Quả Chuông Ác Mộng

Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mười

❊ ❊ ❊

Khuôn mặt trong gương hệt như người da đỏ ốm yếu.

Tôi bỏ hộp trang điểm vào xắc tay và nhìn ra ngoài cửa sổ. Như một bãi rác khổng lồ, những đầm lầy và đất trống bang Connecticut lùi nhanh về phía sau, rời rạc thành từng mảnh riêng rẽ.

Thế giới này thật quá ư lộn xộn.

Tôi nhìn xuống bộ váy áo lạ lẫm của mình.

Chân váy xòe ra như cái chao đèn, đầy hình tí xíu trắng, đen và những tia lửa điện xanh xẹt qua, trông như cái bóng đèn. Thay vì hai cánh tay áo, chiếc áo trắng lại xếp nếp ở vai, phồng lên như đôi cánh của một thiên thần.

Tôi đã quên không giữ lại bộ nào để mặc ban ngày trong cái đêm tôi ném quần áo tung bay ở New York, vì thế Betsy đã đổi cho tôi váy áo này để lấy chiếc áo choàng tắm có thêu hoa ngô.

Trong gương phản chiếu hình ảnh tôi với đôi cánh trắng, tóc buộc đuôi ngựa, tái nhợt như hồn ma bồng bềnh giữa khung cảnh bên ngoài.

“Nữ cao bồi Pollyanna[1].” Tôi la lên.

Người phụ nữ ngồi đối diện ngẩng mặt lên khỏi tờ tạp chí đang đọc.

Tận những giây cuối cùng, tôi vẫn thấy thích giữ nguyên hai vệt máu khô trên má. Chúng có vẻ ấn tượng và khá đẹp đẽ nên tôi nghĩ sẽ mang chúng theo mình, như di vật của người tình đã chết, cho tới khi chúng tự tàn phai.

Dĩ nhiên, nếu tôi cười hoặc làm điệu bộ trên mặt quá mạnh, vết máu sẽ lập tức bong ra, vì thế tôi cố gắng giữ cho khuôn mặt mình bất động, khi cần phải nói, tôi chỉ nói qua kẽ răng mà không cử động môi.

Tôi thật sự không hiểu tại sao mọi người lại cứ nhìn tôi.

Rất nhiều người khác còn kỳ cục hơn đứt tôi.

Chiếc va li xám nằm trong giá hành lý trên đầu tôi trống rỗng, chẳng có gì ngoài cuốn Ba mươi truyện ngắn hay nhất năm, chiếc hộp đựng kính râm bằng nhựa trắng và hai tá lê, quà từ biệt của Doreen.

Những trái lê còn xanh, sẽ để được lâu, cứ mỗi lần tôi nhấc va li lên xuống hoặc xách theo người, chúng lại lăn từ đầu này tới đầu kia, phát ra những tiếng sấm sét nho nhỏ rất đặc trưng.

“Ga một hai tám,” người soát vé hét oang oang.

Những mảnh rừng hoang dã được người ta trồng thông, phong và sồi đã dừng lại và bất động trong khung cửa sổ như một bức tranh xấu xí. Chiếc va li lại gào lên khi tôi vượt qua lối đi giữa thật dài.

Tôi bước ra khỏi toa tàu có máy lạnh xuống sân ga, không khí ngoại ô như người mẹ hiền bao trùm lấy tôi. Đó là mùi của những chiếc vòi tưới cỏ, những toa xe goòng, vợt tennis, mùi chó và mùi trẻ con nữa. Không gian tĩnh lặng của mùa hè trùm lên mọi vật, tựa như cái chết.

Mẹ tôi đang đứng đợi bên chiếc Chevrolet màu xám.

“Sao thế con yêu. Mặt con bị sao vậy?”

“Con vô tình ấy mà,” tôi nói ngắn gọn rồi xách va li vào băng sau. Tôi không muốn bị mẹ nhìn chằm chằm suốt quãng đường về nhà.

Ghế bọc bóng loáng và sạch sẽ.

Mẹ tôi ngồi sau tay lái, ném vào lòng tôi mấy lá thư rồi quay lại.

Xe ro ro khởi động.

“Mẹ nghĩ cần phải nói cho con biết ngay,” mẹ tôi nói, chỉ cần nhìn vào gáy của bà cũng đủ biết là tin xấu rồi. “Con sẽ không được theo học khóa viết văn ấy.”

Tôi thấy hụt hẫng trong lòng.

Suốt tháng Sáu, khóa học hiện ra trước mắt tôi như một cây cầu rực sáng, cho tôi an toàn vượt qua phần còn lại của mùa hè. Giờ đây, tôi thấy nó lung lay muốn sụp, chỉ còn hình ảnh một cô gái áo trắng váy xanh đang rớt xuống vực sâu.

Miệng tôi bỗng chua ngoét.

Tôi đã mong đợi nó.

Tôi dán lưng xuống ghế và trượt người xuống, dí mũi vào cửa xe, ngắm những căn nhà khu ngoại vi Boston đang lướt qua. Những ngôi nhà càng lúc càng quen thuộc, tôi lại trượt người xuống thấp nữa.

Tôi nghĩ tuyệt đối không thể để cho người ta nhận ra.

Trần xe lót nỉ xám đóng lại trên đầu tôi tựa như mui chiếc xe chở tù nhân. Những ngôi nhà ván trắng, đang tỏa sáng y hệt nhau với những song cửa màu xanh đều đặn, những chiếc nan của một cái lồng rộng lớn không thể trốn thoát.

Trước giờ, tôi chưa từng nghỉ hè ở vùng ngoại ô.

Tiếng bánh xe rít lên bên tai tôi như một giọng soprano. Mặt trời tỏa nắng xuyên qua lớp rèm cửa, tràn thứ ánh sáng huỳnh quang vào phòng ngủ. Tôi không biết mình đã ngủ được bao lâu, nhưng vẫn còn cảm thấy mệt đến nhừ tử.

Chiếc giường đôi bên cạnh trống trơn, bừa bộn.

Lúc 7 giờ, tôi nghe tiếng mẹ trở dậy, mặc quần áo và nhón chân đi ra khỏi phòng. Sau đó tiếng ro ro của máy ép cam vọng lên từ tầng dưới, mùi cà phê và thịt xông khói ùa vào phòng tôi. Rồi có tiếng vòi nước chảy, tiếng bát đĩa chạm vào nhau khi mẹ tôi lau khô và cất chúng vào tủ bát.

Cánh cửa chính mở ra và đóng lại. Rồi cánh cửa xe mở ra và đóng lại, tiếng nổ máy brừm brừm, tiếng bánh xe nghiến lạo xạo trên con đường rải sỏi rồi tan dần ở phía xa.

Mẹ tôi dạy tốc ký và đánh máy chữ cho rất nhiều nữ sinh viên trong thành phố, phải đến chiều bà mới về nhà.

Lại có tiếng bánh xe lạo xạo ngang qua. Có lẽ ai đó đang đẩy xe trẻ con qua lại dưới cửa sổ phòng tôi.

Tôi tụt khỏi giường xuống tấm thảm bên dưới và lặng lẽ bò trên tứ chi ra xem thử đó là ai.

Chúng tôi sống trong một căn nhà nhỏ lợp ván trắng ở giữa một bãi cỏ xanh nơi góc phố yên tĩnh. Mặc dù có một hàng phong nhỏ trồng quanh nhà, nhưng bất cứ ai đi dọc vỉa hè cũng có thể trông thấy cửa sổ tầng hai, thậm chí mọi sinh hoạt trong đó.

Tôi biết được điều này nhờ người hàng xóm, một mụ đàn bà cay nghiệt tên là Ockenden.

Mụ Ockenden là một y tá đã nghỉ hưu vừa mới lấy chồng lần thứ ba - hai người chồng trước đều chết bởi những nguyên nhân kỳ quái. Mụ dành hàng đống thời gian cho việc rình mò từ sau tấm rèm trắng ở cửa sổ nhà mình.

Đã hai lần mụ ta gọi cho mẹ tôi - một lần mách rằng tôi đã ngồi trước nhà, dưới ánh đèn đường suốt một giờ liền và hôn một anh chàng nào đó đi chiếc Plymouth màu xanh. Một lần mụ ta nói rằng tôi nên kéo rèm cửa xuống, vì có một đêm mụ thấy tôi bán khỏa thân khi tình cờ dẫn con chó Scotch ra ngoài đi dạo.

Rất thận trọng, tôi ngước mắt lên ngang bậu cửa sổ.

Một phụ nữ chỉ cao khoảng mét rưỡi, bụng phưỡn ra kỳ cục, đang đẩy chiếc xe nôi cũ màu đen dưới phố. Hai, ba đứa trẻ lớn nhỏ, xanh xao, mặt mày nhem nhuốc, đầu gối lấm lem nghiêng ngả bước theo bóng chiếc váy của bà.

Nụ cười thanh thản, gần như là thanh khiết nở trên khuôn mặt của người phụ nữ. Mái đầu hơi ngả về phía cửa sau, tựa quả trứng chim sẻ đặt trên một quả trứng, bà ta như đang mỉm cười với mặt trời.

Tôi biết rõ người phụ nữ này.

Đó là Dodo Conway.

Dodo Conway là một người Công giáo đã từng học trường Barnard[2] và sau đó kết hôn với một kiến trúc sư từng học trường Columbia, cũng người Công giáo. Nhà của họ to lớn nhưng lộn xộn, nằm ở đầu bên kia phố, đằng trước là một hàng thông và chung quanh ngổn ngang nào là xe trượt, xe đạp ba bánh, xe búp bê, xe cứu hỏa đồ chơi, gậy bóng chày, lưới cầu lông, gôn bóng vồ, lồng chuột hamster và mấy con cún cocker spaniel - nghĩa là ngổn ngang tất cả những gì thuộc về thế giới tuổi thơ ngoại ô.

Cố nhiên Dodo thu hút sự chú ý của tôi.

Ngôi nhà của bà khác với mọi người về kích thước (lớn hơn nhiều) và màu sắc (tầng hai được lợp bằng loại ván nâu sậm, tầng một trát xi măng xám, khảm những viên đá hình quả bóng golf màu xám và đỏ tía). Hàng thông hoàn toàn che khuất căn nhà, một điều được xem như thiếu ý thức cộng đồng ở một nơi mà bãi cỏ các nhà ăn thông với nhau và hàng rào chỉ cao đến thắt lưng.

Dodo nuôi sáu đứa con, và chắc chắn cả đứa thứ bảy nữa, bằng thứ bánh gạo, sandwich bơ-lạc-kẹo-dẻo, kem vani cùng một lô một lốc sữa Hoods. Bà ta luôn được những người bán sữa địa phương ưu đãi giá rẻ.

Dodo được mọi người yêu quý, cho dù số lượng nhân khẩu trong gia đình bà luôn là chủ đề đàm tiếu của hàng xóm láng giềng. Lớp người già như mẹ tôi chỉ sinh hai đứa, lớp trẻ giàu có hơn cũng chỉ sinh bốn con, riêng Dodo sắp sinh đứa thứ bảy. Sáu đứa đã là quá nhiều, nhưng cuối cùng, người ta cho rằng cũng bởi Dodo là người Công giáo.

Tôi nhìn Dodo đẩy chiếc xe chở thành viên bé nhất nhà Conway qua lại. Bà ta dường như làm chuyện đó chỉ vì tôi. Trẻ con làm tôi phát ốm.

Ván sàn bỗng nhiên cót két, tôi vội thụp người xuống, đúng lúc khuôn mặt Dodo Conway theo bản năng hoặc do linh tính bẩm sinh ngoái lại nhìn.

Tôi có cảm giác ánh mắt của bà ta xuyên thấu qua lớp ván trắng và lớp giấy dán tường màu hồng có vẽ hoa hồng, và phát hiện ra tôi đang núp sau giàn tản nhiệt màu bạc của máy sưởi.

Tôi bò về giường, trùm chăn kín đầu. Nhưng vẫn không thoát khỏi ánh sáng; tôi lại vùi đầu xuống dưới gối và vờ như đang là ban đêm. Chẳng có lí do gì để dậy lúc này cả. Cũng chẳng có gì để mong chờ.

Một lúc sau, tôi lại nghe tiếng chuông điện thoại reo ở dưới nhà. Tôi lấy gối bịt kín tai và để mặc thế năm phút. Khi tôi ló đầu ra, tiếng chuông đã ngừng hẳn.

Nhưng gần như ngay lúc đó, nó lại réo lên.

Tôi rủa thầm kẻ nào đã đánh hơi biết tôi trở về, cho dù đó là bạn bè, thân thích hoặc người lạ. Tôi đi chân trần xuống nhà dưới. Cái dụng cụ màu đen đó nằm trên bàn réo lên inh ỏi, như một con chim hoảng hốt. Tôi cầm lấy ống nghe. “Alô,” tôi giả vờ trầm giọng xuống.

“Alô, Esther à, có chuyện gì thế, cậu bị viêm thanh quản à?” Đó là Jody, bạn cũ của tôi, từ Cambridge gọi tới. Jody làm việc tại một cửa hàng hợp tác vào mùa hè và đang theo học một lớp xã hội học buổi trưa. Cô và hai đứa bạn nữa cùng trường tôi thuê lại một căn hộ lớn của bốn sinh viên khoa Luật Harvard, lẽ ra tôi cũng đến ở với bọn họ khi khóa học viết văn bắt đầu.

Jody muốn biết khi nào thì tôi tới.

“Tớ không tới đâu,” tôi nói. “Tớ không trúng tuyển.”

Một khoảnh khắc yên lặng.

“Lão ấy thật ngu,” Jody tiếp tục. “Lão ta có mắt không tròng.”

“Tớ cũng nghĩ hệt như vậy,” giọng tôi nghe có vẻ xa lạ và trống rỗng.

“Cứ tới đây đi. Kiếm khóa học khác.”

Ý định theo học lớp tiếng Đức hoặc khóa về Bệnh tâm lý lóe lên trong đầu tôi. Dù sao tôi vẫn để dành được gần trọn khoản lương ở New York, đủ chi phí cho những môn học đó.

Nhưng tôi vẫn nói một cách trống rỗng: “Tốt hơn cậu đừng tính tớ vào.”

“Ừm,” Jody đáp lại. “Một con bé khác đang muốn tới chỗ bọn mình nếu có ai đó bỏ chỗ…”

“Tốt. Hỏi nó đi.”

Lúc gác máy, tôi biết lẽ ra mình phải nói là sẽ đến. Chỉ một buổi sáng nghe tiếng xe nôi của Dodo Conway cũng đủ làm tôi phát điên rồi. Tôi đã thấy rõ ràng là không thể sống cùng nhà với mẹ tôi quá một tuần lễ.

Tôi vươn tay tới ống nghe. Còn cách nó một chút, bỗng dừng lại và rụt về. Tôi gắng với cái ống nghe lần nữa nhưng nó vẫn bị khựng lại như thể đụng phải một tấm kính.

Tôi thẫn thờ bước sang phòng ăn.

Trên bàn tôi thấy một lá thư dài từ khóa học hè gửi tới, bên cạnh là một lá thư mỏng màu xanh bằng giấy văn phòng còn sót lại của trường Yale, gửi cho tôi với nét chữ của Buddy Willard.

Tôi lấy dao rọc lá thư của khóa học hè.

Lá thư cho biết: Vì không được nhận vào lớp viết văn, tôi có thể chọn một lớp khác để học, nhưng phải liên hệ với phòng tuyển sinh ngay sáng hôm đó để ghi danh nếu không muốn bị trễ, các lớp hầu như đã đủ người.

Tôi gọi cho phòng tuyển sinh và nghe một giọng như xác sống thông báo rằng cô Esther Greenwood đã bỏ ý định dự khóa học hè.

Tôi liền mở lá thư của Buddy Willard.

Buddy viết trong thư rằng có lẽ anh ta phải lòng một cô y tá cũng bị lao, nhưng mẹ anh vừa thuê một ngôi nhà ở Adirondacks trọn tháng Bảy, nếu tôi đến cùng bà, biết đâu anh ta sẽ nhận ra tình cảm dành cho cô y tá chỉ là một cơn say nắng.

Tôi chộp lấy bút chì và gạch chéo lá thư của Buddy. Sau đó tôi lật mặt sau viết rằng tôi đã đính hôn với một phiên dịch viên cabin và không muốn gặp lại Buddy nữa, chỉ vì tôi không muốn con tôi sau này có bố là một kẻ đạo đức giả.

Tôi bỏ lá thư vào phong bì, lấy băng keo niêm lại, đổi địa chỉ nhận là Buddy mà không màng đến việc dán tem mới. Tôi nghĩ là thông điệp này chỉ đáng giá ba xu.

Sau đó tôi quyết định sẽ dành trọn mùa hè để viết một cuốn tiểu thuyết.

Việc đó sẽ làm cho nhiều người trắng mắt ra.

Tôi trở vào bếp, đập một quả trứng vào cái tách đựng thịt băm sống, trộn lên rồi ngồi ăn. Sau đó tôi mang cái bàn chơi bài ra đặt bên rèm ở lối đi có mái che thông giữa nhà và gara.

Một cây cam um tùm che khuất con đường phía trước, tường nhà và tường gara che hai bên, lùm bạch dương và hoàng dương che chắn tôi khỏi sự nhòm ngó của bà Ockenden từ phía sau.

Tôi lấy ra và đếm được ba trăm năm mươi tờ giấy có thể tẩy đi viết lại, được cất kín trong tủ của mẹ tôi, dưới một đống mũ dạ, bàn chải quần áo và khăn len.

Trở lại lối đi có mái che, tôi luồn tờ giấy trắng tinh đầu tiên vào chiếc máy chữ xách tay cũ, và cuốn lên.

Tâm hồn tôi mơ màng xa xăm, thấy cảnh mình đang ngồi bên lối đi có mái che, được bao bọc bởi hai bức vách trắng, cây cam um tùm và những lùm bạch dương và hoàng dương, nhỏ xíu như đồ chơi trong một ngôi nhà búp bê.

Cảm giác êm đềm tràn ngập hồn tôi. Nhân vật nữ trong truyện sẽ là chính tôi, nhưng đã được hư cấu. Nàng sẽ có tên là Elaine. Elaine, tôi đếm lại số chữ cái trên đầu ngón tay. Esther cũng gồm sáu chữ cái. Điều đó xem chừng là một điềm may.

Elaine ngồi trên lối đi có mái che, mặc chiếc áo ngủ màu vàng đã sờn của mẹ nàng chờ một điều gì đó sẽ đến. Đó là một buổi sáng tháng Bảy oi bức, từng giọt mồ hôi chảy xuống lưng nàng, như những con côn trùng.

Tôi ngả người, đọc lại những gì mình vừa viết.

Đoạn văn khá sống động, tôi rất tâm đắc với hình ảnh giọt mồ hôi tựa những con côn trùng, nhưng cũng thoáng cảm giác như mình đã đọc câu này ở đâu đó lâu lắm rồi.

Tôi cứ ngồi như thế khoảng một tiếng đồng hồ, cố nghĩ xem sẽ tiếp tục thế nào. Trong đầu tôi hiện lên cảnh một con búp bê đi chân trần, mặc chiếc áo ngủ màu vàng sờn cũ của mẹ đang ngồi nhìn xa xăm.

“Sao thế, con yêu, chưa thay đồ à?”

Mẹ tôi rất cẩn thận, không bao giờ bắt tôi phải làm bất cứ điều gì. Mẹ chỉ ngọt ngào nói những gì hợp lý, như cách trò chuyện giữa những người trưởng thành và thông minh với nhau.

“Gần 3 giờ chiều rồi đấy.”

“Con đang viết tiểu thuyết,” tôi nói. “Con không có thì giờ để cởi cái này rồi lại mặc cái khác.”

Tôi nằm trên chiếc trường kỷ dưới mái hiên và nhắm mắt lại. Tôi nghe tiếng mẹ tôi dẹp chiếc máy chữ và giấy má trên bàn đánh bài rồi dọn bàn ăn tối nhưng tôi vẫn nằm yên.

Sức ỳ len lỏi qua chân tay Elaine như mật. Nó giống như lên cơn sốt rét, nàng nghĩ.

Dầu sao thì may mắn lắm tôi mới viết nổi mỗi ngày một trang.

Giờ thì tôi đã hiểu khúc mắc là gì.

Tôi thiếu từng trải.

Làm sao tôi có thể viết về cuộc đời khi chưa từng yêu đương, chưa có con cái và thậm chí chưa thấy cả người chết? Một cô bạn gái của tôi vừa đoạt giải nhờ một truyện ngắn viết về cuộc phiêu lưu của cô ta ở xứ thổ dân Pygmet châu Phi. Làm sao tôi có thể sánh với cô ta về chuyện đó?

Kết thúc bữa ăn, mẹ tôi thuyết phục tôi học tốc ký vào các buổi tối. Vậy là một mũi tên trúng hai cái đích, vừa viết tiểu thuyết vừa học được một cái gì đó thiết thực. Tôi cũng có thể để dành một món tiền lớn.

Ngay tối hôm đó, mẹ tìm thấy dưới hầm một tấm bảng cũ và đặt nó trên gác thông mái. Sau đó bà đứng trước tấm bảng viết hàng lô chữ loằng ngoằng bằng phấn trắng, trong khi tôi ngồi nhìn trên ghế.

Thoạt tiên tôi cảm thấy khả quan.

Tôi nghĩ rằng mình sẽ học được tốc ký trong phút chốc, và khi người phụ nữ mặt đầy tàn nhang ở cơ quan cấp học bổng hỏi tôi lý do tại sao tôi không làm như các cô gái được học bổng vẫn thường đi làm kiếm tiền vào tháng Bảy và tháng Tám, tôi sẽ trả lời bà ta rằng thay vào đó tôi đã theo học một khóa tốc ký miễn phí để có thể tự nuôi sống mình sau khi ra trường.

Chỉ có điều khi tôi vừa cố tưởng tượng ra một công việc nào đó, vừa ghi nhanh hết hàng ký tự này tới hàng ký tự kia, tâm trí tôi trở nên trống rỗng. Chẳng có công việc nào buộc phải dùng tốc ký lại khiến tôi hứng thú cả. Thế là trong khi tôi ngồi nhìn, những con chữ phấn trắng loằng ngoằng trên bảng bỗng hóa ra vô cảm.

Tôi nói với mẹ rằng mình bị đau đầu ghê gớm rồi về giường.

Một tiếng sau, cửa hé mở và mẹ rón chân bước vào phòng. Tôi nghe tiếng sột soạt của quần áo khi mẹ thay đồ. Mẹ tôi leo lên giường. Sau đó không lâu tôi nghe tiếng thở chầm chậm, đều đều của mẹ.

Trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn đường hắt qua rèm cửa sổ, những chiếc ghim kẹp tóc trên đầu mẹ lấp lánh tựa một hàng lưỡi lê bé xíu.

Tôi quyết định sẽ gạt cuốn tiểu thuyết này sang bên cho tới khi tôi có dịp sang châu Âu, rồi có người yêu, và nhất quyết không bao giờ học tốc ký nữa. Nếu không học, tôi sẽ chẳng bao giờ phải sử dụng tới nó.

Tôi sẽ dành thời gian còn lại của mùa hè để đọc Finnegans Wake và viết luận văn.

Và như thế tôi sẽ đi trước chương trình khi năm học bắt đầu vào cuối tháng Chín, có thể thư giãn năm học cuối mà không cần phải cày ải đến mức chẳng còn thì giờ trang điểm và chải tóc, hoặc nốc cà phê hay dùng thuốc như hầu hết các sinh viên năm cuối thường làm cho tới khi hoàn tất luận văn.

Rồi tôi lại nghĩ đến việc có thể tạm nghỉ học một năm để theo nghề gốm.

Hoặc sang Đức làm bồi bàn cho tới khi thông thạo hai thứ ngôn ngữ.

Hết kế hoạch này đến kế hoạch khác vụt qua óc tôi như một đàn thỏ nghịch ngợm.

Tôi thấy từng năm của đời mình trải dài như một con đường với những cột điện thoại, nối tiếp nhau bởi những sợi dây. Tôi đếm một, hai, ba… mười chín cây cột, rồi sợi dây bỗng vắt vẻo giữa không trung, mà cố cách mấy tôi cũng không thấy cây cột nào đằng sau cây cột thứ mười chín.

Khung cảnh căn phòng từ từ hiện ra, tôi tự hỏi không biết đêm đã biến đi đằng nào. Mẹ tôi từ một khúc gỗ mờ sương biến thành một phụ nữ trung niên đang ngủ, miệng vẫn hé và tiếng ngáy vuột ra từ cổ họng của bà. Tiếng ngáy ấy làm tôi khó chịu, trong một chốc tôi nghĩ cách duy nhất làm cho nó ngưng lại là dùng tay túm lấy cái khối da và gân nó phát ra từ đó, vặn mạnh cho tới khi im lặng mới thôi.

Tôi giả vờ nhắm mắt ngủ cho tới khi mẹ đến trường, nhưng hàng mi vẫn không ngăn được ánh sáng. Nó treo trước mắt tôi một màng đỏ tươi những mạch máu nhỏ li ti, trông như một vết thương. Tôi luồn mình vào giữa hai lớp đệm, để lớp đệm trần phủ kín tôi như một nấm mồ. Nằm trong đó quả là tối tăm và yên ổn, nhưng tấm đệm vẫn chưa đủ nặng.

Phải nặng thêm một tấn mới làm cho tôi thiếp đi được.

sông xuôi dòng, chảy qua Eve và Adam’s, từ khúc ngoặt bên bờ đổ ra vịnh, là một huyết mạch lưu thông tiện lợi đưa chúng ta tới lâu đài Howth và vùng phụ cận.

Cuốn sách dày cộm hằn lên bụng tôi rất khó chịu.

sông xuôi dòng, chảy qua Eve và Adam’s…

Tôi nghĩ việc viết thường chữ cái đầu câu có nghĩa rằng không có gì bắt đầu một cách hoàn toàn mới mẻ để mà phải viết chữ hoa, có thể nó tiếp nối một đoạn nào trước đó. Eve và Adam’s tất nhiên là Adam và Eve, nhưng nó cũng có thể mang một ý nghĩa nào đó khác.

Có thể là tên một quán rượu ở Dublin.

Mắt tôi ngưng lại trên một mớ chữ cái hổ lốn trên một từ dài dằng dặc ở giữa trang sách.

bababadalgharaghtakamminarronn

konnbronntonnerronn-

ruonnthunntrovarrhounawnskawn

toohoohoordenenthurnuk!

Tôi đếm số chữ cái. Vừa tròn một trăm chữ. Tôi cho điều này hẳn rất hệ trọng.

Tại sao lại có tròn một trăm chữ cái?

Tôi ngập ngừng đọc to từ đó lên.

Giọng tôi vang lên như một vật bằng gỗ nặng nề lăn xuống cầu thang, vang lên những tiếng “bum, bum, bum” qua mỗi bậc. Tôi lật ào qua vài trang sách, làn gió từ nó thổi nhè nhẹ vào mắt tôi. Những con chữ mơ hồ quen thuộc, xoắn vào nhau như những bộ mặt trong một tấm gương biến dạng, lướt qua mà không hề lưu dấu trong bộ óc mụ mị của tôi.

Tôi nheo mắt nhìn trang giấy.

Những con chữ như mọc thêm râu và sừng. Tôi quan sát riêng rẽ từng chữ một, lướt lên lướt xuống một cách ngớ ngẩn. Sau cùng chúng nối với nhau tạo thành những hình thù kỳ lạ, bất khả diễn dịch y như tiếng Ả Rập hoặc Trung Hoa.

Tôi quyết định vứt bỏ luận văn của mình.

Tôi cũng quyết định vứt bỏ toàn bộ chương trình học Sinh viên ưu tú để chỉ tập trung vào ngành Anh ngữ mà thôi. Tôi bắt tay vào xem xét những đòi hỏi đối với một sinh viên chuyên ngành Anh ngữ ở trường.

Có rất nhiều yêu cầu mà tôi không đáp ứng được một nửa trong số đó. Một trong những điều kiện là phải theo một lớp nghiên cứu về thế kỷ 18. Tôi rất ghét phải học về cái thế kỷ này, vốn đầy những người viết ra các bài thơ ngắn ngủi mà niêm luật cực kỳ chặt chẽ, và duy lý một cách cực đoan. Tôi bỏ qua môn này. Họ cho phép sinh viên ưu tú làm vậy. Do đó tôi khá rảnh rỗi, liền dành hầu hết phần thì giờ còn lại để đọc Dylan Thomas.

Một người bạn của tôi, cũng thuộc nhóm sinh viên ưu tú, đã tìm cách không đọc một chữ nào về Shakespeare, nhưng vẫn là một chuyên gia về tác phẩm Four Quartets[3].

Tôi cảm thấy thật lúng túng và bất khả thi khi cố chuyển từ chương trình tự chọn sang một chương trình nghiêm ngặt hơn. Vì thế, tôi xem xét những yêu cầu đối với sinh viên chuyên ngành Anh ngữ tại trường Đại học nơi mẹ tôi dạy.

Thậm chí chúng còn tệ hơn nữa.

Bạn phải biết tiếng Anh cổ, lịch sử ngôn ngữ Anh và một tuyển tập những gì tiêu biểu đã được viết từ Beowulf cho tới nay.

Điều này khiến tôi ngạc nhiên. Tôi đã luôn coi thường trường của mẹ, bởi đó là trường dành cho cả nam lẫn nữ và những người không có khả năng kiếm học bổng của các trường đại học lớn ở bờ Đông.

Đến lúc này tôi mới nhận ra rằng người học dốt nhất trường của mẹ vẫn còn biết nhiều hơn tôi.

Thậm chí họ sẽ không cho tôi qua cửa chứ nói chi đến việc cấp một học bổng lớn như tôi đã có tại trường mình.

Tôi nghĩ mình nên đi làm một năm để suy nghĩ kỹ mọi thứ. Có thể tôi sẽ len lén nghiên cứu về thế kỷ 18 trong thời gian đó.

Nhưng tôi không biết tốc ký, thế thì tôi làm được gì đây?

Tôi có thể đi làm bồi bàn hoặc đánh máy chữ.

Nhưng tôi không chịu được ý tưởng phải làm một trong hai việc đó.

***

“Cháu nói cần thêm thuốc ngủ hả?”

“Vâng ạ.”

“Những viên cô mới đưa tuần trước rất mạnh mà!”

“Chúng hết tác dụng rồi.”

Bà Teresa mở cặp mắt đen to nhìn tôi đầy vẻ suy nghĩ. Tôi nghe tiếng ba đứa con của bà từ mảnh vườn dưới cửa sổ phòng khám vọng lên. Dì Libby của tôi kết hôn với một người Ý, bà Teresa là chị chồng của cô ấy và trở thành bác sĩ riêng của gia đình.

Tôi quý bà Teresa. Bà dịu dàng và tế nhị. Tôi nghĩ chắc hẳn vì bà là người Ý.

Một khoảnh khắc im lặng trôi qua.

“Cháu cảm thấy thế nào?” Bà Teresa hỏi tiếp.

“Cháu không ngủ được, cũng không đọc được,” tôi cố nói bằng giọng bình tĩnh, thản nhiên, nhưng có cái gì mắc ngang cổ họng khiến tôi nghẹn lại. Tôi ngửa lòng bàn tay lên.

Teresa xé một tờ giấy trắng trong tập kê toa thuốc, ghi tên họ, địa chỉ rồi nói: “Cô nghĩ cháu nên đi khám một bác sĩ khác quen với cô. Ông ta sẽ giúp cháu được nhiều hơn.”

Tôi nhìn vào tờ giấy nhưng không đọc được gì.

“Bác sĩ Gordon,” bà Teresa nói. “Ông ta là bác sĩ tâm thần.”

❀ ❀ ❀

[1] Pollyanna: tên một cô bé hồn nhiên yêu đời trong tiểu thuyết cùng tên của Eleanor H.Porter.

[2] Barnard: tên một trường nữ sinh tư nổi tiếng ở New York.

[3] Four Quartets: Bốn khúc tứ tấu - là một trường ca gồm bốn phần: Burnt Norton (1935), East Coker (1940), The Dry Salvages (1941) và Little Gidding (1942) của T. S. Eliot - nhà thơ người Mỹ đoạt giải Nobel Văn học năm 1948.

Trần Quế Chi (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.