9
"Gia đình" Walker
“Đây là chiến dịch quan trọng bậc nhất trong lịch sử KGB. Nhờ những thông tin do đường dây này cung cấp, tình báo Xô viết đã giải mã được hơn 1 triệu điện mật của Hải quân Mỹ, đủ để phá hủy nước Mỹ một cách tàn khốc trong trường hợp nổ ra chiến tranh”.
Đại tá KGB Vitaly Yurchenko
Bức thư đến vào buổi sáng ngày 11-5-1984. Không có tên người gửi nhưng có địa chỉ người nhận: “Gửi đặc vụ chịu trách nhiệm ở FBI, 450 đại lộ Golden Gate, San Francisco, CA 94118”. Người đầu tiên nhận bức thư là Janet Fournier, nữ đặc vụ làm việc ở bộ phận khiếu nại thuộc văn phòng FBI San Francisco. Ở cương vị đó, Janet phải nghe - với vẻ hết sức lịch sự - những lời lảm nhảm của nhiều gã say quắc cần câu hay tâm sự của các bà quả phụ gọi điện thoại tới chỉ với ham muốn có một mối quan hệ bồ bịch mới mẻ.
Janet từng nhiều lần vứt vào sọt rác những bức thư, dù có kí tên hay không kí tên, của những người bịa đặt ra đủ các lời kết tội chồng hoặc vợ, phàn nàn về hàng xóm hoặc cơ quan cũ. Trong số đó cũng có cả những bức thư mô tả một cách tường tận, chi tiết về những tội ác hay âm mưu mà chủ nhân của các bức thư tưởng tượng ra.
Những bức thư nặc danh lại càng dễ bị xếp vào loại “hồ sơ rác” bởi các đặc vụ FBI đã có kinh nghiệm là chúng hiếm khi chứa đựng thông tin xác thực và rất khó kiểm chứng.
Tuy nhiên, vốn đã từng có thời gian làm nhân viên đánh máy ở văn phòng FBI tại Dallas, Janet Fournier không quên rằng văn phòng đó đã từng phớt lờ, quẳng đi một bức thư đe dọa do Lee Harvey Oswald gửi đến, chỉ ít ngày trước khi y được cho là đã ra tay ám sát Tổng thống Mỹ John F. Kennedy. Vì vậy, Janet vẫn hết sức thận trọng khi xử lí các bức thư gửi đến văn phòng.
Nên khi nhận được bức thư vào sáng hôm 11-5 ấy, Janet đọc đi đọc lại hai lần. Đọc xong, Janet nghĩ chắc lại thêm một bức thư rác nữa. Người đàn ông viết bức thư này có lẽ đã đọc quá nhiều truyện gián điệp nên tự cho mình là một điệp viên; cũng có thể anh ta đang chơi trò lừa gạt gì đó, cố gắng biến các đặc vụ FBI thành một lũ ngớ ngẩn - Janet tự nhủ.
Mặc dù vậy nhưng Janet vẫn quyết định đi thang máy từ tầng bảy xuống tầng sáu trong trụ sở văn phòng FBI San Francisco, tới Ban Xô viết. Ở đấy, Janet trao bức thư cho đặc vụ John Peterson.
- Tôi nghĩ trong này có một cái gì đấy mà chúng ta phải xem xét. - Janet nói.
- Tốt, Janet. - John Peterson nói. - Tôi sẽ xem nó sau bữa ăn trưa.
Janet nói vẻ năn nỉ:
- John, tôi nghĩ anh nên đọc nó ngay bây giờ.
J. Peterson mở thư ra và đọc. Bức thư viết:
“Các bạn thân mến!
Trong vài năm qua, tôi đã dính dáng tới một vụ làm gián điệp, đặc biệt là đã chuyển những thông tin tối mật về bảng khóa mã thông tin quân sự, sổ tay kĩ thuật cũng như các điện mật và vân vân.
Tôi không nhận ra là những thông tin đó được chuyển tới Liên bang Xô viết cho đến khi tôi đã dính dáng vào vụ việc được một số ít năm và kể từ đó, tôi rất hối hận và mong muốn được thoát khỏi gánh nặng. Cuối cùng, tôi quyết định dừng việc chuyển tài liệu - đầu mối của tôi không biết gì về quyết định đó. Hồi đầu, tôi được bảo rằng không thể rút ra khỏi chuyện này được, kèm theo lời đe dọa. Về sau, tôi biết rằng những lời dọa dẫm đó chỉ là lừa phỉnh.
Dẫu sao thì lí do tôi viết bức thư này cũng là để cho các bạn ở FBI có cơ hội để khám phá ra cái có thử (“có thể”, tác giả bức thư viết sai chính tả) là một trong những đường dây gián điệp cực lớn. (Tôi biết rằng đầu mối của tôi đã tuyển mụ (“tuyển mộ”) ít nhất ba thành viên khác để cung cấp những tài liệu có độ mật cao. Đầu mối rất tin tưởng tôi.)
Tôi chuyển những tài liệu cho đầu mối (một công dân Mỹ) và đến lượt mình, anh ta lại chuyển cho đầu mối ở nước ngoài (danh tính thật sự là KGB hay gì khác thì tôi không biết). Việc trao đổi này thỉnh thoảng được tiến hành trên đất Mỹ. Luôn có một địa điểm trên đất Mỹ được sử dụng để nhận các chỉ dẫn và tiền.
Nếu các bạn quan tâm đến chuyện này, đề nghị hãy ra ám hiệu cho tôi bằng cách đăng quảng cáo trên tờ Los Angeles Times phần Phân loại, mục Thông tin riêng tư (1255). Tôi hi vọng rằng sự hợp tác của tôi sẽ được đổi lại bằng việc cơ quan tư pháp hoàn toàn miễn truy tố và tuyệt đối không công khai tôi hay danh tín (“danh tính”) của tôi. Tôi sẽ theo dõi mục quảng cáo chỉ trên các số báo ra ngày thứ hai trong bốn tuần tiếp theo đây. Tôi cũng mong muốn sẽ có một chút hỗ trợ về tài chính do việc nguồn sinh nhai của tôi bị chấm dút (“chấm dứt”).
Về quảng cáo trên báo: Hãy bắt đầu bằng chữ “Rus:”, sau đó là nội dung mà các bạn muốn truyền đạt cho tôi. Nếu thông điệp của các bạn không rõ ràng, tôi sẽ gửi một thư khác. Nếu tôi quyết định hợp tác, các bạn sẽ nghe thông tin từ tôi thông qua một luật sư. Nếu không thì sẽ không có gì thêm nữa.
Thân mến.
Rus”
Đọc xong thư, J. Peterson nói với Janet: “Tôi sẽ mở cuộc điều tra ngay lập tức”.
J. Peterson quyết định giao vụ điều tra này cho người mà anh ta tin tưởng nhất, đó là chính mình! J. Peterson nhanh chóng thảo một văn bản trả lời Rus rồi gửi kèm nó vào một bức điện mã hóa gửi Tổng hành dinh FBI. J. Peterson không xin phép tổng hành dinh cho bắt đầu mở một cuộc điều tra mà chỉ đơn giản thông báo những gì mà văn phòng FBI San Francisco sẽ làm, trừ phi có khuyến cáo của tổng hành dinh là không nên tiến hành điều tra. Washington thường dễ dàng bác bỏ một đề nghị nào đó của văn phòng địa phương mà không thèm có một lời giải thích, nhưng một khi cuộc điều tra đã được khởi động thì muốn ngăn cản nó sẽ bắt buộc phải đưa ra lí do.
Đêm hôm ấy, 11-5-1984, J. Peterson ngồi lại ở văn phòng đến khuya và săm soi bức thư của Rus. Trên phong bì có dấu bưu điện Sacramento và việc nó được gửi tới văn phòng FBI San Francisco cho thấy có khả năng tác giả của nó sống ở vùng phía bắc California.
Những thuật ngữ được sử dụng trong bức thư như “bảng khóa mã” và “sổ tay kĩ thuật” liên quan đến lĩnh vực mật mã. Vì vậy, việc Rus nói rằng anh ta đã chuyển những tài liệu liên quan đến các bức điện mật có thể là sự thật.
Hiếm khi có người bên dân sự tiếp cận được với những bí mật thông tin quân sự nên nhiều khả năng Rus là người trong lực lượng vũ trang.
Nhưng việc tác giả bức thư đề cập đến chuyện bị dừng “nguồn sinh nhai” cho thấy Rus đã không nhận được chế độ thù lao đều đặn, thường xuyên.
Việc sử dụng các chữ như “và” ngay trước chữ “vân vân”, cách dùng từ sai và nhiều lỗi chính tả trong bức thư cho thấy Rus có lẽ không có học vấn cao lắm. Với một thực tế là hầu hết các sĩ quan trong quân đội Mỹ đều có trình độ cao đẳng trở lên thì có lẽ Rus không phải là một sĩ quan chuyên nghiệp.
Rus viết rằng anh ta đã làm gián điệp “trong vài năm” nhưng lại nói rằng không nhận ra đã làm việc cho Liên Xô sau khi đã làm “một số ít năm”, từ đó có thể suy luận ra rằng “vài năm” có thể là nhiều năm, sáu, bảy năm, hoặc lâu hơn. Việc này lại khiến J. Peterson tiếp tục đi đến một suy đoán nữa là nếu Rus phục vụ trong quân đội thì đó sẽ phải là người làm việc lâu năm chứ không thể là tân binh mới nhập ngũ.
Bức thư được photocopy lại từ một bản đánh máy, do đó hầu như không thể dùng các biện pháp khoa học điều tra lần theo dấu vết của máy đánh chữ được. Rus rõ ràng có biết một số thủ pháp để xóa dấu vết. J. Peterson cũng đồ rằng Rus sẽ không để lại dấu vân tay trên bức thư; sau này phòng thí nghiệm của FBI đã xác nhận điều này.
+++++
Sáng hôm sau, J. Peterson mang bức thư đến chỗ thanh tra phụ trách công tác phản gián Bill Smits, người được các đặc vụ FBI đặt cho biệt danh
Bá tước. B. Smits là một đặc vụ giàu kinh nghiệm, biết tiếng Nga, từng làm việc nhiều năm trong lĩnh vực khóa mã thông tin liên lạc khi phục vụ trong quân đội Mỹ tại Tây Đức. Đọc xong bức thư, B. Smits hỏi:
- Anh lấy bức thư này ở đâu?
- Từ chỗ Janet. - J. Peterson trả lời.
- Nói với cô ấy không kể lại về bức thư này với bất cứ ai. Nếu hắn ta tiếp tục gửi thư đến thì nói cô ấy đưa ngay tới chỗ anh hoặc tôi, nếu như anh đi vắng. - B. Smits ra lệnh.
Bằng kinh nghiệm của mình, B. Smits hình dung ra kịch bản quen thuộc về hoạt động của một mạng lưới gián điệp trên đất Mỹ, được điều khiển bởi một điệp viên căn bản, một “đầu mối”. Nhân vật này sẽ hoạt động như một người trung gian, thu thập tin tức từ những người như Rus rồi chuyển nó cho khách hàng là tình báo Liên Xô. Bản thân “đầu mối” không nhất thiết phải tiếp cận trực tiếp với tài liệu mật. “Đầu mối” chỉ cần móc nối với những người thích hợp ở vị trí nào đó có khả năng đánh cắp tài liệu rồi chuyển cho anh ta. Việc chuyển giao tài liệu cho phía Xô viết cũng không phải gặp mặt trực tiếp để tránh bị lộ mà thông qua hộp thư chết nằm ở một vị trí hẻo lánh nào đó. Cũng bằng phương thức giao dịch qua hộp thư chết, anh ta sẽ nhận tiền và chỉ dẫn của tình báo Xô viết. Cũng có thể có những cuộc gặp trực tiếp với điệp viên KGB Xô viết, nhưng thường thì nó diễn ra ở nước ngoài, Mexico hoặc Áo, những nơi mà FBI khó có thể với tới được. Đây là một quy trình chuẩn mà tình báo Xô viết đã thực hiện trong hơn sáu mươi năm qua không gặp phải trục trặc nào và chẳng có lí do gì để họ phải thay đổi.
B. Smits biết rằng kể từ khi phản gián Mỹ lần ra đường dây gián điệp đánh cắp thông tin bí mật chế tạo bom nguyên tử của Mỹ từ hồi thập niên 50, hầu hết các vụ hoạt động gián điệp cho Liên Xô bị phát hiện sau đó đều chỉ liên quan đến những cá nhân người Mỹ đơn độc. Nhưng nếu những gì Rus viết trong thư là đúng thì đây là một đường dây gồm nhiều thành viên, vẫn còn đang hoạt động, bất chấp việc Rus tuyên bố là đã “nghỉ hưu”. Hẳn là anh ta cảm thấy ân hận về những việc mình đã làm, hi vọng bằng việc hợp tác với FBI sẽ đổi lấy sự bình yên, thậm chí còn đòi một khoản tiền cho sự hợp tác đó nữa!
Đây là một đường dây gián điệp đang hoạt động hiệu quả và rất nguy hiểm, B. Smits kết luận. Anh ta tin chắc bức thư của Rus là thực.
Thứ hai, ngày 21-5-1984, một mẩu tin nhắn ngắn gọn xuất hiện trên mục quảng cáo của tờ Los Angeles Times: “Rus: Đang cân nhắc đề nghị của anh. Hãy gọi vào số 415/626-2793 vào khoảng từ 9 đến 11 giờ hằng ngày hoặc viết thư cho tôi, San Francisco”.
Số điện thoại đưa trong mẩu tin này là số máy mới được lắp nằm ngay trên bàn J. Peterson. Bất cứ cuộc gọi nào vào số này cũng sẽ bị lần theo dấu ngay lập tức.
Trong suốt cả ngày, thứ hai và thứ ba, chiếc điện thoại này không một lần réo chuông. Nhưng sáng thứ ba, một phong bì lại được gửi tới bộ phận khiếu nại văn phòng FBI San Francisco. Janet Fournier nhận ra ngay lập tức bởi địa chỉ đánh máy trên phong bì giống hệt như trên lá thư thứ nhất. Không mở ra, Janet mang nó tới chỗ J. Peterson. Viên đặc vụ FBI cẩn thận đeo đôi găng tay cao su rồi khéo léo mở phong bì, lấy bức thư bên trong ra, chụp hai bản, một cho mình, một cho B. Smits, còn bức thư nguyên bản thì cất vào két sắt.
Ở phòng của B. Smits, hai dặc vụ cùng đọc bức thư. Tác giả bức thư thông báo rằng đã đọc mẩu quảng cáo trên báo và rất phấn khích, tuy nhiên, vì những lí do dễ hiểu, đã không gọi điện thoại. Anh ta nói hối hận về những việc sai trái đã làm và hi vọng việc phá vỡ đường dây gián điệp này sẽ bù đắp lại cho những hành động sai trái đó. Rus tỏ ra lo ngại về khả năng được miễn truy tố và thông báo đang tìm một luật sư để tham khảo ý kiến về tình trạng của anh ta. Rus cũng thông báo “đầu mối” đang đòi hỏi có thêm nhiều tài liệu nữa trong những tháng tới và anh ta có ý định nói với “đầu mối” là sẽ từ bỏ công việc làm gián điệp.
Trong bức thư, Rus tiết lộ một chi tiết khá quan trọng, là “đầu mối” của anh ta đã “làm công việc” (gián điệp?) trong hơn hai mươi năm và vẫn có ý định tiếp tục, tin tưởng rằng sẽ không bị phát hiện trong một thời gian dài nữa.
Trong lịch sử điệp báo thế giới, có rất ít điệp viên đơn độc, chưa nói là cả một mạng lưới gián điệp, có thể tồn tại trong khoảng thời gian dài đến hai mươi năm mà không bị nghi ngờ, phát hiện. Nếu như người Xô viết đã đột nhập được vào hệ thống truyền tải thông tin mật của Mỹ trong chừng ấy thời gian thì hẳn là lượng thông tin thu về phải là con số khổng lồ, đòi hỏi hàng trăm chuyên viên phân tích KGB tham gia xử lí.
Vậy nhưng trong suốt 20 năm, cả CIA, FBI lẫn các cơ quan tình báo của Anh, Pháp đã tuyển mộ được vô số các điệp viên KGB, kể cả ở tổng hành dinh lẫn tại các sứ quán Liên Xô ở nước ngoài, nhưng không có bất cứ ai trong số đó đề cập tới một chiến dịch tương tự như Rus đã đề cập tới trong bức thư thứ hai này.
Làm sao KGB có thể duy trì được một điệp vụ bí mật trong chừng ấy năm trời?
B. Smits nói: “Đây chắc chắn là điệp vụ của Ban 16 KGB”. Rồi quay sang J. Peterson, B. Smits hỏi: “Anh đã hỏi chuyện Stan về Ban 16 rồi phải không?”
Stan ở đây là Stanislav Levchenko, một sĩ quan tình báo KGB có nhiều năm hoạt động ở địa bàn Nhật Bản dưới vỏ bọc là phóng viên của tờ tạp chí Liên Xô New Times. Cuối tháng 10-1979, ở cương vị thiếu tá KGB, S. Levchenko liên hệ với một sĩ quan hải quân Mỹ ở khách sạn Sanno tại Tokyo và đào thoát sang Mỹ.
S. Levchenko giải thích rằng Ban 16, chịu trách nhiệm các chiến dịch liên quan đến hoạt động mã thám ở nước ngoài, là một trong hai ban bí mật bậc nhất trong KGB; ban còn lại chịu trách nhiệm về các hoạt động ám sát. KGB bố trí văn phòng Ban 16 ở Moscow, cố gắng tránh né các biện pháp phản gián của đặc vụ nước ngoài. Tất cả các chiến dịch của Ban 16 đều do Tổng hành dinh KGB trực tiếp điều khiển. Nếu một nhân viên trong ban cần gặp gỡ nguồn tin thì cuộc gặp thường diễn ra ở một nước trung lập thuộc thế giới thứ ba, nơi KGB cảm thấy an toàn. Trong một số trường hợp đặc biệt, KGB sẽ cử nguyên cả một đội thuộc Ban giám sát đi bảo vệ cho cuộc gặp mặt. Ở tổng hành dinh, mỗi sĩ quan sẽ phụ trách riêng một điệp vụ. Mọi tài liệu liên quan đến điệp vụ đều được cất giữ trong két an toàn và chỉ có sĩ quan phụ trách điệp vụ đó được phép tiếp cận.
Những nguyên tắc bảo mật này cũng được áp dụng nghiêm ngặt trên thực địa. Nếu điệp viên thuộc ban khác của KGB được trưng dụng cho một chiến dịch của Ban 16, thực hiện các hoạt động như tổ chức hộp thư chết, sẽ không được phép tham dự vào các hoạt động mật khác. Anh ta sẽ thận trọng sống dưới vỏ bọc của một nhân viên sứ quán, gắng không làm bất cứ điều gì có thể gây nên sự chú ý của các cơ quan phản gián nước sở tại. Anh ta chỉ ra ngoài đi lấy hoặc nạp tài liệu ở hộp thư chết chừng hai, ba lần trong một năm.
B. Smits chỉ ra rằng trong bức thư thứ nhất, Rus đã nói về “sự tin tưởng” của “đầu mối” đối với anh ta. Trong bức thư thứ hai, Rus lại đề cập đến “đầu mối” như là một “người bạn”. Như vậy là trong cả hai bức thư, Rus đã để lộ ra cơ cấu hoạt động của đường dây này là dựa trên cơ sở của sự tin cậy giữa những người bạn hoặc cộng sự. Một điệp viên KGB được đào tạo cẩn thận không bao giờ vi phạm nguyên tắc an ninh như vậy. Bởi thế, như Rus đã nói trong thư, “đầu mối” của anh ta có lẽ là một người Mỹ.
Việc vi phạm nguyên tắc an ninh của “đầu mối” như Rus chỉ ra trong hai bức thư lại dẫn tới một khả năng khác là rất có thể trong một thời gian dài, KGB không thể kiểm soát được toàn bộ các hoạt động của “đầu mối”, cho dù đã nhiều năm “làm việc” với anh ta. KGB sẽ không cố gắng làm vậy một khi “đầu mối” vẫn tiếp tục cung cấp những tin tức có giá trị. Như vậy, có thể “đầu mối” là người rất tự tin sẽ tiếp tục hoạt động trong một thời gian dài nữa mà không bị phát hiện.
FBI trả lời bức thư thứ hai của Rus bằng một mẩu quảng cáo trên tờ Los Angeles Times số ra ngày 4-6-1984: “Rus: Chúng tôi hiểu sự phân vân của anh, nhưng chúng tôi có thể giúp đỡ. Cần nói chuyện với anh hoặc người ủy nhiệm của anh, nếu anh thực sự nghiêm túc. Tôi, San Francisco”.
Không có bất cứ hồi âm nào. Một tuần sau, ngày 11-6, FBI tiếp tục đăng mẩu quảng cáo, trong đó đề nghị một cuộc gặp mặt vào lúc 10 giờ sáng ngày 21-6-1984 ở giao lộ giữa con đường chạy trước “cơ quan tôi” (tức trụ sở FBI ở San Francisco) với đường Hyde. Nhân viên FBI cầm một tờ báo bên tay trái. Sẽ không có bất cứ một hành động nào chống lại Rus nếu anh ta đến cuộc gặp mặt. Rus cũng có thể đề nghị thay đổi địa điểm gặp mặt nếu muốn.
Lúc 10 giờ sáng ngày 21-6, J. Peterson đứng ở giao lộ giữa Đại lộ Golden Gate với đường Hyde, tay trái cầm một tờ báo. Các nhóm đặc vụ cải trang bố trí dày đặc xung quanh. Trong mẩu quảng cáo, FBI khẳng định sẽ không làm gì chống lại Rus “tại cuộc gặp mặt”, nhưng sẽ theo sát và xác định danh tính anh ta.
Rus không xuất hiện.
Khi quay lại văn phòng FBI, J. Peterson nhận được một mẩu giấy không đề ngày mà Janet mới nhận được mấy phút trước đấy, trên đó viết:
“Tôi không thể gặp mặt vào ngày 21-6. Sau một hoặc hai tuần nữa tôi sẽ gửi thư”.
Cũng lúc này, văn phòng FBI nhận được bản phân tích nhận dạng tâm lí của chuyên gia tâm lí, tiến sĩ Murray Miron, dựa trên bức thư thứ nhất của Rus. Bản phân tích cho rằng ngôn ngữ trong bức thư chỉ ra tác giả của nó có vấn đề về tâm thần. Những diễn giải trong thư cho thấy một người vừa ranh mãnh, vừa nông cạn. Sự ân hận mà tác giả nêu trong thư cho thấy anh ta muốn thoát khỏi những sức ép trong thời gian trước đó và lưỡng lự không muốn tham gia vào các hoạt động tiếp theo. Sự bất bình thường về tâm lí của tác giả bức thư thể hiện rõ qua việc anh ta muốn đổi lại sự hợp tác bằng một khoản hỗ trợ do sự “chấm dứt nguồn sinh nhai” của anh ta. Dựa trên nội dung cũng như phong cách ngôn ngữ của bức thư, có thể phỏng đoán đó là một người đàn ông da trắng tầm từ 30 đến 45 tuổi. Công việc của anh ta liên quan đến lĩnh vực mật mã, vô tuyến hoặc máy tính...
Trong suốt thời gian còn lại của tháng 6 cho tới đầu tháng 8-1984, Rus hoàn toàn im lặng. Ngày 13-8, trong một nỗ lực để Rus lộ diện, văn phòng FBI đăng một mẩu quảng cáo: “Rus: Không nghe được tin tức gì của anh. Chúng tôi vẫn muốn gặp mặt. Có thể ở Ensenada tại Mexico hoặc một địa điểm trung gian nào đó. Nếu anh cần kinh phí để di chuyển, chúng tôi sẽ cung cấp cho anh tại một địa điểm do anh chọn ở Thung lũng Silicon hoặc bất cứ nơi nào khác. Xin trả lời”.
Hai ngày sau, Janet đưa cho J. Peterson thư trả lời. Rus nói anh ta đã suy nghĩ rất kĩ và đi tới kết luận rằng tốt nhất là nên từ bỏ ý định giúp FBI phá vỡ đường dây gián điệp mà anh ta đã đề cập trong những bức thư trước. Rus cho rằng sẽ là ngây thơ nếu giúp FBI lần ra đường dây gián điệp mà lại không để mình dính líu vào. Anh ta nói mình chưa tiếp xúc với luật sư và sẽ suy nghĩ về đề nghị của FBI gặp gỡ ở Ensenada. Cuối thư, Rus thông báo là “đầu mối” vẫn gây sức ép để anh ta tiếp tục cung cấp tài liệu, nhưng không có chuyện gì xảy ra; anh ta vẫn chưa nói dứt khoát với “đầu mối” là mình đã rời bỏ cuộc chơi.
Rõ ràng Rus đã tỏ ra dao động trong một thời gian dài. Anh ta đã phân vân nhiều tháng trước khi viết bức thư thứ nhất gửi FBI. Anh ta có kế hoạch gặp một luật sư nhưng lại không làm gì để thực hiện nó. Anh ta cũng có ý định thông báo cho “đầu mối” biết rằng mình rời bỏ cuộc chơi nhưng lại không làm thế. Giờ đây, sau khi đã “gần như chắc chắn” quyết định sẽ không hợp tác với FBI, Rus vẫn chưa từ bỏ khả năng đó.
B. Smits nói: “Tôi cho là hắn ta sẽ không từ bỏ hoạt động gián điệp. Tôi cũng tin là chúng ta sẽ không còn nghe thấy tin tức nào nữa từ hắn ta đâu”.
Những gì xảy ra sau đó cho thấy B. Smits hoàn toàn đúng.
Trong khi ấy, J. Peterson quyết định tiến hành bí mật điều tra hai trường hợp có nhân thân gần giống với bản mô tả nhận dạng tâm lí của Rus. Cả hai đều phục vụ trong quân đội, một người mới nghỉ hưu, người còn lại vẫn đang làm việc. Những cuộc điều tra bí mật cho thấy không có bất cứ một cơ sở nào để nghi ngờ hai người này. Đến đầu tháng 10-1984, cuộc điều tra đi vào ngố cụt.
+++++
Đến đầu năm 1968 thì John Walker cảm thấy mọi sự trong cuộc đời mình đã trở nên hết sức tồi tệ.
Nếu quả thật trên đời có số mệnh thì ông trời đã không hề ưu ái J. Walker chút nào. Cứ như thể có một thế lực thần bí đã sắp xếp sao đó để vận may đều lảng tránh, trong khi những vận rủi dồn dập đổ lên đầu Johnny, cả trong cuộc sống riêng tư lẫn công việc kinh doanh. Một cuộc hôn nhân đẹp như mơ thuở ban đầu, sau hơn 10 năm trời, đang đi đến chỗ đổ vỡ, với cô vợ uống rượu như hũ chìm và bốn đứa con lóc nhóc như bốn cái tàu há mồm. Họa vô đơn chí, quán rượu nhỏ do J. Walker làm chủ bị ế khách dẫn tới phá sản, để lại một đống nợ nần, trong khi cơ quan thuế vụ Mỹ vẫn gay gắt đòi truy thu những khoản thuế chưa nộp trước đấy. Bế tắc. Hầu như không có một lối thoát nào.
J. Walker đang làm sĩ quan giám sát thông tin thuộc Bộ chỉ huy lực lượng tàu ngầm Đại Tây Dương (COMSUBLANT) có trụ sở ở Norfolk, một công việc mà J. Walker cảm thấy buồn tẻ và vô nghĩa. Dường như đó là đoạn kết cho một quãng đời không lấy gì làm tự hào của J. Walker, kể từ khi mới sinh ra.
J. Walker sinh năm 1937, là con trai thứ hai trong số ba người con trai của ông John Anthony Walker và bà Margaret Loretta Scaramuzzo. Anh trai của John, Arthur James Walker, ra đời trước John ba năm. Cha của John, ông John Anthony Walker, làm ở văn phòng công chúng của hãng phim Warner Bros., chuyên đi chào bán phim của hãng này cho các nhà phát hành trước khi bị mất việc sau một tai nạn ô tô xảy ra năm 1944. J. Walker cha được lôi ra khỏi chiếc xe bẹp rúm, thoát chết nhưng trở nên nghiện rượu, thường xuyên đánh đập vợ con. J. Walker con rất ghét ông bố. Cả nhà sống ở thành phố Scranton, bang Pennsylvania.
Anh trai Arthur Walker, năm 19 tuổi, đang học dở năm thứ nhất ở Đại học Tồng hợp Scranton bỗng bất ngờ bỏ ngang, đăng lính, xin gia nhập hải quân Hoa Kỳ. “Tôi gia nhập hải quân để nhìn ngó thế giới”, Arthur nói.
Cậu em trai John Walker, thường gọi là Johnny, không được chăm sóc tử tế, lớn lên như một loài cây dại, kết bè kết bạn với những đứa trẻ cùng lứa có cùng tính cách ngỗ ngược, bất hảo. Đêm 27-5-1955, cùng với một cậu bạn, Johnny đột nhập vào tiệm bán quần áo hiệu Cuozzo & Gavigan. Bị cảnh sát phát hiện, Johnny lái xe chạy đến Williamsport, một thành phố cách Scranton khoảng 110 dặm về phía tây nam. Ẩn náu ở chỗ người quen được hai ngày, Johnny viết thư cho một cô bạn gái, cho cô ta địa chỉ ở Williamsport. Ngày 1-6-1955, cảnh sát Williamsport bắt được John Walker trước một cửa hiệu bán thiệp chúc mừng tại thành phố này và hai ngày sau dẫn giải tay tội phạm còn ở độ tuổi vị thành niên về Scranton. John Walker nhanh chóng khai ra cậu bạn và ba tuần lễ sau, cả hai đứng trước quan tòa Otto P. Robinson ở phiên tòa dành cho trẻ vị thành niên. Cả hai sẽ phải chịu một bản án và bị tống đến cải tạo ở Trại Hill.
Nhưng ông anh trai Arthur, khi ấy đã hai mươi tuổi và là một thủy thủ tàu ngầm trong hải quân Mỹ, xuất hiện. Arthur tới gặp quan tòa O. Robinson và đưa ra một đề nghị: Đừng gửi thằng em tôi tới trại cải tạo; hãy cho nó gia nhập hải quân và môi trường quân đội sẽ uốn nắn nó đi theo con đường đúng đắn.
Vậy là mười tuần sau khi bước sang tuổi 18, ngày 25-10-1955, John Walker lên một chiếc xe buýt, hướng về Trung tâm huấn luyện hải quân ở Bainbridge, Maryland.
Ở Trung tâm huấn luyện hải quân Bainbridge, Johnny nổi bật so với những đồng ngũ xung quanh mỗi khi công việc liên quan đến các thiết bị điện tử. Rất có thể vì hồi mới 12 tuổi, Johnny từng say mê khám phá những thiết bị vô tuyến. Có lần Johnny nói với ông anh James rằng việc sắp xếp những dây dợ lằng nhằng vào đúng chỗ giống như khám phá thành công một bí ẩn nào đó.
Mùa đông năm 1956, hải quân Mỹ gửi Johnny tới học ở Trường Chỉ huy hải quân ở Norfolk, Virginia, nơi anh ta được đào tạo thành một nhân viên vô tuyến điện. Đó đúng là công việc mà Johnny yêu thích. Vào thời điểm ấy, việc liên lạc giữa căn cứ với các tàu chiến ngoài khơi chủ yếu thông qua hệ thống vô tuyến cao tần và Johnny không khó khăn gì để đạt được trình độ xuất sắc trong lĩnh vực này. Những việc còn lại trong khóa học đòi hỏi nhiều kĩ năng thực tế như tập đánh máy nhận điện nhanh, truyền tín hiệu Morse hay ghi tốc kí các bức điện trao đổi qua lại trong hải quân...
Các huấn luyện viên dành khá nhiều thời gian trong khóa học để nói về các nguyên tắc an ninh bảo mật. Nhân viên vô tuyến điện luôn là người đầu tiên trên một tàu chiến biết điều gì đang diễn ra. Anh ta sẽ đọc tất cả mọi điện tín gửi đi và nhận về. Phòng vô tuyến điện là nơi cất giữ những bí mật tối hậu của con tàu.
Ước mơ của Johnny là được phục vụ trên một chiếc tàu ngầm. Lí do bởi thủy thủ tàu ngầm được coi là loại đặc biệt trong hải quân; một phần khác nữa còn bởi ông anh trai Arthur, khi ấy mới cưới cô vợ Rita gần một năm, đã được điều về làm việc trên USS Torsk, một chiếc tàu ngầm diesel, gần hai năm. Nhưng thay vì tàu ngầm, khi kết thúc khóa học, Johnny được điều về chiếc khu trục hạm hộ tống USS Johnnie Hutchins. Công việc của Johnny ở tàu này là hằng ngày lắng nghe những tín hiệu báo cấp cứu SOS, chuyển chúng sang mã báo nguy mỗi khi có một tàu dân sự nào đó phát tín hiệu cấp cứu.
Johnny không thích công việc nhàm chán này.
Mùa đông đầu năm 1957, chiếc USS Johnnie Hutchins cập cảng Boston. Một buổi tối, cùng vài thủy thủ khác trên tàu, Johnny lên bờ tới sàn nhảy nằm dưới tầng hầm một nhà thờ. Ở đây, Johnny chú ý đến Barbara Crowley, một cô gái 19 tuổi có mái tóc đen nhánh như than. Hai người nhanh chóng bập vào nhau, mô tả theo lối thông thường là “yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên”.
Đến mùa xuân, khi chiếc USS Johnnie Hutchins chuẩn bị rời cảng cho một chuyến tuần tra dài ngày dọc bờ biển phía đông nước Mỹ thì Barbara đã có bầu được hai tháng. Cô thông báo cho Johnny và hai người quyết định tổ chức dám cưới vào ngày 4-6-1957. Hai ngày sau lễ Giáng sinh năm 1957, khi Johnny đã được điều sang làm nhân viên vô tuyến điện ở hàng không mẫu hạm USS Forrestal, tại một bệnh viện ở Brooklyn, New York, Barbara sinh hạ cô con gái đầu lòng Margaret, lấy theo tên mẹ của Johnny.
Gần như ngay sau đó, Barbara hạ sinh liên tiếp hai cô con gái Cynthia và Laura. Việc không có được một mụn con trai khiến Johnny thất vọng tràn trề. Tuy nhiên, trong thời gian này, ước mơ trở thành hiện thực khi Johnny được điều về làm nhân viên vô tuyến điện trên chiếc tàu ngầm USS Howard W. Gilmore.
Suốt sáu năm sau đó, công việc của Johnny trong vai trò một nhân viên vô tuyến điện gắn liền với những chiếc tàu ngầm và các chuyến đi dài ngày trên biển cả, có những chuyến lâu tới 70 ngày, đến nhiều hải cảng trên thế giới. Hải quân Mỹ thuyên chuyển John Walker qua nhiều tàu ngầm, từ chiếc USS Balo vào tháng 10-1960, rồi chiếc tàu ngầm diesel USS Razorback vào năm 1961. Từ năm 1959, khi hải quân Mỹ hạ thủy chiếc tàu ngầm hạt nhân USS George Washington, loại tàu ngầm có trang bị tên lửa đạn đạo hạt nhân này lại trở thành niềm mơ ước của Johnny.
Trong khi Johnny ném mình vào những chuyến tuần tra dài ngày dưới mặt nước thì Barbara cùng ba cô con gái vẫn sống ở Vallejo, California. Sau mỗi chuyến đi biển dài ngày trở về, Johnny lại quay về với Barbara. Johnny tin rằng rồi một ngày kia, vận may sẽ tới với mình và quả là cuối cùng nó cũng tới thật. Khi Barbara có bầu đứa con thứ tư, Johnny tin chắc rằng mình sẽ có một cậu con trai. Vào ngày đầu tháng 11-1962, Barbara sinh cậu con kháu khỉnh Michael. Rồi sang năm 1962, ước mơ thành sự thật: Johnny được chọn làm sĩ quan giám sát nhân viên vô tuyến điện trên chiếc USS Andrew Jackson, một chiếc tàu ngầm hạt nhân được hạ thủy vào năm sau đó, 1963.
Khi hạ thủy, USS Andrew Jackson là chiếc tàu ngầm lớn nhất và có tốc độ nhanh nhất vào thời điểm đó. Dài chừng 142 mét, đường kính 11 mét, con quái vật của biển khơi này có thể đạt tới tốc độ cực đại 25 hải lí. Lò phản ứng hạt nhân mang lại cho động cơ của chiếc tàu công suất khổng lồ 24.000 sức ngựa, đủ để đưa nó rời khỏi căn cứ Charleston ở Nam California đến bất cứ nơi nào trên thế giới. Nhưng mục tiêu của chiếc USS Andrew Jackson không đơn giản là phô diễn những tính năng hiện đại bậc nhất của hải quân Mỹ mà cao hơn thế nhiều: Đóng vai trò quan trọng để giành chiến thắng tối hậu trong một cuộc chiến tranh, ưu thế chết người của nó chính là 16 tên lửa đạn đạo Polaris mang đầu đạn hạt nhân, có khả năng phóng từ độ sâu dưới 30 mét so với mặt nước biển và tầm bay khoảng 4.000 km. Các chuyên gia hải quân Mỹ tính toán rằng một quả Polaris nếu chọn điện Kremlin ở Moscow làm mục tiêu sẽ biến khu vực thủ đô của Liên Xô thành bình địa với 500.000 người chết. Một quả tên lửa Polaris có thể phá hủy một thành phố; 16 quả có thể phá hủy cả thế giới!
Chính trên chiếc USS Andrew Jackson, Johnny mới lần đầu tiên thực sự làm quen với những tài liệu siêu mật của hải quân Mỹ.
Trong thời gian này, Johnny bắt đầu cân nhắc khả năng tìm kiếm những nguồn tài chính mới ngoài tiền lương hằng tháng. Là ông bố trẻ của bốn đứa con, Johnny tính rằng mình sẽ không thể ở mãi trong hải quân được. Nếu ra ngoài dân sự, cần phải có một cơ sở tài chính ổn định để duy trì cuộc sống gia đình. Năm 1965, khi được điều chuyển sang chiếc tàu USS Simon Bolivar, Johnny quen với Bill Wilkinson, cũng trong nhóm nhân viên vô tuyến điện trên tàu. Hai người nhanh chóng thân thiết với nhau và rắp ranh kế hoạch mở quán rượu để kinh doanh. Cuối cùng, hai người quyết định chung tiền mở một quán rượu ở Ladson, thị trấn nhỏ cách Charleston chừng nửa giờ lái xe về phía bắc. Quán Bamboo Snack khai trương vào tháng 10-1966.
Nhưng lúc này, cuộc hôn nhân của Johnny với Barbara gặp những bất ổn nghiêm trọng. Thực ra thì sau bảy năm, cuộc hôn nhân của họ đã trục trặc rồi. Barbara bắt đầu thường xuyên uống rượu quá đà, có lần đã bị cảnh sát phạt 50 USD vì tội say xỉn.
Johnny nhanh chóng nhận thấy ý tưởng kinh doanh của mình hoàn toàn sai lầm. Quán Bamboo Snack hoàn toàn vắng khách. Không ai rõ nguyên nhân vì sao. Có thể vì nó ở cách quá xa đường đi; hoặc cộng đồng người theo hệ phái Tin Lành Baptist địa phương không thích hợp với loại quán xá như vậy; những người nước ngoài tới từ khu vực phía bắc không có ý định rẽ vào một khu vực hẻo lánh để tiêu những đồng tiền của họ ở quán rượu tại đây. Thất bại toàn tập.
Thêm vào đó, Bill Wilkinson giáng một đòn nặng vào dự án kinh doanh của hai người khi quyết định rút vốn ra khỏi quán rượu và Johnny buộc phải mua lại phần của anh ta. Thoạt đầu, đó có vẻ là một ý tưởng tốt, nhưng với việc quán vắng khách dài dài, trong khi cơ quan thuế vụ liên tục thúc ép phải nộp thuế, Johnny dần nhận ra mình bị dồn vào chân tường khi thảm họa tài chính đang đến gần. Không có lối thoát nào ra khỏi cái tình trạng “họa vô đơn chí” này. Đơn giản là Johnny không có tiền.
Sau chuyến tuần tra dài ngày trên biển Địa Trung Hải cùng chiếc USS Simon Bolivar, Johnny bất ngờ thăng tiến trong sự nghiệp. Tháng 4-1967, sau mười hai năm phục vụ trong quân đội, Johnny được hải quân Mỹ điều chuyển khỏi đơn vị tàu ngầm, về bộ phận chiến dịch trong Bộ chỉ huy hạm đội tàu ngầm Đại Tây Dương (COMSUBLANT) của Mỹ, trụ sở ở căn cứ hải quân Norfolk.
Johnny không thể tin rằng mình lại may mắn đến thế.
+++++
Phòng xử lí thông tin thuộc COMSUBLANT nằm ở tòa nhà số 2 trong căn cứ hải quân Norfolk. Ngoài số lính thủy quân lục chiến canh gác bên ngoài, những phòng làm việc phía trong còn được cách li bởi những cánh cửa thép màu xám dày. Khi bước qua cánh cửa thép này, Thượng sĩ John Walker phải để toàn bộ những phiền muộn của mình, quán rượu ế khách ở Ladson, cô vợ Barbara... ở lại bên ngoài. Tất cả phải tập trung cho công việc.
Phòng truyền tin là trái tim của Bộ chỉ huy lực lượng tàu ngầm Đại Tây Dương. Người vợ của một thủy thủ tàu ngầm mới sinh con hay tổng thống Mỹ muốn phóng một quả tên lửa Polaris vào Moscow thì tất cả những điện tín có liên quan đều được gửi đi từ phòng này.
Làm việc ở đây, Johnny có cảm tưởng như mình có thể chạm đến tất cả mọi bí mật đang vận hành trên thế giới. Tấm bản đồ lớn căng trên tường trong phòng có các kí hiệu ô vuông đánh dấu, màu xanh là các tàu ngầm diesel, màu đỏ nhạt là tàu ngầm hạt nhân. Toàn bộ vị trí các tàu ngầm thuộc hạm đội Đại Tây Dương của Hải quân Hoa Kỳ đều hiển hiện trên tấm bản đồ này. Việc chúng sẽ di chuyển đi đâu, làm nhiệm vụ gì được thực hiện thông qua các mệnh lệnh mã hóa. Để tránh khả năng người Nga có thể nắm bắt được lộ trình của các tàu ngầm, phải mã hóa toàn bộ các bức điện nhận được cũng như gửi đi từ phòng truyền tin. Trước khi gửi đi một bức điện, nó sẽ được mã hóa thành một văn bản vô nghĩa; còn khi một bức điện gửi tới COMSUBLANT, nó sẽ được đưa qua một máy giải mã để trở thành một văn bản rõ ràng trước khi tới máy in.
Tuy nhiên, không phải tất cả mọi bức điện đều được xếp vào diện tối mật. Nhiều bức điện nhận được thuộc diện “gia đình”, phản ảnh những câu chuyện bình thường trong đời sống, chẳng hạn bà vợ của một thủy thủ trên tàu ngầm thông báo cho chồng rằng đứa con trai của họ mới mọc răng hay một quán rượu ở Manila mới mở cửa. Mặc dù vậy, những bức điện này cũng vẫn phải thực hiện chu trình mã hóa và giải mã như mọi bức điện khác. Đó là một phương thức khác để bảo mật: Làm cho người Nga bối rối bởi nếu họ có chặn bắt được các bức điện thì cũng không thể xác định được rằng đấy là mệnh lệnh tác chiến hay thông báo kết quả một giải đấu thể thao. Phải làm cho trò chơi càng phức tạp càng tốt, Johnny hiểu rõ như thế.
Sau khi nhận những bức điện và giải mã ở COMSUBLANT, công việc của Johnny là giám sát chu trình lưu chuyển của chúng. Nếu nội dung bức điện thuộc loại “gia đình” thì chúng được in ra trên giấy trắng. Nó sẽ được chuyển qua một hệ thống tự động tương tự như trao đổi điện thoại và một bà vợ ở đâu đó sẽ nhận được bức điện dưới dạng một bức thư của người chồng yêu dấu từ tàu ngầm. Những bức điện mật mang tính ưu tiên cao, chẳng hạn như lộ trình của tàu ngầm, sẽ được in trên giấy màu xanh lá cây, loại tối mật in trên giấy màu vàng, tuyệt mật in trên giấy màu hồng. Với những bức điện này, nhiệm vụ của Thượng sĩ John Walker là kiểm tra việc giải mã trước khi in chúng ra giấy và chuyển lên cấp trên, thường là một trong số các viên Đô đốc chỉ huy hạm đội. Công việc vận chuyển này được thực hiện trực tiếp, không thông qua máy móc. Điều đó có nghĩa là Johnny thường xuyên biết trước các Đô đốc về những bí mật của hạm đội. Nói cách khác, ở vị trí trung gian chuyển các bức điện mật, Johnny là người nắm giữ mọi bí mật!
Vào tối ngày 23-1-1968, Trung tâm xử lí thông tin của COMSUBLANT bắt đầu nhận được những tin tức đầu tiên về vụ chiếc tàu do thám USS Pueblo của Mỹ bị phía Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên bắt giữ khi đang thực hiện một sứ mệnh do thám trong vùng lãnh hải phía đông của nước này. Một thủy thủ bị chết, toàn bộ số còn lại bị bắt.
Qua những thông tin nhận được, Johnny biết chiếc USS Pueblo có nhiệm vụ nghe lén, chặn bắt và giải mã những thông tin vô tuyến mật truyền đi từ các tàu chiến của Liên Xô. Trước khi bị bắt giữ, USS Pueblo đã kịp gửi một bức điện khẩn tới COMSUBLANT: “Chúng tôi cần giúp đỡ. Chúng tôi đang khẩn trương phá hủy thiết bị. Cần hỗ trợ ngay lập tức. SOS SOS SOS. Đề nghị gửi ngay hỗ trợ. Đề nghị gửi ngay hỗ trợ. Đề nghị gửi ngay hỗ trợ. SOS SOS SOS. Chúng tôi đang rời tàu”.
Bức điện cầu cứu này do Phòng chiến dịch hạm đội Thái Bình Dương chuyển đến COMSUBLANT đã khiến các chuyên gia phân tích tình báo của hải quân Mỹ đau đầu. Như vậy là nhiều khả năng hai loại máy mật mã mới nhất được lắp đặt trên tàu USS Pueblo là KW-7 và KL-47 đã nằm trong tay kẻ thù. TECHINs, cuốn sổ hướng dẫn cách vận hành và sửa chữa các loại máy mã này chắc cũng đã bị phía Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên thu giữ. Điều đó cũng có nghĩa là người Nga lần đầu tiên có cơ hội khảo sát loại máy mã hiện đại KL-47. Một chiếc máy KL-47 giống hệt chiếc trên tàu USS Pueblo được lắp đặt trong phòng truyền tin của COMSUBLANT, cách bàn làm việc của Johnny chỉ vài mét. Chiếc máy này hằng ngày được dùng để truyền và nhận mọi bức điện đến và đi từ COMSUBLANT.
Trước khi được điều về làm việc ở COMSUBLANT, John Walker đã được hải quân Mỹ cử theo học một khóa đào tạo về mật mã tại trường mật mã ở Vallejo, California. Tại lớp học này, ngoài những giờ học nặng về kĩ thuật như cách sửa chữa máy mã hóa nếu nó bị hỏng hóc, Johnny cùng các học viên trong lớp còn trải qua nhiều giờ giảng về bí mật trong lĩnh vực mật mã.
Toàn bộ hệ thống máy mã hóa trong quân đội Mỹ đều có nguồn gốc xuất xứ từ một cơ sở tuyệt mật, Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ NSA, trụ sở nằm ở Fort Meade, bang Maryland. Người ta đã chi hàng triệu đô la để nghiên cứu và sản xuất ra các máy mã cũng như hệ thống mã hóa kèm theo. Giảng viên lớp học cho các học viên trong lớp xem những loại máy mã mới nhất của hải quân Mỹ như KW-7, dùng để mã hóa các bức điện trong hải quân theo chuẩn thông thường, hoặc loại máy KL-47, dùng để mã hóa các bức điện trong hạm đội tàu ngầm. Cũng có mẫu KWR-37 là loại máy mà Johnny từng học cách sửa chữa. Một khi những bức điện đã được các máy này mã hóa, cho dù người Nga có chặn bắt được thì họ cũng bó tay.
Giảng viên lớp học cho các học viên xem một bộ phận đặc biệt quan trọng trong máy mã, một bảng mạch mà các chuyên gia của NSA phải mất hơn bốn năm trời nghiên cứu mới chế tạo ra. Toàn bộ những thông tin của máy mã đều nằm trong bảng mạch này. Nếu như bằng một cách nào đó - giảng viên nhấn mạnh - mà người Nga có được bảng mạch này trong tay thì họ có thể chế tạo ra một chiếc máy mã giống hệt chiếc máy của Mỹ và nhờ đó có thể nhận được mọi bức điện mật mà phía Mỹ phát trên không trung.
Thế nhưng vẫn còn một bất ngờ khác, giảng viên tiếp tục bài thuyết trình của mình trong sự háo hức của Johnny, người vốn ưa thích mọi thứ liên quan tới hai chữ “bí mật”. Ngay cả khi người Nga có thể chặn được những bức điện mật thì họ cũng không có cách nào để đọc được nội dung trong những bức điện đó nếu không có một bộ phận cực kì quan trọng khác: Thẻ đọc, gọi là “crib”. Giảng viên cho biết chiếc thẻ này được chế tạo theo mẫu của thẻ dùng cho máy tính IBM, đang là loại thẻ hiện đại nhất lúc bấy giờ. Giảng viên cho các học viên trong lớp xem một tấm thẻ mỏng có đục lỗ, trông như một tấm thẻ chìa khóa điện tử bình thường. Để có thể đọc được những bức điện mật, nhân viên mật mã phải cắm thẻ vào máy mã. Trên thẻ có ghi những khóa mã do NSA chế tạo và Bộ phận an ninh thông tin quân đội ARFCOS cung cấp cho các cơ sở mật mã của quân đội Mỹ. Những khóa mã ghi trên thẻ này chỉ có tác dụng trong vòng hai mươi bốn giờ đồng hồ, có nghĩa là mỗi ngày sẽ có một khóa mã khác nhau. Mỗi tháng, các cơ sở mật mã sẽ nhận được 30 thẻ này, sau mỗi ngày dùng phải hủy thẻ của ngày hôm đó. Việc bảo quản thẻ khóa mã được thực hiện như đối với tài sản của chính phủ Mỹ...
+++++
Một tuần sau khi chiếc tàu do thám USS Pueblo bị phía Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên bắt giữ và gửi đi bức điện khẩn cầu cứu, những sự kiện tiếp nối theo đó diễn ra một cách nhanh chóng và không ai hình dung ra chúng sẽ dẫn tới hậu quả đáng sợ thế nào. Một nhân viên vô tuyến điện tại trạm NSA nằm ở Wakkanai, chỏm phía bắc hòn đảo của Nhật Bản, bắt được những tín hiệu đều đặn gửi từ Bình Nhưỡng, thủ đô của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, gửi tới Moscow. Đấy là một hiện tượng bất thường. Rõ ràng là những tài liệu mã hóa đang được chuyển đi. Các chuyên gia tình báo Mỹ nhanh chóng đi tới kết luận là mọi tài liệu trên tàu USS Pueblo đang được chuyển cho Moscow. Khi thông tin này tới COMSUBLANT, một kết luận nữa được đưa ra: Bí mật các máy mã hóa trên tàu USS Pueblo và cuốn sổ hướng dẫn mã hóa TECHINs chắc chắn cũng đã bị phía Liên Xô nắm giữ.
Rồi đến những ngày cuối tháng 1-1968 ấy, lại có một sự cố khác nữa xảy ra ở COMSUBLANT. Nhân viên giám sát an ninh phát hiện ra lô thẻ khóa mã dùng cho tháng 2 chuyển tới COMSUBLANT không được dán tem bảo mật theo như quy định của NSA. Một cuộc điều tra khẩn cấp được tiến hành và mọi sự nhanh chóng trở nên rõ ràng. Hóa ra nguyên nhân khá đơn giản: Một nhân viên mới vào nghề của NSA ở Fort Meade đã quên dán tem khi gửi lô thẻ khóa mã tới COMSUBLANT.
Vậy là câu chuyện về việc bắt giữ tàu USS Pueblo cùng sự cố xảy ra với lô thẻ khóa mã trở thành chủ dề chính trong những câu chuyện phiếm của mọi nhân viên COMSUBLANT.
Nó cũng được đem ra bàn luận trong một buổi tối ở quán rượu trông ra biển, cách căn cứ hải quân Norfolk chừng hai mươi phút lái xe. Tụ tập quanh chiếc bàn ngồi uống bia ở đây có các thủy thủ, nhân viên mã thám làm việc trong COMSUBLANT. John Walker là một trong số đó. Những phiền muộn của khoản nợ kếch xù từ phi vụ kinh doanh quán rượu thua lỗ, bà vợ suốt ngày say xỉn cùng bốn đứa con đeo bám tiếp tục đè nặng lên tâm trạng Johnny. Rồi trong đám khách uống bia có một ai đó nhắc đến vụ chiếc tàu USS Pueblo. Không khí quanh bàn nhậu trầm hẳn xuống, ừ, lẽ ra đội thủy thủ trên chiếc tàu gián điệp nên đánh đắm tàu và chìm theo nó, còn hơn là để những thiết bị mã hóa lọt vào tay người Nga. Mà chính vì thế mới nảy nòi ra cái vụ điều tra về những tấm thẻ khóa mã mới đây. Mẹ kiếp, các biện pháp an ninh phiền phức luôn luôn đi kèm theo những tấm thẻ khóa mã ấy. Mà an ninh cái gì chứ. Chẳng qua là do cái tàu USS Pueblo bị bắt nên mới đẻ ra các biện pháp rắc rối đó...
Một người khác, nhân viên vô tuyến điện, nói oang oang: Có ai muốn có bản sao những cái thẻ thổ tả ấy không, anh ta sẽ làm cho! Ai có thể ngăn anh ta lại cơ chứ! Người Nga chắc sẽ trả bộn tiền để có được những vật phẩm bé xinh ấy...
Thêm một người nữa chêm vào: Quá đơn giản! Chỉ việc gọi điện đến sứ quán Liên Xô ở Washington, D.C., đợi một anh Ivan nhấc máy, báo cho anh ta là mình có những tấm thẻ. Chắc chắn anh ta sẽ lắng nghe, và khi ấy mọi sự sẽ suôn sẻ...
Rồi cũng như khi bắt đầu, câu chuyện phiếm quanh bàn nhậu nhanh chóng chuyển hướng sang những chủ đề khác. Không một ai còn nhớ nội dung của câu chuyện ấy nữa, trừ một người, John Walker.
Đêm ấy, khi nằm trên giường và nhớ lại câu chuyện diễn ra ở quán rượu, Johnny bắt đầu hình dung ra lối thoát khỏi những rắc rối của chính mình.
Mọi sự sau đó diễn ra rất nhanh chóng, theo một chiều hướng dường như không thể đảo ngược được. Có vẻ như Johnny hoàn toàn không tính trước một kế hoạch kĩ càng mà cứ phó mặc cho bản năng muốn thoát khỏi tình thế bế tắc trong cuộc sống gia đình cũng như khó khăn tài chính của mình cuốn đi.
Vào cái đêm hôm sau bữa nhậu ở quán rượu, nhớ đến lời của người nhân viên vô tuyến điện, Johnny bắt tay vào hành động. Johnny mở két sắt an toàn, lấy ra bản danh sách khóa mã và khi không ai để ý, với một vẻ hết sức bình tĩnh, chụp lại trên máy photocopy một bảng khóa mã sẽ được sử dụng trong một tháng của máy mã KL-47, kẹp bản chụp này trong cuốn tạp chí Sail rồi mang ra khỏi phòng chiến dịch của COMSUBLANT.
Sáng hôm sau, một ngày đầu tháng 2-1968, được nghỉ bù sau phiên trực, với bản sao khóa mã nhét ở túi quần sau, Johnny lên chiếc xe MG cũ kĩ màu cam của mình và rời khỏi Norfolk, thẳng hướng tới Washington D.C. Nhân viên vô tuyến điện John Walker của Hải quân Hoa Kỳ quyết tâm trở thành một gián điệp hoạt động cho Liên Xô.
Thời gian lái xe tới bốn tiếng đồng hồ cho phép Johnny suy tính kĩ hơn những việc làm tiếp theo, cần phải tiến hành từng bước, như cái cách mà hải quân đã từng huấn luyện cho Johnny.
Việc đầu tiên Johnny làm khi tới Washingon, D.C. là tới một trạm bán xăng, tìm cuốn sổ danh bạ điện thoại và ghi lại địa chỉ sứ quán Liên Xô ở Washington, D.C., sau đó tìm mua một tấm bản đồ khu vực trung tâm thủ đô để xác định đường đi tới đó.
Đến giai đoạn này của kế hoạch thì Johnny bắt đầu phải đau đầu suy tính. Không thể cứ khơi khơi đến trước sứ quán rồi nói với người Nga rằng mình muốn bán tài liệu mật. Biết đâu Johnny đã bị theo dõi từ khi rời khỏi Norfolk thì sao? Liệu các đặc vụ FBI có theo dõi sứ quán Liên Xô và ghi lại biển số xe của Johnny rồi dựa theo số đăng kí để phăng ra danh tính thật của Johnny trên bằng lái hay không? Johnny đã tính rằng chắc chắn mình sẽ phải dùng một cái tên giả khi giao dịch với người Nga.
Nhưng những trở ngại mang tính giả định đó càng kích thích Johnny quyết tâm thực hiện kế hoạch của mình. Trước hết, Johnny đỗ chiếc xe của mình cách sứ quán Liên Xô khoảng chừng một dặm rồi bắt một chiếc taxi tới đường 16, nơi sứ quán Liên Xô tọa lạc, xuống xe cách địa chỉ vài khối nhà.
Khi bóng tối buông xuống trên đường phố, Johnny bắt đầu đi bộ tìm tới sứ quán Liên Xô.
Trong thời gian đi bộ, Johnny nghĩ mình có thể phát hiện được bất cứ cái đuôi nào bám theo mình cũng như những đặc vụ FBI theo dõi sứ quán, nếu có!
Thoạt dầu, đi dọc theo đường 16, Johnny không tìm thấy sứ quán Liên Xô. Johnny kiểm tra lại mảnh giấy mình đã chép từ cuốn danh bạ điện thoại: số 1125 đường 16. Vậy mà đi tới tận số 1200, Johnny vẫn không thấy tòa nhà sứ quán đâu cả. Nó chắc phải là một tòa nhà lớn hay ít nhất cũng phải có một lá cờ chứ! Johnny quyết định quay lại dò tìm cẩn thận theo địa chỉ ghi trên tờ giấy.
Khi đi tới cuối một khối nhà trên đường 16, Johnny chợt thấy cánh cửa sắt màu đen mờ ra để cho một chiếc xe chạy khỏi tòa nhà hòa vào dòng xe cộ đông đúc chạy trên đường phố. Ngay lập tức, Johnny nhận ra mình đang đứng trước tòa nhà sứ quán. Nó được một hàng rào bao quanh bảo vệ và quay lưng ra đường. Có một lối vào ở ngay bên góc tòa nhà. Johnny vội băng tới cánh cổng trước khi nó đóng lại.
Có một người đang đứng trước cổng, có lẽ là lái xe của sứ quán. Anh ta không mang đồng phục mà mặc một bộ đồ thể thao, không cà vạt, đội một cái mũ nhỏ xíu trên đầu. Johnny quyết định nói chuyện với người đàn ông. Hoặc bây giờ hoặc không bao giờ nữa.
“Tôi muốn gặp một nhân viên phụ trách an ninh”, Johnny nói với người đàn ông đội mũ. Johnny muốn đưa ra một cái gì đó để chứng tỏ thân phận mình, nhưng rõ ràng không phải là ở chỗ này, bên ngoài hàng rào sứ quán.
Người đàn ông nhìn Johnny chằm chằm.
Liệu anh ta có huýt còi gọi cảnh sát đến không nhỉ, Johnny phân vân tự hỏi.
Đã quá muộn để có thể rời đi. Không còn cách nào khác là phải tiếp tục kế hoạch đã bắt đầu. “Tôi muốn nói chuyện với nhân viên an ninh”, Johnny nhắc lại, giọng gần như khàn đi.
Người đàn ông vẫn không nói một lời. Trông anh ta có vẻ hết sức bối rối.
Chợt Johnny nhận ra nguyên do khiến người đàn ông cảm thấy lúng túng: Có thể anh ta không biết tiếng Anh. Sao Johnny lại không tính đến điều này nhỉ!
Rồi khi Johnny bắt đầu cảm thấy hoảng sợ và tính chuyện hoặc rời đi, hoặc cố gắng dùng một thứ tiếng Anh đơn giản để giải thích mình là ai thì người đàn ông quay đi và nói, gần như thì thầm: “Theo tôi!”
+++++
Tối hôm ấy, Trưởng trạm KGB Washington Boris Solomatin đang ngồi cùng với điệp viên Oleg Kalugin ở văn phòng KGB tại tầng trên cùng của sứ quán Liên Xô trên đường 16, Washington, D.C.
B. Solomatin là một điệp viên giàu kinh nghiệm, hết sức cứng rắn, luôn đòi hỏi cao và cực kì thông minh. Lúc nào cũng dính điếu thuốc lá trên miệng và nhả khói như một cái ống khói thực thụ, B. Solomatin có một tài năng vô song trong việc điều hành các chiến dịch tình báo mạo hiểm trên lãnh thổ Hoa Kỳ, ngay giữa vòng vây dày đặc của các đặc vụ đối phương.
O. Kalugin là một điệp viên trẻ hoạt động trong lĩnh vực tình báo chính trị, từ tháng 6-1960 bắt đầu hoạt động ở New York dưới vỏ bọc phóng viên của đài phát thanh Moscow. Trong thời kì Chiến tranh Lạnh, có tới khoảng hai phần ba trong số các phóng viên Xô viết làm việc ở nước ngoài có liên hệ với KGB. Các phóng viên này thuộc biên chế hầu hết các cơ quan báo chí của Liên Xô như hãng thông tấn TASS, đài phát thanh Moscow, hãng thông tấn Novosti hay tờ báo Izvestia. Chỉ có ngoại lệ duy nhất là phóng viên của tờ báo Đảng Pravda là không chịu sự kiểm soát của KGB. Các cơ quan đặc vụ Mỹ cũng không lạ lẫm gì thực trạng này.
O. Kalugin đã có gần năm năm hoạt động ở trạm KGB New York dưới bí danh Felix, thu thập các thông tin cả bí mật lẫn công khai về chính sách đối nội, đối ngoại cùa Mỹ. Trong thời gian hoạt động ở New York, chính mắt O. Kalugin đã chứng kiến nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev rút giày ra đập ầm ầm trên mặt bàn để phản đối bài phát biểu của Thủ tướng Anh Harold Macmillan trong một phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc.
Hoạt động của O. Kalugin ở New York đột ngột chấm dứt với vụ Yuri Nosenko, điệp viên KGB đào thoát ở Thụy Sĩ vào tháng 2-1964. Y. Nosenko đào thoát đã gây ra những tổn thất nặng nề cho mạng lưới tình báo Liên Xô ở phương Tây. Với khả năng rất lớn là Y. Nosenko có thể biết về O. Kalugin trong khi O. Kalugin không có hộ chiếu ngoại giao và do vậy không được hưởng quyền miễn trừ nếu bị lộ, điệp viên này được cấp tốc gọi về Moscow vào tháng 3-1964.
Hơn một năm sau, tháng 7-1965, khi B. Solomatin, một cựu binh KGB được cử sang Washington với cương vị Trưởng trạm KGB tại đây, O. Kalugin cũng sang theo dưới vỏ bọc nhân viên báo chí của Bộ Ngoại giao Liên Xô, có hộ chiếu ngoại giao và được hưởng quyền miễn trừ.
Tối hôm ấy, trong khi đang ngồi cùng với B. Solomatin thì O. Kalugin được nhân viên an ninh của sứ quán, Yakov Lukasevich, thông báo rằng có một người đàn ông “khá thú vị” mới từ ngoài phố bước vào sứ quán và đề nghị được “gặp một ai đó phụ trách an ninh”. Các nhân viên an ninh sứ quán Liên Xô khá ngại ngần với những trường hợp tương tự như thế này bởi trước đấy, không ít lần, những người tình nguyện “từ ngoài phố bước vào” ấy là do FBI cử đến.
Nguyên là phó ban KGB tại nước Cộng hòa Latvia, Yakov Lukasevich chỉ nói được chút ít tiếng Anh nên giao tiếp khá khó khăn với người đàn ông mới xuất hiện. Qua hệ thống điện đàm nội bộ, Yakov Lukasevich báo cáo với Trưởng trạm B. Solomatin: “Đề nghị cử một người nói tiếng Anh tốt hơn xuống đây để nói chuyện với người đàn ông”.
Một nhân viên an ninh biết tiếng Anh xuống gặp người đàn ông. Hai người vào trong một căn phòng không có cửa sổ của sứ quán, ngồi hai bên chiếc bàn kim loại. Người đàn ông lạ nói: “Tôi là một sĩ quan hải quân Hoa Kỳ. Tôi cần một số tiền và đổi lại, sẽ cung cấp cho các ông những tài liệu rất có giá trị. Tôi muốn chúng ta thiết lập một cơ chế để hợp tác”.
Người đàn ông rút từ trong túi quần sau ra một tờ giấy khổ chừng 22,5 cm x 25 cm. Đó chính là bản chụp lại khóa mã của loại máy mã hóa KL-47. Giữ chắc tờ giấy trong tay, người đàn ông để cho nhân viên an ninh sứ quán nhìn thấy dòng chữ trên cùng: TUYỆT MẬT - KHÔNG ĐƯỢC PHÉP ĐƯA RA NGOÀI LÃNH THỔ HOA KỲ.
Người đàn ông bắt đầu giải thích cho nhân viên an ninh sứ quán biết về chức năng của khóa mã dùng hằng ngày cho loại máy mã hóa tối mật của Hạm đội Đại Tây Dương. Chỉ có một số rất ít điện báo viên được phép tiếp cận với những loại tài liệu này.
Nhân viên an ninh chăm chú lắng nghe không ngắt một lời rồi khi người đàn ông nói xong, đề nghị người đàn ông lạ đưa cho anh ta khóa mã. Người đàn ông nói: “Không, hãy thỏa thuận trước đã! Hãy nói các anh trả cho tôi bao nhiêu rồi tôi sẽ đưa nó cho các anh”.
- Tôi muốn kiểm tra tài liệu trước khi chúng ta hợp tác. - Người nhân viên an ninh sứ quán từ tốn giải thích. - Chúng ta sẽ bàn về giá cả sau. Hoặc sẽ không có gì cả.
Có vẻ như người đàn ông không có lựa chọn nào khác. Anh ta đưa cho nhân viên an ninh bảng khóa mã.
- Anh cứ ngồi lại đây; tôi sẽ xem nó ở một phòng khác. - Nhân viên an ninh sứ quán nói rồi ra khỏi phòng.
Nhân viên an ninh mang bảng khóa mã lên tầng trên, nơi B. Solomatin và O. Kalugin đang ngồi đợi. Khi xem lướt qua bảng khóa mã, B. Solomatin, người lớn lên ở hải cảng Odessa bên bờ Biển Đen và cũng từng làm việc trong hải quân, mở to mắt ngạc nhiên:
- Tôi cần loại này! - B. Solomatin kêu lên. - Điều kiện như thế nào?
Người nhân viên an ninh quay xuống chỗ người đàn ông lạ đang ngồi chờ.
- Trước khi bàn đến chuyện hợp tác, tôi cần phải biết tên anh là gì? - Nhân viên an ninh nói.
- James Harper. - Sau một thoáng suy tính, người đàn ông trả lời. Cả hai đều biết rằng đó là một cái tên giả.
Người nhân viên an ninh sứ quán gật đầu rồi hỏi:
- Anh có mang theo giấy tờ tùy thân nào không? Bằng lái xe hay chứng minh thư quân đội chẳng hạn?
- Dĩ nhiên là tôi có, - người đàn ông trả lời, - nhưng tôi nghĩ nếu hợp tác, chúng ta phải tin tưởng lẫn nhau.
- Tôi muốn có bằng chứng anh chính là người mà anh tự nhận. - Nhân viên an ninh giải thích.
- Tôi muốn lấy lại bảng khóa mã. - Người đàn ông yêu cầu.
Phớt lờ đòi hỏi của người đàn ông, nhân viên an ninh nói:
- Tôi muốn có bằng chứng anh chính là người mà anh đã tự giới thiệu lúc trước.
- Bằng chứng! - Người đàn ông kêu lên, giọng cao vống vẻ tức giận. - Tôi có mặt ở đây chính là bằng chứng rồi!
Nhân viên an ninh vẫn kiên nhẫn nói:
- Tôi muốn giấy tờ tùy thân của anh, hoặc chúng ta sẽ không thể đi xa hơn được nữa.
Người đàn ông có lẽ đã hiểu rõ luật chơi. Anh ta mở ví, lấy ra tấm chứng minh thư quân đội, không nói một lời trao nó cho nhân viên an ninh sứ quán Liên Xô. Trên tấm giấy, ở góc phải là ảnh người đàn ông, còn phía dưới là dòng họ tên bằng chữ in hoa: JOHN A. WALKER, JR.
- Không phải tôi muốn nói dối anh mà chỉ muốn tự bảo vệ bản thân thôi. - Người đàn ông, lúc này là John A. Walker, giải thích. - Cho đến khi chúng ta hiểu nhau hơn.
John Walker hoàn toàn không biết rằng một chiếc máy ảnh bí mật giấu sau tấm gương ở phòng khách đã tự động chụp ảnh chân dung của bất cứ ai từ cửa trước bước vào phòng khách của sứ quán Liên Xô.
Nhân viên sứ quán cầm chứng minh thư quân đội của Johnny và một lần nữa bước ra khỏi phòng, đưa lên cho Trưởng trạm KGB B. Solomatin và điệp viên O. Kalugin xem.
Hai mươi phút sau, anh ta quay lại, vẫy tờ giấy ghi bảng khóa mã hỏi Johnny:
- Vì sao lại không có chữ kí ở đây?
Thoạt đầu, Johnny không hiểu người nhân viên an ninh nói gì. Rồi khi hiểu ra, Johnny trả lời đúng sự thật:
- Họ không bao giờ kí vào đó.
Người nhân viên an ninh có vẻ tin lời giải thích của Johnny.
Tiếp đó là hàng loạt câu hỏi: Sử dụng bảng khóa mã như thế nào? Nhiệm vụ trước đấy của Johnny là gì? Đã làm ở COMSUBLANT bao lâu rồi? Liệu có tiếp tục được thăng tiến không?
Điều quan trọng nhất mà người nhân viên an ninh muốn biết là các mã bí mật, mệnh lệnh tác chiến và những cuốn sổ hướng dẫn mã hóa nào mà một thượng sĩ như Johnny có thể tiếp cận được?
- Tôi có thể tiếp cận được tất cả. - Johnny trả lời. - Trong khi làm nhiệm vụ, tôi đảm nhiệm toàn bộ quá trình truyền thông tin.
Người nhân viên an ninh có vẻ hài lòng. Thỏa thuận được xác lập. Anh ta đưa cho Johnny một khoản đầu tiên, tất cả đều là tiền mặt, trả cho những bảng khóa mã mà Johnny mang đến sứ quán.
“Chúng ta sẽ gặp lại”, Johnny đồng ý với đề nghị của nhân viên an ninh. Như thế mới có thể gọi là “hợp tác”. Johnny đưa cho người nhân viên an ninh lịch trực tháng sau ở Norfolk của mình và nói sẽ tiếp tục mang tới những khóa mã mới. Hãy chọn một ngày thuận tiện cho cả đôi bên.
Người nhân viên an ninh ấn định một ngày sau đó ba tuẫn lễ, nhưng không có chuyện Johnny lại khơi khơi đến sứ quán Liên Xô một lần nữa. Sẽ có một chu trình nghiêm ngặt phải tuân theo để đảm bảo tránh cho cuộc gặp gỡ khỏi những con mắt tò mò.
Người nhân viên an ninh bắt đầu hướng dẫn cho Johnny những thủ pháp để đánh lạc hướng khỏi những người theo dõi, nếu có. Johnny, trong tâm trạng căng thẳng, không thể nào nhớ nổi những thủ pháp phức tạp đó. Cuối cùng, Johnny nói: “Tôi không thể nhớ hết được toàn bộ đâu, phải ghi lại thì may ra mới nhớ nổi”.
Nhìn vào vẻ mặt bối rối của Johnny, người nhân viên an ninh Liên Xô đành phải vi phạm những quy tắc bảo mật sơ đẳng nhất, cho phép Johnny ghi lại những chỉ dẫn cho cuộc gặp tiếp theo. Có một cửa hàng Zayre bên kia sông, ở Alexandria, Virginia; Johnny phải cầm trên tay một tờ tạp chí Time, đi bộ bên trái đường, sau đó chuyển sang bên phải trên một quãng chừng gần một trăm thước, bất ngờ quay ngoặt đổi hướng nhiều lần; một điệp viên sẽ tới gặp Johnny ở chỗ bãi đỗ xe của cửa hàng. Johnny sẽ mang theo những khóa mã dùng cho tháng tới, đồng thời kèm theo danh sách những tài liệu có thể đánh cắp được... Tiền trả công cho Thượng sĩ John Walker sẽ tăng lên tùy thuộc vào số lượng và chất lượng của những tài liệu mà thượng sĩ cung cấp.
Sau gần hai tiếng đồng hồ từ khi Johnny bước vào cửa trước của sứ quán Liên Xô, cuộc gặp gỡ kết thúc. Nhưng Johnny sẽ không quay ra bằng cửa trước. Các nhân viên an ninh sứ quán đưa cho Johnny cái áo choàng lớn, một cái mũ rộng vành mà Johnny khi đội phải kéo sụp xuống ngang mắt. Sau đó, Johnny được hướng dẫn đi qua một cửa ngách, nơi đã có ba nhân viên sứ quán to cao đợi sẵn. Tất cả đi qua một cái sân hẹp bên trong khu nhà sứ quán, tới một chiếc ô tô đỗ bên trong. Johnny ngồi ở băng ghế sau, hai người đàn ông lực lưỡng ngồi hai bên, người thứ ba lên ngồi ở ghế trước bên cạnh lái xe.
Khi xe bắt đầu đi ra bên ngoài khuôn viên sứ quán, Johnny được hướng dẫn cúi gập người xuống, để hai người ngồi hai bên hoàn toàn che chắn khỏi tầm nhìn từ bên ngoài. Xe đi được một quãng, Johnny mới được ngồi thẳng dậy. Chiếc xe đi theo lộ trình ngoắt ngoéo trong khi những người xung quanh Johnny không nói một lời. Sau gần nửa giờ đồng hồ đi tới đi lui, biết chắc chắn không có "cái đuôi" nào bám theo, họ mới thả Johnny xuống cách nơi đỗ chiếc xe MG màu cam của viên thượng sĩ hải quân một khối nhà, sau khi đã lấy lại chiếc áo choàng và cái mũ rộng vành. Rồi họ lái xe đi, thậm chí còn không nói lời chào từ biệt.
Thượng sĩ hải quân Hoa Kỳ John Walker đã chính thức trở thành điệp viên hoạt động cho tình báo Liên Xô.
+++++
Ngay sau cuộc gặp với John Walker, trạm KGB Washington lập tức soạn thảo một báo cáo gửi về Trung tâm Moscow, kèm theo đó là bản sao khóa mã mà Johnny đã cung cấp. Tất cả được cho vào một chiếc hộp kim loại cỡ như hộp đựng giày; đây là chiếc hộp được thiết kế đặc biệt, sẽ phát nổ nếu như có người không biết cách mở nó ra. Chiếc hộp được chuyển bằng tay tới giao thông viên của KGB và người này lên một chiếc máy bay của hãng hàng không Liên Xô Aeroflot bay về Moscow.
Về tới Trung tâm KGB, những tài liệu này được xem xét kĩ rồi chuyển tới Ban 16, một trong những bộ phận bí mật nhất trong KGB. Mỗi sĩ quan của ban này sẽ chịu trách nhiệm điều khiển duy nhất một điệp viên mà thôi.
Sĩ quan điều khiển trực tiếp John Walker ở Washington là điệp viên KGB Yuri Linkov của Ban 16. Tại Washington, chỉ có duy nhất ba người biết về điệp vụ liên quan đến John Walker là Trưởng trạm KGB B. Solomatin, O. Kalugin và Y. Linkov.
Ba tuần sau cuộc gặp đầu tiên, tại bãi đỗ xe của cửa hàng Zayre ở Alexandria, Virginia, Johnny, với tờ tạp chí The Times kẹp dưới nách, đã gặp Y. Linkov. Y. Linkov và Johnny thảo luận về các loại máy mã hóa đang được sử dụng ở COMSUBLANT như KL-47, KWR-37, KW-26, KL-7. Y. Linkov đặc biệt ấn tượng khi Johnny nói có khả năng đánh cắp được Annex Kilos, là bản tài liệu tóm tắt mệnh lệnh và kế hoạch thực hiện các chiến dịch mà Hạm đội Đại Tây Dương của hải quân Hoa Kỳ đảm nhiệm.
Khi cuộc trò chuyện chuyển sang chủ đề tài chính, Y. Linkov nói tiền sẽ được chuyển cho Johnny dưới dạng tiền mặt, chủ yếu là đồng 50 USD, bởi đồng 20 USD thì lượng tiền quá nhiều, trong khi đồng 100 USD sẽ bị các ngân hàng để ý mỗi khi có lệnh chuyển tiền. Tốt nhất là giấu tiền ở các két an toàn kí gửi. Việc chi tiêu cần phải hết sức thận trọng. Đi một chiếc xe Chevy sẽ ít gây sự chú ý hơn là một chiếc Cadillac. Thu hút sự chú ý của những người xung quanh có lẽ là việc cuối cùng nên làm - Y. Linkov cảnh báo. Hãy nghĩ ra cách giải thích hợp lí nếu như những người thân, trong đó có vợ của Johnny, bắt đầu đặt ra câu hỏi về xuất xứ của nguồn tiền.
Johnny đồng ý với tất cả những chỉ dẫn đó, nhưng câu hỏi quan trọng nhất là: Vậy tôi sẽ nhận được bao nhiêu tiền?
Điệp viên KGB Y. Linkov không hề lảng tránh mà đưa ra con số cụ thể, từ 2.000 USD đến 4.000 USD mỗi tháng. Đó là một con số khá ấn tượng ở thời điềm ấy. Nhưng khi nào thì Johnny sẽ nhận 2.000 USD, khi nào thì 4.000 USD? À, cái đó phụ thuộc vào chất lượng của thông tin mà Johnny sẽ cung cấp. Nếu chỉ là bảng hướng dẫn hay những bức điện mã hóa, số tiền sẽ ở mức dưới. Nhưng nếu Johnny cung cấp được những bảng chìa khóa mã hằng tháng, số tiền sẽ ở mức trên! Lẽ dĩ nhiên, tiền chỉ được chuyển giao sau khi những thông tin do Johnny cung cấp đã được thẩm định kĩ càng.
Đến lượt Y. Linkov đặt câu hỏi với Johnny: Những tài liệu cho lần gặp mặt này đâu?
Không lo. Johnny, vốn tự cho mình là một người thông minh, trấn an điệp viên KGB. Lẽ ra Johnny có thể chỉ việc nhét những tài liệu đó vào trong một cái cặp và mang nó cùng với tờ tạp chí The Times tới chỗ hẹn để trao nó cho Y. Linkov. Nhưng nếu như Johnny bị các đặc vụ FBI hay bên phản gián hải quân theo dấu thì sẽ rất nguy hiểm. Vả lại, Johnny cũng muốn phải thỏa thuận xong đâu đấy thì hàng mới được trao cho phía Liên Xô. Bởi thế, Johnny đã sử dụng một kiểu hộp thư chết mình tự nghĩ ra: Viên thượng sĩ hải quân đã cất các tài liệu đó trong một ngăn tủ có khóa thuê ở khu vực phi trường quốc tế Washington. Thông minh đấy chứ?
Không hề thông minh chút nào mà còn ngu ngốc, thậm chí nguy hiểm nữa, điệp viên KGB Y. Linkov nói. Không lẽ Johnny không biết gì về hệ thống an ninh ở các sân bay hay sao? Các ngăn tủ có khóa thuê ở khu vực sân bay thường xuyên bị kiểm tra để xác định xem liệu có bom trong đó hay không. Điều gì sẽ xảy ra nếu một viên cảnh sát sân bay tò mò mở ngăn tủ ra, thấy một xấp tài liệu trên đó có hàng chữ: TUYỆT MẬT - KHÔNG ĐƯỢC PHÉP ĐƯA RA NGOÀI LÃNH THỔ HOA KỲ? Chắc chắn là khi ấy, một đội đặc vụ FBI sẽ bí mật bủa vây xung quanh chờ con mồi đến để tóm cổ. Hay là Johnny đang phối hợp với FBI để giăng bẫy KGB?
Bối rối, Johnny thừa nhận mình đã phạm sai lầm. Viên thượng sĩ hải quân đề nghị Y. Linkov chờ ở bãi đỗ xe của cửa hàng, còn mình sẽ đi lấy tài liệu ở ngăn tủ thuê tại sân bay. Điệp viên KGB đồng ý, nhưng khi Johnny tới sân bay, lấy ra xấp tài liệu mật giấu ở đó và chuẩn bị quay lại chỗ hẹn thì Y. Linkov đã xuất hiện ngay sau lưng! Một đội KGB đã bám theo Johnny tới sân bay để kiểm tra, loại bỏ mọi bất trắc. Johnny chỉ phải làm một việc đơn giản là đưa xấp tài liệu cho Y. Linkov. Cho dù chưa thẩm định những tài liệu mật mà Johnny chuyển giao lần này nhưng điệp viên Y. Linkov vẫn chơi đẹp, đưa cho viên Thượng sĩ hải quân 5.000 USD tiền mặt.
Điệp viên KGB cũng đưa cho Johnny một chiếc phong bì dán kín, trong đó có ghi ti mỉ những chỉ dẫn cho lần tới trao đổi tài liệu ở một hộp thư chết. Johnny cần phải tuân thủ nghiêm ngặt mọi chỉ dẫn trong đó để tránh bị phát hiện. Sẽ rất nguy hiểm nếu hai bên tiếp tục gặp nhau trực tiếp như thế này. Sẽ có cả những chỉ dẫn để nối lại tiếp xúc trong trường hợp gặp phải tình huống trục trặc khi liên lạc qua hộp thư chết.
Không có vấn đề gì cả, Johnny đồng ý. Khi Johnny ra tới chỗ chiếc MG của mình và chuẩn bị lên xe, người điệp viên KGB mới hỏi liệu Johnny có gặp khó khăn trong quá trình lấy cắp các tài liệu mật không? “Đấy là việc dễ nhất trên đời”, Johnny trả lời. Quả thật là như vậy. Chỉ việc tới chỗ tủ an toàn, lấy ra bản tài liệu gốc, kẹp nó vào một tờ tạp chí nào đó cho người ta khỏi chú ý và mang nó tới chỗ máy photocopy, sao lại một bản, sau đó để tài liệu gốc trở lại chỗ cũ. Tài liệu sao chụp được sẽ cất giữ tại phòng ở của Johnny trong căn cứ hải quân để mang tới lần trao đổi sau dó.
Hai người chia tay nhau. Đó là lần gặp gỡ trực tiếp cuối cùng của Johnny với điệp viên KGB trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Trong nhiều năm sau đó, toàn bộ các trao đổi tài liệu mật giữa Johnny với KGB ở Mỹ đều thực hiện thông qua hộp thư chết.
+++++
Để thiết lập được chu trình trao đổi tài liệu mật với John Walker thông qua các hộp thư chết mà không gặp mặt trực tiếp quả thật là một nghệ thuật tinh vi, đòi hỏi các điệp viên KGB phải kì công và hết sức kiên nhẫn.
Trước mỗi cuộc trao đổi tài liệu với John Walker, cả B. Solomatin, O. Kalugin và Y. Linkov bỏ hằng giờ đồng hồ ra để nghiên cứu cách thức liên lạc qua hộp thư chết. Ngay trong cuộc gặp với Y. Linkov ở bãi đỗ xe của cửa hàng tại Alexandria, điệp viên KGB đã nói với Johnny thời gian cũng như vị trí chính xác để thiết lập hộp thư chết cho lần gặp sau. Cần phải tạo ra một chuỗi các hộp thư chết để Johnny có thể đặt các tài liệu mật đánh cắp được vào đó, đồng thời lại có một chuỗi các hộp thư chết khác để viên thượng sĩ hải quân lấy được tiền do KGB trả cũng như các bản hướng dẫn cho lần gặp sau.
Trước khi gửi bản hướng dẫn cho Johnny về địa điểm hộp thư chết tiếp theo, O. Kalugin và Y. Linkov thường phải đi ra những vùng xa xôi hẻo lánh, thường là các khu rừng ngoại vi Washington. Thoạt đầu, O. Kalugin lái xe tới các khu rừng ở khu vực đồng quê tại Maryland và Virginia, tìm kiếm những nơi thuận tiện cho việc trao đổi với Johnny. Tiếp đó, vào các ngày nghỉ cuối tuần, Y. Linkov trực tiếp khảo sát vị trí cụ thể nơi sẽ đặt hộp thư chết. Có những vị trí nhìn trên bản đồ khá thích hợp cho việc đặt hộp thư nhưng đến khi ra thực địa lại không đáp ứng được yêu cầu an toàn. Chẳng hạn khu vực đó là nơi sinh sống của cộng đồng người da đen và việc xuất hiện một vài người da trắng sẽ dễ gây nên sự chú ý. Hoặc ở quá gần một đồn cảnh sát hay căn cứ quân sự nào đó.
Một khi đã xác định được vị trí hộp thư chết và thông báo cho Johnny ở buổi liên lạc trước đó, đến đúng ngày liên lạc, Johnny sẽ lái xe rời căn cứ hải quân Norfolk, kiểm tra kĩ càng để biết chắc rằng không bị ai đó đeo bám và hướng tới vị trí nơi có hộp thư chết. Thời gian sau này, các điệp viên KGB cung cấp cho Johnny những bức ảnh mô tả kĩ càng vị trí của hộp thư chết, nhưng ở giai đoạn đầu hợp tác giữa hai bên, KGB chỉ vẽ những bản đồ khu vực có hộp thư kèm theo các lời chỉ dẫn chi tiết. Johnny sẽ để gói tài liệu ở một vị trí hẻo lánh không có mấy ai lai vãng, sau đó tới một vị trí khác để lấy tiền và chỉ dẫn cho lần gặp tiếp theo rồi rời đi.
Theo chỉ dẫn, Johnny sẽ có những kí hiệu thông báo việc đã đặt tài liệu mật ở hộp thư chết bằng cách đánh dấu chữ X tại một bốt điện thoại hoặc lái xe tới một tiệm ăn nhanh McDonald's và đánh dấu vào trang 500 của cuốn danh bạ điện thoại khu vực Virginia.
Trong khoảng thời gian từ mười lăm đến ba mươi phút sau khi đã đặt tiền và chỉ dẫn vào vị trí hộp thư chết thứ nhất, Y. Linkov sẽ tới chỗ bốt điện thoại hoặc tiệm ăn McDonald's, nơi Johnny để lại dấu hiệu báo đã đặt tài liệu. Khi nhận được dấu hiệu này, Y. Linkov lái xe tới vị trí hộp thư chết thứ hai và lấy tài liệu mà Johnny để lại ở đó. Sau đấy, bản thân Y. Linkov cũng phải tới một bốt điện thoại hoặc tiệm ăn khác, để lại đó kí hiệu báo cho Johnny là tài liệu đã được lấy đi. Chỉ đến khi Johnny, đến lượt mình, tới những vị trí này và tận mắt nhìn thấy những dấu hiệu do Y. Linkov để lại thì khi ấy quá trình trao đổi tiền - tài liệu mới hoàn thành và Johnny có thể yên tâm lái xe quay về nhà.
Vài tuần sau đó, chu trình này lặp lại.
Các điệp viên KGB tham gia vụ điều khiển John Walker biết nếu để mất liên lạc với Johnny, họ có thể sẽ mất luôn một trong những điệp viên lớn nhất, hiệu quả nhất mà Liên Xô có được trong thời kì Chiến tranh Lạnh, đồng thời cũng chấm dứt luôn sự nghiệp hoạt động tình báo trên đất Mỹ. Bởi thế, bản thân B. Solomatin và O. Kalugin luôn thay phiên nhau kiểm tra quá trình trao đổi qua hộp thư chết, đảm bảo để không có gì trục trặc xảy ra. Hai người cũng soạn thảo kĩ càng những chỉ dẫn cho Johnny về quy trình để viên thượng sĩ hải quân thông báo cho phía KGB biết muốn tiến hành trao đổi tài liệu ngoài dự kiến, hoặc thông báo cho KGB muốn gặp mặt trực tiếp ở bên trong hay bên ngoài lãnh thổ Mỹ...
Trong một thời gian dài, hệ thống này vận hành trơn tru, không gặp phải trục trặc nào.
Một thời gian ngắn sau cuộc gặp ở bãi đỗ xe, Johnny đã nhận được món quà đầu tiên là chiếc máy ảnh Minox C nhỏ xíu. Johnny nhanh chóng học được cách sử dụng thiết bị gián điệp tinh xảo này và từ mùa xuân năm 1968 bắt đầu dùng nó để chụp tài liệu mật. Công việc của Johnny phải làm là tới phòng lưu trữ các tài liệu mật, đóng cửa lại và chụp càng nhiều càng tốt những tài liệu mật cất giữ ở đó. Johnny mất chừng từ hai mươi phút đến ba mươi phút để chụp được toàn bộ những bộ khóa mã sẽ sử dụng trong một tháng. Lúc nào cũng có khả năng rủi ro là một ai đó bước vào phòng và hỏi Johnny đang làm gì với đống tài liệu mật đó, nhưng Johnny chấp nhận mạo hiểm, coi đó như là cái giá phải trả cho hoạt động của mình. Kiếm được đồng tiền chưa bao giờ là việc đơn giản và dễ dàng, đặc biệt khi đó lại là những khoản tiền lớn.
Ở một lần gặp sau đó, Johnny nhận được trong gói hàng mà KGB để lại tại hộp thư chết một vật có hình thù khá kì dị. Đó là thiết bị đặc biệt mà Ban 16 KGB đặt hàng sản xuất riêng dành cho John Walker. Nó nhỏ gọn vừa trong lòng bàn tay, nặng chừng 600 gram, dùng để sao chép lại những bảng chữ cái trên các rotor nằm trong máy mã hóa.
Kể từ thời Đệ nhất thế chiến, rotor đóng vai trò thiết yếu trong các máy mã hóa của quân đội. Đó là những bánh xe có răng cưa, bằng nhựa tổng hợp hoặc cao su rắn. Vòng quanh mỗi rotor có khắc 26 hàng chữ. Mỗi khi tiến hành mã hóa, các chữ cái này sẽ kết hợp với nhau một cách ngẫu nhiên, tạo ra những tổ hợp vô tận các khả năng khác nhau. Thường thì mỗi máy mã hóa có hơn một cái rotor. Với năm cái rotor, tổ hợp của các chữ cái sẽ là 11.881.376 phương án khác nhau. Như vậy, số lượng tổ hợp các khả năng chữ cái chỉ cho một chữ cũng đủ dài hơn độ dài của các cuốn trường thiên tiểu thuyết Chiến tranh và Hòa bình, Iliad, Odyssey, Don Quixote, Truyện Canterbury và Thiên đường đã mất gộp chung lại!
Vậy mà máy mã hóa KL-47 của hải quân Mỹ không chỉ có năm cái rotor. Nó có tới tám cái. Do vậy, việc mò mẫm phá khóa mã những bức điện của chiếc máy này là điều bất khả.
Cho đến khi John Waker xuất hiện với thiết bị sao chép đặc biệt của KGB.
Với thiết bị này, Johnny có thể sao chép lại từng hàng chữ trong tổng số 26 hàng chữ của từng chiếc rotor một, sau đó cũng làm tương tự với bảy chiếc rotor còn lại trên máy mã KL-47.
Khi nhận được lại thiết bị sao chép do Johnny chuyển giao, KGB có thể chế tạo được một chiếc máy giống hệt và “đọc” được toàn bộ những bức điện mà chiếc máy kì diệu của hải quân Mỹ đã mã hóa.
Dòng tiền cũng tiếp tục đổ vào túi Johnny và viên thượng sĩ hải quân quyết định mình cần phải có một cuộc sống mới, tử tế hơn, bằng cách chuyển cả gia đình đến sống ở Norfolk.
+++++
Barbara Walker nhanh chóng nhận thấy những sự khác lạ ở chồng, không chỉ bởi cả gia đình đang sống trong một căn nhà xập xệ bỗng dưng chuyển tới ở một căn hộ trong mơ có người gác cổng. Có một bí mật cứ lởn vởn đâu đó mà Barbara hiểu rằng sớm hay muộn, nếu phát hiện ra thì nó cũng sẽ vĩnh viễn thay đổi cuộc sống của tất cả mọi người trong gia đình.
Không dám hỏi chồng, một ngày nọ, sau khi đã uống rượu đủ độ để lấy can đảm, Barbara quyết định tự mình tìm hiểu bằng cách lục lọi bàn làm việc của Johnny, một chiếc bàn lớn như bàn ăn, kê trong phòng ngủ của hai người, được ngăn cách với giường ngủ bằng một bức bình phong kiểu Trung Quốc.
Chỉ cần vài phút là Barbara đã có thể phá dược cái khóa ngăn kéo bàn làm việc. Nằm sâu ở phía trong cùng là một cái hộp bằng thiếc, ẩn chứa những bí mật của Johnny.
Mở hộp ra, Barbara thấy một tệp tiền, đếm được 2.000 USD, khá lớn ở thời điểm đó. Còn một phong bì, bên trong có các bức ảnh chụp những cái cây, có lẽ là ở một cánh rừng nào đó. Trên một bức ảnh có những nét vẽ mũi tên hướng tới một gốc cây hoặc tảng đá. Có những chỉ dẫn viết bằng chữ in hoa rất cẩn thận: ANH ĐỂ GÓI HÀNG ĐẦU TIÊN Ở ĐÂY. Đấy là cái gì vậy?
Cũng có một tấm bản đồ vùng Virginia; bên dưới nó là một bản ghi chép cũng bằng những chữ cái viết tay in hoa giống như trên bức ảnh. Phía mép trên của bản ghi chép có dòng chữ màu đỏ: ĐỌC XONG HỦY NGAY!
Barbara đọc đi đọc lại bản ghi chép, mặc dù không hiểu hết những gì trong đó. Người viết, mở đầu bằng “Bạn thân mến”, nhưng rõ ràng khá bực tức về “chất lượng” của món hàng “được chuyển giao” trong lần vừa rồi. Có rất nhiều yêu cầu đối với “bạn thân mến” cho lần chuyển hàng sau; những yêu cầu này có vẻ như liên quan đến những yếu tố kĩ thuật hay công nghệ nào đó. Tựu trung lại, người viết muốn “bạn thân mến” cung cấp những thông tin “về rotor”.
Điều duy nhất Barbara tin chắc sau khi khám phá bí mật của Johnny là đó không phải những bức thư tình chồng gửi cho tình nhân.
Nhưng hai tuần lễ sau đó, khi đã uống ngà ngà rồi, trong một cuộc cãi nhau thường xuyên giữa hai vợ chồng, Barbara đã không kìm được, hét vào mặt Johnny: “Đồ phản bội! Anh là thằng gián điệp!”.
Đáp lại, Johnny chỉ lặng lẽ đánh Barbara.
Sau đó, khi hai người đã nằm trên giường để chuẩn bị đi ngủ, Johnny bắt đầu giải thích cho Barbara về tình thế mà họ đang gặp phải. Một đống nợ nần lơ lửng trên đầu cả gia đình và người đứng ra giải quyết nếu không phải Johnny thì là ai? Đây chỉ là cuộc chơi giữa chính phủ với chính phủ; không một ai bị làm hại cả.
Hai ngày sau, Barbara quyết định tham gia vào một chuyến chuyển tài liệu cùng Johnny. Hai người thuê một chiếc xe, tới phi trường và bay tới Virginia. Ở đó, họ thuê chiếc xe khác và lái tới thuê phòng ở một nhà trọ. Họ chờ ở đó một lúc rồi Johnny lái xe đi loanh quanh theo sự chỉ dẫn trên bản đồ. Tiếp đó, hai người quay lại nhà trọ. Khi màn đêm buông xuống, Johnny gọi một cú điện thoại rồi nói đã tới lúc phải đi. Hai người lên xe, lái theo đúng tuyến đường đã đi lúc trước. Đến một chỗ, Johnny dừng lại, ra khỏi xe, đặt một túi giống như cái túi đựng rác xuống địa điểm định trước. Hai người lên xe, đi tiếp đến một địa điểm ở ngay gần đó. Barbara vẫn ngồi lại trong xe khi Johnny ra ngoài và nhặt một cái túi khác. Sau đó hai người quay trở lại nhà trọ. Quy trình trao đổi tài liệu với KGB hoàn thành.
Ngày hôm sau, trong căn hộ của gia đình Walker ở tòa nhà Algonquin, Johnny mở cái túi lấy từ hôm trước ra. Bên trong có những bó tiền được bọc bằng dây cao su chắc chắn, toàn là tờ 50 USD. Do bị bó chặt, các tờ tiền đều bị cong. Johnny bảo Barbara dùng bàn là là phẳng tất cả những tờ tiền. Trong khi làm công việc này, Barbara liên tục uống gần hết một chai vodka.
Tối hôm ấy, khi Johnny có ca trực trong căn cứ hải quân, Barbara ngồi bên cạnh chiếc máy điện thoại. Sau khi lưỡng lự hồi lâu, Barbara quyết định cầm máy lên và quay số.
- Cho tôi số máy của FBI. - Barbara nói với nhân viên trực điện thoại ở đầu dây bên kia.
- Xin chờ trong giây lát. - nhân viên trực điện thoại trả lời.
Nhưng lúc ấy, Barbara đã treo máy điện thoại rồi.
+++++


Tháng 10-1969, sự nghiệp của John Walker có một thay đổi: Hải quân Hoa Kỳ chuyển viên thượng sĩ hải quân từ COMSUBLANT sang làm chân trợ lí giám đốc Phòng áp dụng thực nghiệm ở Trung tâm huấn luyện hải quân tại San Diego, bang California, còn gọi là PRATEC. Từ bờ đông sang bờ tây nước Mỹ, từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Johnny đưa cả gia đình theo trên một chuyến xe chạy ngang nước Mỹ.
Tại PRATEC có khá nhiều chủng loại máy mã hóa của quân đội Mỹ, từ KWR-37 đến KG-14, rồi KY-8. Tuy nhiên, hầu hết những máy mã này đều chỉ dùng cho việc huấn luyện chứ không phải để truyền đi những thông tin tác chiến thực tế. Johnny tiếp tục chuyển giao các tài liệu cho KGB, nhưng rõ ràng tầm quan trọng của những thông tin này giảm đi trông thấy. Hệ quả là tiền mà KGB chuyển cho Johnny cũng giảm theo, chỉ còn khoảng 2.000 USD một tháng.
Johnny suy tính để tìm cách thoát khỏi tình thế khó khăn, khi thu nhập do việc bán tài liệu mật giảm đi, rõ ràng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến thói quen chỉ tiêu xông xênh như trước khi chuyển công tác. Cách tốt nhất là phải tìm được một nguồn tin mới, có thể tiếp cận được những thông tin mật có giá trị hơn và đồng ý bán chúng cho tình báo Liên Xô.
Đến tháng 11-1970 thì Johnny đã chọn được “mục tiêu” của mình: Jerry Whitworh, một trong những giáo viên dạy vô tuyến điện mới được điều đến PRATEC. Theo thang bậc ở PRATEC, Jerry nằm dưới quyền chỉ huy của Johnny.
Johnny mất tới gần một năm để trở thành người bạn thân thiết của Jerry Whitworh. Nhưng đúng vào lúc Johnny chuẩn bị đi tới bước quyết định để tuyển mộ Jerry thì hải quân Mỹ lại làm một cuộc điều chuyển mới: Tháng 12-1971, Johnny được cử tới tàu tiếp tế USS Niagara Fall, làm sĩ quan giám sát an ninh khí tài thông tin của tàu này.
Để việc tuyển mộ người mới lại phía sau, Johnny tiếp tục một mình một cuộc chơi.
Đấy quả thật là một mỏ vàng cho KGB! Là sĩ quan giám sát an ninh khí tài thông tin, Johnny có khả năng tiếp cận được với hầu hết các tài liệu mật liên quan đến khóa mã các bức điện mật gửi giữa tàu về bờ của máy mã KW-7, các thẻ mã hóa của máy mã KWR-37, cẩm nang khóa mã trong khoảng thời gian 90 ngày dành cho các máy mã hóa KL-47, KW-47 cũng như chìa khóa giải mật mã của máy KY-8. Trong ba năm làm việc trên tàu USS Niagara Falls, Johnny đã chuyển giao gần 100% các tài liệu mật liên quan đến mật mã của năm loại máy mã mà mình có thể tiếp cận được cho KGB!
Đến tháng 8-1974, nhiệm vụ của Johnny trên tàu USS Niagara Falls kết thúc và một lần nữa, viên thượng sĩ hải quân quay lại căn cứ hải quân ở Norfolk. Lức này Johnny bắt đầu nghiêm chỉnh tính đến chuyện phải tìm một nhân mối thay thế mình lấy tài liệu mật để bán cho KGB. Người bạn cũ Jerry Whitworh được nhớ đến. Sáu tháng trước đó, trong một lần chiếc USS Niagara Falls ghé lại căn cứ tiếp tế trên đảo Diego Garcia, Johnny đã có cơ hội gặp Jerry, khi ấy đang tình nguyện phục vụ ở căn cứ trên đảo từ tháng 2-1973. Sau đấy, Jerry đã rời khỏi hải quân.
Một buổi chiều tháng 9-1974, Johnny hẹn gặp Jerry Whitworh ở quán rượu Boom Trenchard’s Flare Path. Trong cuộc gặp này, Johnny, sau khi bắt Jerry phải thề sẽ không tiết lộ bất cứ điều gì về nội dung cuộc gặp cho bất cứ ai, tiết lộ với ông bạn thân rằng mình đang làm một công việc “bất hợp pháp”. Vắn tắt là trong một số năm vừa qua, đã bán tài liệu mật để lấy rất nhiều tiền. Theo Johnny thì Jerry là một “ứng cử viên hoàn hảo” cho công việc này. Liệu Jerry có quan tâm không?
Khi Jerry hỏi Johnny đã làm công việc bí mật đó trong bao lâu rồi, viên thượng sĩ hải quân nói thời kì hai người cùng làm việc ở PRATEC, Johnny đã làm công việc đó rồi, nhưng bắt đầu từ khi nào thì Jerry không cần phải biết.
Jerry hỏi tiếp, việc trao đổi tài liệu diễn ra như thế nào? “Bằng hộp thư chết”, Johnny giải thích, dùng thuật ngữ kiểu gián điệp James Bond. Nhưng Johnny chỉ nói đến thế rồi dừng lại, tuyên bố sẽ không trả lời bất cứ câu hỏi nào của Jerry liên quan đến chu trình trao đổi tài liệu mật. Thay vào đó, Johnny nói đôi chút với Jerry về việc sử dụng chiếc máy ảnh tí hon Minox C. Johnny hi vọng rằng Jerry, một người đam mê các thiết bị kĩ thuật công nghệ cao, sẽ nảy sinh ý thích được sử dụng thiết bị này. Johnny đã đúng.
Jerry để câu hỏi lớn nhất lại sau cùng: “Ai là người mua tài liệu?” Jerry muốn biết ai là người sẽ trả tiền cho tài liệu mật.
“Tôi không rõ lắm”, Johnny trả lời. Đó là người nằm trong số những người bạn mà Johnny đã tình cờ gặp mặt. Đó có thể là mafia, là đại diện của những quốc gia như Israel, hoặc có khi là tổ chức quốc phòng tư nhân, như những người xuất bản tờ tạp chí quốc phòng cho hải quân Jane’s Fighting Ships chẳng hạn.
Rồi đến phần mà Jerry muốn biết rõ nhất: Anh ta sẽ nhận được bao nhiêu tiền cho điệp vụ này?
Sẽ là một thỏa thuận ăn chia 50-50 giữa hai người, Johnny giải thích. Mỗi tháng, Jerry có thể kiếm được từ 2.000 đến 4.000 USD, tùy theo “chất lượng sản phẩm”. Các tài liệu mật liên quan đến công tác mã hóa sẽ được trả nhiều tiền nhất. Tất nhiên, một chìa khóa giải mã cho máy KY-8 sẽ không thể được trả nhiều tiền bằng một bảng khóa mã cho máy phát mật mã KW-7.
“Không hề có rủi ro ở đây”, Johnny trấn an ông bạn thân của mình. “Khả năng bị bắt giữ hầu như bằng không”. Minh chứng chính là việc Johnny đã làm công việc này trong thời gian dài mà không có bất cứ một ai nghi ngờ gì cả. Nếu một người có thể tiến hành công việc thì tại sao lại không để cho hai người cùng làm? “Không có lí do nào khiến chúng ta sẽ bị bắt”, Johnny hạ đòn quyết định.
Sau một thoáng lưỡng lự, Jerry đồng ý tham gia cùng Johnny.
Nhưng Jerry có hai điều lo ngại. Thứ nhất là về bà vợ Barbara của Johnny. Jerry đã từng có lần gặp Barbara và nhận thấy rủi ro cao từ bà vợ nghiện rượu này. Johnny trấn an bạn, mọi việc đều đã nằm trong tầm kiểm soát. Một khi Barbara còn có thể được đền bù bằng những khoản tiền đủ lớn thì khi ấy, cô ta không phải là nguy cơ.
Vấn đề thứ hai, Jerry yêu cầu là trong bất cứ trường hợp nào, Johnny cũng không được phép tiết lộ tên của Jerry cho “những người bạn” mua tài liệu của Johnny.
- Chắc rồi. - Johnny nói.
- Không bao giờ chứ? - Jerry cẩn thận hỏi lại một lần nữa.
- Không bao giờ! - John Walker khẳng định chắc chắn.
Gần một tháng sau đó, ngày 10-10-1974, Jerry kí hợp đồng làm việc lại cho hải quân Mỹ, làm chân nhân viên vô tuyến điện vào tháng 1-1975.
Điệp viên thứ hai trong đường dây nhà Walker đã được tuyển mộ.
+++++
Trong khi sự nghiệp làm gián điệp của John Walker diễn ra suôn sẻ thì cuộc hôn nhân với cô vợ nghiện rượu Barbara lại càng ngày càng trở nên tồi tệ. Những cuộc cãi vã diễn ra triền miên, bất chấp việc Barbara vẫn chấp nhận đi cùng với chồng để thực hiện thêm một phi vụ chuyển giao tài liệu và nhận tiền.
Đến giữa năm 1976 thì cuộc hôn nhân của họ đi đến chỗ không thể cứu vãn được nữa. Ngày 22-6-1976, hai người chính thức li dị. John Walker sẽ phải trả cho cô vợ 10.000 USD tiền mặt, đồng thời hằng tháng chu cấp đều đặn 500 USD để nuôi ba đứa con đang còn ở độ tuổi vị thành niên. Barbara vẫn có phần sở hữu trong ngôi nhà hai tầng mà cả gia đình đã dọn đến ở trên đường Old Ocean View tại Norfolk, một phần tài sản ở Florida và chiếc xe Chevrolet Monte Carlo đời mới nhất 1976.
Johnny đồng ý kí vào thỏa thuận trước tòa nhưng đề nghị mua lại phần sở hữu của Barbara ngôi nhà trên đường Old Ocean View cùng với đồ nội thất trong đó. Cũng muốn xóa đi những ám ảnh trong quá khứ, Barbara đồng ý. Barbara cùng với bốn đứa con sẽ chuyển đến ở nhà bà chị ở bang Maine.
Hơn một tháng sau, ngày 31-7-1976, Thượng sĩ hải quân hạng ba John Walker quyết định về hưu sau gần hai mươi mốt năm phục vụ trong hải quân Hoa Kỳ với nhiều huân huy chương các loại. Johnny từ chối tham gia bữa tiệc chia tay với các bạn đồng ngũ, nói rằng chẳng có gì vui mừng đáng để phải mở tiệc cả.
Thật ra, Johnny còn có nhiều chuyện khác phải lo nghĩ hơn là mất thời gian dự một bữa tiệc đánh dấu việc mình về hưu.
Trước đấy, những cố gắng của Johnny nhằm tuyển mộ và khai thác Jerry Whitworth đã dần dần mang lại hiệu quả.
Từ ngày 2-1-1975, Jerry Whitworth theo một khóa đào tạo tại Trung tâm thông tin vệ tinh ở Fort Monmouth, bang New Jersey. Như một nhà đầu tư thực thụ, Johnny đã ứng trước khoản tiền 4.000 USD cho những thông tin mà người bạn mình sẽ cung cấp trong tương lai. Tháng 3-1975, sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo, Jerry được điều đến làm việc ở căn cứ Diego Garcia, thuộc Ban thông tin vệ tinh của hải quân Hoa Kỳ, một vị trí giúp Jerry có thể tiếp cận được hầu hết mọi tài liệu mật về mã hóa trong phạm vi công việc của mình.
Tiếp đó, Jerry được điều đến làm việc trên hàng không mẫu hạm USS Constellation, nơi có thể tiếp xúc với những tài liệu tối mật truyền đi qua hệ thống vệ tinh cũng như các máy mã hóa trên tàu này. Khi từ Diego Garcia quay về, Jerry đã có hai cuộc gặp với Johnny, trao những gói phim chụp bằng chiếc máy ảnh Minox C và nhận lại tổng cộng 16.000 USD. Sau một cuộc gặp, Jerry ghé qua bang North Dakota gặp cô bạn gái Brenda Reis, 21 tuổi, trẻ hơn Jerry tới 19 tuổi. Một tuần sau đó, hai người làm lễ kết hôn trong một nhà thờ nhỏ ở Las Vegas. Jerry không nói cho Johnny biết chuyện mình cưới Brenda.
Ngay sau khi Jerry đồng ý làm việc vào tháng 9-1974, trong một cuộc chuyển giao tài liệu mật qua hộp thư chết, Johnny thông báo cho KGB biết đã tuyển mộ được một điệp viên mới vào mạng lưới của mình, đồng thời đang có kế hoạch để chuẩn bị về hưu.
Thông báo này của Johnny gây nên sự bối rối và lo lắng trong Ban 16 KGB, bộ phận đảm trách điệp vụ liên quan đến John Walker. Một số ý kiến cho rằng có lẽ FBI đã phát hiện ra Johnny và hiện đang điều khiển viên thượng sĩ hải quân hoạt động như một điệp viên nhị trùng, tung thông tin giả cho phía Liên Xô. Khi thời gian làm việc trên tàu USS Niagara Falls kết thúc và Johnny chuyển sang làm nhân viên Bộ chỉ huy các lực lượng trên mặt biển tại Norfolk, “chất lượng” những “sản phẩm” của Johnny suy giảm rõ rệt. Ở nơi làm việc mới của Johnny, chỉ có duy nhất loại máy mã KG-13 hoạt động. Mặc dù Johnny đã chuyển giao tới 85% số tài liệu liên quan đến hoạt động của loại máy mã này nhưng KGB vẫn cảm thấy không hài lòng. Một lần nữa, KGB cắt khoản tiền hằng tháng của Johnny từ 4.000 USD xuống còn 2.000 USD. Việc Johnny thông báo sẽ nghỉ hưu để chuyển sang đời sống dân sự là bằng chứng cho thấy phản gián Mỹ đang điều khiển cuộc chơi, bởi một nhân viên dân sự sẽ khó có điều kiện tiếp cận được với các tài liệu tối mật có giá trị. Những người ủng hộ giả thiết này trong Ban 16 KGB cho rằng cần phải cấp thiết chấm dứt chiến dịch liên quan đến John Walker.
Nhưng ngược lại, cũng có một luồng ý kiến đặt giả thiết rằng việc John Walker tuyên bố rời cuộc chơi đơn thuần chỉ là vì lí do tâm lí, lo lắng về an nguy của bản thân. Nếu kết thúc điệp vụ John Walker cũng có nghĩa là chấm dứt một chiến dịch thuộc vào loại quan trọng và thành công bậc nhất trong lịch sử KGB, có thể giúp Liên Xô chiến thắng nếu như nổ ra Đệ tam thế chiến!
Cuối cùng thì Ban 16 KGB đi tới một giải pháp mà những cơ quan đặc biệt, vốn luôn bị thói quan liêu chi phối, thường xuyên đưa ra như một sự thỏa hiệp: Sẽ liên lạc với John Walker qua hộp thư chết để xem thực chất điều gì đang xảy ra.
Bức thư của điệp viên KGB tới chỗ Johnny ở lần trao đổi tài liệu qua hộp thư chết sau đấy đưa ra một đề nghị mà Johnny không thể hiểu nhầm ý nghĩa của nó: KGB muốn gặp Johnny, trực tiếp, mặt đối mặt, lần đầu tiên sau gần một thập kỉ.
Địa điểm ở bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ, tại Casablanca, Ma Rốc.
+++++
Phải sáu tháng sau khi nhận được bức thư của KGB yêu cầu có một cuộc gặp mặt trực tiếp, gần cuối tháng 8-1977, Johnny mới hẹn được với điệp viên Ban 16 KGB phụ trách mình để tiến hành cuộc gặp.
Để tới được Casablanca, Johnny phải đi qua nửa vòng trái đất, từ Norfolk tới New York, sau đó bay tới Tokyo, qua Hong Kong, đến Bangkok, đi Tehran rồi từ đó bay tiếp tới Cairo ở Ai Cập. Từ Cairo, qua một chặng bay nữa mới đến Casablanca rồi từ phi trường đi xe buýt vào thành phố.
Trong bức thư mà Johnny nhận được qua hộp thư chết ở Mỹ, điệp viên điều khiển của KGB đã bày tỏ sự không hài lòng trước việc Johnny tự ý tuyển mộ Jerry Whitworth mà không tham vấn ý kiến của KGB. “Anh đã vi phạm các quy trình”, bức thư viết. Johnny sẽ phải giải thích điều đó ở Casablanca.
Nhưng trên hành trình vòng quanh thế giới để tới Casablanca, Johnny đã có một nước đi cực kì khôn khéo để “bảo hiểm” cho mình, loại trừ những rủi ro có thể có, kể cả trong trường hợp có một đội sát thủ của KGB đang ẩn nấp đâu đó trong những ngõ hẻm tối tăm tại Casablanca. Khi ghé qua Hong Kong, Johnny đã ở lại phòng 802 trong khách sạn Hong Kong Holiday Inn, chờ một vị khách đặc biệt: Người bạn thân Jerry Whitworth. Mãi tới ngày 12-8-1977, muộn hai ngày so với thời điểm đã hẹn với Johnny, Jerry mới tới Hong Kong. Lí do bởi động cơ của chiếc hàng không mẫu hạm USS Constellation, nơi Jerry đang làm việc, gặp trục trặc ở ngoài khơi vịnh Subic tại Philippines nên con tàu ghé qua Hong Kong chậm so với kế hoạch định trước.
Đến khi Jerry đưa ra những sản phẩm đã chụp trong bốn tháng qua bằng chiếc máy ảnh Minox C thì Johnny thấy hai ngày giam mình trong phòng khách sạn để chờ đợi đã không hề uổng phí. Trong số các tài liệu chụp được có những sổ tay kĩ thuật sử dụng cho máy mã hóa KW-7 và KWR-37, các bảng mã dùng cho những máy mã này cùng vô số các bức điện mật.
Tuy nhiên, mỏ vàng nằm ở những thông tin về hai hệ thống mã mới. Đầu tiên là loại KY-8. Đây là kiểu máy mã hóa mới của hải quân Mỹ, có thể gửi trực tiếp các bức điện mật từ các sở chỉ huy hải quân ngoài đại dương về Bộ chỉ huy ở Norfolk, thậm chí về thẳng Phòng tình hình ở Nhà Trắng! Đây là một dự án siêu mật, một đường liên lạc đàm thoại được mã hóa có thể sử dụng nếu chiến tranh thực sự nổ ra. Jerry Whitworth đã chụp được hệ thống TECHINs này.
Thứ hai là những tài liệu tối mật của một dự án thực hiện trên hàng không mẫu hạm USS Constellation mà Jerry Whitworth có tham gia. Đó là việc thiết lập một hệ thống truyền tin mới giữa các tàu chiến Hoa Kỳ trên đại dương để có thể tránh được việc các hệ thống giám sát của phía Liên Xô định vị được vị trí của các tàu chiến này.
Jerry Whitworth thực sự đã trở thành một điệp viên xuất sắc của Johnny!
Cũng vì cuộc gặp ở Hong Kong với Jerry Whitworth mà chín ngày sau, Johnny mới tới Casablanca, trễ hơn so với thời điểm đã hẹn trước với điệp viên KGB. Trong bóng đêm, Johnny tới chỗ hẹn, tay trái cầm tờ tạp chí như đã được hướng dẫn trong bức thư nhận từ sáu tháng trước. Mật khẩu nhận biết: “Hỏi: Xin lỗi, tôi đã không gặp anh ở Berlin năm 1976 nhỉ? Trả lời: Không, tôi ở Norfolk, Virginia, trong cái năm nóng nực ấy”.
Thế nhưng điệp viên KGB, có lẽ quá lo lắng khi phải chờ đợi Johnny, đã bỏ qua khâu trao đổi mật khẩu như trong hướng dẫn. “Xin chào bạn của tôi! Chúng tôi rất lo lắng về anh!” điệp viên KGB nói khi Johnny vừa tới nơi.
Cuộc gặp diễn ra trong gần một giờ đồng hồ. Johnny trao cho điệp viên KGB những cuộn phim mà Jerry Whitworth đã chụp vừa lấy ở Hong Kong chín ngày trước đó. Chúng trị giá 30.000 USD, Johnny gợi ý. Điệp viên KGB cầm lấy gói phim và thay vì đánh giá tầm quan trọng của nó thì bắt đầu với những câu hỏi. Tại sao Johnny lại tới Casablanca muộn so với dự tính? Vì phải dừng lại ở Hong Kong cho một cuộc hẹn và không phải lỗi của Johnny khi mà động cơ của chiếc hàng không mẫu hạm USS Constellation bỗng dưng gặp trục trặc.
Nhưng vấn đề chính là việc Johnny tự ý tuyển mộ Jerry Whitworth. Johnny quyết định tỏ thái độ cứng rắn trong chuyện này.
- Mọi việc đều hoàn hảo. - Johnny cả quyết với điệp viên KGB. - Tôi biết rõ Jerry. Tôi biết tôi đang làm gì.
- Đề nghị đừng làm thế một lần nữa. - Điệp viên KGB nói. - Hãy hỏi ý kiến của chúng tôi trước khi làm bất cứ chuyện gì như thế.
Johnny cảm thấy mình là người chiến thắng trong cuộc đọ sức cân não này.
Sau khi Johnny nhận đủ 30.000 USD trong một cái hộp giống như để đựng đồ ăn trưa, điệp viên KGB tuyên bố với Johnny là họ cần có các cuộc gặp nhau thường xuyên hơn ở nước ngoài. “Mọi chi phí sẽ do KGB chi trả chứ?” Johnny hỏi. Tất nhiên. Nếu thế thì Johnny có thể đi bất cứ đâu. Anh muốn các cuộc gặp diễn ra ở nước nào? Ấn Độ được không? Lạy Chúa, sao lại gặp ở đó chứ?
Cuối cùng, người điệp viên KGB quyết định các cuộc gặp sẽ diễn ra ở Vienna, Áo.
Hai người chia tay nhau.
+++++
Cuộc gặp đầu tiên ở Vienna diễn ra vào ngày 21-1-1978 trong thời tiết giá lạnh của thủ đô nước Áo. Trước đó hơn một tháng, trong ngày lễ Tạ ơn vào tháng 11-1977, Johnny đã gặp Jerry Whitworth ở San Diego. Hai người ngồi với nhau trong chiếc xe hiệu Fiat của Jerry để giảm thiểu khả năng bị gắn máy nghe trộm nếu ở trong một căn phòng nào đó. Jerry trao cho Johnny những tài liệu mới chụp được trên hàng không mẫu hạm USS Constellation chủ yếu liên quan đến lĩnh vực mật mã, và đến lượt mình, Johnny sẽ trao lại chúng cho điệp viên KGB ở Vienna. Đổi lại, Johnny nhận một bó tiền gồm toàn những tờ bạc 50 USD. Điệp viên KGB, người mà Johnny gặp trước đó ở Casablanca, chủ yếu hỏi về Jerry Whitworth. Làm thế nào anh ta có thể tiếp cận được các tài liệu mật và chụp ảnh chúng bằng cách nào? Có gì nguy hiểm khi thực hiện công việc đó không?
“Không có gì nguy hiểm hết”, Johnny giải thích. Với vị trí của sĩ quan phụ trách an ninh thông tin trên hàng không mẫu hạm USS Constellation, Jerry có quyền tiếp cận với mọi tài liệu mật trên tàu và chụp ảnh một cách dễ dàng.
Cuộc gặp thứ hai ở Vienna diễn ra vào ngày 15-7-1978. Chín ngày trước đó, như thường lệ, Johnny gặp Jerry Whitworth ở San Diego để nhận “hàng”. Trong cuộc gặp ở Vienna lần này, ngoài việc trao “hàng” cho điệp viên KGB và nhận lại tiền, Johnny thông báo rằng Jerry Whitworth sắp chuyển công tác.
- Tới đâu? - Điệp viên KGB lo lắng hỏi.
- Tới tàu USS Niagara Falls, đúng con tàu mà tôi đã phục vụ trước đây. - Johnny mỉm cười thú vị khi trả lời.
Trên con tàu đó, Jerry Whitworth vẫn đảm nhiệm vai trò của sĩ quan giám sát khí tài thông tin liên lạc và tiếp tục có cơ hội để thu thập tài liệu mật, thậm chí còn nhiều hơn thời kì ở trên hàng không mẫu hạm.
Johnny cùng với đồng nghiệp bên phía KGB quả là những điệp viên may mắn!
Vào dịp sinh nhật lần thứ sáu mươi bảy của mẹ mình, bà Margaret, Johnny quyết định đưa mẹ đi chơi châu Âu. Ngày 21-6-1979, Johnny và mẹ tới thủ đô Rome của nước Ý. Tiếp đó, hai người đi Naples. Chặng dừng chân cuối cùng là Vienna, ở tại khách sạn Hilton.
Trước đấy, vào tháng 12-1978, Johnny gặp điệp viên trong đường dây của mình, Jerry Whitworth, tại khách sạn Philippine Plaza ở Manila. Hai mươi bốn tiếng sau, Johnny bay về Chicago, mang theo người những tài liệu mật về hoạt động của các loại máy mã KW-7, KY-8, KG-14, KWR-37 và KL-47 cũng như danh sách khóa mã. Phía Xô viết giờ đây có thể phá khóa mật mã của hải quân Hoa Kỳ theo “thời gian thực”, có nghĩa là gần như đồng thời khi các bản mật mã được các tàu chiến của Mỹ gửi đi.
Johnny nhận từ tay điệp viên KGB khoản tiền lương tồn trong nhiều tháng cho mình và Jerry Whitworth, mỗi người 4.000 USD một tháng. Nhưng điều bất ngờ diễn ra ở cuối buổi gặp gỡ. Điệp viên KGB trịnh trọng tuyên bố: “Để ghi nhận những đóng góp của bạn cho hòa bình thế giới, Liên Xô quyết định tặng bạn phần thưởng là cấp bậc đô đốc của hải quân Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết. Xin chúc mừng, Đô đốc Walker!”.
Khi quay về Mỹ, vì mang theo một lượng tiền mặt quá lớn, Đô đốc Walker cần đến sự giúp đỡ của mẹ để tránh mọi sự chú ý không cần thiết. Bà Margaret được con trai giải thích, con mang theo quá nhiều tiền để kinh doanh nên sẽ là miếng mồi ngon cho bọn trộm cắp, móc túi; vì vậy mẹ mang giúp cho con một cái đai lưng đựng tiền được không?
Làm sao có thể từ chối một đề nghị của con trai như vậy! Về đến phi trường Kennedy ở New York, khi nhân viên hải quan hỏi bà Margaret có gì cần phải khai báo không, câu trả lời là “không”.
Hơn một tháng sau, ngày 13-8-1979, Jerry tới chỗ Johnny ở Norfolk. Sau khi trao cho Johnny, những tài liệu mật chụp được trên tàu USS Niagara Falls sẽ được gửi cho KGB qua hộp thư chết trong cuộc trao đổi diễn ra sau đó vào tháng 9, Jerry bắt đầu câu chuyện của mình. Hải quân Mỹ đã quyết định sẽ đưa chiếc USS Niagara Falls lên xưởng sửa chữa trong thời gian tới và không biết bao giờ mới xong. Đó là lí do khiến Jerry Whitworth muốn ra khỏi hải quân và về hưu, đồng thời cũng chấm dứt công việc làm gián điệp. Thời điểm Jerry Whitworth dự định về hưu sẽ là hơn một năm sau đó, tháng 9-1980.
Vốn là người kiên nhẫn và biết rõ sức mạnh thuyết phục của đồng tiền, Johnny không tranh cãi với điệp viên của mình. Johnny đưa cho Jerry Whitworth khoản tiền lương trong ba tháng gần nhất do KGB trả, tổng cộng 12.000 USD. Đấy là một khoản thu nhập quá lớn nếu so với tổng mức lương cả năm của Jerry là 10.072 USD.
- Họ dự tính thuyên chuyển anh đi đâu? - Johnny hỏi.
- Trung tâm thông tin ở Alameda. - Jerry Whitworth trả lời.
- Tốt, anh cứ tiếp tục làm cho đến khi nào thủ tục giấy tờ của anh xong nhé. Jerry Whitworth đồng ý.
+++++
Đề xuất bất ngờ của Jerry Whitworth khiến Johnny cảm thấy cần phải cấp thiết mở rộng mạng lưới hoạt động để có thêm nguồn tin bổ sung, trong trường hợp người bạn Jerry Whitworth sẽ không có cơ hội tiếp cận với các nguồn tin mật nữa. Johnny biết rằng sớm hay muộn thì rồi cũng sẽ tới lúc người bạn mình rời bỏ cuộc chơi mạo hiểm nhưng kiếm tiền nhiều và nhanh một cách không thể ngờ được này.
Trước đấy, vào mùa đông năm 1978, Johnny đã thành công trong việc xin giấy phép mở một công ty thám tử tư, công việc cho phép ông chủ công ty được quyền mang theo người một khẩu Smith & Wesson 38 li.
Johnny có một việc nữa phải lo nghĩ. Đấy là tìm cách giải thích với những người xung quanh sao cho hợp lí về nguyên nhân dẫn tới cuộc sống vương giả của một sĩ quan về hưu với khoản tiền lương chỉ chừng 13.000 USD một năm. Bất chấp những khuyến cáo liên tục của điệp viên KGB về việc không nên gây sự chú ý bằng cách mua sắm những đồ dùng xa xỉ, Johnny vẫn sở hữu một chiếc du thuyền, một máy bay nhỏ, xe tải, đất ở Bahamas và một căn nhà tám phòng có kiến trúc theo kiểu thuộc địa. Khoản thu nhập thêm từ Công ty Walker mà Johnny hùn vốn với ông anh trai Arthur làm ăn đang sa sút không đủ để giải thích cho khối tài sản “khủng” đó. À, thì khi biết cách tiến hành những khoản “đầu tư thông minh”, người ta hoàn toàn có thể nhận được những khoản thu nhập khổng lồ! Johnny, người chưa bao giờ gặp khó khăn với những lí lẽ ngụy trang, đủ tự tin để giải thích cho mọi người hiểu rõ nguồn gốc khối “tài sản chính đáng” đó.
Thế còn những chuyến đi của Johnny? À, việc hùn hạp làm ăn trong lĩnh vực kinh doanh máy chơi game với một người bạn ở Bờ Tây nước Mỹ giải thích cho những chuyến đi tới San Diego của Johnny. Các chuyến đi tới châu Âu, Viễn Đông, Bắc Phi thì sao? Ô, tôi đang tham gia kinh doanh bán máy thu thanh lắp trên xe ô tô tại một cơ sở ở Casablanca nên phải đi lại nhiều để điều hành công việc kinh doanh. Quan trọng là phải mang lại cảm xúc chân thật cho những câu chuyện, khi ấy người ta sẽ tin sái cổ.
Vào tháng 8-1979, đúng vào dịp người bạn Jerry Whitworth của Johnny thổ lộ ý định rời khỏi hải quân, cũng có nghĩa là rời khỏi nguồn tin mật quý giá vô song, thì cô con gái út của Johnny, Laura Walker, cùng với người bạn trai Mark Snyder, làm lễ cưới. Laura đã gia nhập quân đội và đóng quân tại Fort Polk, ở bang Louisiana. Một tháng sau khi làm lễ cưới, Laura mới thông báo cho bố mẹ biết. Khi ấy, Laura đã có bầu và vì vậy, sẽ rời khỏi quân đội sau vài tháng nữa.
Tin này khiến Johnny choáng váng. Nó trực tiếp giáng một đòn nặng vào kế hoạch mở rộng mạng lưới của Johnny. Con làm ở lĩnh vực nào tại căn cứ quân sự ở Fort Polk? Sắp tới có thăng tiến không? Con nói đang làm ở Bộ phận thông tin Fort Polk, có nghĩa là có thể tiếp cận được những tài liệu mật tại đó?
Laura khẳng định đúng thế.
- Bố biết có những người sẵn sàng trả tiền cho những thông tin mật đó. Con có thể giúp họ và giúp chính mình. Chúng ta sẽ có tiền. - Johnny nói.
Laura không tin vào tai mình nữa. Cô không thể đồng ý, nhưng cũng không thể nói “không” với lời đề nghị làm cô sửng sốt kia. Dẫu sao Johnny cũng là bố của cô.
Thay vào đó, Laura giải thích rằng mình đã có bầu và sẽ phải rời khỏi quân đội để sinh con. “Thì con phá cái thai đi”, Johnny nói. Laura không bao giờ tha thứ cho bố mình về lời khuyên đó.
Khi Laura về nhà và kể lại cho chồng mình nghe về đề nghị lạ lùng của Johnny, Mark đã gọi bố cô là “đồ phản bội”. Laura không biết phải làm gì. Sau cùng, cô làm việc tốt nhất mà một đứa con gái có thể làm cho bố mình trong trường hợp này, đó là không làm gì cả.
Chỉ ít tháng sau đó, một sự kiện bất ngờ khác đã khiến Johnny đẩy nhanh kế hoạch mở rộng mạng lưới của mình. Ngày 31-12-1979, Công ty Walker do hai anh em lập ra chuyên kinh doanh mặt hàng máy thu thanh lắp trên xe ô tô đã phá sản. Mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ba năm, vụ phá sản để lại một đống nợ lên tới gần 70.000 USD. Ông anh trai của Johnny là Arthur Walker, người đã rời khỏi hải quân Hoa Kỳ sáu năm trước đó, rơi vào trình trạng tuyệt vọng.
Một ngày tháng giêng năm 1980, Johnny tới chỗ anh trai. Không rào trước đón sau, Johnny nói: “Em có vài người bạn muốn mua các thông tin mật”. Tất cả những gì Arthur có thể nói là: “Bây giờ thì tôi biết vì sao chú mua được những đồ đạc xa xỉ của chú rồi”.
Johnny giải thích rằng những người bạn của mình có liên hệ với những tờ tạp chí chuyên đăng tin quốc phòng như tờ Jane’s Fighting Ships chẳng hạn. Arthur không nói gì, chỉ tỏ vẻ quan tâm khi Johnny nói anh trai hãy tìm một công việc nào đó có thể tiếp cận được các thông tin bí mật quân sự. Một công việc dân sự nào đấy hay làm cho một nhà thầu quốc phòng thì càng tốt.
Arthur đồng ý với mọi điều em trai mình nói.
Tháng sau đó, Arthur bắt đầu đi tìm việc. Johnny dặn là công việc liên quan đến công nghệ cao thì càng tốt, như chế tạo tên lửa hoặc vệ tinh. Ngày 19-2-1980, Arthur đến tham gia phỏng vấn ở công ty VSE, một công ty công nghệ có quy mô quốc gia thường có các hợp đồng nghiên cứu và phát triển với hải quân Hoa Kỳ.
Ba ngày sau, Arthur Walker được nhận vào làm việc tại công ty VSE. Giấy phép an ninh của Arthur cho phép tiếp cận những thông tin mật của công ty.
Điệp viên thứ ba đã gia nhập đường dây nhà Walker.
Trong cái ngày biết anh trai của mình đã được cấp phép an ninh để làm việc trong công ty VSE, Johnny cũng đồng thời biết rằng bạn mình, Jerry Whitworth, đã gửi thư lên Bộ chỉ huy Hải quân Hoa Kỳ để rút lá đơn xin về hưu từng gửi trước đấy.
+++++
Với việc Jerry Whitworth tiếp tục làm việc trong hải quân Mỹ, chỉ chuyển từ tàu USS Niagara Falls lên bờ, ở Trung tâm thông tin hải quân tại Almeida, quá trình đánh cắp những tài liệu tối mật của hải quân Mỹ vẫn tiếp tục. Khó khăn duy nhất của Jerry ở chỗ làm việc mới là chiếc bàn làm việc của anh ta nằm ngay giữa hai cái bàn làm việc khác, cộng thêm vô số những nhân viên nhốn nháo xung quanh suốt cả ngày. Không thể để những bảng mật mã lên trên bàn rồi rút chiếc máy ảnh Minox C ra chụp được. Sau khi nghe người bạn đồng thời là điệp viên trong mạng lưới của mình kể lại, Johnny đã tìm ra cách giải quyết: Jerry sẽ khéo léo lấy những bảng mật mã, cho vào chiếc cặp ngoại giao rồi mang ra khỏi phòng làm việc trong thời gian nghỉ trưa, chụp lại những tài liệu mật này trong chiếc xe bán tải của mình, sau đó mang hoàn trả lại chúng vào đầu giờ chiều, trước khi người ta kiểm tra xem chúng có ở đó hay không. Không một ai nghi ngờ là tài liệu mật đã có một khoảng thời gian chu du ngắn ngủi chừng một giờ đồng hồ trước khi được trả lại về chỗ cũ.
Bằng cách này, Jerry đã chụp được gần như tất cả mọi tài liệu mật mà mình tiếp cận được khi làm việc ở Trung tâm thông tin hải quân tại Almeida, trong đó có bảng khóa mã của máy mã KW-7.
Ngày 26-1-1980, lại một cuộc gặp giữa Johnny và điệp viên KGB diễn ra ở Vienna. Trong cuộc gặp này, Johnny phải chật vật giải thích cho điệp viên KGB biết lí do vì sao Jerry lại chuyển lên bờ làm việc. Trung tâm KGB ở Moscow tỏ ý nghi ngờ, không rõ đằng sau sự thuyên chuyển này có bàn tay của phản gián Mỹ hay không. Mọi sự đều ổn cả, Johnny trấn an. Kết thúc cuộc gặp, điệp viên KGB thông báo cho Johnny biết do mỗi lần lượng tiền mặt trả cho các điệp viên trong mạng lưới quá lớn, sẽ rất rủi ro khi mang chúng qua các cửa kiểm soát an ninh ở sân bay, nên KGB đề nghị những khoản tiền đó sẽ được trả thông qua các hộp thư chết trên lãnh thổ Mỹ.
Johnny vui vẻ đồng ý. Như thế đỡ phải đưa mẹ đi du lịch châu Âu thêm nhiều lần nữa.
Tháng 5-1979, Johnny cùng cô bạn gái Mat Marsee tới chỗ vợ chồng Jerry và Brenda. Khi chỉ còn hai người lại với nhau, Johnny trao cho Jerry 100.000 USD tiền mặt loại tờ 50 USD, khoản tiền KGB trả cho Jerry kể từ tháng 2-1979. Mặc dù tiêu xài thoải mái với số tiền kiếm được nhưng đến tháng 12-1979, Jerry lại tiếp tục bày tỏ ý định muốn từ bỏ công việc kiếm tiền béo bở nhưng hết sức nguy hiểm này. Johnny ra sức thuyết phục bạn mình từ bỏ ý định, nhưng nhận thức rất rõ là cần phải khẩn cấp bổ sung những nguồn cung cấp tài liệu mới cho mạng lưới.
Một lần nữa, Johnny trông chờ vào cô con gái út Laura. Trong một cuộc gặp của hai bố con tại nơi Laura đang sống ở Hayward, California, Johnny thuyết phục con gái quay lại quân đội, đồng thời khẳng định rằng bất cứ thông tin nào thu thập được trong môi trường quân đội cũng đều có giá trị bán được. Laura không bác bỏ cũng không đồng ý với đề nghị của cha mình. Kết thúc buổi gặp, Johnny đưa cho Laura 1.500 USD để giải quyết những khó khăn trước mắt về tài chính của cô con gái. Với Laura, đó là khoản tiền cô vay của bố; nhưng với Johnny, đấy là khoản tiền ứng trước ba tháng lương cho Laura một khi cô đồng ý tham gia vào đường dây.
Ngày 13-2-1982, khi Johnny tới cuộc gặp ở Vienna thì KGB thông báo thay đổi điệp viên điều khiển quen thuộc bằng một điệp viên khác.
Ngày 2-7-1982, khi Laura quay về nhà mình thì thấy căn nhà trống huơ trống hoác. Philip Mark Snyder, thường gọi là Mark, chồng cô, đã bỏ đi, mang theo cậu con trai Christopher. Mấy ngày sau, Mark gọi điện thoại cho Laura, nói rằng nếu cô tìm cách giành lấy đứa con trai thì anh ta sẽ báo cho FBI biết về công việc của bố cô, Johnny!
Trong khi ấy, sau một thời gian dài, nguồn tài liệu từ ông anh trai Arthur của Johnny vẫn chưa đạt được chất lượng như mong muốn. Để tạo điều kiện dễ dàng hơn cho anh trai, thay vì chiếc máy ảnh Minox C nhỏ xíu vốn chỉ các điệp viên chuyên nghiệp mới dừng, Johnny đã dạy anh trai cách sử dụng một chiếc máy ảnh Kodak 110 dễ sử dụng hơn nhiều. Nhưng hầu hết các tài liệu mà Arthur chụp lại rồi chuyển cho Johnny đều không phải là tài liệu mật.
Đến ngày 21-9-1981, Arthur đã chụp được những tài liệu có giá trị đầu tiên về USS Blue Ridge, con tàu chỉ huy và thông tin của Hạm đội Thái Bình Dương. Những tài liệu này chỉ rõ tải trọng, khả năng chở quân cũng như năng lực chiến đấu của con tàu... Nếu ai đó cần phá hủy con tàu thì đây chính là cẩm nang cần thiết, khi chỉ cần đặt mìn ở một vị trí duy nhất là đã có thể đánh chìm nó, hay đầu độc toàn bộ thủy thủ đoàn ở nguồn cung cấp nước của con tàu.
Đến tháng 4-1982, Arthur tiếp tục đào được mỏ vàng thứ hai khi tiếp cận với những tài liệu mật của dự án các tàu chiến tấn công mới nhất của hải quân Hoa Kỳ, mỗi chiếc có thể chở được 2.000 quân và 30 máy bay trực thăng...
Johnny trả Arthur tổng cộng 12.000 USD cho tất cả những tài liệu mật này.
+++++
Tháng 9-1982, Michael Walker, gọi thân mật là Mike, cậu con trai út của Johnny, gia nhập hải quân Hoa Kỳ. Đấy là mong muốn của Johnny và Mike buộc phải tuân theo ý nguyện của bố.
Thật ra thì không phải đến lúc ấy, Mike mới phụ thuộc vào ý chí của bố mình. Vào dịp Giáng sinh năm 1980, theo gợi ý của Johnny, Mike không ở với mẹ tại Maine nữa mà quay về ở với bố mình tại Norfolk. Trong thời gian ở chung với nhau, Johnny đã nhồi vào đầu cậu con trai ý tưởng về phương cách kiếm tiền dễ dàng, đủ để đảm bảo có một đời sống sung túc. Đến tháng 7-1983, sau khi Mike đã gia nhập hải quân, phục vụ tại căn cứ không quân Oceana của hải quân Mỹ ở Virginia Beach, Johnny mới chính thức nói cho Mike biết phương thức đó là gì. Hãy nghe ngóng, thu thập bất cứ tài liệu nào có đóng dấu “mật”, nếu “tối mật” thì càng tốt. Chúng là những mặt hàng có giá, còn đắt hơn vàng và kim cương!
Mike dễ dàng đồng ý. Điệp viên thứ tư trong đường dây nhà Walker đã được kích hoạt, đưa vào hoạt động.
Làm việc ở căn cứ không quân Oceana của hải quân tại Virginia Beach, những tài liệu mật đầu tiên mà Mike có được là về phi đội máy bay F-14 ở căn cứ này. Johnny đưa cho con trai 1.000 USD. Đấy là tiền KGB trả cho những bức ảnh Mike đã chụp được vào đầu tháng 12-1983. Vài tuần sau, Mike cưới cô vợ, Rachel Allen.
Ba tuần sau đám cưới, tháng 1-1984, Mike được điều chuyển từ căn cứ không quân Oceana ở Virginia Beach sang phục vụ trên hàng không mẫu hạm USS Nimitz. Thoạt đầu, Mike chỉ làm lính công vụ, một vị trí không thể nào có điều kiện tiếp cận với các tài liệu mật trên tàu.
Được một thời gian, Mike đề nghị xin chuyển vị trí công tác. Đến tháng 9-1984, khi tàu USS Nimitz rời khỏi xưởng sửa chữa bắt đầu cho một chuyến đi biển kéo dài trong mười ngày, chỉ huy tàu đáp ứng yêu cầu của Mike. Điệp viên mới vào nghề được điều chuyển tới Phòng hành chính thuộc Ban chiến dịch của hàng không mẫu hạm USS Nimitz, nơi hằng ngày Mỉke có thể tiếp cận được các tài liệu mật trên tàu.
Trong số tài liệu này có điện mật liên quan đến các cuộc tập trận, chu trình phối hợp giữa các tàu chiến, chiến dịch của hải quân, các bức điện mật của Cục Tình báo quân đội Mỹ DIA liên quan đến nhiều quốc gia trên thế giới... Đặc biệt quan trọng là những bức điện mật liên quan tới việc phía Mỹ dò tìm các tàu ngầm của hải quân Liên Xô. Ở vị trí công tác trên tàu, Mike được quyền quyết định xem cần phải chuyển những bức điện cho ai, liệu chúng có giá trị không hay chỉ đáng vứt vào sọt rác...
Một môi trường thuận lợi đến mức không thể ngờ tới để hoạt động gián điệp phục vụ đường dây nhà Walker, dưới sự điều hành của ông bố Johnny.
Một tuần sau dịp lễ Tạ ơn năm 1984, Johnny ngồi đọc những tài liệu mật mà Mike mới đánh cắp được gửi về: sổ tay nghi binh và ngụy trang trong chiến thuật của hạm đội; các chiến dịch không kích; các chiến dịch đột kích trên mặt biển; kế hoạch sửa chữa hệ thống phụ trợ; các biện pháp phòng ngừa hệ AN/SLQ-17; tên lửa hạt nhân tấn công mặt đất Tomahawk (TLAM-N); kế hoạch quản lí lực lượng; báo cáo triển khai giữa chuyến đi trên Địa Trung Hải của tàu USS Nimitz; học thuyết tên lửa phòng thủ chống tàu; vệ tinh có thể bị tổn thương; các biện pháp phòng ngừa tác chiến điện tử; sổ tay hướng dẫn sửa chữa tàu USS Nimitz; báo cáo về khả năng bị tổn thương của các vệ tinh trinh sát; khả năng bị tổn thương của vệ tinh CINCLANTFLT; các loại mìn mới của hải quân Hoa Kỳ; mìn phá hủy MK36 và MK40; chiến thuật chỉ huy chống lại mối đe dọa trên mặt đại dương ở hướng Đại Tây Dương; 33 bức điện mật của tình báo hải quân gửi tới tàu USS Nimitz...
Cả một kho vàng. Tuy mới nhập môn nhưng Mike đã ở vào một vị trí thuận lợi hơn bao giờ hết để có thể cung cấp những tài liệu cực kì giá trị cho KGB.
+++++
Hoàn toàn không biết đứa con trai mình dính líu vào hoạt động gián điệp trong đường dây của nhà Walker, cô vợ đã li dị Barbara của Johnny càng ngày càng cảm thấy mình bị đối xử một cách bất công.
Trước đấy, vào ngày 4-7-1983, chính xác là tròn một năm hai ngày sau khi người chồng Mark của Laura bỏ đi và mang theo cậu con trai Christopher, Laura quyết định không thể chịu đựng tiếp tục sống mà không có con nữa. Cô gọi điện cho mẹ, nói rằng bất chấp lời đe dọa của Mark rằng sẽ phanh phui cho FBI biết công việc bí mật mà Johnny đang làm, cô sẽ tới Maryland để đòi lại đứa con của mình. Khi ấy, Barbara đã khuyên con gái không nên làm thế bởi vì như vậy sẽ phá hủy cuộc sống của gia đình, đẩy Johnny vào cảnh sống nốt phần đời còn lại trong tù. Nghe lời mẹ, Laura không làm gì nữa. Cô bỏ đi.
Nhưng Barbara ngày càng uống rượu thường xuyên hơn. Cùng với cô con gái thứ hai Cynthia, hai mẹ con chuyển từ Maine về sống ở mũi Cape Cod, bang Massachusetts. Tháng 7-1984, khi tới thăm nhà con trai vào thời gian Mike đang ở trong căn cứ không quân Oceana, Barbara đã tâm sự với cô con dâu Rachel, rằng: “John là gián điệp. Ông ấy đã hủy hoại cuộc sống của các con và hủy hoại cuộc sống của mẹ”.
Khi Rachel đem chuyện này hỏi chồng mình, Mike nói: “Mẹ lẽ ra nên viết kịch bản phim cho Hollywood”.
Tâm trạng của Barbara càng tệ hơn khi cô con gái đầu lòng Margaret tiết lộ rằng hiện tại, ông chồng cũ Johnny đang dính dấp với một cô gái tóc vàng trẻ hơn rất nhiều, mới có 24 tuổi.
Một ngày tháng 8-1984, Barbara tới văn phòng thám tử tư của Johnny. Xông vào trong văn phòng, Barbara hét toáng lên để tất cả đều nghe thấy: “Anh nợ tôi tiền cấp dưỡng sau li dị. Tôi cần mười ngàn đô la!”
Johnny ra sức xoa dịu Barbara. Chỉ đến khi Johnny viện đến những đứa con chung của họ, Barbara mới chịu ngưng, không làm um lên nữa.
Ngày 23-11-1984, đúng ngày sinh nhật lần thứ bốn mươi bảy của Barbara, tâm trạng người vợ cũ của Johnny tụt xuống đến mức tồi tệ nhất. Từ sáng sớm cho đến chiều, Barbara phải làm việc ở cửa hàng bán những cây thông Giáng sinh. Tháng 11 là tháng có nhiều công việc nên Barbara cảm thấy kiệt sức. Khi lê bước về nhà trong gió rét, Barbara cảm thấy sau quãng thời gian sống gần nửa thế kỉ, có bốn đứa con, cuộc đời mình đã đi tới ngõ cụt, với mái tóc hoa râm và một công việc được trả công ba đô la rưỡi một giờ.
Tối hôm ấy, cô con gái Cynthia và con trai của cô, Tommy, lên 7 tuổi, làm bữa tiệc sinh nhật cho bà ngoại. Sau bữa tối, trong khi Barbara đang ngồi ở phòng khách nghe Tommy tập đàn violin thì chuông điện thoại reo.
Barbara nhấc máy. Đầu dây bên kia là một người mà Barbara không hề chờ đợi, cô con gái thứ ba, Laura. Laura nói: “Hãy giúp con, mẹ ơi!”.
Laura gọi điện thoại từ Fredonia, New York. Trong mười sáu tháng kể từ khi bỏ đi vào tháng 7-1983, Laura đã xin vào làm ở một viện thiết kế mẫu tóc gần Buffalo. Trong thời gian ấy, cô đã tìm thấy Chúa. Chúa đã nhìn thấy những giọt nước mắt và nghe thấy lời khẩn cầu của cô. Chúa nói với Laura rằng đã đến lúc phải giành lại đứa con trai từ tay người chồng cũ, Mark.
- Hãy cứu con, mẹ ơi! - Laura khẩn cầu trước khi gác máy. - Mẹ phải lựa chọn thôi.
Barbara làm tiếp một cốc vodka nữa rồi nhìn chằm chằm vào cái máy điện thoại. Một hồi lâu, Barbara nhấc ống nghe lên rồi quay số: “Làm ơn cho tôi xin số máy văn phòng FBI ở Boston!”.
Im lặng giây lát, rồi một giọng nói cất lên ở bên kia đầu dây:
- FBI đây.
- Tôi muốn báo một việc. - Barbara nói.
- Vâng.
Lại một khoảng im lặng. Barbara cân nhắc, cố gắng không để cho mấy cốc vodka vừa uống làm ảnh hưởng đến giọng của mình, rồi nói:
- Tôi muốn ông biết rằng chồng cũ của tôi là một gián điệp.
+++++
Barbara gọi điện đến văn phòng FBI Boston vào ngày 23-11-1984, nhưng mãi mười hai ngày sau, 5-12-1984, FBI ở Boston mới cử đặc vụ Walter Price tới căn hộ của Barbara ở West Dennis, bang Massachusette, để làm rõ thực hư của vụ việc. Barbara chờ W. Price với một cốc rượu lớn trên tay và uống hết sạch nó trong buổi nói chuyện. Việc này đã gây nên một ấn tượng sâu sắc cho W. Price.
Nhưng ít nhất là trong cuộc nói chuyện, Barbara đã kể cho W. Price được phần lớn những điểm mấu chốt của câu chuyện mà cô ta muốn kể. Sau khi thuật lại tóm tắt tình trạng cuộc hôn nhân của mình với John Walker, Barbara nói bắt đầu nghi ngờ chồng mình làm gián điệp vào quãng cuối năm 1967 (thực ra Barbara đã nhớ nhầm bởi vào thời điểm ấy, John Walker vẫn chưa bắt tay làm gián điệp cho Liên Xô) khi thấy Johnny có quá nhiều tiền. Việc lục lọi ngăn kéo bàn làm việc của Johnny đã khẳng định mối nghi ngờ của Barbara.
Tuy nhiên, Barbara thừa nhận với đặc vụ W. Price rằng mình đã có hai lần đi cùng Johnny tới Washington và tham gia vào trao đổi hàng qua hộp thư chết trong những cánh rừng ngoại ô Washington mà cô ta tin rằng người nhận là các điệp viên Xô viết. Một trong hai lần ấy, theo như Barbara thuật lại, diễn ra vào quãng năm 1969, khi Johnny đã chuyển tới San Diego. Lần ấy, hai vợ chồng nhận được tổng cộng 35.000 USD và chính tay cô ta đã dùng bàn là để là phẳng những tờ đô la cong queo do bị bó tròn thành những cuộn tiền.
Barbara cho biết Johnny đã tuyển mộ người anh trai Arthur và một người bạn thân tên là “Jerry Wentworth” vào đường dây gián điệp do mình điều hành. Người bạn này đã cùng làm việc trong hải quân với Johnny khi ở California và hiện cũng đang ở đâu đó tại California. Johnny cũng từng cố gắng tuyển mộ cô con gái út Laura cùng làm gián điệp với mình. Cậu con trai Michael có biết công việc của bố và đã từng van nài Barbara đừng khai báo với nhà chức trách bởi điều đó sẽ phá hủy cuộc sống gia đình. Barbara nói Michael chưa bao giờ đề cập đến chuyện hoạt động gián điệp và cô ta tin rằng cậu con trai không tham gia hành động cùng với bố mình.
Khi W. Price hỏi Barbara vì sao đến lúc ấy mới tiết lộ câu chuyện, cô vợ cũ của Johnny giải thích là có hai lí do. Thứ nhất bởi vì Johnny từ chối trả khoản tiền đền bù sau li dị mà cô ta đã đòi khi tới chỗ Johnny vào mùa hè năm 1984; thứ hai là vì cô con gái Laura, bởi chồng cũ của Laura dọa sẽ tố cáo việc bố Laura cố gắng tuyển mộ cô nếu như Laura có ý định giành lại đứa con từ anh ta. Bằng việc tố cáo Johnny với FBI, Laura cho rằng mình có thể giành lại đứa con từ tay ông chồng cũ Mark.
Barbara cũng cho W. Price số điện thoại của Laura, người hiện đang sống ở Buffalo.
Quay trở về văn phòng, W. Price soạn báo cáo mang số 302 về cuộc gặp Barbara Walker, thuật lại khá chi tiết nội dung của cuộc nói chuyện. Tuy nhiên, ở cuối bản báo cáo, W. Price điền vào mã số “65-0”. Theo quy định, mã số “65” để chỉ vụ việc liên quan đến một báo cáo về hoạt động gián điệp; còn “0” là để chỉ ra rằng không cần có thêm một cuộc điều tra nào nữa! Có vẻ như câu chuyện về một người cha cố gắng tuyển mộ con gái mình làm gián điệp là quá hoang đường, cộng với ấn tượng về người vợ uống rượu như hũ chìm và thâm thù người chồng cũ, đã khiến văn phòng FBI Boston không mấy tin vào câu chuyện của Barbara.
Chính vì vậy mà câu chuyện của Barbara cứ nằm im lìm trong báo cáo số 302 suốt hai tháng trời. Nhưng đến tháng 2-1985, một thanh tra viên ở văn phòng FBI Boston đọc lại những báo cáo tồn lại trong thời gian trước đó. Ông ta đặc biệt chú ý đến báo cáo về cuộc nói chuyện với người vợ tố cáo ông chồng cũ làm gián điệp. Viên thanh tra bèn sao bản báo cáo của đặc vụ W. Price thành hai bản, một gửi cho Tổng hành dinh FBI ở Washington, bản còn lại gửi cho văn phòng FBI Norfolk bởi trong báo cáo nói rằng cô vợ kể ông chồng cũ vẫn đang sống ở Norfolk.
Trong dòng thác những báo cáo đổ về Tổng hành dinh FBI ở Washington, bản sao báo cáo của viên thanh tra gửi từ Boston không được mấy ai chú ý. Thế nhưng khi bản sao này đến văn phòng FBI Norfolk vào giữa tháng 2-1985 và đặc vụ Robert W. Hunter đọc nó, anh ta nhận thấy câu chuyện có nhiều chi tiết đáng tin. Đặc biệt là mô tả của Barbara về việc giao nhận tài liệu cũng như tiền ở hộp thư chết trong những cánh rừng ngoại ô Washington rất phù hợp với cung cách truyền thống mà KGB thường thực hiện trong nhiều năm trước đấy.
Ngày 25-2-1985, Trưởng văn phòng FBI Norfolk Joe Wolfinger, giao vụ điều tra này cho đặc vụ R. Hunter, người đang là thành viên Nhóm phản gián nước ngoài ở văn phòng FBI Norfolk.
+++++
Việc đầu tiên mà R. Hunter làm là sao tiếp bản báo cáo của văn phòng FBI Boston gửi về Tổng hành dinh FBI cũng như văn phòng khu vực FBI tại Washington, đồng thời đề nghị các văn phòng FBI ở Boston và Buffalo tiếp tục tiến hành thẩm vấn Barbara và Laura để nắm thêm các chi tiết vụ việc.
Đầu tháng 3-1985, hai đặc vụ Paul Culligan và Charles Wagner ở Buffalo gặp và nói chuyện với Laura. Trong cuộc nói chuyện này, Laura thừa nhận Johnny đã cố khuyến khích cô đánh cắp tài liệu mật khi cô đang là nhân viên vô tuyến điện trong quân đội Mỹ năm 1978. Laura đồng ý hợp tác với FBI để điều tra bố mình.
Đặc vụ Paul Culligan đề xuất rằng nên để cho Laura gọi điện thoại cho bố, nói rằng mình đang rất bế tắc về tài chính và có ý định quay lại quân đội. Mục đích của việc này là để thử xem Johnny sẽ phản ứng ra sao.
Đúng lúc ấy thì Paul Culligan nhận được tin đáng lo ngại: Laura nói mẹ cô đã gọi điện cho cả Johnny và ông anh trai Arthur, nói rằng đã phanh phui công việc họ làm với FBI. Vụ điều tra có nguy cơ đổ vỡ ngay từ khi nó mới bắt đầu
Trong tuần lễ thứ hai của tháng 3-1985, R. Hunter đề nghị với Tổng hành dinh FBI cho phép thực hiện một cuộc điều tra toàn diện đối với vụ John Walker bị tố cáo là gián điệp. Điều hành chiến dịch ở Tổng hành dinh FBI là đặc vụ David Szady, người chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động phản gián chống lại tình báo quân đội Liên Xô, do GRU tiến hành. Cho đến lúc ấy, không một ai biết là John Walker làm việc cho KGB hay GRU. Chỉ có một giả định là những thông tin mà John Walker thu thập thuộc về hải quân là thông tin quân sự, do vậy có khả năng thuộc phạm vi của GRU. Nhưng kinh nghiệm của FBI cho thấy hầu hết các vụ án gián điệp lớn lại thuộc quyền điều hành của KGB.
Tổng hành dinh FBI cũng chỉ cho phép Laura thực hiện cuộc gọi thăm dò bố mình khi biết chắc là Johnny chưa bị đánh động.
R. Hunter khẩn cấp gọi cho đặc vụ W. Price ở Boston, người đã thực hiện cuộc nói chuyện đầu tiên với Barbara, đề nghị tới gặp cô vợ cũ của Johnny một lần nữa để tìm hiểu thực hư thông tin về việc cô ta đã nói những gì với Johnny và ông anh trai Arthur.
Mấy ngày sau, W. Price gọi điện thoại, báo là đã gặp lại Barbara. Cô vợ cũ của Johnny cho biết đã nói chuyện với ông anh trai Arthur về việc tố cáo Johnny làm gián điệp, nhưng chưa nói gì với Johnny. Vụ điều tra có vẻ như vẫn còn có hi vọng.
R. Hunter gọi điện cho một người bạn làm việc bên Cục Điều tra hải quân và biết được rằng Michael Walker, con trai của Johnny, hiện phục vụ trên hàng không mẫu hạm USS Nimitz và đang trong một chuyến hải hành ở đâu đó tại Địa Trung Hải. R. Hunter không chắc là liệu Michael có dính dáng đến công việc của bố mình hay không.
Đồng thời, R. Hunter gửi một yêu cầu đến văn phòng FBI San Francisco, đề nghị bắt đầu bí mật tìm kiếm và định vị một người có tên là “Jerry Wentworth”, theo như thông tin mà Barbara đã cung cấp.
Vậy là sau gần bốn tháng trời kể từ khi có cuộc điện thoại trong ngày sinh nhật của Barbara tới FBI, cuối cùng FBI chính thức mở chiến dịch điều tra toàn diện về vụ án gián điệp John Walker. Đặc vụ David Szady, người điều hành chiến dịch ở Tổng hành dinh FBI, đề nghị đặt mật danh chiến dịch là Windflyer, tên con ngựa đua mà anh ta đã đặt cược và chiến thắng trong một cuộc đua.
Ngày 25-3-1985, R. Hunter bay đi Buffalo gặp Laura để chuẩn bị trước cho cuộc trò chuyện của cô với bố mình. Tối hôm ấy, Laura tiếp đón các đặc vụ R. Hunter và J. Culligan tại căn hộ của mình trong tâm trạng khá căng thẳng. Đã hơn hai năm rồi Laura không nói chuyện với bố. Các đặc vụ FBI mất chừng nửa tiếng đồng hồ để chuẩn bị tâm lí cho Laura cùng những câu mà FBI muốn cô nói với Johnny. Cô sẽ không hề đả động đến “những người bạn ở châu Âu” như cái cách mà Johnny nói khi cố gắng tuyển mộ Laura. Sau khi các đặc vụ FBI hoàn thành việc lắp dặt máy nghe lén vào điện thoại của Laura, cuộc nói chuyện qua điện thoại của hai bố con mới bắt dầu.
Qua cuộc nói chuyện, FBI biết được rằng Johnny hiện đang sống với cô bạn gái P. K. Carroll, một nhân viên mới của Sở Cảnh sát Norfolk. Đây là một thông tin rất quan trọng bởi các đặc vụ FBI theo vụ này đã thống nhất rằng cuộc điều tra John Walker phải được giữ tuyệt đối bí mật, kể cả đối với cảnh sát địa phương. Thông qua các mối quan hệ cá nhân, Johnny hoàn toàn có thể phát hiện ra FBI đang dò xét hoạt động của mình và khi ấy, mọi cố gắng của FBI sẽ đổ sông đổ biển.
Laura nói với bố là cuộc sống của mình hết sức khó khăn và cô đang có ý định quay trở lại quân đội. Trả lời con gái, Johnny không nói bất cứ điều gì rõ ràng để có thể dùng làm bằng chứng kết tội mình, nhưng khuyên con gái cơ hội thăng tiến tốt nhất là gia nhập hải quân!
Khi Laura đưa ra đòn thăm dò, nói cô cũng suy nghĩ về khả năng gia nhập CIA, nhưng lo ngại “không vượt qua được kiểm tra trên máy phát hiện nói dối”, John trả lời rằng “con sẽ gặp vấn đề về pháp lí ở đấy”.
FBI hoàn toàn không biết rằng sáu ngày sau cuộc nói chuyện qua điện thoại với con gái, ngày 31-3-1985, Johnny đã tới Washington. Rất có thể đó là một phiên trao đổi qua hộp thư chết, theo đó Johnny thông báo cho KGB biết là cô con gái của mình sắp gia nhập đường dây.
Ngày 2-4, Barbara tới thăm cô con gái đầu lòng Margaret ở Norfolk. Các đặc vụ FBI nhận định rằng nếu như có ai đó báo động cho Johnny biết FBI đang tiến hành một cuộc điều tra nhằm vào các hoạt động gián điệp của viên cựu sĩ quan hải quân thì người đó chỉ có thể là Barbara. Thế nên FBI hẹn gặp trước Barbara. Hai đặc vụ R. Hunter và Beverly Andress đã cho xe đón Barbara cách căn hộ của Margaret vài khối nhà. Barbara cho biết dự định sẽ ở lại thăm Margaret mười ngày và trong khoảng thời gian đó, thế nào Johnny cũng sẽ tìm cách để gặp Barbara.
Đặc vụ R. Hunter nói với Barbara rằng hãy cố bằng mọi cách trì hoãn cuộc gặp cho đến cuối thời gian ở thăm cô con gái Margaret nếu như có thể, đồng thời không được tiết lộ với bất cứ một ai, kể cả Margaret, rằng cô ta đã liên hệ với FBI. Barbara đồng ý.
Đúng như dự đoán, biết Barbara tới thăm con gái ở Norfolk, Johnny đề nghị gặp, có lẽ để thăm dò xem liệu Barbara có tiết lộ gì về công việc của mình hay không. Barbara đề nghị được gắn máy nghe lén trên người và ghi âm lại cuộc nói chuyện nhưng đặc vụ R. Hunter từ chối. Với kinh nghiệm hoạt động gián điệp gần hai chục năm mà không bị phát hiện, Johnny hẳn là phải cảnh giác cao độ. Hơn nữa, là một chuyên gia về vô tuyến điện, Johnny hoàn toàn có khả năng phát hiện ra các thiết bị điện tử nghe lén.
Cuộc gặp diễn ra hôm 11-4-1985, khi Johnny mời cô vợ cũ đi ăn tối ở một nhà hàng McDonald's.
Johnny hỏi Barbara có tiết lộ công việc của chồng mình với ai không và cô vợ cũ khẳng định rằng: “Tôi chưa hề nói về công việc của anh với bất cứ ai và sẽ không bao giờ có ý định làm thế”. Johnny nói rất vui khi nghe Barbara khẳng định như vậy, bởi không muốn một ngày nào đó sẽ phải trả lời phỏng vấn chương trình truyền hình 60 Minutes của đài CBS từ một xà lim. Johnny nói đã kể với tất cả những đứa con của hai người, trừ Margaret, là Barbara cần phải ngậm miệng lại và mấy đứa con đều đồng ý như thế.
- Nếu cô tiết lộ ra thì chính cô sẽ phá hủy sự nghiệp của Michael. - Johnny nói.
Sửng sốt, Barbara hỏi lại:
- Ý anh là Michael đang làm việc cùng với anh?
- Không, không, - Johnny nhanh chóng trấn an Barbara. - Tôi không nói thế. Ý của tôi chỉ là Michael đang làm công việc liên quan đến lĩnh vực bí mật và nếu cô nói ra điều gì đó thì sẽ chấm dứt mọi cơ hội của nó.
Đưa Barbara quay về nhà Margaret, trước khi cô vợ cũ xuống xe, Johnny nói:
- Tôi biết cô sẽ không khai báo ra tôi. Tôi biết cô không muốn ông chồng năm mươi tuổi của mình sẽ sống phần đời còn lại trong tù.
Tuy chưa có bất cứ một bằng chứng vững chắc nào để có thể kết tội John Walker làm gián điệp nhưng FBI đã thành công trong việc xin phép Tòa án giám sát tình báo nước ngoài ở Washington cho phép đặt máy nghe lén ở tất cả các đường dây điện thoại của Johnny. Johnny có năm đường dây điện thoại bàn, một ở căn hộ tại 8524 đường Old Ocean View tại Norfolk, một trên du thuyền đậu tại bến tàu Willoughby Spit cũng tại Norfolk và ba đường điện thoại ở công ty tại 405 đường South Parliament, khu Virginia Beach. Các đặc vụ FBI chia ra làm ba ca, mỗi ca tám tiếng, nghe suốt ngày đêm và ghi lại tất cả những cuộc nói chuyên diễn ra trên các đường điện thoại này.
+++++
Đến giữa tháng 3-1985, cuộc điều tra độc lập của văn phòng FBI San Francisco về nhân vật bí ẩn mang mật danh Rus không mang lại bất cứ một tia sáng nào để có thể hi vọng lần ra đó là ai, hoạt dộng cho đường dây nào, đã tồn tại trong bao lâu...
Các đặc vụ J. Peterson và B. Smits quyết định tiếp tục cầu may bằng cách cho đăng quảng cáo trên tờ Los Angeles Times trong ba kì liên tiếp vào các thứ hai, ngày 1, 8 và 15-4-1985. Nội dung mẩu tin quảng cáo viết: “Rus: lâu nay chúng tôi không nghe thấy tin tức gì từ anh. Hiện tại anh thế nào? Vẫn có thể đạt tới thỏa thuận có lợi cho cả hai phía. Chúng tôi vẫn cân nhắc. Chờ tin từ anh”.
Trong khi họ tiếp tục chờ đợi một cách vô vọng sự phản hồi từ Rus thì nhận được tin từ đặc vụ R. Hunter ở văn phòng FBI Norfolk, đề nghị bí mật điều tra, tìm kiếm một nhân vật có tên “Jerry Wentworth”. Tiếp đó, họ nhận được biên bản tóm tắt hai cuộc thẩm vấn Barbara Walker và Laura Walker.
Biên bản tóm tắt cuộc thẩm vấn Barbara viết: “Bà Walker tin rằng John đã tuyển mộ người anh trai Arthur Walker, một trung úy hải quân Hoa Kỳ về hưu, và một người bạn, Jerry Wentworth, một chuyên gia về lĩnh vực thông tin trong hải quân Hoa Kỳ, vào hoạt động gián điệp cùng với anh ta trong giai đoạn từ 1968 đến 1976”.
Biên bản kia viết: “Laura tin là cha cô ta, John Anthony Walker, vẫn liên quan đến hoạt động bất hợp pháp, bán tài liệu mật của Hoa Kỳ, cũng như tiếp tục có quan hệ mật thiết với một người bạn, Jerry Wentworth, tại San Leandro, California, người đã liên quan đến các hoạt động đó trong quá khứ”.
B. Smits ngay lập tức triển khai hoạt động điều tra theo hướng mới. Vì San Leandro nằm trong khu vực phụ cận của văn phòng FBI ở Oakland nên đặc vụ Robert Griego, người phụ trách địa bàn Oakland, được giao nhiệm vụ truy tìm “Jerry Wentworth”.
Thoạt tiên, khi lái xe đến San Leandro, R. Griego nghĩ việc tìm ra “Jerry Wentworth” dễ như ăn kẹo! Thế nhưng đến khi vào việc rồi thì mới thấy không phải thế. Tên của “Jerry Wentworth” không có trong bất cứ một cuốn danh bạ điện thoại hay sổ tay chỉ dẫn địa chỉ nào. Cũng không tìm thấy cái tên này trong danh sách ở sở thuế. Sở điện không tìm thấy một khách hàng nào đóng tiền điện tên là “Jerry Wentworth”. Cảnh sát địa phương chưa bao giờ nghe thấy một cái tên nào như thế. Bất cứ ai ở San Leandro mà R. Griego tiếp xúc đều chưa từng biết người nào khớp với những đặc điểm mà viên đặc vụ FBI mô tả.
R. Griego tiếp tục mở rộng phạm vi tìm kiếm sang khu vực xung quanh, ở Sở chỉ huy hải quân khu vực tại San Francisco, nhưng vẫn không có manh mối nào.
Từ Tổng hành dinh FBI ở Washington, đặc vụ D. Szady cố gắng hỗ trợ R. Griego bằng cách cung cấp thêm một số chi tiết từ những lời khai của Barbara Walker. Theo Barbara thì cô ta đã từng nghe cô con gái Margaret kể lại rằng “Jerry Wentworth” đã về hưu từ quân chủng hải quân rồi trở thành một nhà môi giới chứng khoán. Nhưng R. Griego xác định được chắc chắn rằng trong toàn bộ địa bàn California, không có bất cứ một nhà môi giới chứng khoán nào tên là “Jerry Wentworth”. Nếu quả thật “Jerry Wentworth” đã về hưu từ hải quân thì có nghĩa là hiện tại anh ta đang sống đâu đó ở Mỹ hoặc thậm chí, bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ.
Đến đầu tháng 5-1985 thì R. Griego báo cáo rằng không có bất kì manh mối nào để có thể tìm thấy một người tên là “Jerry Wentworth”. Cũng không nhận được bất kì một phản hồi nào từ Rus cho những mẩu quảng cáo trên tờ Los Angeles Times. Có vẻ như toàn bộ cuộc điều tra đang giẫm chân tại chỗ.
Nhưng lúc đó, ở Washington có một số bước tiến triển. Sau khi tham khảo, tổng hợp tất cả mọi dữ liệu, kể cả những chi tiết mới do Barbara cung cấp, Nhóm phân tích của FBI đi tới một giả thiết. Thông qua đường truyền bảo mật, đặc vụ D. Szady gửi cho đặc vụ B. Smits ở San Francisco một bức điện tín: “Nhóm phân tích FBI cho rằng J. Wentworth có thể là Rus. Chờ thêm thông tin sau”.
Khi B. Smits đọc những bản ghi chép nội dung các cuộc thẩm vấn Barbara, viên đặc vụ này cảm thấy giả thiết của Nhóm phân tích có lí. Barbara kể cô ta đã có đôi lần nói chuyện với “J. Wentworth” về hoạt động gián điệp của John Walker. “J. Wentworth” nói anh ta miễn cưỡng tham gia vào các hoạt động đó, nhưng Barbara tin rằng “J. Wentworth” tự nguyện bởi anh ta và John duy trì một mối quan hệ đặc biệt thân thiết. Mặc dù kể từ năm 1976 đã không gặp “J. Wentworth” nhưng thông qua mấy đứa con của mình, Barbara biết là John Walker vẫn đều đặn bay sang California để gặp J. Wentworth và ngược lại, “J. Wentworth” cũng thường xuyên tới Norfolk để gặp John.
Barbara miêu tả J. Wentworth là một người đàn ông da trắng, từng tham gia hải quân, có thể ở cương vị chỉ huy một đơn vị nhỏ, chừng bốn mươi tuổi. Barbara nói với vẻ không chắc chắn lắm, rằng giống John Walker, J. Wentworth cũng là một chuyên gia về thông tin. Vợ của anh ta, Brenda, chừng hai mươi tuổi, đã từng theo học cao đẳng hoặc đại học tổng hợp ở Berkeley.
B. Smits suy đoán nếu vợ của “J. Wentworth” (cũng có thể chính là Rus) đã từng học một trường học nào đó gần Berkeley thì rất có thể cô ta vẫn sống ở đâu đó gần đấy. Nhưng ở đâu? B. Smits gửi một bức điện tín cho D. Szady, đề nghị cung cấp thêm những chi tiết mới từ các cuộc thẩm vấn Barbara và Laura.
Ngày 10-5-1985, các đặc vụ FBI tiếp tục thẩm vấn Laura. Mặc dù hết sức cố gắng nhưng Laura vẫn không thể nhớ được chính xác địa chỉ của “J. Wentworth” ở San Leandro. Tuy nhiên, Laura miêu tả lại cho các đặc vụ FBI tuyến đường mà cô đã đi trong một lần tới chỗ căn hộ của “J. Wentworth” vào năm 1982. Laura cũng nhớ rằng trong năm 1982 ấy, cô đã hai lần gọi điện thoại cho “J. Wentworth”. Rất may là Laura vẫn còn lưu được số điện thoại này trong sổ tay.
Các đặc vụ FBI ở Washington gửi tới San Francisco cho R. Griego số điện thoại này. Chừng gần một giờ đồng hồ sau, viên đặc vụ FBI quay số điện thoại này, đề nghị được nói chuyện với “Jerry Wentworth”. Người đàn ông ở đầu dây bên kia nói với R. Griego rằng anh ta đã gọi nhầm số máy rồi. Không có ai tên là Wentworth ở đó và người chủ trước của ngôi nhà cũng không phải tên như thế.
Một lần nữa, cuộc điều tra lại đi vào ngõ cụt.
FBI Washington gửi cho R. Griego bản mô tả tuyến đường mà Laura đã từng đi khi tới căn hộ của “J. Wentworth” mấy năm trước đó. Theo bản mô tả này, căn hộ của “J. Wentworth” có hàng rào hoặc bức tường gạch nhỏ bao quanh khu vực đỗ xe nằm ngay bên cạnh một tòa nhà cao tầng.
R. Griego bỏ ra hai ngày để lần theo tuyến đường mà Laura đã mô tả cho các đặc vụ FBI và tìm thấy một tòa nhà cao tầng có vài nét giống như trong bản mô tả, tuy không hoàn toàn ăn khớp cho lắm. Người quản lí tòa nhà khẳng định với R. Griego rằng không có ai tên là Wentworth sống trong tòa nhà này, ít nhất là trong năm năm qua.
Khi theo khóa đào tạo tại Học viện FBI ở Quantico, R. Griego được dạy là cần hết sức kiên nhẫn và vận dụng tối đa trí tưởng tượng khi tiến hành một vụ điều tra. R. Griego suy đoán “J. Wentworth” có thể vẫn đăng kí tên trong một cuốn danh bạ điện thoại cũ và địa chỉ cũ có thể dẫn tới địa chỉ hiện tại của anh ta. Tìm kiếm qua hồ sơ ở Văn phòng điện thoại San Leandro, R. Griego tìm thấy số máy mà Laura cung cấp có chủ sở hữu, một người tên là Jerry A. Whitworth!
Phải chăng Laura nhớ nhầm tên của người đàn ông đã cộng tác với cha mình? Một lần nữa, các đặc vụ FBI lại gặp Laura và hỏi kĩ, liệu tên của người đó có phải là Whitworth? Đúng rồi. Nay thì Laura nhớ lại chắc chắn người đó tên là Whitworth!
Thông qua Sở đăng kí giấy phép lái xe, R. Griego xác định được Jerry Alfred Whitworth, giấy phép lái xe số KOO57374, hiện sống tại 118 đường Full Circle, Davis, California.
Tuy chưa có gì khẳng định chắc chắn rằng Wentworth, Whitworth và Rus là cùng một người nhưng B. Smits có linh cảm họ đã đi đúng hướng. Tra cứu lại lí lịch công tác của Jerry Whitworth trong thời gian ở hải quân, B. Smits xác định được rằng trong thời kì từ 20-10-1970 đến 30-1-1973, Jerry Whitworth đã từng làm giáo viên hướng dẫn ở Trường Thông tin tại San Diego.
Đối chiếu với lí lịch công tác của John Walker, B. Smits nhận thấy trong khoảng thời gian mười tám tháng, từ 1970 đến 1971, John Walker làm chỉ huy khóa học mà Whitworth làm giáo viên hướng dẫn ở Trung tâm huấn luyện hải quân tại San Diego.
- Nhìn xem này. - B. Smits nói với đặc vụ J. Peterson. - Walker đã từng là sếp của Whitworth.
Con đường của hai điệp viên đã giao nhau ở San Diego.
Cho dù xác định được chắc chắn rằng Wentworth chính là Whitworth và có thể cũng chính là Rus, thế nhưng hai đặc vụ FBI đều hiểu rằng có rất ít bằng chứng đủ mạnh để kết tội Whitworth làm gián điệp. Những lời khai của cả Barbara lẫn Laura là về những sự kiện đã diễn ra từ nhiều năm trước, phần lớn dựa trên lời nghe kể lại, rất ít độ tin cậy. Bản thân cả hai người còn không nhớ nổi tên chính xác của Whitworth. Đúng là John Walker và Jerry Whitworth có biết nhau, thậm chí là bạn của nhau, nhưng điều đó không đủ sức nặng để kết tội J. Whitworth. Bởi đơn giản không phải tất cả mọi bạn bè hay những người có quan hệ với John Walker đều làm gián điệp.
Các đặc vụ FBI biết rằng mình sẽ còn phải vượt qua nhiều chông gai nữa mới có thể kết thúc vụ án săn tìm con người bí ẩn mang mật danh Rus.
+++++
Trong khi ấy, các đặc vụ FBI ở Norfolk kiên trì nghe trộm các cuộc hội thoại trên đường dây điện thoại của John Walker. Đặc vụ R. Hunter suy đoán nếu như có một quy trình liên lạc giữa John Walker với tình báo Xô viết thì KGB sẽ không mạo hiểm cử người tới Norfolk để kết nối với John. Lí do vì Norfolk là nơi tập trung khá nhiều cơ sở của quân đội Mỹ, tình trạng an ninh tương đối thắt chặt. Do đó, nhiều khả năng là John Walker sẽ phải đi đâu đó để bắt liên lạc với điệp viên KGB. Thế nên các đặc vụ nghe lén phải đặc biệt chú ý đến những nội dung nói chuyên cho thấy John Walker có kế hoạch đi xa.
Khoảng 8 giờ tối ngày thứ năm, 16-5-1985, mẹ của John Walker, bà Margaret Walker gọi điện thoại, báo cho con trai biết là bà dì Amelia mới mất, đám tang sẽ tổ chức ở Pennsylvania vào thứ bảy, ngày 18-5-1985. John nói với mẹ là mặc dù rất muốn dự đám tang nhưng do có việc phải làm ở North Carolina nên sẽ không thể tới được.
Sau đấy, John gọi điện cho ông anh trai Arthur, thông báo về cái chết của bà dì. Cả hai thống nhất sẽ gửi vòng hoa đến viếng; hai anh em còn tranh cãi một lúc xem ai là người sẽ trả tiền cho vòng hoa.
John Walker cũng gọi điện cho cô bạn gái P. K. Carroll, kể về cái chết của bà dì. Cô bạn gái nói John nên đi dự đám tang, nhưng John nói không thể được vì có một công việc mà chỉ mình mới làm được.
Các đặc vụ FBI lập tức báo động. Họ biết bà dì Amelia rất thân thiết với John và John đã sống với bà dì này một thời gian khi còn nhỏ. Phải có một công việc quan trọng nào đó mới khiến John không thể tham dự đám tang bà dì mình. Rất có thể John sẽ tiến hành công việc đó trong hai ngày thứ bảy hoặc chủ nhật và FBI quyết định tăng cường độ giám sát vào dịp cuối tuần.
Ngày 17-5, các đặc vụ FBI nghe thấy John nói với một người là mình sẽ đi Nags Head; sau đấy lại nói với một người khác là mình chuẩn bị đi Charlotte. Chắc chắn John đang nói dối về địa điểm mình sắp tới. Tiếp đó, trong khi trao đổi với một nhân viên trong văn phòng của mình, John nói sẽ đi khỏi thành phố vào dịp cuối tuần và trở lại văn phòng làm việc vào thứ hai, có thể vào cuối giờ sáng hoặc đầu giờ chiều.
Chính cuộc nói chuyện với người nhân viên này đã khiến FBI quyết định thực hiện biện pháp giám sát ngặt nghèo mọi động tĩnh di chuyển của John, trong đó đặc biệt quan trọng là sử dụng máy bay trực thăng để giám sát. Hai đặc vụ John Hodges và Henry “Hank” Bolin đảm nhiệm công việc này. H. Bolin, một cựu phi công máy bay chiến đấu của lực lượng thủy quân lục chiến, sẽ lái máy bay trong khi J. Hodges quan sát chiếc xe của John di chuyển để hướng dẫn cho các xe trên mặt đất của FBI bám theo. Việc sử dụng biện pháp theo dõi bằng trực thăng cho phép loại trừ tối đa khả năng John phát hiện ra mình đang bị giám sát.
Toàn bộ điệp vụ giám sát được bắt đầu từ 7 giờ sáng thứ bảy, ngày 18-5-1985.
Nhưng John có thời gian nhàn tản trong suốt cả ngày 18-5. Các đặc vụ FBI bám theo John không phát hiện được bất cứ một động thái khác lạ nào của đối tượng mà họ theo dõi.
Quá trưa ngày 19-5 một chút, từ trên trực thăng, đặc vụ J. Hodges thông báo cho các đơn vị FBI giám sát rằng John Walker đã vào trong chiếc xe mới hiệu Chevrolet Astro đời 1985 của mình và bắt đầu lái xe rời khỏi Norfolk. Trên đường đi, John nhiều lần dừng lại quan sát, thay đổi hướng đi để kiểm tra xem có bị bám theo không. Các đặc vụ FBI mặt đất giữ khoảng cách an toàn để tránh bị phát hiện, nhường toàn bộ quy trình giám sát cho máy bay trực thăng. Đặc vụ FBI Joe Wolfinger chỉ huy chiến dịch giám sát từ một chiếc xe của FBI, liên lạc với các đặc vụ hiện trường thông qua hệ thống vô tuyến điện.
Sau khi ra khỏi Norfolk, John không lái xe về hướng nam tới North Carolina mà lại quay sang hướng bắc, theo đường liên tiểu bang số 64.
Trước đấy, từ những lời khai của Barbara, FBI biết rằng ít nhất trước thời điểm năm 1976, người điều khiển John Walker là điệp viên Xô viết, cho dù là của KGB hay GRU, ở địa bàn Washington. Ngay cả sau khi đã chuyển sang sống ở khu vực Bờ Tây nước Mỹ tại California, John Walker vẫn tiếp tục giao nhận tiền và tài liệu qua các hộp thư chết quanh khu vực Washington bên Bờ Đông. Dĩ nhiên là phía Xô viết có thể thay đổi địa điểm của các hộp thư chết, nhưng cả Joe Wolfinger ở văn phòng Norfolk lẫn đặc vụ David Szady tại Tổng hành dinh FBI đều giả định rằng nếu tiếp tục hoạt động, rất có thể John Walker sẽ vẫn liên lạc với điệp viên Xô viết ở khu vực Washington.
Thế nên J. Wolfinger đã thống nhất với David Szady tại Tổng hành dinh FBI rằng một khi John Walker đi vào địa phận Washington, công tác theo dõi sẽ được chuyển giao cho FBI địa bàn Washington. Người phụ trách chiến dịch giám sát trên thực địa ở khu vực Washington là đặc vụ Jackson Lowe.
Vài phút sau 2 giờ chiều ngày 19-5, máy nhắn tin của J. Lowe nhận tín hiệu bíp thông báo có tin nhắn. Đấy là tin báo của J. Wolfinger: “Windflyer có thể đang trên đường tới chỗ các anh. Hắn ta đang đi theo hướng bắc về phía Richmond, trên đường liên tiểu bang số 64”.
Tin nhắn này được đồng thời gửi tới 65 đặc vụ và các nhân viên dân sự khác của FBI. Họ triển khai trên 20 xe theo dõi của FBI để đón lõng John tại khu vực Washington.
Người của đội giám sát Norfolk đang theo John lúc này là nữ đặc vụ Beverly Andress. Lúc 3 giờ 20 phút chiều, khi tới gần Woodbridge, Virginia, nữ đặc vụ này bàn giao nhận dạng chiếc xe màu trắng của John Walker cho các đặc vụ giám sát địa bàn Washington.
Đến 3 giờ 45 phút chiều, máy bay trực thăng giám sát báo cáo về trung tâm chỉ huy FBI điều hành chiến dịch là đã xác định John đang đi về hướng tây bắc theo đường liên tiểu bang 495, vào khu vực phụ cận thủ đô Washington. Sau khi vượt qua sông Potomac đến Maryland, khoảng 4 giờ chiều, John rời khỏi đường 495 và lái xe vào khu vực những rừng cây rậm rạp ở hạt Montgomery.
Đến 5 giờ chiều, đặc vụ phụ trách hiện trường J. Lowe báo cáo về trung tâm điều hành chiến dịch giám sát: Chúng tôi mất dấu anh ta rồi!
Lí do là bởi vì các đặc vụ FBI trên mặt đất không dám cho xe theo dõi tiếp cận quá sát với John bởi lo sẽ bị phát hiện. Công việc giám sát chủ yếu là từ trên không, nhờ máy bay trực thăng. Nhưng khi John lái xe vào những cánh rừng rậm rạp, trực thăng đã không thể định vị được xe của John bởi những tàng cây dày đã che chắn hết tầm quan sát của các đặc vụ FBI trên trực thăng.
Không khí bi quan bao trùm toàn bộ các đội giám sát cùa FBI tham gia vào chiến dịch theo vết John Walker.
+++++
Trước đấy, đặc vụ J. Lowe đã từng nghiên cứu kĩ càng các bản ghi chép những cuộc nói chuyên của FBI với Barbara. Cô vợ cũ của John đã thuật lại một lần đi cùng với John Walker để trao đổi tiền và tài liệu, diễn ra từ mười sáu năm trước đó. Hai người bay từ California tới Washington, đăng kí thuê phòng ở một nhà trọ tại Fairfax, Virginia, đến chiều thì lái xe về vùng quê, nơi John đã hai lần rời xe đi vào trong rừng. Khi màn đêm buông xuống, họ quay lại những chỗ đó. Tại một vị trí nơi lúc chiều John đã dừng lại, John đặt một túi đầy những cuộn phim đã chụp; khoảng một lúc sau đó, John dừng lại ở vị trí thứ hai, cũng là nơi lúc chiều John đã ra khỏi xe, và lấy một gói, trong đó có 35.000 USD...
J. Lowe suy đoán nếu John thoát khỏi sự giám sát của FBI thì rất có thể anh ta sẽ lặp lại chu trình đã tiến hành vào năm 1969, như Barbara kể lại. Có nghĩa là vẫn còn khả năng John sẽ quay lại. Bởi thế, J. Lowe chỉ thị cho các đặc vụ tiếp tục mật phục ở những tuyến đường mà John đã đi qua trước đó, không làm gì khác ngoài việc kiên nhẫn chờ đợi.
Trong lúc đó, từ Tổng hành dinh FBI, D. Szady chỉ đạo một máy bay trực thăng giám sát thứ hai lên thay chiếc thứ nhất, lúc này đã cạn nhiên liệu.
Rồi sau 8 giờ tối một lúc, D. Szady nghe thấy giọng của đặc vụ J. Lowe vang lên trong máy bộ đàm: “Chúng tôi thấy anh ta rồi! Anh ta đang quay lại con đường Glen Mill đã đi lúc chiều!”.
Tới gần giao lộ giữa các đường Branch, Circle và Ridge, John đỗ xe lại, ra khỏi xe như tìm kiếm một cái gì đó rồi vào xe lái đi tiếp vào lúc 8 giờ 19 phút tối.
Lúc 8 giờ 20 phút, đặc vụ James Kolouch, người ngồi cùng xe với J. Lowe, qua bộ đàm, báo cáo một tình tiết mới bất ngờ nảy sinh. Họ phát hiện thấy một chiếc xe hiệu Malibu màu xanh đời 1983, biển số DSX144 xuất hiện trong khu vực. Tiếp đó, một đặc vụ giám sát khác báo cáo trong xe có một người đàn ông lái xe, đi cùng với một phụ nữ và một trẻ em.
DSX là biển số đăng kí dành cho các nhà ngoại giao Xô viết. Con số 144 sẽ xác định tên của chủ đăng kí xe. Qua hệ thống máy tính, FBI nhanh chóng xác định được chủ xe là Aleksei Gavrilovich Tkachenko, từ tháng giêng năm 1983 là bí thư thứ ba tại sứ quán Liên Xô ở Washington. FBI biết chắc A. Tkachenko là một sĩ quan KGB. FBI cũng nhanh chóng xác nhận người phụ nữ và đứa trẻ trong xe là vợ và con của A. Tkachenko.
Sự xuất hiện của một điệp viên KGB cùng trong khu vực với John đã xác định rõ ràng bản chất của sự kiện: Đây là cuộc chơi của KGB.
Bóng tối ngày càng dày đặc giờ đây trở thành đồng minh của các đặc vụ FBI. Trong bóng đêm, cả các xe giám sát trên mặt đất lẫn chiếc trực thăng trên không đều có thể dễ dàng xác định được vị trí của đối tượng họ theo dõi nhờ ánh đèn pha của chiếc xe John đang lái. Vào lúc 8 giờ 30 phút tối, các đặc vụ FBI thấy John rời khỏi xe ở vị trí gần điểm giao nhau giữa đường Dufief Mill và đường Quince Orchard, đi vòng quanh một cái cột. Sau khi John rời đi, J. Lowe kiểm tra kĩ khu vực xung quanh cái cột và tìm thấy một vỏ lon nước ngọt 7-Up, có một chấm màu da cam vẽ trên đó.
Các nhân viên của cả KGB lẫn FBI, nếu có kinh nghiệm hoạt động mật, đều biết rằng sự xuất hiện của cái vỏ lon nước ngọt mang một thông điệp rõ ràng: Tôi hiểu rõ những chỉ dẫn gần đây nhất của các anh; tôi đang có mặt trong khu vực; tôi sẽ gửi tài liệu ở hộp thư chết của tôi; tôi cũng sẽ nhận tài liệu ở hộp thư chết của các anh theo thời gian biểu định trước; tôi tin rằng khu vực của chúng ta an toàn.
Dùng cái áo của mình bọc tay tránh để lại dấu vết, J. Lowe kiểm tra kĩ vỏ lon nước ngọt để biết chắc nó hoàn toàn rỗng rồi cẩn thận đặt vào chỗ cũ, sao cho A. Tkachenko có thể dễ dàng nhìn thấy nó. Qua máy bộ đàm, J. Lowe thông báo cho toàn bộ các đặc vụ đang giám sát biết về vị trí của cái vỏ lon, đồng thời lưu ý: “Hãy nhớ kĩ, trên vỏ lon có thể có dấu vân tay và đó là bằng chứng”.
Mệnh lệnh của J. Lowe đã bị các đặc vụ FBI đang giám sát hiểu sai. Họ tới chỗ cái vỏ lon 7-Up và cẩn thận mang nó đi! Có lẽ chính vì thế mà khi A. Tkachenko tới vị trí của cái lon, viên bí thư thứ ba của sứ quán Liên Xô đã không tìm thấy nó. Đối với điệp viên KGB A. Tkachenko, điều đó có nghĩa là John Walker không tiến hành được việc trao đổi tài liệu như định trước, hoặc John cảm thấy nguy hiểm và đã rời đi.
Bởi thế nên A. Tkachenko cũng quyết định rời đi, mang theo 200.000 USD dự định sẽ để lại ở hộp thư chết cho John. Các đặc vụ FBI quan sát thấy A. Tkachenko rời khỏi khu vực vào lúc 9 giờ 08 phút tối, đi theo đường River.
Trong khi ấy, John Walker tiếp tục lặp lại lộ trình đã đi lúc chiều, di chuyển cách giao lộ giữa đường Partnership và Whites Ferry khoảng bốn dặm. Tới gần một cây sồi to có một tấm biển đề “Cấm săn bắn”, John rời khỏi xe và biến vào bóng đêm trong khoảng vài phút, sau đó quay lại và lái xe rời đi. Các đặc vụ bám theo John tới một trung tâm mua sắm ở ngoại ô, trong khi một nhóm khác lùng sục quanh vị trí mà John mới rời khỏi. Lúc 9 giờ 41 phút tối, họ tìm thấy một bọc to dưới lớp rác, bên trong là những tài liệu mật.
Nhận được tin báo, D. Szady ra lệnh: “Đừng mất thời gian kiểm tra. Mang nó về ngay Tổng hành dinh”.
Lúc 10 giờ 45 phút tối, hai đặc vụ FBI mang bọc tài liệu mật thu được về tới tòa nhà Tổng hành dinh FBI ở Đại lộ Pennsylvania. Các đặc vụ nhanh chóng kiểm đếm được tổng cộng tất cả 129 tài liệu tuyệt mật, trong đó phần lớn có xuất xứ từ hàng không mẫu hạm USS Nimitz, nơi cậu con trai Michael của John đang phục vụ. Không nghi ngờ gì nữa, John đã tuyển mộ thành công cậu con trai vào đường dây gián điệp của mình.
Trong lúc đó, vào quãng 10 giờ 15 phút tối, các đặc vụ FBI thấy John lái xe quay trở lại khu rừng và tìm kiếm một cái gì đó ở giữa hai cây cổ thụ gần giao lộ giữa đường Old Bucklodge và White Ground. Không thấy gì, John lái xe đi một quãng, dừng lại, kiểm tra trên bàn đồ rồi quay lại chỗ hai cái cây, tiếp tục dùng đèn pin để tìm kiếm, vẫn không thấy gì, John lái xe quay lại chỗ lúc trước đã để lại bọc rác và phát hiện ra là nó cũng đã không còn ở đó nữa.
Đến lúc này thì John bắt đầu cảm thấy có gì đó bất thường. Nếu KGB đã lấy đi gói tài liệu thì họ phải để lại cái gì đó ở khu vực giữa hai cái cây cổ thụ. Còn nếu vì lí do nào đó, KGB quyết định không để lại cho John cái gì thì bọc tài liệu vẫn phải còn ở chỗ cũ chứ. Bối rối, John cứ đi đi lại lại giữa hai địa điểm, hi vọng sẽ tìm thấy một cái gì đó mà A. Tkachenko để lại. Các đặc vụ FBI vẫn tiếp tục giữ một khoảng cách an toàn, đủ để John không nhận ra là mình đang bị theo dõi.
Trong thời gian dó, FBI đã nhận được sự chuẩn y của John Dion, người đứng đầu Đơn vị chống gián điệp thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, cho phép bắt giữ John Walker. Cho đến trước thời điểm John Walker để lại gói tài liệu mật ở hộp thư chết, FBI vẫn chưa có bằng chứng nào đủ mạnh để có thể kết tội John làm gián điệp. Gói tài liệu thu được ở vị trí gần tấm biển “Cấm săn bắn” đã đủ làm cơ sở đề ra quyết định bắt giữ John Walker.
Khi J. Dion chuẩn y lệnh bắt giữ, đặc vụ R. Hunter thuộc văn phòng FBI Norfolk, người chịu trách nhiệm trực tiếp tiến hành vụ điều tra John Walker, gọi điện cho đặc vụ J. Lowe ở hiện trường, đề nghị đặt John Walker dưới sự giám sát gắt gao. Khi ấy, John Walker đã lái xe quay về nhà trọ Ramada tại Rockville. Các đặc vụ FBI dự tính sẽ chặn bắt John ngay ở dưới sảnh của nhà trọ, nhưng khi họ vào đến nơi thì đã không thấy John đâu cả! Thì ra trong thời gian FBI mất dấu John vào buổi chiều, viên cựu sĩ quan hải quân đã kịp đăng kí ở nhà trọ dưới một cái tên giả là John A. Johnson. Thế nên khi vào đến nhà trọ, John có thể nhanh chóng lên thẳng phòng mình mà không cần mất thời gian ở khu vực tiếp tân. Phòng của John đăng kí dưới tên giả mang số 763.
Theo truyền thống của FBI, đặc vụ nào trực tiếp tiến hành cuộc điều tra sẽ có vinh dự thực hiện việc bắt giữ nghi phạm chính. Bởi vậy, đặc vụ D. Szady cử đặc vụ R. Hunter tới nhà trọ để thực hiện vụ bắt giữ John Walker. Phối hợp cùng R. Hunter là đặc vụ Jim Kolouch. Cả hai ở trong căn phòng số 750, gần phòng của John.
Các đặc vụ FBI thống nhất giờ bắt giữ John sẽ vào 3 giờ rưỡi sáng, lúc tất cả các khách trong nhà trọ đã ngủ say. Biết John sở hữu một khẩu súng ngắn 38 li, các đặc vụ bàn tính kĩ để không xảy ra một vụ đấu súng om sòm có thể làm các khách trọ cũng như chính các đặc vụ gặp nguy hiểm. Việc đạp cửa xông vào phòng John chứa đựng nhiều rủi ro.
Biết hai tuần trước đấy, John vừa mua chiếc xe mới mà viên thám tử tư sử dụng trong chuyến đi này, các đặc vụ FBI dự tính dùng nó làm mồi nhử để điều John ra khỏi phòng.
Vào lúc 3 giờ rưỡi sáng, đặc vụ R. Hunter và J. Kolouch khoác áo chống đạn, đứng phục ở gần lối vào thang máy tầng bảy, khuất tầm mắt của John Walker nếu như viên cựu sĩ quan hải quân có ra khỏi phòng 763. Cùng lúc đó, đặc vụ Bill Wang đóng giả nhân viên lễ tân ở tầng một, gọi điện thoại vào phòng của John, nói rằng có một gã say rượu đã đâm xe vào chiếc xe mới của John; liệu ngài “Johnson” có thể xuống dưới lễ tân để bàn bạc về việc khắc phục hậu quả hay không?
Từ chỗ nấp của mình, đặc vụ R. Hunter và J. Koỉouch nghe thấy tiếng cửa phòng của John mở ra, nhưng không thấy John xuất hiện. Sau đó một lát, lại thấy tiếng cửa phòng mở lần nữa, nhưng John vẫn không ra chỗ thang máy. Rất có thể John đã nghi ngờ và đang quan sát động tĩnh.
Sau khoảng mười lăm phút, một lần nữa, hai đặc vụ lại nghe thấy tiếng cửa phòng 763 mở ra. Lúc đó là 3 giờ 45 phút sáng. Khi John Walker chạm tay vào nút bấm thang máy, hai đặc vụ R. Hunter và J. Kolouch từ chỗ nấp xuất hiện. Cùng lúc, John quay lại, khẩu Smith & Wesson nòng 38 li trong tay phải chĩa thẳng về phía họ.
Đặc vụ R. Hunter hô:
- FBI đây! Bỏ súng xuống!
John có vẻ hơi chần chừ. Rõ ràng nếu nổ súng thì chỉ có thể hạ được một trong hai đặc vụ, còn ở khoảng cách gần như thế, không khó khăn gì, các đặc vụ có thể bắn gục John.
John hạ súng xuống sàn nhà.
Một trong những điệp viên nguy hiểm nhất đối với nước Mỹ đã bị bắt giữ.
+++++
Vào lúc 11 giờ 30 phút sáng 20-5-1985 theo giờ California, các đặc vụ John Peterson và Michael McElwee gõ cửa nhà Jerry Whitworth.
- John Walker đã bị bắt đêm qua vì tội làm gián điệp. - J. Peterson thông báo. - Anh có biết gì về các hoạt động của anh ta không?
Người bạn của John phủ nhận mọi sự dính líu đến các hoạt động gián điệp. J. Peterson đọc cho J. Whitworth nghe về quyền của mình; J. Whitworth giải thích rằng mình với John Walker không phải là bạn thân mà chỉ quen biết nhau thời kì cùng phục vụ trong hải quân ở San Diego quãng năm 1971-1972.
J. Peterson rút từ trong cặp ra một bản sao lá thư đầu tiên của Rus gửi tới văn phòng FBI ở San Francisco rồi hỏi:
- Tôi tin rằng anh đã viết bức thư này. Có đúng không?
J. Whitworth cúi đầu, im lặng một lúc lâu rồi nói:
- Tôi không muốn trả lời câu hỏi này.
Tiếp đó, J. Whitworth yêu cầu được nói chuyện với luật sư. Theo luật, một khi nghi phạm yêu cầu làm việc qua luật sư thì FBI không được phép thẩm vấn thêm nữa.
Do chưa có đủ bằng chứng để kết tội nên chính phủ Mỹ không có cơ sở để bắt giữ J. Whitworth. FBI chỉ có thể tổ chức bí mật giám sát căn nhà của người bạn John Walker.
Cũng vào 9 giờ sáng thứ hai, ngày 20-5-1985, nữ đặc vụ Beverly Andress và đặc vụ Carroll Deane tới căn hộ ba buồng ngủ của Arthur Walker ở Virginia Beach. Cũng như J. Whitworth, ông anh trai của John phủ nhận mọi cáo buộc liên quan đến hoạt động gián điệp. Đồng ý tham gia kiểm tra trên máy phát hiện nói dối, Arthur cho các nhân viên kĩ thuật của FBI thấy anh ta lảng tránh hoặc nói dối khi trả lời hầu hết các câu hỏi quan trọng. Nữ đặc vụ B. Andress cho Arthur biết là trừ khi anh ta nói ra sự thật, còn lại thì mọi cuộc nói chuyện tiếp theo sẽ vô nghĩa.
Sáng hôm sau, khi văn phòng FBI mở cửa thì Arthur đã chờ sẵn ở bên ngoài, thiểu não như con búp bê bị nhúng nước. Arthur tuyên bố muốn giải quyết hết mọi rắc rối. Nay thì anh ta nhớ lại rằng có lần đã cho John xem những tài liệu mật của công ty VSE. Arthur lại chấp nhận kiểm tra trên máy phát hiện nói dối và một lần nữa, bị phát hiện không nói sự thật khi trả lời hầu hết các câu hỏi chính yếu. Nữ đặc vụ B. Andress khuyên Arthur nên tìm thuê một luật sư.
Nhưng Arthur muốn nhanh chóng thoát ra khỏi mọi rắc rối và bắt đầu tiết lộ một phần sự thật. Arthur thừa nhận đã chuyển cho John các tài liệu mật, biết rằng chúng sẽ được chuyển cho phía Xô viết. Anh ta được trả công tổng cộng 12.000 USD.
Mặc dù được khuyến cáo về quyền không chống lại bản thân mình, Arthur vẫn tình nguyện kí vào biên bản thú tội. Trong một cuộc kiểm tra trên máy nói dối sau đó, trước câu hỏi của nhân viên kiểm tra rằng liệu anh ta có làm gián điệp cho phía Xô viết trong thời gian phục vụ ở hải quân hay không, Arthur trả lời “không”. Máy kiểm tra báo đây là một lời nói dối. Nhưng biên bản thú tội là đã đủ cho Arthur Walker.
Ngày 29-5-1985, bốn đặc vụ FBI tới căn hộ của Arthur Walker ở Chickasaw Court và khi ấy mới chính thức bắt giữ người anh trai của John Walker.
Sau khi thu được bọc tài liệu mật mà John để lại ở hộp thư chết, trong đó phần lớn có nguồn gốc từ hàng không mẫu hạm USS Nimitz, FBI xác định chắc chắn con trai Michael của John Walker tham gia vào đường dây hoạt động gián điệp do cha mình điều hành. Michael làm việc ở Ban điều hành chiến dịch trên tàu USS Nimitz, khi ấy đang trong một chuyến hoạt động bình thường tại Địa Trung Hải. Đặc vụ Keith Hitt của Cục Điều tra hải quân Hoa Kỳ, đang làm việc ở địa bàn Rome, được lệnh tiến hành việc bắt giữ Michael.
Khi hàng không mẫu hạm USS Nimitz ghé vào cảng Haifa ở Israel, ngày 23-5-1985, đặc vụ Keith Hitt lên tàu và gặp Michael, hai ngày trước đấy đã bị giữ lại trong phòng tác chiến của tàu.
K Hitt nói:
- Michael, cha anh đã bị bắt giữ vì tội làm gián điệp. Ông ấy đã cố gắng chuyển các tài liệu mật của tàu USS Nimitz cho phía Xô viết. FBI cũng tìm thấy một số lượng lớn các tài liệu mật từ tàu USS Nimitz ở nhà của cha anh. Chúng tôi tin là anh đã cung cấp những tài liệu mật đó cho ông ấy.
Vài tiếng đồng hồ sau, Michael thừa nhận với đặc vụ K. Hitt là mình đã đánh cắp các tài liệu mật để chuyển cho cha mình.
Ngày 25-5-1985, Michael Walker được đưa về Mỹ trên một chuyến bay, hạ cánh ở căn cứ không quân Andrew tại Washington. Khi Michael đặt chân xuống đường băng, trên lãnh thổ Mỹ, vẫn đặc vụ R. Hunter, người chịu trách nhiệm chính điều tra vụ án, đón con trai của John Walker. R. Hunter tuyên bố:
- Anh Walker, chúng tôi là FBI. Theo luật pháp Hoa Kỳ, anh bị bắt giữ vì tội làm gián điệp.
+++++


Các thành viên trong đường dây của nhà Walker đều đã lộ diện, nhưng những phiên tòa xét xử họ, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, diễn ra trong các thời điểm khác nhau.
Arthur Walker là người phải ra tòa đầu tiên. Đầu tháng 8-1985 diễn ra phiên tòa kéo dài trong năm ngày xét xử Arthur vì tội làm gián điệp. Bất chấp những lời bào chữa rằng Arthur là một “nạn nhân” bị lôi kéo hơn là người tình nguyện làm gián điệp, cũng như phạm vi thu thập tài liệu mật có giới hạn của Arthur, ngày 9-8-1985, Chánh án Calvitt Clarke Jr. vẫn kết luận Arthur phạm tội gián điệp. Ba tháng sau, bản án dược tuyên: Arthur phải chịu ba án chung thân, cộng thêm một án tù bốn mươi năm nữa và chịu khoản tiền phạt 250.000 USD.
John Walker cùng các luật sư theo dõi rất sát phiên tòa xét xử anh trai mình. Dù chưa ra tòa nhưng John biết là theo luật pháp nước Mỹ, khi bị kết tội làm gián điệp thì khả năng rất lớn là phải chịu án chung thân. Điều đó có nghĩa là cả cậu con trai Michael cũng có khả năng sẽ phải sống hết phần đời còn lại giữa bốn bức tường của nhà tù.
Nhưng đến lúc này thì một yếu tố pháp lí rắc rối xuất hiện: Việc buộc tội Jerry Whitworth làm gián điệp.
Sau khi bắt giữ John Walker vào rạng sáng ngày 20-5-1985, các đặc vụ FBI tiếp tục làm việc ngày đêm để tìm bằng chứng có thể bắt giữ Jerry Whitworth. Đến đầu tháng 6-1985, văn phòng FBI San Francisco đã được chuẩn y lệnh bắt giữ người bạn của John. Thông qua một luật sư của Jerry Whitworth, FBI cho Jerry biết anh ta sẽ bị bắt và cách tốt nhất là không nên để xảy ra cảnh bắt giữ trước con mắt của bàn dân thiên hạ. Ngày 3-6-1985, Jerry Whitworth tự nộp mình cho FBI.
Bắt giữ Jerry là một chuyện, nhưng có kết tội được hay không lại là chuyện khác.
Cho dù tất cả đều biết chính Jerry Whitworth là người đã viết những bức thư kí tên Rus gửi cho văn phòng FBI San Francisco, thế nhưng những cơ sở pháp lí để chứng minh điều này lại rất yếu. Nói cách khác, những bức thư đó không thể được sử dụng làm bằng chứng chống lại J. Whitworth trước tòa.
Trong bức thư John Walker gửi cho KGB mà FBI thu được, có đề cập đến một nguồn tin John đặt mật danh là “D”; các chuyên gia phản gián của FBI đều xác định chắc chắn “D” chính là Jerry Whitworth, nhưng việc chứng minh điều đó trước tòa cũng không hề dễ dàng.
John Walker và Jerry Whitworth là những người bạn thân, nhưng trước tòa, điều đó chẳng phải bằng chứng xác đáng để chứng tỏ Jerry Whitworth làm gián điệp cho Liên Xô.
Các đặc vụ FBI đã mày mò, chắp nối những thông tin rời rạc mà họ thu được khi lục soát các văn phòng cũng như nhà của John và Jerry để dựng nên một bức tranh khá hoàn chỉnh về những lần John Walker gặp gỡ cũng như trao tiền cho Jerry Whitworth. Hai người gặp nhau tổng cộng 22 lần trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1984 và John đã trao cho Jerry tổng cộng 332.000 USD.
Tuy nhiên, những số liệu đó chỉ có thể giúp truy tố Jerry Whitworth về tội... trốn thuế thu nhập cá nhân, chứ còn bằng chứng về tội làm gián điệp thì khá yếu về mặt pháp lí.
Tóm lại, nếu xảy ra một cuộc chiến pháp lí trước tòa, khả năng Jerry Whitworth thoát tội làm gián điệp là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Chỉ trừ khi John Walker chấp nhận hợp tác và khai có tuyên thệ trước tòa, khẳng định Jerry Whitworth là gián điệp.
Nhưng muốn vậy, chính phủ Mỹ sẽ phải chấp nhận có một thỏa thuận với John Walker để đổi lấy sự hợp tác của John nhằm kết tội Jerry.
Đại diện của hải quân Hoa Kỳ kịch liệt bác bỏ việc có một thỏa thuận với John Walker. Với những thiệt hại ghê gớm do hoạt động gián điệp của John gây ra đối với hải quân Hoa Kỳ, sẽ không có bất cứ một thỏa thuận nào cả. John phải chấp nhận hình phạt xứng đáng với những gì mà mình đã làm - đấy là lập luận của đại diện hải quân Hoa Kỳ.
Sự việc được chuyển lên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Caspar Weinberger. Khi được các chuyên gia tư pháp phân tích rằng lí lẽ của chính phủ khá yếu nếu đưa ra tranh tụng trước tòa án và J. Whitworth có thể thoát tội làm gián điệp, Bộ trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger liền gây sức ép lên phía đại diện của hải quân Mỹ, yêu cầu chấp nhận một thỏa thuận với John Walker.
John Walker sẵn sàng thỏa thuận với chính phủ để kết án Jerry Whitworth, nhưng đổi lại quyền lợi không phải cho mình mà cho cậu con trai Michael. Chính John đã đưa Michael vào tù và cũng chỉ John mới có thể giúp Michael sớm ra khỏi nhà tù bằng cách thoát khỏi bản án chung thân mà hầu như bất cứ ai dính vào tội danh làm gián điệp cũng phải gánh chịu.
John Walker cũng có lí do riêng để giúp kết án Jerry. Khi được các đặc vụ FBI cho xem lá thư đầu tiên của Rus gửi cho văn phòng FBI San Francisco, John ngay lập tức nhận ra Rus chính là Jerry! John không bao giờ có thể tha thứ cho Jerry về ý định phản bội lại mình cùng cả đường dây gián điệp mà Jerry là một phần trong đó.
Ngày 28-10-1985, hai cha con John và Michael Walker bị đưa ra xét xử tại Tòa án Liên bang ở Baltimore, với cáo buộc tội làm gián điệp. Tòa án cho biết trong gần mười tám năm làm gián điệp, KGB đã trao cho John Walker tổng cộng xấp xỉ 1 triệu USD bằng tiền mặt, trong đó riêng John nhận cho bản thân mình 750.000 USD.
Hơn một năm sau, ngày 6-11-1986, tòa tuyên án. Người cha nhận bản án chung thân, còn người con chịu án hai mươi lăm năm tù giam. Bản án khá nhẹ của Michael chính là kết quả thỏa thuận hợp tác giữa John với giới chức tư pháp Mỹ. Luật sư của Michael dự đoán Michael có thể ra khỏi nhà tù trước bốn mươi tuổi.
Phiên tòa xét xử Jerry Whitworth diễn ra phức tạp hơn nhiều. Ngày 6-3-1986, Jerry xuất hiện trước Tòa án Liên bang thành phố San Francisco cùng hai luật sư dày dạn kinh nghiệm, James Larson, người do Jerry thuê, và Tony Tamburello. Các đặc vụ FBI và Cục Điều tra hải quân (NIS) đã bay vòng quanh thế giới để thu thập các chứng cứ chống lại Jerry Whitworth. Tòa án triệu tập hơn 200 nhân chứng cùng hàng ngàn tài liệu để phục vụ cho phiên tòa. Hầu như tất cả các thành viên của nhà Walker đều có mặt: Arthur, Michael, Barbara, Laura, Margaret. Nhưng dĩ nhiên, sự xuất hiện quan trọng nhất tại tòa là John Walker.
Ngày 28-4-1986, đứng trên bục nhân chứng, John khai nhận đã tuyển mộ người bạn thân, con trai và anh trai mình hoạt động gián điệp. Trong suốt một tuần lễ, John tham dự phiên tòa với tư cách nhân chứng chống lại Jerry Whitworth.
Phiên tòa kéo dài hơn bốn tháng trời. Ngày 24-7-1986, tòa tuyên bố Jerry Whitworth phạm tội làm gián điệp và trốn thuế. Bản án cho Jerry Whitworth: 365 năm tù giam cộng với khoản tiền phạt 410.000 USD. Jerry Whitworth sẽ chỉ được xét giảm án lần đầu tiên sau sáu mươi năm, khi đã một trăm lẻ bảy tuổi, nếu như anh ta còn sống tới tuổi đó!
Một trong những đường dây gián điệp lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ đã chấm dứt hoạt động với các bản án nặng chưa từng thấy.
+++++
Vụ phát hiện ra đường dây gián điệp nhà Walker làm cộng đồng tình báo Hoa Kỳ rúng động, nước Mỹ bàng hoàng. Trong gần mười tám năm trời, một mạng lưới gián điệp đã hoạt động hoàn hảo ngay dưới mũi các cơ quan phản gián Mỹ, cung cấp những tài liệu mật có tầm quan trọng sống còn cho kẻ thù của nước Mỹ. Boris Solomatin, Trưởng trạm KGB Washington thời điểm J. Walker bước vào sứ quán Liên Xô, khi đề cập đến người điệp viên tình nguyện hoạt động vì tiền này, đã gọi J. Walker là “Số 1” và điều đó có lẽ là đánh giá chính xác nhất về giá trị mà J. Walker mang lại cho KGB.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà KGB coi điệp vụ nhà Walker là một trong những thành tựu lớn nhất trong lịch sử cơ quan tình báo khét tiếng này, thậm chí còn vượt qua cả chiến tích các điệp viên Xô viết đã đánh cắp được những tài liệu mật về đề án chế tạo bom nguyên tử của nước Mỹ.
Các nhà phân tích tình báo Mỹ cho rằng những bí mật của hải quân Mỹ do đường dây gián điệp nhà Walker cung cấp đã giúp ích một cách đáng kể cho sự phát triển của hải quân Xô viết. Sau vụ khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, các nhà lãnh đạo Xô viết đã quyết định xây dựng những hạm đội có thể thách thức quyền lực của hải quân Mỹ trên tất cả các đại dương. Các nhà khoa học, các công trình sư chế tạo tàu ngầm, tàu nổi của Liên Xô đã rút ra được những bài học hữu ích, các bí quyết công nghệ cũng như kinh nghiệm triển khai tàu chiến của Mỹ để nhanh chóng rút ngắn thời gian xây dựng các hạm đội hùng mạnh của hải quân Xô viết.
Không loại trừ khả năng là nhà lãnh đạo Xô viết Yuri Andropov, người nắm cương vị chủ tịch KGB trong suốt thời gian từ 1967 đến 1982, đã là người trực tiếp chỉ đạo điệp vụ nhà Walker, vốn cũng kéo dài từ năm 1968 đến 1985. Nhiều nhà phân tích tình báo Mỹ cho rằng chính thành công trong điệp vụ này đã giúp cho Y. Andropov đạt tới đỉnh cao quyền lực.
Nhưng điều quan trọng nhất chính là các thông tin tối mật do đường dây gián điệp nhà Walker cung cấp đã giúp cho phía Xô viết có được những ưu thế không thể chối cãi so với Mỹ nếu như chiến tranh giữa hai bên nổ ra. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nếu thực sự chiến tranh nổ ra trong thời gian hơn mười bảy năm đường dây này hoạt động thì những thông tin mật do nhà Walker cung cấp có thể gây nên “hậu quả thảm khốc” cho nước Mỹ! Thông qua điệp vụ của nhà Walker, tình báo Xô viết hoàn toàn có khả năng bẻ nanh con sư tử Hải quân Mỹ, nắm chắc phần lợi thế một khi xung đột nổ ra.
Vụ án đã làm cho Tổng thống Mỹ Ronald Reagan nổi xung. Phía Xô viết đã chứng minh cho Washington biết họ có khả năng thực hiện những điệp vụ kinh thiên động địa ở ngay trên đất Mỹ, trong trùng vây dày đặc của các cơ quan an ninh Mỹ. Bằng cách này, dường như đối thủ hùng mạnh của Hoa Kỳ đã cười vào mũi tổng thống Mỹ với thông điệp khinh khỉnh: Chúng tôi đã làm thế đấy!
Trong Phòng Bầu Dục ở Nhà Trắng, Tổng thống R. Reagan nói với các trợ lí: “Tôi muốn lấy máu KGB!”.
Tháng 3-1986, ngay khi đang diễn ra phiên tòa xử Jerry Whitworth ở San Francisco, phía Mỹ ra thông báo, cho biết Liên Xô phải cắt giảm 105 “nhà ngoại giao” trong số các phái bộ ngoại giao nằm trong Liên hợp quốc ở New York. Lộ trình cắt giảm sẽ là ngày 15-10-1986 giảm 25 người; đến 1-4-1987 giảm 25 người; 1-10-1987 giảm 25 người nữa và cuối cùng đến 1-4-1988 giảm nốt 30 người.
Để chuẩn bị cho đợt cắt giảm đầu tiên, FBI đệ trình lên một danh sách 25 người, chủ yếu nằm trong bộ máy hoạt động điệp báo của Liên Xô ở New York. Trong số này có đầy đủ các điệp viên phụ trách địa bàn của KGB và GRU cùng các trợ lí, những người chỉ huy các Tuyến PR, Tuyến X, Tuyến KR của KGB. Ngoài ra còn có các nhân viên mã thám, chuyên gia tình báo tín hiệu... Đúng ngày 1-10-1986, toàn bộ 25 người này bị phía Hoa Kỳ trục xuất. FBI muốn để cho người Xô viết biết rằng cơ quan này xác định được chính xác “ai là ai” trong bộ máy điệp báo của Liên Xô hoạt động trên đất Mỹ. Những người bị trục xuất dĩ nhiên không được phép quay lại lãnh thổ Mỹ, và theo một hiệp ước Mỹ kí với các đồng minh, cũng sẽ không được phép tới bất cứ một quốc gia đồng minh phương Tây nào khác của Hoa Kỳ.
Đây là một trong những vụ trục xuất nhân viên ngoại giao lớn nhất trong lịch sử quan hệ Xô - Mỹ. Trong chỗ riêng tư, Ngoại trưởng Mỹ George P. Shultz nhắn với phía Liên Xô rằng chớ có thực hiện các đòn trả đũa để tránh làm Tổng thống R. Reagan thêm giận dữ. “Tổng thống hiện đang rất khó ở”, ngoại trưởng Mỹ nói. Tuy vậy, ngày 19-10-1986, phía Liên Xô cũng trục xuất trả đũa năm nhà ngoại giao Mỹ; không có ai trong số này là nhân viên tình báo.
Ngay ngày hôm sau, cả Ngoại trưởng George P. Shultz, Giám đốc CIA William Casey, Cố vấn an ninh quốc gia John Poindexter và Tổng chưởng lí Edwin Meese lại tụ tập ở phòng Bầu Dục của Tổng thống R. Reagan. Sau cuộc họp bàn, tất cả quyết định tăng cường trả đũa nhằm vào bộ máy điệp báo của Liên Xô. Hoa Kỳ hiện có tối đa 251 nhà ngoại giao đang làm việc ở Moscow và Leningrad; phía Mỹ cũng sẽ cắt giảm số nhà ngoại giao Liên Xô đang làm việc ở Washington và San Francisco, hiện là 325 người, xuống đúng 251 người, ngang bằng với phía Mỹ. Do phía Liên Xô đang có 19 nhà ngoại giao quay về nước trong kì nghỉ, phía Mỹ sẽ không cho phép những người này quay lại Mỹ, đồng thời trục xuất thêm 55 người nữa cho đủ số.
Một lần nữa, FBI lại đệ trình danh sách 55 người, trong đó có những người đứng dầu trạm KGB ở Washington và toàn bộ số nhân viên KGB ở San Francisco. Ngày 21-10-1986, 55 người này chính thức bị trục xuất.
Đây là một đòn nặng giáng vào các hoạt động điệp báo của Liên Xô trên đất Mỹ trong thời gian đó bởi hầu hết các vị trí trọng yếu đều bị thiếu người. Ngoại trưởng George P. Shultz cũng thông báo phía Mỹ không cho phép thay thế các chỉ huy KGB và GRU bị trục xuất bằng những người mới. Cả hai người do phía Liên Xô cử tới New York thay thế đều bị phía Mỹ từ chối cho nhập cảnh.
Mỹ bắn tiếng rằng nếu phía Xô viết trả đũa, sẽ tiếp tục có một đợt trục xuất thứ ba nữa trên diện rộng nhằm vào các nhân viên KGB và GRU trên đất Mỹ.
Đáp lại, Liên Xô có một phương thức khác mà cả Tổng thống R. Reagan lẫn Quốc hội Mỹ không làm gì được. KGB tăng cường giám sát mọi hoạt động của các nhà ngoại giao Mỹ ở Liên Xô. Tòa sứ quán Mỹ bị gài “rệp” nghe trộm ở khắp nơi trong khi các nhân viên người Liên Xô làm việc ở đây báo cáo mọi hoạt động của các nhà ngoại giao Mỹ cho KGB.
Đến ngày 23-10-1986, nhà lãnh đạo Xô viết Mikhail Gorbachev quyết định rút toàn bộ 260 nhân viên người Liên Xô đang làm việc trong các cơ sở ngoại giao của Mỹ ở Moscow và Leningrad. Kết quả là các nhà ngoại giao Mỹ khốn khổ phải tự lái xe, nấu nướng và soạn thảo các văn bản mà không có bất cứ sự trợ giúp nào của KGB!
Vụ án gián điệp nhà Walker đã tác động một cách sâu rộng đến quan hệ Xô - Mỹ theo cái cách như thế.
+++++
Mặc dù người vợ cũ của John Walker đã đóng vai trò trọng yếu trong việc phát hiện ra đường dây gián điệp này như cách FBI công bố và các phương tiện truyền thông Mỹ rầm rộ chuyển tải, nhưng KGB tin chắc rằng còn có một “chuột chũi” nào đó của tình báo Mỹ trong nội bộ KGB đã góp phần làm lộ sáng lưới gián điệp này. Sau này, KGB kết luận rằng đó chính là Valery Martynov, điệp viên KGB ở Washington bị FBI tuyển mộ và đặt bí danh là Pimeta. Khi được chuyển giao cho CIA, V. Martynov mang bí danh Gentile. Trong một lần quay về nước, ở Tổng hành dinh KGB tại Yasenevo, V. Martynov đã tìm cách biết được về sự tồn tại của mạng lưới điệp viên nhà Walker và lập tức báo cho FBI khi quay trở lại Mỹ. Chính những thông tin do V. Martynov cung cấp đã đóng một vai trò quyết định cho việc buộc tội các điệp viên trong đường dây nhà Walker.
Về phần mình, cũng trong năm 1985 ấy, đến lượt V. Martynov lại bị một “chuột chũi” khác của KGB phát hiện và sau này phải chịu số phận thảm khốc. Chó sói rình bắt được thỏ nhưng đến lượt mình lại bị sư tử vồ là chuyện thường xảy ra trong thế giới những hiệp sĩ của bóng tối.
Năm 1990, ở phương Tây xuất bản cuốn sách có tựa đề: KGB - Câu chuyện bên trong, thuật lại chi tiết các chiến dịch tình báo hải ngoại của KGB từ thời Lenin đến Gorbachev. Cuốn sách này đưa ra đánh giá những khóa mã do đường dây nhà Walker cung cấp cho KGB giúp phía Xô viết giải mã được khoảng trên một triệu bức điện mật của phía Mỹ! Một trong hai đồng tác giả của cuốn sách là giáo sư Christopher Andrew, nhà sử học hàng đầu của nước Anh tại Đại học Cambridge chuyên viết về điệp báo.
Còn tác giả thứ hai của cuốn sách là một điệp viên nhị trùng, hoạt động cả cho KGB lẫn Cục Tình báo mật MI6: Oleg Gordievsky.