Quả Chuông Ác Mộng

Lượt đọc: 13 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mười ba

❊ ❊ ❊

“Tất nhiên hắn bị mẹ giết.”

Tôi nhìn vào miệng anh chàng mà Jody muốn tôi gặp. Đôi môi dày và hồng hào, khuôn mặt trẻ con ẩn dưới mái tóc vàng nhạt như tơ. Tên anh ta là Cal, có lẽ là viết tắt của một chữ nào đó mà ngoài California thì tôi chẳng nghĩ ra.

“Sao anh đoan chắc là bà ta giết hắn?” Tôi hỏi.

Cal có vẻ rất thông minh, Jody còn nói qua điện thoại là anh ta rất đáng yêu và chắc chắn rằng tôi sẽ thích. Tôi tự hỏi nếu mình vẫn như xưa thì sẽ thích anh chàng đó sao?

Khó mà nói được.

“À, mới đầu bà ta nói: ‘Không, không, không,’ rồi sau đó lại bảo ‘Có’.”

“Nhưng rồi bà ấy lại bảo ‘Không, không’ cơ mà.”

Tôi và Cal nằm cạnh nhau trên một tấm khăn sọc cam và xanh trên bờ biển bẩn thỉu này, đối diện là khu đầm lầy trải dài từ Lynn. Jody và bạn trai mới của cô tên Mark đang bơi. Cal không thích bơi, anh ta chỉ muốn ngồi nói chuyện và chúng tôi đang tranh luận về vở kịch, trong đó một thanh niên biết mình bị loạn óc vì bố của anh ta quan hệ quá nhiều với những phụ nữ ô uế. Cuối cùng, bộ não của anh ta nhũn ra và rồi hỏng hẳn, người mẹ đang cân nhắc việc có nên giết anh ta hay không.

Tôi nghi chính mẹ tôi đã gọi điện cho Jody, nài nỉ cô dẫn tôi đi chơi, để tôi khỏi ngồi ngẩn ngơ một mình trong phòng suốt ngày với những cái bóng. Thoạt tiên, tôi không muốn đi bởi cho rằng Jody sẽ nhận ra tôi đã đổi khác, bất cứ ai chỉ cần liếc mắt trông cũng thấy rằng tôi là một kẻ đầu óc trên mây.

Suốt chuyến đi về hướng bắc, rồi sang hướng đông, Jody cười đùa, chọc phá và nói huyên thuyên, dường như cô không giận khi tôi chỉ ậm ừ: “Ồ”, “trời ạ”, “không phải chứ”.

Chúng tôi nướng hotdog tại vỉ nướng chung trên bờ biển. Nhờ quan sát kỹ Jody, Mark và Cal, tôi cũng nướng được phần hotdog của mình vừa đủ độ mà không bị cháy xém hoặc rớt vào trong lửa như tôi hằng e ngại. Sau đó, khi không có ai để ý, tôi vùi nó xuống cát.

Ăn uống xong xuôi, Jody và Mark nắm tay nhau chạy ào xuống nước, còn tôi nằm xuống chăm chú nhìn trời, trong khi Cal không ngừng bàn về vở kịch.

Lý do duy nhất khiến tôi nhớ vở kịch này là vì trong đó có một kẻ điên, mà tất cả những gì tôi đọc về người điên đều kẹt lại trong trí óc tôi, còn các sự việc khác đều bay biến hết.

“Nhưng câu trả lời ‘Có’ mới là quan trọng,” Cal nói, “Chính cái câu ‘Có’ bà ta quyết định ở đoạn cuối ấy.”

Tôi ngẩng đầu nhìn ra phía biển như chiếc đĩa xanh, chiếc đĩa xanh tươi sáng với cái vành bẩn thỉu. Một tảng đá tròn màu xám, hình thù y hệt nửa trên của quả trứng nhô lên khỏi mặt nước cách ghềnh đá khoảng một dặm.

“Bà ấy định giết hắn bằng gì nhỉ? Em quên mất rồi.”

Thực ra tôi không quên. Tôi nhớ rất rõ, nhưng tôi muốn nghe Cal nói.

“Bột morphin.”

“Anh có tin rằng ở Mỹ có morphin không?”

Cal suy nghĩ một phút, sau đó anh chàng nói: “Anh không nghĩ thế. Chuyện này có vẻ lạc hậu khủng khiếp.”

Tôi nằm úp bụng xuống và nheo mắt nhìn về phía Lynn. Khói mù mịt bốc lên từ các vỉ nướng và sức nóng của mặt đường, qua làn khói mờ như một tấm rèm bằng nước trong, tôi nhận ra đường chân trời lấm lem với những bể khí đốt, ống khói nhà máy, cần cẩu và cây cầu.

Nhìn như một mớ hỗn độn.

Tôi lật lưng lại và thản nhiên hỏi: “Nếu định tự tử, anh sẽ làm thế nào?”

Cal chừng như thoải mái nói: “Anh cũng thường nghĩ tới điều ấy. Anh sẽ thổi bay óc mình bằng súng.”

Tôi thất vọng. Nó đơn giản như việc đàn ông chơi súng vậy. Nhưng tôi chẳng có cơ hội chạm vào khẩu súng. Mà nếu có đi chăng nữa, tôi cũng không biết phải bắn vào đâu trên người mình.

Tôi đã từng đọc trên báo về chuyện những người định tự tử bằng súng, nhưng họ chỉ bắn trúng một dây thần kinh quan trọng và bị liệt hoặc phá nát khuôn mặt của mình, nhưng vẫn được các bác sĩ hay một phép màu nào đó cải tử hoàn sinh.

Dùng súng xem ra rủi ro rất cao. “Loại súng nào vậy?”

“Cây súng săn của bố anh. Ông ấy luôn nạp đạn sẵn. Anh chỉ cần bước vào phòng ông một ngày nào đó và…” Cal trỏ ngón tay vào thái dương và nhăn nhó tức cười, “bóp cò.” Anh ta ngước đôi mắt màu xám nhạt nhìn tôi.

“Bố anh có từng sống gần Boston không?”

“Chưa, ở Clacton on Sea. Ông ấy là người Anh.”

Jody và Mark nắm tay nhau chạy lên, người ướt sũng như hai con cún đáng yêu. Tôi cảm thấy nơi đây quá đông người bèn đứng dậy, giả vờ ngáp và nói: “Em nghĩ mình sẽ bơi một lát.”

Ở bên Jody, Mark và Cal, các dây thần kinh của tôi bắt đầu căng thẳng, cảm tưởng như có khối gỗ đè lên dây đàn piano. Tôi sợ rằng đến một lúc nào đó mình sẽ mất kiểm soát và bắt đầu lảm nhảm về chuyện tôi không đọc không viết gì được và là người duy nhất thức trắng trong suốt một tháng trời mà không gục chết vì kiệt sức.

Dường như có làn khói bốc lên từ những dây thần kinh của tôi, tựa như các vỉ nướng trên bờ biển và con đường nắng chang chang. Toàn bộ cảnh vật bãi biển, doi đất, biển và đá lướt lên trước mắt tôi như tấm màn sân khấu.

Tôi tự hỏi màu thiên thanh ngu xuẩn giả dối khi nào sẽ biến thành màu đen.

“Anh cũng xuống bơi đi Cal!”

Jody đùa bỡn hích Cal một cái.

“Ồ!” Cal giấu mặt trong chiếc khăn tắm. - “Lạnh lắm!”

Tôi bắt đầu bước xuống nước.

Giữa trưa bầu trời nắng chói không một gợn mây, mặt nước trông mời gọi và quyến rũ.

Tôi nghĩ chết đuối hẳn là cách hay nhất để chết, còn bị thiêu là tệ nhất. Buddy Willard có lần chỉ cho tôi thấy một vài đứa trẻ sơ sinh ngâm trong bình có mang cá. Anh ta nói chúng đã trải qua một giai đoạn giống như loài cá.

Một đợt sóng nhỏ xô rác rưởi vào chân tôi, giấy kẹo, vỏ cam và rong rêu.

Tôi nghe tiếng cát lạo xạo phía sau mình và Cal đi tới.

“Bơi ra tảng đá đằng kia đi.” Tôi lấy tay chỉ ra xa.

“Em điên à? Cách cả dặm đấy.”

“Anh sao thế?” Tôi nói. “Đồ nhát gan.”

Cal nắm lấy khuỷu tay và kéo tôi xuống nước. Khi mực nước tới ngang thắt lưng, anh ta dìm tôi xuống. Tôi trồi lên, đập nước tung tóe, mắt đau nhức vì muối. Ở bên dưới, nước có màu xanh, đục đục như một khối thạch anh.

Tôi bắt đầu bơi kiểu bơi chó, đầu ngẩng lên hướng về phía tảng đá. Cal bơi chầm chậm phía sau. Được một lát anh ta nhô đầu lên và bơi đứng.

“Không bơi tiếp nổi.” Anh hổn hển nói.

“Được rồi. Anh quay lại đi.”

Tôi định cứ bơi ra xa đến khi mệt không bơi trở vào được nữa. Trong lúc bơi, tim tôi đập mạnh tựa tiếng máy nổ đều đều bên tai.

Ta tồn tại. Ta tồn tại. Ta tồn tại.

***

Buổi sáng hôm ấy, tôi đã tìm cách tự treo cổ.

Tôi lấy sợi dây lụa từ chiếc áo choàng tắm màu vàng của mẹ ngay khi bà vừa rời nhà đi làm, trong ánh sáng màu hổ phách của phòng ngủ, tôi thắt một nút thòng lọng có thể trượt lên trượt xuống được. Phải mất hồi lâu tôi mới hoàn thành vì tôi rất kém trong khoản thắt nút và không biết phải làm thế nào mới đúng.

Xong xuôi, tôi đi tìm nơi để treo sợi dây.

Khổ nỗi trần nhà tôi lại không phù hợp. Nó quá thấp, trắng và trơn mượt, không có một chỗ treo đèn hay xà nhà nào. Tôi nhớ tới căn nhà của bà ngoại tôi đã sống trước khi bán và dọn đến ở với chúng tôi, rồi sau với dì Libby.

Ngôi nhà được xây rất đẹp theo phong cách thế kỷ 19, với trần nhà cao treo những chùm đèn vững chãi, những chiếc tủ đứng cao cao có thanh ngang chắc chắn. Trên gác mái chưa hề có ai lui tới chất đầy thân cây, lồng vẹt, ma nơ canh và đặc biệt là những xà gỗ to như ván thuyền.

Nhưng ngôi nhà đã cũ kỹ, bà ngoại đã bán đi, tôi lại chẳng quen một ai khác có nhà như vậy.

Sau một lúc đi tới đi lui với sợi dây lủng lẳng ở cổ như một cái đuôi mèo vàng mà không tìm được chỗ treo, tôi ngồi lên mép giường của mẹ và cố siết chặt sợi dây lại.

Nhưng mỗi lần sợi dây thít quá chặt, tôi lại cảm thấy ù ù trong tai, máu dồn lên mặt, tay tôi lại yếu dần và rời ra, rồi tôi thấy mình khỏe lại.

Sau đó, tôi có cảm giác như bị chính thân xác mình chơi khăm vì tay tôi luôn rũ ra vào đúng thời khắc quyết định, nếu không phải vậy hết lần này tới lần khác, tôi chỉ cần làm chủ được bản thân là cái chết đến liền.

Đơn giản là tôi phải tỉnh táo rình rập nó bằng mọi giá, nếu không tôi sẽ cứ như bị giam cầm năm mươi năm trong một chiếc lồng xuẩn ngốc mà cứ ngây ngô không biết gì. Rồi sớm muộn gì, chắc chắn mọi người cũng sẽ khám phá ra tôi bị mất trí, bất chấp mẹ tôi có bào chữa cách mấy chăng nữa, họ cũng sẽ thuyết phục bà đem tôi tới nhà thương điên, nơi tôi có thể được chữa lành.

Chỉ có điều bệnh của tôi là vô phương cứu chữa.

Tôi có mua một ít sách báo nói về chứng tâm lý bất bình thường tại hiệu thuốc và đối chiếu với những triệu chứng của mình. Không nghi ngờ gì nữa, những triệu chứng ấy hoàn toàn khớp với trường hợp vô vọng nhất.

Ngoại trừ những mẩu tin xì căng đan trên báo, tôi chỉ có thể đọc được sách bàn về chứng tâm lý bất bình thường. Dường như vẫn còn một khe hở nhỏ nào đó sót lại giúp tôi hiểu trường hợp của mình để tìm cách thích hợp kết liễu nó.

Tôi tự hỏi nếu việc treo cổ thất bại, liệu tôi có nên từ bỏ ý định ấy và quay lại với các bác sĩ hay không, nhưng rồi tôi lại nhớ đến bác sĩ Gordon và chiếc máy xung điện. Một khi tôi bị nhốt, họ sẽ thoải mái sử dụng cái máy đó đối với tôi.

Tôi hình dung ra cảnh mẹ và anh em, bạn bè sẽ đến thăm tôi, ngày qua ngày, hy vọng rằng tôi sẽ khá hơn. Rồi những cuộc thăm viếng sẽ thưa dần, họ từ bỏ dần hy vọng. Họ sẽ già đi. Họ sẽ lãng quên tôi.

Và họ cũng sẽ trở nên nghèo khổ.

Ban đầu, vì muốn tôi được điều trị theo cách tốt nhất, họ sẽ tiêu hết tiền vào một bệnh viện tư như kiểu của bác sĩ Gordon. Cuối cùng, khi tiền đã cạn, tôi sẽ được chuyển sang bệnh viện công, nơi hàng trăm người khác giống tôi bị nhốt trong một cái lồng lớn dưới tầng hầm.

Bạn càng vô vọng lại càng bị đẩy ra xa hơn.

***

Cal đã quay lại và đang bơi vào bờ.

Tôi nhìn anh ta từ từ kéo mình lên khỏi mực biển sâu tới cổ, cơ thể anh phân đôi như một con sâu trắng, giữa bờ cát màu kaki cùng làn nước xanh gờn gợn sóng. Sau đó con sâu ấy hoàn toàn thoát khỏi mảng màu xanh tiến vào mảng màu kaki, rồi chìm hẳn vào hàng chục, hàng tá những con sâu khác đang quằn quại, ngo ngoe giữa biển và trời.

Tôi quạt tay, đập chân giữa làn nước. Tảng đá hình trứng không có vẻ gần hơn chút nào so với lúc tôi và Cal trông thấy nó trên bờ.

Tôi thấy thật vô nghĩa khi bơi xa tới tận tảng đá, bởi cơ thể tôi sẽ vin cớ ấy để trườn ra khỏi mặt nước và nằm ườn dưới ánh nắng, nhằm khôi phục thể lực mà bơi về.

Điều duy nhất cần làm là để cho bản thân mình chết chìm ở đâu đó.

Thế nên tôi dừng lại.

Tôi co hai tay trước ngực, chúi đầu lặn xuống, rồi dùng tay rẽ nước. Áp lực nước ép lên màng nhĩ và tim tôi. Tôi cố nhấn mình xuống, nhưng chẳng biết tự bao giờ, tôi lại bị đẩy lên khỏi mặt nước, dưới ánh mặt trời. Thế giới xung quanh lại trở nên lấp lánh như những viên đá quý màu lục, lam và vàng.

Tôi vuốt nước khỏi mắt.

Tôi thở hổn hển như sau một quãng lao động cật lực, nhưng vẫn nổi trên mặt nước, không cần phải cố gắng gì.

Tôi lại lặn, rồi lặn lần nữa, lần nào rồi cũng vọt lên khỏi mặt nước như cái nút chai.

Tảng đá màu xám đang giễu cợt tôi, nó nhô mình trên mặt nước, bộ dạng như chiếc phao cứu sinh.

Tôi biết mình đã thất bại.

Đành quay về.

***

Những bông hoa rung rinh như khuôn mặt trẻ thơ thông minh xán lạn khi tôi đem chúng xuống sảnh.

Tôi cảm thấy mặc bộ đồng phục xanh của tình nguyện viên thật ngớ ngẩn, khác xa đồng phục trắng của bác sĩ và y tá, hay thậm chí cả đồng phục nâu của bà lao công đang xách cây lau nhà và xô nước bẩn, bà ta còn chẳng thèm liếc mắt nhìn tôi.

Giá như tôi được trả lương, dù chỉ vài đồng thôi thì chí ít tôi cũng sẽ coi đó là có công ăn việc làm, đằng này tất cả những gì tôi nhận được cho việc đẩy xe báo, phân phát bánh kẹo, hoa quả, chỉ là một bữa trưa miễn phí.

Mẹ thường bảo cách tốt nhất để khỏi phải lúc nào cũng chăm chăm nghĩ về mình là đi giúp đỡ người khác, những kẻ mang số phận hẩm hiu hơn, thế là Teresa xoay xở cho tôi làm tình nguyện viên tại một bệnh viện địa phương. Rất khó để kiếm một suất tình nguyện viên này bởi tất cả Hội Nữ thanh niên đều muốn công việc ấy, thật may mắn cho tôi là phần lớn trong số họ đang đi nghỉ mát.

Tôi từng hy vọng được cử tới nơi có nhiều bệnh nhân nan y hơn, họ sẽ nhìn xuyên qua bộ dạng đờ đẫn vô cảm của tôi để thấy tấm chân tình và sẽ biết ơn tôi. Nhưng phụ trách tình nguyện viên là cái bà giảng dạy giao tiếp trong nhà thờ, liếc nhìn tôi và nói: “Cô hãy tới khoa Sản.”

Thế là tôi đi thang máy lên ba tầng trên, đến phòng sản và báo danh với y tá trưởng. Bà giao cho tôi một chiếc xe đẩy chở hoa, giao cho tôi việc đem đúng loại hoa này tới giường bệnh nọ ở phòng sản kia.

Nhưng trước khi đến được cửa phòng đầu tiên, tôi chợt thấy rất nhiều bông hoa ở đó đã héo úa, viền cánh hoa đã ngả màu nâu. Nghĩ bụng một phụ nữ mới vừa sinh xong hẳn sẽ rất chán ngán khi thấy một bình hoa tàn trước mặt, thế nên tôi đẩy chiếc xe về phía chậu rửa ở góc phòng rồi bắt đầu nhặt ra tất cả những bông hoa héo.

Sau đó tôi nhặt tiếp ra những bông hoa đang sắp tàn.

Không nhìn thấy giỏ rác nào, vậy nên tôi vò nát những bông hoa và quăng chúng vào bồn rửa mặt màu trắng. Chiếc bồn lạnh lẽo tựa ngôi mộ. Tôi bật cười. Đây cũng chính là cách người ta đặt các thi thể vào trong nhà xác bệnh viện. Hành động nhỏ nhoi này của tôi chỉ là sự lặp lại của những hành động lớn lao mà các bác sĩ và y tá đang làm.

Tôi kéo theo chiếc xe đẩy, mở cánh cửa phòng đầu tiên ra và bước vào. Vài cô y tá đứng phắt dậy và tôi có một cảm giác bối rối khi trông thấy kệ cùng các tủ đựng thuốc.

“Cô cần gì thế?” Một cô y tá nghiêm nghị hỏi. Tôi không thể phân biệt nổi ai với ai vì trông họ quá giống nhau.

“Tôi mang hoa cho các phòng.”

Cô y tá vừa mới lên tiếng đặt một tay lên vai tôi, còn tay kia cô điều khiển chiếc xe một cách thành thục. Cô mở cánh cửa căn phòng bên cạnh và cúi đầu chào. Rồi cô biến mất.

Tôi nghe thấy tiếng cười khúc khích từ xa vọng tới cho đến khi nó bị cắt ngang bởi tiếng cửa đóng sập lại.

Trong phòng có sáu giường bệnh, trên mỗi giường là một người phụ nữ. Người thì đang ngồi đan áo, người thì đang lần giở tạp chí hay dùng lô quấn tóc, tất cả đều đang nói chuyện ồn ào như đám vẹt trong lồng.

Tôi cứ tưởng họ sẽ đang ngủ, hay nằm yên lặng với vẻ xanh xao yếu ớt, nên tôi sẽ phải nhón chân khẽ khàng đi từ giường này tới giường kia, mang những bình hoa có đánh số tới đúng giường của nó, nhưng trước khi tôi có cơ hội làm việc ấy, một cô gái tóc vàng sắc sảo cùng khuôn mặt hình tam giác đã ra dấu cho tôi.

Tôi để lại chiếc xe ở giữa phòng, bước tới gần cô, nhưng cô lại phác ra một cử chỉ nôn nóng tỏ ý muốn tôi đẩy chiếc xe lại gần.

Tôi đẩy chiếc xe đến cạnh giường cô với nụ cười ân cần.

“Này, hoa phi yến của tôi đâu?” Một bà béo núc, giọng lanh lảnh, ở hàng đối diện giương đôi mắt cú vọ nhìn tôi.

Cô tóc vàng có khuôn mặt sắc sảo cúi người nhìn xe đẩy. “Những đóa hồng vàng của tôi đây rồi, nhưng họ cắm chung với nhiều bông diên vĩ tệ hại,” cô nói.

Thêm những âm thanh khác vang lên hòa vào giọng nói của hai người phụ nữ ấy. Giọng họ nghe có vẻ cắm cảu và tiếng phàn nàn inh ỏi.

Tôi đang định mở miệng phân trần rằng mình đã nhặt bỏ những bông hoa phi yến úa tàn vào bồn rửa, một số bình hoa bị nhặt bớt trông có vẻ lưa thưa, còn rất ít hoa, vì thế tôi đã cột vài bó hoa cùng nhau rồi cắm lại, đúng lúc đó cánh cửa bật mở và một y tá hiên ngang bước vào phòng xem nguồn cơn của sự hỗn loạn.

“Cô y tá xem này, tối qua Larry đã mang vào cho tôi một bó hoa phi yến lớn.”

“Cô ta đã phá tung hoa hồng vàng của tôi.”

Tôi vừa chạy vừa cởi nút áo bộ đồng phục, khi ngang bồn rửa tôi ném nó vào chung cùng đống hoa héo, rồi tôi bước xuống lề đường vắng vẻ, xuống đường hai lần mà không gặp một linh hồn nào khác.

***

“Nghĩa địa đi đường nào ạ?”

Gã đàn ông người Ý mặc áo khoác da màu đen dừng lại và chỉ xuống một con hẻm phía sau nhà thờ màu trắng của Hội Giám lý. Tôi nhớ nhà thờ của Hội Giám lý. Trong chín năm đầu đời, tôi là tín đồ của Giáo hội Giám lý cho đến khi cha tôi mất, chúng tôi chuyển nhà và gia nhập Giáo hội Nhất Thể.

Trước khi trở thành tín đồ của Hội Giám lý, mẹ tôi là một người theo Công giáo. Ông tôi, bà tôi và dì Libby đã bỏ theo Công giáo cùng lúc với mẹ tôi, nhưng sau đó dì lại yêu một người Công giáo gốc Ý nên đã gia nhập đạo trở lại.

Gần đây, đã có lúc tôi muốn theo lại đạo Công giáo. Tôi biết một tín đồ Công giáo xem tự sát là trọng tội. Nên có lẽ chính điều này đã thuyết phục tôi từ bỏ ý định đó.

Tất nhiên, tôi không tin vào sự sống sau cái chết, hay Đức mẹ vẫn còn đồng trinh sau khi sinh nở, hay Tòa án Dị giáo, hay tính đúng đắn tuyệt đối của Giáo Hoàng mặt khỉ, hay bất cứ điều gì, nhưng tôi sẽ không thổ lộ điều đó với cha xứ, tôi chỉ cần chú tâm vào tội lỗi của mình và cha sẽ giúp tôi ăn năn sám hối.

Rắc rối duy nhất là nhà thờ, cho dù là nhà thờ Công giáo đi chăng nữa cũng không thể chiếm hết toàn bộ cuộc sống của chúng ta. Dù cho bạn có quỳ gối và cầu nguyện bao lâu đi chăng nữa, thì bạn vẫn phải ăn ba bữa một ngày và phải có một công việc để tồn tại được trên thế gian này.

Tôi nghĩ mình nên biết phải làm một tín đồ Công giáo trong bao lâu mới được trở thành một nữ tu, nên tôi hỏi mẹ, hy vọng bà sẽ có cách lo liệu tốt nhất.

Nhưng mẹ tôi chỉ cười rồi nói: “Con đừng tưởng rằng họ sẽ nhận con ngay lập tức. Vả lại, làm thế nào một cô gái có đầu óc như con lại có thể nhồi nhét nào là giáo lý, nào là các tín điều, rồi tin vào những thứ ấy được.”

Tuy vậy tôi vẫn mơ được gặp một linh mục nào đó ở Boston - nhất định là Boston, vì tôi không muốn bất cứ một linh mục nào trong thành phố biết chuyện tôi muốn tự sát. Linh mục là dạng người hay ngồi lê đôi mách số một.

Tôi sẽ mặc toàn đồ đen, khuôn mặt trắng nhợt và chạy đến phủ phục dưới chân vị linh mục mà van xin: “Thưa cha, xin hãy giúp con!”

Nhưng thế nào mọi người cũng nhìn tôi chế giễu, như những y tá trong bệnh viện này.

Một điều chắc chắn là Giáo hội Công giáo sẽ không nhận bất cứ một nữ tu nào bị loạn trí.

Chồng của dì Libby có lần kể một chuyện cười, về một nữ tu được nhà dòng cử tới chỗ bà Teresa khám. Bên tai người nữ tu này lúc nào cũng vang lên tiếng đàn phong cầm và một giọng nói lặp đi lặp lại: “Alleluia!”. Chỉ có điều khi được hỏi kỹ, bà ta không xác định được là Alleluia hay Arizona. Người nữ tu này quê ở Arizona. Tôi chắc rằng sau đó người ta đã đưa bà vào một nhà thương điên.

Tôi kéo chiếc khăn voan đen xuống tận cằm rồi bước qua cánh cổng sắt. Một điều lạ kỳ là chẳng có một ai lui tới thăm viếng trong suốt thời gian bố nằm tại nghĩa địa này. Mẹ đã không cho chúng tôi đi dự đám tang vì lúc ấy chúng tôi còn quá nhỏ, vả lại bố mất ở bệnh viện, thành ra cả nghĩa địa này lẫn cái chết của bố đối với tôi dường như không có thực.

Nỗi khát khao lớn nhất của tôi về sau này là bù đắp lại những năm tháng bố tôi bị quên lãng bằng cách thường xuyên trông nom phần mộ của bố. Khi còn bé, tôi luôn là đứa con được bố thương yêu hơn cả, vì thế tôi nghĩ rằng mình nên để tang bố, một việc mà mẹ đã chẳng thèm ngó ngàng tới.

Nếu bố tôi còn sống, hẳn là ông sẽ dạy tôi về côn trùng học, vốn là chuyên môn của ông ở trường đại học. Bố cũng có thể dạy tôi tiếng Đức, tiếng Hy Lạp và cả tiếng La Tinh nữa, và có thể tôi đã là một tín đồ Kháng Cách. Bố tôi từng là một người theo đạo Kháng Cách hồi còn ở Wisconsin, nhưng ở New England, giáo phái này đã trở nên hết thời, bố cũng vì thế mà trở thành một môn đệ Kháng Cách lạc hậu và sau đó là một kẻ vô thần chua chát, theo cách nói của mẹ tôi.

Nghĩa trang làm tôi thất vọng. Nó nằm ở ngoại ô thành phố, trên một vùng đất thấp, giống như một nơi đổ rác không hơn không kém. Khi bước qua bước lại trên những lối đi lát sỏi, tôi ngửi thấy mùi muối mằn mặn bốc lên từ các đầm lầy xa xa.

Khu nghĩa trang cũ trông cũng tạm được, với những tấm bia mộ bằng đá mòn nhẵn và tượng đài bị địa y bào mòn, nhưng chắc là tôi sẽ tìm thấy ngay phần mộ của bố nằm ở khu mới, còn ghi rõ ngày tháng vào những năm 1940.

Phần mộ ở khu nghĩa trang mới trông thô sơ và rẻ tiền, thỉnh thoảng mới thấy một ngôi bằng đá cẩm thạch, trông như một cái bồn tắm dài, hẹp và đầy bụi bặm, bên trên có gắn mấy bình kim loại han rỉ cắm đầy hoa giả.

Vài giọt mưa hiu hắt rơi từ nền trời xám xịt càng làm cho tôi thêm sầu thảm.

Tôi không tìm thấy mộ của bố tôi ở đâu cả.

Những dải mây thấp bồng bềnh trôi về phía chân trời nơi biển rộng trải dài, phía bên kia đầm lầy và những khu nhà lụp xụp tồi tàn. Mưa làm cho chiếc áo mưa màu đen tôi mới mua sáng nay càng thêm tăm tối, khí lạnh và ẩm ướt thấm vào da thịt tôi.

Tôi hỏi cô bán hàng: “Nó có chống thấm nước không?”

Cô ta đáp: “Không có áo mưa nào chống thấm được nước, nó chỉ che mưa thôi!”

Và khi tôi hỏi thêm che mưa là sao thì cô ta bảo tôi nên mua lấy một chiếc ô.

Nhưng tôi không đủ tiền mua ô. Tôi hầu như cạn túi sau khi đã chi tiêu đủ mọi thứ, nào là vé xe bus khứ hồi Boston, nào là đậu phộng rang, báo chí, sách vở về bệnh tâm thần, ngoài ra còn lộ phí trở về quê cũ bên bờ biển, số tiền dành dụm ở New York đã tan thành mây khói.

Tôi đã quyết định khi tiêu hết tiền trong tài khoản tiết kiệm ở ngân hàng, tôi đã thực hiện điều đó, và sáng nay tôi đã tiêu đến đồng xu cuối cùng vào chiếc áo mưa đen.

Chợt lúc đó, tôi trông thấy mộ của bố.

Nó nằm khuất ngay sau một ngôi mộ khác, tầm cao ngang nhau, giống như người ta chen chúc trong một phòng khám từ thiện chật ních.

Tấm bia bằng đá cẩm thạch màu hồng lốm đốm như thể cá hồi đóng hộp, trên đó có khắc tên bố tôi, bên dưới ghi ngày sinh và ngày mất, cách nhau bởi một dấu gạch ngang nhỏ.

Dưới chân tấm bia, tôi đặt một bó đỗ quyên ướt mưa hái trong bụi hoa ở cổng nghĩa trang. Thế rồi chân tôi khuỵu xuống, ngồi trên đám cỏ sũng nước, tôi chẳng hiểu vì sao mình lại khóc ngon lành đến thế.

Tôi nhớ mình chưa bao giờ khóc thương cái chết của bố.

Mẹ tôi cũng vậy. Bà chỉ mỉm cười và cho rằng bố tôi mất đi cũng tốt vì nếu tiếp tục sống, ông sẽ phải chịu cảnh tàn phế suốt đời, đó là điều mà ông không tài nào chịu nổi. Thà là chấp nhận cái chết còn hơn để điều đó xảy ra.

Tôi áp mặt xuống nền đá trơn bóng và gào khóc dưới cơn mưa lạnh.

***

Tôi biết phải làm thế nào rồi.

Ngay lúc tiếng rít của bánh xe và tiếng động cơ xa dần, tôi nhảy khỏi giường, mặc vội chiếc áo trắng, chân váy xanh và áo mưa đen vào. Chiếc áo mưa vẫn còn ẩm ướt từ hôm qua đến giờ, nhưng không hề gì.

Tôi xuống nhà dưới, cầm lên một chiếc phong bì xanh nhạt trên bàn ăn và viết nguệch ngoạc bằng chữ lớn ở mặt sau: “Con sẽ đi dạo hơi lâu.”

Tôi đặt phong bì ở chỗ mẹ có thể dễ dàng nhìn thấy khi mẹ bước vào nhà.

Sau đó tôi cười phá lên.

Tôi quên một vật rất quan trọng.

Tôi lại chạy lên lầu, kéo theo một chiếc ghế lại tủ áo của mẹ tôi. Trèo lên ghế, tôi với tay lên chiếc két sắt nhỏ màu xanh phía trên nóc tủ. Tôi có thể dùng tay không nạy chiếc nắp bằng thép vì khóa rất sơ sài, nhưng tôi muốn mọi sự diễn ra một cách bình tĩnh và có trình tự.

Tôi kéo ngăn tủ bên phải, lôi ra hộp đựng nữ trang màu xanh phủ những chiếc khăn vải lanh tẩm nước hoa, rồi gỡ chiếc chìa khóa nhỏ gắn ở tấm nhung đen. Tôi mở két sắt và lôi ra một lọ đựng đầy thuốc viên. Có nhiều thuốc hơn tôi mong đợi.

Ít nhất cũng phải đến năm mươi viên.

Nếu tôi cứ đợi mẹ tôi phát nhỏ giọt mỗi đêm một viên, thì cũng phải đến năm mươi đêm tôi mới uống hết. Trong thời gian đó, trường sẽ mở cửa trở lại, anh tôi sẽ từ Đức trở về và mọi việc thành ra quá trễ.

Tôi trả chìa khóa vào lại hộp nữ trang giữa những sợi dây chuyền và nhẫn rẻ tiền, rồi đặt nó về chỗ cũ, trong ngăn kéo dưới lớp khăn, trước khi đặt chiếc két sắt lên nóc tủ. Tôi cũng cẩn thận trả cái ghế về đúng vị trí của nó trên tấm thảm.

Sau đó tôi xuống dưới nhà và bước vào bếp, vặn vòi nước đầy ly, rồi tay cầm ly, tay cầm lọ thuốc, tôi đi xuống hầm rượu.

Một thứ ánh sáng lờ mờ lọt qua những chấn song cửa sổ tầng hầm. Phía sau cái máy sưởi dầu, một cái hốc đen ngòm hiện ra trên bức tường ở ngay tầm vai, chạy ngược về sau dưới hành lang có mái che rồi mất hút. Hành lang có mái che được xây thêm sau khi đào tầng hầm và xây trên đường nứt sâu hoắm bí mật này.

Vài khúc củi mục chắn ngang miệng hầm. Tôi đẩy chúng dịch ra một chút, rồi đặt ly nước và lọ thuốc cạnh nhau trên một khúc củi bằng phẳng, tôi bắt đầu rướn người lên.

Phải mất một lúc lâu tôi mới chui được vào miệng hố. Cuối cùng, sau nhiều lần thử, tôi luồn vào cửa hầm tối om, như một con quỷ lùn.

Dưới bàn chân trần của tôi, mặt đất êm nhưng hơi lạnh. Tôi thầm hỏi không biết đã bao lâu khoảnh đất này vắng ánh mặt trời.

Sau đó, tôi kéo từng khúc củi nặng và bụi bặm chắn cửa hầm. Bóng tối dày đặc, mượt như nhung. Tôi với tay lấy ly nước và lọ thuốc, rồi khom lưng, cẩn thận bò về phía bức tường bên kia.

Mạng nhện mềm mại vướng vào mặt tôi. Thu mình trong tấm áo mưa đen tựa chiếc bóng ngọt ngào của riêng mình, tôi mở nắp lọ thuốc và nhanh nhẹn bỏ từng viên thuốc vào miệng, giữa những hớp nước.

Thoạt tiên, chẳng có điều gì xảy ra cả, nhưng khi lọ thuốc gần cạn, những vệt sáng xanh đỏ lóe lên trước mắt tôi, rồi lọ thuốc vuột ra khỏi tay, tôi gục xuống.

Sự im lặng rút lui, để lại trần trụi nào là đá cuội, vỏ sò và những mảnh vụn của cuộc đời. Rồi ngay tại ngoại vi ảo ảnh, nó tụ lại, dâng lên, cuốn tôi vào giấc ngủ.

Trần Quế Chi (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.