Răng Sư Tử

Lượt đọc: 103 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

5

Đường hầm Berlin

“Đúng là hành động của bọn gangster”.

Báo Neues Deutschland của Cộng hòa dân chủ Đức

Giữa hai cuộc thế chiến, Vienna, thủ đô nước Áo, là trung tâm của các hoạt động gián điệp quốc tế. Trong thời kì phát xít Đức hoành hành ở châu Âu. Đức Quốc xã coi đây là địa bàn thuận lợi để thu thập tin tức tình báo về khu vực Nam và Đông Âu. Đến thời kì sau Đệ nhị thế chiến, các cơ quan gián điệp và tình báo trên thế giới đổ xô đến Vienna, biến thủ đô nước Áo thành địa bàn trung tâm của các hoạt động gián điệp. Điều quan trọng là ở Vienna không có bất cứ cơ quan nào chịu trách nhiệm chống lại các hoạt động điệp báo, bởi vậy các điệp vụ không phải chịu rủi ro nào đáng kể. Thời kì đó, tất cả các cơ quan tình báo lớn trên thế giới đều cử người của mình tới Vienna. Người ta nói rằng số điệp viên ở Vienna còn nhiều hơn cả số binh sĩ đóng tại đây!

Năm 1948, Cục Tình báo mật SIS, hay còn gọi là MI6, bổ nhiệm một nhân vật mới, Peter Lunn, làm trưởng trạm tình báo tại Vienna. Đó là một nhân viên tình báo giàu kinh nghiệm, rất thích hợp với địa bàn Vienna sau chiến tranh. Bố của Peter Lunn, ông Arnold Lunn, là người đã thành lập một đại lí du lịch mang tên Lunn Poly, thỉnh thoảng vẫn được MI6 dùng làm bình phong để hoạt động. Peter Lunn từng là đội trưởng đội trượt tuyết của Anh tham dự Thế vận hội mùa đông 1936 ở nước Đức thời Hitler. Cho đến khi được bổ nhiệm tới trạm MI6 ở Vienna năm 1948, Peter Lunn vẫn còn là huấn luyện trường của đội tuyển trượt tuyết Anh tham dự Thế vận hội mùa đông năm 1948 tại St. Moritz, Thụy Sĩ!

Trên thực tế, Peter Lunn đã gia nhập MI6 từ năm 1941. Năm 1945, Peter Lunn tới Ý, tham dự một khóa học nhảy dù tại đây. Sau chiến tranh, Peter Lunn được cử tới một trạm tình báo không mấy quan trọng ở Hamburg tại Tây Đức. Năm 1946, Peter Lunn quay lại Anh, chịu trách nhiệm giám sát hoạt động của các trạm MI6 ở Áo và Đức. Đến khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu nóng dần lên, Peter Lunn lại được cử tới Vienna, tiền đồn chống lại các hoạt động tình báo của Moscow.

Hồng quân Liên Xô giải phóng Vienna và sau chiến tranh, thành phố bị chia thành bốn vùng do Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp kiểm soát. Khu trung tâm cổ kính của thành phố bên trong đường vành đai Ring với những đại lộ và tòa nhà chính phủ, cùng nằm dưới sự kiểm soát của bốn cường quốc.

Lần lượt từng cường quốc sẽ nắm quyền bảo đảm an ninh khu vực này hằng tháng và cử một đội tuần tra hỗn hợp có quân cảnh của cả bốn bên tham gia để tránh những sự hiểu lầm về mặt ngôn ngữ.

Phần còn lại của Vienna bên ngoài khu phố cổ cũng được chia thành bốn khu vực dưới quyền kiểm soát của Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, phân biệt chủ yếu bởi những bảng biển ghi chú. Tuy nhiên, như để tăng thêm sự rủi ro cũng như kịch tính cho các mối quan hệ nhạy cảm ở thời điểm lúc bấy giờ, các khu vực kiểm soát của từng nước đôi chỗ không liền kề nhau mà có khi bị tách rời, chẳng hạn muốn từ một khu vực do quân Anh quản lí sang một khu vực khác cũng thuộc quyền của Anh thì lại phải đi xuyên qua vùng do Liên Xô kiểm soát!

Tại Vienna, Tổng hành dinh thực hiện các chiến dịch điệp báo của phía Liên Xô, bao gồm cả trụ sở KGB cũng như của Tổng cục Tình báo quân đội Liên Xô GRU, nằm ở tầng trên cùng của khách sạn Imperial trên đường Ring. Tất cả các đường dây liên lạc, điện tín giữa Tổng hành dinh này với các đơn vị Liên Xô đang đồn trú trên đất Áo cũng như với Moscow và thế giới bên ngoài đều thông qua mạng cáp được xây dựng từ hồi thế kỉ 19, dưới thời đế chế Habsburg. Hệ thống cáp này do Cục Bưu điện Áo vận hành.

Cuộc phong tỏa Berlin do J. Stalin chủ trương nhằm giành quyền kiểm soát toàn bộ thủ đô nước Đức, kéo dài từ tháng 6-1948 đến tháng 5-1949, đã đặt các nước Đồng minh phương Tây trước hiểm họa là họ có thể bị tấn công bất cứ lúc nào. Nước Áo bỗng trở thành một tiền đồn chống lại chủ nghĩa cộng sản. Áp sát nước Áo ở phía đông là hai quốc gia theo đường lối xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc và Hungary; phía nam là Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Nam Tư dưới chính quyền của Thủ tướng, sau là Tổng thống, J. Tito. Nếu các xe tăng của Liên Xô bắt đầu lăn bánh mở đầu cho một cuộc chiến tranh mới thì rất có khả năng Áo sẽ là chiến trường chính yếu.

Khi đặt chân tới Vienna, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của P. Lunn là phải nhanh chóng thu thập những thông tin tình báo có độ mật cao của Liên Xô để có thể phản ứng kịp thời trước bất cứ một động thái nào của phía Xô viết.

P. Lunn có biệt tài trong việc điều hành các điệp viên, giao nhiệm vụ cho họ trên thực địa, đảm bảo vận hành các hoạt động điệp báo trơn tru, tưởng thưởng cho các nhân viên một cách kịp thời. Đặc biệt, viên Trưởng trạm MI6 có khả năng đánh hơi rất nhanh những cơ hội hiếm hoi để tiến hành các hoạt động điệp báo một cách hiệu quả trong cuộc đối đầu với tình báo Xô viết.

Do đặc thù điệp viên các bên hoạt động nhan nhản ở Vienna lúc bấy giờ nên lượng thông tin thu thập hằng ngày đổ về chỗ P. Lunn, khi ấy mang vỏ bọc là bí thư thứ hai sứ quán Anh, nhiều vô kể. Các thông tin tập trung chủ yếu xoay quanh những động thái chuyển quân hay việc lắp đặt, triển khai các trang thiết bị quân sự của lực lượng Xô viết. Đó là những thông tin tối cần thiết mà giới lãnh đạo Anh cần phải nắm bắt để kịp thời ra các quyết định phù hợp trong tình hình biến động và nguy cơ xảy ra chiến tranh lúc nào cũng cận kề.

Ngay khi tiếp nhận vị trí Trưởng trạm MI6 tại Vienna, P. Lunn nhận thấy rằng hầu hết các thông tin tình báo mà trạm này thu thập được chủ yếu thông qua những câu chuyện tán gẫu, hoặc qua những nguồn tin gián tiếp khó kiểm chứng. Trong khi đó, nhiệm vụ mà P. Lunn đặt ra cho mình là phải thu thập bằng được các tin tức tình báo có giá trị từ đối thủ chính của Anh - và tất nhiên là cả Mỹ - trong Chiến tranh Lạnh: Liên Xô. P. Lunn hiểu rất rõ là để có được những thông tin như thế thì cần phải có các nguồn tin nằm trong Tổng hành dinh quân đội Xô viết tại Áo hay trong giới chức cấp cao Xô viết. Mà ở thời điểm đó, trong tay P. Lunn không có những nguồn tin như vậy.

+++++

Một hôm, khi đang ngồi trong phòng làm việc để đọc báo cáo do một điệp viên có nguồn tin làm việc trong Cục Bưu điện Áo gửi về, P. Lunn bất chợt dừng lại ở một thông tin đáng chú ý: một số đường cáp thông tin nối giữa các đơn vị Hồng quân và khu vực sân bay ở phía đông nước Áo chạy ngầm bên dưới khu vực kiểm soát của Anh và Pháp.

P. Lunn lập tức nhận ra cơ hội bằng vàng của nghiệp vụ tình báo: Nếu như đào đường hầm rồi lắp đặt máy nghe lén vào hệ thống cáp thông tin này thì có thể thu được những tin tức tình báo hết sức hữu ích cho cả London lẫn Washington. Trong trường hợp nổ ra Đệ tam thế chiến giữa phương Tây với Liên Xô, những thông tin như vậy có tầm quan trọng sống còn.

Những thông tin tình báo thu thập được ở địa bàn Vienna không chỉ hữu ích cho MI6 mà còn cực kì giá trị đối với bất kì một cơ quan điệp báo nào khác, khi ấy đều đang hết sức đói thông tin. Ưu tiên cao nhất là về hoạt động của đối phương trong các đơn vị quân đội Anh bố trí dàn trải tại khu vực do Anh kiểm soát ở Vienna.

Đơn vị phụ trách thu thập những thông tin này là Bộ phận an ninh thực địa, có nhiệm vụ phát hiện, nhận diện các điệp viên Xô viết đang hoạt động trong lực lượng vũ trang Anh, đe dọa các hoạt động của phía Anh nếu nổ ra chiến tranh. Trong hoàn cảnh chiến tranh, Bộ phận an ninh thực địa được coi như mũi lao nhọn của tình báo quân đội Anh với phương châm “đi trước về sau”. Thời kì Đệ nhị thế chiến, các điệp viên của Bộ phận an ninh thực địa luôn là những người đầu tiên tiến vào các thành phố mới giành lại được từ tay quân Đức Quốc xã, chiếm giữ những cơ sở trọng yếu, bắt giữ điệp viên đối phương. Khi quân đội tiếp tục thực hiện các chiến dịch quân sự ở địa bàn tiếp theo, bộ phận này sẽ rời đi cuối cùng sau khi hoàn thành việc tổ chức hoạt động tình báo, phản gián ở thành phố vừa mới chiếm được.

Khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu bùng phát, nhiệm vụ của Bộ phận an ninh thực địa được mở rộng và họ bận rộn hơn bao giờ hết. Là một phần trong lực lượng chiếm đóng của Anh ở Vienna, Bộ phận an ninh thực địa phải phối hợp hoạt động với các cơ quan đặc biệt khác của Anh, trong đó có MI6.

Trụ sở của Bộ phận an ninh thực địa ở Vienna nằm trong một tòa nhà hai tầng xây theo phong cách thế kỉ 19 trên đường Sebastian. Một trong các mục tiêu của nó là thu thập thông tin về các tiến bộ trong ngành công nghiệp quân sự của đối phương bên kia Bức Màn sắt. Nó cũng đảm nhiệm việc hỏi cung những người vượt biên bất hợp pháp, cố gắng tìm hiểu tuyến đường mà họ đã đi khi mạo hiểm vượt qua những cánh đồng đang cày dở hay các hàng rào dây thép gai chăng dọc theo biên giới giữa Áo với Hungary và Tiệp Khắc. Sau khi loại bỏ những người tị nạn giả mạo hoặc nhân viên đặc biệt của phía bên kia đánh sang, Bộ phận an ninh thực địa thẩm vấn kĩ những người còn lại, xoáy sâu vào việc tìm hiểu các hoạt động tình báo hay thông tin về ngành công nghiệp quân sự của khối Đông Âu.

Cài đặt máy nghe lén vào đường dây điện thoại là một hạng mục khác trong các nhiệm vụ của Bộ phận an ninh thực địa tình báo Anh. Ngay trong thời điểm P. Lunn vừa mới ấp ủ kế hoạch cài máy nghe lén vào đường cáp thông tin của phía Xô viết ở Vienna thì bộ phận phản gián của tình báo Anh, đóng tại Trieste ở Ý và nấp dưới tên gọi Văn phòng nội các về lĩnh vực lịch sử, cũng đang tiến hành một chiến dịch gài máy nghe lén vào đường dây điện thoại đầy tốn kém mà đối tượng là người Nam Tư.

Trong lĩnh vực này, người Mỹ cũng không chịu kém cạnh. Bộ phận an ninh thực địa của Mỹ tồn tại dưới dạng Cục Phản gián CIC của quân đội Mỹ. Một đơn vị của Cục này tại Áo là Chi đội số 430, đảm nhiệm vai trò thực hiện các hoạt động nghe lén đối phương.

Dĩ nhiên là bên phía Xô viết cũng có các đơn vị với chức năng tương tự. Không có luật lệ nào cho cuộc chiến đặc biệt này. Luật cao nhất là tìm cách để biết nhiều hơn về đối phương và hạn chế tối đa không để đối phương biết về mình.

P. Lunn báo cáo ý định cho sếp của mình là Andrew King ở Tổng hành dinh MI6 tại London. Sinh trưởng trong một gia đình giàu có và tốt nghiệp đại học danh tiếng Cambridge, Andrew King có nhiều kinh nghiêm thực hiện các chiến dịch mật ở châu Âu. Thời kì trước Đệ nhị thế chiến, chính A. King là một trong những người sáng lập ra cái gọi là Mạng lưới Z hoạt động ở Anh, do một nhân vật gây nhiều tranh cãi trong MI6 là Claude Dansey, được biết đến với mật danh Đại tá Z, điều hành. Từ trụ sở nằm trên tầng 8 của tòa nhà Bush ở London, Mạng lưới Z hoạt động song song với MI6 và sẽ đảm nhiệm các chức năng thay thế MI6 trong trường hợp cơ quan chủ chốt này của tình báo Anh bị điệp viên Đức xâm nhập hay chi phối. Các điệp viên trong Mạng lưới Z hoạt động chủ yếu dưới vỏ bọc doanh nhân, làm việc trong các hãng lớn như Unilever hay Royal Dutch Shell...

Trong thời gian chiến tranh, A. King hoạt động chủ yếu ở địa bàn Thụy Sĩ, tại các thành phố lớn như Zurich, Geneva, Beme. Khi chiến tranh kết thúc, A. King được giao nhiệm vụ phụ trách các chiến dịch ở Áo, Thụy Sĩ và Đức, do vậy là người trực tiếp chỉ đạo dự án xây dựng đường hầm nghe lén của P. Lunn ngay từ khi nó bắt đầu.

Không chỉ xin ý kiến của MI6, P. Lunn cũng thông báo về dự án cho Bộ Ngoại giao Anh để tìm cách phối hợp. Bất cứ một chiến dịch bí mật nào có nguy cơ bị bại lộ đều cần đến các hoạt động che chắn kĩ càng để tránh tối đa các rủi ro, đặc biệt về mặt ngoại giao, nếu chẳng may nó diễn ra không suôn sẻ.

Sau khi nhận được sự chấp thuận của Tổng hành dinh MI6, P. Lunn xác định khu vực đào đường hầm nghe lén sẽ được thực hiện ở ngoại ô Schwechat. Nó nằm trên phần lãnh thổ do quân Anh quản lí, ở phía nam của thành phố Vienna, là đầu mối nhiều đường cáp thông tin của phía Xô viết. Những đường cáp này nối khách sạn Imperial - nơi đặt trụ sở các cơ quan tình báo Liên Xô tại Vienna - với sân bay và Bộ chỉ huy quân đội Liên Xô đóng trên đất Áo ở St. Pölten.

Làm thế nào để đào đường hầm gắn máy nghe lén mà không gây nên sự chú ý của phía Xô viết? P. Lunn xem xét địa thế và quyết định mua lại một căn biệt thự lớn với vườn cây rộng rãi bao quanh nằm gần đường cáp để bắt đầu tiến hành triển khai việc đào đường hầm từ đó.

Những cộng sự đắc lực của P. Lunn trong việc thực hiện dự án bí mật này là John Edward Wyke, một cựu nhân viên Nhóm các chiến dịch đặc biệt (SOE) hoạt động trong thời gian chiến tranh, sau đó được tuyển vào làm việc cho MI6; Đại tá Balmain, một chuyên gia về mỏ, chịu trách nhiệm lắp đặt và thiết kế phòng nghe lén; John Taylor, chuyên viên phụ trách các chiến dịch tối mật liên quan tới kĩ thuật viễn thám của MI6 và cả Cục An ninh MI5, chịu trách nhiệm lắp máy nghe lén vào đường cáp.

Chiến dịch đào đường hầm của tình báo Anh ở Vienna bắt đầu vào mùa thu năm 1948. Đúng lúc này, họ nhận được sự trợ giúp quý báu từ một chuyên gia làm việc trong lĩnh vực thông tin của chính phủ Áo. Người này cho phía Anh biết là có một đường cáp chạy ngầm bên dưới đường Aspang để truyền đi các thông tin quân sự của lực lượng vũ trang Xô viết. Điểm quan trọng nhất mà người chuyên gia này cung cấp là một vị trí phồng lên trên đường cáp này, không nghi ngờ gì nữa, chính là điểm mà các đường cáp khác được đấu nối vào. Việc gắn máy vào đường cáp thông qua mối nối này giúp cho công việc nghe lén trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.

Đất đào lên được bí mật chuyển tới khu vườn của một căn nhà lớn do Bộ phận an ninh thực địa sở hữu nằm ở tít phía đầu bên kia thành phố. Sau khi hoàn thành việc đào đường hầm, để bảo đảm tuyệt đối bí mật cho chiến dịch, các nhân viên đào hầm của công binh Hoàng gia Anh nhanh chóng được điều chuyển tới những vị trí công tác ở tận Singapore.

Công việc diễn ra suôn sẻ và P. Lunn bắt đầu nhận được băng ghi âm những cuộc trao đổi giữa các đơn vị Hồng quân với sở chỉ huy của họ. Cũng có các cuộc đàm thoại của người Xô viết ở Vienna với Budapest, Bucharest, Sofia. Các tin tức này được chuyển cho Cơ quan truyền thông chính phủ Anh (GCHQ) tại London, chịu trách nhiệm xử lí các thông tin liên quan đến tình báo điện tử.

P. Lunn và người của mình ở MI6 không hé răng lấy một lời cho người Mỹ biết về chiến dịch nghe lén của họ tại Vienna. Người Mỹ chỉ biết về chiến dịch đào đường hầm nghe lén của MI6 tại Vienna khi một điệp viên CIA là Carl Nelson, người làm việc cho Ban thông tin của CIA, được cử tới Vienna vào năm 1951. Không hề biết gì về chiến dịch của người Anh, C. Nelson cũng nhanh chóng phát hiện ra hai đường cáp nối khách sạn Imperial của người Xô viết với khu vực ngoại ô Vienna, sau đó đấu vào đường cáp chính nối thẳng với Moscow.

Khi C. Nelson bắt đầu loay hoay tìm vị trí để tính kế lắp máy nghe trộm vào đường cáp thì lúc đó, MI6 buộc phải can thiệp. Họ thông báo cho C. Nelson biết về chiến dịch và thế là MI6 bắt đầu chia sẻ thông tin cho CIA.

MI6 đặt mật danh cho chiến dịch nghe lén này là Smoky Joe’s, còn CIA đặt tên là Silver. Ngoài đường hầm chính Smoky Joe’s, MI6 còn triển khai đào ít nhất hai đường hầm nghe lén khác, một đường hầm được đặt mật danh là Sugar, đường kia là Lord.

Bắt đầu từ mùa thu năm 1948, Smoky Joe’s/Silver là một trong những chiến dịch do thám thành công của tình báo Anh. Nó đột ngột chấm dứt vào năm 1951, khi phía Xô viết không sử dụng các đường cáp ngầm để chuyển những thông tin quân sự nữa. Hai đường hầm SugarLord còn tiếp tục được vận hành cho đến tận năm 1955, khi người Áo giành lại quyền điều hành đất nước và các đơn vị Anh cũng như Liên Xô phải rời khỏi thành phố Vienna.

Như vậy, ý tưởng về xây dựng một đường hầm nghe lén không phải xuất phát từ CIA, mà cũng không phải đến thời đỉnh cao căng thẳng Chiến tranh Lạnh mới xuất hiện. Bản quyền của nó thuộc về MI6. Thậm chí, nó không dừng lại ở mức độ ý tưởng mà đã từng tồn tại trên thực tế, sớm hơn nhiều so với người ta tưởng, ngay trong những năm đầu tiên của thời kì Chiến tranh Lạnh.

Những đường hầm nghe lén thành công của MI6 ở Vienna là nguồn cảm hứng chủ yếu cho Đường hầm Berlin. Tuy nhiên, từ cảm hứng cho đến khi trở thành hiện thực là cả một quãng đường rất dài.

+++++

Được hình thành từ Cục Phục vụ chiến lược OSS, trong những năm đầu sau Đệ nhị thế chiến, Cục Tình báo trung ương Hoa Kỳ CIA, khi ấy còn chưa chuyển trụ sở về Langley mà vẫn bố trí rải rác trong các tòa nhà bí mật nằm ở khu trung tâm của thủ đô Washington, coi nhiệm vụ hàng đầu của mình là cảnh báo sớm cho các nhà lãnh đạo đất nước về mọi động thái của kẻ thù. Thống chế George Marshall, từng là Bộ trưởng Quốc phòng rồi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, tuyên bố: “Tôi không quan tâm họ làm gì. Tất cả những gì tôi muốn là họ thông báo trước 24 tiếng đồng hồ bất cứ một cuộc tấn công nào của phía Xô viết”.

Cuộc phong tỏa Berlin của J. Stalin năm 1948 đã củng cố thêm uy tín của CIA như là một trong những cơ quan tình báo có các đánh giá và cảnh báo đáng tin cậy. Bất chấp ý kiến của tướng Lucius D. Clay, chỉ huy trưởng các lực lượng vũ trang Mỹ ở Đức, rằng cuộc phong tỏa là dấu hiệu một cuộc tấn công sắp xảy ra của phía Xô viết, CIA đã đưa ra nhận định chính xác rằng Hồng quân khi ấy chưa sẵn sàng cho một cuộc chiến như vậy.

Ngay cả khi cuộc phong tỏa Berlin chấm dứt thì tình hình căng thẳng ở châu Âu vẫn không được cải thiện là bao. Việc hình thành hai nước Đức đối kháng nhau dẫn tới việc phân chia Berlin đã biến thành phố này trở thành miền đất hứa cho các hoạt động điệp báo của tất cả các bên. Năm 1949, Liên Xô tiến hành thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên. Cùng năm đó, phần lớn lãnh thổ Trung Hoa thuộc về những người cộng sản của Mao Trạch Đông. Năm sau, chiến tranh thực sự bùng phát trên bán đảo Triều Tiên, khởi đầu cho một vòng xoáy chạy đua vũ trang khốc liệt.

Cả ở Washington lẫn London và Moscow, ưu tiên hàng đầu của các cơ quan tình báo đặt ra là phải cảnh báo sớm về những đòn tiến công bất ngờ của đối phương. Cả cơ quan tình báo đối ngoại Đông Đức, dưới quyền chỉ huy của điệp viên huyền thoại Markus Wolf, cũng coi chức năng chính là phát hiện sớm các động thái của đối phương nhằm tránh mọi nguy cơ do những đòn tiến công bất ngờ gây ra. Người chỉ huy của tình báo hải ngoại Đông Đức này thậm chí còn sáng tác lời Đức cho một bài hát của Liên Xô để truyền cảm hứng cho những hiệp sĩ mặc áo choàng mang dao găm có tựa đề là Những chiến binh trên mặt trận vô hình.

Khi Berlin trở thành chiến trường điệp báo thì cơ quan tình báo Anh cảm thấy rõ rệt hơi nóng phả vào các hoạt động của mình. Vào thời điểm đó, cơ sở lớn nhất của MI6 nằm tại Bad Salzuflen, một thành phố nghỉ mát ở giữa Osnabrück và Hanover, trong khu vực quân Anh chiếm đóng ở Đức. Các điệp viên MI6 ở Bad Salzuflen sống trong nỗi lo âu thường trực về một cuộc tràn ngập của Hồng quân Liên Xô trong vòng 48 giờ đồng hồ. Cơ sở này của MI6 điều hành một mạng lưới các điệp viên hoạt động rải rác ở các thành phố Đông Đức, được lệnh ghi nhận bất kì một dấu hiệu nào cho thấy có thể phía Xô viết sẽ động thủ. Các điệp viên này theo dõi kĩ hệ thống đường sắt Đông Đức, đặc biệt là các toa tàu có thể sử dụng để vận chuyển xe tăng trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Những điệp viên trên biên giới giữa Ba Lan với Nga theo sát mọi hoạt động di chuyển của các đơn vị cơ giới quân đội Liên Xô, ghi lại số hiệu sơn trên những chiếc xe tăng và tập hợp các thông tin này, chuyển về cơ sở của MI6 tại Bad Salzuflen để rồi từ đây được chuyển tiếp về London.

Nhận được một dòng thác thông tin do điệp viên từ Đức gửi về, các chuyên gia phân tích của MI6 cố gắng phác họa nên một bức tranh về năng lực thực sự của quân đội Xô viết ở Đông Ầu. Tuy nhiên, họ cực kì bối rối bởi vì thông tin nhận được khá hỗn loạn, không có gì đảm bảo tính chính xác. Mạng lưới điệp viên hoạt động ở Đức tuy nhiều nhưng chất lượng thông tin thu thập được khá kém cỏi. Trước khi diễn ra một cuộc chiến thực sự trên chiến trường thì người Anh đã phải đối mặt với một cuộc chiến khác trên mặt trận bí mật. Mà trong cuộc chiến này với người Xô viết, tình thế của người Anh không được khả quan cho lắm. Việc điều hành các điệp viên hoạt động bên kia Bức Màn sắt là vô cùng khó khăn. Người Anh thiếu những thông tin tình báo xác thực để có thể hình dung ra ý định thật sự của phía Xô viết đối với mình và các đồng minh phương Tây.

Để bù đắp lại sự thiếu hụt này, người Anh lựa chọn tình báo công nghệ như một cứu cánh. Họ gửi gắm vào đó rất nhiều hi vọng, tin rằng tình báo công nghệ có thể phần nào bù đắp lại những khoảng trống thu thập thông tin mà tình báo con người không làm được. Các điệp viên khoa học trong MI6 được lệnh đẩy nhanh tốc độ phát triển các công nghệ nghe lén, cho phép thu nhận thông tin mà không nhất thiết phải cử điệp viên xâm nhập trên thực tế vào bên trong các cơ sở của đối phương.

+++++

Hơi nóng của cuộc Chiến tranh Lạnh cũng khiến Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman váng vất. Đầu năm 1950, H. Truman ra lệnh cho Hội đồng An ninh quốc gia NSC, cơ quan tham mưu hàng đầu cho tổng thống, soạn thảo một văn bản đánh giá tổng quát tình hình thế giới cũng như vạch ra chiến lược của Hoa Kỳ trước các thách thức an ninh mới xuất hiện.

Kết quả là ngày 14-4-1950, một bản báo cáo tối mật dày 58 trang tới tay Tổng thống H. Truman. Báo cáo mật này, dưới tên gọi NSC-68, mang hơi thở của “ngày tận thế” đang tới gần, đánh giá rằng Hoa Kỳ đứng trước một “thách thức sinh tử” từ phía Liên Xô. Thách thức này chỉ có thể bị ngăn chặn bằng việc Hoa Kỳ phải gấp rút xây dựng một đội quân hùng mạnh, bao gồm cả lực lượng thông thường lẫn hạt nhân. Tuy vậy, “kẻ thù” Liên Xô không phải không có điểm yếu mà theo các tác giả báo cáo thì đó là tình trạng căng thẳng trong nội bộ nền kinh tế, chính trị, tâm lí...

NSC-68 được coi như văn bản then chốt, tạo dựng nên nền tảng chính sách của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh. Được Tổng thống H. Truman phê chuẩn vào tháng 9-1950, báo cáo này chỉ ra những phương hướng cơ bản trong chính sách của Hoa Kỳ nhằm đối phó với Liên Xô suốt hai thập niên sau đó. Nguyên soái, Bá tước William Slim, trong thời gian Đệ nhị thế chiến là chỉ huy trưởng quân đội Anh ở Miến Điện, sau trở thành tổng tham mưu trưởng quân đội Hoàng gia Anh, nói với các đồng nghiệp khi trở về từ chuyến thăm Washington rằng “người Mỹ tin một cuộc chiến tranh là không thể tránh khỏi trong vòng 18 tháng tới”.

NSC-68 cũng khuyến nghị giới chức Mỹ phải “củng cố và tăng cường các hoạt động tình báo” nhằm có thể đưa ra được những cảnh báo sớm về một đòn tiến công của phía Xô viết. Thực chất, đây là cách nói giảm nhẹ, thể hiện nỗi cay đắng âm thầm đang tràn ngập cộng đồng tình báo Mỹ. Năm năm trước đó, các chuyên gia mật mã Anh và Mỹ đã hợp tác với nhau để chế tạo thành công máy giải mã Ultra, phá khóa thành công loại mật mã tối mật của tình báo Đức Quốc xã và phát xít Nhật Bản. Nhưng ở thời điểm đầu thập niên 50 ấy, họ đã thất bại trong việc phá các khóa mã của tình báo Xô viết.

Trước đấy, tình báo Mỹ vô cùng hả hê trước những kết quả mĩ mãn do dự án phá khóa mã mang mật danh Venona mang lại. Dự án này, bắt đầu từ năm 1943, đã phá thành công các bức điện mật mà KGB, khi ấy vẫn còn mang tên NKVD, sử dụng trong thời kì Đệ nhị thế chiến. Venona đã giúp giới chức tình báo Anh - Mỹ đọc được khoảng 3.000 bức điện mật của KGB, qua đó bóc gỡ nhiều lưới điệp viên Xô viết và cũng phát hiện ra một số điệp viên sừng sỏ đang hoạt động cho Moscow. Nhờ Venona, phản gián Mỹ đọc được các bức điện mật của KGB trong thời kì chiến tranh gửi cho điệp viên của mình tại New York rồi phối kiểm với lời khai của nhiều người bị bắt khác, trong tháng 7 và 8-1950 bắt giữ được cặp vợ chồng điệp viên nguyên tử Julius và Ethel Rosenberg, những người sau này bị tử hình trên ghế điện vào năm 1953.

Venona từng được mô tả như là “bí mật lớn nhất” của Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, nó có một điểm yếu chí tử là do chỉ giải mã được các bức điện mật trong quá khứ nên nó cũng chỉ xác minh được các điệp vụ từng xảy ra trước đấy, từ đó mới phối kiểm với lời khai của các điệp viên đào thoát hay những nguồn tin khác để lần ra hoạt động hay điệp viên đối phương ở thời hiện tại. Nếu máy giải mã Ultra có thể giúp các chỉ huy Anh - Mỹ biết ngay những gì đang diễn ra trong Bộ thống soái của quân đội Đức Quốc xã thời chiến tranh thì Venona lại không giúp gì được trong việc xác định người Xô viết hiện đang làm gì. Mà đó là yêu cầu bắt buộc, mang tính sống còn để có thể đưa ra các cảnh báo chính xác về ý định thực sự của phía Xô viết.

Dẫu vậy, Venona vẫn là một trong những thành tựu lớn nhất trong các hoạt động tình báo mã thám của phương Tây chống lại Liên Xô và các đồng minh. Mọi sự đang diễn ra một cách suôn sẻ thì đến tháng 10-1948, thảm họa xảy ra.

Bộ não chỉ huy các hoạt động giải mã thành công của Mỹ nằm ở trạm giải mã tối mật, đóng tại một trường trung học phổ thông cũ dành cho học sinh nữ ở Arlington Hall, Virginia. Trạm này nằm lọt bên trong một căn cứ quân sự được bảo đảm an ninh tối đa và giới chức an ninh Mỹ tin rằng đối phương không thể xâm nhập vào được từ bên ngoài.

Thế nên tình báo Xô viết lựa chọn phương thức xâm nhập từ bên trong. Sau rất nhiều nỗ lực, cuối cùng KGB cài được vào trong trạm này một điệp viên là William Weisband. Là con trai trong một gia đình người Nga di cư, thời kì Đệ nhị thế chiến, W. Weisband gia nhập lực lượng phá mã của tình báo Mỹ và được phân về làm việc trong bộ phận giải mã tiếng Nga. Trên thực tế, từ tháng 10-1948, W. Weisband đã bí mật làm việc cho KGB, được cơ quan này đặt cho mật danh trong tiếng Nga là Zhora, tức Link trong tiếng Anh. Tính tình thích giao du, W. Weisband kết bạn với rất nhiều người trong trạm, thường xuyên la cà khắp nơi, tiếp cận với những tin tức thuộc vào loại nhạy cảm nhất, nắm bắt hầu như mọi chi tiết trong các hoạt động của trạm Arlington Hall.

Các cuộc tiếp xúc với chỉ huy KGB của W. Weisband diễn ra tại một tiệm ăn bên ngoài Washington. Trước đấy, thường thì mỗi ngày hai lần, trong thời gian ăn trưa và vào cuối ngày, W. Weisband đánh cắp các tài liệu mật, giấu chúng dưới áo khoác và đem cất ở ngăn để hành lí xe ô tô của mình. Sau một thời gian, W. Weisband yêu cầu được cung cấp một máy ảnh chụp tài liệu nhưng KGB từ chối bởi lo ngại rằng làm thế thì điệp viên của mình dễ bị bắt hơn. Khi phát hiện ra W. Weisband bắt đầu rơi vào tầm mắt nghi ngờ của FBI, KGB tạm thời cắt hết mọi tiếp xúc, chỉ để lại mật khẩu trong trường hợp nối lại liên lạc...

Một trong những tiết lộ quan trọng nhất của W. Weisband cho KGB là về dự án tối mật Venona. Thông qua điệp viên này, KGB biết được rằng những dữ liệu quan trọng về nơi đóng quân của các đơn vị vũ trang Xô viết, các tham số của ngành công nghiệp, hoạt động của các điệp viên nguyên tử... đã bị phía Mỹ phát hiện qua Venona.

Cùng lúc đó, một điệp viên khác của tình báo Xô viết là Kim Philby, thành viên của Bộ Ngũ Cambridge, khi ấy được phía Anh cử sang Washington phối hợp hoạt động, cũng được CIA thông báo về sự tồn tại của Venona.

Kết hợp cả hai nguồn tin này, KGB quyết định đi một nước cờ bất ngờ. Thứ sáu, ngày 29-10-1950, toàn bộ hệ thống truyền tin bí mật của phía Xô viết thay đổi. Các hệ thống truyền tin vô tuyến điện liên quan đến hoạt động quân sự được thay lớp khóa bảo vệ mới cực mạnh, với hệ thống mã chỉ sử dụng một lần, khó phá hơn rất nhiều so với trước đó. Quy trình truyền tin cũng thay đổi khiến các thiết bị chặn bắt tín hiệu của phương Tây khó có thể vận hành suôn sẻ như trước.

Giới tình báo Mỹ gọi sự kiện này là “Ngày thứ sáu đen tối”.

Vài tháng sau, Moscow quyết định đi thêm một nước cờ nữa để phương Tây thêm mù tịt về các ý định của họ. Phần lớn các hoạt động truyền tin dựa trên tín hiệu vô tuyến được thay thế bằng các đường cáp thông tin, hoặc treo trên cao, hoặc hạ thổ, chôn ngầm dưới đất. Cả hai phương thức truyền tin này đều có tính bảo mật cao và các cơ quan do thám của phương Tây rất khó tiếp cận.

“Ngày thứ sáu đen tối” đã giáng đòn nặng nề vào hoạt động do thám tín hiệu điện tử của các đồng minh phương Tây ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương. Các cơ quan tình báo tín hiệu điện tử của Anh, Mỹ đều coi đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thất bại trong việc cảnh báo sớm các hoạt động của Liên Xô và các đồng minh trong thời gian đó. Điển hình nhất là chuyên viên giải mã của Mỹ không thể báo trước được việc các cánh quân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, tháng 6 năm 1950, đã vượt qua vĩ tuyến 38 tiến chiếm Seoul chỉ sau ba ngày phát động tiến công, mở đầu cho cuộc Chiến tranh Triều Tiên.

Thất bại về mặt tình báo ở bán đảo Triều Tiên khiến Tổng thống H. Truman cảm thấy sợ hãi bởi ông cho rằng các cơ quan tình báo của mình vẫn tiếp tục bất lực, không thể đưa ra những cảnh báo sớm về mục tiêu của đòn tiến công trong tương lai mà phía Xô viết sẽ thực hiện. Tây Đức, đặc biệt là Berlin, phải chăng sẽ là mục tiêu tiếp theo?

Trong nỗi thất vọng và lo lắng cùng cực, Tổng thống H. Truman ra lệnh nỗ lực tối đa giải mã các thông tin mật của phía đối phương nhằm thu thập các tin tức tình báo chất lượng cao. Tháng 11 năm 1952, một trong những văn bản cuối cùng mà H. Truman kí trên cương vị tổng thống là sắc lệnh thành lập Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ NSA, chịu trách nhiệm về hoạt động tình báo tín hiệu. Sau đó, vị tổng thống của Đảng Dân chủ phải nhường lại Nhà Trắng cho ứng cử viên thuộc Đảng Cộng hòa, người đã chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm đó, Dwight Eisenhower.

+++++

“Ngày thứ sáu đen tối” không chỉ giúp thúc đẩy sự ra đời của Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ. Gần như bị bịt mắt do phía Xô viết dùng các đường cáp thay thế hệ thống truyền tin vô tuyến, các cơ quan đặc biệt của Mỹ bắt buộc phải tìm phương thức hoạt động mới để giải mã kẻ thù. Mùa vàng thu hoạch thông tin từ việc chặn bắt các tín hiệu trên không trung không còn nữa; giờ đây, muốn thu thập thông tin thì chỉ còn cách là mạo hiểm tiến hành các chiến dịch trên mặt đất. Một lần nữa, các điệp viên truyền thống lại chứng tỏ vai trò quan trọng của họ. Sự tiết lộ của William Weisband cho KGB về Venona đã là động lực gián tiếp dẫn tới một trong những chiến dịch điệp báo mạo hiểm nhất thời Chiến tranh Lạnh.

Ở Washington, “Ngày thứ sáu đen tối” đã ảnh hưởng nặng nề đến một người khó tính có dáng vẻ bề ngoài cục mịch, luôn đeo kính, thường xuyên ngậm tẩu trạc ngoài 40 tuổi, tên là Frank Rowlett. Trong cộng đồng tình báo mã thám của Mỹ, F. Rowlett, một thầy giáo dạy toán, là một huyền thoại. Người đàn ông gốc Virginia này có lẽ là một trong những nhân viên giải mã giỏi nhất nước Mỹ, có khả năng phá những loại mã cực kì phức tạp, người mà theo các đồng nghiệp đánh giá có thể tự mình làm thay đổi cả chiều hướng một cuộc chiến điệp báo.

Trong những năm 1930, F. Rowlett cầm đầu một nhóm nhân viên mã thám giải mã thành công loại máy mã hóa mang tên Purple của các nhà ngoại giao Nhật Bản. Kết quả là trong suốt thời kì Đệ nhị thế chiến, tình báo Đồng minh có thể xâm nhập dễ dàng vào mọi ngóc ngách của không chỉ giới ngoại giao Nhật Bản phát xít, mà còn “đọc” được hầu như mọi suy tính của các quan chức chóp bu Đức Quốc xã. Hệ thống giải mã mang mật danh Magic của Đồng minh đã chặn bắt và giải mã thành công các bức điện tối mật do Đại sứ Nhật Bản Nam tước Hiroshi ở Berlin gửi về Tokyo, khi ông này tiến hành thảo luận kín với Bộ trưởng Ngoại giao Đức Quốc xã Joachim von Ribbentrop và thậm chí với chính Hitler. Đại sứ Nam tước Hiroshi cũng báo cáo tường tận về chuyến đi thăm thực địa hệ thống phòng thủ của Đức Quốc xã mang tên Bức tường Đại Tây Dương vào năm 1943. Việc giải mã được những bức điện mật này là món quá vô giá đối với các nhà hoạch định chính sách quân sự Đồng minh, từ đó đề ra các quyết sách mang tính bước ngoặt trên chiến trường. Tướng George C. Marshall, khi ấy là tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Mỹ ở châu Âu, đánh giá rằng nguồn thông tin từ việc giải mã các bức điện mật của Đại sứ Nam tước Hiroshi ‘là những thông tin cơ bản cho phép phía Mỹ nắm rõ các ý định của Hitler ở châu Âu”.

Ngoài việc làm trò ảo thuật với hệ thống giải mã Magic, F. Rowlett cũng chính là người đã sáng chế ra máy Sigaba của Mỹ, một loại máy mã hóa siêu đẳng mà các chuyên gia giải mã thượng thặng của cả Đức Quốc xã lẫn Nhật Bản phát xít tìm đủ mọi cách cũng không tài nào xâm nhập vào được.

Chiến tranh Lạnh bùng nổ tạo nên một bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của F. Rowlett, biến người hùng Đệ nhị thế chiến thành chiến binh hàng đầu trên mặt trận vô hình. Những kĩ năng thượng thừa của F. Rowlett lại có cơ hội phát huy hết tác dụng, đặc biệt là sau khi Mỹ kí hiệp ước mã thám năm 1948 với Anh cùng các đối tác chủ chốt trong khối Thịnh vượng chung như Canada, Úc và New Zealand, tạo thành Nhóm Five Eyes.

Là sếp tình báo trong cơ quan an ninh quân đội Mỹ, F. Rowlett nằm trong số rất ít người biết về sự tồn tại của chiến dịch Venona ngay từ những ngày đầu tiên, đồng thời điều hành các chiến dịch giải mã và mã thám của cơ sở mật mã bí mật ở Arlington Hall cho tới khi Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ NSA được thành lập vào cuối năm 1952. Khi ấy, F. Rowlett trở thành trợ lí đặc biệt của giám đốc cơ quan mới thành lập này, đồng thời là Giám đốc Trường Mã thám quốc gia nằm trong NSA.

Vào thời điểm năm 1951, F. Rowlett hết sức thất vọng trước việc bất ngờ mất đi nguồn cung cấp tin tình báo thông qua việc giải mã các bức điện mật truyền qua sóng vô tuyến của phía Xô viết. Một ngày kia, F. Rowlett tâm sự với một người bạn trong CIA về tâm trạng chán nản của mình. “Này, CIA các cậu có thể giúp được bọn tớ đấy”, F. Rowlett nói, “suy cho cùng thì chỗ các cậu chịu trách nhiệm tiến hành các chiến dịch mật ở hải ngoại, đúng không? Nếu các cậu gắn được máy nghe lén vào đường cáp thông tin của bên Xô viết thì các chuyên viên giải mã của tớ có thể lại đọc được suy nghĩ của Kremlin, như hồi chiến tranh bọn tớ đã từng đọc được ý định của cả Tokyo lẫn Berlin”.

Ý định này thật ra từ lâu cũng đã nung nấu trong đầu người bạn CIA của F. Rowlett, một người tên là William King “Bill” Harvey. Bill Harvey làm việc trong Văn phòng các chiến dịch đặc biệt của CIA, bộ phận luôn đi đầu trong cuộc chiến bí mật của nước Mỹ.

Xuất thân từ Indiana, Bill Harvey cũng là một huyền thoại trong giới tình báo Mỹ. Từng là luật sư, một con sâu rượu với thân hình thô kệch, nặng nề, Bill Harvey có vài năm làm việc trong Cục Điều tra Liên bang FBI. Bill Harvey bắt buộc phải rời khỏi FBI do vụ đâm chiếc xe hơi mình đang lái trong tình trạng say bí tỉ sau một bữa tiệc đêm, gây ra tai nạn trên đường Rock Creek ở Washington. Bill Harvey rất thích khoe khoang về các chiến tích chinh phục phụ nữ của mình. “Cứ mỗi đêm tôi lại có một người đàn bà mới”, Bill thường khoác lác như thế với các đồng nghiệp.

Bill Harvey tự mô tả mình là người luôn uống ba li martini trong bữa trưa và do vậy, thường xuyên ngủ gục ở bàn làm việc. Bill có lẽ cũng là quan chức CIA duy nhất thường xuyên đeo súng theo người. Ông ta hay để khẩu súng lục có báng khảm ngọc trai bằng tay một cách hớ hênh trên bàn làm việc, cứ như thể sắp đi ám sát một ai đó. Khi đến hiệu ăn hay thậm chí vào Đại sứ quán, ông ta cũng không rời nó, với lí do “cần nhanh chóng dùng đến nếu cần thiết!”.

Nhưng ẩn bên dưới cái vẻ ngoài thô thiển gây khó chịu ấy là một bộ óc thông minh, cực kì bén nhạy trong các vấn đề an ninh, điệp báo. Khi còn làm việc ở FBI với tư cách một chuyên gia phản gián, căn cứ vào những kết quả có được từ Venona, Bill Harvey chính là người đầu tiên chỉ ra Kim Philby, người trong Bộ Ngũ Cambridge, là một điệp viên Liên Xô.

Bill Harvey quen F. Rowlett khi hai người làm việc với nhau trong dự án Venona. Khi nghe tâm sự của người bạn mình bên NSA, Bill Harvey đi tới quyết định đầy thách thức: Khởi động một chiến dịch mật chống lại người Xô viết ở châu Âu. Địa bàn trọng tâm sẽ là ở Berlin.

Kể từ “Ngày thứ sáu đen tối”, CIA biết rằng phía Xô viết sử dụng hai hệ thống đường cáp để truyền thông tin. Một loại sử dụng cột của hệ thống bưu điện, treo trên cao. Đây là một mục tiêu khá hấp dẫn, nhưng khó tiếp cận bởi phía Xô viết tổ chức canh phòng rất nghiêm ngặt, đề phòng khả năng bị gắn thiết bị nghe lén.

Loại thứ hai là hệ thống cáp chôn ngầm dưới đất.

CIA cho rằng việc tiến hành nghe lén hệ thống đường cáp thông tin này của phía Xô viết là khả dĩ hơn cả. Muốn thế, cần phải đào đường hầm để gắn máy nghe lén vào đường cáp, mà trước khi đào đường hầm, điều đầu tiên là phải nắm rõ các hệ thống đường cáp của phía Xô viết chạy ngầm trên lãnh thổ Đông Đức, đặc biệt là ở Berlin.

Trong vòng vài tuần lễ sau đó, CIA được giao một nhiệm vụ đặc biệt là tìm kiếm thông tin về các hệ thống cáp thông tin liên lạc của phía Xô viết ở châu Âu. Nhiệm vụ này được giao cho Văn phòng các chiến dịch đặc biệt OSO của CIA, chịu trách nhiệm hoạt động trên thực địa. Bên trong OSO, nó lại được chuyển tới một bộ phận gọi là Ban D, hướng mục tiêu vào các hệ thống thông tin liên lạc ở hải ngoại.

Với sự tác động của Bill Harvey trong CIA, người bạn F. Rowlett trở thành kiến trúc sư trưởng của chiến dịch, được giao nhiệm vụ đứng đầu Ban D. Vậy là để có thể trực tiếp bao quát hết mọi chi tiết công việc, F. Rowlett chuyển văn phòng làm việc từ NSA sang CIA, tự mình báo cáo công việc với Richard Helms, khi ấy là sếp phụ trách các chiến dịch mật của CIA.

Khi Allen Dulles lên làm giám đốc CIA vào năm 1953, F. Rowlett trở thành trợ lí đặc biệt của tân giám đốc, thường xuyên báo cáo với Allen Dulles về tiến độ thực thi chiến dịch đào đường hầm nghe lén. Trên thực tế, F. Rowlett là người phụ trách toàn bộ chiến dịch, là một trong số rất ít người trong CIA biết về sự tồn tại của chiến dịch đường hầm nghe lén ở châu Âu.

+++++

Vào quãng đầu tháng giêng năm 1953, các cơ sở chặn bắt tín hiệu vô tuyến điện của KGB tại Karlshorst, Đông Berlin, bắt đầu thu được một số thông tin về những cuộc điện thoại giữa khu vực quân đội Mỹ kiểm soát ở Tây Berlin với cơ sở của Mỹ ở Frankfurt trên sông Main, khiến họ cảm thấy bối rối. Trong những cuộc nói chuyện này, người Mỹ đề cập tới một nhân vật có các biệt danh là Nhà Ngoại Giao Trẻ, Hoàng Tử Đen hay Thầy Tu. Sau này, KGB xác định được rằng đó chính là con sâu rượu William King Harvey, còn gọi là Bill Harvey, Trưởng trạm CIA ở Berlin.

Tháng 12-1952, Bill Harvey được điều tới trạm CIA Frankfurt trên sông Main ở Tây Đức, sau đó chuyển về làm trưởng trạm CIA ở Tây Berlin.

Để xúc tiến kế hoạch, một trong những người mà Bill Harvey tiếp xúc đầu tiên là Walter O’Brien, xuất thân từ Chicago, từng là cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp, làm luật sư trước khi nhảy vào lĩnh vực điệp báo. Walter O’Brien đã tốt nghiệp Đại học luật ở Wisconsin, trong thời kì Đệ nhị thế chiến tham gia chiến đấu trong lực lượng bộ binh Hoa Kỳ. Biết nói tiếng Đức lưu loát, khi quân Mỹ vượt qua sông Rhine trên đất Đức, Walter O’Brien gia nhập cơ quan tình báo quân đội, đảm nhiệm việc hỏi cung các nghi can người Đức lọt vào tay người Mỹ.

Sau chiến tranh, Walter O’Brien trở thành nhân viên CIA, thoạt đầu được bố trí hoạt động ở địa bàn Zürich của Thụy Sĩ trong vai trò một luật sư. Tiếp đó, anh ta được bổ nhiệm làm người đứng đầu đơn vị phản gián của Mỹ đóng ở Dahlem, Tây Berlin.

Với những kinh nghiệm có được trong thời kì chiến tranh, có vẻ như viên cựu luật sư kiêm cựu vận động viên thể thao rất thích hợp với vai trò người đứng đầu các hoạt động phản gián chống lại khối Xô viết ở Tây Berlin. Nhưng trên thực tế, Walter O’Brien hướng trọng tâm các hoạt động vào một nhiệm vụ duy nhất: Do thám hệ thống truyền tin của phía Xô viết để xác định xem đòn tiến công tiếp theo của phía Xô viết sẽ nhằm vào đâu.

Khi Bill Harvey tới làm trưởng trạm CIA ở Tây Berlin, việc đầu viên mà Bill làm là tiếp xúc với Walter O’Brien. Không hề nói cho Walter O’Brien biết về nhiệm vụ thực sự của mình, B. Harvey chỉ ra lệnh cho viên chỉ huy phản gián đẩy mạnh các hoạt động tìm kiếm, vẽ sơ đồ hệ thống cáp liên lạc của phía Xô viết ở Đông Đức và Đông Berlin.

B. Harvey xác định được rằng người đứng đầu bộ phận phản gián này có một biệt tài mà tất cả các cơ quan điệp báo đều mơ ước: Móc nối, tuyển mộ người để phục vụ cho hoạt động gián điệp. Niềm vui lớn nhất của Walter là tìm cách, hoặc là thuyết phục, hoặc là cưỡng ép một người nào đó làm việc cho chính phủ Mỹ. Biệt tài này của viên cựu cầu thủ bóng chày hết sức hữu ích trong giai đoạn đầu của chiến dịch đào đường hầm nghe lén. Bởi muốn đào đường hầm thì trước hết phải xác định bằng được xem hệ thống cáp thông tin của đối phương chạy qua những khu vực nào trong thành phố.

Một trong những người đầu tiên mà Walter O’Brien tuyển mộ thành công cho nhiệm vụ này là một điệp viên sống ở Schwerin, trong khu vực do phía Xô viết kiểm soát ở Đông Đức. Người này thường xuyên có các cuộc gặp Walter ở Berlin. Một lần, người này kể cho viên trưởng bộ phận phản gián Mỹ ở Tây Berlin về một đường cáp thông tin trên cao, chạy ngang ngay dưới cửa sổ căn hộ của anh ta. Walter lập tức ra lệnh cho người điệp viên này gắn vào đó máy nghe lén và người này đã thực hiện thành công. Nhưng các nhân viên mã thám của Mỹ đã không thể giải mã được những tư liệu thu thập được từ đường cáp này.

Walter O’Brien gặp may với nhân mối thứ hai mà anh ta móc nối được, một nhân viên làm việc ở bộ phận điện thoại đường dài trong cơ quan bưu điện Tây Berlin. Người này có nhiệm vụ đấu nối các hệ thống điện thoại trên toàn bộ nước Đức và vẫn giữ quan hệ với các đồng nghiệp cũ ở phía đông. Các đồng nghiệp này có thể giúp cho nhân mối của Walter O’Brien tiếp tục tuyển mộ thêm các điệp viên địa phương ở khu vực phía đông thành phố, những người nắm rõ việc phía Xô viết sử dụng hệ thống các đường cáp điện thoại như thế nào. Ngay cả sếp của Walter O’Brien, người đứng đầu cơ sở ở Berlin cũng không biết về sứ mệnh bí mật của Walter O'Brien. Việc giữ bí mật ở cấp độ cao này được duy trì trong suốt quá trình thực hiện chiến dịch.

Berlin khi ấy là đầu mối các hệ thống liên lạc của châu Âu. Vào thời gian chiến tranh bùng nổ năm 1939, có hàng trăm đường cáp liên lạc quốc tế chạy trên lãnh thổ Đức. Bất chấp sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh, đến năm 1946, các đường điện tín và điện thoại ở các vùng bị quân Đồng minh chiếm đóng nhanh chóng được phục hồi. Nhưng việc hình thành Hội đồng quân quản Đồng minh, tiếp đó là cuộc phong tỏa Berlin lần thứ nhất năm 1948 đã dẫn tới việc các đường cáp liên lạc lại bị phân chia một lần nữa. Cơ quan bưu điện chính của Berlin vẫn nằm trong khu vực do người Xô viết kiểm soát. Đến tháng 4-1949, phía Xô viết đã nắm quyền kiểm soát toàn bộ các cáp điện thoại vào ra Đông Đức, tổng cộng 93 đường, bằng việc tự mở một cơ quan giao dịch điện thoại của chính mình ở khu vực Lichtenberg của Berlin.

Cơ quan bưu điện Lichtenberg của người Xô viết là mục tiêu chính của Walter O’Brien. Các điệp viên địa phương tuyển mộ được ở khu vực này của Đông Berlin trở nên hết sức giá trị trong việc thực hiện chiến dịch. Một trong số đó làm việc ở bộ phận điện thoại đường dài tại cơ quan bưu điện Lichtenberg. Người này được phát một cuốn sổ, trong đó có những chỉ dẫn về việc sử dụng các đường cáp ngầm trong khu vực. Walter O’Brien gặp anh ta ở khu vực ranh giới giữa hai vùng chiếm đóng, gấp rút mang cuốn sổ về văn phòng CIA ở Tây Berlin, nhanh chóng chụp lại trong phòng ảnh ở trên tầng áp mái của văn phòng rồi vội vàng mang trả lại cho đầu mối trước khi ai đó kịp nhận ra sự biến mất của cuốn sổ chỉ dẫn này.

Một trong những điệp viên nổi bật nhất của Walter O’Brien có bí danh là Nummer Madchen - Cô Gái số. Cô này cũng làm việc ở bưu điện Đông Berlin, trong bộ phận có độ mật rất cao chuyên đấu nối các cuộc gọi đường dài của người dùng từ đường cáp này sang đường cáp khác. Những chi tiết về những cuộc đàm thoại ở mỗi đường cáp được ghi lại trong những tấm thẻ của các người dùng Đông Berlin hoặc Xô viết. Những tấm thẻ này, được đánh số một cách cẩn thận, cũng tìm đến căn phòng áp mái của Walter O’Brien. Danh tính của cô gái này được giữ bí mật đến nỗi ngay bản thân Walter O’Brien cũng không biết tên thật của cô ta là gì. Cô ta chỉ được tuyển mộ thông qua một đầu mối khác, dưới dạng ẩn danh, rồi sau đó được chuyển giao lại cho Walter O’Brien.

Walter O’Brien còn tuyển mộ được một điệp viên khác làm việc trong Bộ Bưu chính và Viễn thông Cộng hòa dân chủ Đức, cơ quan chịu trách nhiệm về toàn bộ mạng lưới điện thoại trên lãnh thổ Đông Đức. Người này là một chuyên gia hiểu biết rất rõ việc phía Xô viết đã sử dụng dịch vụ điện thoại quốc tế ở Đông Đức như thế nào. Hai cơ sở quan trọng bậc nhất của phía Xô viết đều sử dụng các dịch vụ này. Một là Tổng hành dinh KGB nằm ở Karlshorst; cơ sở kia là tổ hợp các văn phòng, doanh trại và hầm ngầm quân sự nằm ở khu vực Zossen-Wünsdorf, phía nam thành phố Berlin. Cơ sở thứ hai này từng được chính phủ của hoàng đế Đức sử dụng, sau đó trong thời gian chiến tranh được chuyển đổi thành Tổng hành dinh Bộ chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang của Hitler. Năm 1936, nó bắt đầu kết nối với hệ thống cáp ngầm liên kết toàn bộ các cơ sở quân sự được bố trí rải rác trong thủ đô nước Đức. Mặc dù bị không lực Hoàng gia Anh phá hủy nặng nề trong cuộc đánh chiếm Berlin cuối thời kì Đệ nhị thế chiến nhưng đến năm 1953, nó được phục hồi và hoạt động có hiệu quả như là sở chỉ huy của một bộ phận các lực lượng vũ trang Liên Xô tại Đức.

Cũng trong Bộ Bưu chính và Viễn thông Cộng hòa dân chủ Đức, Walter O’Brien còn có đầu mối khác là một phiên dịch viên tiếng Nga. Do có điều kiện tiếp xúc ở cấp cao với phía Xô viết, người này đã cung cấp cho Walter O’Brien khá nhiều thông tin hữu ích về mặt kĩ thuật của các hệ thống truyền tin bằng cáp.

Không chỉ móc nối các điệp viên ở Berlin để chuẩn bị cho chiến dịch đào đường hầm, Walter O’Brien còn tuyển mộ được nhiều điệp viên ở các thành phố khác của Cộng hòa dân chủ Đức như Dresden, Erfurt và Magdeburg nhằm tìm kiếm thông tin bổ sung về hệ thống truyền tin của phía Xô viết và Đông Đức.

Một số nguồn tin tiềm tàng khác của Walter O’Brien nằm trong số những người tị nạn hằng ngày lũ lượt chạy từ phía đông sang, bị dồn vào trung tâm định cư Marienfelde ở Tây Berlin. Thông qua các cuộc thẩm vấn những người được cho là có thông tin cần thiết trong thời gian họ sống ở phía đông, Walter O’Brien cũng thu thập được các tin tức hữu ích.

Kết hợp giữa thông tin do các điệp viên cung cấp và so sánh chúng với bản đồ, Walter O’Brien định vị được khá chính xác vị trí các đường cáp liên lạc của phía Xô viết trên toàn bộ lãnh thổ Đông Đức cũng như hình dung ra sơ bộ cung cách vận hành của chúng từ trước khi bắt đầu chiến dịch.

Tiến thêm một bước nữa, Walter O’Brien sử dụng một điệp viên nằm trong cơ quan bưu chính ở Đông Berlin để thực hiện các hoạt động thăm dò, chuẩn bị cho chiến dịch. Một đêm tháng giêng năm 1953, trong khoảng thời gian từ 11 giờ đêm đến 2 giờ sáng, khi cơ quan đã hoàn toàn vắng người và không có nguy cơ bị phát hiện, người điệp viên này đã chuyển mạch một đường cáp điện thoại của phía Xô viết sang một mạch nối với hệ thống liên lạc phía Tây Berlin. Điều này cho phép CIA tận dụng khoảng thời gian 15 phút để một chuyên gia của Walter O’Brien, trong vai trò điện thoại viên ở bưu chính Tây Berlin, ghi lại nội dung các cuộc đàm thoại. CIA tiến hành việc thử nghiệm này trong vài tuần lễ, thường thì chỉ trong vài ba phút nhưng lần lâu nhất kéo dài tới 20 phút. Sau khi phân tích nội dung những thông tin thu lượm được, trạm CIA Berlin nhận xét rằng chúng là những tài liệu có giá trị vô song.

Tất cả công tác chuẩn bị này của Walter O’Brien được Bill Harvey báo cáo về cho Giám đốc CIA Allen Dulles thông qua trạm CIA ở Frankfurt. Với hơn một nghìn nhân viên hoạt động, đây là trạm tình báo lớn nhất bên ngoài nước Mỹ của CIA trong thời gian đó. Người đứng đầu trạm này là tướng Lucian King Truscott, một cựu binh trong Đệ nhị thế chiến và được người tiền nhiệm của Allen Dulles là Walter Bedell Smith bổ nhiệm tới Frankfurt với nhiệm vụ điều hành các chiến dịch của CIA ở Đức.

Thoạt đầu, Tướng Lucian King Truscott hoàn toàn không biết gì về sứ mệnh bí mật của Bill Harvey ở Berlin. Một điệp viên CIA trong trạm mang mật danh là Fleetwood là người được CIA phân công nắm về chiến dịch tại Frankfurt. Khi được Fleetwood thông báo về chi tiết của chiến dịch, Lucian King Truscott đã hết sức ấn tượng về công tác chuẩn bị cũng như quy mô của đường hầm nghe lén sẽ được đào ở Berlin. Lucian King Truscott báo cáo về Washington rằng mọi mệnh lệnh, chỉ thị của giới chỉ huy quân sự, KGB và các nhà ngoại giao Xô viết đến và đi từ Đông Đức đều được truyền qua các đường cáp dưới dạng điện thoại hoặc điện tín. “Dĩ nhiên, chúng cũng truyền đi các thông tin từ Tổng hành dinh KGB ở Karlshorst và cơ sở quân sự ở khu vực Zossen-Wünsdorf về Moscow”, Tướng Lucian King Truscott khẳng định với Washington như để nhấn mạnh sự cần thiết phải tiến hành chiến dịch đào đường hầm.

Mùa xuân năm 1953, mọi công việc để chuẩn bị cho chiến dịch do người Mỹ thực hiện nhằm tái lập thành công của Peter Lunn ở Vienna mấy năm trước đã sẵn sàng.

+++++

Trong khi đó, ở London, những biến động chính trị đã đưa Winston Churchill quay lại Dinh thủ tướng ở số 10 phố Downing. Ở tuổi 77, thể trạng của vị thủ tướng nước Anh không còn khỏe mạnh như trước nữa nhưng ông vẫn tiếp tục duy trì một tinh thần trẻ trung, sôi nổi bằng việc bơm vào bầu không khí làm việc ở Dinh thủ tướng sự năng động hiếm có.

Người tiền nhiệm của W. Churchill, Thủ tướng Clement Attlee, một nhân vật diều hâu chống cộng hết sức cứng rắn, chính là người đã thiết lập sự hợp tác Anh - Mỹ trên mặt trận điệp báo trong thời kì Chiến tranh Lạnh, vốn từng là trợ thủ tin cậy của W. Churchill trong suốt thời gian Đệ nhị thế chiến, C. Attlee có vốn hiểu biết sâu rộng về hầu hết mọi bí mật trong quan hệ hợp tác điệp báo giữa London và Washington. Chính C. Attlee và Bộ trưởng Ngoại giao của mình, Emest Bevin, là những người bật đèn xanh cho thỏa thuận hợp tác Anh - Mỹ trong lĩnh vực bẻ khóa mật mã, đã mang lại khá nhiều lợi ích cho cộng đồng tình báo ở cả hai bên bờ đại dương.

Khi tiếp quản Dinh thủ tướng từ tay C. Attlee, Thủ tướng lần thứ hai của nước Anh W. Churchill lập tức đặt ra những đòi hỏi mới trong lĩnh vực điệp báo chống lại Moscow, W. Churchill từng một lần lãnh đạo nước Anh vượt qua khỏi cuộc chiến tranh khốc liệt trong Đệ nhị thế chiến và nay ông muốn tiếp tục một lần nữa dẫn dắt người dân Anh thoát khỏi nguy cơ bị hủy diệt bởi một cuộc chiến tranh hạt nhân có thể xảy ra.

Muốn vậy thì phải nắm bắt được mọi động tĩnh từ phía bên kia Bức Màn Sắt, thuật ngữ do chính Thủ tướng W. Churchill sáng tạo ra trong bài phát biểu nổi tiếng tại trường Đại học Westminster ở Missouri, Hoa Kỳ vào tháng 3-1946.

Một trong những hoạt động đầu tiên của Thủ tướng W. Churchill sau khi vào nhà số 10 phố Downing lần thứ hai là lên đường đi thăm Hoa Kỳ trên chiếc tàu biển Queen Mary. Khi gặp Tổng thống Mỹ H. Truman, ông W. Churchill đề nghị nối lại mối quan hệ đặc biệt đã từng có giữa hai bên trong thời kì chiến tranh. Ở Washington, thủ tướng Anh có dịp phát biểu với các nghị sĩ của cả hai viện Quốc hội Hoa Kỳ. Trong bài phát biểu của mình, W. Churchill nhắc các nghị sĩ Mỹ nhớ lại lời nhận định nổi tiếng của Thủ tướng Phổ Otto von Bismarck, rằng yếu tố bao trùm toàn bộ nền chính trị quốc tế trong thế ki 19 là việc Anh và Mỹ cùng nói chung một ngôn ngữ. “Chúng ta hãy đảm bảo rằng yếu tố bao trùm của thế kỉ 20 cũng đi trên con đường tương tự”, thủ tướng Anh tuyên bố.

Đầu năm 1953, một người bạn cũ của W. Churchill thời chiến tranh là D. Eisenhower, viên tướng từng chỉ huy quân Đồng minh trong chiến dịch đổ bộ Normandy để mở mặt trận thứ hai ở châu Âu, tiếp quản Nhà Trắng. Điều này càng khiến cho Thủ tướng W. Churchill mong muốn đưa nước Anh nhịp bước cùng với đồng minh thân thiết bên kia đại dương.

Hoạt động hợp tác tình báo hiệu quả sẽ là yếu tố mang tính then chốt để củng cố mối quan hệ giữa hai bên.

W. Churchill lo ngại Stalin có thể sẽ bất ngờ hoặc chủ ý khiêu khích để gây ra một cuộc chiến tranh ở châu Âu, đặc biệt ở địa bàn thử thách ý chí của hai bên là nước Đức, cụ thể tại Berlin. Thủ tướng Anh ra hàng loạt mệnh lệnh cho các quan chức tình báo và quốc phòng cấp dưới của mình phải kịp thời đưa ra cảnh báo sớm về những hoạt động tiến công có thể có của phía Xô viết. Mùa hè năm 1952, W. Churchill yêu cầu “Bộ Tổng tham mưu phải đưa ra nhận định về liệu có điều gì nguy hiểm xảy ra ở thời điểm hiện tại hay không và làm thế nào để ứng phó thích hợp được với những mối nguy hiểm ấy”.

Các trợ lí của thủ tướng Anh trấn an rằng không có bất cứ điều gì cho thấy khả năng xảy ra một cuộc xâm lăng và tất nhiên cũng không có tín hiệu nào cho thấy mối nguy hiểm đang tăng lên. Mặt khác, các trợ lí này cũng không quên chỉ ra rằng nếu như các lực lượng phương Tây đáp trả các hành động mang tính địa phương của phía Xô viết thì rất có thể sẽ dẫn tới một cuộc chiến tranh tổng lực.

Mặc dù vậy, W. Churchill vẫn liên tục yêu cầu phải có thêm các số liệu về khối Xô viết: Các sản phẩm quân sự, quy mô ngân sách của Liên Xô, mức độ tiêu thụ thép trên toàn lãnh thổ Liên bang Xô viết tương ứng với quy mô của lực lượng vũ trang... Đặc biệt, các thông số của loại tuần dương hạm khổng lồ lớp Sverdlov mà hải quân Liên Xô đưa vào sử dụng năm 1951 thường xuyên được cập nhật và xuất hiện trên bàn làm việc của thủ tướng Anh. Những thông tin thu thập được gây ra sự bồn chồn lo lắng. Tình báo hải quân Hoàng gia Anh soạn thảo một báo cáo mật, đánh giá hải quân Xô viết vẫn còn yếu kém hơn so với liên minh lực lượng hải quân của các nước NATO, nhưng không đánh giá thấp những mối đe dọa tiềm tàng trong tương lai. Giám đốc Tình báo hải quân Hoàng gia nhấn mạnh rằng các biện pháp bảo vệ an ninh của phía Xô viết đã khiến cho “việc thu thập tin tức tình báo trở nên hết sức khó khăn”.

Trước tình thế ấy, điều dễ hiểu là W. Churchill cảm thấy bất an. Ngay cả những ước tính tình báo do Ủy ban tình báo liên quân Anh soạn thảo cũng không đưa ra được đánh giá chiến lược là liệu có khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh tổng lực hay không, hay đó chỉ là những đòn thế ở cấp độ địa phương mà người Xô viết bày ra trong ván cờ mà họ chủ động dẫn dắt phương Tây tham gia.

W. Churchill biết rất rõ là công tác phá khóa mã của các chuyên viên tình báo Anh được tiến hành trong điều kiện tuyệt đối bí mật hay bán công khai cũng chỉ đưa ra được những kết quả tương đối chính xác về mục tiêu. Ít năm trước đó, trong thời chiến tranh, loại máy giải mã Ultra, công trình hợp tác của tình báo Anh - Mỹ đã mang lại vụ mùa bội thu cho hoạt động tình báo mã thám, khi hầu như hằng ngày, thủ tướng Anh đều nhận được những thông tin cơ bản cho phép nắm bắt được ý đồ của phe Quốc xã. Những bức điện của phe Quốc xã do phản gián Anh chặn bắt được trong thời gian này được Ultra giải mã ở cơ sở mã thám hàng đầu của Anh trong thời kì chiến tranh tại Bletchley Park. W. Churchill đã có lần ví nguồn tin có được từ cơ sở giải mã này là những “quả trứng vàng” của mình. Nhưng nay, khi cơ sở mã thám của Anh được chuyển về Cheltenham dưới tên gọi mới là Cơ quan truyền thông chính phủ Anh GCHQ, các chuyên viên giải mã của tình báo Anh đã không thể tiếp tục cung cấp những “quả trứng vàng” cho thủ tướng được nữa. Do cùng phối hợp với người Mỹ trong việc giải mã các bức điện được truyền trên sóng vô tuyến của phía Xô viết mà họ chặn bắt được nên “Ngày thứ sáu đen tối” - việc Liên Xô thay đổi phương thức truyền tin từ vô tuyến điện sang đường cáp - cũng đã giáng một đòn nặng nề vào hoạt động mã thám của tình báo Anh.

Ngay cả trước khi quay trở lại Dinh thủ tướng, với tư cách là thủ lĩnh phe đối lập trong Quốc hội, W. Churchill đã nắm được thông tin về thảm họa “Ngày thứ sáu đen tối” đối với ngành mã thám của Anh thông qua một đầu mối của mình là Alan Hillgarth, nguyên tùy viên hải quân Anh tại Madrid. Trong thời kì Đệ nhị thế chiến, W. Churchill và A. Hillgarth từng cùng sát cánh bên nhau trong chiến dịch mật của giới áo choàng và dao găm, thông qua kênh New York cung cấp hàng triệu USD nhằm đảm bảo Tây Ban Nha giữ vai trò trung lập trong cuộc chiến. Sau đó A. Hillgarth đã nghỉ hưu nhưng hai người vẫn thường xuyên giữ liên hệ. Thỉnh thoảng, ông ta tới thăm ngôi nhà vùng nông thôn của W. Churchill ở Kent, nơi mà vì lí do đảm bảo bí mật, W. Churchill đã cẩn thận để tên của người bạn cũ thời chiến tranh không xuất hiện trong bất cứ một danh sách khách mời chính thức nào.

Các thông tin mà A. Hillgarth có được chủ yếu dựa trên nguồn tin rò rỉ từ những người bạn cũ vẫn còn hoạt động năng nổ trong giới tình báo Anh. Đến khi W. Churchill được tái cử vào chức vụ thủ tướng Anh, những thông tin do A. Hillgarth cung cấp về Liên Xô hầu như đều có chiều hướng tiêu cực. Ngoài việc đạt được vài thành công ít ỏi trong công việc phá một số hệ thống mã hóa không mấy quan trọng, các chuyên gia phá khóa mã của tình báo Anh hoàn toàn bất lực trong việc bẻ khóa các hệ thống mã hóa chủ chốt của Liên Xô. Cho đến thời gian đầu những năm 1950, khi W. Churchill quay lại Dinh thủ tướng Anh, phương Tây hầu như không nắm được bất cứ thông tin quan trọng nào về ý định thực sự của phía Xô viết.

Thế nên khi quay trở lại nhà số 10 phố Downing, W. Churchill ra lệnh phải tăng cường các hoạt động thu thập tin tình báo lên một tầm mức mới.

Thủ tướng Anh có một lợi thế khi hầu hết các nhân vật chủ chốt điều hành cỗ máy chiến tranh của Anh thời Đệ nhị thế chiến vẫn tiếp tục là những người lính trong chiến hào của Chiến tranh Lạnh.

Kenneth Strong, một người Scotland từng điều hành bộ máy tình báo chống tổ chức Sinn Fein của thủ lĩnh Michael Collins ở Ireland trong những năm 1920 và là cố vấn tình báo của D. Eisenhower trong chiến dịch đổ bộ ở Normandy thời Đệ nhị thế chiến, nay chịu trách nhiệm điều hành Ủy ban tình báo hỗn hợp của Vương quốc Anh.

Sir Edward Travis, từng đứng đầu cơ sở mã thám ở Bletchley Park trong thời kì cuối Đệ nhị thế chiến, trưởng phái đoàn đàm phán để kí Hiệp ước hợp tác tình báo Anh - Mỹ năm 1948, vẫn hoạt động trong lĩnh vực giải mã. Các phương pháp bẻ khóa truyền thống đã trở nên lỗi thời thì cần phải tìm những phương cách mới.

Vẫn là người bạn A. Hillgarth đã rót vào tai thủ tướng Anh cái ý tưởng rằng máy giải mã Ultra trong thời kì chiến tranh đã khiến cho ngành mã thám của Anh trở nên lười biếng và nay cần phải có những đánh giá lại về mặt phương pháp. “Phương Tây đang có sức mạnh của một người khổng lồ bị mù đi trong bóng đêm”, A. Hillgarth nói với W. Churchill.

Việc tiến hành các chuyến bay do thám trên lãnh thổ Xô viết mang lại kết quả là những bức không ảnh cung cấp thông tin tình báo, nhưng chúng cũng khá rủi ro. Bởi thế, trước đấy Thủ tướng Clement Attlee khá miễn cưỡng khi cho phép thực hiện các phi vụ như vậy.

Đến khi tiếp quản Dinh thủ tướng, W. Churchill cho phép thúc đẩy mạnh mẽ các chuyến bay do thám. Các máy bay chiến đấu Tornado được xóa đi các dấu hiệu Mỹ, thay vào đó sơn dấu hiệu của không lực Hoàng gia Anh và được cải tiến, lắp đặt thêm nhiều máy ảnh hiện đại có độ phân giải cực cao vào thời gian đó. Xuất phát từ các căn cứ trên đất Anh, do các đội bay hỗn hợp Anh - Mỹ điều khiển, các máy bay này xâm nhập rất sâu vào lãnh thổ Liên Xô, tiến hành chụp ảnh các cơ sở quân sự trọng yếu của Liên bang Xô viết. Nếu chỉ một trong số những chiếc máy bay này bị phía Xô viết phát hiện và bắn hạ thì chắc chắn nó sẽ gây ra một vụ khủng hoảng chính trị, ngoại giao nghiêm trọng với Moscow. Thế nên W. Churchill ra lệnh rằng đích thân mình sẽ chuẩn y, cho phép thực hiện từng phi vụ một.

Tuy vậy, việc do thám trên cao chỉ mang lại những tin tức tình báo không hoàn toàn xác thực. Do thám ngầm dưới lòng đất mang lại hiệu quả lớn hơn nhiều và về mặt này, người Anh đã có một ví dụ thành công mĩ mãn với chiến dịch đào đường hầm của Peter Lunn ở Vienna vào cuối thập niên 1940.

Khi W. Churchill lần thứ hai trở thành ông chủ nhà số 10 phố Downing, Sir Steward Menzies, đứng đầu bộ máy tình báo của W. Churchill trong thời gian chiến tranh, người từng cung cấp cho thủ tướng Anh những “quả trứng vàng”, đã nghỉ hưu. Kế nhiệm là Sir John “Sinbad” Sinclair, một người đàn ông có dáng cao ráo, chắc nịch, nói giọng Scotland.

Để thực hiện chỉ thị của thủ tướng về việc tăng cường thu thập tin tức tình báo, John Sinclair báo cáo với W. Churchill về thành công của chiến dịch đường hầm nghe lén mà Peter Lunn đã thực hiện trước đấy ở Vienna, đồng thời xin phép cho tiến hành một chiến dịch tương tự. Địa điểm sẽ là Berlin.

Dĩ nhiên, một chiến dịch như vậy, nếu bị phía Xô viết phát hiện cũng sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị, ngoại giao nghiêm trọng, nhưng phía bên kia cũng đâu có kém cạnh gì. John Sinclair khéo léo cài vào trong báo cáo của mình các thông tin cho thấy phía Xô viết cũng thực hiện các biện pháp do thám kĩ thuật, sử dụng những “con bọ” điện tử để nghe lén, thu thập thông tin tình báo từ phương Tây.

Sau khi cân nhắc kĩ càng, W. Churchill đồng ý, cho phép cả MI5 và MI6 quyền không giới hạn thực hiện các biện pháp do thám trả đũa. Kết quả là Ủy ban tình báo hỗn hợp ra lệnh tiến hành một chương trình nghiên cứu, phát triển kĩ thuật nghe lén của Anh. J. Sinclair cùng với MI6 sẽ chịu trách nhiệm hướng dẫn và tiến hành chiến dịch.

Bộ phận chính trong MI6 chịu trách thực hiện chiến dịch là Ban Y, tương đương với Ban D trong CIA, chịu trách nhiệm về tình báo kĩ thuật. Tổng hành dinh của Ban Y nằm tại số 2 khu Carlton Gardens ở London, một dinh thự cổ từng là nơi ở của Nguyên soái Anh, Tử tước Horatio Kitchener.

Đứng đầu Ban Y là Tom Gimson, một sĩ quan quân đội về hưu. Dưới quyền của Tom Gimson là một tập hợp các nhân viên cả nam và nữ, nhiều người trong số đó hoặc đã bước vào tuổi trung niên, hoặc thậm chí lớn tuổi. Rất nhiều người trong số họ thuộc về thế hệ “những người Nga nói tiếng Anh ở St. Petersburg”, từng tham gia vào các hoạt động giao dịch thương mại với Anh ở thủ đô nước Nga trước Cách mạng Tháng Mười. Một số khác thuộc các gia đình Bạch vệ đã chạy trốn khỏi nước Nga sau khi những người Bolshevik lên cầm quyền. Cũng có cả các nhân viên thuộc cơ quan tình báo Ba Lan có khả năng nói thành thạo tiếng Nga chạy khỏi Ba Lan sau khi những người cộng sản giành được chính quyền.

Đó chính là các nhân viên chịu trách nhiệm xử lí, biên dịch khối lượng tài liệu đồ sộ mà các đường hầm nghe lén do Peter Lunn tiến hành ở Vienna thu thập được. Ba lần trong tuần, một chiếc máy bay đặc biệt của không lực Hoàng gia Anh lại mang các bản ghi âm từ Vienna về London để trao cho người của Ban Y dịch thuật. Làm việc ngày đêm, các nhân viên của ban này ngồi nghe lại một cách kĩ lưỡng những đoạn hội thoại bằng tiếng Nga, lọc ra những thông tin mà họ cảm thấy quan trọng rồi dịch sang tiếng Anh. Các thông tin này sẽ được tập hợp lại trong những bản tin tình báo nội bộ rút gọn để cung cấp cho các “khách hàng” quan trọng, là quan chức tình báo, Bộ Ngoại giao, rồi lên đến những cấp cao hơn nữa, tới tay thành viên chính phủ và Thủ tướng W. Churchill.

Đến mùa xuân năm 1953, khối lượng thông tin thu thập được từ các đường hầm còn lại ở Vienna phình ra một cách nhanh chóng khiến Tom Gỉmson phải cần gấp một người phó trong Ban Y để chia sẻ bớt công việc. Cuối cùng thì người này cũng tới, mang lại số phận bi kịch cho chiến dịch Đường hầm Berlin củạ hợp tác tình báo Anh - Mỹ.

+++++

Tháng 12-1952, B. Harvey chính thức đảm nhiệm cương vị Trưởng trạm CIA Berlin. Chỉ có người bạn F. Rowlett và một vài người ở Washington biết rằng nhiệm vụ thực sự của B. Harvey là điều hành chiến dịch Đường hầm Berlin, lúc này đã đi vào giai đoạn chuẩn bị gấp gáp. Bằng tiếng lóng, họ gọi dự án này là “Cái lỗ của Harvey”.

Trong khi Walter O’Brien tích cực sử dụng các điệp viên mình tuyển mộ được ở Đông Berlin và Cộng hòa dân chủ Đức đề tìm kiếm thông tin về vị trí các đường cáp thông tin của phía Xô viết thì B. Harvey bổ sung thêm người vào nhóm hành động để xúc tiến chiến dịch. Người này là Hugh Montgomery, từng hoạt động trong bộ phận phản gián X-2 ở Cục Phục vụ chiến lược OSS trong thời kì cuối Đệ nhị thế chiến. Trong thời gian này, H. Montgomery làm việc ở địa bàn Áo và Đức cùng với Richard Helms, người sau này sẽ trở thành giám đốc CIA. Khi chiến tranh kết thúc, H. Montgomery quay lại học ở Đại học Harvard và sau khi tốt nghiệp, trở thành giảng viên về ngôn ngữ. Cảm thấy buồn chán môi trường kinh viện trong trường đại học, năm 1952, H. Montgomery quay lại CIA. Năm 1953, H. Montgomery được điều đến địa bàn Berlin và thoạt đầu hoàn toàn không biết gì về chiến dịch Đường hầm Berlin đang được chuẩn bị trong vòng bí mật.

Khi tới Berlin, H. Montgomery được B. Harvey ra lệnh phối hợp với Walter O’Brien điều khiển các điệp viên ở Đông Đức. H. Montgomery cũng biết về sự tồn tại của nguồn tin mang mật danh Cô Gái Số, mặc dù không biết tên thật của cô ta.

Sau một thời gian, cuối cùng thì B. Harvey cũng tiết lộ cho cả Walter O’Brien lẫn H. Montgomery về chiến dịch Đường hầm Berlin. Ngoài ra, nhóm hạt nhân của chiến dịch tại Đức được bổ sung thêm Charlie Arnold, một cựu binh lầm lì ít nói từng làm việc trong nhóm tình báo Mỹ tham gia vào chiến dịch đường hầm nghe lén trước đấy ở Vienna; Vyrl Lichleiter, một chuyên gia kĩ thuật; và Eddie Kindell, phụ trách định vị thông tin. Cùng với Trưởng trạm CIA ở Frankfurt là Truscott và điệp viên mang mật danh Fleetwood, đó là tất cả những điệp viên CIA tại Đức biết về sự tồn tại của chiến dịch Đường hầm Berlin.

Do CIA xác định rằng hầu hết các cơ quan trong bộ máy chính quyền cũng như tình báo Tây Đức đều bị KGB của Liên Xô và Stasi của Đông Đức xâm nhập một cách toàn diện nên cách tốt nhất để giữ bí mật cho toàn bộ chiến dịch này là tuyệt đối không tiết lộ cho phía Tây Đức bất cứ một thông tin nào.

Bí mật xung quanh dự án cũng được siết chặt ở Washington khi chỉ có một số rất ít người được phép biết về chiến dịch này. F. Rowlett đã từ NSA chuyển hẳn văn phòng sang Tổng hành dinh CIA để trực tiếp tham gia điều hành chiến dịch từ thủ đô Hoa Kỳ. Để nắm bắt được diễn tiến của chiến dịch, F. Rowlett thường xuyên bay qua Đại Tây Dương, tới trạm Frankfurt để nghe báo cáo cũng như ra các chỉ lệnh cần thiết. Kinh nghiệm trong những năm tháng làm việc ở ngành mã thám giúp cho F. Rowlett rút ngắn rất nhiều thời gian trong khi tiến hành chiến dịch.

Chắc chắn là các máy nghe lén sẽ được gắn vào các đường cáp thông tin, nhưng việc đào đường hầm sẽ bắt đầu ở đâu? Nhóm của B. Harvey thu hẹp các phương án lại ở hai vị trí, đều nằm trong khu vực do phía Mỹ kiểm soát. Cuối cùng họ quyết định chọn địa điểm ở Rudow.

Theo nghiên cứu của phía Mỹ, đây là khu vực có các mạch nước ngầm khá sâu nên sẽ hạn chế việc nước tràn vào khu vực đường hầm, giảm bớt thời gian xử lí cũng như kinh phí thực hiện chiến dịch. Vị trí này cũng gần với khu vực do phía Xô viết kiểm soát, do vậy có điều kiện thuận lợi để thực hiện việc đào đường hầm thông sang để tiếp cận với các đường cáp. Các nhân viên trong nhóm của B. Harvey cũng tin rằng việc tiến hành gài máy nghe trộm vào các đường cáp thông tin ở khu vực Rudow sẽ mang lại một vụ mùa bội thu các tin tức tình báo bởi vì ở khu vực này có ba đường cáp thông tin của phía Xô viết; cả ba đường cáp này đều được sử dụng để truyền đi những thông tin có độ mật cao.

Nhưng một khó khăn mới nảy sinh. Dự tính, đường hầm sẽ dài khoảng 600 mét. Theo ước tính, để xây dựng một đường hầm như thế sẽ phải đào lên khối lượng chừng 3.000 tấn bùn đất. Sẽ phải giấu chỗ bùn đất khổng lồ này đi đâu để không gây nên sự nghi ngờ từ phía bên kia? Sau những cuộc thảo luận liên tu bất tận, cuối cùng các nhân viên trong nhóm B. Harvey quyết định là sẽ phải đào một cái hố rộng trong một tòa nhà được ngụy trang để chôn chỗ bùn cát này.

Tháng 8-1953, những bước cuối cùng của kế hoạch đào một đường hầm nhằm cài đặt các thiết bị nghe lén vào các đường cáp truyền thông tin của phía Liên Xô trên lãnh thổ Đông Berlin đã hoàn tất. F. Rowlett bay tới Frankfurt gặp B. Harvey và Truscott để xét duyệt lần cuối cùng. Sau khi thảo luận kĩ, cả ba nhất trí soạn thảo một bản kế hoạch tuyệt mật về dự án và gửi tới Giám đốc CIA Allen Dulles.

Bản kế hoạch nhấn mạnh đến “tính chất tuyệt đối bí mật” của dự án nhằm có thể “thực hiện thành công chiến dịch”. Mục tiêu của chiến dịch là nhằm “xác định và tiếp cận, thu thập thông tin tình báo qua việc lắp đặt máy nghe lén những tuyến cáp ngầm dưới mặt đất của phía Liên Xô nằm giáp giới với khu vực quản lí của Mỹ ở Berlin”. Theo dự kiến, để đạt được mục tiêu này, cần phải “đào một đường hầm dài xấp xỉ 600 mét, trong đó gần hai phần ba nằm trên phần lãnh thổ do phía Liên Xô quản lí”.

Khả năng giữ bí mật tuyệt đối lối vào đường hầm rất khó khăn nên những người xây dựng dự án đề nghị phải xây dựng một số ngôi nhà nhằm mục đích ngụy trang. Một khi những ngôi nhà này được xây xong thì phải duy trì một “tình trạng an ninh tuyệt đối” trong khu vực để đảm bảo bí mật. Nhằm mục đích này, bản kế hoạch đề nghị cho xây dựng ba nhà kho nằm gần ranh giới phân chia khu vực giữa Mỹ và Liên Xô ở Berlin với mục đích được công bố là nhằm “phân phối các trang thiết bị cho quân đội Mỹ trong tình huống khẩn cấp”. Một trong số các nhà kho này sẽ được sử dụng để làm nơi cất giấu lượng bùn đất đào lên từ đường hầm.

Việc xây dựng các nhà kho sẽ do các đơn vị quân đội Mỹ ở Berlin thực hiện trong một dự án lắp đặt bưu điện bình thường. Đây là một chiến thuật đánh lạc hướng khá tài tình, nhưng có lẽ do quá đắt nên cuối cùng, từ ba nhà kho, trên thực tế chỉ xây dựng một nhà kho để ngụy trang lối vào đường hầm. Bản kế hoạch cũng mô tả phương thức để các đơn vị công binh Mỹ có thể tiếp cận được lối vào đường hầm rồi từ đó tiếp tục đào thông sang phần lãnh thổ Liên Xô.

+++++

Khi cả hai phía Anh - Mỹ đều có nhu cầu mãnh liệt về tìm kiếm thông tin tình báo của phía Xô viết, trong khi nguồn cung cấp chủ yếu dựa trên các tin tức chặn bắt được qua vô tuyến điện đã bị cắt đứt, thì việc hợp tác với nhau để nghe lén các đường cáp thông tin chỉ còn là vấn đề thời gian.

Thời điểm cụ thể về việc hai bên chính thức bắt tay nhau thực hiện chiến dịch diễn ra trong mùa thu năm 1953. Phía Mỹ đã độc lập tiến hành các hoạt động thăm dò, tìm kiếm sơ đồ đường cáp thông tin của phía Xô viết trên lãnh thổ Đông Đức. Khi đã có hầu như đầy đủ các dữ liệu trong tay, cả F. Rowlett lẫn Phó Giám đốc CIA phụ trách các chiến dịch mật R. Helms đều nghĩ đến việc phải bắt tay với tình báo Anh để cùng thực hiện chiến dịch. Chẳng gì thì người Anh cũng đã có những kinh nghiệm vô giá về việc thực hiện thành công chiến dịch nghe lén ở Vienna mấy năm trước đó. Hơn nữa, tình báo Anh có các chuyên gia kĩ thuật lành nghề trong việc lắp máy nghe lén, kĩ năng mà CIA còn thiếu. Chiến dịch sẽ khó có khả năng thành công nếu không có sự tham gia của người Anh.

CIA gửi đề nghị cho MI6 và nhanh chóng nhận được phản hồi thuận lợi từ phía tình báo Anh, những người cũng đang khao khát muốn có các nguồn thông tin mới về mọi động tĩnh của phía Xô viết. Chẳng phải ngẫu nhiên mà giữa năm 1953, chính Peter Lunn đã được cử tới Berlin và bổ nhiệm làm Trưởng trạm MI6 tại đây.

Ngay khi tới Berlin, hoàn toàn độc lập với phía Mỹ, Peter Lunn đã cho tiến hành điều nghiên, tìm hiểu sơ đồ các đường cáp thông tin của phía Xô viết. Kết quả cũng tương tự như CIA, rằng vị trí thích hợp nhất để có thể gài máy nghe trộm là các đường cáp nằm ở Rudow, mà khu vực này lại nằm trong vùng do người Mỹ quản lí. Do vậy, Peter Lunn cũng nghĩ tới khả năng phải hợp tác với phía Mỹ thì mới hi vọng thực hiện được chiến dịch thành công. Đề nghị bất ngờ của CIA về việc hợp tác cài máy nghe lén đúng là một món quà từ trên trời rơi xuống và Peter Lunn nhanh chóng chấp nhận.

Ngày 22-10-1953, B. Harvey và Fleetwood tới London dự một cuộc họp với Cục Tình báo mật MI6 để thảo luận về kế hoạch triển khai chiến dịch. Như thường thấy trong các chiến dịch hợp tác tình báo Anh - Mỹ, phía Mỹ sẽ chịu phần lớn chi phí. Để tăng độ bảo mật, phía Anh sẽ không cần phải biết về toàn bộ các giai đoạn của chiến dịch, nhưng nhất thiết sẽ tham gia vào giai đoạn cuối, là lắp máy nghe lén vào đường cáp, kĩ năng mà họ có nhiều kinh nghiệm thực hiện.

Đến cuối năm 1953, thông qua một điệp viên của mình ở Đông Đức, MI6 đã định vị được đường cáp ngầm có thể lắp đặt thiết bị nghe lén. Đường cáp này gồm 350 đường dây liên lạc giữa Berlin với các cơ sở quân sự của Liên Xô trên toàn bộ khu vực Đông Âu, nằm bên dưới một đường cao tốc nối giữa một sân bay dưới quyền kiểm soát của người Xô viết với thành phố Berlin.

Người Anh và Mỹ tiếp tục nhanh chóng thúc đẩy dự án Đường hầm Berlin. Giữa tháng 12-1953, một cuộc gặp nữa giữa CIA và MI6 lại diễn ra ở London, thống nhất những chi tiết cuối cùng cho chiến dịch. Người Anh đặt mật danh cho chiến dịch đường hầm này là Stopwatch, còn người Mỹ gọi nó là Gold (Vàng). Có lẽ khi đặt mật danh như vậy cho chiến dịch, người Mỹ hi vọng rằng sẽ đào trúng một mỏ vàng thông tin tình báo, cho phép nhận được những tin tức quý báu mang tính sống còn đối với an ninh của Mỹ và các đồng minh ở châu Ầu.

Đến ngày 20-1-1954, Giám đốc CIA A. Dulles chính thức phê chuẩn dự án này.

Ngày 9 và 10-2-1954, thỏa thuận giữa hai cơ quan tình báo Anh - Mỹ đã được thiết lập, trong đó có việc thành lập một đơn vị xử lí thông tin điện tín tại Washington. Việc xây dựng một nhà kho ngụy trang lối vào đường hầm với tầng hầm sâu một cách bất thường và có độ nghiêng để thuận tiện cho việc đưa các trang thiết bị vào, sẽ do các đơn vị xây dựng của Đức ở Berlin đảm nhiệm. Đồng thời, tại bang New Mexico của Mỹ, các nhân viên được chọn để đào đường hầm bắt đầu thực tập trên một mô hình tương tự như thật.

Người Anh cũng cho đào một đường hầm thử nghiệm trong khu căn cứ quân sự tại Surrey, nơi có kết cấu địa tầng tương đối giống Berlin. Đường hầm này do các kĩ sư hầm mỏ của Anh xây dựng, kể cả các công việc trên mặt đất cũng như việc xây dựng một nhà kho quân sự phía trên đường hầm; riêng việc vận chuyển đất cát và lắp đặt các trang thiết bị kĩ thuật do người Mỹ đảm nhiệm.

Trên thực tế, một nhóm riêng rẽ các kĩ sư của quân đội Mỹ sẽ xây dựng đường hầm ở Berlin; người Anh chịu trách nhiệm đào một đường ống nhỏ từ cuối đường hầm lớn thông tới chỗ những đường cáp cần tiếp cận và một nhóm các chuyên gia kĩ thuật thông tin của Anh sẽ lắp các máy nghe trộm vào đường cáp. Kinh nghiệm của người Anh trong lĩnh vực này là độc nhất vô nhị.

+++++

Khi mọi sự đã chuẩn bị xong, nhận được sự phê chuẩn chính thức của Allen Dulles, B. Harvey bèn tiến hành thuê khu đất ở Rudow và kí với nhà thầu Tây Đức hợp đồng xây dựng một khu doanh trại cho quân đội Mỹ. Toàn bộ khu vực này được rào kín bởi hàng rào dây thép gai có gắn các thiết bị báo động. Trung tâm của khu vực là một tòa nhà lớn với những thiết bị ăng ten vươn lên trên nóc, bên ngoài trông giống một “trạm radar”. Đây chính là tòa nhà ngụy trang, nơi sẽ bắt đầu đường hầm, với các phòng ở, khu nhà bếp, phòng ăn dành cho các nhân viên. Bên cạnh đó còn có một khu nhà khác được trang bị các máy phát điện diesel. Nhìn từ bên ngoài, toàn bộ khu vực trông như một cơ sở radar của quân đội Mỹ, không có gì bất thường. Đối với nhà thầu Đức, đây chỉ là công việc xây dựng một cơ sở quân sự cho đội quân chiếm đóng. Đến gần cuối tháng 8-1954, họ hoàn thành công trình và bàn giao cho người Mỹ.

Sau khi khu nhà ngụy trang được xây dựng xong, ngày 28-8-1954, các nhân viên xây dựng tiếp quản và chờ các trang thiết bị đào đường hầm được vận chuyển tới. Quá trình này chiếm khá nhiều thời gian. Các thiết bị này tập kết tại một khu kho quân sự của quân đội Mỹ ở Richmond, Virginia, rồi được chuyển tới cảng Norfork. Từ đây, chúng được vận chuyển bằng tàu biển tới cảng Bremen ở Đức, rồi những chuyến tàu hỏa của các lực lượng Đồng minh phương Tây mang chúng tới Berlin. Đây chính là một trong những hợp phần chứa đựng nhiều rủi ro nhất của chiến dịch bởi vì các đoàn tàu này phải chạy qua vùng lãnh thổ Đông Đức. Phía Đông Đức thường xuyên lập các chốt kiểm tra những chuyến tàu hỏa chạy ngang qua vùng lãnh thổ do họ kiểm soát. Họ kiểm tra ngẫu nhiên các toa tàu để tìm kiếm những loại hàng hóa bị cấm. Để che mắt phía Đông Đức, thiết bị dùng để đào đường hầm được nhồi vào bên trong những thùng gỗ hai lớp rồi chất lên các toa tàu nặng 125 tấn. Các thiết bị này đã được vận chuyển tới đích mà không gặp phải bất cứ sự nghi ngờ nào từ phía Đông Đức.

Để đảm bảo cho ngôi nhà ngụy trang giống với một “trạm radar” thực thụ, phía Mỹ bố trí một nhóm gồm 16 kĩ sư thường xuyên ra vào ngôi nhà. Những người này đều mặc đồng phục thành viên của đơn vị 9539, một bộ phận trong Cục Tín hiệu quân đội Hoa Kỳ.

Trước khi bắt tay vào đào đường hầm, B. Harvey phải đau đầu tìm cách xác định một cách chính xác, chỉ được phép sai số vài centimet, địa điểm nơi con đường hầm nằm ngang sẽ chấm dứt để đào chếch lên trên tiếp cận với các đường cáp thông tin và gắn máy nghe lén vào.

Để tính toán chính xác, B. Harvey tổ chức cho nhân viên của mình giả vờ lơ đãng ném những quả bóng mềm qua phía bên kia hàng rào biên giới. Nhưng cứ mỗi khi bóng được ném sang thì những người lính biên phòng Đông Đức tốt bụng lại ném trả lại. Cuối cùng B. Harvey đành phải sử dụng một biện pháp rủi ro hơn nhiều là bố trí một chiếc xe của quân đội Mỹ chạy trên đường Schonefelder Chausee và làm cho xì lốp ở đúng ngay nơi mà đường cáp chạy ngầm bên dưới. Trong khi các nhân viên loay hoay thay lốp thì một người kín đáo đặt một tấm gương nhỏ ở vệ đường. Từ khu nhà kho, một nhân viên khác chiếu tia sáng vào chiếc gương và nhận được tia phản xạ. Dựa trên hai tia sáng này, các kĩ sư Mỹ đo đạc, tính toán và tìm ra chính xác địa điểm cần thiết để chuyển hướng đường hầm bên dưới mặt đất.

Ngày 2-9-1954, công việc xây dựng tầng thứ nhất của đường hầm bắt đầu. Đầu tiên phải đào một đường thẳng đứng từ nền ngôi nhà ngụy trang đâm sâu xuống dưới chừng hơn 6 mét, sau đó mới chuyển sang đào đường hầm nằm ngang. Công việc có vẻ dễ dàng nhưng chỉ sau 6 ngày, những rắc rối đầu tiên bắt đầu nảy sinh. Ngày 8-9, khi đào xuống tới độ sâu khoảng 5 mét thì nước bắt đầu rỉ ra. Họ đã đào vào đúng một mạch nước ở khu vực đó. Các nhân viên đào hầm buộc phải dùng máy bơm để bơm nước ra, nhưng việc đào hầm phải dừng lại vì khả năng nước tràn vào ngập đường hầm là hoàn toàn có thể.

Việc nước bất thần rỉ ra sớm là một nỗi ngạc nhiên khó chịu đối với các kĩ sư chịu trách nhiệm xây dựng đường hầm: Họ đã dự đoán phải đào xuống đến độ sâu cỡ 10 mét thì mới có nước.

Tín hiệu báo động về việc chiến dịch đổ bể ngay từ những bước đầu tiên được gióng lên cấp bách. Khi ấy, B. Harvey cùng với đội của mình buộc phải đứng trước lựa chọn khó khăn: Hoặc dừng chiến dịch; hoặc tìm cách khắc phục trở ngại về mặt kĩ thuật, tiếp tục đào đường hầm để sớm gắn máy nghe lén vào những đường cáp thông tin của phía bên kia với hi vọng có thể thu nhận được những thông tin tình báo quan trọng.

Đối với B. Harvey, việc phải dừng chiến dịch vào thời điểm ấy là không thể được. Từ Nhà Trắng liên tục đưa ra những lời phàn nàn của tổng thống về việc tình báo Mỹ không cung cấp được những thông tin cho phép hình dung ra một cách đầy đủ về ý định của phía Xô viết. Hầu hết đều là những tin tức tủn mủn, vụn vặt. Việc Liên Xô thử thành công quả bom khinh khí một năm trước đấy đã gây nên một nỗi kinh ngạc cực lớn cho tổng thống và nó đã biến thành nỗi khó chịu dai dẳng về năng lực của các cơ quan tình báo Mỹ. Bốn tháng trước đấy, trong cuộc diễu binh ngày Quốc tế Lao động 1-5 trên Quảng trường Đỏ, phía Liên Xô cũng đã lần đầu tiên cho các nhà báo quốc tế thấy những phi đội máy bay ném bom chiến lược tầm xa Bison đầu tiên, một cuộc biểu diễn mà CIA không hề dự báo trước. “Vị thế của các cơ quan tình báo chúng ta quả thật là không thể tệ hơn”, Tổng thống D. Eisenhower phàn nàn.

Để cải thiện tình hình, đúng vào thời gian chiến dịch đào đường hầm bắt đầu khởi sự ở Rudow thì Tổng thống D. Eisenhower đã bổ nhiệm James Killian, hiệu trưởng Đại học Công nghệ Massachusetts, làm người đứng đầu một ủy ban tối mật có nhiệm vụ “tích cực thu thập các thông tin tình báo về ý định cũng như khả năng của kẻ thù nước Mỹ”.

Đồng thời, trong cùng thời gian, Trung tướng James Doolittle, người đã chỉ huy phi vụ các máy bay cảm tử của Mỹ không kích vào lãnh thổ Nhật Bản hồi tháng 4-1942 để trả đũa cho trận Trân Châu Cảng, được Tổng thống D. Eisenhower giao nhiệm vụ soạn thảo một báo cáo về năng lực của Cục Tình báo trung ương Hoa Kỳ CIA. Trong báo cáo này, Trung tướng James Doolittle đưa ra những nhận định thẳng thừng: “Ngày nay, việc tìm kiếm các thông tin tình báo về khả năng cũng như ý định của phía Xô viết là những đòi hỏi chính trị và quân sự có tầm quan trọng sống còn. Chúng ta đang phải đối mặt với một kẻ thù hung hãn. Không có luật trong trò chơi này. Cho đến nay, những quy tắc có thể chấp nhận đã không được áp dụng. Nếu nước Mỹ muốn sống sót thì các khái niệm lâu nay về việc ‘chơi đẹp’ cần phải được xem xét lại. Chúng ta phải điều hành các đơn vị tình báo và phản gián hoạt động sao cho có hiệu quả, học hỏi các cách thức đảo chính, phá hoại và hủy diệt kẻ thù bằng những phương pháp thông minh hơn, kĩ thuật hơn và hiệu quả hơn so với những gì mà họ làm để chống lại chúng ta”.

Kết luận báo cáo, Trung tướng James Doolittle cho rằng kể từ khi Bức Màn Sắt được dựng lên thì những phương thức hoạt động gián điệp kiểu truyền thống như sử dụng điệp viên hay mua chuộc bằng tiền đã trở nên lỗi thời; thay thế vào đó phải áp dụng các giải pháp tình báo khoa học và công nghệ.

Tổng thống Mỹ D. Eisenhower rõ ràng đồng ý với kết luận này của viên tướng không quân. Hội đồng An ninh quốc gia đã ra bản chỉ thị số 5412, cho phép Giám đốc CIA Allen Dulles cùng cơ quan của mình thực hiện các chiến dịch dựa trên khuyến nghị của Trung tướng James Doolittle. “Tổng thống muốn chiến đấu với những người cộng sản giống như ông ấy đã từng chiến đấu với Quốc xã, trên mọi mặt trận, bằng mọi vũ khí mà ông ấy có”, Allen Dulles viết như vậy trong hồi kí.

Ở London, MI6 cũng phải chịu những sức ép tương tự. Thủ tướng W. Churchill ngày càng trở nên mất kiên nhẫn hơn, liên tục đòi hỏi Bộ Quốc phòng phải cung cấp các thông tin về sức mạnh quân sự của Liên Xô. Trong các phiên họp của mình, Ủy ban tình báo hỗn hợp, ngụ tại tầng ba trong trụ sở Bộ Quốc phòng ở Whitehall, đã tranh cãi nảy lửa về cách thức để đẩy mạnh công tác thu thập tin tức tình báo. Các sếp của tình báo Anh thường xuyên được nhắc nhở về tầm quan trọng sống còn của những cảnh báo sớm dựa trên cơ sở các tin tức tình báo thu thập từ phía đối phương. Trong thời kì mà tình trạng căng thẳng chính trị dâng cao, chỉ cần một sai sót trong tính toán của bất cứ bên nào cũng có nguy cơ dẫn tới kịch bản chiến tranh. Vì vậy, các quan chức tình báo Anh được lưu ý rằng “chúng ta phải quan sát được bất kì một chuyển động quân sự nào của phía đối phương và phân tích chúng một cách thấu đáo dựa trên nhãn quan chính trị”.

Với Berlin là địa bàn trung tâm của cuộc đối đầu trong Chiến tranh Lạnh, thông điệp đưa ra đối với MI6 nói chung và Peter Lunn, chỉ huy trạm Berlin nói riêng, là hết sức rõ ràng: cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác thu thập thông tin tình báo bằng mọi công cụ có trong tay.

Với những động lực cả ở Washington lẫn London như thế, chiến dịch tình báo hỗn hợp Stopwatch/Gold mà tình báo Anh và Mỹ đang thực hiện nhằm xây dựng Đường hầm Berlin phải được tiếp tục với bất cứ giá nào. Việc dừng chiến dịch vì những trục trặc kĩ thuật là không thể được.

+++++

Image
Image

Trước đó, theo dự kiến, việc đào đường hầm sẽ quay sang phương nằm ngang ở độ sâu chừng 7 mét. Với chu vi của đường hầm chừng 1 mét 8, như vậy trần của đường hầm sẽ chỉ nằm cách mặt đất chừng 5 mét, một khoảng cách mà những tiếng động do việc đào đường hầm rất có thể sẽ bị phía trên mặt đất nghe thấy.

Tuy nhiên, khi đào trúng phải mạch nước ngầm sớm hơn so với dự kiến, các chuyên gia của Anh, những người có nhiều kinh nghiệm xử lí những tình huống kĩ thuật như thế này đã bay tới Berlin để xem xét và đưa ra lời khuyên của họ. Đến đầu tháng 10-1954, họ quyết định lựa chọn một phương án mạo hiểm hơn để khắc phục sự cố kĩ thuật này. Đường hầm sẽ được đào chếch lên phía lớp đất sét ở bên trên vỉa nước ngầm để tránh nguy cơ nước tràn vào đường hầm. Như thế thì trần của đường hầm sẽ chỉ cách mặt đất phía trên chừng 3 mét, một khoảng cách quá gần và dễ bị phát hiện nếu có những tiếng động khả nghi. Bởi vậy, việc đào đường hầm phải được tiến hành một cách thận trọng tối đa, cố gắng triệt tiêu mọi tiếng động có thể khiến những người ở phía bên trên mặt đất chú ý.

Có một câu chuyện thường xuyên được nhắc đi nhắc lại là các nhân viên đã đào vào chính một vũng nước bị nhiễm khuẩn của ngôi nhà kho ngụy trang, nhưng thực ra thì khi đào đường hầm qua phía bên kia đường ranh giới giữa hai khu kiểm soát của Mỹ và Liên Xô, họ đào phải hố phân của một ngôi nhà cũ đã bị bom phá hủy.

Sau một tuần lễ thử nghiệm và liên tục bơm nước ra, ngày 11-10-1954, việc đào đường hầm nằm ngang bắt đầu được tiếp tục ở phía trên lớp đất sét để tránh gặp phải những nguồn nước có thể có ở độ sâu hơn. Đến ngày 17-10-1954, đội nhân viên đã đào đường hầm vượt ra khỏi khuôn viên khu nhà kho dùng để ngụy trang.

Đào đường hầm là một công việc nặng nhọc và bẩn thỉu. Các nhân viên quân sự tham gia đào đường hầm được thông báo là họ đang lắp đặt một trạm tình báo điện tử bí mật chứ không phải là đi đào bới những đồ ô uế. Việc họ thường xuyên xuất hiện trong bộ dạng bẩn thỉu sẽ không thể che giấu được tính chất thật sự của công việc này. Do vậy, để giải quyết chuyện tắm giặt cho những người đào đường hầm, B. Harvey ra lệnh lắp đặt một nhà tắm ở ngay dưới đường hầm.

Để đào một đường hầm có độ dài như những người vạch ra kế hoạch đã dự kiến đòi hỏi phải có các giải pháp kĩ thuật đặc biệt. Địa tầng Berlin ở khu vực đào đường hầm có rất nhiều cát, do đó khả năng sập đường hầm rất cao. Để bảo đảm an toàn cho người đào cũng như phòng chống khả năng bị sập, những người thực hiện chiến dịch quyết định sẽ bọc sắt theo toàn bộ chiều dài đường hầm.

Một chu trình bắt buộc diễn ra theo từng bước hết sức thận trọng. Sau khi những người đào đường hầm đã đào một số lượng bùn đất đủ lớn, những tấm thép có đường kính chừng 1,8 mét, độ dày hơn 6 cm sẽ được đưa vào khu vực mới đào rồi dùng kích thủy lực để nâng lên, tạo thành lớp lá chắn bằng thép gia cố cho vòm của đường hầm. Giữa các tấm thép này có khoảng hở chừng 3 cm. Để lấp kín, người ta bơm vữa lỏng vào những khoảng hở này, vừa để gia cố chắc chắn không cho đất cát rơi xuống, vừa hạn chế tối đa những tiếng động do công việc đào đắp có thể gây nên sự nghi ngờ từ phía trên mặt đất.

Sau khi các tấm thép chống vòm trần cũng như hai bên vách đường hầm được đưa vào vị trí, các chuyên gia tiếp tục sử dụng hàng loạt các bao cát đệm dọc theo suốt chiều dài đường hầm. Các bao cát này có tác dụng tăng cường độ cách âm, đồng thời làm giá đỡ cho những đường dây điện, cáp truyền tín hiệu nội bộ và đường ống dẫn khí làm mát từ máy điều hòa không khí lắp đặt ở khu nhà ngụy trang. Các chuyên gia sử dụng gỗ lấy từ những thùng gỗ dùng để vận chuyển các tấm thép trước đó để lát nền đường hầm. Trên nền có đường ray bằng gỗ để người ta có thể đẩy những xe đẩy bánh cao su giảm âm, dùng vận chuyển đất đá đào được ra bên ngoài và mang các thiết bị nặng vào phục vụ cho việc đào đường hầm. Tại khu nhà ngụy trang có máy điều hòa nhiệt độ, máy hút ẩm, các thiết bị xác định tiếng động và tất nhiên có vô số máy ghi âm.

Trong khi đó, một số biện pháp kĩ thuật hỗ trợ được tiến hành để đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối cho con đường hầm đang được đào. Các chuyên viên lắp đặt tại khu nhà ngụy trang một điểm quan sát mọi chuyển động của người cũng như xe cộ trong khu vực này. Những người thuộc nhóm đào đường hầm tới khu vực này đều đi trong những xe tải bịt kín để tránh mọi sự nghi ngờ không đáng có. Một loạt các máy thu cực nhạy được lắp vào hàng rào phân cách giữa hai khu vực giúp những người đào hầm có thể phát hiện mọi hoạt động xâm nhập, đồng thời nghe lén những cuộc nói chuyện của cảnh sát tuần tra Đông Đức để có thể kịp thời cảnh báo nếu phía bên kia có bất kì nghi ngờ nào về các hoạt động đang được tiến hành bên dưới lòng đất.

Trong suốt quá trình thực hiện chiến dịch, B. Harvey thường xuyên tới khu vực đang đào đường hầm, trực tiếp quan sát, đưa ra các chỉ đạo cũng như nắm tiến độ thực hiện để báo cáo về Washington thông qua trạm CIA Frankfurt. Tất cả các chuyến đi này đều được B. Harvey thực hiện vào ban đêm, sau khi đã sử dụng nhiều biện pháp đánh lạc hướng hoặc cắt bất cứ “cái đuôi” nào bám theo mình.

Tháng 11-1954, B. Harvey về Washington báo cáo tiến độ xây dựng con đường hầm cũng như thông qua những biện pháp đối phó khẩn cấp nếu như chiến dịch bị phát hiện. Khu vực đường hầm sẽ được theo dõi thường xuyên. Một cánh cửa thép được lắp đặt ngăn giữa tầng hầm với căn phòng tiền khuếch âm, nơi những tín hiệu thu được tách ra, khuếch đại lên và truyền về khu nhà kho, nơi chúng được ghi lại. Cánh cửa thép này sẽ luôn được khóa, trừ khi có người đang làm việc trong phòng tiền khuếch âm, vốn liên lạc với nhà kho qua điện thoại. B. Harvey cũng lạc quan cho rằng việc đào đường hầm sẽ hoàn thành vào quãng tháng 1-1955.

Dự báo của viên Trưởng trạm CIA Berlin bị sai số mất hơn một tháng. Đến ngày 28-2-1955, đường hầm mới được đào xong, tiếp cận khu vực có đường cáp thông tin của Liên Xô ở Altglienicke. Tổng chiều dài toàn bộ đường hầm chính xác là 1.476 bộ (492 mét). Trong sáu tháng trời, các nhân viên tham gia đào tổng cộng hơn 3.000 tấn đất bùn đá, từng chút một được cẩn thận đổ vào trong tầng hầm của “trạm radar”.

Trước khi thực hiện đào đường hầm, các nhân viên lập kế hoạch của CIA và MI6 ước tính chi phí cho chiến dịch, không bao gồm kinh phí chi cho việc xây khu nhà ngụy trang, vào khoảng 500.000 USD, phần lớn do người Mỹ chi. Có lẽ họ đã quá lạc quan khi không tính đến các chi phí phát sinh khủng khiếp trong khi thực hiện chiến dịch trên thực địa. Đến khi công việc hoàn thành, tổng số tiền phải chi đội lên tới con số ghê gớm là 6 triệu USD (có những nguồn khác cho thấy chi phí đường hầm này lên đến 25 triệu USD, một con số khổng lồ ở thời điểm đó). Đây là một trong những chiến dịch tốn kém nhất của CIA trong thời kì Chiến tranh Lạnh.

Hoàn thành việc đào đường hầm vào cuối tháng 2-1955 không có nghĩa là công việc đã kết thúc. Bây giờ mới đến giai đoạn xây dựng phòng thu âm để gắn các thiết bị nghe lén vào đường cáp thông tin của phía Xô viết. Người Anh bắt đầu tích cực tham gia vào giai đoạn này của chiến dịch.

Để thực hiện công việc này, từ đường hầm nằm ngang, các chuyên viên phải đào một đường hầm hướng lên phía trên, áp sát vào các tuyến cáp thông tin. Công việc này bắt đầu được tiến hành từ ngày 10-3-1955 và 18 ngày sau thì hoàn thành. Khi ấy, đường hầm đã vươn tới cách bề mặt phía trên một khoảng cách vô cùng mỏng manh, cỡ chừng chưa đến một gang tay. Cứ mỗi khi có một đội tuần tra của lính biên phòng Đông Đức đi qua, các chuyên viên đào hầm lại ngừng hẳn công việc, nín thở nghe ngóng, lo sợ chỉ một sơ sẩy nhỏ cũng có thể khiến cho toàn bộ chiến dịch sụp đổ.

Đến lúc đó mới bắt đầu giai đoạn nhạy cảm nhất của chiến dịch: Gắn máy nghe lén vào những đường cáp thông tin. Công việc này do John Wyke, một nhân viên MI6 từng tham gia chiến dịch nghe lén ở Vienna trước đó chỉ huy thực hiện. Trước hết là phải cẩn thận bóc lớp vỏ bọc bên ngoài các đường dẫn thông tin nhỏ hơn ở bên trong, sau đó tách ra những đường dẫn thông tin cần thiết để gắn máy nghe lén vào. Với kinh nghiệm có được trong những ngày tham gia chiến dịch của Peter Lunn ở Vienna, John Wyke tiến hành công việc này một cách hoàn hảo, không phạm phải bất cứ sai sót nào.

Nhưng công đoạn trực tiếp gắn máy nghe lén vào đường dẫn thông tin cũng ẩn chứa những rủi ro cực lớn. Việc gắn một thiết bị nghe lén vào đường dẫn sẽ “hút” đi một phần năng lượng bên trong nó và rất dễ khiến cho những người sử dụng đường dẫn nhận ra có sự bất thường nào đó đã xảy ra.

Mẹo mực để làm giảm thiểu rủi ro bị người sử dụng đường dẫn phát hiện là gắn vào đó một thiết bị mà các chuyên gia gọi là “trở kháng lớn”. Nó cho phép chỉ “hút” ra khỏi đường dẫn một phần năng lượng tối thiểu để không gây ảnh hưởng đến hoạt động truyền dẫn thông tin của đường dẫn này. Người tiến hành gắn máy nghe lén vào đường dẫn phải có một kĩ năng tuyệt hảo với đôi tay chắc chắn để thực hiện các thao tác gắn máy. Điều kiện hết sức gò bó của đường hầm, ánh sáng nhập nhoạng, lại phải giảm thiểu tối đa các loại tiếng động khiến cho đây là công việc vô cùng khó khăn. Thêm nữa, John Wyke yêu cầu khi gắn máy nghe lén vào đường dây thì phải tiến hành điều áp ở căn phòng thu âm vì giả thiết rằng rất có thể phía Xô viết duy trì một áp lực không đổi trên các đường dẫn của họ. Khi cắt đường dây để gắn máy nghe lén vào sẽ khiến cho áp lực trên đường dây thay đổi và khi ấy, phía Xô viết sẽ nhận ra sự bất thường để phát đi tín hiệu báo động.

Một khó khăn khác về mặt kĩ thuật là thiết bị “trở kháng lớn” gắn vào đường dẫn để thu tín hiệu cũng có những khiếm khuyết của nó. Tín hiệu trên những đường cáp có độ dài như thế này, nếu thu qua thiết bị này sẽ rất yếu, chưa kể bị nhiễu bởi tạp âm. Để có thể nghe được tín hiệu thì nó phải khuếch đại lên rất nhiều lần. Nói cách khác, căn phòng tiền khuếch đại phải được xây dựng ở ngay sát điểm gắn máy để thu hẹp tối đa khoảng cách với máy nghe lén thì mới khuếch đại tín hiệu lên được. Các tín hiệu thu được sẽ phải tách ra trước khi khuếch đại, sau đó theo đường cáp trong đường hầm truyền về khu nhà ngụy trang để các máy ghi âm ghi lại. Toàn bộ máy khuếch đại cũng như các thiết bị kĩ thuật nặng nề đã được lắp đặt dọc theo dường hầm, dưới những bước chân của lính tuần phòng mặt đất phía bên trên.

Cuối cùng thì toàn bộ những công đoạn phức tạp này cũng được các chuyên viên kĩ thuật của tình báo Anh hoàn thành trong điều kiện khá ngặt nghèo. Sau khi căn phòng thu âm được lắp đặt hoàn chỉnh, từ ngày 11-5-1955, John Wyke cùng với đội của mình bắt đầu công đoạn lắp máy nghe lén vào đường dây. Trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 8-1955, các nhân viên kĩ thuật của MI6 đã lắp máy nghe vào ba đường dẫn thông tin của Liên Xô và công việc ghi âm bắt đầu ngay sau đó. Khu vực gắn máy nối với phần cuối đường hầm chính qua một đường ống thẳng đứng. Một cánh cửa thép ngăn giữa đường ống thẳng đứng với phòng để các thiết bị khuếch âm. Các micro cực nhạy cũng được gắn vào phòng và có các máy ghi âm để theo dõi mọi động tĩnh, cả khu vực gắn máy ghi âm lẫn căn phòng tiền khuếch đại đều được cách âm rất tốt.

Trong thời gian thử nghiệm, các nhân viên tình báo kĩ thuật đã cố gắng loại bỏ tất cả mọi tiếng ồn do máy móc gây ra trong khu vực có thể tạo nên sự nghi ngờ, đơn giản bởi vì nó hoàn toàn nằm bên dưới phần lãnh thổ do Liên Xô kiểm soát.

+++++

Ngay từ khi chính thức phê chuẩn cho phép bắt đầu thực hiện chiến dịch, Giám đốc CIA Allen Dulles đã biết rằng sẽ không thể mãi mãi giữ bí mật về dự án đường hầm này. Với quy mô khổng lồ của dự án, chắc chắn đến một ngày nào đó, đối phương sẽ phát hiện ra nó. Điều quan trọng là phải giữ được dự án trong bóng tối càng lâu càng tốt và thiết lập các biện pháp bảo đảm an ninh cũng như phương án đối phó một khi đường hầm bị đối phương phát hiện.

Trong quá trình đào dường hầm, cả B. Harvey và P. Lunn đều thống nhất hợp tác chặt chẽ với nhau đề ra các biện pháp an ninh nghiêm ngặt để giữ bí mật cho dự án. Mặc dù vậy nhưng B. Harvey cũng không thực sự biết chắc là nếu đường hầm bị phát hiện thì sẽ phải hành động cụ thể như thế nào.

Tháng 11-1955, B. Harvey bay về Washington gặp trực tiếp Allen Dulles để báo cáo chi tiết về các biện pháp bảo đảm an ninh cũng như đặt ra các phương án xử lí trong trường hợp đường hầm bị phát hiện. Sau khi thảo luận kĩ càng, cả hai đều nhất trí phải có các biện pháp an ninh bổ sung để bảo đảm an toàn cho đường hầm cũng như các nhân viên hoạt động trong đó.

Một trong những biện pháp này là lắp đặt một cánh cửa thép dày trấn giữ ở ngay lối từ phòng tiền khuếch đại đi vào đường hầm. Tại cánh cửa có gắn chuông báo động chống xâm nhập. Cánh cửa này sẽ đóng suốt ngày đêm, chỉ trừ trường hợp có nhân viên trong căn phòng tiền khuếch đại cần đi vào đường hầm. Một hệ thống điện thoại nội bộ được lắp đặt, nối căn phòng với phần còn lại của đường hầm để đảm bảo thông tin thông suốt khi cánh cửa thép luôn đóng kín.

Sau khi cánh cửa đã được lắp đặt xong, B. Harvey cho gắn một tấm bảng phía trước cánh cửa, trên đó viết dòng chữ in bằng cả hai thứ tiếng Đức và Nga: LỆNH CỦA CHỈ HUY TRƯỞNG: CẤM VÀO! Với tấm bảng này, B. Harvey hi vọng sẽ kìm chân những người lính Xô viết hoặc Đông Đức một thời gian ngắn để các nhân viên trong đường hầm kịp thời sơ tán nếu có biến.

Ngoài ra, một cánh cửa bằng thép khác cũng sẽ được gắn ở lối xuống từ khu nhà ngụy trang đi vào đường hầm để ngăn ngừa tiếp sự xâm nhập từ phía bên kia nếu có. Ở vị trí ranh giới giữa khu kiểm soát của Mỹ với Liên Xô bên trong đường hầm, một ống dài chừng hơn 1 mét chứa loại chất nổ C-3 sẽ được sử dụng đủ để giật sập đường hầm nếu như bị phát hiện. Tuy nhiên, ống thuốc nổ này sẽ chỉ được gài vào vị trí đó ở phút cuối cùng trong trường hợp bị phát hiện và nhận thấy phía bên kia đang tiến sang khu vực đường hầm nằm trong sự kiểm soát của phía Mỹ.

Vậy trong trường hợp khẩn cấp, chẳng hạn như các nhân viên quan sát trên mặt đất nhận được những dấu hiệu cho thấy phía Xô viết hoặc Đông Đức đã phát hiện ra đường hầm, thì các nhân viên đang làm việc trong đường hầm sẽ phải hành động như thế nào? Bản kế hoạch yêu cầu khi ấy toàn bộ các nhân viên trong đường hầm sẽ phải di chuyển ngay lập tức về phía đầu đường hầm ở khu Rudow và cánh cửa thép thứ hai ở lối vào đường hầm sẽ đóng lại sau lưng họ. Tùy theo điều kiện thời gian cho phép, phải tháo gỡ càng nhiều càng tốt các thiết bị bên trong đường hầm và chuyển về phía khu nhà ngụy trang. Nếu như đối phương phát hiện ra quá nhanh chóng và có dấu hiệu cho thấy các đơn vị Xô viết hoặc Đông Đúc đang tiến dọc theo đường hầm thì sẽ kích nổ khối chất nổ đặt ở vị trí ranh giới giữa hai bên để đánh sập đường hầm, ngăn không cho phía bên kia tiến sang.

Cả Allen Dulles và B. Harvey đều thống nhất với nhau rằng một khi tình huống xấu xảy ra, viên chỉ huy tại đường hầm sẽ phải sử dụng mọi cách thức có thể để ngăn cản đối phương xâm nhập sâu vào đường hầm.

Trong trường hợp bị lộ, từ sở chỉ huy của CIA ở Clayallee, B. Harvey sẽ sử dụng hệ thống liên lạc vô tuyến hai chiều để điều hành các phản ứng cần thiết, đề phòng khả năng hệ thống liên lạc bằng điện thoại bị phá hỏng bởi một lí do nào đó.

Trường hợp xấu nhất là Moscow trực tiếp phát hiện ra đường hầm, khi ấy cần phải phản ứng thế nào cho thích hợp? Sau khi thảo luận kĩ, Allen Dulles quyết định sẽ không thông báo về chiến dịch cho Đại sứ Mỹ ở Tây Đức, James Conant. Việc không nắm bắt được bất cứ thông tin nào về chiến dịch Stopwatch/Gold sẽ giúp cho vị đại sứ phản ứng có vẻ thành thực nhất trước công luận nếu như đường hầm bị phát hiện. Còn phản ứng chính thức của phía Mỹ sẽ ra sao? Trong trường hợp đó, phía Mỹ sẽ “cương quyết phủ nhận một cách thẳng thắn và đầy phẫn nộ trước những cáo buộc do các hành động khiêu khích vô căn cứ mà phía kẻ thù dựng lên”, giám đốc CIA đưa ra kết luận cuối cùng về phương án đối phó nếu chiến dịch trị giá hàng triệu đô la này bị đổ bể.

+++++

Trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch Đường hầm Berlin, khi những người lính Mỹ cặm cụi đào lấn từng mét đất hướng sang phía đông thì bầu không khí chính trị xã hội trên thế giới có những biến động lớn. Sau cái chết của J. Stalin năm 1953, không khí thù địch có vẻ dịu đi và phương Tây cảm thấy có lẽ đã đến lúc cần giải trí bằng nghệ thuật thay cho những âm mưu trong bóng tối. Khu vui chơi Disneyland chính thức mở cửa ở California, bản nhạc Rock suốt ngày đêm của Bill Haley càn quét các bảng xếp hạng trong khi tiểu thuyết Lolita của nhà văn Nga Vladimir Nabokov gây chấn động cả hai bờ Đại lây Dương.

Một loạt các dấu mốc lịch sử diễn ra trong thời kì này. Đúng vào lúc các máy nghe lén được gắn vào đường cáp thông tin của phía Xô viết thì Cộng hòa Liên bang Đức chính thức gia nhập NATO, đồng thời khối Hiệp ước Warsaw ra đời với Cộng hòa dân chủ Đức là một thành viên đầy đủ. Sau thời gian chiếm đóng lâu dài kể từ khi kết thúc Đệ nhị thế chiến, quân đội của bốn cường quốc Đồng minh cuối cùng cũng rút khỏi Áo và như vậy là các đường hầm nghe lén của MI6 ở Vienna kết thúc sứ mệnh do thám của mình. Có vẻ như phía Xô viết đã chấp nhận giữ nguyên trạng châu Âu và mối đe dọa từ phía Hồng quân đối với phương Tây giảm đi một cách đáng kể.

Nhưng bầu không khí đó không kéo dài được lâu. Nikita Khrushchev, nhà lãnh đạo mới ở Liên Xô là một người có tính khí thất thường, khó đoán định. Tháng 7-1955, tại Cung Liên hợp quốc ở Geneve, Thụy Sĩ diễn ra Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo bốn cường quốc mà mọi người chờ đợi từ lâu. Đại diện Hoa Kỳ là Tổng thống D. Eisenhower, nước Anh là Thủ tướng Eden, nước Pháp là Thủ tướng Edgar Faure, còn Liên bang Xô viết có tới hai đại diện: Thủ tướng Nikolai Bulganin và Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev.

Tại hội nghị, Tổng thống Mỹ D. Eisenhower bất ngờ đưa ra đề nghị là cả Liên Xô lẫn Hoa Kỳ sẽ trao đổi những bản kế hoạch chi tiết về lực lượng quân sự của nhau cũng như mở cửa bầu trời để các máy bay do thám có thể thoải mái chụp ảnh bất cứ những gì cần thiết của phía bên kia. Theo D. Eisenhower, cả hai cường quốc đều đang sở hữu những vũ khí có sức hủy diệt kinh khủng và kế hoạch của ông - nhanh chóng được đặt tên là Bầu Trời Mở - sẽ cho phép làm dịu bớt căng thẳng, ngăn ngừa những đòn tấn công bất ngờ.

N. Khrushchev nhanh chóng bác bỏ thẳng thừng kế hoạch này của tổng thống Mỹ, gọi đây là một “âm mưu hoạt động gián điệp trần trụi”.

Tiếp theo đó, âm lượng của những lời công kích, đe dọa lẫn nhau bắt đầu tăng lên ở cả hai phía. Ở Moscow, N. Khrushchev hứa hẹn sẽ “thiêu cháy” phương Tây trong khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Foster Dulles, anh trai của giám đốc CIA, ra sức cổ xúy cho triết lí “bên bờ vực chiến tranh” của ông ta. “Khả năng đứng bên miệng vực mà không đi tới chiến tranh là cả một nghệ thuật”, John Foster Dulles tuyên bố. “Nếu không dám đứng bên miệng vực thì anh sẽ thua cuộc!”

Nhà bác học J. Robert Oppenheimer, cha đẻ vũ khí nguyên tử của Mỹ, ví Liên Xô và Mỹ khi ấy giống như hai con bọ cạp bị nhốt chung trong một cái lọ. “Chiếc đồng hồ vũ khí nguyên tử đang chạy ngày càng nhanh hơn, nhanh hơn”, Robert Oppenheimer nhận định.

+++++

Một khi các bầu trời không được mở ra cho những hoạt động giám sát thì quá trình do thám dưới lòng đất phải bắt đầu. Sau khi John Wyke cùng với đội chuyên gia gắn thành công các máy nghe lén vào những đường cáp của phía Xô viết, các hoạt động nghe lén trong Đường hầm Berlin ngay lập tức được triển khai và vận hành với công suất đáng kinh ngạc. Có ba đường cáp - mỗi đường gồm một đường truyền điện tín và bốn đường điện thoại - của phía Liên Xô đã bị cài máy nghe lén. Ba đường cáp này có tới 1.200 kênh thông tin, với số lượng hoạt động trong cùng một lúc tối đa đạt tới 500 kênh. Trung bình, 600 máy ghi âm ở khu nhà kho có thể ghi đồng thời 28 đường truyền điện tín và 121 đường điện thoại, sử dụng tới 50.000 cuộn băng. Tổng trọng lượng số băng này lên tới 25 tấn!

Để có thể xử lí lượng thông tin khổng lồ này đòi hỏi phải có số lượng lớn nhân lực cũng như không gian để thực hiện các phân tích tình báo dựa trên những tin tức ghi lại được. Chỉ riêng ở London, đơn vị phân tích chính của MI6 đã có tới 300 nhân viên, nghe và dịch 20.000 cuộn băng tiếng Nga có độ dài hai tiếng đồng hồ, chưa tính đến 368.000 cuộc đàm thoại. Ngoài ra, họ cũng nhận được 13.500 cuốn băng tiếng Đức có độ dài tương tự, xử lí khoảng 5.500 cuộn chứa 75.000 cuộc đàm thoại và dịch đầy đủ khoảng 17.000 cuộc đàm thoại trong số này.

Việc xử lí các điện tín cũng được gấp rút tiến hành ở Washington. Tại đây, CIA điều hành một đơn vị mang mật danh T-32 gồm 350 nhân viên thông thạo tiếng Nga hoặc tiếng Đức để phân tích các thông tin thu thập được từ Berlin. Đơn vị này phải dịch 18.000 cuốn băng điện tín tiếng Nga và 11.000 cuốn băng tiếng Đức có độ dài 6 giờ mỗi cuộn. Mỗi cuốn băng này có tới 18 đường ghi độc lập với nhau nên chỉ riêng một cuốn băng 6 giờ đã xấp xỉ với 216 giờ trao đổi điện tín. Một số ở dạng văn bản, số khác mã hóa và chúng sẽ được chuyển cho Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ NSA xử lí. Mỗi ngày, những văn bản đã xử lí được in ra dưới dạng băng giấy dài tới 1.200 mét, nếu được in dưới dạng sách thì sẽ lấp đầy một khối rộng 3 mét, dài 4,5 mét và cao 2,4 mét!

Ở Berlin, trong những căn nhà tại khu vực Rudow, một đơn vị gồm các nhân viên biết ngoại ngữ điều hành máy dò sẽ xử lí sơ bộ các tin tức thu thập được hằng ngày, đánh dấu những thông tin tình báo “nóng” cần phải lưu ý sớm. Ngay sau khi lọc ra những thông tin có giá trị nhất, chúng sẽ được gửi gấp theo đường truyền vô tuyến điện về London và Washington.

Phần lớn những cuộn băng ghi các cuộc đàm thoại hoặc điện tín còn lại sẽ được đóng vào trong các hộp chống cháy, rồi xe tải quân sự sẽ vận chuyển chúng từ Rudow tới sân bay để các chuyến bay đặc biệt mang về Anh và Mỹ. Các biện pháp an ninh luôn được thắt chặt để khu nhà ở Rudow trông giống như một cơ sở quân sự bình thường, hoàn toàn không có liên quan gì đến các hoạt động của CIA và MI6.

Trong thời gian này, điệp viên CIA Hugh Montgomery giữ vai trò như người liên lạc chính giữa B. Harvey tại cơ sở CIA ở Dahlem với điệp viên Vyrl Lichleiter ở Rudow. Thường vào lúc gần nửa đêm, hai người gặp nhau tại một nơi nào đó ở ngoại vi Berlin. Vyrl Lichleiter chuyển sang xe của Hugh Montgomery các thùng chứa những cuộn băng đã ghi âm, còn Hugh Montgomery chuyền lại những thùng chứa các cuộn băng trắng chưa sử dụng, sau đó mỗi người đi mỗi ngả.

Khi Hugh Montgomery mang những thùng băng ghi âm này về cơ sở CIA ở Berlin, các nhân viên ở đây thường phàn nàn rằng các thùng này quá nặng mỗi khi họ vận chuyển. Họ được giải thích rằng đó là mẫu uranium do các điệp viên đánh cắp được ở một khu mỏ trên núi Erzgebirge, từ một công ty có tên là Wismut. Từ đó, các nhân viên này thôi không dám phàn nàn gì nữa.

Trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch Stopwatch/Gold, đã có tổng cộng 90.000 bức điện tín hoặc cuộc đàm thoại được xử lí và đưa vào trong 1.750 báo cáo tình báo độc lập để cung cấp cho các “khách hàng” đặc biệt của tình báo Anh - Mỹ.

Cả ở Washington lẫn London, lãnh đạo CIA và MI6 xoa tay hài lòng bởi khoản đầu tư khổng lồ bỏ ra đã được đền đáp xứng đáng.

+++++

Image

Có lẽ các quan chức CIA và MI6 sẽ không thể phấn khởi đến thế nếu như biết rằng thực ra, người Xô viết, thông qua một điệp viên thượng thặng cài cắm sâu trong Cục Tình báo mật MI6, đã biết về chiến dịch Stopwatch/Gold từ trước cả khi những viên gạch đầu tiên được đặt xuống làm móng xây dựng khu nhà ngụy trang thành “trạm radar” ở Rudow.

Ngay từ đầu năm 1954, điệp viên KGB này đã báo cho người phụ trách mình ở London biết về chiến dịch Stopwatch/Gold bắt đầu được triển khai. Thông tin này được chuyển từ thủ đô nước Anh về Moscow rồi nó quay lại Berlin, tới tay người phụ trách KGB trên toàn bộ địa bàn Đông Đức, Trung tướng Yevgeny Petrovich Pitovranov.

Ngoài 40 tuổi, cuộc đời hoạt động trong các cơ quan đặc biệt của Y. Pitovranov trải qua không ít thăng trầm. Ông từng bị J. Stalin ra lệnh bắt giam một thời gian ngắn rồi bất ngờ dược thăng chức, bổ nhiệm làm người đứng đầu bộ phận tình báo đối ngoại chỉ ít lâu trước khi J. Stalin chết. Sau đấy, Y. Pitovranov lại sống sót một cách thần kì trong thời gian làn sóng thanh trừng tràn qua nội bộ KGB, khi mà người đứng đầu cơ quan này là ông trùm mật vụ Lavrenti Beria bị bắt giữ rồi nhận án tử hình vì tội phản quốc. Chắc chắn mối quan hệ là em rể của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Georgy Malenkov, người kế nhiệm J. Stalin, đã đóng một vai trò quyết định đằng sau những biến động này trong sự nghiệp của Y. Pitovranov.

Tháng 8 năm 1953, Y. Pitovranov được cử tới Berlin dưới vỏ bọc là một quan chức cấp cao của cơ quan lãnh sự Liên Xô ở đây. Một trong những nhiệm vụ của Y. Pitovranov là giúp xây dựng lại cơ quan an ninh Stasi của Đông Đức, sau khi cơ quan này đã không dự báo trước được cuộc nổi dậy chống chính quyền Đông Đức vào tháng 6-1953.

Đảm nhiệm cương vị phụ trách toàn bộ các hoạt động của KGB ở Đông Đức trong bối cảnh đây là chiến trường điệp báo chính giữa Đông và Tây không hề là công việc đơn giản. Có lần Y. Pitovranov đã thổ lộ với các đồng nghiệp của mình rằng làm công việc của ông giống như ngồi trên một thùng thuốc súng. Rất may là Y. Pitovranov nhận được sự hỗ trợ tối đa của cấp trên ở Moscow cũng như các đồng nghiệp cấp dưới ở Berlin.

Khi nhận được thông tin về chiến dịch Đường hầm Berlin, Y. Pitovranov cho tiến hành những công việc theo đúng quy định thông thường của KGB: Đặt “trạm radar” ở Rudow, nơi có ngôi nhà ngụy trang lối vào đường hầm dưới sự theo dõi chặt chẽ, đồng thời bắt đầu tiến hành một cuộc điều chỉnh thận trọng những thông tin truyền đi trong khu vực đường cáp đã bị đặt máy nghe trộm.

Đến cuối năm 1955, khi đường hầm bước vào công đoạn cuối cùng, Trung tâm KGB ở Moscow gửi tới trạm KGB Đông Đức đóng ở Karlshorst một nhóm chuyên viên kĩ thuật dưới quyền chỉ huy của Vadim Fyodorovich Goncharov, biệt danh Gorelov. V. Goncharov là người duy nhất biết về nhiệm vụ thật sự của nhóm này. Ông phổ biến cho những người trong nhóm mục tiêu là phối hợp với Ban cơ yếu thuộc lực lượng quân đội Liên Xô trên lãnh thổ Đông Đức (GSFG) để đảm bảo an ninh cho các thông tin của GSFG.

Trên thực tế, V. Goncharov có hai nhiệm vụ: Thứ nhất là thắt chặt công tác bảo mật các cuộc đàm thoại hoặc truyền điện tín trên những đường dây thông tin xác định đã bị CIA và MI6 gắn máy nghe lén; thứ hai là xây dựng một kịch bản vỏ bọc để có thể sử dụng đến một khi Trung tâm KGB quyết định sẽ bóc gỡ chiến dịch Stopwatch/Gold.

V. Goncharov mô tả hoạt động của các cơ quan đặc vụ phương Tây nhằm nghe trộm hệ thống thông tin của phía Xô viết cho các nhân viên trong nhóm của mình, nói “điều đó buộc chúng ta phải tiến hành một số biện pháp phòng ngừa nhằm chống lại khả năng rò rỉ thông tin”.

Nhóm của V. Goncharov chỉ được thông báo khá chung chung về đường hầm và cũng không biết rõ về nguồn tin. Nhưng việc các cơ quan đặc vụ phương Tây gài máy nghe trộm các đường cáp thông tin của phía Xô viết gần với biên giới khu vực kiểm soát của quân Mỹ ở Berlin cũng không gây ngạc nhiên cho nhóm của V. Goncharov: Nhiều người trong số họ biết rằng KGB cũng đã gài máy nghe trộm vào một đường cáp thông tin của quân Mỹ ở gần Potsdam.

Sau khi Y. Pitovranov được cảnh báo về sự tồn tại của đường hầm và nhóm của V. Goncharov tới nơi, một loạt các biện pháp đã được thực hiện nhằm tăng cường độ bảo mật các cuộc nói chuyện qua điện thoại. Một trung tâm kiểm soát các cuộc đàm thoại qua hệ thống thông tin quân sự đã phát hiện ra những sự vi phạm cơ bản các nguyên tắc bảo mật. Trong hầu hết các cuộc đàm thoại, người ta đều không sử dụng mật mã và điều này dẫn tới việc hàng loạt thông tin bí mật bị tiết lộ.

Khi đó, KGB đã đặt máy nghe tất cả các cuộc nói chuyện giữa Tổng hành dinh của GSFG với chỉ huy các đơn vị quân sự. Y. Pitovranov đem trình kết quả kiểm tra này lên Tổng chỉ huy GSFG, Nguyên soái Andrei Grechko, người thoạt đầu “không thể nào tin được rằng người ta lại có thể lượm lặt được nhiều bí mật từ những cuộc tán gẫu qua điện thoại đến như thế”. Sau khi nghe một đoạn băng, ông lập tức ra chỉ thị cho các sĩ quan dưới quyền về những biện pháp bảo mật thông tin trên điện thoại.

Khi đơn vị kĩ thuật của KGB tới Karlshorst vào cuối năm 1955, họ sử dụng thiết bị của KGB để tìm kiếm các máy ghi lén mà tình báo Mỹ sử dụng ở khu vực Altglienicke và một số khu vực khác dọc đường ranh giới giữa khu vực kiểm soát của các bên. Ở những khoảng cách lớn từ 50 km đến 60 km, các thiết bị này không phát hiện được điều gì khả nghi, nhưng khi dùng một trạm điện thoại trên lãnh thổ Đông Đức để kiểm tra trên cự li ngắn hơn thì đầu năm 1956, họ đã phát hiện ra vị trí của những đường cáp bị cài máy nghe trộm.

Nhận thức rõ rằng việc thực hiện chiến dịch vượt quá khả năng của trạm KGB ở Karlshorst cũng như muốn ngụy trang việc phát hiện ra đường hầm là do kết quả một hoạt động “kiểm tra thường kì” các đường cáp thông tin của quân đội Xô viết nên Y. Pitovranov đã xin phép Nguyên soái A. Grechko cho thành lập một đơn vị thông tin đặc biệt trong quân đội. Các thành viên trong đơn vị đặc biệt này chịu sự chỉ đạo của KGB. Họ được nhóm V. Goncharov huấn luyện và cung cấp các thiết bị.

Một chiến dịch nhằm xác định vị trí và phát hiện đường hầm nghe lén các đường cáp thông tin dưới mặt đất của phía Nga trong khu vực Berlin được cả Y. Pitovranov và V. Goncharov xây dựng một cách cẩn thận. Cái bẫy đã được giăng ra. Cả hai kiên nhẫn đợi lệnh từ Moscow.

+++++

Khi được thông báo về sự tồn tại của Đường hầm Berlin, nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev không có phản ứng ngay lập tức. Ông còn có quá nhiều việc phải lo ở thời điểm đó. Ngày 25-2-1956, tại một phiên họp kín của Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 20, N. Khrushchev đã có bài phát biểu lên án tệ sùng bái cá nhân dưới thời Stalin cùng các hậu quả của nó, bắt đầu một chiến dịch nhằm củng cố quyền lực chính trị của mình và những người cùng chí hướng. N. Khrushchev cũng ra lệnh giải tán Cominform, cơ quan kế thừa của Quốc tế Cộng sản đã từng trục xuất nhà lãnh đạo Nam Tư Tito ra khỏi hàng ngũ những người cộng sản quốc tế hồi năm 1948.

Trong khi đó, N. Khrushchev vẫn tiếp tục thể hiện mình là một người có quan điểm cứng rắn với phương Tây. Berlin chính là nơi tốt nhất để thể hiện điều này. Nhà nước Cộng hòa dân chủ Đức mới chỉ được các nước đồng minh xã hội chủ nghĩa công nhận. Việc lựa chọn thời điểm “phát hiện” ra Đường hầm Berlin phải được lựa chọn một cách khéo léo để vừa thể hiện quan điểm cứng rắn đối với các hành động khiêu khích của kẻ thù, lại vừa cho thấy nước Cộng hòa dân chủ Đức non trẻ là nạn nhân của phương Tây.

N. Khrushchev rõ ràng muốn tận dụng việc phát hiện ra đường hầm này như là một sự kiện lớn mang tính tuyên truyền. Ông không hài lòng với tình hình quốc tế lúc đó. Cả việc Liên Xô công nhận ngoại giao chính quyền Tây Đức lẫn việc quân đội Xô viết rút khỏi Áo sau hiệp ước kí với nước này cho thấy ảnh hưởng của Liên Xô ở châu Âu đang bị thu hẹp lại. Trên địa bàn Trung Đông, tình hình căng thẳng đang tăng lên do lợi ích của Liên Xô với phương Tây va chạm nhau.

Cho đến đầu năm 1956, Đường hầm Berlin vẫn tiếp tục “hoạt động” để “cung cấp” thông tin. Tuy nhiên, đến lúc đó, các cơ quan tình báo phương Tây hoàn toàn không biết rằng Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô N. Khrushchev và Thủ tướng Liên Xô Bulganin đang cân nhắc xem liệu nên kết liễu hoạt động của Đường hầm Berlin theo cách sao cho có lợi nhất.

N. Khrushchev có một kế hoạch đã định trước là sẽ đi thăm London vào dịp cuối tháng 4-1956 và ông không muốn phá vỡ mối quan hệ với nước Anh. Bởi vậy nên vào mùa xuân năm 1956, nhà lãnh đạo Xô viết quyết định chấm dứt hoạt động của Đường hầm Berlin, nhưng lệnh cho KGB phải tìm một phương cách “phát hiện” ra đường hầm sao cho vừa không làm nguy hiểm đến nguồn tin, lại vừa phải thu hút được tối đa sự chú ý của công luận đối với sự kiện. Sự chú ý này phải hướng theo chiều giảm nhẹ sự liên quan của người Anh, đồng thời nhấn mạnh đến vai trò chủ chốt của Mỹ đối với dự án này.

Kết quả của mệnh lệnh này là trạm KGB ở Karlshorst đã vạch ra kế hoạch về một sự “tình cờ phát hiện” ra đường hầm; sau đó sẽ có một buổi họp báo.

Nhằm làm cho việc phát hiện ra đường hầm mang tính chất “hoàn toàn tình cờ”, những điện tín của Nguyên soái tổng chỉ huy A. Grechko, Đại sứ Liên Xô tại Đông Berlin Georgy Pushkin và người đứng đầu KGB Y. Pitovranov phải được soạn kĩ lưỡng từ trước đó. Trên cơ sở của những bức điện tín này, các sĩ quan tình báo cấp dưới sẽ dựng nên những câu chuyện thông qua các kênh ngoại giao, kĩ thuật và thậm chí có các biện pháp tuyên truyền cần thiết. Những sĩ quan cấp dưới này hoàn toàn không biết rằng việc phát hiện ra Đường hầm Berlin là kết quả một hoạt động xâm nhập của KGB vào dự án hợp tác tình báo tuyệt mật Anh - Mỹ.

Trước đấy, vào mùa đông năm 1955, các quan chức CIA đã giật mình thon thót khi những bông tuyết bắt đầu rơi, phủ kín lên khu vực có đường hầm chạy bên dưới. Hơi ấm do các thiết bị trong đường hầm tỏa ra đã khiến cho tuyết trên mặt đất tan nhanh và tạo thành một “con đường” không có tuyết chạy từ khu “trạm radar” sang tới phía đầu các đường cáp thông tin ở bên phía Đông Berlin. Nếu quan sát kĩ thì ngay các binh lính tuần tra Đông Đức ngờ nghệch nhất cũng có thể dễ dàng đoán ra có cái gì đó bất thường ở dưới mặt đất. CIA cuống quýt lắp đặt các máy điều hòa phả hơi lạnh bên trong đường hầm nhằm giảm bớt hơi ấm tỏa ra để xóa dấu vết của “con đường” phía trên mặt đất. Rất may là sau đó tuyết rơi nhiều hơn và phủ dày lên trên “con đường” này và không có dấu hiệu nào cho thấy phía bên kia nhận thấy sự tồn tại của đường hầm dưới mặt đất.

Những cơn mưa to vào mùa xuân năm 1956 đã tạo cơ hội thuận lợi để phía Xô viết thực hiện chiến dịch “phát hiện” Đường hầm Berlin. Mưa to đã khiến nhiều đường cáp ngầm bị hư hại. Một trong số đó là đường cáp được nhóm thực hiện chiến dịch Stopwatch/Gold đặt mã số là FK151. Đây là đường cáp rất quan trọng đối với CIA và MI6 bởi nó truyền những thông tin về hệ thống cảnh báo sớm của phía Xô viết cũng như các chỉ thị giữa Moscow với Tổng hành dinh của Nguyên soái Grechko ở Wünsdorf. Mưa làm đường cáp này bị hư hỏng và phía Xô viết quyết định thay thế bằng 3.000 mét cáp tạm thời khác, đồng thời chuyển toàn bộ các nội dung truyền dẫn sang một đường cáp khác cũng bị gắn máy nghe mang mã số FK150.

Ngày 21-4-1956, các nhân viên nghe lén được cuộc nói chuyện của một viên trung tá phụ trách bộ phận thông tin ở Wünsdorf tên là Vyunik, thông báo với KGB ở Karlshorst, rằng sáng hôm sau, 22-4-1956, đường cáp sẽ ngừng hoạt động để tiến hành sửa chữa.

Đồng thời, các điệp viên của CIA và MI6 cài cắm trong các cơ sở tại Đông Đức cũng báo cáo về nội dung tương tự.

Như vậy, đường cáp bị ảnh hưởng do mưa lớn sẽ được phía Đông Đức cử đi tìm chỗ hư hại để sửa chữa và có khả năng sẽ phát hiện ra đường hầm. Peter Lunn liền gửi một bức điện khẩn cảnh báo cho các đồng nghiệp Mỹ trong CIA.

Ở Berlin, B. Harvey cho rằng không có gì phải quá lo lắng về hoạt động kiểm tra đường cáp của phía Đông Đức. Không có một dấu hiệu nào cho thấy sắp có một chiến dịch quy mô nhằm đào tìm, phát hiện ra đường hầm. Ngày 19-4-1956, các nhân viên của B. Harvey kiểm tra phòng gắn máy nghe lén vào các đường cáp và thấy không có điều gì bất thường. B. Harvey trấn an P. Lunn rằng không việc gì phải quá lo lắng. Ngày 20-4-1956, B. Harvey gửi báo cáo cho trạm CIA Frankfurt, nói rằng đã triển khai mọi biện pháp phòng ngừa cần thiết. Mọi sự sẽ tốt đẹp, viên Trưởng trạm CIA Berlin khẳng định.

Cả B. Harvey lẫn P. Lunn đều không hề biết rằng mọi sự sẽ thay đổi một cách nhanh chóng sau đó.

+++++

Chiến dịch “phát hiện” đường hầm của phía Xô viết đã diễn ra từ mấy ngày trước cái đêm 21-4 mưa nặng hạt ấy. Vào ngày 19-4, vị trí đường hầm đã được định vị. Trong suốt thời gian này, những tín hiệu liên lạc của quân đội Xô viết phát đi qua đường cáp vẫn được tiến hành một cách bình thường.

Các đơn vị kĩ thuật thu nhận tín hiệu của Liên Xô bắt đầu tiến hành công việc từ đêm 21-4-1956. Nhằm xác định vị trí chính xác đường hầm để có thể tiến hành đào tìm, KGB tính toán, căn một đường ngắn nhất từ nơi phía Mỹ đặt “trạm radar” ngụy trang lối vào đường hầm, thẳng qua bên dưới đường cao tốc Schoenefeld và tập trung vào điểm này.

Quãng 2 giờ 30 phút sáng 22-4, Y. Pitovranov cùng với các sĩ quan KGB Sergei Vasilievich Patrikeiev và Nikolai Sergeevich Miakotnykh tới sân bay tại Schoenefeld, cách không xa vị trí của đường hầm, để chờ kết quả. Việc hai sĩ quan KGB này có mặt cùng với Y. Pitovranov trong chiến dịch là hoàn toàn hợp lí. S. Patrikeiev là phó phụ trách tình báo cho Y. Pitovranov, còn N. Miakotnykh là người phụ trách Ban Anh quốc trong Tổng cục 2 KGB. Chính N. Miakotnykh là người đã tổ chức chuyến bay sang Moscow gặp chồng năm 1953 của vợ Donald Maclean, điệp viên KGB trong nhóm tình báo nổi tiếng Bộ Ngũ Cambridge làm việc tại các cơ quan ngoại giao, tình báo Anh.

Các sĩ quan KGB ngồi chờ được một lát thì một viên trung úy chạy lại báo cáo: “Đại tá chỉ huy cuộc tìm kiếm mời các ông đến”. Họ cùng tới nơi và viên đại tá báo cáo: “Chúng tôi đã tìm thấy!” Tất cả cùng xuống đường hầm, khi ấy đã được nong ra đủ để người chui lọt. Y. Pitovranov cảnh báo rằng phải hết sức cẩn thận bởi có thể có mìn. Lần lượt, những người trong nhóm tiếp tục tiến sâu vào trong đường hầm, hướng về khu vực do phía Mỹ kiểm soát.

Vào khoảng gần 6 giờ sáng, viên đại tá chỉ huy cuộc đào tìm dẫn các điệp viên KGB tới chỗ trọng yếu nhất: Nơi các trang thiết bị được lắp đặt trong đường hầm. Mặc dù đã biết trước về sự tồn tại của đường hầm nhưng không ít người vẫn kinh ngạc trước những gì mà họ thấy hiện ra trước mắt. Dường như dưới đường hầm này, các thiết bị đó đã có mặt ở đấy từ hàng ngàn năm rồi. Có cả những cái máy pha cà phê, các đồ dùng để chuẩn bị thức ăn. Tất cả đều được sắp đặt một cách khá trang nhã, theo phong cách Mỹ và Anh. Dường như những người xây dựng nên dự án này tin rằng họ có thể ung dung ở lâu dài dưới đường hầm và chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện người Xô viết có thể có mặt ở đó.

Vào lúc 1 giờ kém 10 phút sáng 22-4, các quân nhân Mỹ tại trạm quan sát ở khu nhà kho ngụy trang sử dụng ống nhòm hồng ngoại nhìn đêm đã phát hiện thấy khoảng từ 40 đến 50 người đang đào một lối xuống chỉ cách căn phòng có máy ghi trộm khoảng từ một mét đến một mét rưỡi. Những người này chính là các nhân viên thuộc đơn vị kĩ thuật đặc biệt của V. Goncharov.

Thông qua hệ thống liên lạc nội bộ của Ban chiến dịch thuộc CIA tại Berlin (BOB), người ta lập tức báo động cho B. Harvey. Đến 2 giờ sáng, những người Xô viết đã tìm thấy nóc của căn phòng gắn máy nghe trộm. Những người trong phòng này có thể nghe thấy họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Nga. Chỉ huy cuộc đào tìm là Đại úy Bartash, một sĩ quan kĩ thuật vô tuyến của GSFG, người sau này được Nguyên soái Grechko trao tặng huân chương vì đã có công “tìm ra” đường hầm.

B. Harvey cùng nhân viên CIA H. Montgomery lập tức tới khu vực nhà kho gắn các micro ghi và xử lí những cuộc nói chuyện ghi trộm được. Các nhân viên dưới quyền tiếp tục dịch cho B. Harvey nghe nội dung các cuộc đàm thoại. Bỗng dưng, tín hiệu các cuộc nói chuyện ngừng bặt khi đang có một cuộc đối thoại lẫn lộn giữa tiếng Đức và tiếng Nga. Không khí căng thẳng bao trùm khắp căn phòng. Rồi bất chợt, máy ghi âm ghi lại được những tiếng nói hỗn độn cả bằng tiếng Đức, tiếng Nga và tiếng Anh.

Vào lúc 2 giờ 50 phút sáng 22-4, các nhân viên Xô viết trong đội tìm kiếm đã có thể nhìn thấy những đường cáp bị gắn máy dẫn xuống căn phòng nằm phía trên đường ống thẳng đứng. Vào lúc 3 giờ 30 phút sáng, những chuyên gia thông tin đầu tiên của Đông Đức xuất hiện và một giọng nói Nga ra lệnh bằng tiếng Đức rằng tất cả phải để nguyên hiện trường chờ tới sáng sẽ giải quyết. Trong lúc này, máy ghi trộm vẫn tiếp tục làm việc, ghi lại cuộc thảo luận giữa chỉ huy trung tâm thông tin GSFG ở Wünsdorf với Trung tâm KGB ở Karlshorst, cho thấy không có bất cứ dấu hiệu nào chứng tỏ là họ biết những gì đang xảy ra dưới đường hầm. Vào lúc này, họ đang thảo luận về các vấn đề liên quan đến việc di chuyển các thiết bị cảnh báo hàng không.

Đến 6 giờ 30 phút sáng thì Ban mật mã của GSFG đã biết rằng có một chuyện gì đó bất thường xảy ra: Người phụ trách ban này, Trung tá Zolochko rời Wünsdorf tới nơi phát hiện ra đường hầm. Khi ông ta tới nơi, cùng với các chuyên viên mang theo thiết bị đo tín hiệu, những người Mỹ vẫn còn nghe thấy câu báo cáo: “Các đường cáp đã bị gắn máy nghe lén”. Năm phút sau đó, người đứng đầu Trung tâm mật mã Karlshorst chỉ thị phải sử dụng các thiết bị của Trung đoàn thông tin thuộc KGB ở Đông Berlin để “đi vòng” qua những đoạn cáp đã bị cài máy nghe.

Mặc dù đây là một phản ứng khá hợp lí nhưng do mục đích bảo vệ nguồn tin tình báo của mình trong MI6 nên hiển nhiên là KGB không muốn tiến hành bất cứ một hoạt động nào trong việc phát hiện ra đường hầm gắn với tên của KGB. Rõ ràng KGB đã hết sức thận trọng, không hề muốn sự kiện “phát hiện” ra đường hầm liên quan đến mình mà cố gắng tạo ra cảm giác đấy là kết quả của một chiến dịch quân sự.

Trong thời gian đó, những nhân viên trong nhóm tìm kiếm vẫn tiếp tục ở lại căn phòng có đặt máy nghe trộm mà không theo đoạn hầm thẳng đứng nối xuống đường hầm chính phía dưới. Các máy ghi âm gài vào đường cáp khi đó vẫn tiếp tục hoạt động bình thường. Trong khoảng thời gian từ 8 giờ đến 9 giờ sáng, chúng vẫn tiếp tục ghi lại được một số cuộc nói chuyện, trong đó có cuộc gọi của nhân viên dưới quyền Nguyên soái A. Grechko yêu cầu tìm Đại tá Ivan Kotsiuba, quyền chỉ huy các lực lượng vũ trang Xô viết tại Berlin, I. Kotsiuba sau này sẽ đóng một vai trò trung tâm trong kịch bản ngoại giao đã được sắp đặt cẩn thận từ trước xung quanh sự kiện “phát hiện” ra Đường hầm Berlin.

Mãi cho đến 12 giờ 30 phút trưa ngày chủ nhật 22-4 ấy, các nhân viên kĩ thuật Đông Đức vẫn chưa mở được ổ khóa cánh cửa thép phía trên đường ống thẳng đứng nối với phòng tiền khuếch đại tín hiệu. Do cánh cửa thép rất nặng, không thể di chuyển được nên họ liền đào một cái lỗ ở vách ngăn bên cạnh để có thể nhìn được vào căn phòng tiền khuếch đại. Rồi khi nhòm được vào căn phòng, họ sửng sốt kêu lên: “Ô, nhìn kìa. Dưới nền một đường cao tốc mà họ đã làm được cái gì kìa! Thật không thể tin được!” Rồi các nhân viên tiếp tục nong cái lỗ rộng ra để có thể chui được vào căn phòng tiền khuếch đại.

Tại vị trí này, trước đấy, B. Harvey đã chỉ thị cho H. Montgomery phải tìm Tướng Charles Dasher, chỉ huy các lực lượng Mỹ tại Berlin để ông ta cho phép trang bị vũ khí, thậm chí gài chất nổ ở khu vực đường hầm đề phòng trường hợp bất trắc xảy ra. Tại một buổi tiếp tân tổ chức ở Câu lạc bộ thuyền buồm Wannasee đón Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, Tướng Maxwell Taylor, tới thăm Berlin, H. Montgomery tìm gặp được Tướng C. Dasher. Sau khi nghe trình bày lại yêu cầu của Bill Harvey, Tướng C. Dasher hỏi lại rằng nếu làm như vậy liệu có khả năng khiến cho người Nga chết hoặc bị thương hay không. Khi được trả lời rằng điều đó hoàn toàn có khả năng xảy ra, C. Dasher bèn nói rằng ông ta sẽ chỉ chuẩn y việc đó nếu như đích thân Bill Harvey đảm bảo là sẽ không có bất cứ một ai bị thương vong. Một đảm bảo như vậy dĩ nhiên là không thể và kế hoạch gài chất nổ không được thực hiện.

Đến 2 giờ 20 phút chiều ngày 22-4 thì lỗ đục qua vách đã đủ rộng để các nhân viên Xô viết lọt được vào bên trong căn phòng tiền khuếch đại và mở khóa cánh cửa từ phía bên trong. Họ bắt đầu kiểm tra các máy móc đặt trong căn phòng tiền khuếch đại.

Vào sáng sớm hôm ấy, khi biết chắc là không thể phá sập đường hầm bằng chất nổ, B. Harvey đã ra lệnh chăng dây và dựng một hàng rào bằng bao cát ở trong đường hầm, đúng vào vị trí ranh giới giữa hai khu vực do Mỹ và Liên Xô kiểm soát. Phía trên hàng rào bằng bao cát này có một tấm biển nguệch ngoạc hàng chữ viết tay vội vàng bằng hai thứ tiếng Nga và Đức: “Bạn đang đi vào khu vực kiểm soát của Mỹ”. Từ chỗ này trở đi, đường hầm hơi bị dốc xuống, vì thế che khuất tầm nhìn của những người Xô viết. B. Harvey cũng cho đặt một khẩu súng máy hạng nặng nòng 50 mm, rõ ràng để nhằm mục đích ngăn chặn, nhưng vì đường hầm dốc xuống nên từ phía những người Xô viết không nhìn thấy khẩu súng này.

Khoảng 3 giờ chiều, những người Mỹ đang hết sức căng thẳng đã có thể nghe thấy tiếng bước chân tiến lại gần phía họ. B. Harvey lên khóa nòng khẩu súng máy, cố gắng tạo ra những tiếng động khô khốc có thể nghe thấy rõ trong bầu không khí im lặng căng thẳng. Viên chỉ huy chiến dịch nghe thấy tiếng bước chân dừng lại rồi vội vã rời đi. Vào lúc 3 giờ 35 phút chiều, các máy ghi âm được gỡ ra khỏi đường cáp và đến 3 giờ 50 phút chiều 22-4-1956 thì các micro cũng im bặt. Đường hầm Berlin đã tồn tại trong 11 tháng 7 ngày.

+++++

Nằm trong kịch bản “tình cờ phát hiện” ra đường hầm, các nhà ngoại giao Xô viết nhanh chóng nhập cuộc ngay khi chiến dịch đào tìm đường hầm mới bắt đầu những bước đầu tiên. Trong ngày 22-4-1956, ngày phát hiện ra đường hầm, một bức điện tín do Vladimir Semyonov thuộc Bộ Ngoại giao Liên Xô kí đã được gửi qua đường liên lạc đảm bảo cho Đại sứ Nga tại Đông Đức, Georgy Pushkin. Bức điện chỉ thị cho Ban chỉ huy các lực lượng Xô viết tại Berlin phải gửi một công hàm phản đối tới Bộ chỉ huy quân Mỹ ở đây về việc tồn tại một đường hầm do thám. Bức điện còn viết thêm: “Những chỉ dẫn liên quan tới hoạt động báo chí và các lĩnh vực khác sẽ được gửi tới vào ngày mai”.

Thứ hai, ngày 23-4, một bức điện do Nguyên soái A. Grechko, Đại sứ G. Pushkin và người lãnh đạo KGB ở Đông Đức Y. Pitovranov đồng kí chung được gửi về Moscow, trong đó mô tả lại đường hầm, phản ứng của Bộ chỉ huy quân Mỹ trước sự phản đối của phía Liên Xô cũng như đưa ra “một số đề nghị để các đồng chí chuẩn y”. Thực ra, những đề nghị này đã được soạn thảo kĩ lưỡng từ trước ở Moscow và là một phần cơ bản trong kịch bản ngoại giao - tình báo này. Những đề nghị đó bao gồm:

1. Tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Xô viết phải có một văn bản phản đối gửi Bộ chỉ huy các lực lượng quân đội Mỹ tại châu Âu và văn bản này được công bố rộng rãi trên báo chí.

2. Mời các phóng viên được chấp thuận tới xem xét ngay tại hiện trường cả ở phần Đông và Tây Berlin.

3. Tạo điều kiện cho các bạn đồng minh Đông Đức được phát biểu nhân vụ việc này, nhưng phải sau khi vụ việc đã chính thức đưa ra trước công luận.

4. Gửi một nhóm chuyên gia tới tìm hiểu, nghiên cứu về các thiết bị do thám đã bị phát hiện.

5. Bất chấp việc trong đường hầm có nhiều thiết bị của Anh, các phương tiện báo chí phải tập trung hướng mọi sự kết tội về phía Mỹ.

Điểm thứ năm trong số các đề nghị này chính là nhằm hướng trọng tâm tuyên truyền về phía Mỹ bởi trong những ngày này, nhà lãnh đạo N. Khrushchev và Thủ tướng N. Bulganin đang được Nữ hoàng Anh Elizabeth II tiếp đón với nghi lễ trọng thể ở lâu đài Windsor tại Berkshire.

Hai nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô tới Anh trên chiếc tuần dương hạm Ordzhonikidze, cập cảng Portsmouth bốn ngày trước vụ “phát hiện” ra đường hầm. Đây là chuyến thăm chính thức cấp nhà nước theo lời mời của Thủ tướng Anh Eden đưa ra ở Hội nghị thượng đỉnh Geneve diễn ra một năm trước đó. Các tờ báo Anh đều loan tin về chuyến thăm như là một trong những biểu hiện rõ ràng của sự hòa dịu đáng kể giữa Đông và Tây sau cái chết của lãnh tụ Liên Xô J. Stalin.

Ở London, hai nhà lãnh đạo Xô viết ngụ tại khách sạn sang trọng Claridge, nơi bất chấp sự phòng bị kĩ lưỡng của KGB, phản gián MI5 của Anh vẫn gắn được thiết bị nghe lén kích hoạt bằng sóng vi ba tần số cao vào phòng của N. Khrushchev. Kết quả của chiến dịch nghe lén tinh vi này là các chuyên gia phản gián lành nghề của MI5 thường xuyên nghe được những chỉ đạo dài dòng của nhà lãnh dạo Xô viết đối với nhân viên phục vụ phòng về việc phải chuẩn bị quần áo kĩ càng như thế nào cho các buổi tiệc!

MI6 cũng tích cực tham gia vào việc do thám hai nhà lãnh đạo Liên Xô, nhưng dưới một góc độ khác. Họ cử chuyên viên người nhái giàu kinh nghiệm, Thiếu tá Crabbe, lặn xuống đo kích thước chân vịt của tuần dương hạm Ordzhonikidze, khi ấy đậu ở cảng Portsmouth, với hi vọng lí giải được vì sao chiếc tuần dương hạm này lại có thể chạy nhanh hơn nhiều so với ước tính của các chuyên viên kĩ thuật quân sự của tình báo Anh. Hẳn nhiên KGB không ngờ nghệch gì để đến nỗi không phòng bị những chuyện như vậy. Họ đã chơi cho MI6 một vố đau. Thiếu tá người nhái Crabbe không bao giờ quay lên mặt nước nữa. Trong nhiều thập niên sau này, MI6 tìm mọi cách nhưng không bao giờ có thể xác minh được lí do thực sự đằng sau vụ mất tích bí ẩn của viên thiếu tá người nhái này.

Trong thời gian ở Anh, hai nhà lãnh đạo Xô viết đi thăm các địa điểm văn hóa lịch sử của thành phố như nhà thờ Westminster Abbey và St. Paul, Tháp London, Cung điện Hoàng gia, đặt vòng hoa ở đài tưởng niệm các binh sĩ của hai nước đã hi sinh “trong cuộc đấu tranh vì hòa bình và an ninh” thời kì Đệ nhị thế chiến. Hai nhà lãnh đạo cũng đặt vòng hoa tại ngôi mộ của Karl Marx ở nghĩa trang Highgate. Có cả một bữa tối do thủ tướng Anh chiêu đãi ở nhà số 10 phố Downing và ăn trưa tại Học viện Hải quân Hoàng gia Anh ở Greenwich. Ngoài London, hai người cũng bay đi thăm các thành phố Birmingham và Edinburgh.

Toàn bộ chuyến thăm diễn ra trong bầu không khí hết sức thân thiện. Đỉnh điểm là cuộc đón tiếp của Nữ hoàng Anh diễn ra ở Lâu đài Windsor, chiều ngày 22-4-1956, đúng vào hôm đường hầm bị phát hiện. Trong khi B. Harvey cùng với người của mình căng thẳng ở phía đầu bên kia đường hầm, các máy nghe lén đang bị người Xô viết tháo ra khỏi các đường cáp thì hai nhà lãnh đạo Xô viết tươi cười tặng quà cho gia đình Hoàng gia. Tất cả các thành viên Hoàng gia đều có quà: Một con chồn lông cho chính Nữ hoàng, một con ngựa cho Quận công xứ Edinburgh, một con ngựa non cho Hoàng tử Charles và một con gấu nhỏ mang tên Nikki cho Công chúa Anne. Nikki sau đó được vườn thú London nhận nuôi dưỡng.

Hai nhà lãnh đạo Xô viết còn ở lại nước Anh thêm 5 ngày sau khi chiến dịch Stopwatch/Gold bị bóc gỡ, trong nỗi thấp thỏm của quan chức chủ nhà rằng các vị khách có thể đề cập tới việc phát hiện ra đường hầm khiến cho cả hai phía đều sượng sùng, khó xử. Nhưng không có chuyện gì xảy ra. Trước khi rời London, hai nhà lãnh đạo Xô viết còn tổ chức một cuộc họp báo ở Phòng hội nghị trung tâm tại Westminster với sự tham dự của hơn 400 phóng viên Anh và quốc tế. Tại cuộc họp báo, hai người không hề đả động bất cứ một từ nào có thể ám chỉ đến vụ việc vừa xảy ra ở Berlin. Thủ tướng Liên Xô N. Bulganin tươi cười thông báo rằng Thủ tướng Anh Eden đã chấp nhận lời mời của ông tới thăm Liên Xô ngay khi nào có thể thu xếp được. Dĩ nhiên, trong các cuộc thảo luận giữa hai bên cũng có những thời điểm căng thẳng do lẽ vẫn còn nhiều sự khác biệt giữa Đông và Tây, nhưng ông cùng với Ngài Khrushchev sẽ quay trở về Moscow, mang theo tình cảm hữu nghị của người dân và chính phủ Anh. Cả người dân lẫn chính phủ Anh đều không muốn có chiến tranh, không giống như một đối tác khác của cả Liên Xô và Anh. Rõ ràng thủ tướng Liên Xô muốn ám chỉ có sự khác biệt lớn giữa London và Washington trong chính sách đối với Liên bang Xô viết.

+++++

Trong khi đó, phía Xô viết tích cực triển 'khai chiến dịch tuyên truyền hướng về mục tiêu chính là Mỹ, đồng thời KGB thực hiện các đòn thế phối hợp nhịp nhàng theo kế hoạch đã định trước để đánh lạc hướng, bảo vệ cho nguồn tin của mình trong MI6.

Chỉ ít giờ sau khi đường hầm bị “phát hiện”, Đại sứ Liên Xô tại Đông Đức Georgy Pushkin gửi một công hàm tới Tướng Charles Dasher, chỉ huy các lực lượng Mỹ tại Berlin, bày tỏ lập trưởng phản đối mạnh mẽ hoạt động do thám của Mỹ ở Đường hầm Berlin. Hai ngày sau, vào lúc 7 giờ tối ngày 24-4-1956, các phóng viên quốc tế tại Berlin được mời tới dự một cuộc họp báo của phía Xô viết, tổ chức tại phòng chiếu phim nằm trong Câu lạc bộ sĩ quan quân đội Liên Xô ở Karlshorst.

Trước một đám đông các phóng viên đang háo hức thèm khát thông tin, Đại tá Ivan Kotsiuba, chỉ huy các lực lượng quân đội Xô viết ở Berlin, nhiệt thành chào đón những nhà báo tới từ phương Tây, chính thức thông báo việc phát hiện ra một “đường hầm gián điệp của người Mỹ”. Rồi trong sự ngạc nhiên thích thú của đám phóng viên, Đại tá Ivan Kotsiuba mời họ đi tham quan đường hầm!

Được các mô tô của quân cảnh Liên Xô dẫn đường, đoàn xe chở các phóng viên phương Tây từ Karlshorst chạy với tốc độ cao trong bóng tối nhập nhoạng của Berlin, tới địa điểm phát hiện ra miệng đường hầm ở Altglienicke. Tại hiện trường, khu vực miệng đường hầm được chiếu đèn sáng trưng. “Nào, xin mời các ông theo tôi”, Đại tá Ivan Kotsiuba hồ hởi nói rồi tự mình chui xuống miệng hầm. Các phóng viên lũ lượt bám theo sau. “Các ông xem đây”, Đại tá Ivan Kotsiuba nói, lần lượt giới thiệu các thiết bị, hiện vật có trong đường hầm. “Hầu hết đều nằm trên đất Đức nhưng không phải do người Đức làm”.

Viên đại tá Liên Xô dẫn các phóng viên quốc tế đi theo đường hầm tới tận chỗ tấm biển báo trên có hàng chữ nguệch ngoạc mà B. Harvey đã cho viết lên đó, báo hiệu bắt đầu khu vực do người Mỹ kiểm soát. Các phóng viên được thoải mái quan sát căn phòng gắn máy nghe lén ở ngay đầu đường hầm. “Tất cả đều là sản phẩm của tình báo Mỹ”, Đại tá Ivan Kotsiuba khẳng định. CIA đã sử dụng Tây Berlin như là một cứ địa để tiến hành hàng loạt chiến dịch bí mật nhằm chống lại nước Cộng hòa dân chủ Đức yêu hòa bình.

Kết quả của chuyến tham quan có “định hướng” do KGB tổ chức này là hàng loạt bài báo giật gân xuất hiện trên các trang báo lớn ở phương Tây. “Căn phòng nằm ở đầu đường hầm phía lãnh thổ Xô viết giống như trung tâm thông tin của một chiến hạm”, phóng viên tờ New York Times mô tả.

Ngày hôm sau, phóng viên Charles Hagrove của tờ báo Anh The Times thường trú tại Berlin cũng thuật lại: “Các nhà báo đã có cơ hội đi theo những bậc thang để chui xuống một đường hầm đào ngầm dưới đất. Quang cảnh giống như một địa điểm khai quật khảo cổ học với vô số các thiết bị điện tử, các công tắc chuyển mạch những đường dây điện thoại mang mác sản xuất ở Anh. Nhưng phía Xô viết không kết luận đây là do người Anh làm mà khẳng định toàn bộ đường hầm là sản phẩm của người Mỹ”.

Sau khi nói chuyện với một quan chức Mỹ ở Bonn, một nhà ngoại giao Anh nhận thấy rằng người Mỹ cảm thấy rất sung sướng vì đã sử dụng Đường hầm Berlin như một mô hình nghiệt ngã của Chiến tranh Lạnh. “Người Mỹ coi đây là một thành công tình báo vì đã cười vào mũi của người Xô viết trong thời gian dài đến thế”, nhà ngoại giao này báo cáo về London.

Trên đài phát thanh NBC, phát thanh viên Alex Dreier sáng tạo ra một câu chuyện hài hước. Vì sao người Mỹ không mở một tour du lịch đường hầm thu tiền mặt nhỉ? Chỉ cần 25 xu thôi, bạn có thể tận mắt chứng kiến hình mẫu của hoạt động gián điệp hiện đại thông qua các thiết bị điện tử tối tân được trưng bày suốt dọc đường hầm, cho tới tận ranh giới do phía Xô viết kiểm soát...

Người Xô viết không phải nhọc công cho lắm để có thể đạt được mục đích tuyên truyền của mình. Ở phương Tây, chiến dịch xây dựng đường hầm này đã được hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng mô tả như là “một ví dụ rõ ràng cho thấy khả năng của Mỹ sẵn sàng xúc tiến những điệp vụ nguy hiểm”.

Những người Xô viết tiếp tục khuếch trương kết quả nhằm tạo ra sự bối rối cho phương Tây quanh sự kiện phát hiện ra đường hầm. Ngày 28- 4-1956, tờ báo chính thức của Cộng hòa dân chủ Đức Neues Deutschland đã cho đăng một bản vẽ sơ đồ khu đường hầm. Tới tháng 6-1956, KGB cũng công bố một bản vẽ với những lời chỉ dẫn tương tự. Các sơ đồ này đều có một điểm là được vẽ không chính xác, chẳng hạn như điểm khởi đầu đường hầm được mô tả như từ khu xưởng sửa chữa máy móc hoặc trạm biến thế điện gần đó chứ không phải từ khu nhà kho ngụy trang làm “trạm radar” bên lãnh thổ Mỹ kiểm soát.

Các nhà phân tích tình báo của cả Anh và Mỹ xem xét tỉ mĩ các bài báo rồi thống nhất đi tới kết luận là nếu KGB có nguồn tin bên trong CIA hay MI6 thì hẳn là đã không có những bản sơ đồ sai lạc đến thế!

Rõ ràng tình báo Xô viết đã làm mọi việc có thể để bảo vệ thành công nguồn tin trong MI6 của mình.

Những đòn đánh lạc hướng này đã có kết quả rõ rệt. Một bài báo đăng ở London có tựa đề là Gián điệp để bán đã mô tả lại sự kiện phát hiện ra đường hầm như sau: “Đến ngày 22-4-1956, những người Nga bỗng dưng kết thúc toàn bộ sự việc. Hệ thống báo động điện tử của họ đã làm việc tốt. Người Nga tìm thấy một đường hầm hoang vắng với đầy đủ thiết bị vẫn còn lại ở đó. Những người vận hành các thiết bị này đã bỏ của chạy lấy người vội vã đến nỗi người Nga có thể tìm thấy những li cà phê vẫn còn sủi bọt trong căn phòng trống vắng”. Kèm theo bài báo này cũng là một sơ đồ được vẽ lại, theo đó đường hầm đã xuất phát từ chỗ trại lính, tức là còn xa hơn nhiều so với điểm xuất phát chính xác ở khu “trạm radar”.

Việc những bài báo tương tự như thế xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng phương Tây cho thấy KGB đã thành công xuất sắc trong chiến dịch che giấu nguồn tin trong MI6 bằng cách tạo ra câu chuyện huyền thoại về việc tình cờ “phát hiện” ra đường hầm, khi mà những chuyên gia kĩ thuật Xô viết anh hùng bất thần xuất hiện khiến cho các chuyên viên Mỹ phải bỏ chạy, vứt lại cả tai nghe lẫn những thiết bị ghi âm vẫn còn đang làm việc.

Mặc dù vậy, không phải các cơ quan đặc vụ phương Tây nhanh chóng để cho tình báo Xô viết xỏ mũi một cách dễ dàng. Cả CIA và MI6 đều ngay lập tức kiểm tra lại tất cả các khâu thực hiện chiến dịch để xác định xem liệu có tồn tại một “chuột chũi” của đối phương chui vào trong hàng ngũ, hay một điệp viên phản bội đã dẫn tới chiến dịch bị đổ bể hay không.

Sau ba tháng phân tích tỉ mỉ, nghe lại toàn bộ các đoạn băng ghi âm những cuộc đàm thoại ở giai đoạn ngay trước khi đường hầm bị phát hiện, xem những băng hình giám sát ở khu nhà ngụy trang tại Rudow, cả CIA lẫn MI6 đều đi tới kết luận là việc chiến dịch bị bại lộ không phải là do hậu quả từ một vụ xâm nhập của điệp viên đối phương hay là sự vi phạm các biện pháp an ninh bảo mật. Các bằng chứng đều cho thấy đây là một hoạt động ngẫu nhiên của phía đối phương, dẫn tới việc họ tình cờ phát hiện ra miệng đường hầm.

Hầu hết các nhà phân tích tình báo của phương Tây cũng như ngay cả những quan chức cao cấp của Đông Đức đều tin rằng chiến dịch này của phía Xô viết đã thành công một cách may mắn. Không ai trong số họ có thể nghĩ rằng đó là kết quả của một hoạt động tình báo và phản gián thành công chói sáng.

Mười bốn giờ đào bới liên tục, chủ yếu do các chuyên gia Đông Đức thực hiện, đã xóa sổ Stopwatch/Gold, một trong những chiến dịch gián điệp có quy mô và tham vọng nhất mà các cơ quan tình báo Anh - Mỹ thực hiện trong thời kì Chiến tranh Lạnh.

Một trong những chiếc răng sắc nhọn của con sư tử bị bẻ gãy, nhưng đó chắc chắn không phải là chiếc cuối cùng.

+++++

Image
Image

Nếu như CIA và MI6 có lần giở lại diễn tiến suốt quá trình triển khai Stopwatch/Gold, hẳn là họ sẽ nhận ra hai thời điểm then chốt đã dẫn tới sự phá sản không thể tránh khỏi của chiến dịch, đều liên quan đến sự hợp tác với tình báo Anh, cụ thể là MI6.

Ngày 22-10-1953, Bill Harvey, Trưởng trạm CIA ở Berlin và Fleetwood, điệp viên CIA tại Frankfurt tham gia chiến dịch, bay tới London dự một cuộc họp với Cục Tình báo mật MI6 để thảo luận về kế hoạch triển khai chiến dịch đào đường hầm ở Berlin. Từ cuộc họp này, KGB đã ngay lập tức biết được về kế hoạch thông qua một người của mình cài trong Cục Tình báo Anh. Điệp viên này nhanh chóng nắm bắt được những thông tin cơ bản về chiến dịch Smoky Joe’s/Silver gài máy nghe lén vào đường cáp thông tin của phía Xô viết do MI6, sau đó phối hợp với CIA, tiến hành ở Vienna trước đó và chuyển những thông tin này cho KGB.

Gần hai tháng sau, một cuộc họp khác quan trọng hơn diễn ra vào trung tuần tháng 12-1953. Từ ngày 15 đến 18 tháng 12-1953, tại trụ sở Ban Y của MI6, số 2 Carlton Garden, đã diễn ra cuộc gặp thứ hai ở London giữa các thành viên liên quan của cả MI6 và CIA để bàn kĩ hơn về chi tiết chiến dịch. Đại diện cho CIA có 5 người, gồm Rowlett, người điều phối chiến dịch từ Washington, phụ tá của Rowlett là Wheeler cùng 3 người khác là Nelson, Cook và Leichliter.

Đoàn đại biểu của MI6 có tới 9 thành viên, dẫn đầu là Stewart McKenzie, người sau này sẽ phụ trách toàn bộ các chiến dịch của MI6 trên địa bàn Tây bán cầu. Các thành viên còn lại gồm có Young, Milne, Đại tá Gimson, Đại tá Balmain, Đại úy Montagnon, các nhân viên MI6 Taylor, Urwick.

Thành viên thứ 9 trong phái đoàn MI6 có mặt trong cuộc gặp bí mật này là phó Ban Y trong MI6, chuyên chịu trách nhiệm về các chiến dịch tình báo khoa học kĩ thuật của Anh.

Người này cũng là điệp viên Xô viết mang mật danh Diomid, có tên thật là George Blake.

s trong một cuộc họp của đảng. Họ trở thành bạn bè và Ethel đánh máy giúp Julius những bản báo cáo về kĩ thuật. Julius thường xuyên mang quà cho cậu em trai của Ethel là David Greenglass, người sau đó cũng gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ. Quãng đ
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Yên Ba

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.