Tối đen như mực.
Tôi cảm nhận được bóng tối, nhưng không còn gì khác, đầu tôi ngóc lên, cảm nhận nó, như cái đầu của một con giun. Có ai đó đang rên rỉ. Rồi một khối nặng lớn và cứng như một bức tường đá đập mạnh vào má tôi, tiếng rên rỉ câm bặt.
Sự im lặng lại dâng lên rồi lắng xuống êm ả như mặt nước đen tự vỗ về sau khi một hòn đá rơi xuống. Một cơn gió lạnh quét qua. Tôi lao qua đường hầm xuyên sâu vào lòng đất bằng vận tốc khủng khiếp. Rồi gió lặng. Có tiếng ồn ào, như của nhiều giọng nói, phản kháng và bất đồng, cách đó một quãng. Rồi những giọng nói im lặng.
Một cái đục gõ vào mắt tôi rồi một khe sáng mở ra như một cái miệng hay một vết thương, cho tới khi bóng tối rú rít đóng sập nó lại. Tôi cố chạy trốn ánh sáng, nhưng những bàn tay ôm giữ lấy chân tay tôi như những dải băng xác ướp và tôi không thể cử động.
Tôi bắt đầu nghĩ rằng mình đang ở trong một cái hầm dưới lòng đất, bị một thứ ánh sáng chói lòa chiếu vào, và trong hầm có rất nhiều người vì lý do nào đó đang ghìm tôi xuống.
Rồi cái đục lại gõ xuống và ánh sáng ùa vào đầu tôi, xuyên qua bóng tối dày đặc ấm áp như lông thú, một giọng kêu lên: “Mẹ ơi!”.
***
Không khí phập phồng đùa giỡn trên mặt tôi.
Tôi cảm thấy được hình dạng căn phòng bao quanh, một phòng lớn với những cửa sổ mở toang. Một cái gối trũng xuống dưới đầu tôi và giữa đám chăn mền, người tôi bồng bềnh không trọng lượng.
Tôi cảm thấy hơi ấm như có bàn tay trên mặt. Chắc tôi đang nằm dưới ánh nắng. Nếu mở mắt, chắc tôi sẽ thấy được những màu sắc và hình dáng cúi xuống tôi như những cô y tá.
Tôi mở mắt.
Tối đen như mực.
Ai đó đang thở bên cạnh tôi.
“Tôi không thấy gỉ cả.” Tôi nói.
Một giọng nói vui vẻ cất lên trong bóng tối: “Có nhiều người mù trên thế giới này. Một ngày nào đó, cô sẽ cưới một người mù tốt bụng.”
***
Người đàn ông với cái đục đã trở lại.
“Việc gì ông phải bận tâm?” Tôi nói. “Vô ích thôi.”
“Cô không được nói thế.” Ngón tay ông ta thăm dò cục u lớn đau buốt trên mắt trái tôi. Rồi ông ta nới lỏng cái gì đó và một khe sáng nổi loạn xuất hiện như một cái lỗ trên bức tường. Một bàn tay đàn ông mò mẫm quanh rìa nó.
“Cô có thấy tôi không?”
“Có.”
“Cô còn thấy gì khác không?”
Rồi tôi hồi tưởng. “Tôi không thể thấy gì.” Khe sáng khép lại và tối đen. “Tôi mù.”
“Vớ vẩn! Ai bảo cô thế?”
“Cô y tá.”
Người đàn ông cười ha hả. Ông ta vừa quấn băng quanh mắt tôi. “Cô là một người rất may mắn. Thị lực của cô hoàn toàn không bị ảnh hưởng gì.”
***
“Có người muốn gặp cô.”
Cô y tá ló ra rồi biến mất.
Mẹ tôi mỉm cười bước vòng qua chân giường. Bà mặc chiếc váy có in những bánh xe lớn màu tím, trông bà rất ủ dột.
Một thanh niên cao lớn theo sau bà. Lúc đầu tôi không thể nhận ra đó là ai, bởi vì mắt tôi chỉ hé mở, nhưng rồi tôi nhận ra đó là anh trai mình.
“Họ bảo con muốn gặp mẹ.”
Mẹ tôi ngồi lên mép giường và đặt một bàn tay lên chân tôi. Trông bà ân cần và trách móc, tôi chỉ muốn bà đi khỏi đây.
“Con không nghĩ là mình đã nói gì đó.”
“Họ nói là con gọi mẹ.” Bà dường như sắp khóc. Mắt bà rúm lại và run run như một con sứa nhợt nhạt.
“Em thế nào rồi?” Anh tôi hỏi.
Tôi nhìn vào mắt mẹ tôi.
“Vẫn vậy.”
***
“Cô có khách.”
“Tôi không tiếp khách.”
Cô y tá hối hả đi ra và thì thầm với ai đó ngoài hành lang. Rồi cô ta trở lại. “Anh ta rất muốn gặp cô.”
Tôi nhìn xuống đôi chân vàng vọt thò ra khỏi bộ pyjama lụa trắng lạ lẫm mà họ mặc cho tôi. Da tôi bèo nhèo mềm nhũn mỗi khi cử động, như thể không có bắp thịt bên trong mà chỉ được phủ một lớp lông đen ngắn dày lởm chởm.
“Ai vậy?”
“Một người quen của cô.”
“Anh ta tên là gì?”
“George Bakewell.”
“Tôi không biết George Bakewell nào cả.”
“Anh ta nói có biết cô.”
Rồi cô y tá bước ra và một thanh niên có khuôn mặt rất quen bước vào và nói: “Tôi ngồi lên mép giường sẽ không phiền chứ?”
Anh ta mặc áo khoác trắng và tôi thấy cái ống nghe thò ra khỏi túi. Tôi nghĩ anh ta là một người quen của mình nhưng ăn mặc như bác sĩ.
Tôi đã định phủ chân lại nếu có người vào, nhưng giờ tôi thấy đã quá muộn, vì thế tôi kệ chúng thò ra, y nguyên như thế, kinh tởm và xấu xí.
“Đó là mình,” tôi nghĩ. “Đó là con người mình.”
“Cô còn nhớ tôi không, Esther?”
Tôi liếc nhìn khuôn mặt anh ta qua khóe mắt lành lặn. Mắt kia còn chưa mở được nhưng bác sĩ bảo nó sẽ lành trong vài ngày nữa.
Anh ta nhìn tôi như thể tôi là một con thú vui nhộn trong sở thú và dường như anh ta sắp cười phá lên.
“Cô nhớ tôi không, Esther?” Anh ta từ tốn nói, như cách người ta nói với một đứa trẻ đần độn. “Tôi là George Bakewell. Tôi đi lễ nhà thờ ở chỗ cô. Có lần cô đã hẹn hò với anh bạn cùng phòng của tôi ở Amherst.”
Tôi mơ hồ nhớ ra gương mặt anh ta. Nó lảng vảng mờ nhạt ở bên rìa ký ức - loại khuôn mặt mà tôi sẽ chẳng bao giờ nhọc công để gắn cho nó một cái tên.
“Anh đang làm gì ở đây?”
“Tôi thực tập ở bệnh viện này.”
Tôi tự hỏi làm sao George Bakewell có thể đột nhiên trở thành bác sĩ như thế? Anh ta cũng không thật sự biết tôi. Anh ta chỉ muốn xem một cô gái điên định tự tử trông thế nào thôi.
Tôi quay mặt vào tường.
“Biến đi,” tôi nói. “Xéo đi và đừng quay lại nữa.”
***
“Tôi muốn một cái gương.”
Cô y tá ậm ừ qua quít trong khi mở hết ngăn nọ tới ngăn kia, nhồi đầy quần áo lót, sơ mi, váy và pyjama mẹ mua cho tôi vào chiếc va li du lịch giả da đen.
“Tại sao tôi không thể soi gương?”
Tôi được mặc áo trông như cái bao, sọc xám và trắng, giống ga trải giường, thắt lưng to bản màu đỏ bóng loáng và họ dựng tôi ngồi dậy trên chiếc ghế bành.
“Tại sao tôi không thể?”
“Bởi vì không nên.” Cô y tá đóng sập cái va li du lịch đánh tách một tiếng.
“Tại sao?”
“Bởi vì trông cô không được đẹp lắm.”
“Ồ, cứ để tôi xem.”
Cô y tá thở dài và mở ngăn kéo bàn trên cùng. Cô ta lôi ra một chiếc gương lớn có khung gỗ giống loại gỗ làm bàn và đưa nó cho tôi.
Lúc đầu tôi không hiểu rắc rối là do đâu. Đó không phải là gương mà là một bức tranh.
Người ta không thể bảo người trong tranh là đàn ông hay đàn bà, bởi vì tóc người đó đã bị cạo sạch và mọc lại lởm chởm như những túm lông gà khắp đầu. Một bên mặt người đó tím bầm và sưng u lên không còn hình thù gì, ngả màu xanh xám ở ngoài rìa rồi chuyển sang màu vàng tai tái. Cái miệng màu nâu nhợt nhạt với một vết thương đỏ thẫm ở bên mép.
Nhưng cái làm người ta giật mình về khuôn mặt đó là sự kết hợp khó tưởng tượng của những màu sắc sặc sỡ.
Tôi mỉm cười.
Cái miệng trong gương cũng nhệch ra cười.
Một phút sau tiếng vỡ loảng xoảng vang lên, một y tá nữa chạy vào. Cô ta nhìn cái gương vỡ rồi nhìn tôi, đứng trên những mảnh vụn trắng lòa và cô ta lôi cô y tá trẻ ra khỏi phòng.
“Tôi đã bảo cô rồi còn gì.” Tôi nghe tiếng cô ta nói.
“Nhưng tôi chỉ…”
“Tôi đã bảo cô mà!”
Tôi lắng nghe với vẻ khá hứng thú. Ai cũng có thể đánh rơi gương. Tôi không biết tại sao họ lại làm náo động lên như thế.
Một y tá khác lớn tuổi hơn vào phòng. Cô ta đứng đó, tay khoanh lại, chòng chọc nhìn tôi.
“Bảy năm xui xẻo.”
“Cái gì?”
“Tôi nói,” cô ta cao giọng như nói với người điếc, “bảy năm xui xẻo.”
Cô y tá trẻ trở lại với một cái xẻng hốt rác và cây chổi, bắt đầu vun gọn những mảnh vụn lấp lánh.
“Đó chỉ là trò mê tín.”
“Úi chà!” Cô y tá thứ hai nói với cô y tá đang lui cui dưới sàn như thể không có tôi ở đó. “Ở chỗ-mà-ai-cũng-biết-ấy, người ta sẽ trông coi cô ta!”
***
Qua cửa sau xe cứu thương, tôi thấy những đường phố nối tiếp nhau nhỏ dần thu gọn vào màu xanh rợp bóng của mùa hè. Mẹ ngồi bên cạnh tôi và anh trai ngồi phía đối diện.
Tôi vờ như không biết tại sao mình bị chuyển từ bệnh viện thị trấn lên bệnh viện lớn ở thành phố, để xem họ nói gì.
“Họ muốn con ở một phòng đặc biệt.” Mẹ tôi nói. “Ở bệnh viện chúng ta không có loại phòng ấy.”
“Con thích ở nơi cũ.”
Mẹ tôi mím miệng. “Lẽ ra con phải biết xử sự cho phải phép.”
“Cái gì ạ?”
“Con không nên đập vỡ cái gương ấy. Như thế có lẽ họ còn để con ở lại.”
Nhưng dĩ nhiên tôi biết chuyện cái gương chẳng có ý nghĩa gì ở đây.
***
Tôi ngồi trên giường, chăn trùm tới cổ.
“Tại sao tôi không được dậy? Tôi không ốm.”
“Đợi bác sĩ đến thăm.” Cô y tá nói. “Cô sẽ được dậy sau khi bác sĩ đến thăm.”
Cô ta kéo rèm che giường và tôi thấy một thiếu phụ người Ý béo tốt ở giường bên.
Cô gái Ý có mớ tóc đen xoăn tít, lồng phồng trước trán, hất ngược ra sau và đổ xuống lưng thành từng tầng. Khi cô ta cử động, cả vầng tóc chuyển động như thể nó làm bằng giấy cứng màu đen.
Cô ta nhìn tôi và cười khúc khích: “Tại sao cô phải ở đây?” Rồi không đợi tôi trả lời, cô tiếp, “tôi ở đây là do bà mẹ chồng người Pháp gốc Canada.”
Cô ta lại cười khúc khích.
“Chồng tôi biết tôi không thể chịu nổi bà ta, thế mà anh ta vẫn bảo bà ta cứ đến thăm chúng tôi, rồi khi bà ấy đến, lưỡi tôi cứ lè ra, tôi không thể ngừng được. Họ chở tôi đi cấp cứu và cuối cùng tôi được đem đến đây.” Cô ta hạ thấp giọng, “ở với những người điên!”.
Rồi cô ta hỏi, “Có chuyện gì với cô vậy?”
Tôi quay cả khuôn mặt về phía cô ta, với con mắt tím xanh sưng phồng. “Tôi tự tử hụt.”
Cô ta chằm chằm nhìn tôi. Rồi vội vàng chộp lấy tờ tạp chí điện ảnh trên bàn và giả vờ đọc.
Cánh cửa xoay đối diện chỗ tôi bật mở, một tốp thanh niên nam nữ mặc áo trắng bước vào, cùng một người đàn ông già hơn, tóc bạc. Họ cùng mỉm cười, những nụ cười tươi tắn và giả tạo. Họ tụ tập ở chân giường tôi.
“Hôm nay cô cảm thấy thế nào, cô Greenwood?”
Tôi cố đoán xem ai là người vừa nói. Tôi ghét nói bất cứ chuyện gì với một nhóm người. Khi phải nói với một nhóm người, tôi luôn luôn chọn riêng ra một người, và trong lúc nói với người đó, tôi cảm thấy những người kia chăm chú nhìn tôi, họ có lợi thế một cách không công bằng. Tôi cũng ghét cả những người hớn hở hỏi sức khỏe người ta ra sao, trong khi họ biết rõ người đó đang cảm thấy như ở địa ngục và họ đợi người ta trả lời: “Khỏe!”.
“Tôi cảm thấy ghê tởm.”
“Ghê tởm. Hừm!” Ai đó lặp lại và một thanh niên khẽ gật đầu với một nụ cười. Ai đó ghi vội vào một cuốn sổ nhỏ. Rồi một người nào đó khoác lấy vẻ mặt nghiêm trang chân thật và hỏi:
“Tại sao cô cảm thấy ghê tởm?”
Tôi nghĩ một vài người trong nhóm nam nữ tươi cười này có thể là bạn của Buddy Willard. Họ sẽ biết tôi quen anh ta và họ sẽ tò mò muốn gặp tôi, rồi sau đó họ sẽ tán gẫu với nhau về tôi. Tôi muốn đến một nơi nào đó mà không một ai quen biết có thể đến tìm tôi.
“Tôi không thể ngủ được.”
Họ ngắt lời tôi: “Nhưng y tá bảo rằng đêm qua cô vẫn ngủ.”
Tôi nhìn những khuôn mặt xa lạ tươi tỉnh xếp thành hình lưỡi liềm quanh tôi.
“Tôi không đọc được.” Tôi lên giọng. “Tôi không ăn được.” Tôi chợt có ý nghĩ rằng mình đã ăn ngấu nghiến từ lúc tỉnh táo lại.
Những người trong nhóm đã quay đi và thấp giọng thì thầm với nhau. Cuối cùng, người đàn ông tóc bạc bước tới.
“Cám ơn, cô Greenwood. Cô sẽ được một bác sĩ phụ trách khám ngay.”
Rồi cả nhóm tiến sang phía người đàn bà Ý.
“Còn cô hôm nay thế nào, cô…?” Ai đó nói và cái tên nghe rất dài đầy những âm “l”, như là Tomolillo.
Tomolillo cười khúc khích: “Ồ tôi khỏe, bác sĩ ạ. Tôi vẫn khỏe.” Rồi cô ta hạ giọng và thì thầm gì đó tôi không nghe rõ.
Một, hai người trong nhóm liếc về phía tôi. Rồi ai đó nói, “được rồi, cô Tomolillo.” Và một người bước ra kéo tấm rèm che giường giữa tôi và họ như một bức tường trắng.
***
Tôi ngồi ở một đầu chiếc ghế băng gỗ trong sân cỏ giữa bốn bức tường gạch bệnh viện. Mẹ tôi mặc cái áo có in những bánh xe tím, ngồi ở đầu kia. Bà chống tay vào cằm, ngón trỏ trên má và ngón cái dưới cằm.
Tomolillo ngồi với mấy người Ý tóc sẫm cười nói ở ghế bên. Mỗi lần mẹ cử động, Tomolillo nhại lại mẹ tôi. Tomolillo cũng đang ngồi chống ngón tay trỏ lên má và ngón tay cái dưới cằm, đầu nghiêng nghiêng một bên và với vẻ đăm chiêu.
“Đừng cử động.” Tôi nói nhỏ với mẹ tôi. “Người đàn bà kia đang nhại lại mẹ.”
Mẹ tôi xoay người nhìn, nhưng nhanh như chớp, Tomolillo buông bàn tay trắng mập xuống đùi và bắt đầu sôi nổi nói chuyện với bạn cô ta.
“Không, cô ta không làm thế đâu.” Mẹ tôi nói. “Thậm chí cô ta không chú ý chút nào tới chúng ta.”
Nhưng lúc mẹ quay về phía tôi, Tomolillo lại chụm các đầu ngón tay bắt chước điệu bộ của mẹ tôi và ném về phía tôi một cái nhìn đen nhánh đầy giễu cợt.
Bãi cỏ tuyền một màu trắng áo bác sĩ.
Suốt thời gian mẹ và tôi ngồi đó, trong vùng ánh sáng hình nón nhỏ xíu giữa bốn bức tường cao, các bác sĩ tiến đến và tự giới thiệu tên tuổi: “Tôi là bác sĩ Này Nọ, tôi là bác sĩ Này Kia.”
Vài người trong số họ còn trẻ đến nỗi tôi nghĩ rằng họ không thể là một bác sĩ thực thụ, một người có cái tên kỳ cục nghe như là “bác sĩ Syphilis”, thế là tôi bắt đầu tìm ra những cái tên bịa đặt đáng ngờ và hẳn rồi, có ngay một người rất giống bác sĩ Gordon, chỉ có điều anh ta da sẫm, còn bác sĩ Gordon da trắng, tiến đến và nói: “Tôi là bác sĩ Pancreas,” và bắt tay tôi.
Sau khi tự giới thiệu, tất cả các bác sĩ đứng trong tầm khoảng cách nghe được, chỉ có điều tôi không thể nói với mẹ mình rằng họ đang ghi lại mọi lời chúng tôi nói mà chẳng thèm lắng nghe chúng tôi, nên tôi nghiêng người qua và thì thầm vào tai bà.
Mẹ tôi đáp lại gay gắt.
“Ồ Esther, mẹ ước gì con biết hợp tác. Họ nói con không chịu hợp tác. Họ bảo con không chịu trò chuyện với bất kỳ bác sĩ nào và cũng không làm gì ở phòng điều trị chuyên khoa.”
“Con phải ra khỏi đây.” Tôi nói đầy ngụ ý. “Rồi con sẽ lành bệnh. Mẹ đã đưa con vào đây, mẹ phải đưa con ra.”
Tôi nghĩ chỉ cần có thể thuyết phục mẹ tôi đưa ra khỏi đây, tôi có thể tranh thủ được sự thông cảm của bà, như cậu bé bị bệnh não trong một vở kịch, và làm cho bà hiểu rằng làm thế nào là tốt nhất.
Trước sự ngạc nhiên của tôi, mẹ nói: “Được rồi, mẹ sẽ cố đưa con ra, dù chỉ để đến một nơi khá hơn. Nếu mẹ cố đưa con ra,” bà đặt tay lên đầu gối tôi, “hãy hứa là con sẽ ngoan.”
Tôi quay lại và nhìn thẳng vào bác sĩ Syphilis, người đứng cạnh khuỷu tay tôi đang ghi chép vào một quyển sổ nhỏ xíu gần như không thấy được. “Con hứa!” Tôi nói dõng dạc, rành rọt.
***
Người da đen đẩy xe thức ăn vào phòng ăn của bệnh nhân. Khu Tâm thần của bệnh viện rất nhỏ, chỉ có hai dãy tạo thành hình chữ “L”, được ngăn thành từng phòng, với những hốc tường để kê giường đằng sau phòng trị liệu chuyên khoa, chính là phòng của tôi, cùng một khoảng trống kê bàn ghế cạnh cửa sổ ở góc chữ L, là phòng đợi và phòng ăn của chúng tôi.
Bình thường mọi khi một người đàn ông da trắng gầy quắt đem thức ăn cho chúng tôi, nhưng hôm nay là một người da đen. Người da đen tới cùng một phụ nữ đi giày cao gót màu xanh, bà ta chỉ dẫn cho anh da đen phải làm thế nào. Anh ta cứ cười nhăn nhở một cách ngớ ngẩn.
Rồi anh ta mang ra một chiếc khay với ba cái liễn bằng nhôm có nắp đậy tới bàn chúng tôi và bắt đầu đặt từng liễn xuống cái rầm. Người đàn bà bỏ đi, khóa cánh cửa sau lưng mình. Suốt thời gian người da đen cứ nện những liễn xúp xuống bàn, sau đó là những bộ đồ ăn bằng bạc mòn vẹt và những đĩa sứ trắng dày, anh ta chăm chăm nhìn chúng tôi với đôi mắt lồi to.
Tôi dám chắc rằng chúng tôi là những người điên đầu tiên mà anh ta phục vụ.
Không ai ngồi cạnh bàn chịu động đậy để mở nắp liễn nhôm, cô y tá cũng đứng lại để xem ai là người thực hiện trước khi cô ta đến làm việc đó. Thường thường, Tomolillo mở nắp liễn và chia thức ăn cho mọi người như một bà mẹ trẻ, nhưng rồi họ cho cô ta xuất viện, và có vẻ như không ai muốn thế chỗ cô ta.
Tôi đói ngấu, vì thế tôi mở nắp cái liễn thứ nhất.
“Cô giỏi lắm Esther.” Cô y tá khoan khoái nói. “Cô ăn một chút đậu và chia cho những người khác, được chứ?”
Tôi lấy đầy đĩa món đậu đũa và quay sang đưa liễn cho người đàn bà tóc đỏ khổng lồ ngồi bên phải tôi. Đấy là lần đầu tiên bà tóc đỏ được phép xuống bàn ăn. Tôi đã thấy bà ta một lần, ở tận cuối hành lang chữ L, đứng trước một cánh cửa mở rộng với những chấn song.
Lúc ấy bà ta đang la hét, thô lỗ cười ha hả và vỗ đùi khi những bác sĩ đi qua, có một người phụ việc mặc áo trắng trông coi phía cuối hành lang đó đang tựa người vào lò sưởi cười rũ ra.
Người đàn bà tóc đỏ chộp cái liễn từ tay tôi và dốc tuột lên đĩa mình. Đậu đổ thành đống trước mặt bà ta, vãi xuống đùi và xuống sàn như những cọng rơm xanh cứng quèo.
“Ồ bà Mole!” Cô y tá buồn rầu nói. “Tôi nghĩ hôm nay bà nên ăn ở phòng riêng thì hơn.”
Và cô ta trút lại phần lớn chỗ đậu vào liễn và đưa cho người ngồi cạnh bà Mole, rồi dẫn bà ta về buồng. Suốt quãng đường, bà Mole cứ quay về phía chúng tôi nhấm nháy, với những tiếng kêu ủn ỉn như heo.
Người da đen đã trở lại và bắt đầu thu dọn những cái đĩa không của những người chưa lấy được chút thức ăn nào.
“Chúng tôi chưa xong.” Tôi bảo anh ta. “Anh có thể đợi.”
“Ái chà chà!” Người da đen tròn mắt ngạc nhiên và nhạo báng. Anh ta liếc quanh. Cô y tá đưa bà Mole đi chưa trở lại. Người da đen nhìn tôi láo xược. “Quý cô Hợm Hĩnh.” Anh ta nói thầm.
Tôi mở nắp cái liễn thứ hai và thấy món macaroni, lạnh như đá và dính như một thứ bột nhão. Cái liễn thứ ba đầy ắp đậu luộc.
Giờ thì tôi biết rõ rằng người ta không bao giờ phục vụ hai loại đậu trong một bữa. Đậu và cà rốt hay đậu và rau thì có thể, nhưng không bao giờ đậu và đậu. Người da đen chắc đang cố xem chúng tôi ăn được bao nhiêu.
Cô y tá quay lại và người da đen lảng ra xa. Tôi ăn ngốn ngấu món đậu luộc. Rồi tôi đứng dậy, vòng qua phía bên kia bàn, nơi cô y tá không thể thấy phía dưới thắt lưng tôi và đến phía sau người da đen đang rửa đĩa bẩn. Tôi co chân, đá anh ta một cú thật mạnh vào bắp chân.
Người da đen hét lên một tiếng và nhảy dựng lên rồi tròn mắt nhìn tôi. “Ôi thưa côôooo, thưa côôoo.” Anh ta rên rỉ, xoa chân. “Cô không nên làm thế, cô không nên, cô thật sự không nên.”
“Đáng đời mi.” Tôi nói và nhìn chằm chằm vào mắt anh ta.
***
“Hôm nay cô không muốn dậy sao?”
“Không.”
Tôi rúc sâu hơn vào giường và kéo chăn trùm kín đầu. Rồi tôi nhấc một góc chăn lên và he hé mắt. Cô y tá đang vẩy cái nhiệt kế vừa lấy ra khỏi miệng tôi.
“Cô xem nhiệt độ bình thường.” Tôi đã nhìn nhiệt kế trước khi cô ta đến lấy nó, tôi luôn luôn làm thế. “Cô xem, nhiệt độ bình thường, cô cứ cặp nó mãi làm gì?”
Tôi muốn nói với cô ta rằng nếu tôi có đau ốm gì trong người thì mọi việc đã tốt, rằng tôi sẽ thích ốm đau trong người hơn là có cái gì đó trục trặc trong đầu. Nhưng ý kiến ấy có vẻ rắc rối và yếu ớt quá nên tôi không nói gì nữa. Tôi chỉ chui sâu hơn vào chăn.
Qua lần chăn, tôi cảm thấy có gì đó cấn cấn khó chịu ở chân. Tôi thò đầu ra. Cô y tá đã đặt khay đựng nhiệt kế lên giường tôi, trong khi cô ta quay lưng lại, bắt mạch người kế bên, chỗ Tomolillo nằm trước đây.
Một ý muốn quậy phá dữ dội xuyên qua mạch máu, kích thích và hấp dẫn như sự ngứa ngáy của cái răng lung lay. Tôi ngáp và cựa quậy, như sắp quay người, và chân tôi thò vào dưới cái hộp.
“Ôi!” Cô y tá kêu như kêu cứu và một y tá khác chạy tới. “Nhìn xem cô vừa làm gì này?”
Tôi thò đầu ra khỏi chăn và chăm chăm nhìn qua mép giường. Xung quanh cái khay men lật úp, những mảnh vỡ của cái nhiệt kế sáng lấp lánh như sao còn những viên bi thủy ngân rung rinh như những giọt sương nơi thiên đàng.
“Tôi xin lỗi.” Tôi nói. “Chỉ là vô tình thôi.”
Cô y tá thứ hai nhìn tôi chằm chặp với con mắt độc ác: “Cô cố tình làm điều đó. Tôi đã thấy.”
Rồi cô ta vội vã đi ra và gần như ngay lập tức hai người phụ việc đến và lôi tôi cùng cả chăn gối đến phòng cũ của bà Mole, nhưng tôi cũng đã nhặt được một viên bi thủy ngân.
Ngay sau khi họ khóa cửa, tôi thấy khuôn mặt người da đen như một vầng trăng màu mật ong nhô lên ở thành cửa sổ, nhưng tôi vờ không biết.
Tôi mở hé mấy ngón tay, như một đứa trẻ giấu một bí mật và mỉm cười với viên bi bạc trong lòng tay khum khum. Nếu tôi làm rớt, nó sẽ vỡ vụn thành hàng ngàn phiên bản đồng dạng của chính nó, và nếu tôi đẩy chúng lại gần nhau, chúng sẽ nhập làm một, không một vết nứt, như trước kia.
Tôi cười, cười mãi với viên bi nhỏ màu bạc.
Tôi không tưởng tượng nổi họ đã làm gì với bà Mole.