Răng Sư Tử

Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12

❊ ❊ ❊

12

Sát thủ lụy tiền

“CIA được thành lập vào cuối những năm 1940 để giúp nước Mỹ chống lại Liên Xô. Không thể tin nổi vụ việc này lại chính là con dao gắm cắm vào đúng trái tim của nhiệm vụ đó”.

Chủ tịch Ủy ban Tình báo Hạ viện Mỹ Dan Glickman

Lúc 4 giờ 15 phút chiều ngày 6-11-1985, máy quay truyền hình trực tiếp khắp nước Mỹ cảnh Đại tá KGB Vitaly Yurchenko, có lẽ là điệp viên đào thoát nổi tiếng nhất trong lịch sử điệp báo thế giới, trong bộ áo khoác hiệu Burberry, bước lên cầu thang chiếc máy bay phản lực của Hãng hàng không Liên Xô Aeroflot. Ông dừng lại một thoáng, quay lại và giơ tay vẫy, có vẻ như là thách thức hơn là một cử chỉ từ biệt. Hai đặc vụ FBI là Michael Rochford và Reid Broce, những người đồng hành cùng V. Yurchenko trong ba tháng trên đất Mỹ, đứng lẫn trong đám đông trên sân đỗ máy bay. V. Yurchenko nhận ra hai đặc vụ FBI và dường như mỉm cười với họ, rồi bước tiếp vào trong máy bay.

Tại Tổng hành dinh của CIA ở Langley, mọi con mắt của các điệp viên đều dán vào màn hình để chứng kiến cảnh V. Yurchenko rời khỏi nước Mỹ. Rod Carlson, người đứng đầu Nhóm phản gián trong Ban Liên Xô - Đông Âu, quan sát kĩ đội “hộ tống” V. Yurchenko đang lần lượt theo cầu thang lên máy bay, quay sang hỏi Paul Redmond, điệp viên phụ trách phân ban tiến hành các chiến dịch mật trên lãnh thổ Liên Xô:

- Có phải Gentile đấy không?

- Ai? - P. Redmond hỏi lại. Mới đêm trước, P. Redmond và R. Carlson đã nhận được một cú điện thoại khẩn từ Gentile, thông báo rằng anh ta đã được chọn vào đội “hộ tống” viên đại tá KGB tái đào thoát trở về Moscow, thời gian khoảng một tuần.

- Người trông trẻ trung, đi thứ hai ấy. - R. Carlson trả lời.

Sau đó, tại văn phòng của Burt Gerber, Trưởng Ban Liên Xô - Đông Âu, P. Redmond bày tỏ lo ngại về việc lại có thêm một điệp viên hoạt động cho Mỹ nữa quay về Moscow trong hành trình vô định lành ít dữ nhiều.

- Tôi thấy lo. - P. Redmond nói. - Việc Gentile quay về khiến tôi không yên tâm chút nào.

- Howard có biết về chiến dịch liên quan đến Gentile không? - B. Gerber hỏi, đề cập tới người điệp viên mà V. Yurchenko đã chỉ điểm cho tình báo Mỹ, nhưng rồi đào thoát thành công khỏi nước Mỹ ngay trước mũi FBI hơn một tháng trước đó.

- Tôi không chắc lắm. - P. Redmond trả lời. - Rất có thể là Howard cũng nghe hóng hớt đâu đó, nhưng vụ này được giữ rất bí mật. Tôi sẽ kiểm tra lại.

- Liệu trong các cuộc thẩm vấn Yurchenko, các anh có cho ông ta thấy chúng ta quá quan tâm đến Tuyến X hay không? - B. Gerber hỏi tiếp, ngụ ý là V. Yurchenko, thông qua các câu hỏi thẩm vấn của CIA và FBI, có thể đoán ra CIA có một điệp viên nằm trong Tuyến X, chuyên về các hoạt động gián điệp công nghệ của KGB. Gentile chính là điệp viên hoạt động cho CIA nằm trong Tuyến X.

- Luôn có khả năng như vậy. - P. Redmond trả lời.

Gần hai tuần sau, ngày 19-11-1985, P. Redmond xuất hiện ở cửa phòng Phó Ban Liên Xô - Đông Âu Milton Bearden:

- Có tin xấu về Gentile rồi. - Anh ta nói.

- Chuyện gì vậy? - M. Bearden hỏi.

- FBI báo cho chúng ta biết là vợ của Gentile ở Washington nhận được một cú điện thoại từ Moscow, không rõ là ai gọi, nói rằng vết thương Gentile bị ở gót chân khi còn ở Washington nặng hơn sau khi anh ta cùng với V. Yurchenko về Moscow. Người gọi điện nói chồng của cô ta phải phẫu thuật nên tốt nhất là vợ cùng các con anh ta phải quay về Liên Xô. Cô ta chuẩn bị đi rồi.

Cả M. Bearden và P. Redmond đều hiểu rằng vậy là số phận của Gentile, điệp viên mà họ được FBI chuyển giao, giờ như trứng để đầu đẳng.

+++++

Đầu năm 1981, khi cuộc Chiến tranh Lạnh đang ở trong giai đoạn vận hành hết tốc lực, bộ phận phản gián (CI) trong Cục Điều tra Liên bang Mỹ FBI bắt tay vào một chiến dịch mới, tìm cách tiếp cận với các sĩ quan tình báo Xô viết đang hoạt động trên lãnh thổ Mỹ. Thay vì đặt những người này dưới sự giám sát thụ động hoặc ngồi chờ ai đó “tình nguyện” làm việc cho Mỹ, một chiến dịch được hoạch định kĩ càng nhằm tuyển mộ điệp viên trong số các nhân viên KGB để họ hoạt động vì quyền lợi nước Mỹ.

Như là một phần của chiến dịch này, một nhóm hành động bí mật mang mật danh Courtship - Tán tỉnh được thành lập. Các thành viên của nhóm là những đặc vụ dày dạn kinh nghiệm, được tuyển chọn từ hai mươi hai phân ban phản gián khác nhau trực thuộc văn phòng FBI ở Washington.

Cũng gần như ngay lập tức, Valery Martynov, một thiếu tá KGB, trở thành mục tiêu ưu tiên của Courtship.

Ba mươi sáu tuổi, tóc đen, cao một mét tám và có thân hình hơi nặng nề, V. Martynov cùng người vợ yêu Natalia tới Washington ngày 4-11-1980, đúng hôm Ronald Reagan lần đầu tiên được bầu làm tổng thống Mỹ. Đây là chuyến công tác ra nước ngoài đầu tiên của V. Martynov. Bề ngoài, anh ta là bí thư thứ ba của sứ quán Liên Xô phụ trách vấn đề văn hóa, trao đổi các nhà khoa học và sinh viên; trên thực tế, V. Martynov chịu trách nhiệm thu thập các tin tức tình báo khoa học và công nghệ. V. Martynov được mời vào làm việc trong KGB ngay sau khi tốt nghiệp hạng ưu chuyên ngành máy tính năm 1970 ở một học viện kĩ thuật có tiếng tại Moscow.

Bill Mann, đặc vụ FBI trong Courtship, dưới cái tên giả và một thẻ căn cước giả, bắt đầu thường xuyên tới dự những buổi hội thảo có V. Martynov tham dự. V. Martynov làm quen với B. Mann và đưa ra các đề nghị thăm dò. Không tự nhận mình là người của KGB, V. Martynov nói với B. Mann là muốn có những bí quyết công nghệ trong nhiều lĩnh vực nhằm giúp đỡ nền công nghiệp lạc hậu của Liên Xô. B. Mann liền gợi ý rằng một sự trao đổi tự do các thông tin có thể sẽ làm cho thế giới trở nên an toàn và tốt đẹp hơn!

Hai người bắt đầu trao đổi tin tức cho nhau. B. Mann giới thiệu V. Martynov với một thành viên khác của nhóm Courtship, người cung cấp cho anh ta những tài liệu tuy khó tiếp cận nhưng không được xếp vào diện mật. Tin tưởng rằng mình đã xây dựng và bước đầu kiểm soát được một mạng lưới tình báo đang nhen nhóm, bản thân V. Martynov giờ đây lại bị phụ thuộc vào những người bày ra cuộc chơi này. Đặc vụ B. Mann có thể dễ dàng kiểm soát được anh ta.

Khi V. Martynov bắt đầu yêu cầu những số liệu thuộc vào diện nhạy cảm, với vẻ dứt khoát, B. Mann nói rằng mình có một “người bạn” làm việc trong cộng đồng tình báo đủ khả năng cung cấp những thông tin đó, nhưng muốn có những tin tức khác để đổi lại. “Nghe này, Valery”, B. Mann giải thích, “Đây là Washington D.C. Đây là một trò chơi. Mà anh biết rồi đấy, ông chi chân giò thì bà phải thò chai rượu!”.

Một tuần sau đó, V. Martynov, với vẻ hết sức căng thẳng, cung cấp cho B. Mann hai cái tên. B. Mann chuyển lại cho V. Martynov một món quà lịch sự cùng khoản tiền mặt, tổng cộng chỉ vào khoảng 500 USD. Đây là khoản tiền khá khiêm tốn, nhưng khi V. Martynov cầm nó, anh ta đã bước qua một ranh giới không thể quay lại được nữa. Cả hai đều biết rõ điều đó.

Việc trao đổi tin lấy tiền mặt còn tiếp tục diễn ra thêm hai lần nữa trước khi đến thời điểm chuyển giao V. Martynov cho “người điều khiển” mới. Đặc vụ FBI Jim Holt, “người điều khiển” mới của V. Martynov, là thành viên của CI-5, nhóm phản gián chuyên theo vết những điệp viên KGB chịu trách nhiệm thu thập thông tin liên quan đến bí mật công nghệ và khoa học.

V. Martynov đã tiết lộ cho phía Mỹ danh tính của hơn 50 nhân viên tình báo Liên Xô đang hoạt động bên ngoài phạm vi sứ quán. Trước đó, FBI hoàn toàn không biết gì về sự tồn tại của những người này. Thông tin do V. Martynov cung cấp giúp các nhân viên phản gián Mỹ không phải mất công sức và thời gian để theo vết những người thực sự không hoạt động gián điệp. V. Martynov còn tiết lộ cả một số mục tiêu khoa học kĩ thuật mà KGB đang theo đuổi hoặc đã xâm nhập thành công. Nhờ thế, FBI có thể bịt được những nguồn rò rỉ tin tức hoặc tung tin giả ngược lại cho KGB.

Mật danh mà FBI đặt cho V. Martynov là Pimenta.

Cũng vào khoảng thời gian V. Martynov trở thành gián điệp hoàn toàn hoạt động dưới sự điều khiển của nhóm Courtship thì một sĩ quan tình báo thứ hai của KGB tại sứ quán Liên Xô, Sergei Motorin, cũng bị FBI tuyển mộ. KGB chia các bộ phận của mình thành các chi nhánh, gọi là các “tuyến”. S. Motorin là người thuộc Tuyến PR, chuyên về các hoạt động tình báo chính trị. Vỏ bọc tại Washington của S. Motorin là phóng viên của hãng thông tấn Novosti.

S. Motorin đã tốt nghiệp loại ưu tú chuyên ngành báo chí tại Học viện Quan hệ quốc tế Moscow. Một năm sau đó, S. Motorin vào làm việc cho KGB, chủ yếu do các mối liên hệ của cô vợ Olga mà anh ta mới cưới. Bố Olga là sĩ quan tình báo làm việc cho Cơ quan Tình báo Quân sự Liên Xô GRU, còn mẹ Olga là nhân viên thuộc Bộ Dân ủy Nội vụ Liên Xô NKVD dưới thời Stalin.

Rất nhanh chóng, S. Motorin trở thành đối tượng chú ý của CI-2, nhóm phản gián Mỹ chịu trách nhiệm theo dấu các điệp viên KGB thuộc Tuyến PR. Nhóm CI-2 tìm ra phương thức tuyệt diệu để bẫy đối tượng lúc các nhân viên giám sát phát hiện được S. Motorin, khi vào trong một cửa hàng điện tử, đã lén lấy những chai rượu vodka anh ta mang theo từ kho của sứ quán để đánh tráo lấy thiết bị nghe nhìn stereo trong cửa hàng. Người nhân viên bán hàng dễ dàng bị anh ta qua mặt.

Đặc vụ Mike Morton liền tới gặp người quản lí cửa hàng, giải thích rằng đây là một vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia, thỏa thuận với người nhân viên bán hàng rằng nếu như thấy S. Motorin tiếp tục làm thế, sẽ không được trừng phạt anh ta. FBI sẽ đền cho cửa hàng tất cả những thiết bị điện tử bị mất.

Lần tiếp sau đó, khi S. Motorin bị nhân viên cửa hàng phát hiện đổi rượu vodka thì M. Morton liền xuất hiện. Người nhân viên bán hàng giới thiệu M. Morton là “một nhân viên chính phủ” và với cái nháy mắt đầy ý nghĩa, thêm rằng M. Morton cũng là khách hàng của anh ta, “giống như anh vậy”.

Không hề lộ vẻ bối rối chút nào, S. Motorin cười thoải mái và nói với M. Morton: “Tốt thôi, chúng ta có nhiều điểm giống nhau. Anh làm việc cho chính phủ của anh, còn tôi làm việc cho chính phủ của tôi. Cả hai chúng ta đều là những kẻ lừa đảo. Hãy đi đâu đó uống chút gì đi!”.

Rõ ràng việc sử dụng hành vi của S. Motorin để hòng gây sức ép, bắt bí anh ta không hiệu nghiệm mấy. Nhưng ít nhất một mối quan hệ cũng đã được thiết lập và đặc vụ M. Morton bắt đầu cùng với S. Motorin lang thang khắp các quán rượu ở Washington, tìm cách pha nước lã vào cốc của mình mỗi khi có dịp.

Mọi việc bỗng bất ngờ quay sang một hướng kịch tính khi S. Motorin trở lại Mỹ sau một chuyến về thăm nhà. Anh ta nói với M. Morton, vẻ cam chịu: “Tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu giúp FBI chống lại KGB”.

Họ bắt đầu gặp nhau tại các ngôi nhà an toàn. Trong các cuộc gặp gỡ đó, chỉ có hai người, M. Morton và S. Motorin, S. Motorin từ chối làm việc với bất kì một ai khác. Hoặc là M. Morton, hoặc không ai cả. Cũng không được dính dáng gì đến CIA.

Những thông tin S. Motorin cung cấp không giá trị bằng của V. Martynov và cũng không tương xứng với những khoản tiền mà anh ta được trả. Dù vậy, M. Morton vẫn tin rằng S. Motorin là một nguồn tin quý giá đầy tiềm năng và anh ta sẽ có những lợi ích lớn cho phía Mỹ trong tương lai.

Nhưng bỗng nhiên tất cả kết thúc một cách bất ngờ. Cuộc gặp cuối cùng của hai người diễn ra vào ngày 3-1-1985. Sau đó hai ngày, không một lời báo trước, S. Motorin đã ở trên máy bay trở về Moscow.

Thoạt đầu, đã xuất hiện mối lo ngại rằng S. Motorin quyết định đào tẩu. Nhưng V. Martynov cho biết S. Motorin đã đi quá xa trong sự nghiệp tình ái. Anh ta bị bắt quả tang ở trên giường với thư kí của một quan chức cấp cao trong sứ quán. Các nhân viên an ninh bảo vệ nội bộ sứ quán cho rằng tiếp tục để S. Motorin ở lại Mỹ là quá mạo hiểm. Ai mà dám chắc người phụ nữ tiếp theo trên giường với anh ta lại không phải là một điệp viên của Mỹ!

Hồ sơ của S. Motorin ở FBI dưới mật danh Dionysus, sau đổi thành Meges - tên một chiến binh Hy Lạp đã nấp bên trong con ngựa gỗ thành Troy - được FBI chuyển giao cho CIA với hi vọng vào khả năng có thể tiếp tục sử dụng viên thiếu tá KGB ở phía bên kia Bức Màn sắt hoặc bất cứ nơi nào trên thế giới, nếu CIA có thể móc nối lại được với anh ta.

Cũng như với V. Martynov, việc các hoạt động của S. Motorin nằm trong hồ sơ của CIA sẽ gây nên một kết cục bi thảm cho cả hai.

+++++

Mùa hè năm 1985, cộng đồng tình báo Mỹ xôn xao về vụ đào thoát của điệp viên KGB quan trọng nhất mà CIA có được trong tay, Đại tá Vitaly Yurchenko, được coi là người chịu trách nhiệm chính điều hành các chiến dịch mật của KGB ở Mỹ và Canada. Những tin tức mà V. Yurchenko tiết lộ cho CIA và FBI đã dẫn tới việc phát hiện được một cựu nhân viên CIA, Edward Lee Howard, và một cựu nhân viên Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ NSA, Ronald Pelton, làm việc cho tình báo Liên Xô.

Rồi vào buổi tối thứ bảy, ngày 2-11-1985, V. Yurchenko, trong khi chuẩn bị dùng món cá hồi trần nước sốt với người nhân viên CIA canh giữ mình tại một tiệm ăn ở khu Georgetown ngoại ô Washington, đã chào từ biệt ra đi và không bao giờ quay trở lại nữa. CIA đau như bị hoạn.

J. Holt đã trao cho V. Martynov một số máy nhắn tin để sử dụng trong những trường hợp khẩn cấp. Việc gọi đến số máy nhắn tin này phải được thực hiện tại trạm điện thoại công cộng và anh ta có thể nhận câu trả lời từ một trạm điện thoại công cộng khác. Hai mươi bốn giờ sau khi V. Yurchenko “cắt” được những cái đuôi canh giữ mình và biến mất, máy nhắn tin đặc biệt này bắt đầu hoạt động.

“Chúng tôi đã có Yurchenko”, V. Martynov thông báo cho J. Holt.

Cuối buổi tối ngày 4-11-1985, V. Martynov lại sử dụng máy nhắn tin đặc biệt một lần nữa. Anh ta thông báo rằng mình là một thành viên trong nhóm “hộ tống” V. Yurchenko trở về Moscow. Họ sẽ rời Washington vào ngày thứ tư, từ phi trường Dulles. “Tôi sẽ quay lại sau một tuần”, V. Martynov hứa hẹn.

J. Holt xem tường thuật sự kiện V. Yurchenko rời nước Mỹ trên truyền hình, nhìn thấy cả V. Martynov trong đội “hộ tống” theo cầu thang lên máy bay sau viên đại tá KGB tái đào thoát. Đấy là lần cuối cùng J. Holt trông thấy anh ta.

Thoạt đầu, khi không thấy V. Martynov quay trở lại theo thời gian như đã hứa, đã không xuất hiện ngay các mối lo ngại ở Washington. Mười ngày sau, vợ của V. Martynov nhận được thông báo vết thương ở gót chân chồng cô ta do bị ngã lúc còn ở Mỹ nghiêm trọng hơn người ta tưởng. V. Martynov muốn vợ và các con quay về Liên Xô với mình.

CIA bắt đầu lo ngại khi nhận được những tin tức lẻ tẻ nói rằng V. Martynov và S. Motorin gặp phải một số phiền phức, có thể đang trong tù hoặc thậm chí đã chết.

Các nhân viên tình báo Mỹ đã nghe trộm được một cú điện thoại của S. Motorin gọi từ Moscow cho cô bạn gái bị bắt quả tang trên giường ngủ cùng với anh ta và cũng là “nguyên nhân” khiến anh ta phải rời Washington. “Đừng lo lắng gì cả”, S. Motorin nói với cô bạn gái. Anh ta mới được giao một nhiệm vụ đặc biệt mà không thể tiết lộ cho cô ta được. Anh ta thấy nhớ cô ta và sẽ gặp lại trong thời gian sớm nhất. Đặc vụ M. Morton nhận ra đó đúng là giọng nói của S. Motorin, rõ ràng đang trong trạng thái hết sức vui vẻ.

Nhưng đó chỉ là đòn phép của KGB. Mùa hè năm 1987, đã có những tin tức xác nhận rằng cả hai đều đã chết. Sau đó, được biết rằng V. Martynov, người theo thuyết định mệnh, đi cùng đội “hộ tống” V. Yurchenko về tới sân bay Sheremetyevo 2 ở Moscow đã bị bắt giữ ngay khi vừa ra khỏi máy bay. Tại nhà tù Lefortovo, anh ta đã khai báo về quá trình bị tuyển mộ và làm việc cho FBI, rồi bị xử bắn. D. Motorin cũng cùng chung số phận.

+++++

Tháng 11 năm 1986, Tim Caruso, 44 tuổi, một người có phong cách làm việc tỉ mĩ, nguyên tắc, Trưởng nhóm phân tích chống tình báo Liên Xô thuộc Phòng 5, Tổng hành dinh FBI, đang đảm nhiệm công tác giám sát hoạt động của KGB trong các cơ quan chính phủ Mỹ, được triệu đến văn phòng Phó trợ lí Giám đốc Phòng 5 để nghe thông báo về những khả năng tồi tệ có thể xảy ra với V. Martynov và S. Motorin. Việc chỉ trong có một thời gian ngắn mà FBI bị mất liên tiếp hai nguồn tin quý giá là điều không thể chấp nhận được. Liệu đã có một sai sót nào đó chăng? Cuộc điều tra này được FBI đặt mật danh là Anlace, tên một loại dao găm có từ thời Trung cổ. Vấn đề là ai đang nắm giữ con dao găm ấy.

Trong mười tháng sau đó, T. Caruso cùng với hai đặc vụ của Tổng hành dinh FBI và ba nhân viên văn phòng FBI Washington hằng ngày đều gặp nhau ở Mái Vòm, tiếng lóng chỉ một căn phòng cách âm, không có cửa sổ, được bảo đảm bí mật tối đa, bề ngang 5 mét, rộng 6 mét, nằm sâu trong lòng tòa nhà J. Edgar Hoover, Tổng hành dinh FBI trên đại lộ Pennsylvania.

Họ nghiên cứu tỉ mỉ một sơ đồ trên bức tường lớn - bức Sơ đồ tử thần. Trên đó, tất cả hoạt động trong công tác điều khiển hai điệp viên KGB đều được đánh dấu chữ thập. Các báo cáo về hai điệp viên, từng ngày một, được nhóm này nghiên cứu một cách hết sức kĩ lưỡng. Các báo cáo này ghi lại từng chi tiết hai điệp vụ liên quan đến hai điệp viên mất tích, kể từ khi họ được chọn làm mục tiêu cho đến khi bị tuyển mộ. Tất cả các cuộc gặp gỡ bí mật từng diễn ra đều được săm soi dưới kính hiển vi.

Nhóm Anlace cũng phân tích lại những dữ kiện liên quan đến điệp viên CIA Edward Lee Howard, người biết rất nhiều bí mật có độ nhạy cảm cao, kể cả danh tính các điệp viên Mỹ tại Liên Xô. Cho đến cuộc đào thoát năm 1985 của Đại tá KGB V. Yurchenko, FBI mới biết rằng từ lâu, E. Howard, tình nguyện cung cấp tin tức cho phía Xô viết. FBI nhanh chóng tiếp cận E. Howard, nhưng bằng những mưu mẹo học được từ CIA, ông ta đã trốn thoát. Mặc dù FBI chống chế rằng đã phát hiện ra E. Howard quá muộn và không có bằng chứng buộc tội đủ mạnh để bắt giữ E. Howard, rõ ràng thất bại này là một nỗi nhục của Cơ quan điều tra Liên bang Mỹ.

Nhóm Anlace của T. Caruso đi tới kết luận rằng mặc dù E. Howard có thể là người đã tiết lộ tung tích của Valery Martynov nhưng ông ta không thể nào giúp KGB phát hiện ra Sergei Motorin. Đơn giản bởi vì E. Howard đã ra khỏi CIA trước khi chiến dịch Meges liên quan đến S. Motorin được FBI thông báo cho Langley.

+++++

Aldrich Hazen Ames sinh ngày 26-5-1941 tại thành phố nhỏ River Falls, bang Wisconsin, cách không xa biên giới với bang Minnesota. Cha của A. Ames, Carleton Ames, một người đàn ông cao lớn, đẹp trai, với mái tóc bạc sớm cùng vốn kiến thức sâu rộng, là một giáo sư sử học, chuyên về vùng Viễn Đông. Ông là giáo viên tại một trường cao đẳng của bang. Năm 1938, Carleton kết hôn với một trong những nữ sinh viên của mình, Rachel Aldrich, một thiếu nữ dễ thương người Wisconsin trẻ hơn ông mười ba tuổi. Khi đang giảng dạy môn tiếng Anh tại trường Trung học River Falls thì bà Rachel sinh ra Aldrich Ames. Ở nhà, không bao giờ bà gọi cậu con trai mình là Aldrich mà lúc đầu chỉ đơn giản là Ricky, rồi sau đó là Rick.

Có lẽ Rick cũng sẽ sống một cuộc sống bình thường trong thế giới hàn lâm, làm ông giáo sư đãng trí khoa tiếng Anh tại một trường cao đẳng nào đó ở miền Trung Tây nước Mỹ, nếu không có chuyện vào năm 1952, tức là năm năm sau ngày thành lập CIA, cơ quan tình báo này tuyển mộ ông Carleton Ames vào làm việc. CIA muốn tận dụng vốn hiểu biết sâu rộng về vùng Viễn Đông cũng như tinh thần hăng hái phấn đấu cho những giá trị mà nước Mỹ theo đuổi của ông giáo sư sử học.

Sau khi kết thúc một khóa huấn luyện, năm 1953, Carleton cùng gia đình chuyển tới thủ đô Rangoon của nước Miến Điện mới được độc lập. Cuối cùng thì tại đây, Carleton cũng giải thích cho cậu con trai của mình tường tận CIA là như thế nào và ông là một phần của nó. Đó là bí mật mà Rick, với một vẻ đầy trách nhiệm, không hề tiết lộ cho hai cô em gái của mình. Vỏ bọc của Carleton ở Miến Điện khi đó là nghiên cứu để viết một cuốn sách về vùng Đông Nam Á.

Sau khi trở về từ Rangoon vào năm 1955, Carleton trở thành một chuyên viên phân tích trong đội ngũ của người đứng đầu bộ phận phản gián CIA, James Angleton.

Nhờ có bố, cứ đến kì nghỉ hè là Rick lại được làm công việc hành chính, văn phòng trong CIA. Trong khi đó, ở trường trung học, Rick có một bước biến chuyển đột ngột, đầy kịch tính. Rick bỗng tìm thấy bản thân mình ở trong cái thế giới đầy tưởng tượng của sân khấu, ham mê tham gia các vở kịch, các buổi trình diễn ca nhạc, diễn các vai trên sân khấu. Mùa thu năm 1959, Rick trúng tuyển vào trường Đại học Tổng hợp Chicago, chuyên ngành lịch sử. Tuy vậy, Rick nhanh chóng tự dìm mình vào trong các hoạt động sân khấu và bắt đầu tích lũy kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

Kết quả của những đam mê thái quá này là đến cuối năm học thứ hai ở đại học, Rick không qua được kì thi cuối năm. Bị đánh trượt trong kì thi, giấc mơ trở thành diễn viên của Rick cũng tan vỡ theo.

Đến đầu tháng 2-1962, cuối cùng thì Rick trở về nhà ở McLean và bắt đầu làm việc chính thức cho CIA với vai trò như một thư kí - đánh máy, trước khi trở thành nhân viên phân tích tài liệu.

Cũng trong thời gian đó, Rick chinh phục được một cô gái tóc vàng trẻ hơn một tuổi, người từ Buffalo, New York, tên là Nancy Segebarth. Nancy cũng là một người tham gia khóa đào tạo trong CIA cùng với Rick. Khi họ tiến hành tổ chức lễ cưới vào ngày 24-5-1969, được tổ chức theo nghi thức dành cho những người theo tôn giáo Nhất thể, thì Nancy từ bỏ công việc của mình trong CIA bởi quy định của CIA không cho phép cả vợ và chồng đều làm nhân viên hành động. Tháng 10 năm đó, Rick được bổ nhiệm đi công tác tại Trạm CIA ở Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ. Một cuộc viễn du mới mở ra trước mắt Rick.

Trong năm đầu tiên ở cương vị hoạt động mới, Rick làm việc rất tốt, giành được thiện cảm từ những người phụ trách. Nhưng rồi cũng như người cha của mình trước đây, Rick không trở thành nhân viên tuyển mộ xuất sắc, không tài nào thiết lập được các mối tiếp xúc cần thiết cho công việc của mình. Trong hai năm tiếp sau đó, công việc của Rick sa sút đến mức tồi tệ, xuống tới ranh giới “chỉ tạm chấp nhận được”. Thay cho viễn cảnh của một chuyến viễn du lớn, Thổ Nhĩ Kỳ hóa ra lại chỉ là một vũng nước buồn tẻ.

Trong khi đó, công việc bán thời gian ở Trạm CIA tại Ankara khiến cho Nancy cảm thấy không vừa tầm với năng lực của mình và cô vợ của Rick cảm thấy không hài lòng. Bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của một sự rạn vỡ không tài nào hàn gắn nổi trong cuộc hôn nhân của họ.

Tình trạng căng thẳng giữa Nancy và Rick trở nên dịu đi khi vào năm 1972, Rick quay lại Langley và được giao cho một công việc bàn giấy ở Ban Liên Xô - Đông Âu (SE). Ban này nằm trong bộ phận hành động của CIA, có nhiệm vụ lôi kéo, dụ dỗ cán bộ Xô viết đang làm việc tại Mỹ, đặc biệt là những người công tác tại Liên Hợp Quốc.

Hầu như ngay lập tức, Rick đã cải thiện được cái hình ảnh kém cỏi trong thời gian hoạt động ở nước ngoài trước đó. Bằng việc soạn thảo các báo cáo tóm tắt sâu sắc, mạch lạc, những kế hoạch chiến thuật hoặc chiến lược một cách tỉ mỉ, Rick lại nhận được sự đánh giá cao từ các sếp. Thêm vào đó, Rick có cơ hội trau dồi thêm trình độ ngoại ngữ của mình. Vào năm thứ hai sau khi trở về Washington, Rick đã đạt điểm xuất sắc môn tiếng Nga trong một khóa học do CIA bảo trợ và nó khiến Rick trở thành một trong số rất ít những nhân viên thuộc Ban Liên Xô - Đông Âu có thể nói được thứ ngôn ngữ của kẻ thù.

Rick và Nancy chuyển tới Reston, phía bắc Virginia, ở khu nhà trông ra hồ, là nơi mới được xây dựng cho những cư dân thành phố. Nơi đây trộn lẫn những kiểu nhà khác nhau, từ căn hộ riêng biệt cho tới nhà tập thể và có cả những biệt thự dành cho tầng lớp vương giả, với khung cảnh thanh bình của đồng quê xung quanh. Hai vợ chồng mua một căn nhà giá 46.000 USD trên đường Drive, nằm ở khu sân golf Reston. Với sự giúp đỡ của người cha làm việc trong ngân hàng, Nancy thế chấp và thanh toán tiền mua ngôi nhà bằng tiền mặt.

Tháng 8-1976, do làm tốt công việc bàn giấy ở Langley, sự nghiệp của Rick có một bước thăng tiến, được phái trở lại làm công tác hành động của CIA tại New York.

Rick thuê căn hộ ở số 400 phố 54th East của Manhattan với số tiền thuê 508 USD một tháng, dưới một cái tên giả của CIA. Ít lâu sau, Nancy tới. Cô đã cố bán căn nhà ở Reston nhưng không được vì đó đang là thời kì “đóng băng” trên thị trường buôn bán bất động sản. Nancy đã không thể thỏa thuận bán được với cái giá mình muốn, bởi vậy bèn đem căn nhà này cho thuê.

Rick đã gặp may khi chuyển tới địa bàn New York. Rod Carlson, sếp trực tiếp của Rick tại địa bàn New York lấy làm thích thú bởi sự xuất hiện của anh chàng đầu bù tóc rối này ở New York. Cả hai nhanh chóng trở nên nổi tiếng bởi thường xuyên cưa đổ vài chai rượu sau giờ làm việc.

Điều may mắn hơn nữa là R. Carlson đã không giao cho Rick nhiệm vụ móc nối, tuyển mộ các nguồn tin, một công việc rõ ràng không phù hợp với Rick. Thay vào đó, ông ta giao cho Rick nhiệm vụ làm việc với hai nguồn tin có sẵn. Các cuộc gặp gỡ của Rick với hai nguồn tin này thường diễn ra tại các ngôi nhà an toàn của CIA.

Một trong hai nguồn tin này chính là một trong những quan chức Xô viết cao cấp nhất làm gián điệp cho Mỹ, có tên là Arkady Shevchenko, Phó Tổng thư kí Liên Hợp Quốc. Năm 1975, do thất vọng với chính sách của các nhà lãnh đạo Xô viết, A. Shevchenko đã định đào thoát sang Mỹ nhưng CIA khuyến khích ông ta ở lại cương vị thêm một vài năm nữa để làm gián điệp, giúp cơ quan này có được tai mắt ở ngay trong bộ máy Trung ương của Liên Xô. Đến tháng 3-1978, sau hơn hai năm làm gián điệp cho Mỹ, A. Shevchenko nhận được một bức điện triệu hồi về Moscow với lí do để bàn bạc công việc. Cảm thấy mạng lưới giám sát của KGB đang thít lại và lo ngại nếu quay về Moscow thì bước vào cửa tử nên A. Shevchenko quyết định chính thức đào thoát và ở lại Mỹ. Rick được giao nhiệm vụ tiếp xúc với ông ta để khai thác thông tin về các nhà lãnh đạo Xô viết, mà một số trong đó A. Shevchenko biết khá rõ do có các mối quan hệ quen biết cá nhân.

Nguồn tin kia là một quan chức hạng trung trong Tiểu ban Giải trừ quân bị của Liên Hợp Quốc tên là Sergei Fedorenko, người bắt đầu làm việc cho CIA từ mùa thu năm 1974. Do những mối quan hệ về mặt gia đình - cha của anh ta, một đại sứ, cũng là người đứng đầu phái đoàn Liên Xô tại Liên hợp quốc - nên S. Fedorenko có điều kiện tiếp cận được những nguồn tin mật mà lẽ ra, một quan chức cỡ bình thường như anh ta sẽ chẳng bao giờ có thể với tới được.

Hằng tháng, Rick gặp S. Fedorenko tại một ngôi nhà an toàn của CIA ở phía bắc New York, cách không xa nơi ở của phái đoàn Liên Xô nằm trên đường Riverdale, S. Fedorenko cung cấp chi tiết về cuộc sống cá nhân của các thành viên trong phái đoàn Liên Xô, những nhược điểm và đôi khi cả thói hư tật xấu của các sĩ quan KGB nằm trong phái đoàn.

Việc tiếp xúc giữa Rick với S. Fedorenko bất ngờ chấm dứt khi Rick phạm phải sai lầm ngu ngốc là để quên chiếc cặp đựng tài liệu mật trên toa xe điện ngầm trong một chuyến đi gặp người này. Trong chiếc cặp có cả ảnh của S. Fedorenko chụp cùng với mấy người bạn Xô viết. Rất may là một giáo viên trung học đã tình cờ nhặt được chiếc cặp, và sau khi mở ra xem, anh ta báo cho Văn phòng FBI New York. FBI thu hồi được chiếc cặp nhưng CIA lập tức chấm dứt các cuộc gặp bí mật của Rick với S. Fedorenko.

Mặc dù phạm phải sai lầm chết người như vậy nhưng Rick vẫn được R. Carlson sủng ái bởi Rick biết rõ những gì mà R. Carlson cần tìm hiểu và khéo léo đưa chúng vào trong các báo cáo tóm tắt của mình. Trong thời gian ở New York, Rick tìm cách kết thân được với Tomas Kolesnichenko, phóng viên tờ báo Pravda của Liên Xô. Rick tự xưng là Frank Madison, một nhà phân tích chính trị. Hằng tháng, hai người thường gặp nhau tại các tiệm ăn và chén tạc chén thù, bàn đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, từ vụ bê bối Watergate cho đến khối quân sự Hiệp ước Warsaw của các nước xã hội chủ nghĩa. Tất cả những điều này đều được Rick đưa vào trong các báo cáo của mình.

Năm 1981, Rick được lệnh chuyển tới làm việc ở trạm CIA tại Mexico City. Nancy nói cô sẽ ở lại Mỹ chứ không đi cùng với Rick. Khi Rick rời đi, đó là lần cuối cùng Nancy nhìn thấy chồng mình với tư cách một người tự do.

+++++

Cái thời điểm định mệnh trong số phận của Valery Martynov và Sergei Motorin diễn ra vào một ngày tháng 10 năm 1982 ở Mexico City, khi Rick Ames, lúc đó 40 tuổi, được giới thiệu với một phụ nữ 30 tuổi người Colombia tên là Maria del Rosario Casas Dupuy.

Một năm trước đó, Rick được bổ nhiệm tới trạm CIA ở Mexico City. Vỏ bọc của Rick là một chuyên viên phân tích chính trị của Bộ Ngoại giao. Mùa xuân năm sau đó, M. Rosario tới thủ đô của Mexico với vai trò là tùy viên văn hóa của sứ quán Colombia.

Không được coi là đẹp lắm nhưng M. Rosario vẫn còn giữ vẻ trong sáng, lanh lợi của một thiếu nữ. Như người ta vẫn thường nói, cô ta là người “tinh vi”. M. Rosario xuất thân từ một gia đình nổi tiếng ở Bogotá, được coi là khá trí thức và thuộc vào giới tinh hoa ở thủ đô Colombia. Bố của M. Rosario là nhà hoạt động chính trị, cựu Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp, đồng thời là một nhà toán học. Ông ta nổi tiếng với vai trò của một thống đốc bang, đồng thời là thượng nghị sĩ đại diện cho Đảng Tự do theo đường lối trung dung trong Thượng viện Colombia. M. Rosario lớn lên ở khu phía bắc Bogotá, nơi tập trung những gia đình danh gia vọng tộc. Mẹ cô ta, bà Cecilia Dupuy de Casas, một người sang chảnh và có xu hướng chính trị tả khuynh hơn ông chồng, đều đặn chủ trì những buổi tiếp khách với sự tham gia của các học giả, nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn nổi tiếng, trong đó có cả nhà văn Gabriel García Márquez.

Tuy nhiên, có một bi kịch nhỏ ẩn giấu đằng sau cuộc sống của M. Rosario Casas. Mặc dù địa vị sang trọng về mặt xã hội và chính trị của gia đình giúp M. Rosario sống ở Bogotá trong một tư thế khá đàng hoàng, thế nhưng càng ngày, gia đình cô ta càng lâm vào tình trạng suy vi. Sau khi người cha chết, bà mẹ phải gắng tằn tiện tiêu pha trong phạm vi số tiền ít ỏi còn lại của gia đình. M. Rosario tới trường khi là thành viên của một gia đình giàu có, sống trong thế giới của những người giàu nhưng khi ra trường, cô ta không còn thuộc về thế giới ấy nữa.

Những mối căng thẳng nội tâm thường xuyên làm cho M. Rosario gầy đi và điều đó lại khiến cho cô ta có được một thân hình toát ra cái vẻ hoang dã đầy gợi cảm. M. Rosario tìm sự giải khuây trong tình dục. Cô ta từng trải qua vài cuộc tình nhưng rồi chẳng đi đến đâu bởi có đòi hỏi khá cao đối với bạn tình. Cứ thế, các mối quan hệ liên tiếp bị đổ vỡ. Trong khi M. Rosario đang cố gượng dậy sau một cuộc tình lãng mạn vừa mới chấm dứt thì những mối dây liên hệ chính trị thuở trước của cha cô ta tỏ ra hữu ích. Đích thân Tổng thống Colombia Julio César Turbay Ayala, một người bạn của gia đình M. Rosario, bổ nhiệm cô ta tới làm việc tại sứ quán ở Mexico City. M. Rosario bắt đầu tìm lại được niềm vui sống.

M. Rosario nhanh chóng trở thành một nhân vật nổi bật trong những cuộc tiếp tân và chiêu đãi ngoại giao liên miên. Cô ta tham gia vào Ban điều hành của AMCOSAD, tên gọi theo tiếng Tây Ban Nha một câu lạc bộ chuyên tài trợ những hoạt động văn hóa, xã hội cho các nhân viên nước ngoài trong sứ quán.

Tại trạm Mexico City có một điệp viên CIA tên là David Samson, bạn nhậu của Rick trong những cuộc chè chén túy lúy, đồng thời cũng là một tay tán gái thành thần. D. Samson phát hiện thấy M. Rosario thường hay tán gẫu với một thành viên khác trong ban điều hành AMCOSAD. Đó là một thiếu tá KGB khá năng nổ, nói được tiếng Tây Ban Nha, tên là Igor Shurygin. D. Samson dễ dàng tiếp cận với M. Rosario rồi sau một thời gian thì đưa được cô ta lên giường. Đến mùa thu năm 1982 M. Rosario đồng ý vào làm việc cho CIA, có lương hẳn hoi. Chỉ khiêm tốn 200 USD một tháng, nhưng khi đổi sang tiền Mexico, đó là số tiền cũng đáng kể, đủ để mua được những đôi giày đắt giá hiệu Ferragamo mà cô ta vẫn thèm thuồng.

Đến thời điểm đó, D. Samson buộc phải tự mình thoát ra khỏi mối quan hệ cá nhân với M. Rosario. Ngủ với nguồn tin của mình không phải là phương thức hoạt động trong CIA. Ngoài ra, anh ta cũng biết rằng giống như những người tình trước đây của M. Rosario, một khi sức hấp dẫn về mặt tình dục ban đầu qua đi thì giữa họ sẽ chỉ còn lại rắc rối mà thôi. Bởi vậy, anh ta bèn chuyển giao M. Rosario cho Rick Ames bằng cách giới thiệu họ với nhau trong một buổi giới thiệu về văn hóa cổ Aztec do AMCOSAD tổ chức.

Cô ta có lẽ chính là người mà Rick đang rất cần để lấy lại sinh khí trong cuộc sống. Tình dục không phải là sợi dây duy nhất liên kết hai người lại với nhau. Trong căn hộ độc thân của Rick ở Zona Rosa, một khu vực rợp bóng cây của thành phố với những tòa nhà có tường được quét vôi màu hồng nhạt gợi nhớ đến Greenwich Village của New York, M. Rosario sửng sốt khi nhìn thấy những giá chất đầy sách kín lên đến tận trần nhà. Hóa ra đây không phải là một gã người Mỹ thô kệch. Thay vào đó, Rick có những hiểu biết sâu rộng về văn học, niềm đam mê lớn của cô ta.

Hầu như trong suốt cả năm 1983, ở Mexico City, Rick và M. Rosario dính với nhau như sam. Cuộc tình của Rick với M. Rosario được đám bạn bè của Rick tán thành. Cả đám bạn bè đều đồng ý với nhau rằng M. Rosario là cứu tinh của Rick. Rick cũng dần dần bộc lộ một cách thẳng thắn hơn về tình trạng hôn nhân của mình. Cả đám bạn bè đều nghe thấy Rick chửi rủa cuộc hôn nhân khốn khổ, về mụ vợ đáng ghét ở Mỹ.

Tại Mexico, một lần nữa, đánh giá của cấp trên về khả năng móc nối các nguồn tin của Rick cũng chỉ đạt loại xoàng. Trong suốt hai năm ở Mexico City, Rick chỉ có một lần duy nhất làm việc liên quan đến điệp vụ phản gián quan trọng là vụ bắt giữ và kết án tội làm gián điệp Alfred Zehe, một nhà vật lí Đông Đức sống ở Mexico và thường xuyên tới Mỹ để tìm kiếm các bí mật quân sự.

Đến khoảng cuối năm 1983, khi được gọi trở lại Langley để nhận nhiệm vụ mới, Rick nói với M. Rosario rằng không thể sống thiếu cô ta và muốn cưới M. Rosario làm vợ.

Vào thời điểm đó, Rick vẫn giấu M. Rosario mức lương của mình trong CIA, chính xác là 47.070 USD. Rick biện bạch rằng mình đang trong giai đoạn tạm thời thắt lưng buộc bụng do phải trợ cấp cho Nancy, trong đó bao gồm cả việc phải trả tiền thuê nhà cho cô vợ cũ. Điều này không đúng sự thật.

Để lấy le với M. Rosario, Rick vay tiền mua một chiếc Honda Accord đời mới cho cô ta. Những khoản chi tiêu qua thẻ tín dụng của M. Rosario tăng với tốc độ tên lửa, lên tới 13.000 USD cho việc tu bổ lại căn nhà ở Falls Church, cộng với mua sắm thêm vô số quần áo và những cuộc gọi điện thoại đường dài liên tu bất tận đi Colombia và Mexico. Do lo sợ bị M. Rosario bỏ rơi, Rick không bao giờ dám mạo hiểm nói với cô ta là ngân sách của hai người có hạn và họ buộc phải chi tiêu dè sẻn.

Bằng một cuộc điện thoại đường dài gọi từ Washington vào tháng 3-1984, Rick thông báo cho Nancy biết rằng mình hiện đang yêu một phụ nữ khác và muốn li dị. Cô ta trả lời rằng cũng không muốn cản trở và mong ông ta tìm được hạnh phúc.

Một tháng sau, Rick báo cho CIA biết về cuộc hôn nhân mới của mình. Việc nhân viên kết hôn với một người nước ngoài không bao giờ làm cho CIA hài lòng, nhưng cũng không có quy định bắt buộc nào cấm đoán hoàn toàn chuyện đó. Hơn nữa, theo như Rick thông báo thì người mà ông ta hứa hôn cũng từng ăn lương của CIA và đang có ý định trở thành công dân Mỹ.

+++++

Đúng vào thời điểm này thì sếp cũ của Rich tại Trạm New York là Rod Carlson xuất hiện, vô tình đóng vai trò chuẩn bị cho những sự việc xảy ra sau đó.

Khi Rick được gọi về từ Mexico City thì cũng là lúc R. Carlson từ New York quay lại Langley và được bổ nhiệm làm Trưởng Nhóm phản gián trong Ban Liên Xô - Đông Âu. Bất chấp một thực tế là kết quả công việc Rick làm trong thời gian ở Mexico City chẳng lấy gì làm xuất sắc cho lắm, R. Carlson vẫn nhớ Rick đã đảm nhiệm khá tốt việc “chăn dắt” A. Shevchenko và S. Fedorenko trong thời kì ở New York trước đó.

R. Carlson yêu cầu đưa Rick vào Nhóm phản gián do ông ta đứng đầu trong Ban Liên Xô - Đông Âu. Bất chấp khuyến nghị của các nhân viên CIA về việc Rick lấy vợ người nước ngoài cùng những nhận xét về năng lực hoạt động không lấy gì làm nổi bật của Rick cả trong nhiệm kì Thổ Nhĩ Kỳ lẫn ở Mexico, Rick vẫn được xếp vào làm việc tại một trong những vị trí nhạy cảm, trọng yếu nhất trong Tổng hành dinh CIA.

Đó quả thực là một môi trường làm việc lí tưởng cho hoạt động gián điệp. Như chuột sa chĩnh gạo, Rick có khả năng tiếp cận được với các báo cáo tuyệt mật hằng ngày liên quan đến những nguồn tin Xô viết mà CIA có được, bao gồm cả các điệp viên nhị trùng. Rick cũng có thể thoải mái tiếp cận những tài liệu về các chiến dịch của CIA trên toàn cầu, về chiến lược cũng như chiến thuật mà CIA sử dụng trong cuộc đối đầu với KGB và Tổng cục Tình báo Quân đội Liên Xô GRU.

Một hôm, trong bữa ăn trưa, R. Carlson bỗng dưng nghĩ ra một công việc cho Rick. R. Carlson nói rằng trong thời gian hoạt động tại New York, ông ta đã tiếp cận được một nhà ngoại giao Xô viết tên là Sergei Divukulsky. S. Divukulsky không phải là nhân viên của KGB cũng như GRU, nhưng là một chuyên viên kiểm soát vũ khí. Biết đâu những thông tin hấp dẫn mà ông ta lượm lặt được lại chẳng dẫn tới một ích lợi nào đó!

Dưới một cái tên giả là Richard Wells, Rick tiếp xúc với S. Divukulsky. Nhằm thu hút sự chú ý của người chuyên gia Xô viết, Rick tự giới thiệu mình là thành viên của Tiểu ban Tình báo thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ. Rick gợi ý rằng hai người có thể gặp nhau để trao đổi về những vấn đề an ninh chung. Điều đó sẽ có lợi cho cả hai phía.

Từ đó trở đi, hầu như tháng nào Rick cũng có những buổi ăn trưa với S. Divukulsky. Tất cả các cuộc gặp này, Rick đều báo cáo lại đầy đủ cho cả văn phòng FBI ở Washington và Langley.

Đến giữa mùa đông, tức là vào quãng đầu năm 1985, Rick đã rơi xuống tới đáy của sự tuyệt vọng. Ngày nào M. Rosario cũng chì chiết ông ta. Vì sao họ lại phải sống ở cái nơi ghê tởm như vậy nhỉ? Rick đã từng hứa hẹn với cô ta một khi quá trình tiến hành các thủ tục li dị bắt đầu và tình trạng tài chính ổn định là lập tức họ sẽ chuyển tới một nơi có thể khiến cho cô ta hài lòng cơ mà! Bao giờ điều đó sẽ xảy ra? Cô ta không biết tại sao lại ngu ngốc rời Mexico chứ! Cô ta muốn quay về Colombia. Sau những lời cằn nhằn ấy bao giờ cũng là một trận làm tình dữ dội mà Rick đền bù cho cô ta ở trên giường.

Trong khi đó, những hóa đơn chi tiêu của M. Rosario tăng nhanh với tốc độ chóng mặt. Rick đã phải vay 8.000 USD từ một ngân hàng tín dụng liên bang. M. Rosario lại đang sắp bảo vệ luận án tốt nghiệp ở trường Đại học Tổng hợp Northwestern. Việc đó cũng phải mất thêm 8.000 USD nữa.

Rick lâm vào tình thế hoàn toàn tuyệt vọng. Rồi bỗng dưng, Rick nghĩ mình tìm thấy một lối thoát. Qua Sergei Divukulsky.

+++++

Image

Trước đó, Rick đã sáu lần gặp S. Divukulsky. Rick dự tính sẽ làm cho lần gặp thứ bảy khác đi rất nhiều so với sáu lần trước đó. Nhưng khi gọi điện cho S. Divukulsky để thu xếp cuộc gặp, những gì nghe được khiến Rick choáng váng. Sẽ không có lần gặp thứ bảy nào nữa. S. Divukulsky thông báo rằng ông ta được gọi về Moscow để nhận một công việc mới. Nhưng đừng lo, S. Divukulsky trấn an Rick. Người thay thế ông ta cũng là một chuyên viên kiểm soát vũ khí tên là Sergei Chuvakhin. Ông ta đã nói trước với S. Chuvakhin là hãy chờ điện thoại của một người tên là Richard Wells.

Hai lần đầu, Rick điện thoại cho S. Chuvakhin, máy đều không nối được. Mãi đến lần thứ ba, khi Rick cố gắng nói chuyện được với S. Chuvakhin thì có cảm tưởng như người này khá hững hờ. Richard Wells ư? Vâng, đúng là anh ta có nghe S. Divukulsky nhắc đến cái tên này. Hãy gọi lại cho anh ta. Ở cuộc gọi thứ tư, S. Chuvakhin nói rằng họ không thể gặp nhau trong tuần lễ sau đó. Lịch làm việc trong tuần của anh ta đã kín hết rồi.

Mặc dù vậy, trong cuộc gọi tiếp theo, S. Chuvakhin nói rằng anh ta có thể rảnh vào ngày 16-4-1985. Tuy nhiên sẽ không ăn trưa. Ngồi uống một chút gì đó ở quầy rượu khách sạn Mayflower là được rồi. Vào lúc 4 giờ chiều. “Nhưng trông anh như thế nào?” S. Chuvakhin hỏi? Rick mô tả mình có bộ tóc nâu chải lật về phía sau và một hàng rỉa mỏng, đôi tai hơi vểnh và đeo kính. Nhưng không có vấn đề gì đâu, Rick nói. Rick sẽ để lại tên mình ở chỗ người phụ trách quầy rượu.

Rick chuẩn bị sẵn hai cái phong bì dự tính sẽ chuyển cho S. Chuvakhin. Trên cái phong bì lớn, Rick đề tên thật của nhân viên KGB phụ trách địa bàn, cũng là người đứng đầu Trạm KGB trong sứ quán Liên Xô là Stanislav Androsov. Rồi Rick nhét vào bên trong chiếc phong bì này cái thứ hai, trên đó cũng có địa chỉ người nhận là S. Androsov, nhưng lại đề tên giả của S. Androsov thường sử dụng trong KGB. Chính Valery Martynov, sau khi được tuyển mộ trong chiến dịch của nhóm Courtship, đã cung cấp cho Rick cái tên giả này.

Trong cái phong bì nhỏ, Rick đánh máy trên một mẩu giấy tên của hai nguồn tin bên trong KGB mà Rick cho rằng CIA đã tuyển mộ được. Rick suy tính rằng nếu như vụ tiếp xúc này không đến đâu cả thì mình cũng đã không đi quá xa.

Ngoài hai cái tên ra, Rick kèm thêm một trang trong cuốn danh bạ chỉ dẫn của Ban Liên Xô - Đông Âu, gạch bên dưới tên của mình, cùng với một bản tóm tắt những công việc đã làm trong CIA và vài biệt danh đã sử dụng trước đó mà Rick tin chắc rằng chúng nằm trong hồ sơ của KGB. Rick trù tính nếu S. Chuvakhin có mạo hiểm mở cái phong bì lớn ra ngay tại chỗ thì chắc hẳn anh ta cũng sẽ phải dừng ngay lại nếu như đọc thấy cái tên giả của S. Androsov trên chiếc phong bì nhỏ bên trong.

Rick dành thời gian khá lâu để cân nhắc xem nên đòi bao nhiêu tiền là vừa. Thoạt đầu, Rick nghĩ 100.000 đô la là đủ, nhưng sau lại cho rằng như vậy có thể là một đòi hỏi quá cao. 20.000 thì lại quá ít, chẳng thấm tháp vào đâu. Cuối cùng, Rick quyết định rằng sẽ đòi 50.000 đô la.

Lúc 3 giờ 45 phút chiều ngày 16-4-1985, Rick bước vào quầy rượu bên trong khách sạn Mayflower, để tên giả của mình - Richard Wells - ở chỗ người phụ trách quầy rượu rồi gọi một li vodka. Thời gian nặng nề trôi đi. Đã quá 4 giờ là giờ hẹn với S. Chuvakhin, rồi gần tới 4 giờ rưỡi mà vẫn không thấy S. Chuvakhin đâu. Rick làm thêm một li vodka nữa. Thay vì căng thẳng, Rick bắt đầu cảm thấy tức giận. Một số nhà ngoại giao Xô viết từng nổi tiếng với cung cách khá thô lỗ, lỡ hẹn mà không thèm thông báo lấy một lời. Có thể S. Chuvakhin cũng thuộc dạng người đó.

Đến 5 giờ kém 15 phút chiều, Rick rời quầy rượu. Khi ra đến Đại lộ Connecticut, Rick cảm thấy lưỡng lự. Nhưng rồi rất nhanh chóng, Rick biết rằng nếu mình không quyết định ngay lúc này thì có lẽ sẽ chẳng bao giờ dám làm lại một lần nữa. Rick xuôi đại lộ Connecticut một quãng, rẽ trái sang phố L, tới đường 16 rồi lại rẽ trái, tới sứ quán Liên Xô.

Thêm một lần lưỡng lự nữa nhưng rồi Rick quả quyết bước vào trong.

Rick tới chỗ bàn tiếp khách, đưa chiếc phong bì cho người đàn ông ngồi sau bàn, chắc là một nhân viên an ninh. Người này liếc nhìn tên ghi trên phong bì rồi nhanh chóng tỏ vẻ thờ ơ gạt nó sang một bên.

Rick hỏi tìm S. Chuvakhin. Vài phút sau, nhà ngoại giao Nga xuất hiện. Anh ta rối rít xin lỗi về việc lỡ cuộc hẹn, nhưng phân trần là có một công việc quan trọng bất ngờ bỗng dưng phải giải quyết vào phút cuối khiến không sao kịp thu xếp để báo cho Rick được.

Ồ, không sao, Rick nói, trong bụng chắc là S. Chuvakhin vẫn chưa biết về những chiếc phong bì. Tôi hiểu mà, Rick nói. Những việc như thế vẫn thường xảy ra. Rick chỉ muốn biết liệu S. Chuvakhin có khỏe hay không thôi. Rick nói, hi vọng rằng hai người có thể gặp lại nhau khi S. Chuvakhin có thời gian rảnh, trong khoảng một giờ chẳng hạn. Rồi Rick để lại cho S. Chuvakhin số điện thoại chỗ làm việc dưới vỏ bọc của mình.

Rick biết rõ rằng tất cả những ai vào trong sứ quán Liên Xô đều bị máy quay phim của FBI ghi lại, nhưng không lo lắng về điều này. Trước đó, Rick đã từng báo cáo đầy đủ về mọi cuộc gặp với S. Divukulsky cho cả văn phòng FBI Washington lẫn Langley. Nay chỉ cần làm một báo cáo về cuộc gặp với S. Chuvakhin là được. Mục tiêu vẽ ra là hi vọng một ngày nào đó có thể tuyển mộ người chuyên viên kiểm soát vũ khí Xô viết.

Nhưng lần này có một khác biệt nhỏ: Rick sẽ chỉ gửi báo cáo cho Langley thôi. Rick biết là ở đó, có thể bản báo cáo được lưu vào hồ sơ, rồi nó sẽ bị quên ngay. Nhưng ở văn phòng FBI Washington lại là chuyện khác. Một trong số những nhân viên FBI tại đây có thể đặt câu hỏi là tại sao một sĩ quan phản gián như Rick, thay vì bố trí một cuộc hẹn gặp ở nơi khác, lại đột ngột đi vào trong sứ quán như vậy. Nếu có bị tra vấn thì Rick sẽ nói mọi sự đều rõ ràng, quang minh chính đại. Rick không có gì phải giấu giếm vì đã báo cáo cho Tổng hành dinh CIA rồi. Họ có thể kiểm tra lại.

Trong khi đi bộ trở lại chỗ đỗ xe trên phố K, Rick lại cảm thấy một nỗi sợ hãi bắt đầu xâm chiếm bản thân. Rick rẽ vào tiệm ăn Tàu và nạp một li vodka. Rượu làm cho Rick bình tĩnh trở lại. Thốt nhiên, vào đúng lúc đó, Rick hiểu rằng mình sẽ phải đi trọn con đường. Mọi sự mới chỉ là bước đầu tiên.

+++++

Ba tuần sau, vào ngày 8-5-1985, có tín hiệu đáp trả.

Người phát tín hiệu không phải ai khác, chính là Sergei Chuvakhin. Khi Rick gọi lại thì S. Chuvakhin đã lập tức ở bên máy, giọng đượm vẻ thân thiện: “Sao anh không tới sứ quán nhỉ?”

Lúc đó là buổi chiều. Lần này thì S. Chuvakhin đã ngồi chờ sẵn. Người chuyên viên kiểm soát vũ khí dẫn Rick vào bên trong căn phòng của sứ quán mà các nhân viên FBI vẫn gọi là phòng KGB, được cách âm hoàn toàn và “dọn dẹp” sạch mọi con rệp điện tử nghe trộm, rồi biến mất. Khi cánh cửa khép lại sau lưng, Rick thấy mình đứng trước một người đàn ông trong phòng. Người này giơ ngón tay lên môi ra hiệu cho Rick hoàn toàn im lặng trước khi kịp nói bất cứ một lời nào. Đó là Đại tá KGB Victor Cherkashin, phụ trách các hoạt động phản gián trong sứ quán Liên Xô tại Washington.

Người này dẫn Rick lại ngồi chỗ chiếc bàn họp kê trong phòng.

Victor Cherkashin đưa cho Rick một tờ giấy cùng với cây bút chì. Trên tờ giấy đã có một dòng chữ đánh máy sẵn: “Chúng tôi chấp nhận đề nghị của anh”. Phía Liên Xô sẽ trả 50.000 USD cho những thông tin mà Rick đã cung cấp.

Câu hỏi tiếp theo: “Liệu S. Chuvakhin làm trung gian có thích hợp hay không? Biệt danh liên lạc của anh ta sẽ là Sam!”.

Rick viết trả lời: “OK. Nếu như anh ta thích hợp với các ông thì cũng thích hợp với tôi”.

Người đàn ông viết tiếp: “Chúng tôi hi vọng sẽ có một mối quan hệ lâu dài. Chúng tôi sẽ cố gắng duy trì nó. Liệu có được không? Chúng tôi biết giá trị của anh”.

Rick viết trả lời: “Đồng ý”. Rick cảm thấy phấn khích đến tột độ. Đây là lần đầu tiên trong đời, Rick thấy mình được người ta tôn trọng thực sự. Giá trị, trời ơi!

Người sĩ quan KGB, mà Rick sẽ chẳng bao giờ biết tên, đứng dậy và chìa tay qua mặt bàn. Rick nắm lấy và siết chặt. Rồi ông ta tiễn Rick ra cửa. S. Chuvakhin đã chờ sẵn bên ngoài.

Hơn một tuần sau, vào ngày 17-5, S. Chuvakhin và Rick cùng ăn trưa tại tiệm Chadwick’s ở khu Georgetown. Họ cùng thảo luận về những vấn đề kiểm soát vũ trang. Trước khi rời đi, S. Chuvakhin để lại cho Rick một gói giấy. Trong xe của mình tại bãi đỗ xe, Rick mở gói giấy ra. Bên trong có năm xấp tiền được buộc cẩn thận bằng dây cao su. Tổng cộng 50.000 USD, tất cả đều là tờ 100 USD đã cũ.

50.000 USD kiếm được trong phi vụ đầu tiên bay vèo chỉ trong thời gian ngắn. Để trả cho những hóa đơn điện thoại dường dài của M. Rosario cũng như cân bằng các khoản chi trong thẻ tín dụng, ngay sau hôm nhận được tiền, Rick đặt 19.000 USD trong số đó vào một tài khoản của mình ở ngân hàng Dominion ở Virginia. M. Rosario cũng cho thấy cần phải giúp đỡ bà mẹ cô ta, mà theo lời mô tả của M. Rosario là đang rất nghèo túng; thế là Rick gửi theo đường bưu điện 5.000 USD cho gia đình một người bạn của M. Rosario ở Miami. Tại đó, việc đổi từ đô la Mỹ ra đồng peso của Colombia rất dễ dàng và có lợi. Rick cũng trả bằng tiền mặt cho tất cả những khoản nợ tại các tài khoản đã mở của M. Rosario ở nhiều cửa hàng trong vùng. Chỉ tính riêng tại cửa hàng Neiman - Marcus, số tiền phải thanh toán đã là 9.000 USD. 8.000 USD khác đi vào tài khoản của trường Đại học Tổng hợp Northwestern, nơi M. Rosario có ý định theo học một khóa học mùa hè.

Cuối cùng thì Rick nhẹ nhõm nhận ra rằng mình đã hết nợ. Chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi Rick lại bước vào một cuộc phiêu lưu mới.

Những gì đã làm sau ngày 16-4-1985 ấy đã dẫn tới điều không tránh khỏi là Rick cảm thấy một mối lo sợ hoang tưởng rằng mình có thể bị phát giác. Rick biết KGB có bộ máy bảo mật tốt nhất thế giới, đặc biệt là các hồ sơ cá nhân. Thế nhưng liệu Rick có thể hoàn toàn tin tưởng chắc chắn vào điều đó được không? Cẩn tắc vô ưu vẫn hơn. Ngay lúc này đây, Rick biết chắc rằng trong sứ quán Liên Xô ở Washington có một thiếu tá KGB đã bị FBI tuyển mộ trong chiến dịch Courtship. Người này có thể phát giác ra những việc mà Rick đã làm.

Rick không biết mật danh mà FBI đặt cho viên thiếu tá KGB nọ là Pimenta, nhưng biết CIA đặt mật danh cho anh ta là Gentile. Quan trọng hơn, Rick biết rằng tên thật của anh ta là Valery Martynov.

+++++

Thoạt tiên, sự việc chỉ xảy ra với V. Martynov.

Nhưng rồi cái guồng quay không thể dừng lại được nữa. Nó lan rộng sau khi Rick bắt đầu cảm thấy lo lắng về S. Motorin, người được FBI đặt biệt danh là Meges. Còn biệt danh do CIA đặt cho anh ta là Gauze, tên một loại vải màn thường dùng để băng bó vết thương. Theo những gì mà Rick biết thì Gauze không chịu làm việc với CIA mà chỉ với FBI. Bị gọi về Moscow hồi đầu tháng 1-1985 do dính dáng đến một vụ bê bối tình ái trong sứ quán, S. Motorin có lẽ chỉ bị kỉ luật nhẹ do vi phạm nội quy sinh hoạt đời tư. Tuy nhiên, anh ta có thể quay lại Washington mà CIA không biết. Rick không thể nào xác định được chắc chắn, cho dù gián tiếp, là liệu S. Motorin, cũng giống như V. Martynov, có phát giác ra những hành động của mình với S. Chuvakhin hay không. Ngay cả Rick, nhiều thông tin không thuộc phạm vi tiếp cận của CIA mà Rick vẫn thu thập được cũng chỉ nhờ qua những lần tán gẫu ở Langley. Ai có thể đoan chắc là việc này không xảy ra trong KGB? Rick phải ngăn chặn mọi khả năng có thể dẫn tới điều đó bằng cách chặn đường quay lại Washington của S. Motorin! Rick tự trấn an đó chỉ là hành động tự bảo vệ mà thôi. Cùng với V. Martynov, Rick cũng chuyển cho KGB tài liệu vạch mặt Gauze.

Rick không hề nghi ngờ gì về hậu quả mà hai viên sĩ quan KGB sẽ gặp phải. Nhưng đây là một trò chơi nghiệt ngã của số phận và Rick cầu chúc cho họ may mắn!

Kể từ đó, bắt đầu quá trình tàn phá như trong một trận lở tuyết.

Một khi Rick đã nhận 50.000 USD từ KGB thì có nghĩa là không còn đường lui nữa. Rick đưa vào trong danh sách của mình danh tính Dmitri Polyakov, viên tướng làm việc cho GRU, Cơ quan Tình báo Quân đội Liên Xô.

D. Polyakov tới New York ngày 4-6-1961, hơn một tháng trước sinh nhật lần thứ 48 của mình. Khi tới New York, D. Polyakov đang là một nhân viên quân sự với cấp bậc trung tá trong phái đoàn Liên Xô ở Liên Hợp Quốc, chịu trách nhiệm điều phối các hoạt động điệp báo của GRU không dưới vỏ bọc ngoại giao.

Tháng 11-1961, D. Polyakov tiếp cận Tướng Edward O’Neil, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân đoàn thứ nhất Hoa Kỳ ở New York, đề nghị được ‘làm việc với tình báo Mỹ”. Sau đấy, tại một buổi tiếp tân, Tướng Edward O’Neil giới thiệu D. Polyakov với đặc vụ FBI John Mabey. Tuy vậy, trong buổi gặp này, D. Polyakov nói rằng đã suy nghĩ lại và từ chối mọi cuộc tiếp xúc khác. Đặc vụ John Mabey không chịu bỏ cuộc, tiếp tục kiên nhẫn xuất hiện một cách tình cờ trong các cuộc gặp có mặt D. Polyakov và đến tháng 2-1962 thì thành công: D. Polyakov đồng ý có mối quan hệ hợp tác bí mật với người Mỹ, kéo dài suốt hai mươi bốn năm.

Động cơ chủ động hợp tác với người Mỹ của D. Polyakov trực tiếp bắt nguồn từ số phận không may của cậu con trai út trong ba đứa con trai của viên trung tá GRU. Khi tới New York, cậu con trai này bị ốm nặng và D. Polyakov đề nghị với trạm GRU New York cho con mình vào một bệnh viện ở New York để cứu chữa. Đề nghị này bị GRU từ chối, cậu con trai của D. Polyakov chết. D. Polyakov tuyệt vọng và ngay sau đó bắt liên lạc với Tướng Edward O’Neil.

Trong thời kì hoạt động ở New York, D. Polyakov không chỉ cung cấp danh tính các điệp viên bất hợp pháp của GRU và KGB hoạt động tại Hoa Kỳ mà thông tin của ông ta đã trực tiếp dẫn tới bốn vụ bắt giữ những người Mỹ làm việc cho Liên Xô là Jack Dunlap, trung sĩ làm việc tại Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ NSA; Herbert Boeckenhaupt, một trung sĩ và là kĩ thuật viên thông tin liên lạc trong Không quân Mỹ; William Whalen, sĩ quan làm việc trong Bộ Tham mưu Liên quân Mỹ; và Nelson Drummond, nhân viên phục vụ trong Hải quân Mỹ.

Đến tháng 6-1962, D. Polyakov phải quay về Moscow trong thời gian vài tháng và đồng ý tiếp tục liên lạc với tình báo Mỹ qua một mục quảng cáo trên tờ New York Times và qua các hộp thư chết cũng như địa điểm vạch tín hiệu ở Moscow. Đến lúc này thì FBI, vốn chỉ có chức năng hoạt động tình báo phản gián trong nước, buộc phải thông báo cho CIA về nguồn tin quý giá của mình bởi vì chỉ có trạm CIA tại Moscow mới có khả năng tiếp tục duy trì mối liên lạc.

FBI đặt cho D. Polyakov biệt danh Top Hat - Mũ chóp cao - còn khi được chuyển giao sang CIA, Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ đặt cho ông này biệt danh là Accord.

Tuy nhiên, dù Trạm CIA Moscow hết sức nỗ lực nhưng họ vẫn không sao nối được liên lạc với D. Polyakov trong suốt gần ba năm. Mãi đến đầu năm 1965, điệp viên CIA mới nhận được thông tin của D. Polyakov qua hộp thư chết, trong đó thông báo rằng ông ta sắp được điều đi hoạt động ở nước ngoài.

Tháng 11-1965, D. Polyakov tới Rangoon, thủ đô Miến Điện, trong vai trò thành viên phái đoàn tùy viên quân sự Liên Xô tại đây. Đến tháng 1-1966 thì đặc vụ FBI John Mabey nối lại được liên lạc với D. Polyakov. Đây là một biệt lệ khi mà FBI làm việc với điệp viên đối phương ở hải ngoại. CIA chấp nhận điều đó bởi vì chính FBI là cơ quan đầu tiên tuyển mộ D. Polyakov.

Tuy nhiên, tiếp xúc giữa FBI và D. Polyakov ở Miến Điện chỉ kéo dài được bốn tháng rưỡi rồi chấm dứt chỉ vì một lí do mang tính kĩ thuật: John Mabey không nói được tiếng Nga. Trong khi đó thì tiếng Anh của D. Polyakov đã bị mai một nhiều kể từ khi rời nước Mỹ. Vì vậy, trong các cuộc tiếp xúc giữa hai người không thể thảo luận về những vấn đề chuyên môn sâu như các hệ thống vũ khí phức tạp của quân đội Xô viết. FBI miễn cưỡng chuyển giao lại D. Polyakov cho CIA. Chịu trách nhiệm thay thế John Mabey làm việc với D. Polyakov là điệp viên CIA có biệt danh Jim F, một thành viên của Ban Liên Xô - Đông Âu rất thạo tiếng Nga.

Trước đấy, D. Polyakov đã cung cấp cho FBI những tin tức tuyệt hảo về các chiến dịch của GRU tại Mỹ. Ở Miến Điện, với cấp bậc đại tá, Trưởng phái bộ GRU D. Polyakov tiếp tục cung cấp cho phía Mỹ tài liệu tuyệt mật về các kế hoạch quân sự, danh tính các điệp viên GRU, chi tiết các chiến dịch do GRU thực hiện trên khắp thế giới, bí mật về chính sách ngoại giao cũng như mang tính chiến lược của Liên Xô...

Tháng 8-1969, D. Polyakov được gọi về Moscow và bổ nhiệm vào chức vụ Trưởng Ban Trung Quốc, chịu trách nhiệm về toàn bộ các chiến dịch của GRU trên lãnh thổ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ở cương vị này, D. Polyakov đã chuyển cho phía Mỹ những tài liệu chứng minh sự tồn tại của mối bất hòa thường xuyên giữa Moscow và Bắc Kinh trong những năm 60. Chính những thông tin này đã là cơ sở làm nên chính sách khai thông quan hệ với Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon và Bộ trưởng Ngoại giao Henry Kissinger, là tiền đề để Tổng thống R. Nixon thực hiện chuyến thăm lịch sử tới Bắc Kinh năm 1972. Những thông tin khác của D. Polyakov cho thấy trong suốt thời kì đầy căng thẳng đầu những năm 80, khi chính quyền Mỹ bắt đầu đẩy mạnh chương trình chiến tranh giữa các vì sao, các nhà hoạch định quân sự Xô viết đã xác định rằng một đòn tiến công hạt nhân sẽ không mang lại chiến thắng cuối cùng cho bất cứ bên nào.

Với những thông tin đặc biệt tuồn cho Mỹ, có thể nói D. Polyakov đã góp phần thay đổi tiến trình lịch sử.

Từ đầu năm 1972, D. Polyakov lại bất ngờ “im lặng” suốt trong một thời kì dài, không có bất kì liên lạc nào qua hộp thư chết ở Moscow. Đến tháng 6-1972, D. Polyakov có tiếp xúc ngắn ngủi với điệp viên CIA trong một buổi tiếp tân ở Moscow. Trong cuộc tiếp xúc này, D. Polyakov thông báo cho CIA biết có thể sẽ được cử đi trong phái bộ tùy viên quân sự của Liên Xô tại miền Bắc Việt Nam vào khoảng cuối năm 1973, đầu 1974.

Tuy nhiên, D. Polyakov không được cử đi Hà Nội mà thay vào đó, lại tới New Delhi trong một nhiệm kì kéo dài hai năm, nơi ông ta được phong hàm thiếu tướng GRU. Chịu trách nhiệm làm việc với D. Polyakov ở thủ đô Ấn Độ là điệp viên CIA mang bí danh Paul D, cũng là một người có kĩ năng nói tiếng Nga hoàn hảo.

Để đảm bảo an toàn cho mình, D. Polyakov hoàn toàn được tự do lựa chọn phương thức cũng như thời gian để tiếp xúc với điệp viên CIA. Trong thời kì đầu tiên ở Ấn Độ, D. Polyakov đã chuyển giao cho CIA các số tạp chí Tư tưởng quân sự, một ấn bản tuyệt mật ra hằng tháng của Bộ Tổng tham mưu quân đội Liên Xô, trong đó chứa đựng rất nhiều thông tin bí mật về chiến lược cũng như các phương hướng trong học thuyết quân sự Xô viết.

Trong suốt những năm cộng tác với D. Polyakov, CIA trả cho điệp viên nhị trùng quý giá của mình số tiền không quá 1.000 USD một năm. Những món quà đắt giá nhất mà D. Polyakov yêu cầu CIA cung cấp chỉ là các thiết bị phục vụ cho đam mê săn bắn, câu cá và sửa đồ gỗ, những món đồ ông ta không thể mua được ở Moscow.

Tháng 8-1976, D. Polyakov rời New Delhi, quay về Moscow. Trước khi quay về, D. Polyakov được CIA cung cấp một thiết bị tên là Unique. Đây là máy phát xung điện xách tay nhỏ gọn do bộ phận kĩ thuật của CIA chế tạo riêng cho D. Polyakov, có khả năng mã hóa và chuyển đi một lượng thông tin khổng lồ. D. Polyakov chỉ cần lái xe đi ngang một trạm thu tín hiệu của CIA và bấm máy là toàn bộ thông tin mã hóa được chuyển đi chỉ trong vòng 2,6 giây.

Trong hơn hai năm, liên lạc giữa D. Polyakov với CIA ở Moscow tiếp tục được thực hiện qua Unique. Năm 1978, D. Polyakov thông báo cho CIA biết là mình sẽ một lần nữa được cử đi New Delhi, có thể là chuyến công tác nước ngoài cuối cùng trước khi nghỉ hưu.

Ở New Delhi, tiếp xúc trực tiếp giữa CIA với D. Polyakov dễ dàng được nối lại và viên tướng GRU tiếp tục tuồn thông tin cho phía Mỹ. Đến tháng 5-1980, D. Polyakov thông báo cho điệp viên CIA liên lạc biết là mình được gọi về Moscow để tham dự một cuộc gặp của các tùy viên quân sự ở nước ngoài. Kể từ đó, không thấy D. Polyakov xuất hiện nữa cũng như không có bất kì một thông tin nào từ phía viên tướng GRU.

Sau này, CIA mới biết được rằng đặc vụ FBI Robert Hanssen, năm 1979 đã tiếp xúc với Cơ quan Hợp tác thương mại Xô - Mỹ Amtorg, bình phong của GRU, ở New York, thông báo rằng một quan chức cấp cao của Liên Xô đã phản bội, làm việc cho tình báo Mỹ trong nhiều năm trời. Thông tin này khiến phản gián Liên Xô triệu hồi D. Polyakov từ Ấn Độ về để điều tra. Tuy nhiên, cấp bậc cao trong GRU cộng với kinh nghiệm nhiều năm hoạt động nhị trùng đã giúp cho D. Polyakov vượt qua được các vụ thẩm vấn mà không gây nên sự nghi ngờ. Không có bằng chứng đủ mạnh nên phản gián Xô viết đành để D. Polyakov hạ cánh an toàn, về nghỉ hưu. Vụ điều tra được khép lại.

Với những thông tin của Rick Ames cung cấp cho KGB năm 1985, phản gián Xô viết moi lại vụ điều tra cũ và có đầy đủ bằng chứng kết tội D. Polyakov làm gián điệp cho Mỹ. Ngày 4-7-1986, khi đang ở nhà nghỉ ngoại ô, viên tướng GRU về hưu nhận được giấy mời tới trụ sở GRU để tham dự một buổi lễ của các điệp viên GRU đã nghỉ hưu. Với kinh nghiệm hoạt động lâu năm, không phải D. Polyakov không nhận thấy mình đang bị KGB giám sát chặt chẽ khi phát hiện ra hai chiếc xe cứu thương đậu chình ình ở gần nhà mình mà không chịu rời đi. Ngày 7-7-1986, với huân huy chương đeo đầy trên ngực, D. Polyakov tới trụ sở GRU và bị bắt ngay ở lối vào. Với những thông tin do Rick cung cấp, viên tướng phản bội chẳng có cơ may nào để sống sót. Gần hai năm sau, ngày 15-3-1988, D. Polyakov bị xử tử. Một trong hai con trai của D. Polyakov, khi ấy cũng là nhân viên GRU, đã tự sát ngay sau đó.

+++++

Rick cũng báo cho KGB biết về một nguồn tin khác do FBI tuyển mộ, một trung tá có tên là Boris Yuzhin. FBI đặt bí danh cho B. Yuzhin là Kahlua, còn bí danh do CIA đặt là Twine, hoạt động ở Mỹ dưới vỏ bọc một phóng viên làm việc cho hãng thông tấn Liên Xô TASS. Người này do văn phòng FBI San Francisco tuyển mộ năm 1976. Anh ta đã cung cấp cho FBI những thông tin hết sức chi tiết về các chiến dịch do KGB tiến hành ở địa bàn bờ biển phía đông nước Mỹ, đồng thời cũng giúp FBI phát hiện được một điệp viên then chốt của KGB đang hoạt động trong Bộ Ngoại giao Na Uy.

Năm 1983, B. Yuzhin quay về Moscow trong một chuyến tập huấn thường kì. Với cấp bậc trung tá, anh ta vẫn còn phải tham gia các khóa huấn luyện ở quê nhà. B. Yuzhin từ chối làm bất cứ một công việc nào cho CIA trong thời gian quay về Liên Xô. Điều đó quá mạo hiểm, anh ta nói. Trong một thời gian dài, không ai nghe nói gì về anh ta nữa. Rồi ngày 23-12-1986, anh ta bị cùm, biệt giam và xử tội phản bội, nhận án mười lăm năm tù tại một trại lao động cải tạo. B. Yuzhin không biết rằng trong suốt hơn một năm trời ở Moscow, anh ta đã bị đặt dưới sự giám sát chặt chẽ.

Bản năng sát thủ của Rick như được bứt tung, thoát khỏi mọi sự kìm hãm, không thể dừng lại được nữa.

Rick đã chuyển cho KGB danh tính của một sĩ quan KGB tại Moscow được CIA đặt cho mật danh là Cowl - Mũ trùm thầy tu. Chính Cowl là người đã tiết lộ bí mật vô cùng trọng yếu của KGB, về một loại bột hóa học gần như vô hình. Loại bột này được rắc lên tay nắm cửa, bàn ghế hay vô lăng ô tô và sẽ phát sáng khi được chiếu dưới một ánh sáng đặc biệt mà nhờ vậy, người ta sẽ phát hiện được dấu tay của những người đã từng đặt lên đó. Tiết lộ này được chính quyền của Tổng thống R. Reagan tận dụng triệt để, rêu rao trước công luận là phía Xô viết đã sử dụng loại “bụi gián điệp” gây tác hại lên sức khỏe con người.

Một ngày kia, Cowl đột nhiên biến mất. Rất lâu sau này, CIA mới biết được rằng Cowl bị bắt giữ và kết án tử.

Số phận những điệp viên khác mà Rick chuyển giao cho KGB cũng nhanh chóng đi tới hồi kết. Trong số này, Rick đã tìm cách phát hiện được một sĩ quan hành động của GRU tại Trạm Bồ Đào Nha, Đại tá Gennady Smetanin, bí danh Million, làm việc cho CIA từ cuối năm 1983. Thật ra cả hai vợ chồng G. Smetanin đều cộng tác với CIA để đổi lấy những khoản tiền lớn. Mùa hè năm 1985, hai vợ chồng quay về Liên Xô trong một chuyến đi thường kì và không bao giờ quay lại nữa. G. Smetanin bị tử hình, trong khi vợ bị kết án năm năm tù.

Một điệp viên KGB hoạt động cho CIA ở Tây Đức dưới mật danh Fitness, chính là Trung tá Gennady Varennik, làm việc tại sứ quán Liên Xô ở Bonn. Tháng 3-1985, G. Varennik bắt đầu cộng tác với CIA và chuyển giao những tài liệu tối mật liên quan đến dự án “mini bom” đang được KGB triển khai, nhằm vào các quán rượu, tiệm ăn ở Tây Đức, nơi các quân nhân Mỹ thường lui tới, rồi đổ trách nhiệm cho các tổ chức khủng bố. Tuy vậy, CIA nghi ngờ tính xác thực của những thông tin này, bởi không chắc KGB có thể tiến hành chiến dịch có tính rủi ro cao về chính trị như vậy trên lãnh thổ một nước NATO. Chỉ ít tháng sau khi bắt đầu làm việc với CIA, G. Varennik bị Rick phát giác. Trong một chuyến đi tới Đông Berlin vào tháng 11-1985, anh ta biến mất. Cũng như nhiều người khác, điệp viên mới tuyển này của CIA lĩnh án tử hình.

Trung tá KGB Vladimir Piguzov, bí danh Jogger, hoạt động trong lĩnh vực tình báo chính trị tại Jakarta, Indonesia, bị bắt giữ tháng 2-1987 do thông tin Rick chuyển giao năm 1985 rồi bị tử hình.

Một sĩ quan khác của GRU do CIA tuyển mộ đang hoạt động tại Athens, Hy Lạp, là Đại tá Sergei Bokhan, bí danh ban đầu là Worth, sau đổi thành Blizzard, cũng bị Rick tiết lộ cho KGB. Nhận được một điện tín của người anh trai từ Moscow vào cuối tháng 5-1985 là cần quay về nước để bàn bạc về tương lai của cậu con trai đang theo học tại một học viện quân sự, S. Bokhan báo cho CIA biết. Cả Trưởng Ban Liên Xô - Đông Âu Burton Gerber và Trưởng Trạm CIA tại Athens David Forden đều cảm thấy có điều gì đó bất thường trong lời nhắn của ông anh trai này. CIA bố trí cho S. Bokhan đào thoát từ Hy Lạp sang Mỹ, may mắn thoát khỏi án tử chờ đợi anh ta ở quê nhà.

Rick đã vượt quá xa khỏi địa hạt mình phụ trách khi cung cấp cho KGB danh tính một điệp viên nhị trùng của CIA đang hoạt dộng trên địa bàn châu Phi. Đó là Trung tá KGB Leonid Poleshchuk, được CIA tuyển mộ tại Kathmandu, Nepal năm 1974. Ban đầu, CIA đặt bí danh cho anh ta là Ckrun, sau đổi thành Weigh. Tháng 7-1985, đang hoạt động ở thủ đô Lagos của Nigeria, L. Poleshchuk cùng gia đình quay về Liên Xô cho một kì nghỉ hè và dự định sẽ quay lại Lagos vào tháng 9. Anh ta không bao giờ quay lại nữa. Cũng như những người khác, số phận của Weigh kết thúc một cách bi thảm. Bị kết tội làm gián điệp tại một phiên tòa vào ngày 12-6- 1986, anh ta nhận một viên đạn vào đầu ngày 30-7-1986.

Rick cũng cung cấp cho KGB tên của Adolf Tolkachev, mật danh ban đầu là Cksphere, sau đổi thành Vanquish, một chuyên gia quân sự Xô viết, người từ năm 1979 bắt đầu chuyển giao cho CIA những thông tin mật hết sức quý giá trong các lĩnh vực khá đặc biệt như điện tử hàng không và những phát kiến mới nhất về loại tàu ngầm “tàng hình”. Trong sáu năm trời, A. Tolkachev đã âm thầm hoạt động gián điệp cho Mỹ, không hề tiết lộ cuộc sống hai mặt của mình với bất cứ ai, kể cả vợ và con trai. Theo đánh giá của CIA, những thông tin mà Cksphere chuyển giao trị giá lên đến hàng tỉ đô la.

Tuy vậy, Rick không phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc Cksphere bị KGB phát giác. Edward Lee Howard, nhân viên hành động của CIA, người năm 1983 bị cơ quan này sa thải do mắc chứng nghiện rượu và lạm dụng ma túy, đã phát giác ông ta từ trước đó. E. Howard quá biết về A. Tolkachev bởi trong quá trình đào tạo để chuẩn bị tung sang hoạt động tại trạm CIA ở Moscow, E. Howard được giao nhiệm vụ sẽ điều khiển A. Tolkachev!

KGB đã sử dụng đơn vị đặc biệt tinh nhuệ Alpha của mình để bắt giữ A. Tolkachev. Một ngày chủ nhật tháng 4-1985, trên đường từ nhà nghỉ ngoại ô Moscow trở về thành phố, chiếc xe của A. Tolkachev bị một thành viên của Alpha đóng giả cảnh sát giao thông chặn lại rồi hướng dẫn tới gần một chiếc xe tải đỗ gần đó. Khi xe của A. Tolkachev vừa dừng lại cạnh chiếc xe tải, nhóm binh sĩ đặc nhiệm Alpha từ trong thùng xe tải bung ra khống chế nhà chuyên gia quân sự, còng tay và tước sạch mọi vật dụng có thể giúp ông ta tự tử, rồi đưa về nhà tù Lefortovo.

Trong khi A. Tolkachev đang vật lộn với những lời buộc tội mình thì phát giác sau đó của Rick chính là phát đạn ân huệ cuối cùng dẫn tới cái chết chắc chắn của ông ta.

Cũng chung số phận tương tự với Adolf Tolkachev là Đại tá GRU Vladimir Vasilyev, Tùy viên quân sự Liên Xô tại Hungary. Năm 1982, V. Vasilyev tình nguyện làm việc cho tình báo quân sự Mỹ ở Budapest trước khi được chuyển giao cho CIA với bí danh Accord. Chính V. Vasilyev là người đã cung cấp thông tin giúp phía Mỹ bắt được Trung sĩ Clyde Conrad, làm việc trong lực lượng quân đội Mỹ ở Tây Đức, người đã tiết lộ cho tình báo Hungary toàn bộ những tài liệu mật về hệ thống bố phòng của quân đội các nước Tây Âu. Vào khoảng cuối năm 1984, V. Vasilyev bị E. Howard tiết lộ trước cho KGB, rằng có một cơ sở của CIA tại Budapest mang bí danh là Đại tá Giận dữ. Ở đây, E. Howard đã nhầm khi cho rằng V. Vasilyev là một đại tá KGB, trong khi thực chất anh ta là đại tá GRU. Bởi thế nên KGB đã mất thời gian khi hướng mục tiêu vào tất cả các nhân viên của mình mang cấp hàm đại tá tại Budapest. Trong khi quá trình điều tra của KGB đang diễn ra thì thông tin do Rick cung cấp là chiếc đinh cuối cùng đóng lên cỗ quan tài của Accord. Tháng 6-1986, V. Vasilyev bị bắt rồi sau đó chịu án tử hình.

Một trong những nạn nhân may mắn của Rick là Oleg Gordievsky. Trong gần một thập kỉ, là sĩ quan địa bàn của KGB ở London, O. Gordievsky đã chuyển giao vô số thông tin mật cho tình báo Anh. Trong khi tình báo Anh bảo mật rất tốt nguồn tin, không bao giờ để lộ ra danh tính của O. Gordievsky thì do MI6 bí mật thông báo cho CIA về nguồn tin quý giá của mình trong KGB, anh ta bị Rick phát giác ở Langley. Đây là một trong hai cái tên mà Rick đã cung cấp cho KGB ngay trong lần gặp đầu tiên ngày 16-4-1985. Một tháng sau, KGB triệu hồi O. Gordievsky về Moscow với lí do cần bàn việc thăng chức cho anh ta làm điệp viên phụ trách địa bàn London. Ở Moscow, O. Gordievsky bị cho uống thuốc “nói sự thật” nhưng những viên thuốc tình báo Anh cung cấp mà anh ta uống mỗi buổi sáng đã giúp cho tay điệp viên nhị trùng này vượt qua được các cuộc thẩm vấn ngặt nghèo của KGB. Ngày 19-7-1985, trong một cuộc giải cứu đầy kịch tính do người Anh tổ chức, O. Gordievsky nấp trong ngăn bí mật của xe ô tô do điệp viên MI6 cầm lái và vượt qua biên giới Phần Lan trót lọt, thoát khỏi tử địa. Ngay khi vừa chui ra từ chỗ nấp trong ô tô, O. Gordievsky nói với các nhân viên tình báo Anh đón mình: “Tôi đã bị phản bội!” Trong một thời gian dài, MI6 không tài nào xác minh được nguyên nhân điệp viên của mình bị lộ là do đâu. Cả MI6 lẫn O. Gordievsky đều không thể ngờ được rằng nguồn tin tiết lộ thân phận của anh ta lại ở rất xa, từ Langley!

Danh sách các điệp viên cũng như những tài liệu chi tiết liên quan đến khoảng hai mươi chiến dịch tối mật của CIA trên toàn thế giới, cả đang tiến hành cũng như mới ở dạng kế hoạch phác thảo, được Rick gói lại và cho vào trong một cái túi chất dẻo lớn màu đen có dán băng keo. Ngày 13-6-1985, trong một bữa ăn trưa thảo luận về những triển vọng khác nhau của quá trình kiểm soát vũ khí, Rick chuyển cái túi cho Sam - S. Chuvakhin.

+++++

Tháng 6-1985, Rick và Nancy thỏa thuận xong việc phân chia tài sản. Vụ li hôn khiến cho tình trạng tài chính của Rick đi tới chỗ kiệt quệ. Vào lúc ấy, mỗi người trong số họ đều phải lo trả những khoản nợ của riêng mình. Lương của Rick do CIA trả khi đó gần được 60.000 USD. Đối với Rick, điều bất tiện nhất trong thỏa thuận phân chia tài sản với Nancy là cô ta được quyền sở hữu căn nhà ở Reston cùng với khoản tiền phải trả chậm vào lúc đó là 37.000 USD. Cũng ngay lập tức, Rick phải trợ cấp cho cô ta một khoản tiền hằng tháng. Ngoài ra, theo luật của bang New York, cô ta còn được thừa hưởng khoảng một phần tư khoản lương hưu sau này của Rick nữa.

Đến tháng 7-1985, Rick nhận được từ Sam thêm 50.000 USD - vẫn bằng loại tiền 100 USD dùng rồi. Giờ đây, Rick đã quen nghĩ về S. Chuvakhin dưới cái biệt danh Sam. Rick lập tức mở một tài khoản tiết kiệm ở ngân hàng. Đến cuối tháng 7, vụ li hôn được giải quyết xong. Đám cưới với M. Rosario được dự trù tổ chức vào ngày 10-8-1985.

Thốt nhiên, ngày 1-8-1985, một điệp viên KGB đào thoát, có lẽ là người đào thoát có cấp hàm lớn nhất cho tới lúc đó, bằng cách chạy vào sứ quán Mỹ ở Rome. Ông ta là Vitaly Yurchenko, một đại tá và đang sắp sửa được phong hàm tướng trong KGB, người chịu trách nhiệm về tất cả các chiến dịch của KGB trên địa bàn Bắc Mỹ. Rick, dưới cái tên giả Art, là một trong hai người được Ban Liên Xô - Đông Âu giao nhiệm vụ giám sát viên đại tá KGB đào thoát. Trong quá trình giám sát, Rick thở phào nhẹ nhõm vì xác định được chắc chắn rằng V. Yurchenko không có thông tin nào về hành động của mình. Ngày 10-8-1985, Rick tổ chức đám cưới với M. Rosario.

Chỉ năm tuần lễ sau khi được cử vào nhóm giám sát V. Yurchenko, Rick đã lại được điều chuyển khỏi nhóm này. Rick sắp được cử sang công tác tại Trạm CIA ở Rome, bởi vậy, phải dứt ra khỏi công việc một thời gian để đi học tiếng Ý.

Khoảng giữa tháng 10-1985, Rick có một cuộc gặp với Sam. Rick trao cho Sam một túi dày, trong có chứa cả xấp tài liệu chi tiết về các chiến dịch mật cũng như phản gián của CIA.

Đổi lại, Rick tiếp tục nhận được 50.000 USD tiền mặt. Ngoài ra, còn có một mẩu giấy nhỏ. Những gì đọc được khiến Rick cảm thấy hết sức phấn khích. Một khoản tiền trị giá 2 triệu USD sẽ được đều đặn rót vào trong một tài khoản do KGB mở riêng cho Rick. Số tiền này sẽ không bao gồm những khoản mà Rick đã nhận tính cho tới lúc đó. Giá trị của Rick đã được thừa nhận qua những con số!

Trước đó, Rick thông báo cho Sam biết mình đang học tiếng Ý và sẽ rời khỏi Langley để tới làm việc ở Rome. Rick nhận được một mẩu giấy có những chỉ dẫn cụ thể. Cùng với vợ, Rick phải tới Bogotá vào thời gian trước lễ Giáng sinh năm 1985 để tham gia một cuộc gặp mặt quan trọng ở đó. Cái cớ để thực hiện chuyến đi là cho M. Rosario về nghỉ với mẹ ở Colombia. Để cho có vẻ hoàn toàn là một kì nghỉ gia đình, Rick cũng đưa mẹ mình, đang sống ở Hickory, bang North Carolina, đi cùng.

Vào quãng đầu giờ tối ngày 23-12-1985, Rick đứng trước một rạp chiếu phim ở Bogotá. Theo chỉ dẫn, Rick cầm trong tay một tờ tạp chí Time.

Một người đàn ông tới trước mặt Rick và nói:

- Xin lỗi, hình như chúng ta đã gặp nhau ở Paris phải không?

- Không, tôi nghĩ là ở London. - Rick trả lời theo đúng kịch bản.

Người đàn ông đưa Rick tới một chiếc xe đã chờ sẵn. Mật danh của người đàn ông này là Vlad, chịu trách nhiệm chính điều khiển Rick từ Trung tâm KGB ở Moscow.

Rick được đưa tới sứ quán Liên Xô ở Bogotá. Khi đã vào bên trong rồi, Vlad dẫn Rick vào trong một thư phòng, lấy chai vodka ra khỏi thùng ướp đá, rót ra hai cốc, đưa cho Rick một cốc rồi vừa mỉm cười vẻ thân thiện vừa nâng cốc của mình lên, nói:

- Nào, vì tình bạn của chúng ta. Na zdorovie, chúc sức khỏe!

Vlad đưa cho Rick một phong bì trong có 40.000 USD, vẫn bằng loại tiền 100 USD cũ đã dùng rồi.

- Chúng tôi đánh giá rất cao công việc của ông. - Vlad nói.

Rick nói rằng vì mình đang phải theo học lớp tiếng Ý nên thời gian đó sẽ khó có thể cung cấp được nhiều tin tức như trước. Vlad trả lời rằng không có vấn đề gì. KGB có thể chờ được.

Vlad nói rằng KGB đặt mật danh cho Rick là Kolokol. Đó là tên quả chuông đặc biệt trong một cái tháp ở Moscow, hồi thế kỉ 17 thường rung lên báo động mỗi khi các đạo quân Mông cổ của Thành Cát Tư Hãn xâm phạm bờ cõi. Trong các bức thông điệp mật của mình, Rick chỉ cần kí tên K là đủ.

Vlad cũng nói rằng Rick sẽ tiếp tục gặp Sam ở Washington trong trường hợp ông ta vẫn ở lại đó. Còn khi chuyển tới công tác tại Rome, ở đó sẽ có người liên lạc mới, một nhân viên ngoại giao của sứ quán Liên Xô tên là Aleksey Khrenkov - Sam II. Rick không cần phải bắt liên lạc với anh ta. Tự A. Khrenkov sẽ biết cách để giới thiệu mình với Rick. Quy trình cũng giống như diễn ra ở Washington. Rick có thể chuyển giao cho Sam II bất cứ tài liệu nào mà không cần phải thảo luận trước về nội dung. Sam II sẽ chuyển lại cho Rick những phong bì tiền.

Tháng 3-1986, Rick nhận được thêm 30.000 USD tiền mặt nữa từ Sam.

Trước khi rời Washington đi nhận công tác tại Trạm CIA ở Rome, Rick phải chịu một cuộc kiểm tra trên máy phát hiện nói dối, lần kiểm tra đầu tiên trong vòng mười năm trời. Hồi ở Bogotá, Rick đã từng hỏi Vlad là liệu KGB có loại thuốc đặc hiệu nào để giúp vượt qua được các kì kiểm tra trên máy phát hiện nói dối hay không. Vlad nói rằng không có loại thuốc nào như thế, nhưng đừng lo lắng gì cả. Bí quyết chủ yếu để qua mặt máy phát hiện nói dối, anh ta nói, là đêm trước đó có một giấc ngủ ngon và giữ cho tinh thần hoàn toàn thư giãn, thoải mái. Cố gắng thiết lập một mối liên hệ thân thiện với người điều khiển máy. Thế thôi.

Rick cố gắng tuân theo chỉ dẫn của người nhân viên tình báo Liên Xô và vượt qua được kì kiểm tra.

Khoảng một tháng sau khi tới Rome, Rick tham dự một buổi tiếp tân ngoại giao. Khi Rick đang nhấm nháp li Scotch và quan sát đám đông thì một người đàn ông tiến lại gần. “Xin chào”, anh ta nói, “tên tôi là Khrenkov. Tôi đã từng nghe nói nhiều về ông. Chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau”.

Đó là Sam II.

+++++

Ở Rome, trong khi khó có điều kiện tiếp cận được với những nguồn tin thuộc diện nhạy cảm như hồi còn ở Langley, Rick lại có thể mở rộng phạm vi thu thập tin một cách tổng hợp, bao gồm không chỉ số lượng lớn các tin tức tài liệu của CIA mà còn cả các điện mật của Bộ Ngoại giao cũng như Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ NSA. Nói tóm lại là tất cả những thông tin mật được truyền qua trạm Rome.

Giống như vai trò của thành phố Vienna đối với tình báo Xô viết, Rome cũng là một nơi lí tưởng để CIA cũng như tình báo quân sự Mỹ gặp gỡ các điệp viên trở về từ các quốc gia phía bên kia Bức Màn sắt như Ba Lan, Hungary, Bulgaria, Tiệp Khắc và Albania.

Ngay cho dù không có mặt tại những buổi gặp gỡ này nhưng với cương vị mới là Trưởng Phân ban phụ trách “các mục tiêu trên lãnh thổ kẻ thù” - chủ yếu để chỉ tình báo Xô viết - tại trạm Rome, Rick biết rõ tất cả những ai tham dự các cuộc gặp gỡ đó. Rick là người thường xuyên bố trí những ngôi nhà an toàn mà CIA tổ chức gặp gỡ với các điệp viên và do vậy, có thể báo cho KGB biết vị trí chính xác của các ngôi nhà này để KGB tổ chức giám sát, chụp ảnh những người tới đó. Rick cũng biết rõ ai trong CIA chịu trách nhiệm về điệp viên nào hoạt động trên vùng đất đối phương, những vấn đề chính sẽ được thảo luận trong các buổi gặp gỡ.

Trong trường hợp không biết rõ danh tính nguồn tin, Rick có thể biết được mật danh cũng như các đặc điểm chính, giúp KGB dễ dàng nhận dạng được những người này.

Cũng tương tự như đối với trường hợp Sergei Chuvakhin ở Washington, Rick báo cho Alan Wolfe, Trưởng trạm CIA ở Rome, là mình có khả năng móc nối được một nguồn tin tiềm năng đang làm việc cho Bộ Ngoại giao Liên Xô ở Rome, tên là Aleksey Khrenkov, chính là Sam II. Điều này cho phép Rick có thể công khai gặp Sam II mà không gây nên sự nghi ngờ nào.

Lần đầu tiên Rick trao túi tài liệu cho Sam II là vào tháng 10-1986, trong một buổi hai người cùng nhau ăn trưa, và nhận lại được 50.000 USD tiền mặt, một nửa bằng đô la Mỹ, một nửa bằng đồng lira của Ý. Tiền Ý để dùng chi tiêu hằng ngày, trả tiền công cho người hầu gái mà M. Rosario thuê, cho những cuộc điện thoại đường dài mà cô ta gọi cho bà mẹ ở Bogotá. Rick càng ngày càng cần tiền. Bất chấp việc Rick đã nhận được cả thảy 200.000 USD thấm máu, M. Rosario không hề ngần ngại trong việc làm vơi đi một cách nhanh chóng số tiền mà chồng mình kiếm được.

Tháng 3-1987, Vlad, người chịu trách nhiệm điều khiển Rick tại Trung tâm ở Moscow, tới Rome, mang đến một số tin mừng. Một khoản tiền trị giá 2 triệu USD đã được dành cho Rick. Hằng năm, Rick sẽ nhận được 300.000 USD và Vlad đưa ngay cho Rick 100.000 USD. Vlad thông báo rằng 250.000 USD đã được dùng để đầu tư mua cổ phiếu dưới tên của Rick, số còn lại gửi vào quỹ tiết kiệm thông thường. Vlad không nói khoản tiền đó gửi vào đâu và Rick cũng không hỏi. Vlad cảnh cáo rằng việc chi tiêu một cách bất thường có thể dẫn tới thảm họa và khuyên Rick nên mở một tài khoản ở ngân hàng Thụy Sĩ. Vlad gợi ý sử dụng ngân hàng tín dụng Credit Suisse lớn nhất của Thụy Sĩ, mỗi năm lưu chuyển những khoản tiền rất lớn trên thị trường quốc tế.

Vlad cũng biết rằng vào thời gian đó, trong CIA đã lan truyền những mối nghi ngại về hiện tượng tăng nhanh một cách bất thường, nếu không nói là quá đột ngột, các chiến dịch bị Liên Xô phá vỡ. Vlad trấn an Rick rằng KGB sẽ tiến hành một số đòn nghi binh đánh lạc hướng CIA. Một trong số các biện pháp đó sẽ là tập trung mọi đầu mối vào Edward Lee Howard, người đã bị CIA sa thải trước khi cử sang hoạt động ở Moscow.

Rồi Vlad thúc giục Rick tiếp tục phát hiện những hoạt động xâm nhập chống Liên Xô khác của CIA, cả trong quá khứ và hiện tại, đặc biệt là những điệp vụ lớn.

Đó chính là lúc Rick quyết định sẽ tiết lộ về Sergei Fedorenko, một trong hai thành viên phái đoàn Liên Xô ở Liên Hợp Quốc mà Rick từng có dịp điều khiển trong thời gian ở New York trước khi được cử đi công tác tại Mexico City. Rick không muốn làm việc này nhưng không thể từ bỏ 100.000 USD vừa mới nhận cũng như khoản còn lại trong số 300.000 USD sẽ nhận được trong năm. Khi ấy, S. Fedorenko đã quay về Liên Xô sau khi kết thúc nhiệm kì tại New York.

Rick tiết lộ cho Vlad mật danh CIA đặt cho S. Fedorenko là Pyrrhic, còn tên giả của Rick mà S. Fedorenko biết trong thời gian Rick làm việc với ông ta là Richard Altman. Điều này rất quan trọng. Trong cuộc thẩm vấn một kẻ bị tình nghi, không có gì khiến cho anh ta suy sụp nhanh hơn bằng cách ném ra những câu hỏi, đại loại như: “Nào, hãy nói cho chúng tôi biết cuộc gặp đầu tiên với Richard Altman đã diễn ra khi nào?”.

Cũng ở Rome, Rick bắt đầu khéo léo dàn dựng câu chuyện để giải thích cho sự ăn tiêu hoang phí của M. Rosario - những bộ quần áo và nữ trang đắt tiền như nhẫn kim cương, vòng ngọc, xuyến mà cô ta thường đeo trong các buổi gặp mặt, tiếp tân. Cả những hóa đơn điện thoại gọi về Bogotá lên tới 5.000 USD hằng tháng mà người ta gửi tới văn phòng của Rick nữa. Có ít nhất hai lần, với sự có mặt của nhân viên sứ quán và Trạm CIA, Rick đã nói về khoản thừa kế tài sản mà Rick tình cờ nhận được từ gia đình nhà vợ ở Colombia. Trong một bữa ăn tối có mặt M. Rosario, Rick tán tụng ầm ĩ về dịp may đến với mình. Chỉ sang vợ, Rick nói: “Tôi cho rằng tôi đã cưới một người phụ nữ tuyệt diệu, thông minh và cùng với cô ấy, tôi cũng kết hôn với một khoản tiền lớn”. Như để sửa lỗi cho Rick vì tỏ ra quá thô thiển trong một buổi tiệc đầm ấm như thế, M. Rosario quay sang quở trách: “Rick, anh yêu. Anh đừng có uống quá nhiều như thế!”

Để bảo đảm sẽ không xảy ra bất cứ một thắc mắc hay nghi ngờ nào khác, Rick cũng bắt đầu tiến hành một biện pháp “rửa tiền” khá thô sơ là nhờ mẹ của M. Rosario, bà Cecilia, mở một tài khoản dưới tên bà này rồi gửi vào đó những khoản tiền mà Rick nhận được từ các tình báo viên Xô viết, sau đó mới chuyển sang những chỗ khác.

Rick chuyển cho Sam II một túi đầy những bức điện mật, tên của các điệp viên nhị trùng - khoảng năm mươi người - tất cả đều nằm dưới sự kiểm soát và điều khiển của Cục Tình báo Hải quân, Cục Điều tra đặc biệt của Không quân Mỹ và Bộ chỉ huy Tình báo Quân đội Mỹ. Khi những cơ quan này tiến hành điều khiển các điệp viên ở bên ngoài lãnh thổ Mỹ thì CIA phải được phép biết các thông tin về họ. Ở Rome, Rick còn giữ vai trò là sĩ quan liên lạc giữa CIA với bên tình báo quân đội, cho nên nắm bắt được hầu hết tư liệu về các chiến dịch mật diễn ra ở Tây Âu.

Đổi lại, Rick tiếp tục nhận được tiền, trung bình khoảng 30.000 USD một tháng, trong đó có một phần bằng đồng lira. Tháng 7-1987, Rick lại được trả công một số lượng tiền lớn bằng đồng mác Đức. Như thường lệ, mỗi khi tiền được tập kết về ngăn kéo an toàn trong văn phòng, Rick gửi nó vào tài khoản đứng tên bà mẹ vợ ở ngân hàng Credit Suisse.

Tháng 12-1987, Vlad lại xuất hiện ở Rome. Rick luôn dành cho người nhân viên KGB điều khiển mình một món quà gì đó đặc biệt. Lần này, đó là một nhân viên tình báo Bulgaria. Người này đã tự nguyện cộng tác với tình báo Mỹ. Không may cho anh ta là lại chọn đúng Rick làm đối tượng tiếp xúc. Trong buổi tiếp xúc đầu tiên, người này rất căng thẳng bởi cuộc gặp được tổ chức tại Rome. Do vậy, cuộc gặp kế tiếp được ấn định sẽ diễn ra tại Athens.

Trong sự ngạc nhiên của tất cả mọi người - ngoại trừ Rick - anh ta đã không tới cuộc hẹn thứ hai và cũng không bao giờ còn xuất hiện trở lại nữa.

Tại ngân hàng Credit Suisse, Rick còn mở một tài khoản tập thể dưới cái tên Robecco, một biến thể khác của chữ Robert. Một lần, Rick hỏi Vlad là liệu có thể chuyển một triệu USD trong số tiền dành cho mình vào tài khoản này nhằm mục đích đầu tư hay không. Vlad nói để anh ta xem, nhưng không nghĩ rằng điều đó có thể thực hiện được. Đó là lần duy nhất một đề nghị của Rick bị từ chối.

Trong khoảng thời gian một năm rưỡi đầu tiên ở Ý, Rick và M. Rosario cảm thấy cuộc sống của họ là một chuỗi những khám phá liên tục, thậm chí còn đượm màu sắc lãng mạn. Nhưng rồi dần dần, quan hệ giữa hai người đã xoay chuyển theo chiều hướng xấu.

Những mối căng thẳng thường xuyên bắt đầu tác động lên Rick. Việc bán đứng S. Fedorenko hóa ra lại khiến cho Rick cảm thấy nặng nề nhiều hơn là Rick tưởng. Kỉ niệm về S. Fedorenko, hồi ức về các cuộc nói chuyện giữa hai người cứ quay trở lại ám ảnh trong những giấc mơ của Rick. Vlad không bao giờ cho biết chuyện gì đã xảy ra với S. Fedorenko cũng như tất cả những người mà Rick đã trao cho KGB. Nhưng là một người hiểu rất rõ về công việc của Ban hành động trong CIA, Rick biết điều gì chờ đợi V. Martynov và S. Motorin. Cả người điệp viên Bulgaria nữa. Rick không mấy quan tâm đến anh ta, thế nhưng đó không phải là một số không tròn trĩnh. Anh ta là một con người mà Rick đã từng trò chuyện, từng bắt tay.

Rick mường tượng ra những gì mà mafia vẫn làm trong các câu chuyện tương tự. Rick đã đọc ở đâu đó là bọn chúng chẳng bao giờ lưỡng lự hay nương tay khi xử lí những gã phản bội trong hàng ngũ.

Rick bắt đầu quay trở lại uống rượu giống như hồi ở Mexico City, thời kì trước khi gặp M. Rosario.

Mối quan hệ hôn nhân của Rick bắt đầu trở nên nặng nề. M. Rosario không còn ở cái lứa tuổi đầy quyến rũ nữa. Mũi của cô ta ngày một nhô cao lên, trong khi những quầng thâm thường xuyên xuất hiện dưới mí mắt. Một lần, Rick còn nhận xét rằng có vẻ như cô ta đã hơi béo lên một chút. Ở một thành phố đầy những phụ nữ có sức cuốn hút như Rome, đưa ra một nhận xét như vậy quả là hết sức dại dột. Ồ, cô ta vẫn còn thon thả chán, M. Rosario hét vào mặt Rick như vậy.

Rắc rối cũng nảy sinh trong đời sống tình dục của hai người. Trước những đòi hỏi ngày càng nhiều của M. Rosario, Rick đáp ứng khá thụ động. Cùng với việc uống rượu ngày càng nhiều, năng lực đàn ông của Rick càng trở nên yếu hơn và Rick hầu như không đáp ứng được những nỗ lực của M. Rosario. Khi M. Rosario cằn nhằn về chuyện đó, Rick viết cho cô ta một mẩu giấy: “Hãy tha thứ cho anh. Anh xin lỗi”.

Ở cái thời điểm mong manh vào quãng đầu năm 1988 ấy, có lẽ cuộc hôn nhân của họ đã đổ vỡ nếu như không có chuyện một cuộc làm tình hiếm hoi của hai người đã đưa đến kết quả làm cho M. Rosario có bầu. Trước đó, cô ta đã một lần bị sảy thai, và ám ảnh về sự việc đó đẩy hai người xích lại gần nhau hơn. Tháng 11-1988, M. Rosario sinh con trai, đặt tên thánh là Paul, theo tên đệm ông bố của Rick.

Cuối tháng 5-1989, trong một chuyến đi bí mật vào khu nhà của người Liên Xô, lần thứ ba Rick gặp Vlad, cũng là lần cuối cùng hai người gặp nhau ở Rome. Rick đã có kế hoạch quay trở lại Langley vào mùa hè năm đó.

Rick chuyển cho Vlad danh tính một sĩ quan thuộc Tổng cục 2 của KGB, người mà Rick biết đã được CIA tuyển mộ tại Moscow. Người này chịu trách nhiệm về những vấn đề an ninh quốc gia và phản gián bên trong lãnh thổ Liên Xô, và thông qua anh ta, CIA có thể tung tin giả về những điệp viên nằm vùng đang hoạt động tại Liên Xô.

Rick cũng thông báo cho Vlad về việc sắp tới mình sẽ rời Rome. Vẫn với li vodka quen thuộc trong tay, Vlad nói trong thời gian ở Rome, Rick đã nhận được gần 900.000 USD. Vlad cũng đưa cho Rick xem một bản quyết toán được ghi vào thời điểm 1-5-1989, trong đó chỉ rõ một khoản gồm 2.705.000 USD đã được chuẩn thuận chuyển cho Rick. Trong tài khoản vô danh đã được mở tại một ngân hàng cho Rick, số tiền lãi lũy tiến là 385.000 USD. Ngoài ra, còn một khoản lãi từ những trái phiếu (cũng vô danh) là 15.000 USD. Tất cả được tính chi li đến từng xu. Tổng cộng là 1.881.811 USD cộng với 51 xu đã được chuyển cho Rick. Số tiền còn lại đến thời điểm đó là 1.535.077 USD 28 xu sẽ được phân tán và chuyển dần dần. Tiền lương hằng năm của Rick vẫn là 300.000 USD.

Vẫn còn một sự ngạc nhiên thú vị nữa dành cho Rick. Vlad đưa cho Rick xem năm tấm ảnh, loại chụp lấy ngay, cảnh một khu đất với những rặng cây bạch dương trông ra một con sông. Đó chính là khoản bất động sản được dành cho Rick tại Liên Xô. Vào một ngày nào đó, Rick sẽ có nhà nghỉ trên mảnh đất ấy. Rick cảm thấy xúc động. Người Xô viết thật sự quan tâm đến Rick.

Rick được trao một bản chỉ dẫn về những điều mà Trung tâm Moscow muốn Rick làm khi quay về Langley.

Ưu tiên số một vẫn là những thông tin về sự xâm nhập của CIA vào KGB, GRU và các cơ quan ngoại giao khác của Liên Xô.

Thứ đến là về các điệp viên nhị trùng phản bội. Trong bối cảnh đang có sự nới lỏng những quy định bảo mật, đã có bằng chứng cho thấy số lượng những kẻ phản bội này - chủ yếu hoạt động cho CIA - đang tăng lên ở các nước trong khối Xô viết và tại ngay một số nước cộng hòa thuộc Liên Xô.

Rick cũng được cảnh báo rất rõ ràng là đã có những dấu hiệu cho thấy CIA đang ngày càng lo ngại về khả năng tồn tại của một “chuột chũi” bên trong cơ quan này. Chắc chắn những cái bẫy sẽ được giăng ra, trong đó phải đặc biệt lưu ý đến những cái bẫy trên hệ thống mạng máy tính.

Trước đó, Rick đã được thông báo rằng một khi trở về Washington, những liên lạc qua các kênh Sam ISam II sẽ không được sử dụng để chuyển tiền nữa. Khi đó, Rick hỏi rằng một khi không thể bay sang Thụy Sĩ nữa thì liệu việc chuyển tiền bằng điện tín vào tài khoản dưới tên mẹ vợ của Rick ở ngân hàng Credit Suisse có thực hiện được không?

Bản chỉ dẫn nói rất rõ là việc đó sẽ để lại những dấu vết trên hệ thống mạng máy tính - như đã từng xảy ra trong quá khứ. Việc chuyển tiền sẽ được thực hiện qua những “kênh” đặc biệt. KGB sẽ tiến hành một loạt biện pháp che chắn để giải thích về những khoản tiền thừa kế tài sản của Rick.

Phần cuối bản chỉ dẫn nói rằng việc trao đổi giữa Rick và KGB vẫn sẽ được thực hiện trên cơ sở của những phương pháp gián điệp cổ điển, dùng các kí hiệu và hộp thư chết; các cuộc gặp bí mật sẽ được tổ chức ở những nơi xa xôi.

Vlad nói với Rick là do sử dụng hệ thống hộp thư chết nên khoản tiền mặt chuyển giao cần phải gọn lại, chỉ vào khoảng 10.000 USD một lần. Nhưng do Rick không đồng ý nên cuối cùng hai người thỏa thuận là ít nhất mỗi lần cũng phải gấp đôi số đó. Phần lớn số tiền còn lại trong khoản lương của Rick sẽ được chuyển giao trong những cuộc gặp bí mật hằng năm. Có thể sẽ ở Vienna. Rick được chỉ dẫn chính xác thời gian cũng như địa điểm gặp mặt. Khi đó, Rick có thể tự mình mang tiền sang Zürich để trực tiếp gửi vào tài khoản dưới tên Cecilia ở ngân hàng Credit Suisse.

Ngày 25-7-1989, Rick, M. Rosario và cậu con trai Paul bay từ Rome về Washington. Tất nhiên là trên khoang hạng nhất.

Một tuần sau đó, Rick kí hợp đồng mua một căn nhà trên phố North Randolph ở khu Country Club Hills, North Arlington. Người chủ ngôi nhà nói với nhân viên môi giới bất động sản là ông ta đòi 540.000 USD, một cái giá rất dễ khiến cho cuộc thương lượng mua bán bị đổ vỡ. Nhưng Rick không cần mặc cả tới lần thứ hai. Cái giá đó chấp nhận được và Rick sẽ trả bằng tiền mặt. Nhân viên môi giới suýt phát nghẹn vì sửng sốt. Ôi lạy Chúa, anh ta nghĩ, vợ người đàn ông này xuất xứ từ Colombia, phải chăng ông ta là một trùm buôn ma túy?

+++++

Tháng 10-1986, CIA thành lập một nhóm đặc nhiệm nhằm cố gắng giải quyết những vấn đề liên quan đến việc “tổn hại” các nguồn tin. Người đứng đầu nhóm này là Jeanne Vertefeuille, một nữ chuyên viên phân tích tình báo mới trở về từ Gabon. Không được đào tạo như những điều tra viên, thành viên trong nhóm chủ yếu là các chuyên viên phân tích có kinh nghiệm trong lĩnh vực phản gián. Công việc của họ là xác định điệp viên CIA nào liên quan đến những điệp vụ đã bị đổ bể; những ai trong số các điệp viên này có quyền tiếp cận với thông tin mật; bao nhiêu điệp vụ có khả năng bị vô hiệu hóa bởi Edward Lee Howard, còn bao nhiêu điệp vụ đã thất bại bởi chính những sai sót của CIA trong quá trình tiến hành các điệp vụ đó.

Do lượng tài liệu lưu trữ liên quan đến các vụ việc như vậy quá lớn nên lần đầu tiên trong lịch sử CIA, nhóm đặc nhiệm này được sử dụng một chiếc máy tính, khi ấy còn rất hiếm, để phân loại hồ sơ và tìm kiếm thông tin.

Sau một thời gian nghiên cứu, nhóm đặc nhiệm này buộc phải miễn cưỡng thừa nhận rằng chỉ có hai hoặc cùng lắm là ba điệp vụ bị phá vỡ bởi E. Howard. Sau này, người ta ước tính tăng số điệp vụ thất bại có nguyên nhân xuất phát từ E. Howard lên bảy điệp vụ, dựa trên nhận định cho rằng E. Howard, bằng một cách gián tiếp nào đó, có thể có được những thông tin về các điệp vụ này. Nhưng như vậy thì vẫn còn có vô số những điệp vụ thất bại khác không thể tìm được nguyên nhân.

Tệ hơn nữa là khi mới bắt tay vào hành động, nhóm đặc nhiệm cho rằng chỉ có khoảng ba mươi chiến dịch của CIA đã bị đối phương vô hiệu hóa hoặc “gặp vấn đề”, thế nhưng sau đó, số lượng các điệp vụ này đã tăng lên một cách đáng sợ. Những người phụ trách Ban Liên Xô - Đông Âu thông báo cho họ biết rằng có ít nhất bốn mươi lăm điệp vụ và hai chiến dịch liên quan đến kĩ thuật “đã bị tổn hại hoặc rõ ràng là có vấn đề”.

Nhóm đặc nhiệm CIA cho rằng một trong những nguồn rò rỉ có nhiều khả năng nhất là Trạm CIA ở Moscow. Dan Payne, một thành viên của nhóm đặc nhiệm chịu trách nhiệm kiểm tra những dữ liệu liên quan tới tất cả các nhân viên CIA, dù còn sống hay đã chết, có liên quan tới trạm Moscow trong giai đoạn 1985 - 1986. Anh ta không phát hiện ra được manh mối nào.

Tháng 12-1986, thốt nhiên bỗng lóe lên một tia hi vọng đã tìm ra căn nguyên của những trục trặc, do xuất hiện lời buộc tội nhằm vào Clayton Lonetree, một hạ sĩ lính thủy đánh bộ Mỹ canh gác sứ quán Mỹ tại Moscow. Khi bị thuyên chuyển đến Vienna, anh ta thú nhận rằng đã bị một phụ nữ Nga xinh đẹp tên là Violetta Seina, cũng làm việc trong sứ quán Mỹ, quyến rũ. Cuối năm 1985, đầu 1986, Clayton Lonetree được V. Seina giới thiệu với “ông chú Sasha”, thực chất là sĩ quan KGB Aleksey Yegorov. Trong các cuộc trò chuyện, “ông chú Sasha” đã liên tục hỏi C. Lonetree về cơ cấu tổ chức cũng như các thông tin cá nhân của những người trong sứ quán Mỹ và được anh người yêu của cô “cháu gái” nhiệt tình giải đáp. Mối quan hệ này chỉ kết thúc khi Clayton Lonetree được điều chuyển sang Vienna, thủ đô Áo.

Rồi đến tháng 3-1987, Hạ sĩ Arnold Bracy, một lính thủy đánh bộ Mỹ cùng làm nhiệm vụ với Clayton Lonetree trong thời gian ở Moscow, khai với Cục Điều tra Hải quân Mỹ rằng có lần Clayton Lonetree tâm sự với anh ta rằng vào một đêm tối trời đã tạo điều kiện để các điệp viên KGB đột nhập vào trong sứ quán Mỹ gài các thiết bị nghe trộm ở Trung tâm thông tin của sứ quán.

Các thành viên trong nhóm đặc nhiệm bị thôi miên bởi cái ý tưởng rằng một khi các nhân viên hành động của KGB đã có thể tiếp cận những bí mật trong sứ quán Mỹ như vậy thì biết đâu đấy, họ cũng hoàn toàn có thể nắm được các bí mật tương tự của CIA. Thế là họ mất nhiều tháng trời vô ích nhằm kiểm tra khả năng KGB có dùng các biện pháp kĩ thuật để xâm nhập vào CIA hay không. Sau này CIA mới xác định được rằng lời khai của Hạ sĩ Arnold Bracy về vụ đột nhập sứ quán Mỹ là không đúng sự thực.

Trên thực tế, Rick có thể hớn hở gửi một thông điệp kí tên K. để thông báo cho KGB rằng vụ việc liên quan đến Hạ sĩ lính thủy đánh bộ Clayton Lonetree đã giúp đánh lạc hướng mọi sự nghi ngờ nhằm vào ông ta.

Đến mùa thu năm 1988, nhóm đặc nhiệm CIA lập ra một danh sách tất cả các nhân viên CIA có liên quan đến những điệp vụ bị đổ bể, những điệp viên CIA bị bắt giữ và nhận án tử phía bên kia Bức Màn sắt. Danh sách này lên tới khoảng 200 người, trong đó có cả Phó Giám đốc CIA Robert Gates, người tạm quyền thay thế Giám đốc W. Casey sau khi ông này bị phát hiện mắc bệnh ung thư, có Burton Gerber, Trưởng ban Xô viết, khoảng hai chục sĩ quan trong ban này bao gồm cả Milton Bearden, Phó ban, tất cả những nhân viên hành động đã làm việc tại trạm Moscow trong thời kì giữa thập niên 1980 và một sĩ quan phản gián của Ban Xô viết từng hoạt động mờ nhạt ở trạm Rome, tên là Rick Ames.

Tháng 11-1989, lần đầu tiên sự chú ý hướng vào Rick khi Diana Worthen, một nữ điệp viên CIA có thời cùng hoạt động ở Mexico với Rick và Rosario chợt nảy sinh thắc mắc, không hiểu sao cặp vợ chồng này lại có thể giàu nhanh một cách bất thường đến thế. Trước khi đi Rome, Rick còn phải ở nhà thuê và đi một chiếc Volvo ghẻ. Giờ đây, hai vợ chồng ở trong ngôi nhà trị giá 540.000 USD ở North Arlington, chồng đi một chiếc siêu xe Jaguar trong khi vợ đi một con Honda Accord mới cáu cạnh.

Diana Worthen đem thắc mắc của mình nói với Dan Payne và điệp viên này bắt đầu tìm hiểu tình hình tài chính của vợ chồng Rick. Dan Payne phát hiện ra một số tài khoản của Rick nhưng trong suốt thời gian gần hai năm sau đó, kết luận đưa ra sở dĩ Rick có thể tiêu xài thoải mái là nhờ khoản tiền được thừa hưởng từ gia đình giàu có bên vợ ở Colombia.

Trong khi ấy thì KGB tiếp tục thực hiện những đòn nghi binh tuyệt hảo. Đầu tiên, thông qua những nguồn tin của CIA - mà KGB đã biết rõ nhờ Rick Ames - KGB khéo léo tung tin rằng Edward Lee Howard là một mỏ vàng, một điệp viên nhị trùng xuất chúng nhất trong mọi thời đại. Điều đó có nghĩa là những thông tin do E. Howard cung cấp là nguyên nhân chủ yếu góp phần phá vỡ hàng loạt chiến dịch của CIA. Để cho CIA thêm rối mù lên, cũng thông qua một số nguồn tin, KGB đã dựng lên cái ý tưởng rằng những thất bại của CIA chủ yếu là do hệ thống liên lạc hớ hênh trong CIA hay do “những sai sót mang tính cá nhân” của các điệp viên CIA.

Thành công lớn nhất của KGB trong việc tạo ra những con chim mồi đánh lạc hướng CIA chính là việc dàn dựng để một điệp viên KGB ở Đông Đức khéo léo “tiết lộ” cho một nguồn CIA biết là KGB đã xâm nhập được vào Trung tâm truyền tin siêu mật trên quy mô toàn cầu do CIA thiết lập tại khu vực Warrenton, Virginia. KGB biết rằng chỉ riêng việc đề cập đến cái tên này thôi cũng khiến cho bất cứ một quan chức nào trong CIA phải lo mất mật. Với việc hơn một trăm điệp viên CIA đang làm việc ở đó, các nhân viên nhóm đặc nhiệm phải mất hằng năm trời để cố gắng sàng lọc ra một kẻ tình nghi trong số họ có thể là gián điệp.

Dựa trên những báo cáo nhận được, Phó Giám đốc CIA khi ấy là Robert Gates đi tới kết luận rằng những tổn thất của CIA trong thời gian đó là do những sai sót trong hệ thống liên lạc của CIA.

Tuy nhiên, những tổn thất không vì vậy mà biến mất. Các chiến dịch mới của CIA tiếp tục gặp trục trặc một cách tệ hại. Một bí ẩn vẫn tồn tại và tiếp tục phá nát những cố gắng của CIA trong cuộc chiến vô vọng chống lại KGB. Gây chấn động nhất là tin tức về viên tướng thuộc Cơ quan Tình báo Quân sự Liên Xô GRU, Dmitri Polyakov, một “huyền thoại” của FBI dưới mật danh Top Hat và bản thân CIA cũng phải thừa nhận rằng đó là tài sản quý giá bậc nhất của cơ quan này dưới mật danh Accord, đã nằm yên dưới ba thước đất trong một nấm mồ vô danh. Như để đánh dấu thời kì cay đắng trong các nỗ lực chống lại tình báo Liên Xô của CIA, mãi hai năm sau khi sự việc đã diễn ra, cơ quan này mới biết - như tất cả mọi người khác - về số phận của D. Polyakov qua những dòng chữ thông báo trên tờ Pravda - Sự thật - xuất bản tại Moscow. D. Polyakov đã bị xử tử hình ngày 15-3-1988.

+++++

CIA không còn sự lựa chọn nào khác. Mùa xuân năm 1991, Paul Redmond, Phó Giám đốc CIA đặc trách công tác phản gián đề nghị có một cuộc gặp ngay tại Tổng hành dinh FBI với Ray Mislock, Trưởng ban Liên Xô thuộc Phòng 5 FBI, chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia Mỹ. Đối với P. Redmond, đây không phải là một chuyến viếng thăm dễ chịu gì. Ông ta buộc phải thừa nhận một sự thật cay đắng. “Chúng tôi đang ngập trong máu, có kẻ thọc dao vào lưng chúng tôi”, ông ta nói với R. Mislock. “Chúng tôi cho rằng hiện đang có một kẻ xâm nhập sâu vào trong nội bộ của chúng tôi, ở cấp rất cao”.

CIA cần được giúp đỡ. Một nhóm điều tra hỗn hợp với sự có mặt của các nhân viên FBI được thành lập với nhiệm vụ phải tìm kiếm khối u ung thư và phẫu thuật triệt để, cho dù có phải mất bao nhiều thời gian đi chăng nữa!

Cũng lần đầu tiên, FBI được CIA chia sẻ toàn bộ những bí mật đang xảy ra, khẳng định chắc chắn những mối lo ngại của cơ quan này là có cơ sở. Kể từ sau hai vụ xử tử Valery Martynov và Sergei Motorin, giờ đây, FBI mới được biết rằng một nguồn tin quý giá khác của FBI ở Liên Xô đã tồn tại từ ba mươi năm nay, kể từ năm 1961, cũng đã bị phát hiện và hành quyết. Đó chính là D. Polyakov, được FBI chuyển giao cho CIA khi người này rời khỏi nước Mỹ.

Vẫn chưa hết. CIA cũng buộc phải xấu hổ thú nhận rằng ít nhất có tới nửa tá nguồn tin của chính cơ quan này đã trở thành con mồi cho các đội xử bắn hay tệ hơn, trong các nhà tù của KGB. Đó là số phận dành cho những kẻ phản bội.

Tình hình đã ở vào tình trạng tuyệt vọng và CIA không biết phải bắt đầu lần mò từ đâu. Với sự chuẩn y của Giám đốc CIA khi đó, người từng là Giám đốc FBI, William Webster, CIA buộc phải miễn cưỡng nhờ đến các kĩ năng điều tra của FBI. Kể từ khi được thành lập vào năm 1947, chỉ đến lúc đó, CIA mới cho phép FBI tiếp cận không chỉ tài liệu tóm tắt mà cả những tài liệu gốc, toàn bộ chi tiết các vụ việc đã xảy ra để có thể lần ra manh mối của một sự phản bội chết chóc.

FBI đặt mật danh cho cuộc điều tra này là Playactor - Kép hát.

Playactor được chia làm hai phần. Trong phần đầu, hai đặc vụ từ Tổng hành dinh FBI là Jim Holt và Jim Milburn cùng làm việc với hai nữ chuyên viên phân tích của CIA tại Tổng hành dinh CIA ở Langley, Virginia, đầu não của mọi hoạt động và cũng có thể là nơi phát sinh ra những rắc rối chết người. Công việc của họ là tìm ra những khâu mà điệp viên của đối phương có thể xâm nhập, phương cách xâm nhập và cuối cùng, cũng là yếu tố quyết định nhất, ai có thể là “chuột chũi” của tình báo Liên Xô.

Phần hai của Playactor bắt đầu vài tháng sau đó, là một cuộc điều tra song song được tiến hành ngay tại văn phòng FBI ở Washington. Tim Caruso, người từng thực hiện chiến dịch điều tra Anlace của FBI 5 năm trước đó, đứng đầu một nhóm tham gia vào giai đoạn này.

Chiều 8-11-1991, T. Caruso được triệu đến phòng phó Trợ lí Giám đốc FBI phụ trách chiến dịch. Tại đó đã có mặt Ray Mislock, người đứng đầu bộ phận mà T. Caruso đang làm việc và Robert Bryant, biệt danh Gấu, mới được bổ nhiệm làm Trưởng văn phòng FBI tại Washington.

Người ta thông báo cho T. Caruso rằng ông ta đã được chọn để tham gia vào một cuộc điều tra gián điệp lớn và hết sức phức tạp. Nó cũng có nghĩa ông ta được phép tự chọn lấy các nhân viên điều tra của mình. T. Caruso được hoàn toàn tự do hành động, vấn đề là ở chỗ đã có một sự xâm nhập của đối phương vào sâu trong hàng ngũ CIA, gây ra vô số những vụ bắt bớ cũng như hành quyết các nguồn tin điệp báo quý giá. Không nghi ngờ gì nữa là cả FBI lẫn CIA đều phải chịu những thiệt hại nặng nề bởi sự xâm nhập này. Đó là một điệp viên của đối phương. Những nguyên nhân như sai sót trong điều hành chiến dịch, việc tiêu pha hớ hênh hay sự xâm nhập bằng các thiết bị kĩ thuật đã bị loại trừ. Đơn giản là vì chúng không thể xảy ra trong một thời gian ngắn, lại ở nhiều vị trí khác nhau như thế. CIA đã sẵn sàng hợp tác lâu dài và đầy đủ. Một đội đặc nhiệm hỗn hợp FBI - CIA đã được thiết lập ở Langley, cố gắng lần tìm ra những dấu vết để T. Caruso có thể theo đó điều tra.

Trước đấy, khi nhóm Anlace đưa ra kết luận rằng tình báo Xô viết chưa xâm nhập vào FBI thì đó mới chỉ là kết luận về phía FBI. Sau cuộc gặp, T. Caruso hiểu rằng rất có thể có một “chuột chũi” cực kì nguy hiểm náu ở đâu đó trong CIA.

Thành viên của nhóm đặc nhiệm cũ là Dan Payne tiếp tục tham gia vào nhóm hỗn hợp Playactor ở Langley. D. Payne tiếp tục đào sâu, tìm hiểu nguồn gốc khoản tiền cá nhân của những đối tượng bị tình nghi trong một danh sách đã được lập ra.

+++++

Mật danh Playactor - Kép hát - của nhóm điều tra hỗn hợp FBI - CIA nhằm tìm kiếm nguyên nhân đổ vỡ của các chiến dịch tình báo, là do điệp viên Jim Milbum của FBI đặt. Cùng với Jim Holt, J. Milburn được Tổng hành dinh FBI giao nhiệm vụ biệt phái sang làm việc cùng với các nhân viên phân tích của CIA tại Langley. Về phần mình, CIA đặt mật danh cho nhóm là Skylight.

Từ tháng 7-1991, J. Milburn và J. Holt bắt đầu công việc của họ tại Langley cùng với hai nữ chuyên viên phân tích cao cấp của CIA là Jeanne Vertefeuille, người trong một thời gian dài từng đứng đầu nhóm đặc nhiệm CIA điều tra về các điệp vụ đổ bể, và một đồng nghiệp nữ khác là Sandra Grimes. Bọn họ được phân cho một căn phòng nằm ở tầng hầm trong tòa nhà toàn sắt thép với kính giống như một pháo đài bê tông của Tổng hành dinh CIA.

Cả nhóm phải tránh không để cho bất cứ một ai có thể nhìn thấy họ. Họ được trao cho khóa mã phức tạp để mở cửa vào căn phòng dưới tầng hầm của Tổng hành dinh CIA. Nhưng khi đã vào trong phòng này rồi thì mọi sự lại được công khai tối đa. Căn phòng được chia ra thành từng ô bằng những vách lửng, giống như nơi làm việc của công ty chứng khoán, bảo hiểm hay tòa soạn một tờ báo. J. Milburn, J. Holt và một chuyên viên phân tích của CIA chiếm vị trí sát phòng ngủ nhỏ, từ đó có thể trông ra bãi đỗ xe của các nhân viên CIA. Nếu cần có những cuộc thảo luận riêng, họ có thể sử dụng phòng họp - gì chứ phòng họp thì ở trụ sở của CIA có rất nhiều - hoặc thông thường thì tới căn phòng kín đáo của chuyên viên phân tích cao cấp Jeanne Vertefeuille, một phụ nữ trung niên rất được các nhân viên CIA kính trọng.

J. Holt và J. Milburn hết sức kinh ngạc khi thấy số chiến dịch tầm cỡ của CIA bị đổ bể quá lớn: Khoảng ba mươi vụ. Hầu hết các chiến dịch bị đổ vỡ đều liên quan đến tình báo Xô viết nên điều hết sức logic là mọi sự xem xét của các nhân viên trong chiến dịch Skylight phải được bắt đầu từ bộ phận Xô viết, nơi Rick làm việc. Ngoại trừ thời gian công tác ở Rome, Rick chính là người nắm vai trò như trưởng phân ban phản gián trong bộ phận này. Điều đó khiến cho tên của Rick Ames được đưa vào trong danh sách những người bị điều tra mà các nhân viên của nhóm hành động liên hợp CIA - FBI thiết lập. Tên của Rick được đưa lên vị trí đầu tiên trong danh sách này, không phải vì một lí do nghi ngờ nào đặc biệt mà đơn giản chỉ là theo thứ tự chữ cái.

Ngay cả việc đã thu hẹp diện xem xét vào một Ban Liên Xô - Đông Âu thôi cũng đã là một nhiệm vụ khiến cho các nhân viên điều tra trong chiến dịch Skylight phải nản lòng, bởi vì có tới 200 nhân viên CIA làm việc tại ban này.

Mấu chốt của vấn đề chính là khả năng tiếp cận với nguồn tài liệu của đối tượng bị truy tầm. Tuần này nối tiếp tuần khác, J. Holt, J. Milburn và J. Vertefeuille, S. Grimes tỉ mẩn bới móc toàn bộ hồ sơ của hai trăm nhân viên trong Ban Liên Xô - Đông Âu và của khoảng mười quan chức hành chính cấp cao CIA nằm ngoài ban này, những người mà do vị trí công tác của mình có thể nắm được thông tin về các điệp vụ đã bị đổ vỡ.

Đến khoảng cuối mùa thu, một nửa trong số hai trăm hồ sơ của các nhân viên CIA đã được loại bỏ. Lí do chính vì đó là những người không có khả năng tiếp cận với các điệp vụ đã bị đổ bể.

Các thành viên của nhóm Playactor quyết định sẽ phỏng vấn những người còn lại trong danh sách.

Sau khi trở về từ Rome, trong ba tháng trời, Rick làm việc tại Ban Tây Âu, đúng ở vị trí công tác cũ của mình trước đó. Khi ban này phải cải tổ lại, Rick chuyển sang làm Trưởng ban Chiến dịch phụ trách địa bàn Tiệp Khắc với cấp hàm của một sĩ quan cấp chiến dịch. Vị trí công tác này giúp cho Rick có khả năng nắm được toàn bộ tên tuổi cũng như đặc điểm của các điệp viên đang hoạt động trên địa bàn này và Rick nhanh chóng chuyển chúng qua hộp thư chết có mật danh Cầu để nhân viên KGB tới lấy đi. Khi chính quyền cộng sản ở Tiệp Khắc sụp đổ vào năm 1990, Rick bắt đầu vận động hành lang để được chuyển sang những vị trí công tác mới nhiều thách thức hơn. Trong số những vị trí này, Rick nhắm tới cương vị Phó trạm CIA ở Moscow. Theo Rick, đó sẽ là một sự “kết thúc xứng đáng trong nghề nghiệp” của mình. Cũng khoảng thời gian đó, Rick đã một lần bay sang Vienna theo lời hẹn trước với Vlad và nhận được 150.000 USD nữa.

Với vẻ bình tĩnh, tự tin, Rick vượt qua được cuộc phỏng vấn của các nhân viên đội điều tra hỗn hợp nhưng đến cuối năm 1991, Rick bị điều chuyển sang Trung tâm Chống ma túy của CIA, được thành lập nhằm xoa dịu những lời buộc tội rằng CIA chẳng hề làm bất cứ điều gì để chống lại nạn buôn lậu ma túy quốc tế. Việc điều chuyển này chẳng ảnh hưởng mấy đến việc Rick vẫn thường xuyên có mặt ở Ban Liên Xô - Đông Âu để biết được những gì đang xảy ra, hoặc lượn qua các máy tính trong nội bộ CIA để tìm kiếm những gì mà Rick thấy là cần thiết.

Đầu năm 1992, danh sách những kẻ bị tình nghi của nhóm điều tra hỗn hợp CIA - FBI thu gọn lại chỉ còn khoảng hai chục người. Rick vẫn còn nằm trong số này. Các nhân viên trong nhóm điều tra gọi nó là danh sách tín đồ.

Một lần nữa, tên của Rick lại nổi bật lên do liên quan đến tiền nong. Lần đầu tiên, J. Holt và Milburn biết đến một bản ghi nhớ của Trung tâm phản gián CIA, đề ngày 5-12-1990, do điệp viên Dan Payne lập, đề cập đến việc “cần mở một cuộc điều tra an ninh đối với Aldrich H. Ames” trên cơ sở “những mối nghi ngờ về thói quen tiêu xài phung phí của ông ta trong vòng năm năm qua”. Bản ghi nhớ này thừa nhận rằng “có những cách giải thích chấp nhận được” là tiền của Rick có thể từ khoản tiền bảo hiểm do mẹ ông ta để lại, nhưng “điều không may là chúng tôi không xác định được nơi sinh sống của bà ta”. Một khả năng khác nữa là “tiền cũng có thể đến từ gia đình bên vợ của ông ta”.

+++++

Image

Tháng 2-1992, trong hai căn phòng đóng kín ở văn phòng FBI Washington vốn được trưng dụng cho nhóm điều tra vụ nổ chiếc máy bay Pan Am 103 năm 1988, Tim Caruso, người đã cầm đầu nhóm Anlace năm 1986 điều tra về vụ biến mất của Valery Martynov và Sergei Motorin, cuối cùng cũng đã triệu tập đủ những đặc vụ ông ta cần cho giai đoạn hai của nhóm Playactor.

Trong số các đặc vụ này có Michael Anderson, khi đó đang là quyền Trưởng Ban giám sát trong nhóm phản gián CI-4, có nhiệm vụ phá vỡ mọi chiến dịch mà Ban K của KGB tiến hành ở Washington. Nếu quả thật có một “chuột chũi” đang tồn tại đâu đó thì chắc chắn nó phải chịu sự điều hành của Ban K.

T. Caruso khẳng định rằng nhóm Playactor sẽ hành động hoàn toàn độc lập, tách khỏi các hoạt động của Langley cho đến một thời điểm thích hợp nào đó, khi các thông tin đã được kiểm chứng rõ ràng.

T. Caruso muốn những nhân viên trong nhóm điều tra của ông ta hướng công việc tìm kiếm vào một số đối tượng trọng điểm. Cho đến khi Jim Holt và Jim Milburn gia nhập Playactor thì danh sách những người bị tình nghi rút lại chỉ còn 29 người có đặc điểm khá phù hợp với các điệp vụ bị đổ vỡ.

Tháng 5-1992, điệp viên Dan Payne, người đã tiến hành điều tra nguồn gốc các khoản tiền của Rick hồi cuối những năm 1980, quay lại đào sâu tìm dấu vết nguồn tiền một lần nữa. Dưới danh nghĩa điều tra vì an ninh quốc gia, Dan Payne gửi những bức thư cho hai ngân hàng Northwest và Dominion cũng như các công ty phát hành thẻ tín dụng lớn khác, yêu cầu các ngân hàng và công ty này cung cấp tài liệu để tìm kiếm những dấu vết tài chính của Rick hoặc M. Rosario.

Đến tháng 8-1992 Dan Payne nhận được những thông tin mà anh ta yêu cầu về tình trạng tài chính của Rick tại các ngân hàng.

Thật sửng sốt! Thông tin cho thấy có nhiều khoản đặt cọc bằng tiền mặt, tất cả đều dưới 10.000 USD mỗi tài khoản, tổng cộng lên tới hơn 1 triệu USD. Tài khoản đầu tiên trị giá 9.000 USD được mở vào ngày 18-5-1985. Cũng có những dấu vết của ít nhất một lần chuyển tiền với khối lượng lớn từ ngân hàng Credit Suisse Thụy Sĩ cho Rick qua một ngân hàng ở New York. Trong thời gian đang diễn ra cuộc điều tra, số tiền chi tiêu thanh toán qua thẻ tín dụng của Rick trung bình vào khoảng từ 10.000 USD đến 20.000 USD mỗi tháng.

Khi ngày càng rơi vào trong tâm điểm chú ý của các nhân viên nhóm điều tra hỗn hợp ở Langley thì những báo cáo về các mối quan hệ tiếp xúc của Rick với nhà ngoại giao Xô viết Sergei Chuvakhin thời kì năm 1985 - 1986 cũng được giở ra xem lại. Do xác định chắc chắn S. Chuvakhin không phải là nhân viên KGB hay GRU nên FBI không quan tâm đặc biệt đến nhân vật này. Các nhân viên nhóm hỗn hợp nhận ra rằng Rick rõ ràng đã không báo cáo đầy đủ về mối quan hệ với S. Chuvakhin. Cả bức điện tín mà CIA gửi tới Rome cho Rick yêu cầu phải tường trình đầy đủ về những buổi tiếp xúc với S. Chuvakhin - nhưng đã bị Rick phớt lờ - cũng được các nhân viên điều tra tìm thấy.

Những đầu mối này dẫn nhóm Playactor hướng trọng tâm tìm kiếm vào các tài liệu lưu trữ ở văn phòng FBI tại Washington. Trong cuộc gặp gỡ với S. Chuvakhin, Rick thông báo mình mang một cái tên giả là Richard Wells. Trong kho lưu trữ băng ghi âm và video của FBI, tất cả những cuộc gặp gỡ với các nhân viên sứ quán Liên Xô đều được ghi lại và đánh số thứ tự cẩn thận. Mã số băng lưu trữ của Rick là Sub-375. Chỉ cần bấm mã số này là hệ thống tự động sẽ nhanh chóng xác định được cuộn băng cần tìm.

Các nhân viên nhóm hỗn hợp điều tra tiến hành đối chiếu những thời điểm Rick gặp S. Chuvakhin - dù có báo cáo hay không - với thời điểm các tài khoản tiền mặt được Rick mở tại ngân hàng.

Ngày 17-5-1985, Rick ăn trưa với S. Chuvakhin. Ngày 18-5-1985, Rick gửi vào tài khoản 9.000 USD.

Ngày 5-7-1985, Rick ăn trưa với S. Chuvakhin. Cùng ngày, Rick gửi vào ngân hàng 5.000 USD.

Ngày 31-7-1985, Rick ăn trưa với S. Chuvakhin. Cùng ngày 31-7, Rick gửi 8.500 USD vào ngân hàng.

Một sự trùng khớp chết người!

Đồng thời với phát hiện này, nhóm hỗn hợp xác định được từ năm 1985 đến 1991, Rick có tổng thu nhập hơn 1 triệu USD từ những nguồn không xác định. Chính xác là 1.326.310 USD.

Đối với 29 người còn nằm trong danh sách FBI tình nghi, bất cứ một di chuyển nào trong số những người này, dù là nghỉ ốm, nghỉ lễ hằng năm hay những chuyến đi công tác bình thường đều được các nhân viên điều tra bí mật kiểm soát một cách chặt chẽ. Bởi vậy, tại Langley, họ xác định được rằng đầu tháng 10-1992, Rick đã báo với CIA là đi Bogotá vài ngày để thăm bà mẹ vợ.

Dell Spry, một trong những nhân viên của T. Caruso liền được cử tới trụ sở của Hãng hàng không American Airlines ở Dallas nhằm xác minh rõ hơn về chuyến đi của Rick. D. Spry biết được Rick đã rời Washington đi Bogotá hôm 2-10, ngang qua Miami. Nhưng anh ta cũng phát hiện thêm được một chi tiết mà Rick đã không báo cáo. Hồ sơ của hãng hàng không cho thấy sau những ngày ở Bogotá, Rick đã đi Caracas, thủ đô Venezuela, ở lại đó ba ngày trước khi quay về Mỹ.

Đó là chuyến đi gặp gỡ định kì hằng năm của Rick với người điều khiển mình trong KGB. Bất chấp những xáo trộn đối với KGB ở Moscow và việc cơ quan này đã bị thay thế bởi Cơ quan Tình báo Hải ngoại SVR của Liên bang Nga, Rick vẫn tiếp tục cung cấp các tài liệu mật qua hộp thư chết và nhận được số lượng lớn tiền mặt. Nhưng ở cuộc gặp Caracas lần này, sĩ quan điều khiển của Rick không phải là Vlad nữa. Rick cũng không hỏi xem điều gì đã xảy ra với Vlad. Người điều khiển mới của Rick tự giới thiệu là Andrei.

Andrei đưa cho Rick 150.000 USD. Anh ta nói với Rick rằng trong những năm tiếp theo đó, Rick sẽ tiếp tục nhận được tiền mặt ở Washington, tại hộp thư chết có mật danh Đường ống, nằm trong cống ngầm dưới một đường đi ở công viên Wheaton Regional. Tuy nhiên, để chuyển tài liệu và thư từ liên lạc, Rick sẽ phải sử dụng kí hiệu bắt liên lạc tại những địa điểm mới. Đó là Rose - Hoa hồng, một thùng thư nằm ở góc đường Garfield với ngõ nhỏ cùng tên, cách không xa khu nhà riêng của Phó Tổng thống A. Gore. Hộp thư chết đi kèm với nó có mật danh Ground - Đất, là kẽ nứt bên dưới một chiếc cầu trong công viên Rock Creek, nằm giữa quận Columbia và hạt Montgomery ở Maryland. Địa điểm thứ hai để đánh dấu ám hiệu liên lạc có mật danh Smile - Nụ cười, cũng là một thùng thư nằm ở chỗ giao nhau giữa phố 37 và phố R, khu Georgetown. Hộp thư chết kèm theo nó vẫn là kẽ nứt nằm bên dưới cái cầu dành cho người đi bộ nối khu công viên Little Falls với Đại lộ Massachusetts.

+++++

Tới tháng 12-1992 thì Gấu Bryant của FBI cho rằng ông ta đã có đủ những gì cần thiết về Rick: Các cuộc gặp gỡ với S. Chuvakhin không được báo cáo; sự trùng khớp về thời gian diễn ra những cuộc gặp này với thời gian mở các tài khoản; bản thân các tài khoản này; mối dây liên hệ với những điệp vụ bị đổ bể; các chuyến đi ra nước ngoài bí ẩn. Bryant ngày càng trở nên mất kiên nhẫn với tốc độ tiến hành công việc của nhóm Playactor. Ông ta muốn mở một cuộc điều tra chính thức. Không nghi ngờ gì nữa, Rick Ames chính là người cần phải tìm.

Khi ấy, trong danh sách tín đồ chỉ còn lại mười cái tên. Thêm hai tháng nữa trôi qua. Lúc này, danh sách tín đồ còn lại năm cái tên. Rick Ames là cái tên trên cùng, không phải vì lí do theo thứ tự chữ cái.

Ngày 15-3-1993, một bản báo cáo tám trang do J. Milburn viết tay được gửi cho T. Caruso: Bản báo cáo khẳng định “chắc chắn đã có sự xâm nhập của KGB vào CIA ngay sau vụ đào thoát của Edward Lee Howard. Đối tượng này có thể đã tiết lộ các chiến dịch của CIA và FBI cho KGB vào quãng tháng 7-1985 hoặc sớm hơn một chút. Dựa trên những tiết lộ này, KGB đã bóc gỡ các điệp viên của chúng ta trong suốt thời kì 1985 -1986”.

Bản báo cáo tiếp tục: “Đối tượng đã làm việc tại Tổng hành dinh CIA từ năm 1985, ở một vị trí có thể tiết lộ hầu như toàn bộ các chiến dịch chống Liên bang Xô viết của CIA, điều mà hầu như chắc chắn đối tượng đã làm. Đối tượng làm việc tại Ban Xô viết hoặc tại một trong những phân ban phản gián”.

Chỉ có năm người trong danh sách tín đồ phù hợp với mô tả trong bản báo cáo này. Trong đó có một người khớp hoàn toàn, là Rick Ames.

Sau sự sụp đổ của khối Xô viết và cùng với nó là sự hỗn loạn trong KGB, cuối cùng các điệp viên Mỹ cũng móc nối được với một người có khả năng tiếp cận được một số hồ sơ tối mật của Ban K trong Tổng cục 1 KGB. Người này không biết danh tính thật của điệp viên CIA đang hoạt động cho KGB mà chỉ biết mật danh trong hồ sơ là Kolokol. Hồ sơ cho thấy Kolokol nằm trong bộ phận phản gián của CIA, bắt đầu cung cấp thông tin cho KGB từ năm 1985. Người này có những cuộc gặp với người điều khiển mình ở Bogotá, và tới cuối những năm 80, các cuộc gặp này diễn ra ở Rome. Các nguồn tin do FBI móc nối và tuyển mộ được giữ gìn hết sức bí mật, nhưng khi chuyển giao sang CIA thì chúng đã bị người này nắm được.

Với hi vọng sẽ nhanh chóng “bẻ gãy” được Rick một khi tiến hành bắt giữ, T. Caruso chiêu mộ vào nhóm điều tra, Rudy Guerin, một đặc vụ thuộc nhóm phản gián hải ngoại CI-7. Đấy là người mà T. Caruso thấy thích hợp nhất cho một nhiệm vụ như vậy.

T. Caruso còn triệu tập thêm cả Mike Donner, một đặc vụ FBI có thân hình lực lưỡng, hoàn toàn trái ngược với dáng vẻ thư sinh nho nhã của R. Guerin. Ngoài ra, không chỉ cho theo dõi ngặt nghèo Rick suốt hai mươi tư giờ trong ngày, T. Caruso cũng xuống lệnh giám sát chặt chẽ ngày đêm khoảng 30 nhân viên tình báo trong sứ quán Nga, được biết như là các điệp viên KGB tại Trạm Washington. Bất kì người nào trong số này cũng có khả năng tiến hành những cuộc tiếp xúc với Rick. Khoảng bảy mươi nhân viên dày dạn kinh nghiệm thuộc nhóm hỗ trợ đặc biệt của bộ phận phản gián FBI, những chuyên gia lành nghề trong công việc theo dõi mục tiêu, gọi là Nhóm G, được huy động cho chiến dịch này.

Trên khắp lãnh thổ Mỹ, các máy bay giám sát - FBI có khoảng hơn một trăm chiếc loại này - sẵn sàng cất cánh bất kể ngày đêm để tiến hành việc theo dõi mặt đất. Theo một thỏa thuận đặc biệt giữa FBI với Cục Hàng không Liên bang Mỹ, nếu thấy cần thiết, các máy bay này có thể bay trên không phận các thành phố ngay trong đêm mà không cần phải bật đèn tín hiệu.

Cuối cùng thì đến ngày 12-5-1993, vụ việc được FBI tiếp nhận khi Gấu Bryant quyết định mở cuộc điều tra chính thức. Mười hai ngày sau đó, vào cuối buổi chiều, ông ta triệu đặc vụ Leslie Wiser Jr. tới phòng làm việc của mình và hỏi liệu anh ta có muốn chịu trách nhiệm chính tiến hành giai đoạn cuối cùng đầy khó khăn của cuộc điều tra hay không. Sẽ có mật danh mới được đặt cho giai đoạn này.

Leslie Wiser quyết định đặt mật danh đó là Nightmover - Người đi trong đêm.

+++++

M. Anderson và T. Caruso cung cấp những thông tin chi tiết về Rick cho L. Wiser để anh ta có thể bắt đầu công việc của mình mà không gặp trục trặc gì. Trong số những thông tin này, có cả việc điều chuyển Rick sang Trung tâm Chống ma túy của CIA, một vị trí ít nhạy cảm hơn. Sau đó, đến lượt nhân viên CIA là Dan Payne, bằng một chiếc máy chiếu, trình bày cho L. Wiser những chi tiết về tình trạng tài chính của cặp vợ chồng đang bị nghi ngờ. Đến lúc đó, Rick và M. Rosario bị phát hiện đã có tất cả 92 tài khoản tiền mặt, tổng cộng 1.538.685 USD.

Ngày 11-6-1993, máy ghi trộm được cài vào đường dây điện thoại nhà riêng của Rick. Máy này được điều khiển và kiểm soát từ một phòng nằm trong văn phòng FBI Washington.

Trong khi đó, L. Wiser bắt đầu tập hợp Nhóm G cho nhiệm vụ giám sát Rick. Tất cả gồm khoảng 70 người, cả nam và nữ, đủ mọi màu da, tuổi từ 24 đến 60, chuyên hoạt động trong lĩnh vực phản gián. Có 3 đội, mỗi đội gồm tám nhân viên nam và nữ, luân phiên làm việc 8 tiếng đồng hồ mỗi ngày, sẽ thường xuyên bám sát Rick.

Các thiết bị giám sát kĩ thuật được lắp đặt thêm. Ngày 25-6-1993, đường dây điện thoại của Rick ở Langley bị đặt máy nghe lén. Khu vực làm việc của Rick trong bộ phận chống ma túy, phòng GVO 6, nằm trong tầng hầm của cùng tòa nhà, có bốn thang máy thường lên xuống từ bộ phận phản gián, nơi làm việc trước đấy của Rick. Đấy là một khu vực khá rộng rãi, với những phòng nhỏ hình hộp ngăn ra thành những khu vực nhỏ và có hai căn phòng biệt lập nằm ở phía cuối. Rick được phân một căn phòng trong số này và các nhân viên kĩ thuật của FBI gắn một cái máy quay nhỏ xíu ghi lại mọi động thái của Rick ở bàn làm việc cũng như tại máy tính, sếp của Rick phụ trách bộ phận chống ma túy được thông báo rằng Rick đang là đối tượng của một cuộc điều tra. Chỉ có ông ta và Paul Redmond, Phó Giám đốc Trung tâm Phản gián của CIA, nơi Rick làm việc trước đó, biết về chiếc máy quay phim bí mật này.

Bước tiếp theo là phải cài máy nghe vào điện thoại di động của Rick, khi ấy vẫn còn là của hiếm, cũng như cài thiết bị định vị vào chiếc xe Rick thường dùng. Tại Langley, một lần nữa lại chỉ có Paul Redmond và người đứng đầu Trung tâm Chống ma túy, Dave Edgers, phải tham dự vào chiến dịch. Theo hướng dẫn, Edgers nói với Rick là FBI muốn nghe thuyết trình về Sáng kiến Biển Đen - Black Sea Initiative, một chiến dịch do CIA đỡ đầu, hợp tác với FBI nhằm ngăn chặn dòng ma túy từ Afghanistan và Pakistan thông qua các nước cộng hòa ở phía nam Liên Xô cũ đổ sang các nước phương Tây. Edgers nói vì Rick là một chuyên gia về lĩnh vực này nên không có ai thích hợp hơn để giúp Edgers sang thuyết trình với FBI về chiến dịch. Thích thú vì được chọn vào một nhiệm vụ quan trọng như vậy nên Rick hăm hở bắt tay vào chuẩn bị các tài liệu cho bản thuyết trình. Dự kiến buổi thuyết trình sẽ diễn ra vào buổi sáng ở Tổng hành dinh FBI. Edgers than thở rằng cái xe của ông ta bị trục trặc sao đó không chạy được. Rick nói: “Không sao, chúng ta sẽ đi bằng chiếc Jag của tôi”.

Tại Tổng hành dinh FBI, Rick và Edgers trải qua các khâu kiểm tra an ninh rồi đưa xe tới khu đỗ xe ở bên trong tòa nhà. Ngay khi Rick và Edgers vừa đi vào trong nhà, chiếc xe liền được đưa tới một bãi đỗ trong tầng hầm tòa nhà, nơi các nhân viên kĩ thuật của FBI tiến hành lắp đặt thiết bị định vị qua vệ tinh vào gầm xe.

+++++

Đó là một mùa hè dài, nóng như thiêu như đốt.

L. Wiser cùng các điệp viên khác tham gia chiến dịch Nightmover cố gắng tìm thêm các bằng chứng để củng cố cho nhận định của họ. Bất kì nghi ngờ nào rằng Rick không phải là người mà họ tìm kiếm đều đã bị gạt bỏ.

Đã phân tích thấy sự lừa dối của Rick trong cuộc kiểm tra trên máy phát hiện nói dối. Qua điều tra kĩ càng cả ở Mỹ lẫn Colombia cho thấy ý tưởng rằng tiền bạc của Rick là do được thừa hưởng từ một gia đình giàu có ở Colombia thực chất chỉ là huyền thoại. Tại Langley, máy quay bí mật lắp trong phòng làm việc đã quay được cảnh vào ban đêm, Rick làm việc trên máy tính, lắp đĩa mềm vào ghi số liệu rồi lấy ra, cho vào trong cặp của mình.

Chắc chắn ông ta có tội.

Nhưng L. Wiser không muốn ngồi một chỗ để chờ đợi. Anh ta muốn có một cuộc kiểm tra những vật dụng phế thải của Rick.

Kế hoạch “dọn” thùng rác nhà Rick được đặt tên là Hill Street, dựa theo tên một chương trình truyền hình ăn khách. Theo dự kiến, nó sẽ bắt đầu vào lúc nửa đêm, khi thùng rác đã được đưa ra lề đường. Các nhân viên sẽ chở thùng rác đến một địa điểm bí mật nằm ở phía bắc Virginia, nơi các điệp viên trong Nhóm G làm việc, tách ra những thứ cần thiết rồi đưa thùng rác trở về chỗ cũ trước lúc rạng sáng. Thời gian thực hiện toàn bộ chiến dịch dự kiến trong khoảng một tiếng rưỡi, bắt đầu lấy thùng rác vào lúc 2 giờ sáng và trả nó về chỗ cũ trước 3 giờ rưỡi sáng.

Gần nửa đêm, Leslie Wiser tới hiện trường và theo sát diễn biến toàn bộ chiến dịch Hill Street. Thời gian diễn ra việc đổi hai cái thùng rác chỉ trong vòng 12 giây, vào quãng 1 giờ 11 phút sáng.

Cái thùng rác nhà Rick được chở về trụ sở điều hành chiến dịch Hill Street, nơi các nhân viên trong Nhóm G đang chờ sẵn. Ở đó kê sẵn hai cái mặt bàn tạm bằng ván ép, đặt trên giá gỗ cao chừng hơn một mét. Rác ướt để trên một bàn, rác khô trên bàn còn lại. Nhưng trước khi lấy rác ra khỏi thùng, các nhân viên Nhóm G đã cẩn thận dùng máy ảnh Polaroid lấy ngay chụp bên trong thùng để khi bỏ rác trở lại thùng, ít nhất phía bên trên trông phải tự nhiên như cũ.

Trong tháng 8-1993, các đặc vụ FBI đã ba lần tiến hành lục soát thùng rác nhà Rick. Mike Michell tìm thấy một vài cuống hóa đơn tài chính và một cái hóa đơn trả tiền khách sạn Hilton chứng tỏ rằng Rick đã từng có mặt ở Caracas, nhưng không có gì đặc biệt đủ để đưa vụ án chuyển sang một bước ngoặt.

+++++

Thứ hai, ngày 13-9-1993, Leslie Wiser quyết định chơi canh bạc của đời mình. Vật đặt cược là sự nghiệp của anh ta. L. Wiser muốn nối lại việc kiểm tra thùng rác nhà Rick. Gấu Bryant, sếp và là người đặt anh ta vào vị trí chỉ huy chiến dịch điều tra, đã ra lệnh ngừng công việc đó lại, nhưng L. Wiser quyết không muốn bỏ lỡ một cơ hội nào.

Sở dĩ L. Wiser quyết trái lệnh làm liều cũng bởi vì từ ngày 13-9, Rick cùng với một người trong Ban Chống ma túy của CIA bay đi Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ, để tham dự một hội nghị quốc tế chống ma túy. Lẽ ra hội nghị này diễn ra ở Moscow nhưng những biến động chính trị ở nước Nga đã khiến các nhà tổ chức chuyển nó sang Thổ Nhĩ Kỳ. Đến ngày 15-9, Rick vẫn còn ở cách xa nước Mỹ sáu ngàn dặm.

Một phút trước 2 giờ đêm thứ tư 15-9, chiếc xe tải nhỏ màu đen thong thả chạy về hướng cái thùng rác đặt trước cửa nhà Rick. Vẫn như những lần trước, các điệp viên Mitchell và Spry ngồi trên một chiếc xe cảnh sát bám theo phía đằng sau.

Cái thùng rác được đưa về chỗ đặt văn phòng điều hành chiến dịch Hill Street. Các điệp viên Nhóm G đứng cạnh cái bàn dài để kiểm tra những thứ lấy từ trong thùng ra. Mike Mitchell cũng có mặt, phòng trường hợp tìm thấy những giấy tờ nào đó trong lĩnh vực tài chính. Spry đứng ngay gần đấy.

Vào cái buổi sáng tinh sương ngày 15-9 này, một trong các đặc vụ thuộc Nhóm G, Jeff Scerna, biệt danh Ông Già, không tin vào mắt mình nữa. Ông Già tìm thấy một mẩu giấy vụn màu vàng, nhỏ đến nỗi anh ta suýt nữa thì bỏ qua không nhặt lên xem. Nhưng bỗng nhiên anh ta thấy hình như có một cái gì đó viết theo kiểu chữ in hoa. Nhìn kĩ, Jeff thấy vỏn vẹn hai chữ “gặp tại”.

- Lạy Chúa, cái gì đây? Nhìn xem này! - Anh ta kêu to với đặc vụ Heard. - Tôi nghĩ đã tóm được một cái gì đấy.

- Nào, cố lên! - Heard cũng kêu lên với vẻ phấn khích khi nhìn thấy mẩu giấy. - Mọi người hãy tập trung tìm những mẩu giấy màu vàng!

Bỗng dưng, Celtic - tức Jeff Thompson - phát hiện thấy một mẩu giấy màu vàng khác, trên đó cũng có ghi một chữ “gặp”.

Lúc đó, khoảng một nửa số rác đã được kiểm tra xong, cho vào trong các túi và đưa lại vào thùng. Vậy là phải đổ ra tất cả để kiểm tra lại.

- Cố lên! - Heard động viên mọi người. - Thế nào cũng còn những mẩu khác nữa.

Thời gian dự tính cho công việc trôi đi vùn vụt.

Cuối cùng, thu thập được tất cả sáu mẩu giấy vụn. Một mẩu đã bị mất đâu đó không thể tìm thấy. Stingger - tức đặc vụ Todd Healey - xếp những mẩu giấy bên cạnh nhau. Tất cả vây xung quanh. Đó là mẩu tin nhắn viết trên một mảnh giấy màu vàng kích cỡ mỗi chiều khoảng 5 cm. Có lẽ đó là bản nháp tin nhắn mà Rick viết để kèm vào gói tài liệu đã đặt ở hộp thư chết vào phiên liên lạc trước.

Nội dung tin nhắn như sau:

“Tôi sẵn sàng gặp tại địa điểm B vào ngày 1-10.

Tôi không thể đọc Bắc 13-19 tháng 9.

Nếu các ông sẽ gặp tại địa điểm B vào ngày 1-10 đề nghị vạch tín hiệu ở Bắc [mất] ngày 20-9 để [mất]

Không có tin nhắn ở Đường ống.

Nếu các ông không thể gặp... vào ngày 1-10, hãy vạch ám hiệu ở Bắc sau 27-9 với tin nhắn tại Đường ống”.

Đấy là thời điểm như điện giật, bước đột phá mà các điệp viên của Nightmover mong đợi từ lâu, một bằng chứng hiển nhiên, khó chối cãi, cho thấy Rick đã hoạt động gián điệp cho người Nga.

Phân tích kĩ tin nhắn ghép lại từ những mẩu giấy vụn này, Jim Milburn cho rằng “B” rõ ràng muốn nói đến Bogotá, nơi Rick dự kiến sẽ có cuộc gặp sắp tới với người phụ trách mình. “Bắc” chắc chắn là địa điểm mà người Nga sử dụng để vạch ám hiệu cảnh báo Rick, theo như các điệp viên Nhóm G dự đoán, có thể nằm ở đâu đó trên con đường Military mà Rick thường đi qua để tới Langley mỗi khi Rick không phải đưa cậu con trai Paul tới trường học. “Đường ống” chắc là hộp thư chết đi cùng với điểm vạch ám hiệu này. Trong tin nhắn, Rick cũng lưu ý chỉ huy là mình không ở Washington trong thời gian từ ngày 13 đến 19 tháng 9, tức là không thể thu xếp cuộc gặp ở Bogotá trong khoảng thời gian đó. Nhóm thực hiện chiến dịch Nightmover biết rằng chính trong khoảng thời gian này, Rick phải thực hiện nhiệm vụ của CIA, đi Thổ Nhĩ Kỳ và nước cộng hòa cũ của Liên Xô là Georgia để tham dự một hội nghị chống ma túy.

Các điệp viên dùng máy ảnh chụp lại đoạn tin nhắn ghép từ những mẩu giấy vụn. Trong khi Dell Spry chờ rửa ảnh, thùng rác nhà Rick được mang trở lại phố North Randolph. Lúc đó đã gần 4 giờ sáng.

Ngày 6-10, trong một lần lục soát thùng rác nhà Rick nữa, các đặc vụ lại tìm thấy một vật lạ. Thoạt nhìn, không ai hình dung ra nó là cái gì, chỉ trông như dải băng trong máy ghi âm. Xem xét kĩ hơn, thấy nó có vẻ giống như dải ruy băng. Nếu xem được dải ruy băng này thì có thể tìm thấy dấu vết của những chữ đã được đánh trên đó. Nhưng rõ ràng dải ruy băng này quá lớn đối với một máy chữ thông thường. Cuối cùng, một đặc vụ trong Nhóm G nhận xét: “Tôi nghĩ rằng đây là cuộn ruy băng đã bị loại bỏ trong máy in của một máy tính”.

Đặc vụ J. Heard cẩn thận cho nó vào trong túi nilon rồi gửi về văn phòng FBI địa phương. Sau khi phát hiện thấy tin nhắn từ những mẩu giấy vụn ở thùng rác nhà Rick, để tăng cường thu thập thêm bằng chứng, L. Wiser đã bổ sung cho nhóm Nightmover một đặc vụ tên là John Hosinski.

John Hosinski nghĩ ra một cách để có thể đọc được những gì ghi trên cuộn ruy băng đó. “Tôi có một ý thế này”, J. Hosinski nói. Anh ta biến mất rồi quay lại với hai cái lõi cuốn băng từ bằng chất dẻo, sau đó gắn mỗi đầu của cuộn ruy băng tìm thấy trong thùng rác lên hai cái lõi cuốn này. Cuối cùng, Hosinski xuống phòng cô thư kí văn phòng và mượn cô ta một cái gương nhỏ.

Hai đặc vụ Tom Murray và Mike Mitchell dùng tay cuốn dải ruy băng lại rồi bắt đầu mở nó ra từ từ; J. Hosinski ngồi trên ghế và đặt cái gương nằm ở phía dưới nó, đọc to những gì mà anh ta thấy qua mặt gương. Linda Williams, thư kí của chiến dịch Nightmover, ngồi ghi tốc kí những gì J. Hosinski đọc được.

Tất cả đều sửng sốt.

Một trong những nội dung trên ruy băng thể hiện báo cáo của Rick về Moscow cuối tháng 8-1992, sau khi bị nhóm Playactor phỏng vấn tại Langley. Rick viết: “Các bạn thân mến. Mọi sự với tôi đều tốt đẹp và tôi đã hồi phục lại sau một thời kì bi quan và căng thẳng. Có thể nói là tình trạng an ninh của tôi không có gì thay đổi và tôi không gặp phải bất cứ trở ngại nào”. Câu tiếp theo là: “Gia đình tôi vẫn khỏe và vợ tôi đã thích nghi [nguyên văn] cũng như bản thân cô ấy hiểu một cách tích cực những gì mà tôi đang làm”.

Không bao giờ người ta có thể biết đích xác được là M. Rosario “thích nghi” với việc Rick hoạt động gián điệp cho người Nga hay là việc cô ta đã vượt qua được nỗi sợ hãi căng thẳng do công việc đó gây ra.

Nhưng phần đáng kể nhất nằm ở đoạn cuối của ruy băng. Sau khi Boris Yeltsin giải thể KGB, người Nga đã chia cơ quan an ninh lừng lẫy một thời này ra thành hai cơ quan mới: SVR chịu trách nhiệm hoạt động trong lĩnh vực tình báo đối ngoại, còn MBRF đảm bảo an ninh nội địa. Tại hội nghị chống ma túy mà Rick tham gia, Rick biết rằng nhân viên MBRF nằm trong phái đoàn Nga thế nào cũng nhận biết sự có mặt của Rick.

Rick đã lưu ý Trung tâm Moscow với vẻ hơi tự mãn: “Trong thời gian này, các bạn có thể biết chút ít về tôi thông qua các đồng nghiệp của các bạn - và nay cũng là đồng nghiệp của tôi - ở MBRF”.

Đây là bằng chứng cụ thể đầu tiên xác nhận Rick nằm trong mạng lưới của tình báo Nga.

+++++

Rick và M. Rosario phải tham dự một đám cưới ở Florida vào thứ bảy, ngày 9-10-1993. Paul sẽ đi cùng bố mẹ đến Florida. Nancy, người em gái của Rick, cũng có việc phải đi khỏi thành phố, không thể chăm sóc cậu bé được. Ngôi nhà số 2512 trên phố North Randonph sẽ vắng người từ tối thứ sáu cho tới tối chủ nhật.

1 giờ 45 phút đêm thứ bảy, một chiếc xe tải nhẹ chạy tới đỗ ngay trước cửa nhà Rick. Trong trang phục màu đen, các chuyên gia kĩ thuật được huy động từ Học viện FBI ở Quantico, nhảy ra khỏi xe. Họ đi qua cái cửa hàng rào gỗ không cài then nằm phía bên trái ngôi nhà. Đặc vụ Nhóm G đã xác định được chắc chắn rằng khác với nhiều hàng xóm của mình, Rick không lắp đặt hệ thống báo động cho ngôi nhà. Ở phía cuối ngôi nhà có một lối đi dốc dẫn tới cánh cửa mở xuống tầng hầm, khuất tầm nhìn từ bên ngoài, một địa điểm lí tưởng để mở cửa đột nhập vào bên trong nhà, tạo bước ngoặt cho chiến dịch.

Người nhân viên kĩ thuật đầu tiên vào trong nhà, tay kéo theo những đồ nghề của anh ta, là một chuyên gia máy tính tên Tom Murray. Anh ta đi thẳng vào phòng làm việc của Rick để tìm cách lấy những dữ liệu trong máy tính. Rick dùng một chiếc máy tính xách tay và như vậy có nghĩa là không thể gắn rệp điện tử vào nó được. Để gắn rệp điện tử vào trong một chiếc máy tính, cần phải có một nguồn năng lượng nuôi nó liên tục. Rồi còn phải lấy ra và phục hồi năng lượng nguồn... Ngay khi vừa mở ra, Murray đã nhận thấy máy tính được gài mã bảo vệ mà anh ta có thể dễ dàng đột nhập được.

Tất cả mọi ngóc ngách trong ngôi nhà đều được săm soi kĩ từng lí từng tí một. Các điệp viên Nhóm G biết rằng hôm thứ năm trước đó, một nhân viên lau dọn dịch vụ đã tới ngôi nhà, hút sạch bụi trên thảm. Đó là một điều may mắn bởi sẽ khiến cho vết giày bẩn của những người đột nhập không lưu lại trên thảm. Mặc dù vậy, Mike Mitchell và Rudy Guerin vẫn bỏ lại giày của họ bên ngoài trước khi vào bếp. Các đặc vụ khác cũng làm tương tự như vậy khi họ khám xét toàn bộ ngôi nhà.

Các kĩ thuật viên từ Quantico bắt đầu gài những micro siêu nhỏ trong khắp ngôi nhà. Một máy ảnh được lắp phía dưới cầu thang dẫn ra từ phòng tắm không có cửa sổ để thu lại hình ảnh trong ngôi nhà. Trong khi đó, ở tầng trên, sử dụng đèn pin, cả R. Guerin và M. Mitchell đều tìm thấy nhiều thứ mà họ muốn tìm.

Trong một ngăn kéo ở phía trên cùng của cái két, R. Guerin lục tìm thấy một mẩu tin chỉ dẫn mà Rick đã nhận được hôm 3-10, hướng dẫn chi tiết cuộc gặp sẽ diễn ra ở Bogotá trong tháng 11. Nó được viết trong mục quảng cáo trên tờ The Washington Times.

Trong suốt cả ngày thứ bảy và chủ nhật, Murray cố tìm hiểu những dữ liệu lấy từ máy tính nhà Rick mà anh ta đã ghi vào đĩa mang về. Những gì đọc được cho thấy Rick quả thực là một “chuột chũi” vô tiền khoáng hậu. Trong số các dữ liệu thu được có một bản hướng dẫn nhiệm vụ dài chín trang mà Rick đã nhận từ Vlad trước khi rời Rome năm 1989. Các dữ liệu máy tính cũng chỉ ra những vị trí mà Rick đã sử dụng để vạch ám hiệu liên lạc với người Nga trong năm 1993. Địa điểm Hoa hồng đã được khẳng định đúng là thùng thư nằm ở góc giữa phố và ngõ Garfield. Giờ đây, các đặc vụ tham gia Nightmover cũng xác định được đâu là vị trí của Nụ cười. Qua Nụ cười, người Nga đã chỉ dẫn cho Rick về cuộc gặp sẽ diễn ra trong tháng 11-1993 ở Bogotá.

Dữ liệu máy tính cũng chỉ ra rằng Jim Milburn đã đúng. Địa điểm diễn ra cuộc gặp này, như anh ta dự đoán, nằm ở khu buôn bán Unicentro ở Bogotá.

+++++

Những chiếc máy ghi âm gắn trong ngôi nhà Rick ở phố North Randolph hoạt động hoàn hảo không chê vào đâu được. Cũng không có bất cứ dấu hiệu nào cho thấy có vẻ như Rick hoặc M. Rosario nhận ra có một sự xáo trộn nào đấy trong nhà sau kì đi vắng của họ.

Qua máy nghe lén, các đặc vụ biết được ngày 25-10, Rick đã đặt vé bay đi Bogotá vào 30-10-1993. L. Wiser dẫn đầu nhóm công tác bay đi Bogotá. Anh ta muốn chộp được tại trận Rick gặp gỡ với tình báo Nga ở đó. Để có thể buộc tội Rick trong vụ này, những bằng chúng thu thập được vẫn chưa đủ.

Đầu giờ tối hôm chủ nhật, 1-11, Leslie Wiser cùng các đặc vụ đã có mặt, bao quát tất cả các lối dẫn vào khu Unicentro. Trời mưa. Đó là Ngày Các Thánh, một ngày lễ của Colombia, nên toàn bộ khu buôn bán này đông nghịt người.

Bên trong khu chợ, một đặc vụ chờ sẵn tại khu vực lối vào sân chơi bowling. Anh ta có một máy quay giấu trong chiếc cặp ngoại giao.

7 giờ kém 15 phút tối, Rick tới khu chợ. L. Wiser có thể trông thấy vạt áo mưa của Rick phồng lên, chắc là do những tài liệu mà Rick mang theo khá nhiều. Rick bước vào khu chơi bowling, dừng lại, nhìn quanh vẻ chờ đợi. Sau đó, Rick đi bộ về phía khu chợ, lượn lờ một chốc rồi quay lại khu sân chơi bowling. Rồi Rick rời khu chợ, chỗ phồng dưới vạt áo mưa vẫn còn nhìn thấy rõ. Rick ở đó chỉ trong khoảng ba mươi phút.

L. Wiser điếng người đi vì ngạc nhiên.

Điều gì đang xảy ra? Phải chăng Unicentro chỉ là địa điểm tiếp xúc để chuẩn bị cho một cuộc gặp ở nơi khác? Liệu đã có một ai đó đi lướt qua Rick, chớp nhoáng trao một chỉ dẫn về cuộc gặp tiếp theo? Trong điều kiện đông nghìn nghịt người ở khu chợ, điều đó hoàn toàn có thể xảy ra.

L. Wiser xem lại kĩ càng cuốn băng quay ở khu chợ, cố gắng phát hiện ra một đầu mối, dù nhỏ nhất. Nhưng tuyệt nhiên không có bất cứ một manh mối nào trả lời cho những câu hỏi của anh ta. L. Wiser đành dẫn đội của mình quay về Mỹ.

L. Wiser không hề biết là Rick đã nhầm lẫn về giờ hẹn ở Unicentro vào đêm 1-11. Trên mẩu giấy mà Rick viết nguệch ngoạc để khỏi quên, Rick đã đọc nhầm “18 giờ”, tức 6 giờ chiều, thành “19 giờ”. Rick chỉ phát hiện ra sai lầm của mình sau khi rời khỏi khu chợ, đọc lại mẩu giấy rồi ghé vào một quán rượu và làm vài li Scotch.

Nhưng Rick không lo ngại lắm về sai sót này. Trong chỉ dẫn có nói rõ nếu có gì trục trặc thì cuộc gặp tiếp theo sẽ diễn ra vào đêm hôm sau, vẫn ở địa điểm cũ.

Vậy là đêm 2-11, Rick gặp Andrei ở khu chơi bowling tại Unicentro. Rick nhảy vào trong xe ô tô của Andrei và được chở đến sứ quán Nga. Tại đấy, Rick trao cho Andrei những tài liệu mang theo - chủ yếu là những đĩa mềm ghi dữ liệu trong máy tính - rồi khoan khoái uống mấy li vodka chào mừng cuộc gặp diễn ra suôn sẻ.

Rick xin lỗi vì sự lỡ hẹn đêm hôm trước. Andrei nói chính vì những chuyện như thế thường xảy ra nên mới cần phải có những phương án dự bị. Anh ta trao cho Rick 130.000 USD, lần đầu tiên bằng những tờ 100 USD mới cứng. Không có gì phải lo về chuyện đó, Andrei nói. Tất cả số tiền này đều do Moscow lấy từ một tài khoản viện trợ nước ngoài của Mỹ.

Tin tức tốt lành nhất trong buổi tối hôm ấy mà Andrei nói cho Rick biết là bất chấp những biến đổi trong kỉ nguyên mới của mối quan hệ Mỹ - Nga, một khoản tiền trị giá 1.900.000 USD đã được để dành riêng cho Rick!

+++++

Giờ đây, L. Wiser phải chạy đua với thời gian. Theo kế hoạch, Rick sẽ rời Washington vào ngày 22-2-1994 đi Moscow dự một hội nghị chống ma túy tổ chức tại đó. Trong một cuộc gặp với Gấu Bryant, giám đốc FBI Louis Freeh nói rõ là không được phép để cho Rick thực hiện chuyến đi. Có thể Rick sẽ lợi dụng cơ hội này để “bùng” mất. Không thể tin hoàn toàn vào những biểu lộ bề ngoài của Rick. Bóng ma vụ đào tẩu thành công của Edward Lee Howard vẫn còn tiếp tục ám ảnh FBI.

Theo yêu cầu của FBI, CIA đã tìm cách hoãn chuyến đi của Rick hai lần. Một lần, Rick được lệnh ở lại giúp Giám đốc CIA James Woolsey làm báo cáo cho Tổng thống B. Clinton về tình hình hiện tại của nước Nga. “Anh là người trong cơ quan nắm rõ nhất về tình hình ma túy. Chúng tôi cần anh chuẩn bị tài liệu cho giám đốc”. Còn lần thứ hai bị hoãn với cớ do trục trặc về thủ tục.

L. Wiser dự tính sau khi bị bắt, Rick và M. Rosario sẽ được chuyển đến một cơ sở giam giữ của FBI tại Tysons Corner. Rick sẽ được mang tới một căn phòng bố trí như một trung tâm chỉ huy, trên tường đính những bức ảnh chụp Rick trong quá trình bị theo dõi; những bức ảnh khác chụp các vị trí vạch ám hiệu và hộp thư chết Rick đã sử dụng cũng sẽ được gắn lên đó; còn có bản đồ thành phố Bogotá với vị trí khu chợ Unicentro bị khoanh bằng bút đỏ; một sơ đồ khu sứ quán Nga ở thủ đô Rome; bức ảnh khác chụp cuộc tiếp xúc đầu tiên của Rick với nhà ngoại giao Xô viết Sergei S. Chuvakhin; một số lượng lớn các hồ sơ cá nhân của CIA liên quan đến Rick được phóng to. Trên bảng nhắn tin, vẫn còn lại những tin nhắn: “Les, hãy gọi điện cho Rudy”; “Les, Anderson nhắn rằng muốn nói chuyện với anh”. Một cái bảng đen ghi lại số liệu về những chuyến đi nước ngoài của Rick. Các hộp đựng bánh pizza rỗng và cốc cà phê uống dở để rải rác đây đó.

Rudy Guerin nghiên cứu cẩn thận những gì mà anh ta sẽ phải tra hỏi Rick một khi tiến hành vụ bắt giữ. L. Wiser chọn John Hosinski là người thẩm vấn M. Rosario. Anh ta là người biết kiềm chế, rất thích hợp với nhiệm vụ này. Nữ đặc vụ Julie Johnson là người đã nghe lén M. Rosario trong nhiều tháng trời, nói với L. Wiser và J. Hosinski rằng cách tiếp cận tốt nhất với Rosario là đừng dồn cô ta vào chỗ không còn lối thoát. Julie nói M. Rosario là một kẻ lập dị. Hãy làm cho M. Rosario có cái cảm giác là dẫu sao thì cô ta cũng có tội. M. Rosario cũng là một người đàn bà hợm kiến thức. Cô ta sẽ trả lời nếu như cảm thấy được tôn trọng.

L. Wiser chọn Yolanda Larson là người cùng tổ thẩm vấn với Hosinski để sau này M. Rosario không thể than phiền rằng đã bị tra vấn bởi hai gã đàn ông dữ tợn. Y. Larson nói tiếng Tây Ban Nha rất chuẩn. Cô cũng đang có bầu tám tháng và điều đó khiến cho M. Rosario sẽ cảm thấy ít bị đe dọa hơn.

L. Wiser muốn việc bắt giữ Rick và M. Rosario diễn ra riêng rẽ để hai người không có lấy một phút thông cung với nhau. Cậu con trai Paul mới 5 tuổi không nên có mặt khi Rick và M. Rosario bị bắt.

Ngày tiến hành vụ bắt giữ được xác định là thứ hai, ngày 21-2-1994, một ngày trước khi Rick dự định lên đường đi Moscow.

+++++

Vào lúc 7 giờ 30 phút sáng, chỉ trừ Michael Degnan phải ở lại Sở chỉ huy tại văn phòng FBI để điều phối hệ thống truyền tin giữa các đặc vụ, toàn đội tham gia chiến dịch Nightmover đã tập trung tại bãi đỗ xe của tiệm ăn Roy Rogers, gần cơ sở Tysons Corner của FBI. Thêm mười lăm đặc vụ nữa, chọn lựa kĩ càng từ những bộ phận phản gián khác, cũng có mặt để sẵn sàng tiến hành khám xét phòng làm việc của Rick ở Langley, chụp ảnh, lục soát ngôi nhà của Rick. Họ được phổ biến những thông tin tóm tắt cần thiết trước khi bắt tay vào việc.

Vào lúc 8 giờ sáng, xe xét hỏi và bắt giữ xuất phát. Rudy Guerin ngồi cùng với Michael Donner và Dell Spry trong chiếc Chevrolet nhiều chỗ ngồi do M. Donner cầm lái. Đi ngay phía sau họ là hai xe lớn chở các đội viên trong biệt đội hành dộng SWAT của FBI. Nửa giờ sau, tất cả đã tập kết ở khu siêu thị Safeway, bên cạnh đường cao tốc Lee Highway, cách khu nhà của Rick vài khối nhà về phía nam. Tất cả ngồi yên trong xe chờ đợi.

9 giờ sáng, R. Guerin ra khỏi xe, đi bộ một vòng xem xét tình hình. Anh ta trao đổi ngắn qua máy bộ đàm với các đội viên biệt đội SWAT. Sao không thấy M. Degnan gọi nhỉ, R. Guerin nghĩ. Lẽ ra anh ta phải gọi rồi mới phải chứ!

Hôm ấy là thứ hai nhưng vì là Ngày Tổng thống, một ngày lễ nên nhân viên nhà nước vẫn được nghỉ làm. Để điều được Rick ra khỏi nhà trong buổi sáng ngày nghỉ, tách Rick ra khỏi M. Rosario, M. Degnan cần phải yêu cầu người đứng đầu bộ phận chống ma túy của CIA, Dave Edgers, ra lệnh triệu Rick đến phòng làm việc ở Langley.

Đến 9 giờ 30 phút, điện thoại trong nhà Rick đổ chuông. M. Rosario cầm máy trả lời. D. Edgers xưng danh rồi nói: “Làm ơn cho tôi nói chuyện với Rick”.

D. Edgers thở gấp; ông ta có vẻ căng thẳng. “Nào, hãy bình tĩnh lại đi”, R. Guerin thì thào.

- Dave phải không? - Rick hỏi.

- Ừ, tôi đây. Xin lỗi vì đã quấy rầy anh. Nhưng tôi nhận được một bức điện báo về chuyến đi của anh. Tôi nghĩ rằng anh nên tới đây và xem qua một chút.

- Được rồi. Tôi sẽ tới đấy sau mười lăm phút nữa.

M. Donner và các đội viên biệt đội SWAT bắt đầu cho xe đi.

Con đường Rick đi từ nhà tới Langley vòng qua một chỗ ngoặt trên phố North Randolph rồi rẽ phải sang đường Quebec. Đường Quebec giao nhau với Đại lộ Nelly Custis, nơi Rick sẽ rẽ trái để tới đường Military. Xe của biệt đội SWAT đỗ tại điểm giao nhau với đại lộ Nelly Custis.

Trong khi đó, M. Donner đỗ xe tại phố North Randoph, ngược với hướng Rick sắp đi ra. Năm phút sau, đặc vụ Nhóm G đang theo dõi ngôi nhà thông báo qua bộ đàm: “Hắn ta đang ra khỏi nhà xe”.

Họ trông thấy chiếc Jaguar của Rick lượn vòng qua chỗ ngoặt. Rick lái xe chậm, rẽ phải sang đường Quebec. Họ có thể nhìn thấy Rick bật lửa châm thuốc hút.

Ngay sau khi xe của Rick rẽ sang đường Quebec, M. Donner lập tức lái xe bám theo sau. Phía trước Rick, hai xe của biệt đội SWAT tại giao lộ với đại lộ Nelly Custis bung ra chắn ngang đường Quebec. R. Guerin đã cẩn thận chọn khu vực này cho việc thực hiện giai đoạn then chốt nhất của chiến dịch. Biết đâu đấy, nhỡ Rick sợ hãi nghĩ rằng đây là một vụ cướp và chạy xe lên vỉa hè dành cho người đi bộ rồi vượt qua bãi cỏ thì sao? Hoặc có ai đó đúng vào lúc ấy lại mở cửa đi ra ngoài, gây cản trở vụ bắt giữ? Hoặc Rick có một khẩu súng mà không ai biết?

Mike Donner bắt đầu nháy đèn đỏ trên bảng điều khiển xe của anh ta, đồng thời bật còi hụ. Rick cho xe đi chậm lại, hơi né sang lề đường, để cho xe của M. Donner gần vượt lên ngang với xe của ông ta. Rick dừng lại trước mũi một chiếc xe của biệt đội SWAT chắn ngang đường. M. Donner cho xe của mình trờ tới, đỗ lại ngay cạnh xe của Rick.

M. Donner vọt ra khỏi xe. Súng lăm lăm trong tay, Dell Spry cũng vụt ra qua cửa bên kia. M. Donner, người ưa thích môn thể thao bóng bầu dục, chạy rất nhanh đến bên cửa xe chiếc Jaguar. Trong xe, Rick trông hoàn toàn hoang mang sau cánh cửa kính dày, đang cố quay để cửa kính xe tụt xuống. Có thể nhìn thấy ông ta đang ngậm một điếu Benson & Hedges trên môi. M. Donner giật điếu thuốc ném đi.

- FBI đây. - Anh ta nói, đồng thời giơ phù hiệu của mình ra. - Anh đã bị bắt!

Rồi M. Donner mở cửa xe, lôi Rick ra ngoài.

- Vì sao? - Rick kêu lên. - Vì sao?

- Vì tội làm gián điệp. - M. Donner nói. - Anh hãy để hai tay lên nóc xe của anh.

- Cái gì! - Rick vẫn kêu toáng lên. - Thật không thể tin được. Không thể tin được!

Rudy Guerin lùi lại. Được giao nhiệm vụ khai thác Rick, anh ta không muốn Rick nhìn thấy mình liên quan trực tiếp tới những gì đang xảy ra. R. Guerin liếc đồng hồ. Thật hoàn hảo. Tất cả chỉ diễn ra trong vòng chưa đầy sáu mươi giây.

Dell Spry ấn đầu Rick xuống nóc xe. Rick mặc một chiếc quần kaki, áo thun màu xanh thẫm, bên ngoài khoác chiếc áo da. Tất cả những gì mà Spry tìm thấy khi lục soát Rick là một chiếc ví hiệu Gucci ở túi quần sau. Dell Spry quặt một tay của Rick ra đằng sau rồi đến tay kia, sau đó còng lại.

D. Spry đẩy Rick vào băng ghế sau chiếc Chevrolet của M. Donner. Chỉ đến lúc đó, R. Guerin mới vào ngồi cạnh ông ta. Qua máy bộ đàm, M. Donner báo cáo: “Đã bắt giữ đối tượng. Chúng tôi quay về Tysons Corner”. M. Donner cũng thông báo khoảng cách trên đồng hồ đo của xe. Những người bị bắt giữ luôn tuyên bố rằng họ bị đưa đến một nơi nào đó, bị đánh đập để buộc họ phải thứ tội.

Rick vẫn còn thở gấp trước những sự việc diễn ra quá nhanh.

- Đây là một sự nhầm lẫn. - Ông ta lặp đi lặp lại. - Một lầm lẫn kinh khủng.

- Ông Ames, - R. Guerin nói, - tên tôi là Rudy Guerin. Như ông đã được thông báo, ông bị bắt giữ về tội làm gián điệp.

- Thật không thể tin được! Không thể tin được!

Bằng một giọng hết sức nhẹ nhàng, R. Guerin hỏi:

- Vì sao lại không thể tin được? Ông có thể nói cho tôi biết vì sao không?

Rick chỉ gục gặc đầu: “Aaaaa...”, Rick gầm gừ vẻ chán nản.

- Ông Ames, - R. Guerin nói, - chúng ta đang đi về văn phòng chúng tôi tại Tysons Corner. Ở đó có một phòng thẩm vấn, nơi ông có cơ hội để biểu lộ sự hợp tác và kể lại câu chuyện của ông. Tôi chắc rằng ông sẽ có nhiều điều để kể. Tôi cũng xin thông báo rằng vợ ông, bà M. Rosario, cũng sắp bị bắt.

- Ôi, lạy Chúa!

- Ông nghĩ cô ta sẽ phản ứng lại những việc này như thế nào?

- Cô ấy sẽ rất hoảng sợ.

- Tại sao? - Guerin hỏi.

- Thế anh nghĩ sao? - Rick lẩm bẩm hỏi lại.

+++++

John Hosinski và Yolanda Larson đỗ xe trước ngôi nhà số 2512 trên phố North Randolph. Ngay khi họ được thông báo rằng Rick đã bị bắt giữ, J. Hosinski liền gõ cửa. Một người giúp việc ra mở cửa. “Chúng tôi muốn gặp bà Ames”, J. Hosinski nói.

Người giúp việc dẫn họ vào trong tiền sảnh.

Đúng lúc đó, M. Rosario đi xuống cầu thang. Cô ta mặc một chiếc áo lụa casmia màu be cổ lọ ôm sát người, váy nâu kẻ sọc, bên ngoài khoác một áo vét rất hợp mốt. M. Rosario đã trang điểm kĩ, dường như chuẩn bị đi đâu đó. Cô ta nhìn hai đặc vụ FBI vẻ dò hỏi.

- Bà Ames. - J. Hosinski nói với vẻ trầm tĩnh. - Tôi là nhân viên FBI. Đây là đồng nghiệp của tôi, cô Larson. Chồng của bà đã bị chúng tôi bắt giữ về tội âm mưu hoạt dộng gián điệp. Bà cũng bị bắt giữ với tội danh tương tự.

M. Rosario nhìn thẳng vào họ. Cô ta không biểu lộ một mảy may xúc động nào. Cuối cùng, cô ta nói: “Được rồi. Không thể khác được”.

Đúng lúc đó thì cậu con Paul xuất hiện.

J. Hosinski nhìn cậu bé rồi quay sang nói với M. Rosario:

- Sao chúng ta không ra ngoài cổng để chúng tôi có thể giải thích riêng cho bà điều gì đang xảy ra nhỉ?

Khi ra đến bên ngoài, anh ta nói với M. Rosario:

- Chúng tôi biết rằng mẹ của bà sang chơi đang ở đây. Bà có thể nói lại với mẹ mình, cho bà ấy biết nguyên nhân và giải thích vì sao bà phải đi. Sau khi nói chuyện với mẹ, bà nên nói chuyện với con trai. Chúng tôi không quan tâm bà nói gì với cậu ấy. Tùy bà. Rồi chúng ta sẽ cùng đi tới văn phòng chúng tôi ở Tysons Corner.

Yolanda Larson cùng M. Rosario lên gác, nơi M. Rosario nói với bà mẹ Cecilia, lúc đó vẫn còn trên giường, rằng công việc của cô ta có trục trặc; cô ta phải đi một thời gian. “Mẹ hãy chăm sóc Paul cho con”.

Paul có vẻ tò mò trước sự có mặt của J. Hosinski. Sau khi tán gẫu về chuyện ở trường học, J. Hosinski hỏi chương trình truyền hình nào Paul thích nhất.

- Chương trình Biệt động hùng mạnh. - Cậu ta nói

Trên gác, Y. Larson nói M. Rosario hãy để những đồ trang sức và cái đồng hồ mà cô ta đang đeo ở lại. Trong khi cả ba đang đi bộ rời khỏi ngôi nhà, J. Hosinski thông báo ngắn cho Mitchell, người chịu trách nhiệm phụ trách những đặc vụ sẽ lục soát căn nhà. “Bà mẹ đang ở trên gác”, J. Hosinski nói.

Gương mặt của M. Rosario vẫn trơ như đá.

+++++

Tại Tysons Corner, Rick được dẫn vào căn phòng bố trí giả như là một trung tâm chỉ huy. M. Donner lệnh cho Rick ngồi xuống cái ghế trước một cái bàn dài rồi mở còng. Rick liếc mắt quan sát những thứ treo trên tường, dợm đứng dậy định xem xét kĩ hơn mấy bức ảnh thì M. Donner đặt tay lên vai Rick ấn xuống: “Ngồi đấy”, anh ta ra lệnh.

R. Guerin ngồi đối diện với Rick.

- Rick, - anh ta nói, - trước khi chúng ta bắt đầu, tôi muốn nhắc lại những gì mà tôi đã nói với ông. Ông bị bắt vì tội làm gián điệp. Vợ ông cũng đã bị bắt. Chúng tôi biết rõ những việc ông đang làm và làm trong bao lâu rồi. Chúng tôi cũng biết ông đang làm việc cho ai. Một việc mà chúng tôi không biết và ông có thể giúp chúng tôi, cũng là giúp chính ông, là vì sao ông lại làm như vậy.

Rick hỏi liệu có thể hút một điếu thuốc được không.

- Không, không phải bây giờ. - R. Guerin nói.

- Thế còn cà phê?

- Sẽ có người mang đến cho ông. Nhưng ngay bây giờ, tôi muốn thông báo cho ông biết về quyền của ông. Đây là một bản tư-vấn-quyền-hạn. Ông nên để vài phút đọc nó. Nếu như ông hiểu những gì người ta viết trong đó và đồng ý từ bỏ những quyền hạn của mình thì ông hãy kí vào đấy.

Rick cầm bản tư vấn lên, liếc mắt qua một cái rồi đặt xuống bàn, đẩy về phía R. Guerin.

- Tôi sẽ không kí bất cứ thứ gì. - Rick nói.

- Tôi có thể biết tại sao không?

- Tôi chắc là anh biết tại sao. Theo tất cả những gì mà tôi biết về FBI trong suốt nhiều năm qua thì FBI luôn tiến hành điều tra hết sức tỉ mỉ, kĩ lưỡng các vụ án và tôi chắc rằng anh cũng biết vậy. Tôi nghĩ tôi cần nói chuyện với một luật sư.

- Có nghĩa là anh yêu cầu được gặp luật sư?

- Tôi muốn có một luật sư.

- Được rồi. - R. Guerin nói. - Như vậy chuyện này đã thỏa thuận xong. Tôi không thể hỏi bất cứ câu gì cho tới khi ông có một luật sư ở bên cạnh.

Một vẻ đắc thắng thoáng xuất hiện trên gương mặt Rick.

- Ông có thể hỏi bất cứ câu gì ông muốn. - Rick nói. - Còn tôi sẽ không trả lời.

R. Guerin hỏi Rick muốn luật sư nào. Rick nói đó là Bruce Gair, một luật sư hành nghề ở Vienna, bang Virginia. Qua những báo cáo giám sát trước đấy, R. Guerin đã biết người này là ai. Ông ta chính là người thuê căn hộ mà Rick và M. Rosario đã ở sau khi họ từ Mexico City về, cũng tham gia giải quyết vụ li dị giữa Rick và Nancy. Tất nhiên ông ta không có hiểu biết gì về những vụ án gián điệp như của Rick.

Rick không biết M. Rosario cũng đã được đưa về tòa nhà này. Điều khiến Rudy Guerin băn khoăn là tất cả những gì người đàn ông này muốn biết chỉ là có được hút thuốc lá ở trung tâm giam giữ hay không.

+++++

Tại Tysons Comer, J. Hosinski định đưa M. Rosario vào căn phòng đã được bố trí giả làm một trung tâm chỉ huy, nhưng rồi anh ta nghĩ rằng đó chưa hẳn đã là một ý hay. Cuối cùng, anh ta quyết định đưa M. Rosario vào một phòng thẩm vấn. Yolanda vẫn ngồi cạnh M. Rosario.

Lúc đó là 11 giờ 15 phút trưa ngày 21-2-1994.

J. Hosinski đưa cho M. Rosario một bản khai từ bỏ quyền hạn của mình. Bằng tiếng Tây Ban Nha, Yolanda hỏi M. Rosario rằng cô ta có muốn một bản bằng tiếng Tây Ban Nha không. “Ồ, cô nói tiếng Tây Ban Nha rất giỏi”, M. Rosario nói với Yolanda. Không, không cần thiết phải có bản tiếng Tây Ban Nha.

M. Rosario kí tên vào bản từ bỏ quyền hạn của mình.

Cô ta có vẻ như vẫn hoàn toàn giữ được sự tự chủ của bản thân.

J. Hosinski gợi ý rằng cô ta có thể kiểm tra xem tình trạng của Paul thế nào.

Nhưng khi điện thoại về nhà thì chỉ nghe thấy máy tự động trả lời.

J. Hosinski nói anh ta tin rằng bà mẹ Cecilia và cậu bé Paul có lẽ đang ở chỗ người em gái của Rick, Nancy. Họ sẽ gọi lại sau vậy.

J. Hosinski nhận thấy M. Rosario không hề hỏi về Rick.

M. Rosario xin phép đi vệ sinh. Yolanda đi cùng với cô ta. Khi quay lại, M. Rosario nói muốn biết là liệu cô ta có được uống một tách cà phê hay không? Có thể hút thuốc không?

- Dĩ nhiên là được. - J. Hosinski nói.

J. Hosinski đoan chắc với M. Rosario rằng có thể dừng cuộc thẩm vấn khi nào cô ta muốn. Nếu cô ta thấy cần ý kiến tư vấn của một luật sư thì cũng được phép.

M. Rosario biết chồng mình làm việc cho CIA. Có điều cô ta hoàn toàn không biết ông ta làm công việc gì. Cô ta phủ nhận rằng mình đã từng có hành vi trợ giúp hoạt động gián điệp. Cô ta không hề biết gì về mối quan hệ giữa Rick với người Nga cũng như bất kì một hành động gián điệp nào mà Rick can dự vào.

Cô ta nói rằng mình không chắc lắm về khoản tiền lương của Rick, nhưng có lẽ nó khoảng chừng 60.000 USD một năm.

Liệu cô ta có nghĩ rằng khoản tiền đó đủ để vợ chồng cô ta có một cuộc sống phong lưu, cho phép mua ngôi nhà sang trọng họ đang sống và một cái xe đắt tiền như Rick đang sở hữu không?

M. Rosario nói cô ta biết là họ có nhiều tiền hơn khả năng tiền lương của Rick. Nhưng cô ta nói rằng đó là từ những khoản đầu tư thành công với một người bạn ở Chicago. Cô ta nói rằng có cảm giác như khoản thu nhập này lớn gấp đôi thu nhập hằng năm của hai vợ chồng.

- Đã bao giờ bà gặp người bạn đó chưa?

- Chưa.

Liệu cô ta có biết danh tính của người bạn đó?

Cô ta không biết.

Cô ta có biết người bạn đó hiện đang sống ở đâu không?

Không.

Cô ta có biết Rick đã gặp người bạn này như thế nào không?

Không.

- Chồng cô quen với anh ta bao lâu rồi?

- Tôi không rõ.

J. Hosinski không tranh cãi một lời nào về những lời khai này, rằng quả thật là kì lạ khi bao nhiêu năm trôi qua mà M. Rosario chẳng hề mảy may quan tâm đến người bạn bí ẩn của chồng mình cùng những khoản lợi tức khổng lồ mà anh ta mang lại cho họ. Nhưng lần đầu tiên, J. Hosinski nhận thấy M. Rosario ngọ nguậy có vẻ bất an trên ghế của cô ta.

M. Rosario hỏi xem liệu cô ta có thể kiểm tra tình trạng của con trai được không?

J. Hosinski ra khỏi phòng và thông qua trung tâm chỉ huy thu xếp một cuộc gọi với người em gái Nancy của Rick. M. Rosario nói chuyện với Nancy, sau đó với mẹ của mình. Nancy đảm bảo với cô ta rằng Paul vẫn ổn.

Khoảng một giờ đồng hồ đã trôi qua.

M. Rosario tự động khai rằng không hỏi Rick tiền ở đâu ra bởi vì chồng cô ta là người nắm quyền tài chính trong gia đình, thanh toán hóa đơn mua hàng, đóng thuế thu nhập, tóm lại là tất cả những gì liên quan đến tiền nong. Cô ta cũng biết có một lượng lớn tiền mặt trong nhà, nhưng cho rằng đó là tiền thu nhập từ khoản đầu tư nọ.

- Chúng tôi biết rằng, - J. Hosinski nói, - chồng bà đã mở rất nhiều tài khoản dưới tên ông ta bằng tiền mặt.

Cô ta không biết giải thích thế nào, M. Rosario nói. Cô ta chỉ là một phụ nữ làm công việc nội trợ trong gia đình.

J. Hosinski gật đầu vẻ thông cảm. Anh ta muốn biết một vài khía cạnh cá nhân khác. Liệu Rick có hỗ trợ tiền nong cho mẹ của M. Rosario không?

Có, M. Rosario trả lời. Bố cô ta đã chết và không để lại tài sản nào cả. Mẹ cô ta là giáo viên phổ thông ở Colombia, một nghề được trả lương rất ít. Cô ta ước chừng mỗi tháng mẹ cô ta nhận được từ Rick khoảng 1.200 USD. M. Rosario nói Rick đã trả tiền mua ngôi nhà tại thành phố Cartagena ở Colombia, nơi mẹ cô ta đang ở. Hình như giá của nó là 100.000 USD. Cô ta không đề cập tới căn hộ ở Bogotá. Cô ta cũng nói là mẹ mình không biết Rick làm việc cho CIA. Ở nhiều nước Mỹ Latinh, trong đó có Colombia, người ta không có thiện cảm với CIA.

Vào lúc 1 giờ 45 phút chiều, J. Hosinski đề nghị cô ta ăn trưa. Thay vào đó, M. Rosario yêu cầu một cốc Coca Cola và một điếu thuốc.

Bây giờ thì cô ta nghĩ ra rồi, M. Rosario nói. Tiền mua ngôi nhà ở North Arlington là từ tài khoản ở Thụy Sĩ đứng tên Rick. Nhưng chiếc xe Jaguar lại được thanh toán theo phương thức trả chậm, một phần trả ngay, một phần coi như vay dài hạn. M. Rosario nói không biết chắc là chiếc Honda của mình đã được mua như thế nào.

M. Rosario hỏi liệu cô ta có thể nói chuyện với em gái Rick một lần nữa để xem tình hình của Paul thế nào không? Một cuộc gọi lại được thu xếp. M. Rosario hỏi Nancy là liệu Paul và mẹ cô ta có ở lại chỗ Nancy được không. “Tất nhiên là dược”, Nancy trả lời. “Đừng lo lắng gì về họ”.

J. Hosinski bắt đầu thăm dò M. Rosario về chuyến đi Bogotá gần nhất của Rick, diễn ra vào tháng 11 năm trước. M. Rosario trả lời rằng cô ta nghĩ đó là một chuyến đi ‘liên quan đến công việc”.

Liệu cô ta có nhận thấy rằng Rick trở về với một khoản tiền mặt lớn không?

Cô ta nói có nhận thấy, nhưng “không mấy lo lắng” về chuyện đó. M. Rosario nói Rick bảo cô ta rằng đó là tiền “từ người bạn Chicago .

M. Rosario hỏi liệu có thể đi vào nhà vệ sinh một lần nữa không. Khi trở lại, cô ta vò một tờ giấy vệ sinh trong tay. Khi ngồi xuống ghế rồi, cô ta tiếp tục xé vụn nó ra.

Đến 3 giờ kém 10 phút chiều, M. Rosario bắt đầu bán đứng Rick.

Cô ta đã không hoàn toàn trung thực. M. Rosario nói: “Tôi không biết phải làm gì”.

Yolanda Larson hơi nghiêng người về phía trước và chạm vào tay M. Rosario:

- Nói ra sự thật sẽ làm cho bà cảm thấy khá hơn và giúp được bà về sau này. Bà phải nghĩ nên làm những gì tốt nhất cho mình và con trai.

M. Rosario nhìn Larson:

- Tôi muốn nói sự thật, toàn bộ sự thật.

Cô ta thú nhận là đã biết Rick chuyển tin tức cho người Nga và nhận được tiền nhờ những thông tin này.

M. Rosario nói chỉ nhận ra điều này từ mùa hè năm 1991 - hoặc có thể là năm 1992, cô ta không chắc lắm - khi phát hiện thấy “một mẩu giấy lạ” trong ngăn ví của Rick. M. Rosario nhớ lại rằng mẩu giấy đó giống như “một bản hướng dẫn cần phải làm gì và bằng cách nào để tiếp xúc với một người nào đó”. Cô ta cũng nhớ rằng trong đó có một câu “sứ quán của chúng tôi”.

M. Rosario nói cô ta nghĩ đó là một “tin nhắn rất lạ lùng”. Nhưng khi cô ta hỏi Rick về chuyện đó thì thoạt đầu ông ta giải thích rằng đó là một công việc mà ông ta “đang tiến hành”, khiến cho cô ta nghĩ rằng đó là một “kế hoạch điệp viên nhị trùng”.

Nhưng những nỗi nghi ngờ vẫn dai dẳng bám theo cô ta, M. Rosario nói, và một tháng sau đó, khi cô ta cứ kiên trì truy hỏi thì Rick cuối cùng đã thừa nhận rằng ông ta đang làm việc cho người Nga và ‘làm việc đó vì tiền”. Tiền này, như Rick nói, là để gửi cho mẹ cô ta cũng như thanh toán tất cả những gì mà họ cần trong cuộc sống.

M. Rosario nói cô ta nghĩ Rick bắt đầu làm việc cho người Nga vào khoảng thời gian họ cưới nhau. Cô ta khẳng định đã năn nỉ Rick hãy ngừng ngay công việc ông ta đang làm lại.

Rick trả lời đã nói với “người của ông ta” rằng tới một lúc nào đó, sẽ ngừng liên hệ với họ và nghỉ hưu, cô ta nói. Theo M. Rosario, ông ta cũng nói rằng người Nga yêu cầu đưa cho họ ảnh của cô ta và con trai, nhưng Rick đã từ chối yêu cầu này.

M. Rosario nói cô ta không biết Rick đã nhận tiền của người Nga bao nhiêu lần. Tuy nhiên, cô ta biết rằng có một khoản tiền dự trữ đã được người Nga để dành sẵn khi ông ta chấm dứt mối liên hệ với họ.

Vào lúc 4 giờ chiều, trợ lí công tố Hulkover tham gia vào cuộc thẩm vấn khi M. Rosario đang tiếp tục kể câu chuyện của cô ta.

Đến 5 giờ 15 phút, cuộc thẩm vấn chấm dứt. M. Rosario nói với Hulkover rằng được Hosinski và Larson đối xử tử tế. “Họ rất tốt với tôi”, cô ta nói.

Các nhân viên chụp ảnh và lăn tay của M. Rosario. Đến 5 giờ 50 phút, M. Rosario bị còng tay trở lại. Yolanda Larson và một điệp viên nữa lái xe đưa M. Rosario về trung tâm giam giữ ở Alexandria.

Cô ta không hỏi thăm Rick, dù chỉ một lần.

+++++

Image
Image

Sáng thứ hai, ngày 22-2-1994, ngày mà lẽ ra theo kế hoạch Rick sẽ đi Nga để tham dự hội nghị chống ma túy, hai vợ chồng chính thức bị buộc tội tại buổi họp báo đông nghẹt phóng viên ở một căn phòng trong Tòa án Liên bang. Vợ chồng họ chỉ có thể vội vã gật đầu chào nhau trước khi phải đối mặt với quan tòa Barry Poretz.

Quan tòa Barry Poretz chỉ định luật sư cho Rick, là Plato Cacheris, không những là một luật sư có tiếng tăm nổi như cồn ở Washington mà còn nhận được sự đánh giá rất cao cả của FBI và Bộ Tư pháp Mỹ bởi phong cách duyên dáng cũng như thái độ không khoan nhượng trước tòa.

Buổi tối đầu tiên tại trung tâm giam giữ, Rick thừa nhận những tội lỗi của mình. Tất cả những gì Rick muốn là M. Rosario được giảm nhẹ tội. Cả Rick lẫn luật sư P. Cacheris, cho đến tận khi kết thúc vụ án, đều không biết rằng M. Rosario, trong nỗ lực nhằm gỡ tội cho bản thân, đã viết một bản khai với FBI thừa nhận rằng Rick là điệp viên của Moscow.

Hơn hai tháng sau, ngày 28-4-1994, cả Rick và M. Rosario đều nhận tội làm gián điệp và âm mưu trốn thuế. Theo thỏa thuận nhận tội, Rick phải chấp nhận mức án cao nhất: Chung thân không giảm án.

M. Rosario nhận mức án thấp nhất cho tội gián điệp được giảm khinh là 63 tháng tù giam tại Viện Trừng giới Liên bang ở Danbury, Connecticut. Thời hiệu thi hành án của cô ta được hoãn tới ngày 26-8-1994, tùy thuộc vào mức độ hợp tác của Rick với CIA và FBI. Cả hai cũng đồng ý sẽ không đệ đơn kháng án.

Kéo dài trong chín năm, hoạt động gián điệp của Rick cho Liên Xô, sau đó cho nước Nga, đã trải qua bốn đời Giám đốc CIA là W. Casey, W. Webster, R. Gates và J. Woolsey. Chỉ cần một chiếc răng của con sư tử điệp báo do KGB dẫn dắt đã đủ gây nên những tổn hại vô cùng lớn cho cộng đồng tình báo Mỹ và cả phương Tây, với rất nhiều điệp viên ngầm phải đứng trước họng súng của KGB.

Tất cả những ai liên quan đến vụ Ames trong CIA đều bị lên án, nhưng không có bất cứ một ai bị cách chức hay thuyên chuyển vị trí công tác. “Đấy không phải là phong cách của nước Mỹ, cũng không phải phong cách của CIA”, giám đốc CIA J. Woolsey khẳng định.

Bất chấp vô vàn những câu chuyện về việc FBI và CIA đã tìm ra Rick nhờ lần theo dòng tiền mà KGB cung cấp cho điệp viên này, vẫn còn tồn tại những giả thiết khác về nguyên nhân Rick bị lộ. Một trong số đó là câu chuyện của nhà báo điều tra Ronald Kessler, chuyên gia về lĩnh vực tình báo và phản gián. Theo Ronald Kessler, Rick bị một cựu nhân viên cao cấp đã về hưu của SVR, Cơ quan Tình báo Hải ngoại Nga kế tục KGB, phát giác. Người này có mật danh Avenger- Trả thù, có thể bị SVR xử tệ và đã rời bỏ nước Nga trước đấy. Do không có bất cứ một manh mối nào về Avenger nên tất cả chỉ dừng lại ở một giả thiết...

Nhiều tướng lĩnh trong KGB cho rằng người phát giác Rick cho các cơ quan điệp báo phương Tây không phải ai khác chính là Oleg Gordievsky, điệp viên đã trốn thoát sang Anh ngay trước mũi KGB. Chính O. Gordievsky lại cũng là người bị Rick tiết lộ cho KGB nhưng may mắn trốn thoát.

Rick bị FBI thẩm vấn trong xấp xỉ gần 300 giờ, chủ yếu do đặc vụ Rudy Guerin thực hiện, lúc đầu ở nhà giam tại Alexandria rồi sau đấy tại Nhà tù Liên bang Allenwood ở Pennsylvania.

Tại một trong những buổi thẩm vấn cuối cùng với Rick Ames, R. Guerin hỏi: “Rick, nếu được làm lại tất cả từ đầu, ông sẽ chọn CIA hay KGB?”

Không hề lưỡng lự một giây, Rick Ames trả lời: “KGB”.

☺ ☺ ☺ ☺ ☺

s trong một cuộc họp của đảng. Họ trở thành bạn bè và Ethel đánh máy giúp Julius những bản báo cáo về kĩ thuật. Julius thường xuyên mang quà cho cậu em trai của Ethel là David Greenglass, người sau đó cũng gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ. Quãng đ
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Yên Ba

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.