phải có ảnh người lái. V. Yurchenko cũng không muốn gặp các nhà ngoại giao Xô viết ở Bộ Ngoại giao, một thủ tục mà hai bên thường tiến hành để xác nhận việc đào thoát.

Cũng dễ hiểu là ông không muốn gọi điện thoại cho vợ và các con. Việc đó có thể cung cấp bằng chứng cho KGB về việc đào thoát của V. Yurchenko.

Việc thẩm vấn tại địa điểm của CIA ở Great Falls kéo dài trong hai tuần, sau đó CIA chuyển V. Yurchenko tới một khách sạn ở Tysons Corner, vùng McLean, Virginia, để chịu sự kiểm tra của máy phát hiện nói dối. Đó là một trong những quy trình bắt buộc để xác định sự chân thật của V. Yurchenko. CIA đã lùi thời gian kiểm tra trên máy lại bởi vì những người đào thoát thường vẫn mang mặc cảm, do vậy máy rất khó “đọc” được những thông tin đáng tin cậy từ họ.

Tại khách sạn ở gần Tysons Corner, cuộc kiểm tra bắt đầu với những câu hỏi đơn giản như có phải tên ông là Vitaly S. Yurchenko? Ông năm nay 49 tuổi? Sau đó, chuyên viên kiểm tra bắt đầu đưa ra những câu hỏi sâu hơn như có phải ông được một cơ quan tình báo thù nghịch phái đến không? Hiện nay ông đang chịu sự điều khiển từ xa? Ông có liên lạc với bất kì một cơ quan tình báo thù nghịch nào không? Ông có sắp đặt những lời khai hoặc nói dối không?

- Có vẻ rất tốt đấy. - Người chuyên viên nói khi cuộc kiểm tra kết thúc.

+++++

Theo nguyên tắc, CIA sẽ chuyển V. Yurchenko tới một ngôi nhà an toàn mới, biệt lập, nằm ngoài bán kính khu vực mà các nhà ngoại giao Xô viết được phép lui tới ở Washington. Họ chọn được một ngôi nhà ở khu Coventry, cách Washington 50 dặm về phía tây, thuộc vùng Bealeton, Virginia, nơi diễn ra những trận đánh lẻ tẻ thời Nội chiến. Nó nằm ở gần rìa phía tây nam của hạt Fauquier, phía tây được bao bọc bởi dãy núi Blue Ridge, trong hạt Piedmont nằm ở phía bắc Virginia.

Được James S. Gibson, Jr. xây dựng từ năm 1973, Coventry chẳng có giá trị gì mấy nếu như không có sự biệt lập của nó. Lối vào duy nhất của khu này từ phía đường 17, với dấu hiệu là tấm biển viết chữ trắng theo kiểu Gothic, gần một cái trạm không có người gác. Toàn bộ những con đường hẹp còn lại của Coventry có bề rộng 24 bộ đều là những đường cụt; bất cứ ai có ý định muốn rời khu vực này với mong muốn không bị phát hiện đều là ảo tưởng.

Nơi CIA bố trí cho V. Yurchenko trong thời gian ở Mỹ là một tòa nhà hai tầng theo kiểu thuộc địa, khung gỗ, quét vôi màu xanh sáng với những cánh cửa sơn màu xanh nhạt. Từ hai đầu hồi tòa nhà nhô lên hai ống khói lò sưởi bằng gạch màu đỏ nâu. Ở cánh trái của tòa nhà chỉ có một tầng, có mái vòm, bên trên trần nhà lợp nhựa đường. Tất cả các góc nhà đều có đèn pha chiếu vào ban đêm. CIA thuê ngôi nhà trong sáu tháng với giá 2.000 USD một tháng, khá cao so với giá thị trường lúc bấy giờ.

Tối 24-8, các nhân viên CIA đưa V. Yurchenko đến ngôi nhà mới, nơi ông sẽ sống trong suốt thời gian ở Mỹ. Có ba phòng ngủ, hai phòng tắm ở tầng trên, tất cả đều được quét vôi màu xanh nhạt. Tầng dưới là phòng khách, phòng ăn và bếp. Cánh trái của tầng dưới ngôi nhà cũng là dãy phòng ngủ, phòng nhỏ để làm việc và một phòng tắm. Những nhân viên canh gác sẽ nghỉ đêm ở các phòng ngủ này. Ở khu phòng giải trí cũng có một phòng ngủ và phòng tắm nhỏ.

Khi V. Yurchenko chuyển đến nơi ở mới thì CIA cũng thay đổi những người giám sát. Điệp viên Art, nhân viên giám sát của CIA được cử đi công tác ở nước ngoài. Thay thế vào đó là Frederick R. Walters, một nhân viên CIA cần cù, có mái tóc màu hung đỏ. Walters từng hoạt động ở Tây Đức. Cũng giống C. Thompson, Walters không nói được tiếng Nga. Với V. Yurchenko, anh ta tự giới thiệu mình tên là Karl. Cũng vào thời gian đó, nhân viên CIA C. Thompson trở thành người đứng đầu của nhóm giám sát V. Yurchenko, thay thế cho điệp viên P. Redmond phải trở về làm trưởng nhóm phản gián trong Ban Liên Xô - Đông Âu.

Ban an ninh CIA cho lắp hệ thống chuông báo động ở cửa ra vào, các cửa sổ của ngôi nhà và một bộ đo cảm biến trên lối đi. Những nhân viên CIA canh gác thường rảo quanh nhà và gọi vào máy bộ đàm cầm tay. Ngay cả vị khách hiền lành chẳng may vô tình ghé vào ngôi nhà cũng bắt gặp thái độ đón tiếp hằn học ở các nhân viên này, những người thích sử dụng chó để tấn công người lạ. Những chú chó này chỉ học khẩu lệnh tấn công mà chẳng bao giờ được dạy khẩu lệnh dừng lại!

Trước khi chuyển V. Yurchenko tới ngôi nhà an toàn, Ban an ninh CIA cũng tiến hành kiểm tra nhân thân của tất cả những người trong khu nhà nhằm phát hiện bất kì sự đáng ngờ nhỏ nhặt nào. Tất cả những gì họ tìm được là Bruce Learned, một nhân viên CIA đã về hưu sống gần đó. Con gái ông ta, Michael Learned, là người đóng vai bà mẹ trong bộ phim The Waltons.

Thường thường, V. Yurchenko dậy vào lúc 8 giờ sáng. Ông đọc tờ The Washington Post và tự làm cho mình món cháo yến mạch. Trong khi ăn, thỉnh thoảng V. Yurchenko nhấp một ngụm trà nấu từ loại thảo dược ông mang theo từ Liên Xô. Ông gọi loại thảo dược này là “cỏ”, nói rằng nó giúp chữa bệnh đau dạ dày. CIA đã lấy một mẫu nhỏ đem phân tích và thấy rằng đó là loại thuốc dân gian gồm lá nguyệt quế, lá cúc tán nhỏ mà người Nga thường dùng để trị một số bệnh. Khi V. Yurchenko dùng hết chỗ “cỏ” này, trạm CIA ở New York đã mua một ít của những người Nga di cư sống ở Brighton Beach và gửi cho V. Yurchenko.

V. Yurchenko yêu cầu có báo tiếng Nga để đọc, nhưng thường thường, ông chỉ nhận được hai lần trong một tuần, khi có ai đó chợt nhớ ra và thu thập những bản copy ở Tổng hành dinh của CIA và mang đến cho ông. V. Yurchenko tự giặt lấy quần áo của mình. CIA từng định đưa hẳn một đầu bếp đến để phục vụ ông nhưng dự định này chẳng bao giờ được thực hiện.

Do trụ sở CIA gần nhất cũng ở khá xa ngôi nhà an toàn nên công việc thẩm vấn V. Yurchenko được tiến hành ngay ở trong phòng giải trí của ngôi nhà. Thường thường, nó bắt đầu vào khoảng 9 hoặc 10 giờ sáng tất cả các ngày trong tuần và đôi khi, cả trong ngày nghỉ cuối tuần. Quá trình thẩm vấn kéo dài đến 1 hoặc 2 giờ chiều, trừ phi do FBI tiến hành. Họ thường làm lâu hơn, đến tận 5 giờ chiều.

V. Yurchenko đã bày tỏ rất rõ ràng rằng ông không muốn thấy nhiều nhân viên tham gia thẩm vấn. Việc mở rộng phạm vi những người biết vụ này có thể gây nguy hiểm cho V. Yurchenko. Ban phản gián của CIA, bộ phận chịu trách nhiệm soạn các báo cáo lên Hội đồng tình báo quốc gia cũng muốn gặp V. Yurchenko, nhưng những người chịu trách nhiệm giám sát đã từ chối.

Vào các buổi tối, V. Yurchenko đọc sách báo, xem ti vi hoặc các phim video. Từ hồi còn làm ở sứ quán Liên Xô, V. Yurchenko đã biết hiệu sách Victor P. Kamkin ở Rockville, Maryland, có nhiều sách tiếng Nga. Ông yêu cầu được tới đó nhưng Ban Liên Xô - Đông Âu của CIA từ lâu không cho phép các điệp viên đào thoát được tới hiệu sách của Kamkin. Các nhà ngoại giao Xô viết cũng có thể tới đó. C. Thompson cho rằng V. Yurchenko có thể tới đó dưới lốt cải trang; CIA có khả năng biến V. Yurchenko thành một người da đen! Nhưng đề nghị của anh ta bị gạt đi. Cũng chẳng có ai nghĩ tới việc đặt mua các cuốn sách từ hiệu Kamkin cho V. Yurchenko.

Thay vào đó, một nữ nhân viên Ban Liên Xô - Đông Âu tình nguyện mang tới chỗ V. Yurchenko những bộ phim của Nga thuê ở hiệu BBK Electronics, ở số 15873 đường Redland, bên cạnh đường Frederick, Rockville. Cửa hiệu này có một kho dự trữ khoảng 150 bộ phim của Nga với giá thuê mỗi cuốn 2 USD một ngày.

Thường thường, V. Yurchenko đi ngủ vào lúc 10 giờ tối. Đôi khi, nếu như những phiên thẩm vấn kéo dài đến tận tối thì C. Thompson và một nhân viên CIA của Ban tái định cư có biệt danh là Chuck ngủ lại ở một trong những phòng ngủ tầng dưới. Không một nhân viên CIA nào tỏ ra hòa hợp được với V. Yurchenko, C. Thompson thì lại càng không thể. V. Yurchenko không phải là dạng người mà anh ta thích. Cả hai đều có cá tính mạnh và trong ngôi nhà an toàn không có chỗ chung cho hai người, V. Yurchenko nghĩ C. Thompson có tính đố kị, trong khi dưới mắt của C. Thompson thì V. Yurchenko là người khó tính, vụ lợi.

Cung cách đối xử của các nhân viên canh gác ngày càng tách V. Yurchenko ra khỏi những mối tiếp xúc thông thường giữa con người với con người. Vốn bị chấn động bởi việc từ bỏ gia đình, tổ quốc, bạn bè, V. Yurchenko còn cảm thấy đau đớn bởi cái chết của bà mẹ và việc thay đổi nơi sinh sống. Những cảm xúc đó, cùng với mặc cảm tội lỗi thường có ở những người từ bỏ quê hương, gia đình, đã giày vò V. Yurchenko. Ông không biết sẽ làm gì sau khi CIA kết thúc công việc thẩm vấn.

Tất cả những gì mà V. Yurchenko cần là một ai đó có thể hiểu được những cảm xúc mà ông đang phải trải qua, thông cảm với chúng và cư xử như một con người để V. Yurchenko có thể tin vào anh ta. Người bạn cũ Ed Joyce ở FBI có thể làm cho V. Yurchenko dễ chịu, nhưng V. Yurchenko đã nói với các nhân viên FBI làm nhiệm vụ thẩm vấn rằng ông chưa muốn gặp anh ta. Trong khi đó, vây xung quanh V. Yurchenko là các nhân viên CIA, những người được chỉ dẫn đối xử với V. Yurchenko như với một con thú bị dại, cần phải theo dõi mọi động tĩnh của nó.

+++++

Không phải tất cả mọi người đào thoát đều rơi vào tầm kiểm soát của CIA. Chỉ những ai chứng tỏ rằng họ có lợi ích đặc biệt đối với cộng đồng tình báo theo một điều khoản chung trong Luật công cộng 110 quy định rõ ràng, mới thuộc phạm vi quản lí của CIA. Điều luật này cho phép CIA chấp nhận và quản lí tới 100 người đào thoát mỗi năm. Hằng năm có tới khoảng 70 người đào thoát và gia đình họ được CIA chấp nhận theo Luật công cộng 110. Những người này đến từ khắp nơi trên thế giới, từ Campuchia tới Nicaragua, và thông thường chỉ có ba đến bốn người trong số họ có giá trị thực sự.

Cách cư xử của CIA đối với các điệp viên đào thoát phần lớn được quyết định bởi Peter P. Sivess, người đã xây dựng chương trình “kèm cặp” các diệp viên đào thoát trong những ngày đầu CIA mới được thành lập.

Cao tới gần một mét chín và nặng một trăm mười cân, P. Sivess làm người ta nhớ đến một con chó lớn cụp tai, với đôi mắt lồi, giọng nói ngắt quãng, ồm ồm như một nhân viên hỏa xa.

Là con trai trong một gia đình người Nga di cư, P. Sivess học tiếng Nga ở nhà và tại trường trung học đạo chính thống Nga ở thành phố quê hương South River, bang New Jersey. Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Dickinson ở Carlisle, bang Pennsylvania, P. Sivess có thời gian chơi bóng chày trong đội Philadelphia và một vài đội bóng khác nữa. Sau sáu năm sống đời cầu thủ chuyên nghiệp, P. Sivess gia nhập hải quân và tham gia chiến đấu trong Đệ nhị thế chiến. CIA đã tuyển mộ P. Sivess khi cơ quan tình báo này vừa được thành lập.

Công việc với các điệp viên đào thoát của P. Sivess bắt đầu tại một ban đặc biệt, được biết dưới cái tên Ban Alien. Vào thời đó, CIA chịu trách nhiệm “chăm sóc” cả những người tị nạn chính trị - sau này do các tổ chức tư nhân đảm nhiệm - và các nhân viên đào thoát có giá trị về mặt tình báo. Chỉ sau một thời gian ngắn vào làm việc, P. Sivess đã trở thành sếp sòng của Ban Alien. Ông ta ở cương vị này cho tới năm 1970 và về hưu hai năm sau đó. Trong hai mươi hai năm làm việc, chính P. Sivess là người đã tạo ra những đường nét cơ bản của chương trình “kèm cặp” điệp viên đào thoát của CIA.

Người ta có thể chờ đợi ở P. Sivess cách nhìn thế giới của một cầu thủ bóng chày, thế nhưng những dự án của P. Sivess thì lại mang đậm nét cá tính của ông ta. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình người Nga, có quan hệ với người Nga trong thời gian chiến tranh, P. Sivess tự cho mình có đủ hiểu biết về “người nước ngoài”. Ông ta luôn khư khư bám giữ những quan điểm của mình, bảo vệ chúng một cách nhiệt thành. Chẳng hạn, ông ta bảo vệ luận điểm cho rằng cần phải loại bỏ điều thứ nhất khỏi Hiến pháp, một luận điểm khiến cho những người đào thoát tới Mỹ để tìm kiếm tự do bị ảnh hưởng, P. Sivess được giao quyền lực rộng rãi để làm việc với các điệp viên đào thoát và cho tận tới khi ông ta sắp về hưu, không một ai trong CIA đặt vấn đề xem ông ta đã sử dụng những quyền đó như thế nào.

Những giá trị quan trọng bậc nhất đối với P. Sivess là kỉ luật, tiết kiệm, và ông ta áp dụng chúng trong công việc “với những người đào thoát của tôi”, ông ta bảo thế. Là một người tin tưởng vào chế độ cưỡng bức quân dịch, ông ta dường như cũng coi người đào thoát như những người lính quân dịch. Trong khi tỏ vẻ tôn trọng một vài người trong số họ, ông ta cũng tuyên bố rằng “đã có cái gì đó sai sai xảy ra với họ”, hoặc lẽ ra họ không nên coi việc dào thoát như là lựa chọn đầu tiên.

“Bất kì ai từ bỏ tổ quốc của mình đều là những con rắn độc”, có lần ông ta phát biểu như vậy.

Để giúp cho người đào thoát có được ngôi nhà an toàn dùng làm nơi ẩn náu, năm 1951, P. Sivess sắp xếp để CIA mua trang trại Ashford ở Royal Oak, Maryland. Được xây dựng từ năm 1928, Ashford là một khu nhà có dáng vẻ hào nhoáng nằm trên khu đất rộng 75 mẫu, gần nơi con sông Choptank đổ ra vịnh Chesapeake ở vùng bờ biển phía đông Maryland. Nằm cách Easton mười dặm về phía tây nam, cuối một con đường dài gần một phần ba dặm ở đường West Ferry Neck, khu nhà hoàn toàn tránh được cặp mắt nhòm ngó của những người láng giềng.

Khu nhà xây bằng gạch đỏ có tám buồng ngủ và bảy buồng tắm. Khi CIA sở hữu nó, một hàng rào được dựng lên xung quanh với biển hiệu “Tài sản của chính phủ Mỹ, cấm không được xâm nhập!”. Một ăng ten ở trên nóc ngôi nhà có thể bắt được tín hiệu vô tuyến sóng ngắn từ trạm CIA ở Moscow. Người quản lí khu nhà ở ngay trong khu trang trại.

Một số những nhân viên đào thoát quan trọng nhất, chẳng hạn như V. Yurchenko, đã không bao giờ đến ở khu trang trại này. Thế nhưng dưới “đôi cánh” của P. Sivess, những vị khách đến trang trại Ashford từng có Reino Heyhanen, người đã chỉ điểm điệp viên - Đại tá Abel, hoặc Nicholas Shadrin, người sau này bị KGB xử tội và hàng trăm điệp viên đào thoát khác.

P. Sivess điều hành trang trại Ashford như điều hành một trại tập trung. Ông ta lấy làm tự hào vì đã không sử dụng toàn bộ số tiền mà CIA cấp để giúp cho việc định cư những điệp viên đào thoát, chỉ cung cấp cho họ những “điều kiện tối thiểu” đủ để họ có thể sống được ở đó. Để giảm bớt chi phí và cho những điệp viên đào thoát có một việc gì đó để làm, P. Sivess buộc tất cả các điệp viên đào thoát, không trừ một ai, kể cả những người có học vấn cao hay cực kì quan trọng, đều phải đi chăn lợn hoặc trồng ngô. Thường thì P. Sivess không cho những điệp viên đào thoát được phép tới Washington, cách khu trang trại khoảng một tiếng rưỡi chạy xe hơi, với lí do để họ không phải chịu “ấn tượng sai lầm” kiểu Hollywood về nước Mỹ.

Khi một điệp viên đào thoát quan trọng của KGB phàn nàn rằng anh ta cần đàn bà, P. Sivess đốp vào mặt anh ta: “Hãy giữ lấy ý nghĩ đó trong cái đầu thối tha của anh!”. Người điệp viên đào thoát này sau đó quay lại Liên Xô. Nhưng điều đó cũng chẳng làm P. Sivess phiền muộn. Nếu như những điệp viên đào thoát không thấy thích sống ở đây, họ có thể trở về nơi họ đã ra đi, P. Sivess tuyên bố.

Bất chấp bản tính cộc cằn, lỗ mãng, P. Sivess vẫn xây dựng được tình bạn với một vài điệp viên đào thoát. Thậm chí ông ta đã từng dẫn N. Shadrm đi săn vịt và thỏ. Ông ta khẳng định rằng tám nhân viên làm công việc canh gác dưới quyền ông ta không bao giờ hứa với người đào thoát bất cứ thứ gì mà ông ta không có ý định cung cấp cho họ.

P. Sivess nghỉ hưu và rời khỏi CIA năm 1972 nhưng rất nhiều chỉ dẫn của P. Sivess thì vẫn còn được áp dụng trong chương trình của CIA “chăm sóc” các điệp viên đào thoát.

+++++

Trái ngược mối quan hệ khó chịu với các nhân viên CIA, V. Yurchenko lại duy trì một mối quan hệ tin cậy với hai nhân viên của FBI trong đội giám sát mình là Mike Rochford và Reid Broce. M. Rochford, 30 tuổi, là người có khả năng giao du hơn R. Broce, một tín đồ ngoan đạo người miền Nam không uống rượu. Hơn nữa, M. Rochford nói tiếng Nga cũng lưu loát hơn.

Sau mỗi cuộc thẩm vấn, M. Rochford và V. Yurchenko thường đi bộ vòng quanh cái hồ nhân tạo ở Coventry, nơi V. Yurchenko có thể thanh thản ngắm những chú vịt hoặc hải li đang bơi lội. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Nga, thứ ngôn ngữ mà các nhân viên CIA thường đi theo sát họ không hiểu gì. Kể từ khi giắt bên hông một khẩu P-38, M. Rochford nói với các nhân viên CIA rằng họ không cần phải bám theo hai người trong những chuyến đi dạo như vậy nữa.

Trong các cuộc trò chuyện, V. Yurchenko đã thổ lộ với người nhân viên FBI về nỗi bực bội của ông trước cung cách cư xử của CIA. Không chỉ vì nhân viên CIA tham gia giám sát có thái độ lạnh nhạt mà còn vì những nhân viên an ninh của CIA đã đối xử với V. Yurchenko như với một tù nhân. Ngay trong những ngày đầu tiên khi ông chuyển đến ngôi nhà an toàn ở Vienna, các nhân viên này đã theo sát gót mỗi khi ông đi dạo quanh khu nhà, làm như sẵn sàng chộp lấy khi ông có ý định lẩn trốn. Nếu như những người gác này thực sự muốn bảo vệ ông thì họ cứ làm như các nhân viên của cơ quan mật vụ Mỹ vẫn bảo vệ tổng thống vậy: Giữ một khoảng cách nào đó.

Trong một chuyến đi dạo, V. Yurchenko nói về cuộc sống, tự do, dân chủ. Ông tin rằng ông có thể xây dựng lại cuộc đời với một người phụ nữ nào đó. Rồi sau đấy, khi ở ngôi nhà an toàn, rất tế nhị, trong khi kể về những ngày ở Washington, V. Yurchenko khéo léo nói về những cuộc dạo chơi trong công viên với Valentina Yereskovsky, một bác sĩ nhi khoa mà ông quen trong những ngày còn làm việc ở sứ quán.

- Tôi biết cô ấy khi đang làm sếp phụ trách an ninh ở sứ quán. - V. Yurchenko kể lại với vẻ lãnh đạm. - Tôi thường đi dạo cùng với cô ấy và con gái của cô ấy. Chúng tôi ngồi sưởi nắng trong công viên và nói chuyện. Bây giờ cô ấy lấy viên tổng lãnh sự Liên Xô ở Canada và sống cùng anh ta ở Montreal.

V. Yurchenko kể rằng khi cả hai rời Washington, ông đã gặp người phụ nữ này tại Moscow khi cô ta về thăm con gái. Họ thường gặp nhau ở một căn hộ nào đó. V. Yurchenko không bao giờ nói mình đã có quan hệ tình dục với người phụ nữ này nhưng cả M. Rochford và R. Broce đều cho rằng có lẽ họ đã ngủ với nhau.

V. Yurchenko cũng đề cập đến người phụ nữ này với C. Thompson và người nhân viên CIA nhận ra những tín hiệu mà các nhân viên FBI đã nhận được. Rõ ràng V. Yurchenko muốn nói với họ một điều gì đó.

Vài ngày sau thì mọi việc trở nên rõ ràng. V. Yurchenko muốn gặp V. Yereskovsky. Có thể ông muốn xây dựng một cuộc sống mới với người phụ nữ này. Liệu ông chờ đợi ở cái viễn cảnh ấy bởi vì nó rất quan trọng với ông, hay là ông nghĩ đến cô ta chỉ vì trong một thời gian dài, ông không được phép quan hệ với đàn bà? C. Thompson không biết rõ nhưng điều chắc chắn là nó giúp giải thích cho việc V. Yurchenko rất ít khi nhắc đến người vợ. Dường như V. Yurchenko không hài lòng về cuộc hôn nhân của mình.

C. Thompson lái xe về trụ sở CIA ở Langley và lên phòng làm việc của Phó Ban Liên Xô - Đông Âu M. Bearden.

- Vậy đó. - C. Thompson kể lại cho M. Bearden trong căn phòng nằm trên tầng sáu của tòa nhà, tường được trang trí toàn những bản đồ Liên Xô các loại.

- Anh có chắc ông ta muốn gặp người phụ nữ đó không? - M. Bearden hỏi lại.

- Chắc chắn.

- Được thôi.

Ban Liên Xô - Đông Âu của CIA liền gửi một bức điện mật cho trạm CIA tại Ottawa. CIA muốn có sự phối hợp, giúp đỡ của Cục An ninh tình báo Canada. Cục này được thành lập năm 1981, sau khi chính phủ tách chức năng phản gián ra khỏi Sở Cảnh sát Hoàng gia Canada.

+++++

Trong suốt gần một tuần lễ, các nhân viên Cục An ninh tình báo Canada thận trọng theo dõi Valentina Yereskovsky, đối tượng mà Vitaly S. Yurchenko muốn gặp. Hai tuần trước đó, C. Thompson đã bay tới Ottawa và gặp người phụ trách trạm CIA ở đấy. Cả hai lại cùng tới Montreal để giải thích cho các quan chức an ninh Canada những gì mà CIA cần giúp trong vụ này. CIA muốn được đảm bảo rằng khi V. Yurchenko gặp Valentina thì chồng cô ta, Alexander, hiện là tổng lãnh sự Liên Xô ở Montreal, không có mặt tại đó.

Các nhân viên an ninh Canada thấy việc phải theo dõi một phụ nữ xinh đẹp, mắt xanh, tóc vàng, là một công việc cũng dễ chịu. Nhưng thoạt đầu, họ không tìm ra cô ta. Valentina về nước hồi tháng 7, gặp V. Yurchenko ở Moscow và vẫn ở lại đó, chưa quay sang. Đến gần cuối tháng 9 cô mới quay lại Canada và các nhân viên an ninh Canada cố gắng xác định lịch trình đi lại của Valentina. Các nhân viên mật vụ bám theo Valentina khi cô từ căn hộ ở số 3450 đường Drummond đến Tổng lãnh sự quán Liên Xô, tới các tiệm trang điểm hoặc chỗ cô cùng ăn tối với chồng.

Vợ chồng họ sống trong khu nhà trên một đỉnh đồi, gần công viên Mount Royal và khách sạn Ritz-Carlton. Từ đỉnh đồi Royal có thể ngắm được toàn bộ cảnh đẹp của thành phố và xa hơn nữa. Trên đỉnh đồi còn có một cái hồ nhân tạo, những tảng đá lớn mà lớp băng tan để lộ ra vẻ xù xì của chúng. Gần đó có một trại ngựa giống, tiệm ăn và Bảo tàng Nghệ thuật, bảo tàng cổ nhất ở Canada.

Ngày 24-9-1985, Cục An ninh tình báo Canada đã sẵn sàng. Họ đã thiết lập được lịch sinh hoạt thường xuyên của Valentina. Theo như lịch này thì hằng tuần, Valentina và chồng có ba buổi sáng làm việc tại Lãnh sự quán Liên Xô ở số 3655, đại lộ Museum. Là một bác sĩ nhi khoa, Valentina làm việc chính thức ở đó. Cô ta thường cùng chồng quay về nhà để ăn trưa. Nhưng hôm thứ năm, 26-9, Alexander phải dự một buổi tiệc trưa ở bên ngoài lãnh sự quán. Các nhân viên an ninh Canada cho rằng đó là thời điểm lí tưởng để V. Yurchenko có thể gặp Valentina.

Một ngày trước khi cuộc gặp dự kiến diễn ra, nhân viên thuộc Ban tái định cư CIA tự giới thiệu dưới cái tên là Chuck cùng với hai nhân viên an ninh CIA khác và V. Yurchenko lên một chiếc máy bay hai động cơ của CIA bay tới Plattsburgh, bang New York, cách biên giới Canada khoảng ba mươi dặm về phía nam.

Trưởng trạm CIA Ottawa, một người đàn ông tóc xám nhạt, tai vểnh, đón cả nhóm tại phi trường với chiếc xe hơi bốn cửa của Mỹ và thân hành lái xe đưa họ tới biên giới. Do có phù hiệu ngoại giao của Canada nên ông ta có thể dễ dàng vào Mỹ để đón V. Yurchenko. Tuy nhiên, để đề phòng mọi phiền phức, các nhân viên Canada vẫn làm một hồ sơ xuất nhập cảnh. Tất cả những việc mà viên Trưởng trạm CIA phải làm chỉ là điền vào hồ sơ cho nó có vẻ chính thức.

An ninh Canada cũng có một điều kiện: Họ không muốn các nhân viên an ninh của CIA đi cùng với V. Yurchenko vào Canada. Phía Canada sẽ lo mọi sự đảm bảo an ninh cần thiết. Bởi vậy, các nhân viên an ninh của CIA buộc phải ở lại Plattsburgh.

Để chuẩn bị cho chuyến đi này, V. Yurchenko mang tên giả, dưới vỏ bọc một nhà thầu hợp đồng của chính phủ. Ông cũng có một bằng lái xe do bang New York cấp. Bởi vì bang New York yêu cầu bằng lái xe mới phải có ảnh nên CIA đã lo để có một bằng lái cũ không dán ảnh V. Yurchenko. Sau này, CIA thu xếp để V. Yurchenko có một bằng lái xe do bang Virginia cấp, dưới cái tên giả thường được sử dụng là Robert Rodman.

Tại biên giới, cả nhóm không gặp phải rắc rối nào. Khi họ tự giới thiệu là công dân Mỹ, các nhân viên nhập cư Canada vẫy tay ra hiệu cho họ qua.

Lần đi này, V. Yurchenko không cải trang. Ông muốn V. Yereskovsky nhận ra ông và việc tháo gỡ bộ tóc giả màu xám với cặp kính màu ở trong căn hộ của cô có thể gây nên những sự bối rối mà CIA không muốn có.

Theo sự sắp xếp trước của phía Canada, V. Yurchenko và Chuck đặt phòng ở khách sạn Queen Elizabeth. Điệp viên CIA Colin Thompson bay tới Montreal trên chuyến bay thương mại và đặt phòng ở một khách sạn khác. Có tất cả tám nhân viên an ninh Canada sẵn sàng nhập cuộc. Họ đã theo dõi căn hộ của V. Yereskovsky, nằm cách khách sạn Queen Elizabeth khoảng bảy khối nhà về phía tây, xác định vị trí các lối ra và lối vào của tòa nhà.

Đêm đó V. Yurchenko không ngủ được trong căn phòng sang trọng có giấy dán tường hồng nhạt, thảm màu hoa cà, ghế màu hoa hồng và những ngọn đèn dịu mát.

Sau bữa ăn sáng với cháo yến mạch, C. Thompson nói với V. Yurchenko rằng anh ta và viên Trưởng trạm CIA Ottawa sẽ ở lại khách sạn trong khi V. Yurchenko gặp V. Yereskovsky. Tất cả các nhân viên mật vụ tham gia chiến dịch đều được trang bị máy bộ đàm xách tay của Canada. Mỗi người có một mã riêng. Nếu như có gì bất trắc xảy ra thì phía Canada đã có cả một kế hoạch giải thoát, dựa vào mê cung những đường hầm, ga xe điện, tàu điện ngầm rối rắm ở Montreal.

Vào trước buổi trưa, các nhân viên mật vụ Canada lái xe đưa V. Yurchenko tới gần trạm điện thoại tự động mà họ đã xác định từ trước đó. Đây là một buồng điện thoại bao quanh bởi kính trong suốt, nằm phía trước một nhà trọ của Hiệp hội Thanh niên Thiên Chúa giáo, tại 1441 đường Drummond, cách khu nhà có căn hộ của V. Yereskovsky khoảng hai khối nhà. Trong khi gọi điện thoại, V. Yurchenko có thể quan sát thấy căn hộ của V. Yereskovsky ở lề phía tây của đường Drummond. Để đề phòng khả năng bắt cóc V. Yurchenko, các nhân viên mật vụ Canada đều mang theo vũ khí.

Mưa nặng hạt và gió lạnh quất vào mặt V. Yurchenko khi ông bước ra khỏi ô tô. Cơn bão Gloria đổ bộ vào đây từ bờ biển phía đông và Montreal bắt đầu hứng chịu ảnh hưởng của nó.

Qua máy bộ đàm, một nhân viên mật vụ Canada thông báo rằng V. Yereskovsky đã trở về căn hộ của mình, còn chồng cô ta thì đang ăn trưa ở một địa điểm khác trong thành phố. Do trời mưa nên Alexander đã lái xe đưa vợ về nhà rồi mới tới chỗ tiếp tân.

Nín thở, V. Yurchenko quay số điện thoại nhà V. Yereskovsky. Cô nhấc máy và V. Yurchenko nói với cô bằng tiếng Nga.

- Tôi không hiểu, có lẽ ông nhầm số máy rồi. - V. Yereskovsky nói rồi bỏ máy.

Chỉ vào máy điện thoại, V. Yurchenko nói với một trong hai nhân viên mật vụ Canada đứng bên cạnh: “Có lẽ máy hỏng?” Ông quay lại số một lần nữa. Vẫn không có ai nhấc máy. Tuyệt vọng, V. Yurchenko đi tới trạm điện thoại tự động kề đó. vẫn không có ai trả lời.

Với vẻ đau khổ, V. Yurchenko quay sang hỏi một trong hai nhân viên mật vụ Canada: “Liệu tôi có thể lên thẳng trên đó không?”

Người nhân viên mật vụ gọi cho C. Thompson. Sau khi trao đổi với viên Trưởng trạm CIA, C. Thompson đồng ý để V. Yurchenko lên.

Được hai nhân viên mật vụ Canada kè kè bên cạnh bảo vệ, V. Yurchenko đi dọc theo đường Drummond, vượt qua đại lộ Maisonneuve, qua khách sạn Ritz-Carlton và giao lộ với đường Sherbrooke, rồi qua Đại lộ 5 của Montreal. Quãng đường đi chỉ mất có bốn phút nhưng đối với V. Yurchenko, thời gian trôi như hàng thế kỉ. Tới chỗ đỉnh dốc trên đường Drummond, V. Yurchenko rẽ vào tòa nhà có căn hộ của V. Yereskovsky nằm ở phía bên trái đường.

Các nhân viên mật vụ Canada bố trí cho V. Yurchenko vào tòa nhà theo lối qua gara ô tô. Họ mở cửa buồng thang máy ở tầng hầm của tòa nhà cho V. Yurchenko vào rồi bấm nút lên tầng mười sáu. Bước ra khỏi thang máy, V. Yurchenko thấy đối diện với mình là một tấm gương lớn. Trong khi một nhân viên mật vụ trấn giữ thang máy, người kia đưa V. Yurchenko rẽ theo hành lang bên tay phải đi dọc theo những tấm thảm sặc sỡ màu vàng đỏ. Ở cách căn hộ của V. Yereskovsky chừng hơn một mét, chỗ gần cánh cửa dẫn tới thang cứu hỏa cũng có một nhân viên mật vụ khác trấn giữ.

V. Yurchenko gõ cửa. Thoạt đầu không có ai ra mở. V. Yurchenko lại gõ tiếp. Cánh cửa bật mở và V. Yurchenko có thể nhìn thấy thân hình thanh tú của V. Yereskovsky, gò má cao, làn da trắng trẻo mịn màng. Hai người trao đổi với nhau ngắn gọn vài câu rồi V. Yurchenko bước vào bên trong căn hộ.

Ngay khi V. Yurchenko biến mất ở Rome, V. Yereskovsky đã cho rằng ông đào thoát. KGB vốn biết rõ về quan hệ tình ái của họ nên đề nghị V. Yereskovsky báo cho biết nếu có bất cứ một tin tức nào về nơi V. Yurchenko trú ngụ.

- Em không thể ngờ là mọi sự lại diễn ra như thế này. - Trong phòng khách lát gỗ Nhật Bản được trải những tấm thảm phương Đông, V. Yereskovsky nói với V. Yurchenko. - Em không thể theo anh được. Em còn chồng và hai con gái. Nếu em bỏ đi thì gia đình em sẽ ra sao? Em không thể! Em xin lỗi!

Rồi cô khóc nức nở.

Trước khi đến chỗ V. Yereskovsky, các nhân viên mật vụ Canada đã cho V. Yurchenko một số điện thoại để trong trường hợp V. Yereskovsky không quyết định được ngay thì sau này sẽ gọi tới số đó. Một người phụ nữ nói tiếng Nga sẵn sàng trả lời và sẽ bố trí kế hoạch đào thoát.

Nhưng V. Yereskovsky từ chối không nhận số điện thoại đó.

Choáng váng, V. Yurchenko rời khỏi căn hộ vài phút sau đó. V. Yurchenko đã từ bỏ đất nước, gia đình, bạn bè. Giờ đây, niềm hi vọng cuối cùng đã tuột ra khỏi tầm tay của V. Yurchenko.

+++++

Việc V. Yereskovsky từ chối đào thoát không phải là nỗi thất vọng duy nhất của V Yurchenko trong chuyến đi Canada.

Buổi sáng hôm 26-9-1985, trước lúc được các mật vụ Canada đưa đến gặp V. Yereskovsky, tại khách sạn, V. Yurchenko nhặt tờ Tạp chí Montreal để trong đống báo ở trước cửa. Cặp mắt của V. Yurchenko dừng lại ở dòng chữ lớn, chạy dài ba cột trên trang nhất: “Một sĩ quan cao cấp của KGB đã đào thoát - một quan chức Mỹ tuyên bố!”.

Cứ như có một cú đấm thúc vào dạ dày của V. Yurchenko. Ông không thể nào tin được chuyện này lại xảy ra, V. Yurchenko đọc hết bài báo dài 627 chữ, do tờ báo Canada đăng lại bài đã đăng trên tờ Los Angeles Daily News, mà Ronald J. Ostrow và Doyle McManus là tác giả.

“Một nhà ngoại giao Xô viết, vốn là sĩ quan cao cấp của cảnh sát mật KGB, đã đào thoát sang Mỹ sau khi mất tích tại Rome hồi tháng trước, một quan chức tình báo tuyên bố hôm thứ tư”, bài báo mở đầu như vậy.

V. Yurchenko không biết rằng thực ra câu chuyện đã bị lộ từ hôm trước trên tờ Washington Daily News, một tờ báo bảo thủ ở Washington nằm dưới quyền kiểm soát của phong trào Nhà thờ nhất thống. Được viết bởi Ralph de Toledano, một bình luận viên bảo thủ, bài báo này là bài đầu tiên xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng tiết lộ việc V. Yurchenko đã đào thoát.

Ngày 8-8-1985, tức là một tuần sau vụ đào thoát của V. Yurchenko, hãng Reuters đưa một tin từ Rome nói rằng V. Yurchenko bị mất tích. Tin của hãng này đưa có một chi tiết không chính xác rằng V. Yurchenko là quan chức cao cấp đứng hàng thứ năm trong KGB và nói rằng phía Liên Xô yêu cầu nhà chức trách Ý phải giải thích. Sau đó, trên một vài tờ báo khác ở châu Âu cũng xuất hiện những bài báo về vụ này nhưng lại suy đoán sai lầm rằng sự biến mất của V. Yurchenko có thể gắn với vụ đào thoát của người đứng đầu ngành phản gián Tây Đức là Hans-Joachim Tiedge, hay liên quan đến hàng loạt vụ đào thoát cũng như bắt bớ các điệp viên khác đang diễn ra ở Tây Đức. Nhưng không một tờ báo nào khẳng định rằng V. Yurchenko đã thực sự đào thoát, cho tới khi bài báo của R. Toledano xuất hiện.

Trong bài báo của R. Toledano cũng vẫn có một số chi tiết sai sót. Chẳng hạn như viết tên của V. Yurchenko là “Dzhurtchenko”, một cái tên không có trong cả tiếng Nga lẫn tiếng Anh. Thế nhưng điều quan trọng chính là tác giả đã khẳng định: “Theo nguồn tin của chúng tôi, Vitaly Dzhurtchenko hiện đang nằm trong tay CIA, cung cấp những hiểu biết sâu rộng của ông về nhận dạng các điệp viên cũng như chi tiết các chiến dịch của KGB cho một máy tính”.

Khi Mary Lou Forbes, chủ bút phần thời luận của tờ Washington Daily News nhận được một tin truyền qua điện tín của hãng Copley, bà ta rất bối rối. Không rõ R. Toledano đã săn tin được bằng suy đoán, chưa được kiểm chứng, hay bà ta đang nắm trong tay một tin độc quyền hết sức giật gân đây?

M. Forbes sẽ không cho đưa tin này cho đến khi kiểm tra mọi chi tiết một cách cẩn thận. Trong tin không nói gì về việc CIA đã được hỏi ý kiến và bình luận về vụ này hay chưa.

M. Forbes gọi cho Văn phòng quan hệ công chúng của CIA và gặp Patti Volz. Cô ta nói để kiểm tra lại qua Trưởng Văn phòng quan hệ công chúng George V. Lauder. Vài giây sau, P. Volz gọi lại cho M. Forbes. CIA không có bình luận gì.

Dựa trên phản ứng của CIA như vậy, M. Forbes cho rằng Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ không có ý định ngăn cản tờ báo công bố tin này.

Đồng thời, M. Forbes kiểm tra lại thông tin về V. Yurchenko qua các bạn bè làm báo có nguồn tin từ CIA hoặc bản thân đang làm việc trong CIA. Những tin tức mà bà ta nhận được sau đó cho thấy quả thực R. Toledano đã có những thông tin tương đối xác thực. Được bật đèn xanh bởi thái độ hoan hỉ của “ông trùm” W. Casey, tin về vụ đào thoát của V. Yurchenko đã lan nhanh trong cộng đồng tình báo và lọt ra cả nước ngoài. R. Toledano sau này cũng nói rằng anh ta có được tin về vụ đào thoát của V. Yurchenko qua một nguồn của tình báo Pháp, vốn được CIA thông báo sơ lược về vụ này.

Việc CIA bỏ lỡ cơ hội ngăn cản đăng bài báo của R. Toledano chỉ tỏ rõ một điều rằng lời hứa của CIA với V. Yurchenko sẽ giữ vụ đào thoát trong vòng bí mật thực sự chẳng có kí lô trọng lượng nào cả.

Ngày 24-9-1985, M. Forbes làm mọi công việc “bếp núc” của một chủ bút biên tập. Bà ta quyết định đưa câu chuyện lên trang nhất, trong một mục riêng biệt để gây sự chú ý.

Chính M. Forbes tự mình viết lại bài báo. Để tăng thêm phần hấp dẫn, nó được thêm vào một số chi tiết. Nó cũng đề cập tới phản ứng của CIA. “Một người phát ngôn của CIA ở Washington nói rằng CIA không hề có ý định bàn luận về các vụ đào thoát và sẽ không có bình luận gì về những trường hợp này”, bài báo đăng ngày 25-9-1985 viết. “Không hề có một yêu cầu nào nhằm cản trở việc công bố vụ này”.

Rõ ràng M. Forbes biết cách làm báo, và ngày hôm sau, tất cả các hãng tin ở Washington đều vồ lấy vụ này. Ở tòa soạn Washington Daily News, các phóng viên khúc khích bình luận về việc một tin “nóng” như thế mà lại xuất hiện trong mục thời luận của tờ báo.

Bài báo đăng lại trên tờ Los Angeles Daily News mà V. Yurchenko đọc được ở Montreal thực ra không có gì mới so với bài đã đăng của R. Toledano, nhưng nó lại rất có sức nặng bởi uy tín của tờ báo.

Khi V. Yurchenko đọc thấy bài báo trong phòng riêng ở khách sạn tại Montreal, ông đã xác định rằng CIA không phải là một cơ quan nghiêm túc. Họ đã không cử lấy một nhân viên biết tiếng Nga để tham gia vào nhóm làm việc với ông. Các nhân viên làm việc với ông có thái độ cứ như thể ông đang mắc bệnh truyền nhiễm, còn các nhân viên canh gác thì coi ông là một tù nhân, thường xuyên can thiệp vào các sinh hoạt cá nhân của V. Yurchenko. Giờ lại đến chuyện bài báo. V. Yurchenko tự hỏi làm sao CIA có thể bảo vệ được ông nếu không giữ kín nổi những thông tin về ông. Rồi những tin tức mà V. Yurchenko cung cấp có tác dụng thế nào nếu như chúng xuất hiện trên báo chí trước khi người ta có thể làm bất cứ việc gì. Nhưng quan trọng hơn cả là V. Yurchenko lo rằng KGB sẽ trả thù gia đình ông.

V. Yurchenko chìa tờ báo ra cho C. Thompson.

- Charlie, chuyện gì xảy ra vậy? - Ông hỏi, gọi C. Thompson bằng cái tên giả mà anh ta dùng khi làm việc với V. Yurchenko.

C. Thompson nhún vai. Anh ta cũng không thích chuyện này, thế nhưng là một nhân viên nhà nước lâu năm, anh ta không còn cảm thấy áy náy trước những việc như thế. Anh ta bắt đầu giải thích cho V. Yurchenko về hệ thống báo chí ở Mỹ làm việc như thế nào. Nhưng đó không phải là điều mà V. Yurchenko muốn nghe.

+++++

Ngay khi vừa mới đào thoát ở Rome, V. Yurchenko đã đưa ra điều kiện duy nhất cho sự đào thoát của mình là CIA không công bố về vụ này trên các phương tiện thông tin đại chúng. Khi các điệp viên ở Rome báo cáo về Langley, cả Trưởng ban Liên Xô - Đông Âu B. Gerber và Phó Giám đốc CIA phụ trách các chiến dịch Clair George đều đồng ý như vậy. CIA sẽ không muốn công bố một tin tức nào về vụ này.

Nhưng khi Phó Giám đốc C. George báo cáo với W. Casey về vụ đào thoát thì ông ta nhận ra rằng vị giám đốc CIA xem đây như một trong những cơ hội tình báo và chính trị hiếm hoi có thể mang lại lợi ích to lớn cho Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ. Nó có thể giúp gạt bỏ những mắc mớ trong thời gian đó giữa CIA với Quốc hội cũng như trở thành cứu tinh để CIA đỡ bẽ mặt hơn bởi những hoạt động yếu kém của nó tại Moscow.

Là một luật sư về kinh doanh, W. Casey từng là chủ tịch Ủy ban Chứng khoán và hối đoái cũng như đã từng làm việc trong Cục Phục vụ chiến lược (OSS), tiền thân của CIA. Năm 1981, ông ta được Tổng thống R. Reagan bổ nhiệm làm giám đốc CIA nhằm nâng đỡ tinh thần sa sút trong nội bộ cơ quan này, đồng thời phục hồi uy tín của CIA đối với chính phủ. W. Casey ưa thích các điệp vụ mang tính hành động và bí mật.

W. Casey thường khoác cho công việc của mình một ý tưởng nào đó. Đối với vụ V. Yurchenko đào thoát, ông ta cho rằng đây không chỉ là một thành tựu xuất chúng của CIA trong cuộc chiến bí mật mà còn là một minh chứng cho sự ưu việt của lối sống Mỹ. Nếu như một trong những điệp viên hàng đầu của KGB chạy sang Hoa Kỳ thì chẳng phải là hệ thống Xô viết đang có vấn đề hay sao? Vụ đào thoát của V. Yurchenko chính là dải vải ngũ sắc trang trí cho cái mũ của W. Casey, vốn ưa thích những hành động phi thường, W. Casey không thể nào tưởng tượng được có ngày mình có trong tay một điệp viên hàng đầu của đối phương.

Trong những tháng sau đó, vị giám đốc 72 tuổi của tình báo Mỹ triệt để chơi ván bài mà ông ta nghĩ là hết sức giá trị này. Để giành vinh quang cho mình, W. Casey phớt lờ điều kiện duy nhất của V. Yurchenko là không công bố vụ đào thoát. Điều khiến cho vụ V. Yurchenko hoàn toàn khác với những vụ đào thoát không được công bố chính là ở chỗ, “ông trùm” CIA W. Casey quyết định sử dụng việc đào thoát của V. Yurchenko như một công cụ tuyệt hảo để củng cố vị thế chính trị của CIA ở Washington, đảm bảo rằng CIA không phải là một cơ quan mãi mãi trong bóng tối.

Giám đốc Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ đã chớp lấy cơ hội một cách thái quá, sử dụng vụ đào thoát của V. Yurchenko để “đánh bóng” lại uy tín của CIA, vốn bị sứt mẻ sau hàng loạt vụ tai tiếng đáng xấu hổ. CIA không vớt vát được lòng tin đặt vào mình do đã không chịu thông báo đầy đủ cho Ủy ban Tình báo của Thượng viện và Quốc hội về kế hoạch thả mìn phong tỏa các cảng ở Nicaragua. Ở Moscow, CIA quay cuồng trong việc xử lí tin tức từ những kẻ báo tin đáng ngờ đột nhiên xuất hiện đâu đó, rồi hàng loạt nhân viên CIA bị trục xuất. Những nỗ lực của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ nhằm thu nhập tin tức qua các điệp viên liên tiếp bị giáng những đòn thất bại nặng nề. Mặc dù tin tình báo CIA thu nhận được qua hệ thống vệ tinh do thám và chặn đón các bức điện trên không trung vẫn có giá trị, thế nhưng chúng không thể thay thế được những tin tức tình báo cổ điển do con người trực tiếp cung cấp.

Bởi vậy W. Casey đã làm tất cả để cho vụ V. Yurchenko đào thoát được mọi người biết đến. Ông ta nói với Tổng thống R. Reagan rằng đây là một kì tích trong lịch sử tình báo và sẵn sàng nhắc đi nhắc lại điều đó với những ai chịu khó nghe ông ta nói.

Vào thời gian đó, Tổng thống Mỹ R. Reagan đang chuẩn bị cho cuộc gặp thượng đỉnh với Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachev vào ngày 19-11-1985 tại Geneve. Đây là cuộc gặp thượng đỉnh Xô - Mỹ đầu tiên sau sáu năm. W. Casey quyết định sẽ cung cấp cho tổng thống những tin tức thật ấn tượng về nhà lãnh đạo Xô viết. Thế là vị giám đốc CIA liền bố trí một bữa ăn trưa với điệp viên đào thoát V. Yurchenko, bảo bối của CIA, vào ngày giữa tuần, 6-10-1985.

Hôm đó, các nhân viên an ninh CIA đưa V. Yurchenko tới một bãi đỗ xe ở gần Tổng hành dinh CIA tại Langley. Như thường lệ, họ thực hiện biện pháp nghiệp vụ, cho xe đi vào các ngõ cụt hoặc những con đường vắng để đảm bảo không bị ai bám đuôi. Sau khi gặp nhau ở bãi đỗ xe, V. Yurchenko chuyển sang ô tô của C. Thompson và cả hai cùng đi về phía Langley, có một xe khác của CIA đi theo bảo vệ.

Từ đường Capital Belt, họ đến đường 123 East và rẽ trái, đi dọc theo đường Potomac School để tới khu nhà Tổng hành dinh CIA. Sau khi trình thẻ cho người gác cổng, cả nhóm đi xe dọc theo một hàng rào mắt cáo, có dây thép gai bảo vệ phía trên và những tấm biển đề: “Tài sản quốc gia - cấm không được xâm phạm!”.

V. Yurchenko cảm thấy như bị thôi miên. Đây là lần đầu tiên, ông được tận mắt nhìn thấy đầu não cái tổ chức mà ông đã đối đầu trong suốt mười lăm năm qua.

Một nhân viên an ninh dùng chiếc chìa khóa đặc biệt để đưa họ vào thang máy dành riêng cho giám đốc. Sử dụng thang máy này, các nhân viên CIA khác đang làm việc trong tòa nhà sẽ không nhìn thấy V. Yurchenko và ngược lại, V. Yurchenko cũng không nhận diện được họ. Thang máy đưa họ lên lầu bảy và tất cả bước vào phòng của giám đốc CIA.

Đầu hói, cặp kính kiểu Yves St. Laurent kẹp trên mũi và có cái miệng hơi vẩu, W. Casey tạo nên ấn tượng một người xuề xòa, hơi luộm thuộm. Gầu tóc vẫn còn bám trên vai chiếc áo vest mà ông ta đang mặc. Do bị gù nên W. Casey thấp hơn V. Yurchenko một chút. W. Casey bắt tay V. Yurchenko, giới thiệu ông với John Mc Mahon, Phó Giám đốc CIA và Burt Gerber, người đứng đầu Ban Liên Xô - Đông Âu.

- Ông uống rượu nhé? - Casey hỏi khi mọi người đang đứng trong phòng khách.

- Không, cảm ơn. Cho tôi nước soda. - V. Yurchenko nói.

Mc Mahon xin kiếu có việc phải đi; W. Casey, B. Gerber, C. Thompson, V. Yurchenko ngồi xuống quanh chiếc bàn tròn trong phòng ăn. Trước đó, C. Thompson đã nói với nhân viên nhà bếp chuẩn bị những món ăn nhẹ như cá. Một người phục vụ bưng ra món cá hồi trần.

V. Yurchenko ngồi phía bên trái của W. Casey, và giám đốc CIA bắt đầu hỏi về Mikhail Gorbachev, người đã kế tục Konstantin Chernenko từ tháng 3-1985. Ông ta muốn biết là liệu Tổng thống R. Reagan có thể tin được vào M. Gorbachev hay không. V. Yurchenko quả thật cũng không biết gì nhiều nhưng với vẻ thận trọng, trả lời khá hợp ý W. Casey.

W. Casey hỏi về hệ thống xã hội Xô viết, về KGB, về nền kinh tế Liên Xô. Các câu hỏi rất sắc sảo và V. Yurchenko bị ấn tượng bởi sự hiểu biết rộng của W. Casey. Trong khi hỏi bằng giọng nhát ngừng, tách ra thành từng câu một, W. Casey luôn tỏ ra thẳng thắn.

W. Casey ghi chép những điều trao đổi với V. Yurchenko vào một cuốn sổ màu vàng. Sau này, một nhân viên an ninh chuyên làm công việc bố trí các cuộc gặp cho W. Casey nói rằng trước đó, anh ta chưa thấy W. Casey ghi chép bao giờ. Điều này chứng tỏ giám đốc CIA coi cuộc gặp với V. Yurchenko rất quan trọng.

Bữc ăn kết thúc mà không gây ấn tượng nào đặc biệt đối với V. Yurchenko.

+++++

Những thông tin do V. Yurchenko cung cấp đã phát huy tác dụng.

Tại Santa Fe, bang New Mexico, FBI siết chặt vòng vây quanh Edward Lee Howard. 1 giờ rưỡi chiều thứ năm, ngày 19-9-1985, đặc vụ Jerry Brown nói với E. Howard rằng có một vấn đề quan trọng mà FBI cần thảo luận với E. Howard. Cuộc gặp diễn ra tại khách sạn Hilton ở Santa Fe. Tham dự cuộc gặp có hai đặc vụ FBI là J. Brown và Michael Waguespack cùng với một sếp cũ của E. Howard trong CIA là Tom Mills, người anh ta đã không gặp trong hơn một năm trời. Sự có mặt của T. Mills là để E. Howard có thể nói chuyện cởi mở với hai đặc vụ FBI nên sau khi giới thiệu hai bên với nhau, T. Mills rời khỏi cuộc gặp.

Mở đầu, M. Waguespack đưa ra một bài báo trên tờ The Washington Post, kể về vụ đào thoát thành công của điệp viên O. Gordievsky từ Moscow sang London hai tháng trước. M. Waguespack nói O. Gordievsky dã tiết lộ E. Howard là một điệp viên Xô viết. Việc đề cập đến O. Gordievsky là để che giấu nguồn tin thật đến từ V. Yurchenko.

E. Howard là một người đàn ông mảnh khảnh, mũi to, trán dốc, tóc màu nâu nhạt, được cắt tỉa gọn gàng. Anh ta phủ nhận hoàn toàn việc bán các tài liệu mật cho phía Liên Xô, đồng thời từ chối việc tiến hành kiểm tra trên máy phát hiện nói dối. E. Howard nói muốn có một luật sư và M. Waguespack cho E. Howard suy nghĩ hai mươi bốn tiếng đồng hồ.

Ngày hôm sau, thứ sáu 20-9, E. Howard đề nghị có một cuộc gặp thứ hai với FBI, vẫn tại khách sạn Hilton ở Santa Fe. Trong cuộc gặp này, E. Howard nói với J. Brown và M. Waguespack rằng mình sẽ có một luật sư đại diện vào ngày thứ hai đầu tuần. Hai bên thỏa thuận sẽ gặp lại nhau vào thứ hai.

E. Howard biết chắc FBI đang theo dõi mình nên sẽ cho người bám sát ở mọi nơi. Bởi vậy, ngày 21-9-1985, sau khi ăn tối cùng vợ là Mary ở một tiệm ăn, khoảng 7 giờ tối, E. Howard cùng vợ lái xe trở về nhà. Khi xe vẫn chạy với tốc độ nhanh qua một khúc quanh, trong bóng đêm, E. Howard mở cửa xe, lao người xuống vệ đường, một kĩ thuật mà anh ta đã học được trong lớp huấn luyện của CIA nhằm đối phó với các biện pháp theo dõi của đối phương.

Ngay lập tức, vợ của E. Howard dựng một hình nộm đã chuẩn bị sẵn ở ghế bên cạnh và cô bình tĩnh lái xe về nhà, đưa vào trong gara. Nhìn thấy ô tô trở về và đinh ninh hình nộm đó là E. Howard, đặc vụ FBI theo dõi báo cáo qua máy vô tuyến rằng anh ta mất dấu của E. Howard khi ở trên đường nhưng xác nhận rằng E. Howard đã trở về nhà.

Sai lầm của đặc vụ này không chỉ ở chỗ không nhận ra việc “đánh tráo” bằng hình nộm của E. Howard mà còn không phản ứng kịp thời khi anh ta nghe thấy E. Howard gọi điện thoại về nhà từ một tiệm ăn để hỏi về đứa con trai đang bị sốt.

Không có lí do thỏa đáng nào giải thích tại sao một đặc vụ dày dạn kinh nghiệm như thế mà lại bị lừa một cách quá dễ dàng. Người đặc vụ FBI này sau đó bị sa thải.

Theo lời chỉ dẫn của chồng, Mary Howard gọi điện thoại tới nơi điều trị tâm lí của E. Howard. Khi nghe máy điện thoại tự động ở đó nhắn rằng hãy để lại nội dung yêu cầu, Mary liền mở cuộn băng ghi âm ghi lại lời của E. Howard, trong đó nói rằng anh ta muốn gặp bác sĩ trong tuần lễ đó. Đặc vụ FBI theo dõi đường dây điện thoại ngôi nhà của E. Howard cho rằng như vậy là E. Howard đêm đó đang ngủ tại nhà.

Trên thực tế, đêm ấy, E. Howard đã tới sân bay Albuquerque, bắt chuyến bay sớm nhất tới Tuscon ở Arizona rồi từ đó bay tới St. Louis ở New York. Tối chủ nhật, ngày 22-9-1985, từ New York, E. Howard bay đi Helsinki, Phần Lan, nơi các điệp viên KGB bí mật đưa anh ta vượt qua biên giới vào lãnh thổ Liên Xô. Đến lúc ấy thì FBI phát hiện ra anh ta không có mặt trong ngôi nhà của mình. Đây là điệp viên duy nhất của CIA đào thoát thành công từ Mỹ sang Liên Xô trong thời kì Chiến tranh Lạnh.

Trong khi đó, hoạt động của FBI dựa trên những tin tức do V. Yurchenko cung cấp liên quan đến điệp viên NSA hoạt động cho Liên Xô tiến triển rất chậm. Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ NSA có 120.000 nhân viên làm việc trên khắp thế giới. Hơn nữa, V. Yurchenko đã nhớ sai về thời điểm người nhân viên của NSA vào sứ quán Liên Xô trên đường 16 ở Washington. V. Yurchenko cho rằng sự kiện đó xảy ra trong khoảng giữa năm 1977 và 1979. Nhưng chính V. Yurchenko cũng nói là các nhân viên Xô viết đã đưa người đàn ông này tới tòa nhà mới của sứ quán ở trên đỉnh Alto, mà tòa nhà này mãi tới tháng 9-1979 mới mở cửa. Các đặc vụ FBI xem lại các tài liệu ghi chép “vật lạ” - tiếng lóng của FBI để chỉ một đối tượng chưa xác định được - đã đi vào trong sứ quán Liên Xô trên Đường 16 và không quay ra. Chỉ có duy nhất một trường hợp được ghi nhận, nhưng lại vào ngày 15-1-1980.

Các nhân viên FBI cũng nghe lại băng ghi âm các cuộc nói chuyện của sứ quán Liên Xô. Họ tìm ra cuộn băng ghi cuộc nói chuyện của V. Yurchenko với người đàn ông lạ trong lần gặp đầu tiên, và một ngày sau đó, hướng dẫn người đàn ông này vào bên trong sứ quán. Trong cuộn băng đã được lưu giữ năm năm, nghe rõ giọng của V. Yurchenko nói với người đàn ông lạ rằng ông ta cứ việc đến sứ quán. Người đàn ông đã lúng túng hỏi lại xem bằng cách nào ông ta có thể vào được bên trong sứ quán.

- Tôi bấm chuông và người ta sẽ cho tôi vào chứ? - Người đàn ông hỏi. - Làm sao tôi có thể vào bên trong được?

- Không, không. Anh cứ đi thẳng qua cổng vào bên trong. - Tiếng V. Yurchenko trả lời.

- Họ sẽ cho tôi vào bên trong?

- Tất nhiên. Họ sẽ không nói gì đâu!

Có được giọng nói của người đàn ông nhưng FBI vẫn không làm cách nào xác định được anh ta là ai. Nhóm FBI chịu trách nhiệm giám sát tòa nhà sứ quán khó mà chụp được ảnh của một người khi đã vào bên trong sứ quán nên chỉ có thể chụp được ảnh toàn bộ những người đi bộ trước sứ quán rồi đem so sánh chúng với những người rời sứ quán.

Do không có ảnh nên FBI buộc phải xác định người đàn ông lạ qua giọng nói, một công việc hết sức nặng nhọc, khó khăn và phải được tiến hành trong vòng bí mật tuyệt đối. Về lí thuyết, người đàn ông lạ có thể quay lại làm việc ở NSA, nơi anh ta có thể có những người bạn cùng chí hướng. Nếu như biết rằng FBI đang để ý đến mình thì người đàn ông lạ và bạn bè của mình có thể sẽ cao chạy xa bay.

Cuộc điều tra rơi vào tình trạng giẫm chân tại chỗ.

+++++

Image

CIA cho rằng tiền có thể là một trong những công cụ hữu hiệu để xoa dịu tâm trạng khó chịu nặng nề của V. Yurchenko do cung cách giám sát chặt chẽ của CIA đối với ông.

Một buổi chiều, khi ngồi trong phòng giải trí tại ngôi nhà an toàn, C. Thompson mang chuyện đó ra nói với V. Yurchenko.

- Ông được trả 62.500 USD một năm bao gồm cả trợ cấp, tương đương với lương của một đại tá. - C. Thompson nói. - Ông cũng được cấp toàn bộ thiết bị nội thất của ngôi nhà này, tiền bảo hiểm và một chiếc xe hơi. Thêm vào đó, ông cũng sẽ có một khoản được gọi là “tiền thưởng”. Theo luật thu nhập nội bộ, khoản tiền thưởng cho một điệp viên đào thoát sẽ không bị đánh thuế bởi vì nó được trả cho những công việc mà người này đã thực hiện trước khi tới Hoa Kỳ.

C. Thompson hỏi V. Yurchenko xem một khoản “tiền thưởng” bao nhiêu sẽ là thích hợp. Giờ đây, C. Thompson đã quen với cái cách mà V. Yurchenko bộc lộ những mong muốn của mình mà không hề phải lên tiếng yêu cầu trực tiếp. Bằng một cách nào đó, V. Yurchenko cho C. Thompson biết rằng con số thích hợp sẽ là một triệu USD.

V. Yurchenko có vẻ như chưa bao giờ quan tâm đến tiền bạc. CIA cấp 3.000 USD mỗi tuần cho những chi tiêu của V. Yurchenko tại ngôi nhà an toàn. Cũng còn một khoản tiền nữa để chi cho mua sắm quần áo. Kể từ khi tới Mỹ, ông mới chỉ mua thêm hai bộ quần áo ngoài. Cộng với bộ quần áo thể thao mà V. Yurchenko mặc trên người khi đào thoát, như vậy tổng cộng ông chỉ có ba bộ quần áo mặc ngoài. Ông cũng không quan tâm lắm đến việc ăn uống. Ngay cả món tráng miệng cũng được yêu cầu bỏ đi vì nó không thích hợp với dạ dày cùa V. Yurchenko.

Bởi vậy, C. Thompson rất ngạc nhiên khi biết giá trị khoản “tiền thưởng” mà V. Yurchenko yêu cầu. Nhưng C. Thompson hiểu một điều là không thể đo đếm chính xác giá trị các thông tin do V. Yurchenko cung cấp, những tin tức có thể giúp người ta chiến thắng trong một cuộc chiến tranh.

C. Thompson báo cáo lại cho Phó ban Liên Xô - Đông Âu M. Bearden về khoản “tiền thưởng” một triệu USD và M. Bearden đồng ý. Việc chi khoản tiền này phải được B. Gerber, với tư cách là giám đốc hành chính của CIA và Phó giám đốc Clair George, thông qua.

Một buổi chiều, M. Bearden, Chuck và một nhân viên của CIA mang tới chỗ V. Yurchenko bản hợp đồng dài 6 trang, đánh máy cách dòng. Trong bản hợp đồng ghi rõ, để nhận được một triệu USD và các khoản chi phí khác, V. Yurchenko sẽ phải hợp tác với CIA và không làm gì có hại cho quyền lợi của nước Mỹ.

Trong phòng khách, khi V. Yurchenko kí tên vào bản hợp đồng, Chuck khui một chai sâm banh Mỹ. M. Bearden, người tự giới thiệu với V. Yurchenko dưới cái tên Tom Fountain, nâng cốc chúc V. Yurchenko bắt đầu bước vào một cuộc sống mới. V. Yurchenko chỉ nhấp một hớp sâm banh.

+++++

Một tuần trước khi diễn ra cuộc gặp với Giám đốc CIA W. Casey, C. Thompson đã đề nghị một kì nghỉ để V. Yurchenko tạm thời nguôi ngoai chuyện cô bạn gái ở Canada. V. Yurchenko đồng ý. C. Thompson hỏi xem V. Yurchenko muốn đi đâu, nhưng V. Yurchenko hoàn toàn không có khái niệm về nơi nào cần đi. Trước khi đào thoát, V. Yurchenko mới chỉ ở Washington, San Francisco và New York. Cuối cùng, C. Thompson quyết định thu xếp một chuyến đi kéo dài mười hai ngày dọc theo miền tây nước Mỹ, qua các bang Arizona, Utah và Nevada, là những nơi mà C. Thompson từng cùng với gia đình trải qua trong một lần đi nghỉ trước đó.

Cùng với C. Thompson, Mike Rochford của FBI và hai nhân viên giám sát CIA nữa, V. Yurchenko bắt đầu chuyến đi dài mười hai ngày qua các bang miền Tây nước Mỹ. Rời Washington thứ bảy, ngày 12-10-1985, họ bay tới Phoenix. Từ đó cả nhóm thuê hai chiếc xe và lái tới khu nghỉ mát Mountain Shadows ở Marriott và Câu lạc bộ Country ở Scottsdale, bang Arizona.

Ngày hôm sau, trong khi cùng C. Thompson và M. Rochford ngồi ăn sáng tại khách sạn, V. Yurchenko nói:

- Tôi thấy chúng ta cần bàn với nhau một việc.

- Tốt, nhưng việc gì vậy? - C. Thompson hỏi.

- Về việc bảo vệ và giám sát tôi. - V. Yurchenko nói. - Tôi muốn gặp “đội” của các anh.

C. Thompson có thể đoán được điều gì đã xảy ra. Trong nhóm giám sát V. Yurchenko được bổ sung một anh chàng mới tên John. Người lùn mập, tóc nâu, John dược Ban an ninh cử vào nhóm giám sát với những chỉ dẫn cặn kẽ. Đây là một vụ quan trọng. Không được phép để V. Yurchenko lọt ra khỏi tầm mắt anh ta.

- Đêm qua, - V. Yurchenko nói, thận trọng chọn từng từ một, - John muốn ở lại trong phòng tôi. Tôi yêu cầu anh ta ra khỏi phòng, nhưng anh ta khăng khăng đòi mở cửa thông giữa phòng anh ta với phòng tôi rồi xem truyền hình suốt đêm.

V. Yurchenko nói rằng về sau thì John cũng có hơi khép cánh cửa lại một chút, thế nhưng cũng chẳng thay đổi được gì. V. Yurchenko vẫn bị quấy rầy. Tiếng động và ánh sáng nhấp nhoáng từ màn hình vô tuyến làm cho V. Yurchenko mất ngủ cả đêm.

- Tôi đã mệt mỏi với cái cung cách này rồi. - V. Yurchenko nói. - Tôi không muốn trong mười hai ngày tới, những sự việc tương tự lại vẫn tiếp diễn.

Thompson và Rochford có thể nhận ra sự giận dữ trong ánh mắt của V. Yurchenko.

Tất cả chia làm hai nhóm. V. Yurchenko, C. Thompson, M. Rochford lên một xe, những nhân viên an ninh lên xe kia chạy phía sau. Dưới ánh nắng rực rỡ, họ đi về hướng bắc, theo quốc lộ 17 rồi ngoặt sang hướng tây theo đường 69. Sau khi vượt qua thung lũng Prescott, họ theo đường 89 tới Sedona và thăm hẻm núi Walnut, một tượng đài quốc gia ở gần Winona. Ở Flagstaff, họ nghỉ lại trong một nhà trọ.

V. Yurchenko có vẻ hài lòng với chuyến đi và thái độ có phần dịu lại. Sedona được gọi là thành phố đá đỏ. Những mỏm đá nhiều màu sắc, từ nâu gỉ đồng cho đến vàng cam hoặc hồng nhạt rất vui mắt. Khi đi ngang qua một mỏm đá lớn nhô lên giống như nóc tòa nhà Quốc hội Mỹ, V. Yurchenko nói:

- Nếu như ở Liên Xô thì trên đó đã được kẻ khẩu hiệu rồi.

Họ đi về hướng bắc theo đường 89 rồi rẽ sang đường 64 tới hẻm núi Lớn ở Arizona. Quang cảnh làm cho V. Yurchenko vui thích. Ông xuống xe đi bộ theo phần phía nam của hẻm núi, tận mắt nhìn thấy những chú hoẵng chạy trên sườn núi. Thời gian ở khách sạn, V. Yurchenko chơi các môn thể thao giải trí...

Sau hai đêm, đến 15-10, họ đi dọc đường 180 sang phía tây rồi theo quốc lộ 40 tới Kingman, Arizona. Cuối cùng, theo đường 93 hướng về tây bắc, họ tới Las Vegas.

V. Yurchenko cảm thấy sửng sốt. Ông nghển cổ nhìn những tấm biển khổng lồ làm cho thành phố giống như một đĩa mì spaghetti sáng lóng lánh. Họ đặt phòng ở khách sạn Dunes tại khu phía nam thành phố, nơi V. Yurchenko có một phòng với những tấm thảm trải màu hồng, rèm cửa xanh nhạt. Dạ dày V. Yurchenko lại giở chứng và ông ăn tối một mình trong phòng. Nhưng đêm hôm ấy, V. Yurchenko ra ngoài đi xem các cô gái múa khỏa thân, những bàn chơi bạc và vẻ rực rỡ ban đêm của thành phố. Tất cả đều làm cho ông ngạc nhiên. Hệ thống truyền thông công cộng đang truyền đi bài phát biểu của Telly Savalas, được biết như là một nhân vật nổi tiếng của truyền hình.

Rồi họ cùng quan sát hoạt động của các sòng bạc. C. Thompson và M. Rochford nhận thấy ở mỗi sòng bạc đều có các cô gái lượn lờ, váy ngắn cũn cỡn khoe cặp đùi dài. Những cô gái này đang chờ “mồi” là những anh chàng máu mê cờ bạc.

C. Thompson nhận thấy rõ là V. Yurchenko thiếu vắng một người đàn bà. Thực ra họ có thể giải quyết việc này bằng cách ghi một tin nhỏ trong bản thông báo nội bộ của CIA ở Langley, tìm kiếm một phụ nữ . sẵn sàng cặp với một điệp viên đào thoát có lợi tức hằng năm hơn một triệu USD. C. Thompson cũng từng nghĩ đến việc mời một nữ nhân viên của Ban Liên Xô - Đông Âu đi cùng với V. Yurchenko. Như vậy thì ít ra cũng tốt hơn những nhân viên an ninh mặt mày cứng đờ luôn soi mói. Thế nhưng ý định này, giống như việc tìm một người biết tiếng Nga chỉ huy toán giám sát V. Yurchenko, cũng bị chìm đi trong bao sự kiện khác và không thành hiện thực.

Trước khi bắt đầu chuyến đi, C. Thompson từng gợi ý M. Rochford để bộ phận FBI ở Las Vegas có thể bố trí ít ra là một cô gái làng chơi cặp với V. Yurchenko. Ở Nevada, các cô gái làng chơi được phép hoạt động hợp pháp. Nhưng M. Rochford chẳng làm gì để thực hiện kế hoạch này. Cũng đã có dự kiến giới thiệu V. Yurchenko với một cô gái độc thân biết nói tiếng Nga. Nhưng kể từ khi CIA tham gia vào vụ V. Yurchenko thì những kế hoạch kiểu đó bao giờ cũng chỉ dừng lại ở mức thảo luận là hết.

Giờ đây, khi tới sòng bạc, C. Thompson chỉ cho V. Yurchenko những cô gái đang lượn lờ xung quanh. V. Yurchenko lặng thinh, C. Thompson lại chỉ hai cô gái trạc 18, 19 tuổi, cặp vú nhô cao sau làn áo mỏng dính. V. Yurchenko vẫn không trả lời.

Nếu như V. Yurchenko có cặp với một cô gái làng chơi nào đó thì chắc chắn cũng không phải dưới những con mắt soi mói của CIA và FBI.

V. Yurchenko thử chơi ở một cái máy đánh bạc và được hơn 100 USD. Ông nhanh chóng thua hết số tiền ngay sau đó.

Sau hai đêm ở Las Vegas, họ đi về phía bắc dọc theo quốc lộ 15 tới St. George, bang Utah. V. Yurchenko theo dõi chuyến đi trên một cái bản đồ và rất thích thú với cảnh vật trên đường đi. Họ ghé thăm đền St. George. Được xây dựng vào năm 1877, đây là đền Mormon đầu tiên ở miền Tây nước Mỹ. Cả nhóm xem những băng video và phim chiếu giới thiệu về ngôi đền.

Họ đi theo đường 15 về phía đông bắc tới Vườn quốc gia Zion, nơi có rất nhiều hẻm núi hùng vĩ, tráng lệ và Vườn quốc gia Bryce Canyon, một vườn quốc gia khác cách đó khoảng 9 dặm. Người da đỏ gọi những rặng núi đá ở Bryce là “những người đàn ông đứng trong hẻm núi”.

V. Yurchenko cảm thấy uể oải vì độ cao họ đang ở khoảng từ 8.000 đến 9.000 bộ so với mực nước biển, nhưng rất thích thú về cảnh đẹp xung quanh. Ban đêm họ ở lại Bryce và sáng hôm sau tới Rainbow Point, một vùng hoang vu với những rặng núi trải dài ở phía bắc. Không người, không máy bay, không một tiếng động nào. Ở Bryce, V. Yurchenko mua một vật duy nhất trong suốt cả chuyến đi với giá 9 USD. Đó là cái vòng của thổ dân da đỏ có đính một miếng ngọc lam. V. Yurchenko đeo nó ở tay trái.

C. Thompson đề nghị nếu muốn, V. Yurchenko có thể cầm lái ô tô trên đường đi tới thành phố tiếp theo là Page, bang Arizona, nằm ở phía nam của biên giới với bang Utah. V. Yurchenko đã lái xe bốn mươi dặm về phía đông nam dọc theo đường 89. Khi đi ngang qua các đồi cát mênh mông, M. Rochford chỉ cho V. Yurchenko thấy những nơi được dùng để quay cảnh trong những bộ phim cao bồi Viễn Tây.

+++++

Ở Page, một nhân viên FBI đã chờ sẵn để gặp họ. Kể từ khi V. Yurchenko mô tả về một cựu nhân viên Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ NSA từng làm việc cho phía Liên Xô, Dave Faulkner, đặc vụ được đặc trách giao vụ này đã tìm mọi cách để tìm ra người đàn ông đó. Dựa theo những chỉ dẫn của V. Yurchenko, D. Faulkner đã xác định, loại bớt những người đầu hói độc thân, dưới ba mươi hoặc trên năm mươi tuổi và thời gian gần đây không làm việc tại Fort Meade, Tổng hành dinh của NSA.

Theo số liệu máy tính của NSA, số người bị tình nghi lên đến khoảng chín trăm người. Dựa vào các hồ sơ cá nhân và loại trừ thêm những người không có khả năng tiếp cận với dự án Ivy Bells, D. Faulkner thu hẹp diện bị tình nghi xuống khoảng 100 người. Trong vài tuần, D. Faulkner và một đồng sự, đặc vụ Dudley F. B. Hodgson, đã cố gắng nhận dạng người đàn ông ở NSA qua giọng nói. Đồng thời, họ muốn giới hạn tối đa phạm vi điều tra của mình trong vòng bí mật. Chỉ cần chút hơi hướng FBI đang tìm kiếm một cái gì đó bị lộ ra ngoài là con chim lạ thấy động sẽ vù đi mất.

Trong căn phòng tại Tổng hành dinh NSA, hai đặc vụ FBI gọi một số người được họ chỉ định tới và cho những người này nghe lại cuộn băng năm 1980 ghi lại cuộc gọi tới sứ quán Liên Xô để nhằm nhận dạng giọng nói. Hơn chục người được mời tới để nghe cuộn băng nhưng không ai cung cấp được một tin tức nào về giọng nói kia cả. D. Faulkner bắt đầu phân vân không biết thực sự có tồn tại một người đàn ông bí hiểm như vậy không.

Nhưng đến ngày 15-10-1985, sau khi cuộn băng được đưa cho người nhân viên thứ mười lăm của NSA, Donald Bacon, nghe qua thì ông ta nhận ra giọng nói của một trong những cựu nhân viên thuộc quyền.

- Đó là Ronald Pelton. - Ông ta nói.

Ở Page, các đặc vụ FBI xếp trước mặt V. Yurchenko sáu tấm ảnh màu.

- Ông có nhận ra ai trong số này không? - Đặc vụ FBI hỏi V. Yurchenko vào buổi sáng chủ nhật, ngày 20-10-1985.

- Anh ta đây. - V. Yurchenko chỉ vào tấm ảnh một người đàn ông thấp lùn, vạm vỡ, có mái tóc màu vàng hất ngược về phía sau.

Đó là Ronald Pelton.

Các đặc vụ FBI thở phào nhẹ nhõm. Giờ đây chỉ còn việc tìm ra người đàn ông đang ở đâu nữa là xong việc. Sau khi làm việc ở NSA một thời gian ngắn, R. Pelton đã thuê một căn hộ ở Silver Spring, Maryland, nhưng chưa bao giờ thấy anh ta xuất hiện ở đó. Lần theo hóa đơn thuê nhà của anh ta FBI được biết ngân hàng Suburban đã gửi hóa đơn của R. Pelton tới địa chỉ của Ann Barry, một cựu hoa hậu tuổi vị thành niên bang Maryland, sống ở Washington. Cô ta là bạn gái của R. Pelton.

V. Yurchenko cảm thấy hài lòng vì thông tin do ông cung cấp đã có ích.

+++++

Tiếp tục chuyến đi, V. Yurchenko và những người cùng đi theo đường 89 tới thành phố Tuba, bang Arizona. Họ dừng lại ở một tiệm bánh pizza. Các nhân viên giám sát uống Coca Cola, trong khi V. Yurchenko uống chè và nhai tóp tép mấy miếng bánh bích quy khô mà ông mang theo, C. Thompson có vẻ giễu cợt việc V. Yurchenko mang theo thức ăn của mình vào một hiệu ăn.

Họ tiếp tục đi theo đường 264 ngang qua khu bảo tồn người da dỏ Navajo ở hoang mạc Painted. Khi tới Second Mesa, một thành phố nhỏ của người da đỏ ở Arizona, họ dừng lại để ăn tối.

V. Yurchenko gọi món đậu của người da đỏ. Ông ăn thử rồi tuyên bố là nó quá cay. C. Thompson cũng thử một miếng. Mùi vị của nó thật kinh khủng nhưng anh ta lại thấy nó ngọt sắc như có trộn đường.

Trên đoạn đường tiếp theo, cả nhóm ngồi trong ô tô cứ nảy xong xóc vì những ổ gà lồi lõm. Đường xấu khiến cho dạ dày của V. Yurchenko lại khó chịu.

- Nó làm tôi nhớ Liên Xô. - V. Yurchenko nói, ám chỉ những con đường mấp mô mà họ đi qua.

V. Yurchenko thường vào buồng tắm và tắm rất nhanh. Có thể thấy rõ ông đang ở trong tâm trạng bực bội và không thích những gì đang diễn ra xung quanh.

Trong bảy mươi dặm tiếp theo, họ lái xe đi theo những con đường mòn khấp khểnh. V. Yurchenko càng cảm thấy khó chịu hơn. Ngay sau khi tới một nhà trọ là lập tức ông chui ngay vào trong phòng riêng của mình, đóng kín cửa lại.

Ngày 21-10, họ đi về phía nam, dọc theo đường 87 tới Holbrook rồi quay sang phía tây, qua những cánh rừng thông trải dài theo quốc lộ 40 tới Winslow bang Arizona. Cả nhóm dự định tới Globe nhưng V. Yurchenko nói rằng ông cảm thấy đã đủ rồi. Ông thấy mệt và muốn quay lại Phoenix để chơi golf. Kể từ khi các đặc vụ FBI dạy V. Yurchenko chơi golf hồi còn ở ngôi nhà an toàn thì ông tỏ ra đặc biệt thích thú môn thể thao này.

Hai ngày cuối cùng của chuyến đi, họ ở tại khu nghỉ Scottsdale Hilton và Spa, ngoại ô Phoenix. Ở Hilton không có sân golf riêng và M. Rochford đưa V. Yurchenko tới một sân chơi công cộng.

- Cũng không tồi lắm! - M. Rochford nhận xét về trình độ chơi golf của V. Yurchenko.

Một nữ phục vụ viên cho họ biết rằng ca sĩ nổi tiếng Dolly Parton sẽ biểu diễn tại hội chợ bang Arizona và V. Yurchenko muốn đi xem. Họ tới hội chợ, được tổ chức ở nhà thi đấu Phoenix Coliseum, nhưng Dolly Parton không biểu diễn ở đó. V. Yurchenko rất thất vọng. Thay vào đó, họ đi xem một cuộc đua ngựa quăng thòng lọng của những người chăn bò.

Thứ năm 24-10, họ về đến phi trường quốc tế Baltimore ở Washington. CIA đã chọn phi trường này thay cho phi trường quốc tế Dulles bởi vì nó nằm ngoài vùng các nhà ngoại giao Xô viết được phép lui tới. Cũng như khi bay đến Arizona, để tiết kiệm, các nhân viên an ninh giám sát ngồi ở khoang thường, chỉ có V. Yurchenko, Thompson và Rochford ngồi ở khoang hạng nhất.

Dẫu sao thì chuyến đi chỉ khiến cho tâm trạng của V. Yurchenko thêm nặng nề. Trong chuyến đi, V. Yurchenko đọc trên một tờ báo địa phương nói rằng ông đã báo cho CIA không chỉ về Edward Lee Howard mà còn cả về hành tung của những điệp viên khác nữa.

V. Yurchenko không biết các nguồn tin bị rò rỉ từ đâu. Ông chỉ biết rằng chúng được tiết lộ từ chính phủ Hoa Kỳ. Khi bị vặn hỏi, đặc vụ FBI M. Rochford chỉ còn biết chống chế rằng anh ta đã phàn nàn về việc rò rỉ tin tức và sẽ tiếp tục gây sức ép để ngăn chặn việc đó ngay khi họ quay về.

Lúc 10 giờ sáng thứ tư, ngày 30-10-1985, khi Mike Rochford và đồng nghiệp FBI của anh ta Reid Broce ló mặt ra ở ngôi nhà an toàn tại Coventry thì V. Yurchenko gặp họ ở cửa.

- Các anh đã xem cái này chưa? - V. Yurchenko hỏi, chỉ vào một bài báo đăng trên trang bảy của tờ The Washington Post. Tác giả bài báo là Patrick E. Tyler. Bài báo dài bảy trăm lẻ năm chữ với một cái tít to bự mà người thong manh cũng có thể đọc được: VỤ MẤT CỦA ĐIỆP VIÊN MỸ SHADRIN MƯỜI NĂM TRƯỚC ĐÂY Ở VIENNA.

“Một điệp viên đào thoát cấp cao Xô viết đã phanh phui những bí mật kéo dài mười năm qua xung quanh vụ Nicholas G. Shadrin, điệp viên Mỹ hai mang, mất tích trong cuộc gặp với các điệp viên KGB tại Vienna ngày 20-12-1975”, bài báo viết.

Tác giả bài báo quả là biết cách lôi độc giả vào những tình tiết hấp dẫn:

“N. Shadrin, khi đó 47 tuổi, đã bị đánh thuốc mê và gặp tai nạn khi anh ta vật lộn với các điệp viên KGB trên băng ghế sau của một chiếc xe bít bùng ở Vienna. Các điệp viên của KGB muốn đưa anh ta ra khỏi Vienna và thoát khỏi sự bảo trợ của CIA.

Chính phủ Mỹ đã thông báo việc này ngày hôm qua cho luật sư của Ewa Shadrin, góa phụ của người điệp viên bất hạnh.

Những tin tức về cái chết của anh ta, lần đầu tiên được đưa trong phần tin của kênh truyền hình NBC vào tối thứ hai, là những tiết lộ mới nhất của Vitaly V. Yurchenko, một điệp viên KGB đào thoát đang được bảo vệ cẩn mật. V. Yurchenko là điệp viên thượng thặng của KGB và đã đào thoát hồi cuối tháng 7 vừa qua trong một chuyến đi ở Rome.

V. Yurchenko, hiện đang chịu sự giám sát tại một địa điểm chưa được tiết lộ, đã từng trải qua nhiều cương vị quan trọng ở KGB trong vòng hai thập kỉ qua, trong đó có chức vụ phó Ban điều hành các chiến dịch tình báo ở Mỹ, trưởng Ban phụ trách công tác phản gián trên khắp thế giới và từ 1975 đến 1980 là sĩ quan an ninh tại sứ quán Liên Xô ở Washington...

Vợ của N. Shadrin và luật sư của cô ta nói ngày hôm qua rằng họ muốn gặp V. Yurchenko để hỏi về những điều còn chưa được làm rõ trong vụ mất tích bí ẩn mười năm trước.

Richard D. Kopaken, người đại diện cho vợ N. Shadrin trong những nỗ lực nhằm buộc FBI và CIA phải cung cấp thông tin về vụ mất tích, nói rằng FBI đã không đáp ứng yêu cầu của ông ta."

Cả M. Rochford và R. Broce đều đã đọc bài báo. Họ cũng đã xem chương trình tin tức ban đêm của NBC hôm thứ hai, lần đầu đưa về vụ này. Thông qua một nguồn tin từ FBI, Pat Lynch, người điều hành chương trình tin tức ban đêm của NBC đã đánh hơi được câu chuyện từ vài tuần trước đó. Việc V. Yurchenko đào thoát đã bị vỡ lở và các quan chức của chính phủ thấy không có lí do gì để giữ các thông tin về vụ mất tích mười năm trước đây trong vòng bí mật nữa.

P. Lynch đã dành vài ngày để phối kiểm lại các tình tiết của câu chuyện. Thứ sáu, bà ta yêu cầu FBI đưa ra lời bình luận. Bộ phận quan hệ công chúng của FBI không khẳng định mà cũng chẳng phản đối.

Tối hôm sau, P. Lynch cho phát câu chuyện trong chương trình của NBC, nói rằng V. Yurchenko chính là người cung cấp tin. Bài báo của P. Tyler xuất hiện trên tờ The Washington Post hai ngày sau đó.

Lần đầu tiên, V. Yurchenko cao giọng:

- Cứ mỗi khi tôi nói với các anh điều gì đó thì y như rằng một tuần sau báo chí đăng lại hệt như thế. - Ông nói. - Các anh biết rằng gia đình tôi còn ở lại quê hương và họ sẽ gặp khó khăn về chuyện đó. Điều kiện của tôi khi đào thoát là mọi hành vi của tôi phải được hoàn toàn giữ trong vòng bí mật. Làm sao các anh bảo vệ được tôi trong khi đến ngay thông tin của tôi, các anh cũng không bảo vệ được?

+++++

Các đặc vụ FBI không biết rằng cũng trong buổi sáng hôm đọc được bài báo về vụ mất tích của N. Shadrin, V. Yurchenko còn đọc được trên tờ The Washington Post một bài khác viết về số phận của Miroslav Medvid, thủy thủ Xô viết, người đã hai lần nhảy từ trên chiếc tàu hàng của anh ta xuống sông Mississippi để cố gắng đào thoát vào nước Mỹ, nhưng nhà chức trách Mỹ đã hai lần bắt anh ta quay trở lại tàu.

Rốt cuộc, đến khi phía Mỹ bố trí được một cuộc phỏng vấn anh ta thì người thủy thủ này tuyên bố rằng thôi không còn muốn đào thoát nữa. Người Xô viết đã kịp nhắc nhở anh ta về những điều không lấy gì làm tốt đẹp mà một người đào thoát có thể gây ra cho gia đình ở nhà. Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ George P. Shultz sau này thừa nhận rằng việc bắt người thủy thủ quay trở lại tàu trái với ý muốn của anh ta quả thực là một sai lầm.

Rất có thể là vào thời điểm ấy, V. Yurchenko nhớ đến trường hợp của Oleg G. Bitov, một phóng viên của tờ tuần báo Tạp chí văn học ở Liên Xô. Ngày 8-9-1983, O. Bitov đã biến mất khỏi khách sạn khi đang tham dự liên hoan phim Venice. Vài tuần sau đó, ông ta xuất hiện ở London, nói rằng đã đào thoát sang Anh bởi phản đối cách đối xử với trí thức tại Liên Xô. Ông ta cũng lên án hành động của phía Liên Xô đã bắn rơi chiếc máy bay chở khách của hàng không Hàn Quốc hồi đầu tháng.

Một năm sau, O. Bitov chạy vào sứ quán Liên Xô ở London, tuyên bố ông ta đã bị các điệp viên Anh tiêm thuốc, tra tấn, hăm dọa tống tiền. Ngày 18-9-1984, O. Bitov tuyên bố tại Moscow rằng người Anh muốn ông ta dựng lên một kế hoạch nhằm buộc tội KGB và Sergey I. Antonov, cựu nhân viên của hàng không Bulgaria, đã có âm mưu ám sát Giáo hoàng John Paul II. S. Antonov sau này được tuyên bố trắng án, không liên quan đến vụ ám sát.

Trong thời gian ở phương Tây, O. Bitov đã phát biểu trên đài phát thanh Radio Liberty về nguyên nhân khiến ông ta đào thoát.

- Tôi cảm thấy ngột ngạt. - Ngày 13-3-1984, O. Bitov phát biểu trên đài Radio Liberty, ngụ ý những o ép mà ông ta đã phải chịu đựng do các bài viết của mình.

Bất chấp những tuyên bố của O. Bitov trong thời gian ở phương Tây, ngày 24-10-1984, tờ Tạp chí văn học đăng một bài báo trong đó đưa ra những bằng chứng của O. Bitov nói rằng đã bị điệp viên Anh bắt cóc. Đề cập đến những loại thuốc ảnh hưởng đến thần kinh, tờ tạp chí cho biết họ có bản photocopy những chỉ dẫn của cơ quan mật vụ “thuộc hai nước thành viên NATO, trong đó hướng dẫn cách sử dụng những loại thuốc này. Đó là loại ma túy dùng để thẩm vấn, làm mất trí nhớ, biến những người bị thẩm vấn thành những robot vô hồn chỉ biết ngoan ngoãn tuân theo lời của người thẩm vấn”.

V. Yurchenko thừa hiểu KGB biết O. Bitov nói dối, nhưng quyết định không có bất kì hành động trừng phạt nào, sử dụng trường hợp ông ta vào mục đích tuyên truyền. Đó là ưu tiên của KGB.

V. Yurchenko từng đọc bài báo trên tờ The Washington Post viết về lễ hội hóa trang Halloween thường được tổ chức rầm rộ trên các đường phố ở khu Georgetown của thủ đô Washington. Buổi lễ hội sẽ kéo dài đến đêm. V. Yurchenko bèn hỏi Chuck, người của Ban tái định cư CIA xem liệu ông có thể đi xem lễ được không? Ban tái định cư chấp nhận đề nghị của V. Yurchenko và thế là vào buổi tối thứ năm, ngày 31-10-1985, V. Yurchenko cùng với một nhân viên của CIA hòa lẫn vào trong số sáu mươi ngàn người đang tưng bừng trong lễ hội Haloween. V. Yurchenko mang tóc giả, đeo kính râm, không phải để tham gia lễ hội hóa trang mà vì lí do an ninh.

Hai ngày sau, thứ bảy, ngày 2-11-1985, V. Yurchenko nói với Thomas Hannah, một trong vô số những nhân viên giám sát của CIA, rằng ông muốn đi mua một cái áo choàng. T. Hannah lái xe đưa V. Yurchenko đi hai mươi dặm về phía đông bắc, dọc theo đường 28 để tới cửa hàng Hech ở Manassas, Virginia. V. Yurchenko mua áo mưa và một cái mũ.

V. Yurchenko nói với T. Hannah rằng hai đêm trước đây, ông đã rất vui vẻ ở Georgetown và ông muốn tới đó để mua thêm vài thứ nữa. Khi còn ở ngôi nhà an toàn hôm thứ năm, T. Hannah đã biết là CIA cho phép V. Yurchenko tới đó. Thường thường, mỗi khi V. Yurchenko đi xe, luôn có một sĩ quan an ninh và một điệp viên CIA đi kèm. Chẳng hạn như hôm đi dự lễ Haloween, hai sĩ quan an ninh của CIA và Chuck, người của Ban tái định cư, đi cùng với V. Yurchenko.

Nhưng lần này chỉ một mình T. Hannah đưa V. Yurchenko đi Manassas và Georgetown mà không có bất cứ một điệp viên nào của CIA giám sát.

+++++

V. Yurchenko, tù nhân gây tranh cãi nhiều nhất trong lịch sử Cục Tình báo trung ương Hoa Kỳ, ngồi bên chiếc bàn tại Au Pied de Cochon, một tiệm ăn nhỏ kiểu Pháp ở khu Georgetown của Washington. Phía bên kia bàn, lọt thỏm trong chiếc ghế bọc da màu đỏ là Thomas Hannah, nhân viên an ninh CIA.

Lúc đó là 5 giờ chiều thứ bảy, ngày 2-11-1985. Chính V. Yurchenko đã đề nghị đến một tiệm ăn kiểu Pháp ở khu Georgetown. Đây là lần thứ hai ông được phép tới Georgetown, khu phố sang trọng với các biệt thự đắt tiền kiến trúc theo kiểu Pháp, những dãy nhà có vỉa hè lát gạch trông ra mặt đường đá, nằm giữa hai dãy phố thương mại là phố M. và đại lộ Wisconsin.

T. Hannah, 26 tuổi, không nói được tiếng Nga và chỉ mới vào làm cho CIA, phụ trách những công việc đơn giản. Anh ta có mái tóc nâu cắt ngắn và một khuôn mặt nhàm chán.

Sau khi cả hai gọi món cá hồi trần, V. Yurchenko đứng dậy và nói: - Tôi đi dạo một lát. Nếu như tôi không quay lại thì đó không phải là lỗi của anh.

Câu nói của V. Yurchenko làm T. Hannah bối rối. Anh ta không có đủ thời gian để trả lời cũng như không biết phải làm gì sau đó nữa. Là một nhân viên canh gác, anh ta chỉ được đào tạo qua loa, còn thua xa trình độ một sĩ quan thuộc lữ đoàn đặc nhiệm Hoa Kỳ chuyên canh gác các tòa nhà sứ quán nước ngoài. CIA đã cấp cho T. Hannah một khẩu súng ngắn nòng 38 li nhưng không bảo cho anh ta biết phải làm gì trong trường hợp V. Yurchenko chạy trốn, hoặc thậm chí trong trường hợp ông xin phép đi đâu đó một cách lịch sự.

Cầm chiếc mũ và cái áo choàng đi mưa vừa mới mua, V. Yurchenko đi ra dưới cái mái che màu đỏ của tiệm ăn, bước vào màn mưa phùn lạnh lẽo. Rất nhanh, ông đi dọc theo Đại lộ Wisconsin, một khu phố buôn bán sầm uất sáng trưng ánh điện. Ông đi ngang những hiệu may quần áo thời trang biển hiệu thay đổi xoành xoạch tùy theo ý thích bất thường của đám khách hàng choai choai, qua những cửa hiệu bán các vật dụng lặt vặt và đồ cổ, một phòng trưng bày nghệ thuật, hiệu sách và những quán cà phê làm cho Georgetown giống như khu Chelsea ở London. Khuôn viên tòa nhà sứ quán Liên Xô đã ở ngay trước mắt. Tắm trong ánh sáng mờ ảo của những ngọn dèn thủy ngân, tòa nhà nằm ở khu vực được gọi là đỉnh Alto, trên một trong những ngọn đồi cao nhất ở Washington và là khu vực cấm lai vãng. Nó nằm cách tiệm ăn mà V. Yurchenko vừa rời khỏi khoảng 1,25 dặm về phía tây bắc, giữa Đại lộ Wisconsin và đường Tunlaw.

T. Hannah cho rằng viên sĩ quan KGB có thể chỉ đi dạo quanh đó. Như sau này anh ta khai với nhân viên điều tra của CIA thì trước lúc trả tiền cho món cá hồi trần, T. Hannah không muốn rời tiệm rượu để bám theo V. Yurchenko. Ngay cả cái ý tưởng để thẻ tín dụng lại cho những người hầu bàn hoặc nói với họ là mình phải rời khỏi tiệm ăn ngay lập tức cũng không hề xuất hiện trong đầu anh ta. CIA đã không nghĩ đến việc tìm cho V. Yurchenko một ông bạn đồng hành nhiệt tình hơn là gã nhân viên an ninh trẻ tuổi ngu ngơ. Việc canh giữ những nhân viên điệp báo của đối phương đào thoát đã được CIA áp dụng theo cung cách truyền thống kể từ năm 1947 và chẳng có lí do gì để bỗng dưng phải thay đổi chúng.

Trước khi món cá hồi trần được bưng ra, T. Hannah bắt đầu cảm thấy lo lắng và vội vàng trả 8,95 USD cho cả hai người. Rồi anh ta bước nhanh về trạm điện thoại tự động trước cửa tiệm ăn để gọi cho Colin Thompson.

- V. Yurchenko đã đi rồi. - Từ buồng điện thoại tự động, bằng một giọng the thé, T. Hannah báo cáo.

- Ông ta đi đâu? - C. Thompson hỏi.

- Tôi không rõ. Ông ta vừa mới rời đây đi và nói rằng không phải lỗi của tôi nếu như ông ta không quay lại.

- Tốt, vậy ông ta đã đi bao lâu rồi? - Cố giữ hài hước trong giọng nói của mình, C. Thompson hỏi với vẻ của một ông chủ đang đi tìm chú chó yêu vừa chạy loăng quăng đâu đó một chút. Là điệp viên đã hai mươi lăm năm trong nghề, C. Thompson cố gắng không bao giờ để lộ ra cảm xúc thật của mình.

- Hai mươi phút trước đây. - Hannah báo cáo.

- Tốt, chờ thêm khoảng nửa giờ nữa. Nếu như ông ta không quay lại thì gọi cho tôi.

Đêm đó, C. Thompson, M. Rochford cùng với Nick Walsh, trợ lí đặc biệt về công tác phản gián của FBI khu vực Washington và khoảng hơn hai chục nhân viên CIA, FBI cày nát cả khu vực để lùng kiếm V. Yurchenko, C. Thompson vẫn cho rằng V. Yurchenko muốn kiếm một chỗ nào đó để chơi bời tí chút rồi sẽ quay lại, còn M. Rochford và N. Walsh thì đều biết rằng con chim đã bay đi hẳn rồi.

Đầu giờ chiều hôm 3-11-1985, tùy viên báo chí Đại sứ quán Liên Xô, Boris Malakhov thông báo sẽ có một cuộc họp báo tại khu nhà mới của sứ quán ở đỉnh Alto. Lúc 4 giờ chiều, B. Malakhov gặp phóng viên George Gedda của hãng thông tấn AP tại hành lang tòa nhà Bộ Ngoại giao Mỹ. B. Malakhov báo tin cuộc họp báo sẽ dài khoảng 90 phút.

- Chúng tôi đã có Vitaly Yurchenko. - B. Malakhov vui vẻ nói.

- Chờ một chút đã, - G. Gedda vội vã hỏi lại, tưởng mình nghe nhầm, - ông ta đã đào thoát từ ba tháng trước đây rồi kia mà.

- À, theo như một vài tin tức thì ông ta đã đào thoát, nhưng cứ đến sứ quán đi, ông sẽ biết điều gì xảy ra! - Nhà ngoại giao Xô viết trả lời.

+++++

Khu sứ quán Xô viết ốp đá hoa trên đỉnh Alto được xây thành hai khối nhà. Khối thứ nhất tính từ phía Đại lộ Wisconsin là khu sinh hoạt với trường học, bệnh viện, câu lạc bộ, bể bơi. Khối thứ hai bên trái là khu tiếp khách hai tầng, tòa nhà làm việc tám tầng và khu lãnh sự ba tầng.

Các phóng viên được hướng dẫn vào khu nhà theo lối từ đường Tunlaw. Tên của họ được kiểm tra theo một danh sách có sẵn. Khoảng hơn một chục phóng viên không có giấy mời bị kiên quyết mời về. Vào lúc 5 giờ rưỡi chiều ngày 3-11-1985, trước đám đông khoảng năm chục phóng viên tụ tập trong phòng họp, Victor F. Isakov, tùy viên sứ quán Liên Xô giới thiệu V. Yurchenko, gọi ông là đại diện ngoại giao cao cấp của phía Liên Xô. Hai người ngồi phía sau một cái bàn dài, ngồi bên phải V. Yurchenko là người phiên dịch.

- Trước hết, - V. Yurchenko nói, - tôi muốn khẳng định rằng tôi chính là Vitaly V. Yurchenko, không phải là Dzhurtchenko như một vài tờ báo của các ông đã đăng họ của tôi. Cuộc họp báo này được tổ chức theo yêu cầu của tôi, bởi vì tôi muốn thông báo cho giới báo chí cũng như các phương tiện thông tin đại chúng Mỹ biết về tình hình cũng như những sự việc mà tôi vừa phải trải qua.

V. Yurchenko nói tiếng Anh không chuẩn về mặt ngữ pháp, không liền mạch. Cảm giác như ông vẫn đang ở trong trạng thái lơ mơ. Với những ai từng biết ông thì ông đang có vẻ như bắt đầu một vở diễn.

Với vẻ châm biếm, V. Yurchenko nói B. Gerber, người mà ông gọi là sếp của Ban Xô viết trong CIA, đã yêu cầu ông tổ chức một cuộc họp báo khi V. Yurchenko vẫn còn đang nằm trong tay CIA. Theo lời V. Yurchenko thì nay ông chiều theo yêu cầu đó.

- Điều thứ hai mà tôi muốn nói với các ông là thời gian đầu cũng như trong suốt ba tháng khủng khiếp tôi phải ở đây, tôi đã không có bất cứ một cơ hội nào để nói tiếng Nga. - V. Yurchenko nói, một lần nữa lại châm chọc CIA.

- Tôi đã được giải thích rằng ở đây thiếu những phiên dịch tiếng Nga và trong suốt ba tháng liền, tôi đã nói tiếng Anh. Có thể là tôi củng cố được vốn ngoại ngữ của mình, có thêm được vốn hiểu biết tiếng Anh nhưng tôi sẽ không liều mạng sử dụng tiếng Anh ở buổi họp báo này.

Vì lí do đó, V. Yurchenko nói, ông sẽ phát biểu bằng tiếng Nga và được phiên dịch sang tiếng Anh.

Khi các chương trình truyền hình đột nhiên thông báo tạm dừng chương trình để truyền tin đặc biệt, hầu như tất cả các máy vô tuyến truyền hình ở Washington đều chuyển sang kênh CNN và cũng giống như khi xảy ra vụ ám sát John F. Kennedy, những người có liên quan đến sự kiện sẽ còn nhớ mãi, họ đang ở đâu khi diễn ra vụ tái đào thoát của V. Yurchenko.

Tại CIA, C. Thompson và các nhân viên của Ban Liên Xô - Đông Âu ngồi chết lặng trong phòng họp tầng sáu. Tại trạm FBI ở Washington, đám đông các nhân viên FBI tụ tập trong phòng Nick Walsh để chửi thề. Ở Tổng hành dinh của FBI, James H. Geer, Trợ lí Giám đốc về các hoạt động phản gián, ngồi xem ti vi, mồm há hốc vì kinh ngạc. Trên tầng bảy Tổng hành dinh CIA, Phó Giám đốc Clair George cũng ngồi xem trong tâm trạng sửng sốt. Chỉ có W. Casey ngồi xem ở phía sau là có vẻ điềm tĩnh, làm như ông ta không quan tâm lắm đến sự việc đang diễn ra trên màn hình.

- Anh có thể được mà cũng có thể mất. - W. Casey nói với một nhân viên CIA cũng đang xem ti vi trong văn phòng của ông ta.

V. Yurchenko nói một số người lạ mặt đã dùng vũ lực bắt cóc ông tại Rome và đưa ông sang Mỹ. Tại đây, ông nói: “Tôi bị cách li, buộc phải uống một số loại thuốc, không được phép liên lạc với các đại diện của Liên Xô. Cho đến ngày 2-11 vừa qua, trong một thoáng sơ hở của những người canh giữ, tôi mới trốn thoát được vào sứ quán Liên Xô”.

John Scali của hãng tin ABC hỏi V. Yurchenko có tiết lộ tin mật nào cho phía Mỹ không.

- Trong thời gian tôi tỉnh táo và kiểm soát được bản thân, tôi không hề tiết lộ bất cứ một thông tin mật nào. - V. Yurchenko trả lời. - Khi tôi không bị buộc uống thuốc, tình trạng sức khỏe bình thường, họ cũng đã yêu cầu tôi hãy cung cấp những thông tin mật cho phía Mỹ và tuyên bố tự nguyện tới Mỹ.

Pat Tyler của tờ The Washington Post hỏi liệu V. Yurchenko có tiết lộ những tin tức liên quan đến hoạt động gián điệp của Edward Lee Howard không. V. Yurchenko nói lần đầu ông thấy tên E. Howard là khi những nhân viên canh giữ ông mang đến tờ báo, trong đó có câu chuyện nói rằng ông đã tiết lộ bí mật về E. Howard.

- Ông có hoạt động gián điệp hay tình báo không? - Bob Woodward của tờ The Washington Post hỏi.

Mặc dù trước đó đã nói là chỉ dùng tiếng Nga qua phiên dịch nhưng V. Yurchenko trả lời câu hỏi này bằng tiếng Anh.

- Trước hết, tất cả mọi người đều biết là tôi đã làm việc năm năm ở Washington trên cương vị là sĩ quan an ninh của sứ quán Liên Xô. - V. Yurchenko nói. - Đó không phải là một bí mật và cũng là câu trả lời cho câu hỏi của ông. Nhưng nếu ông đề cập tới hoạt động gián điệp thì, hừm, tôi không có bất cứ bình luận nào về chuyện đó cả.

B. Woodward hỏi tiếp là liệu V. Yurchenko có cuộc gặp gỡ nào với W. Casey không? Có chứ, có một bữa ăn với ông ta. Bởi vì ông bị uống thuốc nên không nhận ra đó là Giám đốc CIA. V. Yurchenko nói C. Thompson đẩy ông đến trước mặt một người và bảo: “Hãy chào ông W. Casey”. Đó là W. Casey.

V. Yurchenko gọi C. Thompson là “một kẻ tâm thần mệt mỏi”, từng là “một cựu binh ở Việt Nam và đã bị thương ở đó; hình như anh ta là một kẻ giết người” và C. Thompson “căm ghét toàn thể nhân loại”.

Ngồi xem cuộc họp báo, C. Thompson có thể đoán biết được vì sao V. Yurchenko lại biết được tên thật của anh ta. Khi họ đăng kí khách sạn ở Scottsdale, V. Yurchenko nói ông không biết điền vào bản khai dành cho khách đăng kí như thế nào. C. Thompson đã đưa cho V. Yurchenko xem bản khai của mình. C. Thompson từng dùng giấy tờ dưới biệt danh là Charlie, thế nhưng khi giám sát điệp viên đào thoát, anh ta thấy không cần thiết phải như vậy. Thế là V. Yurchenko ngay lập tức biết tên thật của anh ta.

Để minh chứng cho việc CIA đã giam giữ mình như một tù nhân, V. Yurchenko dẫn ra trường hợp ở Scottsdale khi các nhân viên giám sát buộc ông phải để mở cửa phòng suốt đêm. Nhân viên giám sát hôm đó là một kẻ béo tốt, câm lặng, ngu xuẩn và vô cảm, chỉ biết tuân theo mệnh lệnh; V. Yurchenko nói cứ mỗi khi ông đóng cửa thì anh ta lại lập tức mở nó ra.

Ông cũng đề cập tới việc điện thoại bị những người giám sát cắt đứt. V. Yurchenko mô tả tỉ mỉ ngôi nhà an toàn ở Coventry, ba tầng, bên hồ, có những thiết bị cảnh báo laser để đề phòng ông chạy trốn.

V. Yurchenko cho biết CIA đã đề nghị với ông khoản tiền một triệu USD nhưng ông đã không bao giờ đặt bút kí vào hợp đồng. Việc V. Yurchenko đề cập tới khoản tiền lương này có vẻ khá lạ lùng vì nó không phù hợp lắm với chuyện ông bị bắt cóc. V. Yurchenko đã không nhận được tiền bởi vì CIA chờ ông lập một tài khoản ở ngân hàng. V. Yurchenko tỏ ra không quan tâm đến tiền bạc và cũng không hỏi xem có thể mở tài khoản ở đâu. Trong trường hợp V. Yurchenko mở tài khoản thì hẳn là tiền đã có ở trong đó rồi.

V. Yurchenko bắt đầu nói lạc đề về những nhân viên giám sát giẫm cả giày lên bàn ăn, và V. Isakov thông báo buổi họp báo kết thúc. Khi V. Yurchenko đi ra, các phóng viên bắt đầu gào lên những câu hỏi của họ về phía V. Yurchenko.

- Ít nhất ông cũng có thể cho chúng tôi biết làm cách nào mà ông có thể từ xa như thế mà quay trở về được Washington? - Một phóng viên hỏi. - Ông đi nhờ xe hay là gọi taxi?

- Vẫy xe đi nhờ quả là một cách tiện lợi. - V. Yurchenko nói.

- Ông đã đi nhờ xe?

- Không, không, tôi không khẳng định điều đó. - V. Yurchenko vừa mỉm cười vừa trả lời.

Khi một phóng viên khác hỏi là liệu có phải N. Shadrin đã chết, V. Yurchenko trả lời: “Tôi không biết!”.

Sau cuộc họp báo, V. Yurchenko đồng ý gặp quan chức của Bộ Ngoại giao Mỹ để xác định rằng ông tự nguyện rời nước Mỹ. Trên lí thuyết, một người không thể đào thoát khỏi nước Mỹ bởi vì không có luật chống lại việc đào thoát ở Mỹ. Thế nhưng trên thực tế, việc V. Yurchenko rời khỏi nước Mỹ là một cuộc tái đào thoát. Sau cuộc gặp ở Bộ Ngoại giao vào lúc 6 giờ tối ngày 5-11, V. Yurchenko đã giơ hai ngón tay tạo thành chữ V trên đầu, dấu hiệu của chiến thắng.

- Tôi đang về nhà. - V. Yurchenko trả lời khi các phóng viên hỏi là liệu có phải ông đang chuẩn bị quay về Liên Xô hay không.

Vào lúc 4 giờ 15 phút chiều thứ tư, ngày 6-11-1985, V. Yurchenko rời phi trường quốc tế Dulles ở thủ đô Washington trên một chiếc máy bay phản lực đặc biệt Ilyushin của hãng hàng không Liên Xô Aeroflot. Một giờ trước đó, chiếc máy bay này đã chở Đại sứ Liên Xô Anatoly F. Dobrynin tới để thảo luận với Ngoại trưởng Mỹ G. Shultz về cuộc gặp gỡ sắp tới giữa Tổng thống Mỹ R. Reagan và nhà lãnh đạo Xô viết Mikhail Gorbachev. Từ trên đầu cầu thang máy bay, trước khi bước vào bên trong, V. Yurchenko ngoái lại, nhìn thấy đặc vụ M. Rochford và R. Broce, hai người bạn đồng hành FBI đang đứng ở dưới chân cầu thang. Biết chắc là CIA quan sát kĩ lưỡng từng động tác của mình, V. Yurchenko hơi mỉm cười, giơ tay vẫy, không hẳn là với các điệp viên CIA và đặc vụ FBI đang đứng trên sân bay, mà với tất cả những người đang chăm chú theo dõi ông qua màn hình; M. Rochford đưa tay vẫy lại. Rồi viên đại tá KGB mất hút vào bên trong khoang máy bay.

+++++

V. Yurchenko rời nước Mỹ nhưng thông tin ông cung cấp vẫn tiếp tục được FBI sử dụng. Những thông tin rời rạc của V. Yurchenko về cựu nhân viên NSA Ronald Pelton không thể giúp FBI tìm ra bằng chứng trực tiếp để có thể buộc tội anh ta làm gián điệp. Đặc vụ FBI Dave Faulkner quyết định tiếp cận trực tiếp với đối tượng. Dựa vào ý kiến của các chuyên gia tâm lí cũng như linh cảm của bản thân, cả D. Faulkner và đồng sự Butch Hodgson đều cho rằng R. Pelton là người nói nhiều, luôn nghĩ rằng mình khôn khéo hơn mọi người và sẵn sàng bộc bạch về mình mỗi khi có cơ hội. Cả hai quyết định trực tiếp phỏng vấn anh ta.

Vài ngày trước buổi phỏng vấn, các đặc vụ FBI thuê một dãy phòng trên tầng bốn của khách sạn Annapolis Hilton. Trong những ngày sau đó, họ tập thử các tình huống với một đặc vụ khác đóng vai R. Pelton. Mục tiêu đặt ra là tìm kiếm sự cộng tác của R. Pelton chứ không phải cố gắng đối kháng với anh ta.

Cuối cùng, sáng chủ nhật, ngày 24-11-1985, D. Faulkner gọi điện thoại cho R. Pelton:

- Tôi là đặc vụ Dave Faulkner của FBI. Tôi cần nói chuyện với anh về một vấn đề cực kì quan trọng. Anh có thể tới gặp tôi ở khách sạn Annapolis Hilton không?

Không có vẻ gì là khẩn cấp trong giọng nói của người điệp viên. Là một cựu nhân viên NSA, R. Pelton hẳn nhiên có biết chút ít về FBI và trách nhiệm của nó đối với lĩnh vực an ninh quốc gia. R. Pelton hỏi lại là liệu các đặc vụ FBI có thể tới văn phòng chỗ anh ta được không?

- Do tính nhạy cảm của vấn đề an ninh quốc gia chúng ta thảo luận, chúng tôi muốn nói chuyện với anh ở một nơi đảm bảo an toàn.

- OK. - Pelton nói. - Tôi sẽ tới!

Các đặc vụ FBI đã ghi được một điểm lợi thế khi khéo léo buộc R. Pelton chịu đi tới khách sạn Annapolis Hilton. Các nhà tâm lí học nói người ta sẽ dễ thuận theo những gì đã tuân theo từ ban đầu. Bằng việc đồng ý tới chỗ các đặc vụ, R. Pelton đã giúp FBI cái bước ban đầu ấy.

Trong căn phòng ở khách sạn, không giấu được vẻ căng thẳng mặc dù vẫn cười toe toét, R. Pelton nói:

- Tôi không ăn cắp, không đánh cướp bất kì một nhà băng nào cả. Tôi thấy không có vấn đề gì.

- Chúng ta đang bàn về những vấn đề đụng chạm đến an ninh quốc gia. - D. Faulkner nói với R. Pelton. - Để anh có thể hình dung ra tình thế hiện nay của mình, tôi sẽ kể cho anh nghe một câu chuyện hoàn toàn mang tính giả thiết có liên quan đến cá nhân anh. Tôi đề nghị anh ngồi nghe và không có lời bình luận nào cho đến khi tôi nói hết.

Với một vẻ thông cảm và không hề nhắc đến tên của R. Pelton một lần nào, D. Faulkner lần lại các chi tiết về hoạt động gián điệp của R. Pelton. Vì trước đó D. Faulkner đã nói đây là câu chuyện chỉ mang tính giả thiết nên có vẻ như không phải R. Pelton đang bị đối chất trực tiếp. Bằng cách tế nhị và khéo léo, D. Faulkner làm cho R. Pelton hiểu rằng FBI đã biết tất cả về những hoạt động của anh ta và không cần R. Pelton phải khẳng định điều gì hết. R. Pelton cũng cảm thấy không cần phải phản bác lại câu chuyện bởi vì các đặc vụ không hề kết tội anh ta. Thay vào đó, bằng việc đề cập tới những khó khăn về tài chính của R. Pelton, FBI dường như lại ở cùng một phía với anh ta.

R. Pelton toát mồ hôi khi D. Faulkner bật máy ghi âm phát lại cuộc gọi đầu tiên của anh ta tới sứ quán.

- Vladimir, vâng, tôi có một vài điều muốn thảo luận mà tôi nghĩ là anh rất quan tâm. - Giọng nói phát ra từ băng ghi âm.

- Ông có thể nói tên được không? - Giọng Vladimir Sorokin, một nhân viên của sứ quán, trả lời.

- Trên điện thoại tôi không thể nói được. Tôi từ... từ... tôi là nhân viên của chính phủ Mỹ... - Giọng R. Pelton lắp bắp.

- Ồ... Chính phủ Mỹ? - Giọng V. Sorokin lưỡng lự. - Ông có thể tới chỗ chúng tôi được không?

D. Faulkner thuật lại con người bí ẩn đó ngày hôm sau dã gọi điện thoại một lần nữa đến sứ quán, nói chuyện với V. Yurchenko, tới sứ quán gặp V. Yurchenko và các nhân viên KGB khác. Người đặc vụ FBI đưa cho R. Pelton xem bức ảnh màu chụp V. Yurchenko với hai người Liên Xô tại một buổi tiếp tân.

- Nếu như ông ám chỉ tôi thì đó không phải là tôi đâu! - R. Pelton thì thầm.

- Xin ông không nói gì cho đến khi tôi kết thúc câu chuyện. - D. Faulkner nói.

- Sau đó, người này đã tới Vienna, nơi ông ta đã gặp những người Xô viết. - D. Faulkner cho R. Pelton xem ảnh của Anatoly Slavnov, điệp viên KGB mà R. Pelton đã gặp trong khu nhà của Liên Xô tại Vienna.

- Tôi tạm dừng ở đây và tôi muốn anh giúp đỡ để tôi hoàn thành câu chuyện. - D. Faulkner nói.

- Ông không có bằng chứng nào hết. - R. Pelton nói. - Đó không phải là tôi. Nếu có ai đó đã nói điều gì điên rồ thì ông cứ treo cổ anh ta lên.

Từ từ và thận trọng, các đặc vụ FBI bắt đầu thít chặt lại sợi dây thòng lọng quanh R. Pelton. Theo lời khuyên của John L. Martin, chuyên gia Bộ Tư pháp, D. Faulkner nói với R. Pelton: “Anh có thể mời một người đại diện như anh muốn”. Rồi D. Faulkner đưa ra một trở ngại: Bất kì một người đại diện trước tòa nào cũng phải có đảm bảo “trong sạch” để có thể tìm hiểu những vấn đề mà R. Pelton đã nắm được do từng làm việc trong NSA.

Đối với R. Pelton, khó có thể tìm luật sư nào đáp ứng được điều kiện như vậy. Trên thực tế, những ràng buộc về pháp lí sẽ cho phép loại bỏ bất kì một luật sư nào mà bị cáo đã chọn.

- Nếu nói ra sự thật, tôi muốn có một bảo đảm cho tôi. - R. Pelton nói.

- Nếu anh hợp tác, - D. Faulkner nói, - chúng tôi sẽ làm một báo cáo ghi nhận sự hợp tác của anh và sẽ gửi lên cấp trên của chúng tôi. Họ sẽ có những quyết định thích hợp với quyền lợi của anh.

- Có nghĩa là sẽ có một vụ truy tố và một phiên tòa? - R. Pelton hỏi lại.

- Đúng vậy. - D. Faulkner trả lời. - Tuy vậy, không phải tất cả mọi vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia đều kết thúc tại tòa.

- Nếu như tôi hợp tác và vẫn có một phiên tòa thì sự hợp tác của tôi sẽ mang lại cho tôi những gì?

- Anh sẽ có hai đặc vụ của FBI làm chứng rằng đã hợp tác đầy đủ trong vụ này. - B. Hodgson trả lời.

Vào lúc 10 giờ sáng, D. Faulkner cáo lỗi phải đi gặp cấp trên ở một căn phòng khác. Trong khi đó, B. Hodgson nói với R. Pelton rằng không giống như John Walker trong vụ án “đường dây gián điệp nhà Walker”, những thông tin mà R. Pelton đã tiết lộ “không đe dọa cuộc sống của một ai đó”.

- Đúng vậy. - R. Pelton nói. - Tôi không hề tiết lộ một thông tin quan trọng nào cả.

B. Hodgson biết rằng R. Pelton đã suy sụp lắm rồi nhưng anh ta vẫn chưa muốn đầu hàng. B. Hodgson nói rằng trong cuộc chiến tranh Việt Nam, dường như đối phương luôn biết về các kế hoạch của người Mỹ là vì J. Walker đã cho phép phía Xô viết giải mã được các bức điện mật của Mỹ.

Năm phút sau, D. Faulkner quay lại. Ông ta nói rằng cấp trên đã khẳng định nếu không có những chi tiết về hoạt động của R. Pelton thì sẽ không có bất kì một quyết định nào được đưa ra. Ý tứ của nó rất rõ ràng, sẽ không có quyết định bắt giữ R. Pelton trừ khi anh ta thú tội.

D. Faulkner nói với R. Pelton rằng FBI đặc biệt muốn biết là hiện còn có ai đứng đằng sau R. Pelton trong vụ này hay không.

- Không! - R. Pelton buột miệng.

Đến lúc đó thì mọi việc được giải quyết. R. Pelton thú nhận mọi chi tiết về việc phía Liên Xô đã trả 35.000 USD để anh ta tiết lộ về dự án Ivy Bells của Mỹ.

D. Faulkner cho R. Pelton xem một tài liệu mà anh ta đã viết năm 1978, khi còn làm việc trong NSA. Tài liệu này có tựa đề "Hồ sơ các tham số tín hiệu”, đưa ra danh sách 57 hệ thống truyền thông của phía Xô viết mà NSA phải quan tâm cùng những mô tả kĩ thuật của các hệ thống này cũng như các mức độ thứ tự ưu tiên mà NSA phải thâm nhập vào.

D. Faulkner hỏi R. Pelton:

- Anh đã tiết lộ cho họ bao nhiêu phần trăm của tài liệu này?

- Họ quan tâm đến mọi thứ. - R. Pelton trả lời.

R. Pelton tuyên bố không thể truy tố anh ta vì không có bằng chứng. Đúng vậy, nhưng chỉ trước khi anh ta thú nhận. Vào 11 giờ rưỡi đêm hôm đó, các đặc vụ FBI khóa tay R. Pelton và dẫn anh ta tới văn phòng FBI ở Baltimore, sau đó tới Trung tâm giam giữ Anne Arundel.

Ngày 5-6-1986, Ronald Pelton bị kết tội làm gián điệp và chịu án chung thân tại nhà tù liên bang ở Lewisburg, bang Pennsylvania.

Sau đó hai tháng, ngày 7-8-1986, Edward Lee Howard được phía Liên Xô chấp nhận cho tị nạn chính trị.

+++++

Image

Khi V. Yurchenko đã an toàn trên lãnh thổ Liên Xô, bắt đầu xuất hiện vô số các giả thiết về vai trò thực sự của ông trong vụ đào thoát rồi tái đào thoát ngoạn mục ngay trước mũi CIA và FBI.

Nhiều nhân vật trong chính giới Mỹ nghiêng về giả thiết đây là một vụ đào thoát được KGB chủ động chuẩn bị một cách kĩ lưỡng. Thượng nghị sĩ Malcolm của Ủy ban Tình báo Thượng viện cho rằng V. Yurchenko là một điệp viên đào thoát giả ngay từ đầu.

- Tôi sẽ ngạc nhiên nếu như có bất cứ một cách giải thích nào khác. - Vị thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa bang Wyoming này nói. - Ông ta là một nhân viên KGB chuyên nghiệp và biết rất rõ điều gì xảy ra với những kẻ phản bội.

Thượng nghị sĩ William S. Cohen, một thành viên khác của Ủy ban Tình báo Thượng viện, cũng nói rằng việc đào thoát của V. Yurchenko “dường như quá thuận lợi. Ở Langley, CIA lâm vào tình trạng phởn phơ họ đã có được con cá to nhất trong lịch sử của mình - và thế là họ đâm đầu vào bẫy”.

Ngoại trưởng G. Shultz lại có ý kiến khác: “Theo tôi, V. Yurchenko đã đào thoát, nhưng vì một vài nguyên nhân nào đó, lại thay đổi ý định”.

“Các anh đã có trong tay một điệp viên đào thoát của đối phương rồi các anh lại để cho anh ta ra đi trong những tình huống mà tôi không sao có thể hiểu nổi. Quả là xấu hổ cho Hoa Kỳ”. Thượng nghị sĩ Patrik J. Leahy, phó chủ tịch Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ tuyên bố. “Hoặc là các anh đã có một điệp viên nhị trùng, người đã được ‘cấy’ một cách có chủ đích vào nước Mỹ và điều này lại càng đáng xấu hổ hơn”. Vị thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ ở Vermont này kết luận: “Đó là một tai họa thực sự. Chắc chắn đã có một sai lầm ở đâu đó!”.

Trong khi cả FBI và CIA đều kết luận rằng V. Yurchenko là một người đào thoát đã thay đổi ý định thì nhiều chuyên gia trong cả hai cơ quan này vẫn cho rằng V. Yurchenko là điệp viên trong một chiến dịch được KGB hoạch định kĩ lưỡng. Theo giả thiết này, KGB phái V. Yurchenko sang Mỹ để nhằm xác định xem CIA đã biết được những gì, đánh lạc hướng chú ý của CIA khỏi những “chuột chũi” đang nằm trong nội bộ và bôi nhọ danh tiếng của CIA. Chỉ có sĩ quan KGB cỡ như V. Yurchenko mới có đủ khả năng và độ tin cậy để thực hiện một chiến dịch như vậy. Tất cả những sự việc trong thời gian V. Yurchenko ở Mỹ, kể cả cuộc gặp gỡ với Valentina Yereskovsky ở Montreal, đều là những chi tiết được sắp đặt trong chiến dịch này.

James E. Nolan, Jr. một cựu phó trợ lí cho giám đốc FBI tuyên bố rằng phía Xô viết cố ý muốn qua V. Yurchenko để “làm lộ” E. Howard, nhằm giải thích vì sao nhiều điệp viên hoặc cộng tác viên của CIA ở Moscow lại bị bắt giữ và xử tử. Điều này sẽ góp phần đánh lạc hướng sự chú ý khỏi các nguồn tin khác mà phía Liên Xô - điệp viên hoặc thiết bị kĩ thuật - có ở đằng sau E. Howard.

Bằng chứng rõ ràng chứng minh cho giả thiết V. Yurchenko đã được tung sang Mỹ một cách có chủ đích chính là việc ông vẫn còn sống và làm việc cho KGB. Nhưng yếu tố V. Yurchenko còn sống và tiếp tục làm việc ở KGB, xét theo một phương diện khác, cũng có thể được giải thích theo hướng là một người đào thoát thực thụ. Dẫu cho đã có nhiều thiệt hại nhưng còn gì tốt hơn nếu như phía Liên Xô tạo ra được ấn tượng rằng V. Yurchenko là điệp viên trong một chiến dịch nào đó.

Điều này không những khiến cho CIA nghi ngờ những gì mà V. Yurchenko đã tiết lộ cho CIA mà nó còn khiến cộng đồng tình báo Mỹ ở trong tình trạng rối loạn bởi những cuộc điều tra liên miên về vụ V. Yurchenko. Điều này từng diễn ra khi James Angleton nghi ngờ Yuri Nosenko có phải là một người đào thoát thực sự hay không. Hơn nữa, có thể với việc tha thứ cho V. Yurchenko, phía Liên Xô muốn gửi một thông điệp tới những người đào thoát khác rằng nếu như xem xét lại hành động của mình và quay trở về tổ quốc, họ sẽ không bị trừng phạt. Như V. Yurchenko từng nói với các nhân viên mật vụ giám sát mình, phía Xô viết đã cho phép Oleg Bitov trở về mà không trừng phạt ông ta bởi vì điều đó có lợi cho họ.

Điều cơ bản để xác định xem một người có phải là đào thoát thực sự hay không chính là ở chỗ các tin tức anh ta cung cấp có giúp vào việc phá vỡ những chiến dịch gián điệp quý giá đang diễn ra hay không. Hai trường hợp mà V. Yurchenko đã tiết lộ là Edward Lee Howard và Ronald Pelton được coi là những điệp viên đã “quá đát”. Việc ông báo cho người Mỹ về E. Howard và R. Pelton chưa đủ để chứng tỏ ông là một người đào thoát thực sự.

+++++

Ở Moscow, trong buổi phát ngày 13-11-1985, đài phát thanh Moscow đã so sánh vụ V. Yurchenko với vụ bắt cóc Oleg Bitov, người phóng viên đã quay về Liên Xô và tuyên bố rằng mình bị tiêm thuốc. Ngày hôm sau, V. Yurchenko tổ chức cuộc họp báo với sự có mặt của một số chuyên gia y tế. Các chuyên gia này tuyên bố thể trạng của V. Yurchenko cho thấy có triệu chứng rối loạn thần kinh, là kết quả của việc bị tiêm những loại thuốc có thể làm thay đổi hành vi con người.

Ít ngày sau cuộc họp báo, phía Liên Xô đồng ý để V. Yurchenko gặp James Jackson, khi đó là Trưởng Phân xã của tờ Time tại Moscow. Trong bốn mươi lăm phút tại Trung tâm báo chí của Bộ Ngoại giao, V. Yurchenko kể lại vụ bắt cóc ở Rome. James Jackson cho rằng V. Yurchenko đã được cài sang Hoa Kỳ để xỏ mũi các cơ quan tình báo đối phương. V. Yurchenko nhắc lại đúng những gì mà ông đã nói trong hai cuộc họp báo ở Washington và Moscow.

Tiếp đó, bắt đầu có những tin tức lan truyền rằng V. Yurchenko đã bị hành quyết. Tháng 3-1986, một người giấu tên trong chính quyền Reagan nói với đài phát thanh quốc gia rằng V. Yurchenko đã bị tử hình. Theo nguồn tin này, gia đình của V. Yurchenko còn phải trả chi phí cho cuộc hành hình! Một thời gian ngắn trước đó, hãng tin Đức DPA đưa tin một đại tá KGB đào thoát đã mang theo những lời trăng trối của V. Yurchenko khi bị hành quyết. Trên thực tế, người đào thoát là Victor Gundarev không biết gì về số phận của V. Yurchenko.

Ngày 10-3-1986, tờ Washington Daily News trích lời tuyên bố của sứ quán Liên Xô rằng: “Vitaly Yurchenko vẫn sống, khỏe mạnh và đang làm việc tại Moscow”. Boris N. Malakhov, người phát ngôn của sứ quán gọi những bài báo nói V. Yurchenko đã bị hành hình bởi một đội bắn “là những sự bịa đặt thô bạo và lời nói dối ghê tởm đầy ác ý”.

Bốn ngày sau đó, tại Moscow, V. Yurchenko “ngẫu nhiên” gặp Lutz Lehmann, phóng viên thường trú tại Moscow của hãng truyền hình Tây Đức ARD, ở quầy rượu của Trung tâm báo chí Bộ Ngoại giao. Khi Lutz hỏi có phải ông thực sự là V. Yurchenko hay không, V. Yurchenko trả lời: “Đúng vậy, tôi là Vitaly V. Yurchenko. Không biết tôi có phải đưa hộ chiếu ra để làm bằng chứng không?”. V. Yurchenko nói hiện ông đang làm công tác bảo vệ các nhà ngoại giao Xô viết ở nước ngoài tại Bộ Ngoại giao và đang viết hồi kí.

Ngày 9-8-1986, tờ Pravda đăng một bài phỏng vấn V. Yurchenko. Ông trấn an độc giả rằng ông “vẫn sống và mọi việc đều tốt đẹp”. Tờ Izvestia đăng tiếp theo một bài báo vào ngày 20-9-1986, trong đó V. Yurchenko nhạo báng những tin tức nói rằng ông đã bị hành hình.

Còn một sự kiện khác nữa mà dĩ nhiên các phương tiện truyền thông phương Tây không biết: Vài tháng sau khi tái đào thoát về lại Moscow, trong một buổi lễ được tổ chức nội bộ, trước mặt một số đồng nghiệp trong KGB, đích thân Tổng cục trưởng Tổng cục 1 V. Kiyuchkov đã trao Huấn chương Cờ đỏ cho V. Yurchenko “vì sự can đảm và lòng dũng cảm”.

Đặc biệt đáng chú ý là V. Yurchenko đã đồng ý gặp Ronald Kessler, từng là phóng viên của tờ The Wall Street JournalThe Washington Post, tác giả nhiều cuốn sách viết về chủ đề hoạt động gián điệp và có cái nhìn phê phán CIA. Cuộc gặp đầu tiên diễn ra ngày 8-2-1989 trong một căn phòng trên tầng mười ba của khách sạn Rossiya ở gần Quảng trường Đỏ tại Moscow.

Trong cuộc gặp, V. Yurchenko nói ông bị bất tỉnh khi đang ở gần Quảng trường Thánh Peter ở Rome. “Có thể do một số người đứng ở gần tôi đã hành động. Đó là một ngày rất nóng. Tôi đang chuẩn bị đi xem bảo tàng Vatican. Khi nói chuyện với Colin Thompson, tôi bảo anh ta rằng các anh đã không cho tôi cơ hội để đi xem bảo tàng. Anh ta nói hãy kí hợp đồng hợp tác đi và chúng tôi sẽ cho ông đi xem những bảo tàng tuyệt nhất thế giới. Tôi không rõ họ đưa tôi tới Washington bằng cách nào. Họ giữ kín chuyện đó”, V. Yurchenko nói.

Theo V. Yurchenko mô tả, CIA cử ra ba nhóm để giám sát ông. Chỉ có nhóm thứ nhất, gồm William Casey, Colin Thompson, Burt Gerber và Tom Fountain - thật ra là Milton Bearden - mới biết rằng ông bị bắt cóc. Nhóm thứ hai của CIA biết rằng ông bị bắt cóc nhưng không nắm được mọi chi tiết của chiến dịch. Nhóm thứ ba, những người canh gác thì được người ta bảo rằng ông là một người đào thoát, rất hung hãn, có thể gây nguy hiểm cho bản thân cũng như những người xung quanh. Như vậy có nghĩa là chỉ có một số ít người nắm được sự thật về việc V. Yurchenko bị bắt cóc và điều đó cũng có nghĩa ông đã bị giam giữ như tù nhân.

Theo mô tả của V. Yurchenko, tham gia chiến dịch giam giữ ông còn có các đặc vụ FBI, những người biết ông không phải là điệp viên đào thoát nhưng không nắm được tất cả mọi chi tiết. Ông nói, trái ngược với các nhân viên CIA, các đặc vụ FBI cư xử với ông lịch sự, một người trong số họ còn dạy ông chơi golf.

Trong cuộc gặp thứ hai diễn ra ba ngày sau đó, V. Yurchenko cho Ronald Kessler biết sau khi quay về Moscow, ông đã phải nằm trong bệnh viện mất vài tháng. V. Yurchenko nói đang làm việc tại một “trung tâm nghiên cứu”, vẫn là lĩnh vực bảo vệ các sứ quán của Liên Xô ở nước ngoài. Điều mà V. Yurchenko muốn diễn giải thật rõ ràng: Việc ông còn sống và tiếp tục làm việc, nhiều khả năng vẫn cho KGB, đã làm phá sản hoàn toàn tuyên bố của CIA rằng ông là một người đào thoát; nếu ông thực sự đào thoát sang Mỹ và tiết lộ các bí mật thì hẳn là phía Xô viết đã xử tử ông rồi. V. Yurchenko cho biết vẫn được quyền tiếp cận với những thông tin mật và “làm những công việc tuyệt mật”; nếu không có sự cho phép thì sẽ chẳng thể có cuộc gặp nào giữa V. Yurchenko với một nhà báo Mỹ như Ronald Kessler.

Khi Ronald Kessler hỏi có phải V. Yurchenko đã được chủ động tung sang Mỹ cho một điệp vụ bí mật hay không, viên đại tá KGB khéo léo tránh né, không đề cập sâu hơn vụ việc.

+++++

Bí ẩn của vụ V. Yurchenko hai lần “đổi phe” được Victor Cherkashin, Trưởng bộ phận phản gián tại trạm KGB Washington ở thời điểm xảy ra vụ tái đào thoát làm rõ.

Theo V. Cherkashin thì V. Yurchenko là một người đào thoát thật sự. KGB nắm rõ từng li từng tí mọi động thái của V. Yurchenko kể từ khi viên đại tá đào thoát ở Rome và đặt chân tới Mỹ, đơn giản bởi khi ấy KGB có một điệp viên nằm ngay trong đội giám sát V. Yurchenko. Tất cả những gì V. Yurchenko khai với các nhân viên CIA và FBI thẩm vấn mình đều được điệp viên này báo lại cho trạm KGB ở Washington, sau đó gửi trực tiếp tới Vladimir Kryuchkov, Tổng cục trưởng Tổng cục 1 KGB.

Thế nên khi V. Yurchenko chạy vào sứ quán Liên Xô vào một buổi tối đầu tháng 11-1985, kể câu chuyện về việc mình bị bắt cóc và tiêm thuốc, V. Cherkashin và Trưởng trạm KGB Stanislav Androsov đều biết đó là một câu chuyện không thật. Nhưng hai người, sau khi xin chỉ thị từ Moscow, được phép chơi “con bài” V. Yurchenko.

Thoạt đầu, KGB sử dụng câu chuyện bị bắt cóc của V. Yurchenko vào mục đích tuyên truyền chống CIA, làm tổn hại hình ảnh cơ quan tình báo đối thủ này cũng như phản bác lại chiến dịch truyền thông của Mỹ vẽ nên một hình ảnh tệ hại về xã hội Xô viết, khi cho thấy chính Mỹ mới là thủ phạm của những vụ bắt cóc và tiêm thuốc phi đạo đức. Mục đích này đã đạt được thành công đáng kể.

Tuy nhiên, mục đích tối quan trọng khác mà KGB đạt được chính là khi đã đưa V. Yurchenko quay về Moscow, cơ quan này tiếp tục sử dụng V. Yurchenko nhằm khiến CIA bối rối, đánh lạc hướng, bảo vệ cho điệp viên của mình, tình cờ mới cộng tác với KGB bốn tháng trước đấy. Đây chính là người nằm trong đội giám sát V. Yurchenko, cũng là một trong những điệp viên giá trị bậc nhất trong lịch sử KGB. Nhiều điệp viên Liên Xô phản bội có tội nhẹ hơn V. Yurchenko cũng bị tử hình, trong khi vì mục tiêu bằng mọi giá phải bảo vệ nguồn tin quý báu của mình, KGB vẫn chấp nhận để V. Yurchenko, người mà tổ chức này biết chắc là đã phản bội, tiếp tục công việc trong KGB.

Còn Tướng Boris Solomatin, từng chỉ huy lưới điệp viên KGB ở Washington và New York cũng như làm cố vấn cho Giám đốc KGB Yuri Andropov, tiết lộ quyết định KGB không trừng phạt mà tiếp tục sử dụng V. Yurchenko, mặc dù chỉ là hình thức, xuất phát từ Vladimir Kryuchkov, người phụ trách Tổng cục 1 KGB trong thời gian V. Yurchenko đào thoát lần đầu. Lo sợ trách nhiệm để một quan chức cấp cao trong hàng ngũ KGB đào thoát sang phương Tây, nghe được câu chuyện “bị bắt cóc” do V. Yurchenko kể ở Washingon khi tái đào thoát, V. Kryuchkov đã chỉ thị cho trạm KGB ở đây tiếp nhận rồi nương theo đó để phát triển thành một “kế hoạch” của KGB nhằm làm rối trí phản gián Mỹ!

“Trong bất cứ tình huống nào thì vẫn luôn có một lối thoát”, V. Yurchenko từng nói với con trai mình như thế. Nắm bắt được nghệ thuật đổi phe, V. Yurchenko là một trong số vô cùng hiếm hoi những điệp viên thời kì Chiến tranh Lạnh có thể chơi đùa giữa những hàm răng của hai con sư tử là CIA và KGB mà vẫn sống sót.

+++++

Không cuốn sách nào viết về những hoạt động tình báo mà lại không nhắc đến V. Yurchenko. Không một bài báo nào liên quan đến việc đào thoát mà lại không đưa vụ này như một dẫn chứng cũng như không có cuộc thảo luận nào giữa các điệp viên của CIA mà lại không phân tích về trường hợp của V. Yurchenko và tính xác thực của vụ này.

Đã có hàng ngàn bài báo mổ xẻ, tìm kiếm xem điều gì đã thực sự xảy ra. Trong thế giới của áo choàng và dao găm, các điệp viên nhị trùng và siêu điệp viên leo cao chui sâu, những tài liệu biến mất một cách bí hiểm hay vệ tinh do thám tối mật, vụ V. Yurchenko đã vượt lên bởi tầm quan trọng, mức độ ảnh hưởng và sự hấp dẫn của nó. Do có liên quan một cách đầy kịch tính và rối rắm đến hàng chục điệp vụ quan trọng khác nên nó đã trở thành tâm điểm chú ý của giới tình báo.

Có đúng là CIA đã tiêm thuốc và giam giữ V. Yurchenko như ông tuyên bố hay không? Hay quả thực là ông đã đào thoát, nhưng rồi vỡ mộng trước cung cách đối xử của CIA nên quyết định tái đào thoát?

Không có câu trả lời hoàn toàn xác đáng cho câu hỏi này.

Chỉ có một thực tế là trước, trong và sau năm 1985, được gọi là “năm gián điệp” bởi vô số những vụ việc động trời, CIA tiếp tục bị mất đi những điệp viên quý giá của mình. Sự thất thoát điệp viên nhiều đến nỗi CIA đâm ra nghi ngờ kết luận của chính mình về việc V. Yurchenko là một người đào thoát thật sự, nhưng rồi thất vọng và quay về Liên Xô. Phải chăng V. Yurchenko đã được phía Xô viết sử dụng trong một kế hoạch có trước, như lời ám chỉ của Tổng thống R. Reagan, để ru ngủ CIA, bảo vệ một “chuột chũi” trong nội bộ CIA đã cộng tác với KGB và làm cho cơ quan tình báo này tin rằng đã không hề bị tình báo Xô viết xâm nhập?

Phải nhiều năm sau CIA mới có thể trả lời câu hỏi này. Còn ở cái năm khủng hoảng 1985 ấy, nếu như bộ phận phản gián của CIA có một cuốn phim quay chậm, hẳn là họ sẽ muốn quay lại cái thời điểm khi mà chiếc máy bay vận tải khổng lồ C-5A chở duy nhất V. Yurchenko cùng với một người giám sát hạ cánh xuống phi trường Andrews ở Maryland, Đông Nam Washington, một ngày sau khi V. Yurchenko vào sứ quán Mỹ ở Rome. Trong đội hỗn hợp CIA - FBI ra đón V. Yurchenko ở phòng VIP sân bay có một điệp viên CIA mang bí danh Art, người duy nhất thuộc CIA biết tiếng Nga được cử vào đội giám sát. Hôm ấy, Art thậm chí còn ngủ quên, không đến Langley để đi xe cùng các điệp viên khác. Thế nên Art đành tự mình lái chiếc Volkswagen đến phi trường Andrews ở Maryland rồi để lại chiếc xe cùa mình ở đấy bởi phải hộ tống người điệp viên mới đào thoát về ngôi nhà an toàn.

Khi cùng với Rodney L. Leffler, quyền Trưởng Ban Liên Xô của FBI vào xe với V. Yurchenko để về ngôi nhà an toàn, Art ngồi ở băng ghế sau, cạnh người điệp viên KGB mới đào thoát. Trong khi xe đang chạy, Art bí mật đưa cho V. Yurchenko một tờ giấy, trên có ghi hàng chữ bằng tiếng Nga đã viết sẵn: “Liệu ông có muốn thông báo bất cứ thông tin đặc biệt nào về một ai trong hàng ngũ cao cấp của chúng tôi không?” V. Yurchenko đọc tờ giấy rồi lắc đầu.

Art có những lí do riêng để lo lắng.

Tên thật của Art là Aldrich Ames, điệp viên sát thủ.

s trong một cuộc họp của đảng. Họ trở thành bạn bè và Ethel đánh máy giúp Julius những bản báo cáo về kĩ thuật. Julius thường xuyên mang quà cho cậu em trai của Ethel là David Greenglass, người sau đó cũng gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ. Quãng đ
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Yên Ba

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.